ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG bản PDF
ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
Đồng
hành thiêng liêng và các tư vấn khác
Đồng
hành thiêng liêng và phân định thiêng liêng
I. QUY CHUẨN
VÀ H̀NH MẪU ĐỂ ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
Thiên Chúa
muốn tôi sống b́nh an tươi vui triển nở
2. Lời
Chúa cho biết thánh ư Thiên Chúa
3. Đức
Giêsu- h́nh mẫu lư tưởng
4. Thánh Thần-
Thầy dạy người linh hướng lẫn người
thụ hướng
5. Người
thụ hướng như đối tượng quy chiếu
II. DUNG MẠO NGƯỜI ĐỒNG HÀNH
THIÊNG LIÊNG
1. Biết
Thiên Chúa và thân quen đường lối của Thiên Chúa
3. Sống
dưới tác động của Thánh Thần
4. Trưởng
thành, cẩn mật, yêu thương bảo vệ người
thụ hướng
III. NỘI
DUNG TRAO ĐỔI KHI GẶP GỠ ĐỒNG HÀNH THIÊNG
LIÊNG
2. Về
những ǵ liên quan đến người thụ hướng
3. Về
tương quan với Thiên Chúa
Chúa muốn
con làm ǵ trong trường hợp này?
Tôi không
b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc
Không sẵn
sàng thực thi ư Thiên Chúa
Bị tổn
thương và bị cám dỗ không tha thứ
Không cầu
nguyện được v́ có quá nhiều lo lắng bận
tâm
Nhận
thức sai lệch về đời sống dâng hiến
Khổ muốn
chết v́ … không bỏ ḿnh
Tùy
tương quan với Thiên Chúa …
Xin nghèo và
sỉ nhục khinh chê với Chúa
Chuyện
ǵ cũng biết nhưng … sống dở
|
|
|
|
|
ĐHTL |
|
đồng hành thiêng liêng |
|
GL |
|
Giáo Luật của Giáo Hội Công Giáo Latin, ban
hành năm 1983 |
|
LH |
|
Linh hướng |
|
LT |
|
sách Linh Thao của thánh Inhă
Loyola |
|
PC |
|
Perfectae Caritatis, sắc lệnh
về Ḍng Tu của Công Đồng Chung Vatican II |
|
PĐTL |
|
phân định thiêng liêng |
|
|
|
|
Sách Kinh Thánh viết tắt theo bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Các hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn của Công Đồng Vaticanô II viết tắt theo bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt.
Linh hướng, hướng dẫn thiêng liêng, hay đồng hành thiêng liêng, là điều đă được thực hiện từ lâu trong truyền thống lịch sử Giáo Hội.[1]
Linh hướng hay đồng hành thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi giữa hai người, người thụ hướng và người hướng dẫn, với thái độ kính trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi điều ảnh hưởng tới người thụ hướng, đặc biệt qua đời sống cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp người thụ hướng nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày và đáp trả, hầu phát triển mối tương quan thân thiết với Thiên Chúa, để họ b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc hơn.
Hai linh mục William A. Barry và
William J. Connolly định nghĩa “linh hướng Kitô giáo là sự trợ giúp của một
tín hữu dành cho người khác để người
đó chú ư đến sự tương giao giữa cá nhân với
Thiên Chúa, và đáp lại Thiên Chúa trong mối tương
giao này, để lớn lên trong sự thân mật với
Thiên Chúa, và sống những hệ quả của mối
quan hệ ấy.[2]”
Một hướng dẫn được gọi là thiêng liêng, không được hiểu đơn thuần là không phải vật chất nhưng là hướng dẫn theo Thánh Thần.[3] Trong đồng hành thiêng liêng, cả người hướng dẫn lẫn người thụ hướng đều có chung một nền tảng hay tiêu chuẩn sống.
Có
người thích dùng từ ngữ “đồng hành thiêng
liêng” chứ không muốn dùng từ ngữ “linh hướng.”
Một số ít người thích và chọn từ ngữ
đồng hành thiêng liêng, cho rằng, đồng hành thiêng
liêng chính yếu là đồng hành, và như vậy có thể
chọn bất cứ ai để làm người đồng
hành thiêng liêng, ngay cả người trẻ cho dù chưa có
kinh nghiệm thiêng liêng. Có nhiều người cho rằng
để là người đồng hành thiêng liêng hay linh
hướng, người đó cần phải trưởng
thành về thiêng liêng, có kinh nghiệm thiêng liêng, mới có thể
giúp người thụ hướng khi họ gặp khó
khăn khủng hoảng; như vậy, người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng phải là bậc
thầy theo một nghĩa nào đó. Từ ngữ “linh
hướng” nói lên được nét chính là hướng dẫn,
c̣n từ ngữ “đồng hành thiêng liêng” nhấn mạnh
khía cạnh đồng hành, cùng đi, để nâng đỡ
người thụ hướng. Như vậy, hai từ
ngữ này bổ túc cho nhau: người linh hướng cũng
cần là người đồng hành.
Linh
hướng, được dịch từ chữ spiritual
direction/direction spirituelle theo tiếng Anh và tiếng Pháp; c̣n
đồng hành thiêng liêng được dịch từ chữ
tiếng Pháp tiếng Anh accompagnement spirituel/spiritual
accompaniment. Một số từ ngữ được dùng
như sau:
Linh giám (spiritus director,
directeur spirituel, spiritual director).
Phụ tá giáo sĩ,
người tư vấn thiêng liêng (assistens ecclesiasticus,
consiliarius spiritualis, assistant ecclésiastique, conseiller spirituel,
ecclesiastical assistant, spiritual counsellor).
Linh hướng
(conscientiae moderamen, direction de conscience, spiritual direction).
Thời
nay người trẻ thích dùng từ ngữ “đồng
hành thiêng liêng” hơn “linh hướng” thế nên chúng ta có
thể dùng cả hai từ ngữ với cùng nội dung,
tùy ư thích của mỗi người.
Nhà
tư vấn, mục vụ hay thiêng liêng hay tâm lư hay gia
đ́nh hay nghề nghiệp, với những kiến thức
uyên bác, nhằm trả lời những thắc mắc về
mục vụ, về giáo lư, về đạo đức, về
tâm lư, về gia đ́nh, về nghề nghiệp của
người tới tư vấn. Linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng nhắm nhiều hơn đến giúp người
ta phát triển mối tương quan với Thiên Chúa.
Tư
vấn (mục vụ, gia đ́nh, hướng nghiệp,
...) không cần gặp nhiều lần, có thể một lần
cũng đủ. Linh hướng hay đồng hành thiêng
liêng đ̣i một tiến tŕnh, cần thời gian và nhiều
lần gặp gỡ.
Thiên
Chúa như là quy chuẩn, và là Đấng thường
được nhắc đến khi linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng. Nơi tư vấn, không tuyệt
đối cần phải nhắc đến Thiên Chúa. Một
người vô thần cũng có thể là nhà tư vấn
tâm lư hay nghề nghiệp hay gia đ́nh.
Linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng liên hệ mật
thiết với phân định thiêng liêng. Phân định
thiêng liêng là tiến tŕnh gồm những hành vi của chủ
thể dựa trên tác động của các thần nhằm
nhận ra thánh ư Thiên Chúa hầu thực thi thánh ư Ngài. Phân
định thiêng liêng giúp chính ḿnh, chủ thể phân định,
và cũng có thể giúp người khác, nhận ra thánh ư
Thiên Chúa.
Người
linh hướng hay đồng hành thiêng liêng phải là
người có khả năng phân định thiêng liêng,
để có thể nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh và cho
người thụ hướng.
Theo truyền thống và những tài liệu mới đây của Giáo Hội, linh hướng hay đồng hành thiêng liêng là điều cần và đă được thực hiện trong suốt ḍng lịch sử Giáo Hội. Ta có thể thấy điều này nơi sắc lệnh Canh Tân và Thích Nghi trong đời tu (Perfectae Caritatis) của Công Đồng Chung Vatican II, nơi Bộ Giáo Luật ban hành năm 1983, nơi tông huấn Pastores Dabo Vobis[4]…. Tài liệu “Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Thương Xót[5]” của Thánh Bộ Giáo Sĩ đă có nguyên phần II để bàn về tác vụ linh hướng (từ số 64—134).
Nơi các ḍng tu, các bề trên phải để cho các tu sĩ thuộc quyền được tự do cần thiết trong việc xưng tội và linh hướng[6]. Các bề trên cũng có nhiệm vụ chọn lựa cẩn thận những vị linh hướng cho các tu sĩ thuộc quyền.[7]
Nơi chủng viện phải
có ít là một vị linh giám. Cũng có thể có thêm các linh
mục khác được chỉ định để các
chủng sinh có thể tự do đến với họ.[8] Giáo Luật Giáo Hội Công Giáo Latin cũng khuyến
khích các chủng sinh nên có cha linh hướng để tự
do bày tỏ lương tâm[9]. “Khi phải quyết định về việc chấp
nhận các ứng sinh tiến chức hoặc là thải hồi
họ ra khỏi chủng viện, không bao giờ được
hỏi ư kiến của cha Linh Giám và của các cha giải tội” (GL 240 §2).
Nơi
các hiệp hội công và tư, Giáo Luật cũng nhắc
tới việc bổ nhiệm linh giám/phụ tá giáo sĩ
(spiritual director/ecclesiastical assistant) cho hiệp hội công (GL
317 §1) và cha linh hướng (spiritual advisor) cho hiệp hội
tư (GL 324 §2).
Nơi tu hội đời, Giáo
Luật cũng khẳng định: “Họ cần
được tự do nhận việc linh hướng cần
thiết; nếu họ muốn, họ có thể bàn hỏi
việc thiêng liêng với các vị lănh đạo của họ”
(GL 719 §4).
Giáo tŕnh “linh hướng hay đồng hành thiêng
liêng” này sẽ bàn về (I) quy chuẩn và h́nh mẫu để
người đồng hành thiêng liêng giúp người thu
hướng, kế đến (II) dung mạo người
đồng hành thiêng liêng hay linh hướng, tiếp theo
(III) nội dung trao đổi trong đồng hành thiêng
liêng hay linh hướng, rồi (IV) những điều
thường gặp khi linh hướng hay đồng hành
thiêng liêng, và cuối cùng (V) vài trường hợp đặc
biệt.
Người linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng dựa vào nền tảng hay tiêu chuẩn nào
để hướng dẫn, để đưa ra lời
khuyên cho người thụ hướng?
Tâm lư
không là tiêu chuẩn để linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng. Không thể nhận một người vô thần
có bằng tiến sĩ tâm lư là người đồng
hành thiêng liêng cho ḿnh. Một bề trên trong cộng đoàn
ḍng tu cũng không thể an tâm cho phép bề dưới
đến linh hướng với một người có bằng
tiến sĩ tâm lư nhưng đời sống luân lư của
họ không tốt đẹp[10]. Học vị hay bằng
cấp không luôn tỉ lệ thuận với mức độ
trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của một
người. Tuy nhiên, kiến thức tâm lư sẽ giúp
người đồng hành thiêng liêng biết hơn về
con người, để giúp người thụ hướng
hữu hiệu hơn.
Kiến
thức uyên bác của một học giả có thể giúp
người đến với họ để tư vấn
về vấn đề nào đó, nhưng kiến thức
uyên bác của một người cũng không thể là tiêu
chuẩn để đồng hành hay hướng dẫn
thiêng liêng.
Thánh Ư
Thiên Chúa, cụ thể thánh ư Thiên Chúa cho người thụ
hướng, tương quan thân thiết với Thiên Chúa, mới
là tiêu chuẩn nền tảng để linh hướng
hay đồng hành thiêng liêng.
Lời
Chúa, cho biết Thiên Chúa và thánh ư Ngài trong ḍng lịch sử
cứu độ, nên cũng là nền tảng và tiêu chuẩn
giúp đồng hành thiêng liêng.
Đức
Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, là h́nh mẫu để
người linh hướng và người thụ hướng
noi theo bắt chước. Đây là điều hàm chứa
mặc nhiên của việc linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng. Nếu chưa có điều này, chưa là
đồng hành thiêng liêng đúng nghĩa.
Thánh
Thần, Đấng được sai tới để ở
với và dạy dỗ con người, cần được
người linh hướng và người thụ hướng
luôn lắng nghe để nhận biết thánh ư Thiên Chúa cho
họ; và cũng chính Ngài giúp người thụ hướng
thực thi thánh ư Thiên Chúa.
Việc
linh hướng cũng không được tiếp tục
nếu người thụ hướng thấy người
đồng hành thiêng liêng hay linh hướng không thực sự
giúp họ thăng tiến; như vậy người thụ
hướng cũng là một quy chiếu để việc
linh hướng hay đồng hành thiêng liêng được
thực hiện.
Thánh ư Thiên Chúa vô cùng quan trọng
đối với Đức Giêsu. Trong cuộc gặp gỡ
với chị phụ nữ bên bờ giếng Giacóp, mỏi
mệt v́ đường xa, trời trưa oi bức, khát
nước … thế nhưng qua cuộc trao đổi giữa
Đức Giêsu và chị phụ nữ, Đức Giêsu
dường như quên cả ăn, Đức Giêsu như
có sức sống khi trao đổi với chị phụ nữ
đến độ các tông đồ tưởng Ngài
đă dùng lương thực ǵ rồi, để rồi
Đức Giêsu nói: “lương thực của Thầy là
làm theo Ư của Đấng đă sai Thầy” (Ga 4:34). Nơi
vườn dầu, Đức Giêsu cũng đặt ư
Thiên Chúa trên hết, trên ư riêng của Ngài. Ngài cầu nguyện:
“Lạy Cha nếu có thể được xin cho con khỏi uống
chén này, nhưng không phải ư con mà là ư Cha được nên
trọn” (Mc 14:36; Mt 26:39; Lc 22:42). Ư của Thiên Chúa Cha là tuyệt
đối với Đức Giêsu.
Thiên Chúa tạo dựng vạn sự vạn vật, Ngài tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1-2). Khi con người phạm tội, chính Thiên Chúa đi t́m con người (St 3:9), Thiên Chúa muốn cứu độ con người. Thiên Chúa yêu thương con người, những ǵ Thiên Chúa muốn cho con người, là tốt nhất tuyệt nhất cho con người; v́ thế thánh ư Thiên Chúa là tiêu chuẩn để sống của mỗi người.
Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa phải là nền tảng và chuẩn mực mà cả người thụ hướng lẫn người linh hướng hay đồng hành thiêng liêng phải muốn biết và tuân theo.
Kể từ khi Thiên Chúa tạo dựng tôi, Ngài luôn bận tâm về tôi. Ngài ḍ xét tôi, Ngài biết mọi nẻo đường tôi đi. Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau, bàn tay của Ngài đặt trên tôi (Tv 139). Thiên Chúa can thiệp vào đời tôi v́ Ngài thương tôi.
Thiên Chúa có chương tŕnh về tôi. “Không phải các con đă chọn Thầy nhưng chính Thầy đă chọn các con” (Ga 15:16). Chúa muốn tôi sống bậc sống nào? Đi tu hay lập gia đ́nh? Nếu Chúa muốn tôi lập gia đ́nh, th́ Chúa muốn tôi lập gia đ́nh với người này hay người kia? Chúa muốn tôi sống ở đây hay ở kia? Chúa muốn tôi làm nghề ǵ? Chúa muốn tôi đối xử với người con có cá tính rất đặc biệt này như thế nào? Nếu Chúa muốn tôi đi tu, th́ tu ḍng hay triều? đi tu ḍng này hay ḍng kia? Chúa muốn tôi học và phục vụ anh chị em tôi theo chuyên nghành nào? Tôi cần phân định thiêng liêng để nhận ra thánh ư Thiên Chúa về tôi.
Đức Giêsu đă ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày trước khi hoạt động công khai (Mt 4:1-11). Ngài cầu nguyện suốt đêm trước khi chọn nhóm 12 (Lc 6:12-13). Chúa muốn tôi hành xử trong trường hợp này thế nào? Chúa muốn tôi giúp người này người kia, nhưng giúp sao để ích lợi cho họ? v.v. Phân định thiêng liêng là điều không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày để nhận biết thánh ư Thiên Chúa.
Tương quan của tôi với Chúa như thế nào? Chúa mời gọi tôi ǵ trong thời điểm này? Tôi hay bị cám dỗ và sa ngă về điều này, tôi phải làm ǵ? Tôi hay bị chia trí khi cầu nguyện, tôi phải làm ǵ? Tôi thấy tôi không yêu Chúa, tôi phải làm ǵ? Học biết về con người theo quan điểm thần học (nhân học thiêng liêng) cũng rất quan trọng.
Tôi hay bị lo lắng, không hạnh phúc. Tại sao? Tôi phải làm ǵ? Làm sao để b́nh an và tươi vui? Thiên Chúa yêu thương tôi, Ngài tạo dựng tôi để tôi hạnh phúc với Thiên Chúa, vậy làm sao để tôi được như Thiên Chúa muốn? Xét gẫm và hồi tâm xét ḿnh là những thời điểm giúp người ta phân định thiêng liêng để nhận biết lời mời gọi của Thiên Chúa cho mỗi người.
Những ǵ Thiên Chúa muốn, tôi sẽ thi hành theo gương Đức Giêsu: xin đừng theo ư Con nhưng theo ư Cha (Lc 22:42). Chúng ta cũng muốn biết thánh ư Thiên Chúa để làm theo ư Ngài.
Người đồng hành thiêng liêng và người thụ hướng không chỉ cần nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh, nhưng c̣n phải sẵn sàng thực thi thánh ư Thiên Chúa: “21Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đă chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7:21-23). Không thực hiện thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh, th́ ḿnh không thể hạnh phúc được.
Đức Giêsu, khi dạy dỗ con người, cũng dạy con người phải biết thực hành mệnh lệnh của Thiên Chúa chứ không phải ư của con người. Chúng ta thấy rơ nơi lời giáo huấn thảo kính cha mẹ: “10Ông Mô-sê đă dạy rằng: Ngươi hăy thờ cha kính mẹ và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, th́ phải bị xử tử!11 C̣n các ông, các ông lại bảo: "Người nào nói với cha với mẹ rằng: những ǵ con có để giúp cha mẹ đều là "co-ban" nghĩa là lễ phẩm đă dâng cho Chúa rồi,12 và các ông không để cho người ấy làm ǵ để giúp cha mẹ nữa.13 Thế là các ông lấy truyền thống các ông đă truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông c̣n làm nhiều điều khác giống như vậy nữa!” (Mc 7:10-13).
T́nh yêu thể hiện qua việc làm hơn là trong lời nói (1Ga 3:18; LT 230). Nếu ta nói ta yêu Chúa mà không giữ giới răn của Người, e rằng ta không yêu Chúa thực. “Ai yêu mến Thầy th́ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với người ấy” (Ga 14:23). Chính khi chúng ta chấp nhận và thực thi thánh ư của Thiên Chúa th́ chúng ta sẽ được b́nh an, tươi vui, triển nở, và hạnh phúc. Hạnh phúc là t́nh trạng như hệ quả. B́nh an tươi vui triển nở là dấu chỉ cho thấy một người được cứu độ.
Thiên Chúa muốn tôi b́nh an. Khi c̣n sống tại thế với các tông đồ, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy để lại b́nh an cho anh em, Thầy ban b́nh an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14:27). Ngay khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ, Ngài nói: “b́nh an cho anh em” (Ga 20:19.21). Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Ngài dặn ḍ các ngài: “Vào nhà nào, anh em hăy chúc b́nh an cho nhà đó” (Mt 10:12). Thánh Phaolô cầu nguyện cho các tín hữu: “Xin Thiên Chúa là nguồn b́nh an, ở cùng tất cả anh em” (Rm 15:33).
Thiên Chúa muốn tôi sống tươi vui. Niềm vui Chúa ban không ai lấy mất được (Ga 16:22.24). Thánh Phaolô cũng nói: “Hăy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại lần nữa: vui lên anh em” (Pl 4:4). “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và b́nh an” (Rm 15:13). Không b́nh an, không thể tươi vui triển nở và hạnh phúc.
Thiên Chúa muốn chúng ta phát triển
những nén bạc tài năng Chúa ban cho chúng ta. Chúng ta phải
làm việc để sinh lời những nén bạc, để
phát triển tài năng. Không làm việc, là chôn những nén bạc
Chúa trao cho ḿnh (Mt 25:14-30). Chúa Giêsu nói: “Ta đến để
cho chúng được sống, và được sống dồi
dào” (Ga 10:10). Chính khi chúng ta làm việc phục vụ anh chị
em ḿnh, là chúng ta làm cho những nén bạc Thiên Chúa trao ban
được sinh lời, và khi đó chúng ta triển nở
hạnh phúc.
Thiên
Chúa tạo dựng con người để chia sẻ sự
sống hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài cho con người.
Sống b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc, là
ơn gọi của chúng ta. Giúp người khác sống
b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc, là sứ mạng
của chúng ta.
Với hồi tâm xét ḿnh, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa về những ơn Chúa ban cho ḿnh, và nh́n lại suy nghĩ, tâm tư t́nh cảm của ḿnh, những chọn lựa, cung cách hành xử của ḿnh trong ngày, xem ḿnh có xúc phạm ai không, có làm tổn thương ai không, và ḿnh có bị tổn thương không, ḿnh có b́nh an không… Thiên Chúa nói ǵ với tôi qua những điều đó? Thiên Chúa mời gọi tôi làm ǵ? Một khi nhận ra điều Thiên Chúa mời gọi, tôi sẽ thực thi và qua đó chỉnh sửa chính ḿnh theo thánh ư Thiên Chúa.
Lời
Chúa cho người ta biết về Thiên Chúa, con người,
và vũ trụ. Lời Chúa cho chúng ta biết thánh ư Thiên
Chúa. Thập giới là lời Chúa cho con người. Không
tuân giữ thập giới là không vâng lời Thiên Chúa.
Thiên
Chúa là Đấng sáng tạo vạn sự vạn vật
(St 1:1-2:4a). Ngài tạo dựng con người giống h́nh ảnh
Thiên Chúa (St 1:26-28). Ngài muốn con người bá chủ cá
biển chim trời. Vũ trụ vạn vật được
tạo dựng cho con người. Con người
được tạo dựng cho Thiên Chúa (1Cor 3:21-23).
Đích đến của con người là Thiên Chúa. Vũ
trụ vạn vật được tạo dựng để
giúp con người đến với Thiên Chúa (LT 23).
Con
người là tạo vật tuyệt vời, là đỉnh
cao của công tŕnh tạo dựng. Tuy nhiên một sự thật
cần phải nhận: tôi là tội nhân. Thiên Chúa là Đấng
yêu thương, Ngài tạo dựng con người để
chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài cho con
người. Khi con người phạm tội, Thiên Chúa t́m
mọi cách để cứu độ con người.
Thiên Chúa muốn cứu độ tất cả mọi
người (1Tm 2:4; LG 16), để họ được
hưởng sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Con
người phạm tội, Thiên Chúa mời gọi con
người trở lại và tha thứ (Lc 15:11-32; Ga 8:1-11;
Lc 7: 36-50). Khi tội nhân trở lại, cả trời vui mừng
(Lc 15:1-10). Tôi là tội nhân nhưng được Thiên Chúa
yêu thương tha thứ. Chính kinh nghiệm này giúp chúng ta sống
b́nh an hạnh phúc, và giúp chúng ta đối xử với tha
nhân như Thiên Chúa đă đối xử với chúng ta.
Thiên
Chúa là Đấng tạo dựng, yêu thương, quan pḥng
(Mt 6:25-34). Qua cha mẹ yêu thương con cái, vợ chồng
yêu thương nhau, người ta có thể nhận biết
Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Tuy nhiên, chỉ với
Đức Giêsu, người ta mới nhận biết Thiên
Chúa yêu thương con người vô cùng. Nếu Thiên Chúa
yêu thương tôi như vậy, Ngài c̣n tiếc ǵ với
chúng ta. Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên
Chúa! Nếu Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n
sợ hăi ǵ? Thánh Phaolô là người biết rơ điều
này hơn ai hết (Rm 8: 28-39).
Thiên
Chúa là t́nh yêu. Ngài yêu thương. Ngài muốn con người
yêu thương như Ngài. Yêu người: không làm tổn
thương người khác. Yêu ḿnh: không để ḿnh bị
tổn thương. Tôi làm tổn thương người
ta khi tôi vi phạm thập giới, đặc biệt
điều răn 5-10: giết người, dâm dục, lấy
của người, làm chứng dối hại người,
muốn chiếm đoạt vợ chồng người
ta, tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của
người ta.
Dù xây
chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho
một người. Không động ḷng thương
trước nỗi khổ của con người, không yêu
thương, th́ không hạnh phúc. Suy nghĩ, hành động
giống Thiên Chúa, là sống yêu thương (Lc 6:36; Mt 5:48).
Thiên
Chúa mời gọi con người cộng tác với Chúa
để cứu độ con người (Ga 20:21; 17:18).
Cho dù ḿnh tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu
thương tha thứ, và Ngài c̣n mời gọi ḿnh cộng
tác với Ngài cứu giúp con người hôm nay. Cộng tác
với Thiên Chúa cứu con người, là động ḷng
thương giúp đỡ tha nhân, giúp tha nhân cảm nghiệm
t́nh yêu Thiên Chúa để họ được cứu
độ như ḿnh.
Thiên
Chúa muốn con người phát triển tối đa tài
năng Thiên Chúa đă ban cho con người (Mt 25:14-30). Để
triển nở hạnh phúc, cần làm việc. Chính khi làm
việc, giúp đỡ tha nhân, chúng ta phát triển tài
năng mỗi người. Thiên Chúa đă sai Con Một nhập
thể để cứu con người. Ngôi Lời nhập
thể là mẫu gương để ta sống: nhập
thể, sống nghèo âm thầm khiêm hạ ở Nadarét và
ngay cả khi rong ruổi rao giảng để yêu
thương giúp đỡ con người.
Cả
người đồng hành thiêng liêng và người thụ
hướng đều có một mẫu chung, đó là Thiên
Chúa (Mt 5:48; Lc 6:36), là Đức Giêsu Kitô (1Cor 11: 1).
Người
linh hướng giúp người thụ hướng nhận
ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong những
trường hợp cụ thể để đáp trả.
Đồng hành thiêng liêng là phương thế đặc
biệt hữu hiệu để giúp con người nên giống
Đức Giêsu. Đây là việc giúp một-một tùy hoàn
cảnh đặc thù của người thụ hướng.
Như vậy, người đồng hành thiêng liêng hay linh
hướng, cũng là một nhà huấn luyện.
Thiên Chúa đă nói với con
người, đặc biệt nơi những lời
trong Kinh Thánh. Vào thời sau hết, Thiên Chúa nói với chúng
ta qua Con của Ngài, Thiên Chúa nhập thể, Đức
Giêsu Kitô (Dt 1:1). Kinh Thánh cho ta biết thánh ư Thiên Chúa, nhưng Đức
Giêsu cho ta biết thánh ư Thiên Chúa một cách rất đặc
biệt.
Các vận động viên trong thể
thao cũng thường có người mẫu và huấn
luyện viên. Tương tự vậy trong đời sống
thiêng liêng, mỗi người cũng cần có thần
tượng, người mẫu, người lư tưởng
để nh́n lên để noi theo bắt chước. Thiên
Chúa đă cho chúng ta một người mẫu tuyệt vời,
đó là Đức Giêsu.
Người linh hướng và
người thụ hướng đều cần đồng
h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày hơn. Lời
Thiên Chúa đă yêu thương tự hủy nhập thể.
Bài học tự hủy khiêm nhường giúp ta sống phục
vụ và không để ḿnh bị tổn thương. “Con
người đến không phải để được
phục vụ nhưng để phục vụ và làm giá chuộc
muôn người” (Mc 10:45). Đức Giêsu âm thầm sống
thời gian dài ở Nadarét để dạy ta kiên nhẫn
và an vui sống kiếp người. Ngài ḥa ḿnh giữa dân
chúng chịu phép rửa cũng để dạy ta khiêm
nhường, yêu thương phục vụ con người.
Ngài đi rao giảng trong khó nghèo, và Ngài dạy các môn đệ
ra đi rao giảng như Ngài. Chính v́ yêu thương mà Ngài
chữa bệnh, và chính v́ yêu thương Ngài phải ra
đi rao giảng cho những nơi khác nữa (Mc 1:38-39).
Đức Giêsu nên giống chúng
ta mọi đàng trừ tội (Dt 4:15). Ngài cũng chịu
thử thách mọi đàng như chúng ta. Những vấn
để chúng ta gặp, Ngài cũng gặp. Ngài cũng bị
thử thách cả về đức tin trên thập giá (Mc
15:34). Bị hiểu lầm, ghen ghét, và bị giết
nhưng Ngài vẫn yêu thương cả những kẻ giết
Ngài (Lc 23:34).
Ngài giảng dạy về Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34), Thiên Chúa như người cha nhân từ yêu thương tha thứ cho người con hoang đàng (Lc 15:11-32). Ngài dạy người ta lối sống hạnh phúc: tám mối phúc (Mt 5:1-12).
Suy nghĩ, chọn lựa như Chúa Giêsu, là chọn làm theo thánh ư Thiên Chúa, là điều người linh hướng giúp người thụ hướng thực hiện. Sống như Chúa Giêsu: nhân hậu, hiền lành, thương xót, yêu thương..., là làm theo thánh ư Thiên Chúa. Một khi nên giống Chúa Giêsu, ta sẽ thấy và chọn lựa giống Chúa Giêsu, sẽ nhận ra thánh Ư Thiên Chúa. Khi một người đồng h́nh đồng dạng với Chúa, có cùng ao ước với Chúa, có cùng cách cư xử như Chúa, th́ Chúa muốn như thế nào, họ cũng muốn và làm như vậy.
Trong cầu nguyện, ta học biết hơn về Thiên Chúa, biết hơn về Đức Giêsu và những giáo huấn của Ngài, biết phán đoán, chọn lựa, và cung cách hành xử của Ngài; và ta được mời gọi để bắt chước, để suy nghĩ và phán đoán như Ngài, để hành xử như Ngài, để nên giống Ngài mỗi ngày hơn.
Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu với cung cách hành xử của Ngài, rồi suy nghĩ để rút ích lợi. Đó là cầu nguyện chiêm niệm theo thánh Inhaxiô (LT 106-108). Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu, để nên giống Đức Giêsu mỗi ngày hơn. Nh́n ngắm Đức Giêsu mỗi ngày, người ta mới quen và có thể nhận ra ư muốn và cung cách của Thiên Chúa; và như thế, người ta mới có thể nhận ra ư Thiên Chúa về chính họ. Không biết Thiên Chúa, làm sao biết Ư của Thiên Chúa, và làm sao biết ư của Thiên Chúa về ḿnh.
“Khi nào Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đă nói với anh em” (Ga 14:26). Khi Đức Giêsu c̣n sống tại thế với các tông đồ, nhiều lần Đức Giêsu đă mặc khải chân tướng của Ngài nhưng các ông chưa hiểu được; chỉ khi nhận được Thánh Thần (Ga 20:22) các ông mới hiểu được những mặc khải của Đức Giêsu và nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa (Cv 2:1-41).
Chúa Thánh Thần giúp các Kitô hữu nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Cor 12:3), giúp chúng ta cầu nguyện (Rm 8:26-27). Thánh Thần hướng dẫn chúng ta, giúp chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa (Rm 8:14).
Thánh Thần là thầy dạy, là Đấng hướng dẫn mỗi người. Có thể nói, Thánh Thần là Đấng linh hướng, giúp mọi người nhận biết thánh ư Thiên Chúa cũng như giúp mọi người thực thi thánh ư Thiên Chúa. V́ thế, cả người linh hướng lẫn người thụ hướng phải luôn lắng nghe Thánh Thần, để nhận ra thánh ư Thiên Chúa và đem ra thực hành.
Người thụ hướng, người
đến để được trợ giúp, con người này ngay cả rất cá biệt, là người mà
người linh hướng
được Thiên Chúa mời gọi
để đồng hành và hướng dẫn. Họ là người
như họ là, với những ưu điểm và giới
hạn, nhưng
được Thiên Chúa yêu thương vô
cùng; và như vậy, “người thụ hướng” là
đối tượng quy chiếu ưu tiên.
Để giúp một người,
cần biết về họ. Không cần phải hỏi
nhiều, nhưng qua những chia sẻ của người
thụ hướng, người đồng hành thiêng liêng
có thể biết về người thụ hướng.
Biết người thụ hướng về
phương diện nhân bản: khả năng sống với
những người trong gia đ́nh, trong cộng đoàn, trong xă hội;
về mức độ biết ḿnh: nhận sự thật
về chính, chấp nhận ḿnh; về lư tưởng sống;
về đời sống thiêng liêng: biết Thiên Chúa, biết
ḿnh được Thiên Chúa yêu, và thái độ đối với
Thiên Chúa; về đời sống tông đồ: yêu thương con người, cụ thể yêu thương những người
xung quanh, giúp đỡ những người xung quanh;
về nghề nghiệp: mức độ thành đạt,
mức độ chấp nhận sống bằng lao tác của
minh; v.v..
Người thụ hướng cần biết đúng về Thiên Chúa, con người, và vũ trụ. Trong một mức độ nào đó, người đồng hành thiêng liêng phải giúp người thụ hướng về điều này, và để rồi người thụ hướng có thể nhận ra tiếng Chúa mời gọi họ.
Con người được tạo
dựng giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:26-27): tự do và
biết yêu. Con người
được mời gọi thống trị,
bá chủ cá biển chim trời. Con người được tạo dựng để làm vua, làm chủ, tự
do, không nô lệ tạo vật (St 1:28).
Người thụ hướng
cần biết họ được Thiên Chúa yêu vô cùng. “Có
người mẹ nào không thương kẻ ḿnh đă sinh. Mà
cho dù có người mẹ nào không thương con ḿnh, th́ Ta, Ta không bao
giờ quên ngươi” (Is 49:15). “Ta khắc ngươi
trong ḷng bàn tay Ta” (Is 49:16).
“Như Cha yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em, hăy ở lại
trong t́nh yêu Thầy” (Ga 15:9). “Không có t́nh yêu nào lớn hơn
t́nh yêu của người hiến mạng v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15:13). “Này
là Ḿnh Thầy bị nộp v́ anh em. Này là Máu Thầy đổ
ra v́ anh em” (Mc 14:22-25). Đức Giêsu và Thiên Chúa mong chúng ta
đáp trả t́nh yêu của Ngài: “Ta khát” (Ga 19:28).
“Chúa Cha đă yêu thế gian đến độ ban Con Duy
Nhất của Ngài, để những ai tin vào Ngài th́ được sống đời đời” (Ga 3:16). Chúa Cha yêu
tôi như yêu Đức Giêsu (Ga 17:23.20). Chúa Cha yêu tôi nên luôn ở
với tôi (Ga 14:23). Nh́n Đức Giêsu trên thập giá th́ biết
Chúa Cha yêu con người
đến độ nào!
“Thánh Thần yêu tôi nên Ngài luôn luôn ở với tôi” (Ga 14:16).
Thánh Thần dạy tôi mọi chuyện (Ga 14:26), Ngài giúp tôi
tin Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Cor 12:3), Ngài cầu thay nguyện
giúp tôi (Rm 8:26-27). Thân xác tôi là đền thờ của Chúa
Thánh Thần (1Cor 3:16-17; 6:19).
Người thụ hướng
cũng cần ư thức ơn gọi và sứ mạng của
ḿnh: Hăy là thánh v́ Ta là thánh (Lv 19:1); Hăy nên trọn lành như
Cha trên trời là Đấng trọn lành (Mt 5:48); Hăy có ḷng
thương xót như Cha trên trời là Đấng
thương xót (Lc 6:36); Đạt tới t́nh trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên măn của
Đức Kitô (Eph 4:13).
Người thụ hướng
cũng cần biết: Con người là tinh thần nhập
thể. Qua thân xác con
người trở nên tinh thần: vượt
lên vật chất để hướng lên tuyệt đối
thể. Qua thân xác con
người trở nên
thánh, nên tuyệt vời.
Bị cám dỗ, thuộc bản
tính của con người. Đức Giêsu bị cám dỗ
trong hoang địa (Mt 4:1-11) và bị cám dỗ cả về
đức tin khi Ngài bị treo trên thập giá: “Lạy Cha,
sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15:34). Đức Maria cũng bị
cám dỗ khi thấy Đức Giêsu, con của Mẹ, chịu
chết treo thập giá: lời Chúa phán với Mẹ qua sứ
thần Gabriel không được thực hiện sao?! Thánh
Phaolô cũng bị cám dỗ: “Đă ba lần tôi xin Chúa cất
cái dằm ra khỏi xác thịt tôi nhưng Ngài nói: ơn
Ta đủ cho con” (2Cor 12:7-9). Đức Giêsu bị cám dỗ
về mọi điều như ta (Dt 2:17; 4:15).
Ai cũng bị cám dỗ; nhưng phạm
tội không thuộc bản tính con người. Con người tự do, phạm tội hay không, là do tự ḿnh,
tùy chọn lựa của ḿnh. Đức Giêsu đă không phạm
tội (Dt 4:15). Mẹ Maria đă không vương tội nguyên
tổ cũng không vương tội riêng (tín điều
Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố năm
1854, tín điều Mẹ Lên Trời cả hồn lẫn
xác được công bố năm 1950).
Không đáp trả tiếng Chúa mời
gọi là tội. Phạm tội hay không, tùy tự do của
ḿnh; tuy nhiên, không phạm tội, cũng là một ơn:
“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt
6:13). Chúng ta tự do phạm tội hay không, nhưng thực
tế cho thấy chúng ta đă vấp ngă nhiều.
Chúa yêu chúng ta, Ngài sẽ giúp chúng
ta sống trong t́nh nghĩa với Ngài. Tội hồng phúc:
chính v́ tội mà Thiên Chúa đă cho Con Ngài nhập thể
để cứu độ tôi. Nếu tôi không phạm tội,
th́ Thiên Chúa đâu có nhập thể. Nói vậy không phải
cứ phạm tôi để được ơn này tới ơn
khác. Tôi thấy rằng tôi cần Chúa để tránh tội;
nhưng tội có thể làm dịp để tôi gần
Chúa hơn, làm tôi tha thiết nài xin Chúa hơn.
Ta bị cám dỗ v́ … tham dục
(Gc 1:14-15). Khi bị cám dỗ, chúng ta không được nói
Thiên Chúa cám dỗ ḿnh (Gc 1:13). Chúng ta nghe nói tới ba thù: quỷ,
thế gian, và xác thịt. Quỷ có thể cám dỗ ta, và
có khi nó giả dạng thần lành để cám dỗ ta
(2Cor 11:14), nó cũng có thể giả dạng người
chết (ma) để làm ta sợ hăi. Thế gian, xét như
những đánh giá của người đời, cũng có thể
cám dỗ ḿnh, nhưng tôi tự do chọn lựa. Xác thịt có khuynh chiều
của nó, hướng theo bản năng, nên nếu tôi thấy
tôi hướng về những ǵ theo bản năng th́ cũng
là tự nhiên, tôi cần biết điều này để
có thái độ đúng đắn với khuynh chiều xác
thịt. Tôi được mời gọi để vượt
qua cám dỗ. Phạm tội hay không, là tự do tôi.
Người linh hướng nh́n Đức Giêsu gặp gỡ chị phụ nữ Samaritanô bên bờ giếng Giacóp để xem Chúa đă nói chuyện giúp đỡ chị ta như thế nào (Ga 4:1-42). Người đồng hành thiêng liêng cũng nh́n Đức Giêsu đi gặp gỡ hai môn đệ trên đường Emmau để giúp đỡ họ (Lc 24:13-35). Tùy t́nh trạng của họ mà Ngài giúp, tùy theo t́nh trạng của người thụ hướng mà người đồng hành thiêng liêng giúp.
Đồng
hành thiêng liêng liên hệ mật thiết với phân định
thiêng liêng. Phân định thiêng liêng là tiến tŕnh gồm
những hành vi của chủ thể dựa trên tác động
của các thần nhằm nhận ra thánh ư Thiên Chúa hầu
thực thi thánh ư Ngài. Phân định thiêng liêng giúp chính ḿnh,
chủ thể phân định, và cũng có thể giúp
người khác, nhận ra thánh ư Thiên Chúa. Người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng phải là người
có khả năng phân định thiêng liêng, để có thể
nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh và cho người thụ
hướng, để giúp người thụ hướng
nhận ra thánh ư Thiên Chúa và thi hành. Người thụ
hướng cũng cần được huấn luyện
phân định thiêng liêng, để nhận ra thánh ư Thiên
Chúa cho họ, qua tiến tŕnh linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng.
Như vậy, thánh ư Thiên Chúa cho người thụ
hướng, Lời Chúa qua Kinh Thánh, Đức Giêsu Kitô,
Thánh Thần, là tiêu chuẩn và nền tảng mà người
linh hướng hay đồng hành thiêng liêng phải dựa
vào để hướng dẫn người thụ hướng.
Người thụ hướng như họ là, cũng là
đối tượng quy chiếu mà tùy t́nh trạng và khả
năng của họ mà người linh hướng đồng
hành giúp đỡ họ.
Đâu là dung mạo của người linh hướng hay đồng hành thiêng liêng?
Linh hướng hay đồng hành thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi giữa hai người, người thụ hướng và người hướng dẫn, với thái độ kính trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi điều ảnh hưởng tới người thụ hướng, đặc biệt qua đời sống cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp người thụ hướng nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày và đáp trả, hầu phát triển mối tương quan thân thiết với Thiên Chúa, để họ b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc hơn.
Người đồng hành thiêng
liêng và người thụ hướng đều chọn
Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết; cả
hai đều muốn biết thánh ư Thiên Chúa đối với
họ và thực thi điều Thiên Chúa muốn cho họ
trong cuộc sống. Thiên Chúa đă gọi Samuel nhưng
Samuel không nhận ra tiếng Ngài. Thầy Hêli là người
đă giúp Samuel nhận ra tiếng Thiên Chúa và đáp trả
(1Sam 3:1-21). Để
có thể linh hướng, cần là người biết
Thiên Chúa và thân quen đường lối của Thiên Chúa,
biết về con người, luôn sống dưới tác
động của Thánh Thần, và là người cẩn mật,
tôn trọng và bảo vệ người thụ hướng.
Người đồng hành thiêng liêng phải là người biết Thiên Chúa, thân quen đường lối của Thiên Chúa, có thể nhận ra thánh ư Thiên Chúa, để rồi có thể giúp người khác nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho họ. Con chiên Ta th́ nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta (Ga 10:27). Nếu họ không biết Thiên Chúa th́ họ không nhận ra tiếng Ngài mời gọi họ.
Để
biết Thiên Chúa, cần được dạy về Thiên
Chúa; hơn nữa, cần có kinh nghiệm trực tiếp
với Thiên Chúa qua cầu nguyện với ơn trợ
giúp của Thánh Thần. Linh Thao là một phương thế
hữu hiệu
giúp người
ta quen biết đường lối của Thiên Chúa.
Để
có thể nhận biết thánh ư Thiên Chúa, người ta cần
b́nh tâm. B́nh tâm là chọn Thiên Chúa và thánh ư Ngài trên tất cả,
c̣n những điều khác th́ sao cũng được.
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng, nên những ǵ Ngài muốn cho tôi, là tốt
nhất cho tôi; thế nên tôi chọn thực thi thánh ư của
Thiên Chúa cho tôi trong mọi trường hợp.
Không b́nh tâm, giống như người ở giữa bao tiếng ồn ào không nghe được tiếng của ai đó nói với minh, khó nghe được tiếng Chúa. Người đồng hành thiêng liêng có nhiệm vụ giúp người thụ hướng nhận ra tiếng Chúa mời gọi; Như vậy, cả người linh hướng lẫn người thụ hướng đều phải b́nh tâm.
Để
nhận biết thánh ư Thiên Chúa, người ta cần biết
phân định thiêng liêng: phân định tác động của
các thần và phân định Ư Chúa.
Người linh hướng phải
có khả năng phân định thiêng liêng để nhận
ra thánh ư Thiên Chúa qua những dữ kiện mà người
thụ hướng chia sẻ, để rồi giúp người
thụ hướng phân định và nhận ra thánh ư Thiên
Chúa và thực hiện ư Ngài.
Người linh hướng cần biết người mẫu lư tưởng của người thụ hướng và cũng cần biết nguyên tắc sư phạm căn bản để có thể làm công tác hướng dẫn cho có kết quả. Người linh hướng cũng cần biết về con người với những phản ứng theo bản năng. Người đồng hành thiêng liêng tuy dù không phải nhà tâm lư nhưng cũng cần biết những điều cơ bản về tâm lư. Họ cũng phải có thể nhận ra người đến với ḿnh bị tâm bệnh và cần một điều trị khác; đồng hành thiêng liêng không nhằm chữa trị tâm bệnh.
Chúng ta biết về con người qua nhiều nghành học khác nhau: nhân chủng học, y khoa, tâm lư, phân tâm học, nhân học thần học, v.v.
Tâm lư học nghiên cứu về con người, giúp chúng ta biết về con người về nhiều phương diện và ở những mức độ khác nhau. Hiện có nhiều lư thuyết tâm lư và mỗi lư thuyết đều có những nét hay riêng và chúng bổ túc cho nhau. V́ con người là hữu thể tự do nên những lư thuyết tâm lư có giá trị tương đối. Mỗi người là một cá vị. Mỗi cá vị đều tự do và h́nh thành ḿnh cách riêng theo chọn lựa của mỗi người.
Người đồng hành thiêng liêng cần biết lắng nghe, có khả năng khơi gợi để người thụ hướng mở ḷng chia sẻ; và với khả năng nhận ra thánh ư Thiên Chúa qua những dữ kiện mà người thụ hướng chia sẻ, để rồi giúp người thụ hướng nhận ra thánh ư Thiên Chúa và thực hiện ư Ngài.
Suy bụng ta ra bụng người, cũng là một cách để biết về tha nhân; tuy nhiên cũng cần biết con người là hữu thể tự do, nên người ta có thể khác với ḿnh: “đừng lấy dạ tiểu nhân đo ḷng người quân tử.” Có nhiều người phản ứng theo bản năng, nhưng người trưởng thành sống theo lư trí hướng thiện chứ không chỉ chiều theo bản năng.
Người đồng hành cũng phải là người có khả năng vượt trên ư kiến phán đoán của người thụ hướng, để nhận ra con người thực của người thụ hướng, để giúp người thụ hướng biết ḿnh, giúp họ nhận ra cái sai nếu có, giúp họ nhận ra những t́nh cảm chủ quan ảnh hưởng đến cái nh́n và suy nghĩ phán đoán của họ. Như vậy, người đồng hành phải là bậc thầy, người có khả năng hướng dẫn, chứ không chỉ đơn thuần là người “đồng hành” đi cùng.
Biết về con người, có thể nhờ những khoa học xă hội, nhưng v́ con người là hữu thể tự do, nên chúng ta cũng có thể biết hơn về con người qua cái nh́n thần học thiêng liêng.
Có nhiều người bận tâm: tại sao tôi vẫn
phạm tội dù đă bao lần tôi quyết định sẽ
không bao giờ như vậy nữa? Tại sao lúc tĩnh tâm
người ta nói rất hay, tưởng rằng họ sẽ
ra khác, nhưng khi trở về đời thường họ
lại vẫn vậy? Sau nhiều lần tái phạm, một
số người thất vọng về chính ḿnh; Họ
chán nản bỏ cuộc buông xuôi, không muốn cố gắng
nữa. Cố gắng mà làm ǵ khi chẳng thấy thành công!
Một số người không c̣n đánh giá tốt về
những cuộc tĩnh tâm hoặc linh thao nữa!
Chúng ta sẽ nh́n Chúa Giêsu, để nhận ra thân phận con người, và để biết
chúng ta phải sống và
hành xử như thế nào.
Theo đức tin Kitô của chúng ta, Đức
Giêsu là Thiên Chúa nhập thể. Ngài đă chấp nhận
thân phận con người như chúng ta mọi đàng.
Ngài hoàn toàn là một người.
Đức Giêsu là con đức Maria, được
sinh nơi hang chiên cừu tại Bêlem, được nuôi nấng
dạy dỗ, lớn lên và kiếm sống bằng nghề
thợ mộc tại Nadarét miền Galilê.
Ai nghèo bằng Ngài? Có ai được sinh nơi
một chuồng thú vật như Ngài? Ngài cảm được
nỗi ḷng của người nghèo cũng như cách hành xử
của người ta đối với những người
làm nghề khiêm tốn như nghề thợ mộc! Ngài cảm
được cái đói, và thông cảm với cơn
đói cồn cào của các tông đồ đến độ
phải bứt gié lúa mà ăn (Mc 11:12; Mt 12:1); Ngài có thể
thông cảm với tất cả những ai lâm cảnh màn
trời chiếu đất, v́ Ngài vẫn thường phải
ngủ ngoài trời (Lc 21:37).
Ai bị sỉ nhục bằng Ngài? Ngài bị
những người thân coi là người mất trí (Mc 3:
21); bị người Do Thái coi là người tội lỗi
(Ga 9: 24); bị coi là người qủy ám (Mc 3: 22; Ga 8: 52),
nhờ tướng qủy mà trừ qủy (Lc 11: 15); bị
coi là người phạm thượng (Mc 14: 62) nên phải
bị ném đá hoặc tử h́nh cách nào đó (Ga 8: 59; 10:
31).
Ai bị hành hạ bằng Ngài? Có ai lớn
như Ngài mà c̣n bị tạt tai? bị nhổ nước
miếng vào mặt? bị giựt râu? bị đánh đấm
vào mặt? bị đánh đ̣n? bị nhạo báng cho đội
măo gai? Ai bị chết ô nhục bằng Ngài? bị lột
trần truồng và chết thê thảm trên thập giá?
Đức Giêsu đau ḷng trước sự chai
cứng tâm hồn của con người thời đó: của
người làng Nadarét (Lc 4: 22b-30); của người tới
xin Ngài chữa bệnh: “ôi thế hệ tà vạy và cứng
tin...” (Lc 9:41); của những người biệt phái và kư
lục (Lc 20: 4tt). Ngài nên giống chúng ta mọi đàng!
Nhiều người kinh nghiệm về sự yếu
đuối của bản thân, muốn xin Chúa cất tự
do của ḿnh, để ḿnh không phản bội Chúa nữa.
Nhiều khi họ than trách Chúa đă để họ yếu
đuối sa ngă như vậy. Mệt mỏi v́ phải chống
trả với những cám dỗ, thất vọng v́ chính
ḿnh, ... họ muốn buông xuôi, không c̣n tin vào ḿnh nữa! Những
người này quên rằng, họ hoàn toàn tự do để
phạm tội hay không! Nếu họ không muốn họ
không phạm tội.
Phạm tội không là bản chất con người,
tuy dù dường như ai cũng phạm tội (1Ga
1:8-10). Thiên Chúa tạo dựng tất cả đều tốt
đẹp (St 1: 31). Cái “trở nên tệ hơn” của con
người, là do tự con người. Con người có
thể hạ phẩm giá ḿnh bằng hành vi “tội” của
ḿnh, và con người cũng có thể làm tăng phẩm
giá ḿnh bằng hành vi yêu thương siêu vượt. Con
người có thể phạm tội và cũng có thể
không phạm tội!
Không ai không bị cám dỗ, nhưng không phải
tất cả đều đă sa ngă. Đức Maria đă
không phạm tội riêng: không bao giờ Mẹ đă phạm
tội, không bao giờ Mẹ đă không vâng phục Thiên Chúa.
Chính Đức Giêsu cũng bị cám dỗ. Đức
Giêsu không chỉ bị cám dỗ một lần trong đời
khi ở hoang địa bốn mươi đêm ngày (Mt 4:
1-11), mà Ngài c̣n bị cám dỗ trong suốt đời. Ngài
cũng bị cái đói hành hạ; Ngài không chỉ bị ma
qủy cám dỗ thách thức nhẩy từ đỉnh
đền thờ xuống (Lc 4: 9-11) mà c̣n bị người
ta thách thức xin dấu lạ bởi trời (Lc 11:
16.29-30), c̣n bị thượng tế kư lục và dân chúng
thách thức xuống khỏi thập giá để họ
tin (Lc 23: 35-37). Trong vườn dầu Ngài bị cám dỗ
và chống lại đến mức độ toát mồ
hôi máu (Lc 22: 44; Dt 12:4), Ngài bị cám dỗ cả về
đức tin nữa “Lạy Thiên Chúa con, sao Ngài nỡ bỏ
con?” (Mc 15: 35).
Con người có thể và thường bị
cám dỗ, nhưng con người có thể không phạm tội.
Chính Đức Giêsu cũng bị cám dỗ, và bị cám dỗ
cho đến giây phút cuối cùng trong đời Ngài, ngay cả
về đức tin. Cũng vậy, chúng ta có thể bị
cám dỗ, và ngay cả bị cám dỗ rất nhiều và
dai dẳng, nhưng điều này không hàm chứa rằng
ḿnh “dở”. Đức Giêsu bị cám dỗ, nhưng Ngài
không “dở” v́ Ngài đă chiến thắng dù phải chiến
đấu, chiến đấu đến độ “đổ
máu” (Dt 12: 4).
Thiên Chúa không miễn trừ cho con người khỏi
cám dỗ, v́ đó là thân phận con người “tự do”;
nhưng nếu con người bám vào Thiên Chúa, trông cậy
vào Thiên Chúa, con người có thể chiến thắng và
không phạm tội. Đức Giêsu và đức Mẹ
Maria là mẫu gương và là bảo đảm cho chúng ta.
Một kinh được dùng rất nhiều lần,
là lời kinh chính Chúa Giêsu đă dạy: “Lạy Cha chúng con ở
trên trời, nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị
đến, ư Cha thể hiện... Xin Cha cho chúng con,
lương thực cần dùng; xin tha nợ chúng con...; xin
chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt
6:9-13). Câu cuối cùng của kinh Lạy Cha “xin chớ để
chúng con sa chước cám dỗ” làm chúng ta phải suy nghĩ.
Một lời nguyện, có thể là lời tạ
ơn chúc tụng, nhưng chủ yếu là lời xin. Xin
là thái độ của một người nghèo, không có nên
phải xin. Người ta chỉ xin khi người ta không
có hoặc không thể làm được điều ǵ
đó.
Con người tự do, con người có thể
không phạm tội, nhưng bao nhiêu người đă phạm
tội. Đă bao lần tôi phạm tội và rồi ngay khi
vừa phạm tôi xong tôi lại hối hận liền...
dù trước đó tôi đă dốc ḷng thề hứa với
Chúa hay với người khác hoặc với chính ḿnh rằng
sẽ không phạm tội nữa!
Chúa Giêsu đă nói với Phê-rô hai lần cùng một
buổi tối, trong vườn dầu: “hăy cầu nguyện
kẻo sa cám dỗ” (Lc 22: 40.46). Tại sao phải cầu
nguyện để khỏi sa chước cám dỗ?
Không ai trong chúng ta không bị cám dỗ. Ngôi Lời
Thiên Chúa đă nhập thể, Ngài không phạm tội dù
Ngài bị cám dỗ rất nhiều. Ngài đă phải chiến
đấu rất quyết liệt và cam go trước những
cơn cám dỗ. Ngài chiến đấu đến nỗi
đổ máu (Dt 12: 4).
Chúa đă chết và sống lại, để
chúng ta được sống lại với Ngài, nhưng
chúng ta vẫn không được giải thoát khỏi cám dỗ.
Thực ra khi bị cám dỗ phạm tội, chúng ta không trở
thành dở hơn; chúng ta chỉ dở khi chúng ta chiều
theo cám dỗ, ưng thuận với cám dỗ. Nếu chúng
ta chống lại cám dỗ, chúng ta có công phúc trước mặt
Chúa; nếu chúng ta bị cám dỗ khủng khiếp và dai dẳng,
mà chúng ta chống trả quyết liệt và chiến thắng,
th́ chúng ta không chỉ không dở mà c̣n có công phúc lớn
trước nhan Chúa (LT 33-34).
Chúng ta thường sợ cám dỗ. Tại sao vậy?
V́ chúng ta ngại chiến đấu? Hay v́ chúng ta sợ
chính chúng ta? V́ chúng ta đă có kinh nghiệm về chính con
người của ḿnh: yếu đuối và mỏng ḍn? Một
điều cần lưu ư: nếu tôi không muốn, tôi không
phạm tội. Trước khi phạm tội tôi không muốn,
và sau khi phạm tội tôi cũng không muốn, nhưng
chính tôi đă muốn khi phạm tội!
Dù tôi yếu đuối và mỏng ḍn, nhưng tôi
không phạm tội nếu tôi không muốn. Phạm tội,
là hành vi tự do của con người ở giây phút hiện tại.
Qúa khứ, không quan trọng. Dù qúa khứ tôi có tốt mấy
đi nữa, có làm được bao nhiêu điều kỳ
diệu chăng nữa, mà nếu ở giây phút này tôi không
vượt lên trên chính ḿnh, th́ tôi chẳng là ǵ! “Nếu kẻ
công chính bỏ đường công chính mà phạm tội,
nó phải chết. Và nếu kẻ tội lỗi bỏ
đường gian ác mà trở lại, nó sẽ được
sống” (Ed 33: 18-19).
Chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh (2Cor 12: 10). Tự
sức tôi, e rằng tôi sẽ sa ngă chiều theo cám dỗ;
nhưng nếu tôi cậy dựa vào Chúa, tôi sẽ không sa
ngă, cho dù cả hỏa ngục tấn công cũng không thắng
nổi tôi, v́ Chúa ở với tôi, Ngài là khiên che thuẫn
đỡ cho tôi (Rm 8:38-39).
Không có lương thực, con người sẽ
chết. Cơm bánh là điều cần thiết đối
với con người, nhưng nhiều người không ư
thức rằng, cơm bánh người ta ăn hằng
ngày cũng là hồng ân của Thiên Chúa. “Xin Cha cho chúng con
lương thực hằng ngày” (Lc 11: 3). Lời kinh Chúa dạy
giúp chúng ta ư thức t́nh yêu của Thiên Chúa đối với
con người cũng như thân phận con người phải
luôn tùy thuộc Thiên Chúa, ngay cả những điều rất
b́nh thường trong đời sống con người
như lương thực hằng ngày.
“Thiên Chúa muốn mọi người được
cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2: 4). Thiên
Chúa không muốn ai phạm tội. Vậy tại sao tôi
(đă hoặc sẽ) phạm tội dù (bây giờ) tôi không
muốn?! Thực ra, nếu tôi không muốn th́ tôi không phạm
tội; nhưng chính lúc tôi phạm tội th́ tôi muốn, dù
trước đó tôi không muốn, và sau đó tôi cũng
không muốn.
Tôi muốn lúc tôi phạm tội, dù trước
đó đă nhiều lần tôi dốc ḷng và quyết định.
“Điều tôi muốn tôi không làm, c̣n điều tôi không muốn
tôi lại làm” (Rm 7: 15.19). Càng sống lâu, con người
dường như càng có kinh nghiệm về điều
này! “Vô phúc thay con người của tôi! Ai sẽ cứu
tôi khỏi cái xác chết này?” (Rm 7: 24). Tạ ơn Chúa, v́
nhờ Đức Giêsu Ki-tô.
“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”
(Lc 11: 4). Lời Chúa cho chúng ta biết rơ thân phận con
người của chúng ta: yếu đuối, mong manh mỏng
ḍn, cần Chúa giúp để có thể sống không phạm
tội. Chúng ta cần Chúa, để ở trong t́nh yêu của
Ngài. “Không có Thầy, các con không thể làm ǵ” (Ga 15: 5). “Hăy cầu
nguyện để khỏi sa cám dỗ” (Lc 22: 40.46). Nếu
không cầu nguyện, e rằng khó có thể không sa cám dỗ,
v́ “tinh thần tuy nhanh nhẹn nhưng xác thịt th́ yếu
nhược” (Mc 14: 38). Những lời này do chính Chúa Giêsu
nói, và Ngài cũng cảm nghiệm được sự nặng
nề của thân xác “Lạy Cha nếu có thể, xin cất
chén này đi khỏi con, nhưng đừng theo ư con mà là ư
Cha” (Mc 14: 36).
Con người tự do. Con người có thể
không phạm tội nếu chính đương sự không
muốn. Thế nhưng có nhiều người sợ chính
ḿnh, sợ “tự do” của ḿnh! Nếu bởi tự do mà
tôi phạm tội chống lại Chúa, th́ thà không có tự
do c̣n hơn: “Thà làm thân cỏ cây, đóa hoa rừng ngả
nghiêng trước gió, kiếp chim xanh ....”
“Cầu nguyện để khỏi sa cám dỗ”
(Mc 14: 38). “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”
(Lc 11: 4). Điều này hàm chứa: tôi cần Chúa để
khỏi sa ngă. Chúa luôn quan tâm đến tôi, Ngài sẵn sàng
trợ giúp tôi, để tôi không sa ngă phạm tội chống
lại Chúa nữa. Xin chớ để chúng con sa chước
cám dỗ, cũng quan trọng và cần thiết như cần
phải xin cho có lương thực hằng ngày.
“Hôm nay Ta đă sinh ra con” (Tv 2: 7). Ngôi Lời
được Cha sinh ra từ vĩnh cửu và hôm nay Ngài vẫn
được Cha sinh ra. Sự hiện hữu của ngôi
Lời tùy thuộc Cha, không có Cha th́ không có Con. Ngôi Lời
hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa, Chúa Giêsu luôn tùy thuộc Cha. Ngay
bây giờ, sự hiện hữu và chân tính của Đức
Giêsu là ở nơi Thiên Chúa.
Hiện tại là giây phút quan
trọng nhất, đối với tôi và đối với cả
Chúa Giêsu nữa. “Hôm nay Cha
đă sinh ra Con,” Đức Giêsu là như vậy; và cả
tôi cũng vậy. Thiên Chúa làm thành con người tôi, và tôi
cũng làm thành con người tôi v́ tôi là hiện hữu tự
do. Tôi như thế nào là tùy ở tôi, tùy tôi quyết định
ở giây phút hiện tại này.
Tôi có thể được biến đổi
hoàn toàn, tùy tôi có quyết định trở lại với
Thiên Chúa ở giây phút hiện
tại này không! Để có thể không phạm tội
phản bội Chúa nữa, để thuộc trọn về
Chúa, để nên thánh, tôi phải làm ǵ bây giờ? Qúa khứ
cho tôi biết về con người của tôi, tôi đă quyết
định nhiều nhưng đă không giữ được
điều ḿnh quyết định! Tôi đă thất vọng
về chính con người của tôi, và đă có lúc như
tuyệt vọng! Bây giờ
tôi phải làm ǵ?
“Tôi phải là ǵ?”, đó cũng là câu mà anh thanh
niên giầu có hỏi Đức Giêsu (Mc 10: 17). Nếu chỉ
biết mà không làm, th́ chắc cũng buồn như anh thanh
niên sau khi được Đức Giêsu trả lời (Mc
10: 22). Ai biết mà không thực hành, th́ giống như
người ngu xây nhà trên cát... (Mt 7: 26). Không phải chỉ
biết, mà chính yếu là làm, là thực hiện...
Kinh nghiệm cho thấy tôi rất yếu đuối,
mong manh mỏng ḍn, dễ sa ngă! Thân phận con người
là vậy! Bị cám dỗ, con người không thể
được miễn trừ, kể cả Đức
Giêsu và Đức Mẹ. Chúa Giêsu, trong lời kinh Ngài chỉ
cho các tông đồ, Ngài dạy “xin chớ để chúng
con sa chước cám dỗ” (Lc 11: 4). Cầu nguyện để
không sa chước cám dỗ! Nếu tự sức ḿnh, ḿnh
có thể không phạm tội, chắc chắn ḿnh chẳng
cần phải cầu xin.
“Tinh thần tuy
lanh lẹ nhưng xác thịt yếu nhược” (Mc 14:
38). Chúa Giêsu cũng biết và có kinh nghiệm về điều
này. Hăy tránh dịp tội, hăy
làm hết sức ḿnh để tránh dịp tội, đừng
ảo tưởng về ḿnh. “Ai tưởng ḿnh
đứng vững, hăy ư tứ kẻo té” (2Cor 12: 10).
“Hăy xin th́ sẽ được, hăy t́m th́ sẽ gặp,
hăy gơ cửa th́ sẽ mở cho” (Lc 11: 9). Nếu tôi xin mà
không được, chắc điều đó lúc này không tốt
cho tôi, v́ nếu tốt th́ Thiên Chúa đă ban cho tôi rồi.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, Ngài sẽ ban cho chúng
ta điều tốt nhất cho tôi, dù tôi có xin Ngài hay không
xin! “Vậy nếu các ngươi tuy là ác, c̣n biết lấy
của lành làm qùa cho con, th́ huống hồ Cha các
ngươi tự trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những ai xin
Người” (Lc 11: 13). Thiên Chúa ban Thánh Thần cho chúng
ta, để Thánh Thần giúp chúng ta sống trong t́nh yêu của
Thiên Chúa.
Hiện tại tôi phải làm ǵ để tôi thuộc
về Chúa, trung tín với Chúa, không phạm tội ở
giây phút này? Tôi phải làm ǵ để tôi chọn Chúa trên tất
cả ở giây phút này? Tôi phải làm ǵ ở giây phút này
để tương lai tôi không chọn ǵ trên Chúa? Cố gắng làm tốt nhất
giây phút hiện tại.
“Đèn của
thân thể tức là mắt ngươi. Khi mắt
ngươi đơn thuần th́ toàn thân ngươi sáng
láng; một khi nó vạy vọ th́ ḿnh ngươi tối sầm.
Vậy hăy xét xem có khi ánh sáng trong ngươi lại là tối
tăm chăng” (Lc 11: 34-35).
Trong linh thao, để giúp cầu nguyện dễ
dàng hơn, thánh Inhaxiô khuyên người ta nên giữ cẩn
thận ngũ quan, đặc biệt là con mắt (LT
80-81). Ngũ quan là những cơ quan giúp chúng ta giao tiếp
với ngoại giới. Nếu chúng ta không tập làm chủ,
chúng ta sẽ dễ dàng bị ngoại cảnh chi phối.
“Không làm chủ được miệng lưỡi, th́ cũng
không làm chủ con người ḿnh được” (Gc 1: 16).
Để có thể chống trả cám dỗ phạm
tội trong tương lai, bây giờ tôi phải có thể
làm chủ con người tôi, cụ thể là giữ ngũ
quan. Không thể làm chủ ḿnh lúc này, th́ làm sao có thể làm
chủ ḿnh trong tương lai? Giữ ngũ quan, là một thử nghiệm trong việc
làm chủ ḿnh.
Giữ ngũ
quan có thể được coi như giữ thinh lặng
bên ngoài. Thinh lặng bên trong, thinh lặng nội tâm c̣n quan
trọng và đáng qúy hơn thinh lặng bên ngoài nhiều. Một
người sống trong một nơi thâm u cùng cốc, vắng
lặng bóng người, nhưng có thể ḷng họ
đang nổi ba đào. Một người có thinh lặng
nội tâm, th́ cho dù có sống giữa chợ hoặc
nơi phố phường đông đúc, họ vẫn có
thể b́nh an thanh tịnh.
Để giúp có thinh lặng nội tâm, một
cách tiêu cực cần gạt bỏ những vướng bận;
một cách tích cực, biết rơ “tất cả chỉ là
phù vân ... không có ǵ mới dưới ánh mặt trời” (Gv
1:1.9). Sự thinh lặng nội tâm thực sự chỉ
có với tâm hồn chọn Thiên Chúa và ư định của
Ngài trên tất cả. Luôn tâm
niệm chọn Thiên Chúa trên tất cả, và gạt bỏ
mọi ư tưởng không tốt khi nó xuất hiện trong
trí.
Thiên Chúa yêu
thương tôi, và Ngài luôn ở với tôi (Ga 14: 23; 14: 16;
1Cor 3: 16-17), để quan pḥng và bảo vệ tôi. Những
điều khác mất, không quan trọng; chỉ một
điều quan trọng là không ai giựt được
tôi khỏi ṿng tay yêu thương của Ngài (Rm 8: 35.38-39).
Không chỉ là nhớ Chúa hiện diện,
nhưng chủ yếu sống trong tâm t́nh Chúa luôn ở với
ḿnh. Thiên Chúa hạnh phúc được ở với con người
v́ Ngài yêu con người. Chúa cùng ngồi với ḿnh khi ḿnh
đang nói chuyện với ai đó; Ngài chia sẻ nỗi
đau của ḿnh trước cách đối xử không tốt
của ai đó với ḿnh... Cố
gắng ư thức Chúa đồng hành với ḿnh, và nói chuyện
với Ngài liên lỉ.
Yêu mến Chúa
Giêsu Thánh Thể được thể hiện cụ thể
qua việc năng tham dự Thánh Lễ và rước lễ,
năng viếng Thánh Thể. Chính v́ yêu chúng ta, Chúa Giêsu
đă tự nguyện ở lại với chúng ta một
cách “cụ thể” qua bí tích Thánh Thể. Yêu mến Thánh Thể,
là dấu chỉ cho thấy t́nh yêu của chúng ta đối
với Thiên Chúa vẫn c̣n nồng thắm. T́nh yêu với
Chúa Giêsu Thánh Thể, được biểu lộ qua thái
độ cung kính của chúng ta khi đứng trước
hay đi ngang qua Thánh Thể, và đặc biệt qua việc
năng viếng Thánh Thể. Xin
cho con t́nh yêu nồng thắm với Chúa Giêsu Thánh Thể. “Lạy
Chúa Giêsu, xin cho con yêu Chúa nhiều.”
Đức Mẹ và Chúa Giêsu, hai con người
nêu gương cho chúng ta, để chúng ta bước theo
các Ngài. Cả Mẹ lẫn Chúa, đều là những con
người hoàn toàn như chúng ta, nhưng các Ngài đă thuộc
trọn về Thiên Chúa một cách tuyệt vời.
Nh́n cuộc
đời Mẹ, chúng ta thấy đậm nét chữ “xin
vâng”. Với Mẹ, Thiên Chúa và ư định của Ngài là
tuyệt đối. Khi thần sứ truyền tin, Mẹ
chấp nhận dù không biết tương lai ra sao, Mẹ
chỉ một niềm phó thác cho Thiên Chúa. Mẹ xin vâng chấp
nhận những ǵ xảy đến khi phải trở về
Bê-lem, khi sinh hạ hài nhi trong máng cỏ. Mẹ vui sống
những ngày “b́nh thường” tại Nadarét, với bữa
ăn thanh đạm và cuộc sống không tiện nghi của
một gia đ́nh nghèo. Mẹ chấp nhận biến cố
Đức Giêsu ở lại đền thờ năm Ngài
12 tuổi với bao lo lắng vất vả.
Mẹ vẫn chờ Lời Chúa nói với Mẹ
qua thần sứ được ứng nghiệm, dù bao
năm tháng trôi qua. Biến cố Đức Giêsu chết
trên thập giá là kinh khủng với Mẹ. Ở biến
cố này, Mẹ bị thử thách khủng khiếp cả
về đức tin: liệu Thiên Chúa có thực hiện những
điều Ngài đă nói với tôi qua thần sứ không?
Thế nhưng Mẹ vẫn một niềm tin tưởng
phó thác, cho dù trước biến cố Đức Giêsu chết,
như thể không tài nào tin được lời thần
sứ nói với Mẹ “Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu
David cha Ngài, nước Ngài rộng vô biên”. Mẹ sống
cuộc đời tưởng như rất b́nh thường
nhưng thực sự Mẹ sống rất tuyệt vời.
“Hy sinh và lễ
vật Chúa không ưng; Ngài đă ban cho con một thân xác; vậy
con thưa: này con xin đến để thực thi ư Chúa”
(Dt 10: 5.7). Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể để
thi hành ư Cha: làm cho con
người ngày nay biết Thiên Chúa yêu thương họ
vô cùng. “Đức Giêsu đă vâng phục cho đến
chết, và chết trên thập giá” (Pl 2: 8). Đức Giêsu
đă đi đến cùng mầu nhiệm nhập thể,
tự hủy đến độ chết như một
con người b́nh thường và thấp hèn nhất,
đó là cái chết treo thập giá.
Không phải Đức Giêsu vô cảm, không cảm
thấy ǵ nơi con người của Ngài! “Ngài đă kinh
hoàng sợ hăi, buồn phiền muốn chết được;
nếu có thể được xin Cha cho khỏi uống
chén này, nhưng đừng theo ư con một theo ư Cha mà thôi”
(Mc 14: 33-34.36). “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay
Cha” (Lc 23: 46); “Đă hoàn tất” (Ga 19: 30). Đức Giêsu
hoàn toàn chấp nhận và phó thác tất cả trong tay Chúa
Cha. Không phải là Đức Giêsu không có dự tính như một
con người, nhưng Ngài phó thác tất cả trong tay
Thiên Chúa, dù thế nào chăng nữa th́ điều Thiên
Chúa Cha muốn, sẽ là điều tốt nhất cho Ngài
và cho con người.
Không phạm tội, thuộc trọn về Chúa,
là một ơn; tự sức con người, chúng ta không
thể làm được điều đó; nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta luôn sống
trong t́nh yêu Ngài, luôn luôn thuộc trọn về Ngài.
Chúa Giêsu nói “không có Thầy các con không thể làm ǵ” (Ga 15: 5)
nhưng Ngài lại nói thêm “Hăy ở lại trong t́nh yêu của
Thầy” (Ga 15: 9). “Muốn độc lập với Chúa” là
một điều điên rồ, và không thể thực hiện
được. Đó là tội. Adam và Eva cũng có thái
độ như vậy khi muốn thành thần linh cách
độc lập với Chúa (St 3).
Kinh nghiệm bản thân sau những lần sa ngă:
tôi đă muốn nhưng tôi không làm như tôi đă muốn
được. Thiên Chúa yêu tôi, Ngài luôn trợ giúp tôi, vậy
“hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian” (Ga 16: 33).
“Hỡi đoàn nhỏ, đừng sợ, v́ Cha đă khấng
ban Nước cho các ngươi” (Lc 12: 32).
Hiện tại tôi ao ước khao khát ǵ? T́nh yêu
của tôi với Chúa c̣n được như ngày nào không?
Nếu t́nh yêu, ḷng khát khao thuộc về Chúa đă suy giảm,
hăy cẩn thận, coi chừng sa ngă. Hăy nài xin Chúa Thánh Thần
trợ giúp! Thường mỗi người chúng ta có
điểm yếu nào đó (LT 327), hăy cố gắng nhận
ra. Nếu ḿnh bắt đầu bị cám dỗ nhiều về
điều đó, hăy xét xem t́nh yêu và khát vọng của ḿnh
với Chúa đang trong t́nh trạng nào. Hăy gia tăng cầu
nguyện hoặc hy sinh hăm ḿnh, nếu cần có thể
đi tĩnh tâm để thêm ḷng yêu mến và khao khát Chúa.
Nếu thấy ḿnh bắt đầu sao nhăng việc thiêng
liêng như cầu nguyện hồi tâm xét ḿnh, cũng phải
xét ḿnh xem ḿnh đang như thế nào... Nếu thấy ḿnh
thiếu kính trọng Chúa Giêsu Thánh Thể, thiếu tế
nhị trong cách giao tiếp với người khác, hăy cẩn
thận, đó là dấu chỉ thiếu t́nh yêu đối
với Chúa.
Không có t́nh yêu, không có lửa t́nh yêu, không có Thánh Thần,
con người không thể trung thành với Chúa đến
cùng được. “Xin Chúa
làm cho con yêu Chúa, và ơn đó là đủ cho con” (LT
234).
Điều tôi không làm được tự sức
tôi, th́ Thiên Chúa giúp đỡ tôi nhờ Thánh Thần Ngài
đă ban cho tôi. Thánh Thần là lửa t́nh yêu, là ḷng mến,
là sức mạnh, là nguồn sống, là mạch suối
mát, làm nguội đam mê dục vọng, sưởi ấm
con tim chai cứng, thêm sức thân xác ră rời, ban sức sống
cho tâm hồn như đă chết.
Thánh Thần làm tôi khao khát Chúa. Thánh Thần làm cả
con người của tôi hướng lên Chúa, khơi dậy
lửa mến trong tôi, Ngài tác động trên cả tinh thần
lẫn thể xác tôi. Khao khát không chỉ là cái muốn của
lư trí, mà c̣n là cái tham muốn của thân xác nữa. Khi
ḷng khao khát thuộc trọn về Chúa của một
người tắt hoặc suy tàn, nguy cơ phạm tội
rất gần rồi. Phạm tội là dấu chỉ cho
thấy lúc đó đương sự không c̣n yêu Chúa nữa.
Cám dỗ nhiều và gay gắt có thể là dấu chỉ
cho thấy t́nh yêu của người đó đối với
Chúa đă suy giảm. Xin Chúa
ban Thánh Thần cho con. Xin Chúa thêm đức tin và t́nh yêu con.
Thiên Chúa, Thánh Thần mới là vị hướng dẫn chính. Người đồng hành thiêng liêng là khí cụ Thiên Chúa dùng để giúp người Thiên Chúa gởi tới với ḿnh.
Người linh hướng cần ư thức rơ Thiên Chúa có thể hướng dẫn con người theo cách riêng của Thiên Chúa và không cần theo bất cứ mẫu nào. V́ thế người linh hướng phải luôn có thái độ lắng nghe để nhận ra bất cứ ǵ Thiên Chúa muốn cho người người thụ hướng.
Người linh hướng phải để Thiên Chúa can thiệp trực tiếp trên người thụ hướng: “…. điều ích lợi và tốt đẹp hơn trong việc t́m hiểu Thánh ư Thiên Chúa, là để cho chính Đấng Tạo Hóa và Chúa tự thông truyền cho linh hồn trung tín, ấp ủ nó trong t́nh yêu mến và sự ngợi khen Ngài, và đặt nó vào con đường thích hợp hơn cả để phụng sự Ngài sau này. …. Như thế, người hướng dẫn không phải xoay hướng hoặc nghiêng về đàng này hay đàng kia, nhưng phải đứng ở giữa như cái cân, để cho Đấng Tạo Hóa trực tiếp hành động với tạo vật và tạo vật với Đấng Tạo Hóa là Chúa ḿnh” (LT 15).
Người linh hướng
không phải luôn luôn có câu trả lời cho người thụ
hướng. Người linh hướng phải luôn lắng
nghe tiếng Chúa, và có thể chưa thấy. Chuyện tiên
tri giả và tiên tri thật (Gr 28:1-17). Tiên tri thật không
luôn có giải đáp cho một vấn đề v́ nếu
Chúa chưa nói th́ vị tiên tri đó không biết. Tiên tri giả
luôn có, v́ họ lấy ư họ làm ư Chúa.
Người đồng hành thiêng liêng cũng cần rơ ràng như thánh Phaolô: “10 C̣n với những người đă kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng,11 mà nếu đă bỏ chồng, th́ phải ở độc thân hoặc phải làm hoà với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ ... 12 C̣n với những người khác, th́ tôi nói -chính tôi chứ không phải Chúa-: nếu anh em nào có vợ ngoại đạo mà người này bằng ḷng ở với người ấy, th́ người ấy đừng rẫy vợ” (1Cor 7).
Người đồng hành thiêng liêng cũng phải là người triển nở và hạnh phúc ở một mức độ nào đó, nếu không, không có sự hài ḥa giữa lời dạy và đời sống thật của người đó. V́ quen biết Thiên Chúa và cung cách hành xử của Ngài, nên đời sống nhân bản của người đồng hành cũng trổi vượt theo một nghĩa nào đó.
Người đồng hành thiêng liêng không được làm ǵ gây tổn hại đến người thụ hướng trong mọi trường hợp. Giáo luật Giáo Hội Công Giáo không cho phép hỏi ư kiến người linh hướng liên quan đến việc thải hồi hoặc phong chức của người thụ hướng (GL 240§2). Cũng trong tinh thần này ta hiểu ấn tích ṭa ḥa giải phải được tuân giữ tuyệt đối (GL 983).
Người đồng hành, như vậy, phải là người tín cẩn, kín đáo, cẩn mật, không lộ chuyện người thụ hướng nói với ḿnh. Tuy linh hướng không phải là bí tích giải tội, nhưng những ǵ nghe được trong linh hướng cũng phải giữ gần như trong bí tích giải tội. Nghĩa là, không được tiết lộ, và cũng không được dùng điều nghe được trong linh hướng để làm hại người thụ hướng ở bât cứ thời điểm nào.
Bề trên của một ḍng tu hay tu hội hay tu đoàn tông đồ không được hỏi người linh hướng về bề dưới của ḿnh. Cũng tương tự vậy, các ngài không được hỏi người giúp Linh Thao về bề dưới; và người giúp Linh Thao không được tiết lộ ǵ có hại cho người làm Linh Thao.
Người đồng hành thiêng liêng không được làm ǵ tổn hại cho người thụ hướng, không để người thụ hướng bị hiểu lầm gây tổn hại cho họ. Chẳng hạn người linh hướng không được có hành vi hay lời nói nào làm người ta hiểu sai về người thụ hướng hoặc làm tổn hại người thụ hướng.
Ngày nay, việc bảo vệ người thụ hướng được lưu ư cách đặc biệt. V́ thế pḥng ốc cho việc linh hướng thường được làm sao để bên ngoài vẫn có thể quan sát được mà vẫn có sự cẩn mật riêng tư, chẳng hạn pḥng linh hướng cần cửa kính và được cách âm, v.v. Việc trang trí pḥng linh hướng cần trang nhă, có bầu khí thiêng liêng, v.v.
Như vậy
người đồng hành thiêng liêng hay linh hướng phải
là người thân thiết với Thiên Chúa và thân quen
đường lối của Ngài, biết về con
người, luôn sống dưới tác động của
Thánh Thần, và trưởng thành cùng cẩn mật yêu
thương bảo vệ người thụ hướng.
Khi gặp người đồng hành thiêng liêng, tôi phải nói ǵ? Đó là bận tâm của nhiều người đi linh hướng. Trước khi trả lời câu hỏi trên, chúng ta xem qua mô tả về đồng hành thiêng liêng và những điều căn bản hàm chứa nơi việc linh hướng hay đồng hành thiêng liêng.
Linh hướng hay đồng hành thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi giữa hai người, người thụ hướng và người hướng dẫn, với thái độ kính trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi điều ảnh hưởng tới người thụ hướng, đặc biệt qua đời sống cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp người thụ hướng nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày và đáp trả, hầu phát triển mối tương quan thân thiết với Thiên Chúa, để họ b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc hơn.
Giả
thiết người thụ hướng có ḷng khao khát nên
tuyệt hơn, mong muốn nên thánh, ao ước nhận
biết thánh ư Thiên Chúa và sẵn sàng làm theo Ư Chúa; nếu
người thụ hướng chưa có điều này,
th́ người đồng hành thiêng liêng cần giúp họ
để có điều căn bản này.
Tin tưởng lẫn nhau là điều kiện cần để việc linh hướng hay đồng hành thiêng liêng được thực hiện. Người thụ hướng cần tin tưởng và mở ra với người hướng dẫn, và tin rằng Thiên Chúa hướng dẫn họ qua người đồng hành thiêng liêng. Không chỉ người thụ hướng tin tưởng nơi người linh hướng, nhưng người linh hướng cũng phải yêu mến và tin tưởng người thụ hướng (LT 22). Người hướng dẫn tin tưởng người thụ hướng nhưng không có nghĩa phải coi là đúng tất cả những ǵ người thụ hướng nói hay nhận định về người thứ ba. Qua gặp gỡ, chia sẻ về kinh nghiệm cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh của người thụ hướng, người linh hướng giúp người thụ hướng biết ḿnh hơn, biết Chúa hơn, nên giống Đức Giêsu mỗi ngày hơn.
Cả hai người cần nhất trí việc linh hướng sẽ được thực hiện trong khoảng một thời gian nào đó; Sau một thời gian nếu một bên không thấy ích lợi, đều có thể đề nghị dừng việc linh hướng hay đồng hành thiêng liêng. Người linh hướng không quyết định thay người thụ hướng nhưng giúp người thụ hướng nhận biết và thi hành thánh ư Thiên Chúa; đó là nhiệm vụ chính yếu của người đồng hành thiêng liêng.
Trong gặp gỡ đồng hành thiêng liêng, người thụ hướng có thể chia sẻ với người linh hướng về đời sống thiêng liêng, về tất cả những ǵ xảy tới với họ trong cuộc sống, và về tương quan của họ với Thiên Chúa.
Việc đồng hành thiêng liêng thường được thực hiện vào thời điểm mà người thụ hướng vẫn trung thành cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh. Khi nghe chia sẻ những ơn lành và những cản trở cầu nguyện, người linh hướng sẽ giúp người thụ hướng biết ḿnh cũng như nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa, để rồi thực hiện thánh ư Ngài.
Người thụ hướng chia sẻ trao đổi về những ǵ nhận được trong thời gian qua, có thể trong một tuần, một tháng hay hơn nữa. Người thụ hướng cũng chia sẻ những an ủi thiêng liêng, những bất an, lo lắng, bận tâm, không thoải mái của họ cho người đồng hành thiêng liêng, cũng như những lư do người thụ hướng nghĩ đó có thể là nguyên do làm họ không được thoải mái hay bối rối, bất an, và cả những nguyên nhân tội, v.v.
Cầu nguyện là nói chuyện
với Chúa, nghe Chúa nói, và ở lại trong t́nh yêu Chúa. Chúa
nói với ta, Chúa dạy ta. Chúa dạy ta nhiều điều:
về Chúa, về chính ta, và về vũ trụ. Ngài dạy
ta cần có tương quan thế nào với Thiên Chúa, với
con người, với vạn vật chung quanh.
Mỗi ngày khi cầu nguyện, ta nghe Chúa dạy bảo. Qua cầu nguyện, ta biết hơn, biết đúng hơn về Chúa và những tương quan ḿnh phải có với Thiên Chúa, với tha nhân, và với vũ trụ. Chúa nói với chúng ta qua lương tâm, qua những biến cố xảy tới với chúng ta, và đặc biệt qua Lời Chúa.
Linh Thao, kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của thánh Inhaxiô, cũng là một tiến tŕnh cầu nguyện giúp người ta biết về ḿnh hơn, biết về Thiên Chúa hơn, và để ḿnh đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu hơn. Linh Thao trong cuộc sống, cùng với linh hướng, giúp người ta dễ nhận ra Ư Chúa, và sẵn sàng làm theo Ư Chúa hơn, và để Chúa huấn luyện ta nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu hơn.
Xét gẫm, nh́n lại giờ cầu nguyện, để nhận ra tác động của các thần, để nhận ra thánh ư của Thiên Chúa. Dưới đây là gợi ư giúp xét gẫm:
1. Đâu là những ơn tôi nhận
được trong giờ cầu nguyện?
2. Điều ǵ cản trở
tôi cầu nguyện?
•
Tôi bị chia trí về
điều ǵ?
•
Điều chia trí này có
cho thấy bận tâm, hay tổn thương, hay t́nh cảm
lệch lạc của tôi?
•
Chúa mời gọi tôi ǵ
qua những điều đó?
3. Nói chuyện thân thưa với
Chúa về hiện trạng của ḿnh (về ơn và những
cản trở).
Tôi bị chia trí nhiều!
Nhưng chia trí về điều ǵ?
Về t́nh cảm với ai đó! Phải chăng đây là
t́nh cảm lệch lạc của tôi? Chúa mời gọi tôi
điều ǵ?
Về chuyện người ta xúc phạm tôi! Phải chăng Chúa mời gọi
tôi tha thứ cho họ?
Hay về những điều do cái nh́n không đúng về
Chúa, về con người, và tạo vật?
Với kinh nghiệm cầu nguyện
và hồi tâm xét ḿnh hằng ngày, qua gặp gỡ trao đổi
với người đồng hành, người thụ
hướng chia sẻ những ǵ xảy tới với
ḿnh, những suy nghĩ và phản tỉnh của ḿnh, những
nhận xét về chính ḿnh, và rồi qua đó người
đồng hành giúp người thụ hướng biết
về chính ḿnh, hoặc cùng người thụ hướng
t́m kiếm lời mời gọi của Thiên Chúa cho người
thụ hướng. Một khi nhận ra thánh ư Thiên Chúa, ta
chỉnh sửa th́ sẽ giúp ta cầu nguyện và sống
tốt hơn.
Biết đúng để sống
đúng. Làm sao để giúp người thụ hướng
biết ḿnh, nhận sự thật về chính ḿnh. Thiên Chúa
tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp.
Ngài tạo dựng con người có tự do, và con người
trở nên tốt hay xấu là tùy hành vi hoạt động
của họ. Giầu hay nghèo, sang hay hèn, đẹp hay xấu,
là do con người đánh giá nhận xét về nhau. Giá trị
đích thực của mỗi người là tùy ḿnh sống
tốt hay xấu, có ḷng yêu thương đồng loại
hay không.
Có nhiều điều phiền nhiễu khổ đau do người khác vô t́nh hay cố t́nh gây ra cho ḿnh, nhưng cũng có nỗi khổ do chính ḿnh gây ra. Những khổ đau này là hậu quả hành vi của ḿnh, hay do suy nghĩ sai lệch làm ḿnh khổ. Như vậy, để sống hạnh phúc, cần chỉnh sửa chính ḿnh để giảm thiểu tối đa những phiền nhiễu đau khổ do người khác gây ra cho ḿnh, và chỉnh sửa suy nghĩ hay tri thức của ḿnh cho đúng. Cụ thể, mỗi người cần được hướng dẫn, cần học tập những điều tốt lành.
Con người không chỉ có lư trí. Biết thôi chưa đủ. Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Trong cuộc sống, con người cảm thấy lúc vui lúc buồn… làm sao để sống hạnh phúc? Những phút hồi tâm xét ḿnh (ít là ban tối trước khi ngủ) giúp ta biết về ta, và nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa đối với ta từng ngày.
Khi hồi tâm xét ḿnh, người ta tạ ơn Thiên Chúa về những ơn ban cho ḿnh, và người ta nh́n lại suy nghĩ, tâm tư t́nh cảm của ḿnh, những chọn lựa, cung cách hành xử của ḿnh trong ngày, xem ḿnh có xúc phạm ai không, có làm tổn thương ai không, và ḿnh có bị tổn thương không, có b́nh an không… Chúa nói ǵ với tôi qua những điều đó? Chúa mời gọi tôi làm ǵ?
Sau đây là gợi ư giúp hồi
tâm xét ḿnh:
1. Ư thức ḿnh đang hiện
diện trước thánh nhan Thiên Chúa.
2. Xin Thiên Chúa Cha ban Thánh Thần
của Đức Giêsu để Ngài giúp ḿnh…
3. Về những hồng ân
a. Xin ơn để nhận ra
những hồng ân đă lănh nhận
b. Xét ḿnh để nhận ra những
ơn Chúa đă ban cho ḿnh. Tôi có được ơn
i. Luôn ư thức
Thiên Chúa đang ở với ḿnh?
ii. Cảm nghiệm Thiên Chúa yêu ḿnh? Thương giúp người khác cảm nghiệm Thiên Chúa yêu họ?
iii. B́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc?
iv. Hay được
ơn ǵ khác?
c. Tạ ơn Chúa v́ những hồng ân đă lănh nhận.
4. Về những lỗi lầm
a. Xin ơn để nhận ra
những lỗi lầm đă vấp phạm
b. Xét ḿnh để nhận ra những
lỗi lầm đă phạm. Tôi có
i. Làm tổn
thương tha nhân?
ii. Bị tổn
thương? Tại sao tôi bị tổn thương? Thiên
Chúa mời gọi tôi điều ǵ?
iii. Hay lỗi
lầm ǵ khác?
c. Xin lỗi Chúa v́ những lỗi lầm đă vấp phạm.
5. Nói
chuyện thân thưa với Chúa dựa vào hồng ân và lỗi
lầm của ḿnh (bước 3 & 4).
Tại
sao tôi buồn? Tại sao tôi bị tổn thương?
V́ tôi thua kém người ta? V́ tôi không giỏi, không đẹp, không tài
năng như người ta? V́ tôi nghèo? Gia đ́nh tôi nghèo?
V́ người ta xúc phạm tôi? sỉ nhục tôi? Khinh bỉ tôi?
Coi thường tôi?
Điều quan trọng của người làm hồi tâm
xét ḿnh là trả lời câu hỏi: “Chúa mời gọi tôi ǵ
qua những điều đó?” và rồi thực thi lời
mời gọi của Chúa cho ḿnh.
Nếu tôi cảm nghiệm Thiên
Chúa yêu thương tôi vô cùng, tôi sẽ được b́nh
an và tươi vui. Nếu tôi giúp những người xung
quanh cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, th́ họ
cũng được b́nh an và tươi vui, và tôi thấy
ḿnh triển nở hạnh phúc.
Người tới linh hướng có thể nói cho người linh hướng những ǵ họ nghĩ cần nói, để người linh hướng có thể giúp họ. Họ có thể nói những ǵ liên quan tới họ, những suy nghĩ, phỏng đoán, hành động của họ, những ǵ làm họ bối rối bất an, ngay cả tội, cả những tiến bộ, những ǵ làm họ b́nh an, triển nở, hạnh phúc… Tóm lại, người thụ hướng cũng có thể nói về mọi chuyện, mọi nguyên nhân, ảnh hưởng đến cuộc sống, b́nh an và niềm vui của họ.
Có thể đề cập tới nhân vật thứ ba, nhưng người thụ hướng không cần nêu tên người liên hệ trừ trường hợp cần để người linh hướng biết rơ nguyên nhân và giúp người thụ hướng chính xác hơn. Nói với linh hướng ngay cả những điều xấu của người khác mà ḿnh thấy, cũng giúp người đồng hành biết về người thụ hướng hơn, để giúp họ hơn. Khi người thụ hướng nói với người đồng hành về người thứ ba, không hàm chứa người đồng hành phải tin tất cả những ǵ người thụ hướng nói. Nói như vậy, không có nghĩa người đồng hành không tin người thụ hướng, mà chỉ muốn nói, qua những điều đó, người đồng hành có thể giúp người thụ hướng nhận ra họ, nhận ra cái sai của họ, những thành kiến, những điều làm người thụ hướng không có phán đoán chính xác về người khác, nên mới suy nghĩ và phán đoán như vậy, hoặc mới phát sinh t́nh cảm và phản ứng như vậy.
Với những ǵ xảy đến,
người thụ hướng cần tự hỏi xem
Thiên Chúa mời gọi họ điều ǵ qua những
điều đó? Người thụ hướng cũng
chia sẻ với người linh hướng và người
đồng hành thiêng liêng sẽ cùng với họ t́m ra thánh
ư của Thiên Chúa cho họ.
Mục đích của đồng
hành thiêng liêng là giúp phát triển mối tương quan của
người thụ hướng với Thiên Chúa. Chắc chắn,
người thụ hướng đă có mối tương
quan ở một mức độ nào đó với Thiên
Chúa; tuy nhiên Thiên Chúa có thể dùng người linh hướng
để giúp người thụ hướng có
tương quan thiết thân hơn với Thiên Chúa. Người
thụ hướng cần mong ước yêu mến và nên
giống Đức Giêsu hơn; đây là điều rất
quan trọng để phát triển mối tương quan
với Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ lôi kéo và giúp mỗi
người yêu mến Đức Giêsu hơn.
Người linh hướng cố
gắng giúp người thụ hướng có cái nh́n
đúng về Thiên Chúa, về con người, và về vũ
trụ. Qua cầu nguyện, người thụ hướng
có thể thủ đắc những điều này, cụ
thể nếu người linh hướng giúp người
thụ hướng làm Linh Thao trong cuộc sống, th́
người thụ hướng có thể cảm nghiệm
Thiên Chúa yêu
thương và mong ước được nên giống Đức Giêsu hơn.
Mọi Kitô hữu tốt đều
ao ước trở nên giống Đức Giêsu trong suy nghĩ,
chọn lựa, và hành động. Để nên giống
Đức Giêsu hơn, mỗi ngày tôi cần dành giờ cầu
nguyện chiêm ngắm Đức Giêsu, liên lỉ ư thức
Chúa đang hiện diện với minh, mỗi tối làm hồi
tâm xét ḿnh để lắng nghe Chúa mời gọi để
hoàn thiện chính ḿnh như Chúa muốn.
Những chủ đề cầu
nguyện có thể giúp phát triển mối tương quan
với Thiên Chúa: Thiên Chúa là Cha, Thiên Chúa quan pḥng, Thiên Chúa
như Cha Nhân Hậu. Một khi biết Đức Giêsu là
Thiên Chúa nhập thể, người ta nhận biết Thiên Chúa
yêu thương con người vô cùng (Ga 3:16). Những chủ đề sau cũng
có thể giúp nhiều: Đức Giêsu yêu thương tôi vô
cùng, Chúa Cha yêu
thương tôi vô cùng, Thánh Thần yêu thương tôi vô cùng, tôi được mời gọi để
yêu Chúa yêu người, phúc thay ai có tinh thần nghèo, phúc cho ai bị sỉ
nhục v́ Đức Giêsu (Mt 5:1-12), v.v.
Những chia trí khi cầu nguyện, cũng giúp người ta biết ḿnh hơn. Khi đi linh hướng, người ta có thể nói về những chia trí này với linh hướng. Chia sẻ và hướng dẫn luôn đi với nhau. Người thụ hướng t́m nguyên do làm họ bất an, lo lắng, bận tâm, không thoải mái, và chia sẻ với người linh hướng. Người linh hướng dưới tác động của Chúa Thánh Thần sẽ thấy những nguyên do này có đúng không? Có nguyên do nào khác không? Người đồng hành thiêng liêng có thể chia sẻ cái nh́n khác để người thụ hướng xem lại chính ḿnh, và biết ḿnh hơn. Điều người thụ hướng thấy và chia sẻ như Chúa mời gọi, người đồng hành thiêng liêng, tùy Thánh Thần thúc đẩy, có thể soi sáng hơn cho người thụ hướng về điều này, để vinh danh Thiên Chúa hơn.
Qua những lần gặp gỡ, người thụ hướng chia sẻ về những ǵ xảy tới khi cầu nguyện khi hồi tâm xét ḿnh, về những ǵ xảy tới trong cuộc sống của họ, người đồng hành thiêng liêng giúp người thụ hướng biết ḿnh hơn, giúp người thụ hướng nghe được tiếng Chúa mời gọi và đáp trả, để tương quan của người thụ hướng với Thiên Chúa nên tốt hơn, và người thụ hướng sẽ sống b́nh an và hạnh phúc hơn.
Một số vấn đề mà mỗi người thường gặp và bận tâm, và thường được trao đổi với người đồng hành thiêng liêng, có thể được xếp như liên quan tới bản thân, liên quan đến tha nhân, và liên quan đến Thiên Chúa.
Vấn đề ơn gọi, bận tâm không biết Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ lúc này, tôi không hài ḷng về chính ḿnh, là những thao thức bận tâm của nhiều người.
Chúa muốn tôi đi tu hay lập
gia đ́nh? Chúa muốn tôi lập gia đ́nh với người
này hay người kia?
Có người cho rằng ơn gọi tu
tŕ là sự thích hợp. Thấy thích hợp th́ đi, không
thấy thích không thấy hợp th́ về! E rằng quan niệm
này không chỉnh, v́ nếu năm nay người đó thấy
thích hợp, và năm sau hoặc 20 năm sau, người
đó thấy không thích hợp th́ sao? Sống bậc sống
nào, Thiên Chúa đă có chương tŕnh về chúng ta. “16 Không phải anh em đă chọn Thầy,
nhưng chính Thầy đă chọn anh em, và cắt cử
anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và
hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những
ǵ anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, th́ Người ban cho
anh em” (Ga 15:16).
Không phải ḿnh muốn theo Chúa, là được theo Chúa. Có thể Chúa muốn khác. “18 Khi Người xuống thuyền, th́ kẻ trước kia đă bị quỷ ám nài xin cho được ở với Người.19 Nhưng Người không cho phép, Người bảo: "Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đă làm cho anh, và Người đă thương anh như thế nào" (Mc 5:18-19).
Con người có tự do. Chúng ta có thể từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa. Anh nhà giầu được Chúa thương và gọi nhưng anh ta đă từ chối đáp lời: “21 Đức Giê-su đưa mắt nh́n anh ta và đem ḷng yêu mến. Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hăy đi bán những ǵ anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hăy đến theo tôi."22 Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, v́ anh ta có nhiều của cải” (Mc 10:21-22).
Về phía ḿnh, bậc sống
nào giúp tôi tươi vui triển nở, phát triển tài
năng Chúa ban cho tôi, th́ đó là dấu chỉ cho thấy
Thiên Chúa muốn tôi sống bậc sống đó. Không
tươi vui triển nở trong trong bậc sống nào
đó, có thể là dấu chỉ Thiên Chúa không muốn người
đó sống bậc sống đó.
Đời sống dâng hiến không chỉ là không lập gia đ́nh, nhưng chính yếu là dâng hiến đời ḿnh cho Chúa. Dâng hiến trọn cả con người, hàm chứa tự nguyện từ khước t́nh cảm nam nữ mà một người có quyền có, dâng cho Chúa trọn con tim của ḿnh, không đ̣i chiếm đoạt riêng ai, và cũng không thuộc riêng về ai ngoài Chúa.
Về lời khấn vâng phục,
người sống đời tận hiến dâng trọn
con người cho Chúa, để Chúa điều khiển đời
ḿnh qua một người gọi là bề trên. Không phải v́ bề trên giỏi
hơn ḿnh, có nhiều kinh nghiệm hơn ḿnh, thông minh
hơn ḿnh, phán đoán chính xác hơn ḿnh mà ḿnh vâng phục.
Cũng không đ̣i phải hiểu lư do rồi mới vâng
phục: Abraham không hiểu tại sao Chúa đ̣i ông hiến
tế Isaac, Mẹ Maria không đ̣i hiểu làm sao mà không bị
ném đá chết nếu Mẹ đồng ư có thai không do
Giuse. Vâng phục là tự hủy, là chết!
Chúa muốn tôi hành xử trong
trường hợp này thế nào? Chúa muốn tôi giúp
người này người kia, nhưng giúp sao để
ích lợi cho họ? v.v.
Người đồng hành thiêng liêng cũng
phải là người
dạy người thụ hướng biết
phân định thiêng liêng, để họ có thể nhận
ra tiếng Chúa mời gọi và sống như Chúa mời gọi.
Người linh hướng không nói cho người thụ
hướng điều phải làm, nhưng giúp họ nhận
ra Ư Chúa để thực hiện. Một câu hỏi mà mỗi
người khi làm phân định thiêng liêng cũng cần
hỏi chính ḿnh: ở vào trường hợp này, Đức
Giêsu làm ǵ? Ngài hành xử sao? Đức Giêsu sống sao, tôi
sẽ cố gắng sống như vậy.
Thiên Chúa muốn tôi sống b́nh an (Ga 20:19.21; Mt 10:12; Ga 14:27; Rm 15:33), tươi vui (Pl 4:4; Rm 15:13), triển nở (Ga 10:10; Mt 25:14-30) nhưng tôi không thấy ḿnh b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc! Tại sao vậy? Đâu là nguyên do?
Có thể do tôi có cái nh́n không chỉnh
không đúng về điều ǵ đó. Nếu vậy, phải
t́m ra nguyên do để chỉnh sửa cái nh́n, quan điểm,
lập trường của tôi cho đúng như Chúa dạy.
Có thể do tôi bị tổn thương. Có những tổn
thương do ḿnh gây ra như mặc cảm thân phận
nghèo, mặc cảm thua kém người khác về tài năng, v.v.
Như vậy, tôi cần chỉnh sửa cái nh́n sai lệch
làm ḿnh khổ.
Để tránh buồn chán bâng quơ mà không biết tại
sao. Tôi cần không để đầu óc ḿnh “như thể
trống trơn” nhưng luôn lấp đầy một cách
nhẹ nhàng thanh thản với tư tưởng Thiên Chúa
là t́nh yêu, Thiên Chúa yêu
thương tôi vô cùng. Nhẹ nhàng lưu
giữ h́nh ảnh Đức Giêsu làm việc hay rong ruổi
rao giảng Tin Mừng như thánh Inhaxiô chỉ dẫn trong
sách LT 130.
Để có thể sống b́nh
an tươi vui triển nở hạnh phúc, tôi cần có
cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, con người, và vũ
trụ. Qua cầu nguyện, với Kinh Thánh, Thánh Thần sẽ
dạy chúng ta cái nh́n như Thiên Chúa muốn.
Bị tổn thương, có thể
là tổn thương thể lư, và cũng có thể là tổn
thương tinh thần: bị hiểu lầm, bị sỉ
nhục, v.v. Nhiều khi người ta xúc phạm ḿnh một
phút, nhưng ḿnh làm tổn thương ḿnh một thời gian
rất dài. Trường hợp này, tôi không để những
tư tưởng thù hận, làm ḿnh không hạnh phúc,
lưu lại trong tâm trí ḿnh. Tôi cần gạt bỏ nó,
như gạt bỏ chia trí tới khi đang cầu nguyện.
Trong cuộc sống, có thể
ḿnh làm tổn thương người ta, và người ta “trả
thù” làm tổn thương ḿnh. Trong trường hợp
này, ta phải chấp nhận thực tại; ta phải nhận
lỗi, cần xin lỗi Chúa, và xin lỗi người
ḿnh xúc phạm, rồi bắt đầu lại…
Có sự dữ người ta
cố t́nh làm cho ḿnh, chẳng hạn sự dữ các anh của
Giuse đă làm cho Giuse khi họ muốn giết ông, xô ông xuống
giếng cạn, bán ông cho người Aicập…. Sự dữ của
vợ viên quan muốn tằng tịu với Giuse nhưng bị
từ chối … Đứng trước sự dữ này,
chính niềm tin vào Thiên Chúa t́nh yêu đă giúp Giuse vượt
qua.
Tội, làm tổn thương
tha nhân, và làm tổn thương chính ḿnh. Trường hợp
vua Đavít là một thí dụ: Đavít đoạt vợ của
Urigia, giết Urigia, và Đavít khổ v́ tội lỗi của
ḿnh… Cảm nhận t́nh yêu tha thứ của Thiên Chúa đối
với ḿnh giúp Đavít vượt qua thương tổn của
chính ông.
Các vị tử đạo Việt
Nam cũng có cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ, cũng
có trách nhiệm nuôi sống gia đ́nh, dạy dỗ con cái…
Thêm nữa, tổn thương về thể lư nơi các
ngài thật khủng khiếp. Thế nhưng chính niềm
tin vào Thiên Chúa yêu thương thành tín đă giúp các ngài vượt
lên tất cả.
Vi phạm thập giới, là dấu
chỉ cho thấy ḿnh đă làm tổn thương tha nhân.
Người ta làm tổn thương cha mẹ hoặc những
người trên khi vi phạm giới răn thứ tư.
Người ta làm tổn thương tha nhân về thể
lư và tinh thần khi vi phạm giới răn thứ năm…
Nguyên nhân của những điều đó, là đặt
ḿnh là nhất, coi ḿnh trên tất cả. Ta thấy điều
này nơi tŕnh thuật Cain giết Abel. Nguyên nhân của những
điều này là quy kỷ, cho rằng tất cả phải
phục vụ ḿnh, cho rằng người khác chỉ
là phương tiện phục vụ cho ḿnh. Quan niệm này sẽ làm ta
xúc phạm gây tổn thương cho tha nhân.
Ba mức độ khiêm nhường
theo thánh Inhaxiô (LT 165-167), cũng là ba mức độ t́nh
yêu. Nếu một người yêu Chúa ở mức độ
t́nh yêu thứ hai và thứ ba, người ta sẽ
không dễ bị tổn thương khi bị sỉ nhục
và bách hại. Đức Giêsu giúp chúng ta vượt lên những
khó khăn trên. Nh́n ngắm, lắng nghe, quan sát Đức
Giêsu sống, có thể giúp chúng ta nhận ra câu trả lời
cho vấn nạn chúng ta gặp trong cuộc sống.
Một vấn đề mà có thể
nhiều người bận tâm: tôi đă cố gắng nhiều
để sống tốt hơn, nhưng vẫn không
tiến bộ được bao nhiêu! Trước tôi đă tiến bộ nhưng bây giờ
lại đang thụt lùi! Tôi phải làm ǵ để cải
thiện tương quan với Thiên Chúa đây?
Có thể một người thấy
ḿnh sa đi ngă lại nhiều lần về một giới
răn trong thập giới, hoặc về ba lời khuyên
Phúc Âm. Điều này có thể làm cho nhiều người
cảm thấy thất vọng chán nản về chính con
người của họ. Những người này nên
đọc kinh nghiệm day dứt không kém của thánh
Phaolô: điều tôi muốn tôi lại không làm, điều
tôi không muốn tôi lại làm (Rm 7:15.19). Ai có thể cứu
tôi?!
Chúng ta được mời gọi
để tin vào Thiên Chúa. Thiên Chúa quyền năng nhưng
Ngài rất yêu
thương chúng ta. Ngài ban cho chúng ta tự
do. Hăy tin tưởng vào Thiên Chúa yêu thương, Ngài
sẽ giúp chúng ta nên người như Ngài mong muốn.
Con người gồm thể xác và linh
hồn. Con người là tinh thần nhập thể (Karl Rahner). Thân xác
tuân theo quy luật tự nhiên của vật chất, theo bản
năng chi phối con
người. Con người với
lư trí, nên không chỉ tuân theo quy luật vật lư, không chỉ
sống theo bản năng của thân xác nhưng c̣n sống
theo lư trí hướng thiện. Ư chí của con người
th́ tự do. Theo một nghĩa nào đó, cũng có thể
nói lư trí cũng tự do. Điều này muốn nói lư trí bị
ư chí chi phối, biện ḿnh cho tham dục của ḿnh. Thiên
Chúa luôn yêu
thương và luôn ở bên để giúp
tôi thuộc về Thiên Chúa, để tôi mỗi ngày nên tuyệt
hơn.
Chúng ta được mời gọi
thờ phượng Thiên Chúa hết ḷng hết trí khôn hết
sức lực. Khi ta không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh
th́ sẽ bị cám dỗ thờ lạy tà thần, bói toán,
v.v. Điều răn thứ hai dạy ta chớ kêu tên Chúa
vô cớ nhưng phải kính trọng Thiên Chúa v́ Ngài tạo dựng
nên ta. Nếu ta không kính trọng Thiên Chúa th́ c̣n kính trọng
ai! “Không trời ai sống được với ai!” Tôn thờ
Thiên Chúa, là trả lại cho Thiên Chúa điều Thiên Chúa
đáng được. Đó là công bằng.
Điều răn thứ ba của thập giới: giữ
ngày Chúa Nhật. Nhiều người không biết rằng
luật dạy kiêng việc xác là để bảo vệ con người. Có người nô lệ tiền tài, bóc lột sức lao động
của anh chị em ḿnh, nên không cho anh chị em ḿnh có thời
gian để nghỉ ngơi và chu toàn bổn phận thiêng
liêng. Con người cần thời gian nghỉ để lấy lại
sức khỏe thể lư, để lấy lại sức
khỏe tinh thần qua việc cầu nguyện, qua việc
thờ phượng Thiên Chúa.
Một dấu chỉ cho biết ḿnh có tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng không, là xem ḿnh có tuân giữ ba giới
răn đầu của thập giới hay không. Nếu
tôi vi phạm ba giới răn đầu của thập giới,
là dấu chỉ cho thấy tôi không tin Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Nếu không tin Thiên Chúa yêu thương tôi vô
cùng, tôi sẽ lo lắng sợ sệt. Sợ thế lực
này thế lực khác, sợ ma sợ quỷ, v.v. Nếu
tin Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng, th́ ta không sợ,
như cảm nghiệm của Phaolô nơi Rm 8:28-39.
Nếu không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh, nếu cho ḿnh là nhất, nếu không yêu thương phục vụ anh em như Đức Giêsu đă yêu thương phục vụ và dạy bảo chúng ta, th́ chúng ta không thể sống b́nh an tươi vui triển nở. Thiên Chúa toàn năng, và yêu thương tôi vô cùng, Ngài sẽ làm mọi điều tốt đẹp cho tôi. Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n sợ ǵ nữa? Chấp hết! Xin Thiên Chúa ban ơn để mỗi người chúng ta biết và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng.
Tóm lại, người thụ hướng có thể chia sẻ trao đổi với người đồng hành thiêng liêng những ǵ xảy tới cho họ, khi cầu nguyện cũng như trong cuộc sống thường ngày, để được soi sáng thêm hoặc được hướng dẫn để nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho họ và rồi đem ra thực hành.
Xin chia sẻ vài trường hợp cụ thể khi đồng hành thiêng liêng.
Tôi đă giúp sinh viên làm Linh Thao 5 ngày trọn (nếu tính cả ngày tới và ngày về là 7 ngày) từ những năm 1991. Vào khoảng năm 1997, tôi vẫn nhớ v́ được đánh động nhiều, đă có 107 em sinh viên Linh Thao với pḥng gợi ư cầu nguyện khá nhỏ tại nhà nghỉ dành cho du khách tắm biển của ḍng MTGCQ tại Băi Dâu Vũng Tàu (lúc đó c̣n khó khăn). Thời đó chưa có những người đồng hành đi với, nên tôi đă cho các bạn lượng giá ngày cầu nguyện qua vài câu hỏi vào buổi tối. V́ ít giờ và nhiều sinh viên Linh Thao, nên tôi chỉ gặp đồng hành được ít sinh viên.
Tôi nhớ khoảng năm 1998, khi giúp sinh viên Linh Thao, có một em nam sinh viên cầu nguyện rất tốt, được an ủi nhiều. Tôi cũng có kinh nghiệm, một người khi cầu nguyện sốt sắng th́ sau đó thường[11] họ quyết định đi tu. Thế nên với trường hợp này, sau khi em đă chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện, tôi hỏi em khi đồng hành: “Liệu em có nghĩ rằng Chúa mời gọi em sống đời dâng hiến không?” Em trả lời tôi không do dự: “Không, và giả như Chúa gọi th́ con cũng không đi!” Cuộc gặp gỡ vẫn diễn ra b́nh thường.
Một hai ngày sau tôi chủ động gặp lại em, hỏi về việc cầu nguyện của em. Em cho biết em không cầu nguyện được. Tôi hỏi em không cầu nguyện được từ khi nào v́ trước em vẫn cầu nguyện rất tốt mà! Em cho biết từ khi gặp tôi lần trước về th́ em không cầu nguyện được nữa. Tôi cũng đă dịu dàng hướng dẫn em nhiều.
Tôi nghĩ, có lẽ tại em không sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi, nên em không cầu nguyện được nữa. Để cầu nguyện tốt, cần chúng ta phải sẵn sàng làm theo tiếng Chúa mời gọi, dù Chúa muốn thế nào đi nữa. Thiên Chúa quyền năng, không ǵ mà Thiên Chúa không làm được, nhưng Ngài tôn trọng tự do mà Ngài ban cho con người. Con người có thể từ khước lời mời gọi của Thiên Chúa. Tuy vậy, ngay cả khi con người từ khước thánh ư Ngài, th́ Thiên Chúa vẫn yêu thương con người.
Khi Linh Thao, và cả trong cuộc sống thường ngày, người tới đồng hành thiêng liêng thường nói với người hướng dẫn: “Con không cầu nguyện được.” Và người hướng dẫn cũng thường hỏi: “Sao vậy?” Có lần tôi được chia sẻ và cuộc đối thoại như sau.
Trong mấy giờ cầu nguyện vừa qua con thường bị chia trí về chị X với chuyện trong quá khứ. Chị ta đă làm con bị tổn thương; con đă tha thứ cho chị rồi; thế nhưng trong vài lần cầu nguyện mới đây con lại bị những h́nh ảnh quá khứ đó trở về; con đă cố gắng đuổi tư tưởng và h́nh ảnh đó nhưng … nó không đi. Nó đi rồi nó trở lại. Phải chăng trước con chưa tha thứ cho chị đó thật? Bây giờ con phải làm ǵ?
Trước bạn đă tha thứ, th́ lúc đó bạn đă tha thứ rồi. Không cần bận tâm lúc trước ḿnh có tha thứ thật không. Lúc trước ḿnh tha thứ, nhưng bây giờ nó vẫn có thể trở lại, và đ̣i ḿnh phải sẵn sàng tha thứ cho người đó lúc này. Lúc này, bạn có sẵn sàng tha thứ cho người chị em đó không? Nếu bạn sẵn sàng, là tốt rồi.
Có thể quan trọng lúc này, là bạn cần biết tại sao chuyện đó lại xúc phạm bạn? Nếu có thể, bạn cho biết chuyện đó là ǵ? (Qua việc được kể về chuyện này, người đồng hành thiêng liêng có thể biết hơn về người thụ hướng để hướng dẫn).
Thời điểm đó con có một lầm lỗi, con cũng định nói với bề trên về lỗi lầm này, nhưng người chị em này lại nói với bề trên trước khi con nói, làm bề trên đánh giá không tốt về con! Con bị tổn thương, con giận chị ấy.
Vậy lỗi của chị ấy là ǵ? V́ chị ấy nói với bề trên trước khi bạn nói? Tại sao bạn bị tổn thương khi người ta nói với bề trên về chuyện đó trước khi bạn nói với bề trên? Nếu chị ấy nói với bề trên về chuyện đó sau khi bạn nói với bề trên, th́ bạn có bị tổn thương không? Chuyện quan trọng với bạn ở đây là chuyện ǵ? Bạn sợ bề trên đánh giá bạn không như bạn muốn? Bạn nghĩ nếu bạn nói trước, th́ bề trên nghĩ khác nghĩ tốt về bạn?
Phải chăng, sâu xa mà nói, bạn sợ bị bề trên đánh giá thấp? Phải chăng bạn đă đặt nhận định, đánh giá của người khác quá quan trọng, nên trong trường hợp này bạn khổ và bị tổn thương? Phải chăng chính quan niệm “người khác đánh giá tốt về ḿnh là điều rất quan trọng” làm bạn bị tổn thương trong trường hợp này? Làm sao để bạn không để cho “nhận xét của người khác về bạn” chi phối bạn quá nhiều như vậy bây giờ.
Với một nhận xét đánh giá của người khác về bạn, bạn cần xem bạn có cần chỉnh sửa điều ǵ không, nhưng không để nó làm tổn thương bạn. Chúa Giêsu không coi trọng lời khen tiếng chê. Ngài làm việc lành (chữa bệnh, trừ quỷ, rao giảng) nhưng vẫn có người vu cáo Ngài nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ, nói Ngài là người tội lỗi… Ngài vẫn b́nh an. Ngài không đặt lời khen tiếng chê quá quan trọng.
Ḿnh làm tổn thương ḿnh: với cái nh́n sai lạc của ḿnh nên ḿnh bị tổn thương. Khách quan mà nói, người chị em cũng đâu có tội lỗi ǵ với ḿnh đâu. Họ đâu có bịa chuyện nói xấu ḿnh! Họ chỉ “nói trước” thôi. Nếu ḿnh đặt lời khen tiếng chê quá quan trọng th́ ḿnh sẽ dễ bị tổn thương v́ ḿnh đâu thể cấm người khác nhận xét về ḿnh. Ḿnh không thể thay đổi người ta. Ḿnh chỉ có thể thay đổi ḿnh thôi.
Như vậy, không phải người chị em làm tổn thương ḿnh và ḿnh không tha thứ, mà tại ḿnh muốn ḿnh được đánh giá tốt nhưng người khác làm điều mà ḿnh cho là v́ vậy mà ḿnh bị đánh giá thấp, nên ḿnh bị tổn thương. Cái gốc là ḿnh muốn ḿnh được đánh giá cao. Ḿnh quá coi trọng lời khen tiếng chê. Vậy, hăy xin cho ḿnh được ơn nên giống Đức Giêsu, đặt Thiên Chúa là quan trọng và trên hết, c̣n những điều khác th́ sao cũng được. Nếu được ơn này, vấn đề được giải quyết.
Có một chị làm Linh Thao Trong Cuộc Sống nhưng không cầu nguyện được, buồn chán than trách và hỏi làm sao để cầu nguyện được. Chị đă có gia đ́nh và có cháu bé.
Chị nói chị cầu nguyện không được, là sao? Phải chăng chị không có giờ, phải chăm cháu bé nên bị chi phối khi cầu nguyện? Chị cho biết tới giờ cầu nguyện, chồng chị đă chăm cháu cho chị, để chị có giờ và chị đă tới chỗ tốt nhất trong nhà để cầu nguyện, nhưng chị vẫn cầu nguyện không được. Chị cho biết trong giờ cầu nguyện, chị chia trí về bao nhiêu điều. Chị cố đuổi nó đi nhưng nó lại tới.
Cụ thể chị bị chia trí về những điều ǵ? Chị cho biết, trong hoàn cảnh dịch viêm phổi cấp Covid-19 này, chị lo lắng bao nhiêu chuyện: nếu dịch lâu th́ làm sao sống v́ kinh tế không dư giả! Nếu một trong hai người bị lây nhiễm th́ sao? Cha mẹ của chị cũng lớn tuổi rồi, nếu bị nhiễm th́ rất nguy hiểm đến tính mạng, v.v.
Muốn làm chủ t́nh h́nh, đó là khuynh hướng b́nh thường của chúng ta, và đây cũng có thể là cám dỗ. Để có thể b́nh an, chúng ta cần tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta, những ǵ Chúa để xảy ra cho chúng ta hay cho những người thân yêu, th́ đó là điều tốt nhất cho chúng ta. Sống lâu hơn, không biết có tốt hơn không? Chỉ có Chúa biết. Ta phải sẵn sàng chấp nhận tất cả những ǵ xảy ra cho ḿnh trong niềm tin vào Thiên Chúa yêu thương ḿnh và những người thân yêu của ḿnh. Chính v́ tin vào t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh và những người thân yêu, mà ḿnh có thể phó thác tất cả cho Thiên Chúa, không phải để Thiên Chúa làm theo ư ḿnh cho bằng ḿnh phải sẵn sàng chấp nhận thánh ư Chúa cho ḿnh và những người thân yêu của ḿnh. Chỉ khi chúng ta có thái độ như vậy, chúng ta mới có thể cầu nguyện được. Nếu thấy ḿnh chưa tin vào Thiên Chúa yêu thương ḿnh, hoặc chưa dám phó thác tất cả cho Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn nài xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh, và xin ơn để ḿnh phó thác đời ḿnh và những người thân yêu của ḿnh cho Thiên Chúa.
Những chia trí, lo lắng bận tâm đó, là dấu chỉ cho thấy ḿnh chưa tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và ḿnh không dám phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Cần tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh và những người ḿnh yêu thương, hơn ḿnh yêu ḿnh và yêu họ.
Có một thầy học viên yêu thương một d́ học viên học chung lớp. Thầy yêu d́, nhưng d́ không đáp trả. Thầy viết thư tỏ t́nh và thư bị lộ. Bề trên bên d́ liên lạc với bề trên bên thầy, và bề trên bên thầy cho thầy chọn lựa, phải chấm dứt t́nh cảm này trước thời điểm được xác định hoặc thầy phải rời đời tu. Thầy vẫn muốn đi tu, vậy người linh hướng phải hướng dẫn thầy như thế nào?
Thứ nhất, thầy cần
phải xem Chúa có muốn thầy sống đời sống
dâng hiến không?
Thứ hai, thầy cần nhận thức đúng đắn
đời sống dâng hiến đ̣i hỏi ǵ. Đi tu,
không chỉ là không lập gia đ́nh mà c̣n là dành trọn con
tim cho Thiên Chúa để phục vụ anh chị em ḿnh.
Không thể có t́nh cảm riêng tư “đặc biệt”
đối với ai đó mà vẫn đi tu được.
Thứ ba, thầy cũng phải tôn trọng tha nhân, không
được quấy rối họ nếu họ không chấp
nhận t́nh yêu của ḿnh. Tiến tŕnh giúp th́ ngược
lại, đi từ thứ ba tới thứ nhất.
Một khi giúp thầy có cái nh́n đúng đắn về đời sống dâng hiến, cũng như biết tôn trọng tha nhân và sự tự do của họ, và b́nh tâm, th́ thầy có thể nhận ra ư của Thiên Chúa về thầy, về bậc sống Chúa muốn cho thầy. Và rồi thầy sẽ nhận ra có tiếp tục ơn gọi hay không; nếu thầy thấy ḿnh được gọi sống đời dâng hiến th́ thầy phải dứt bỏ t́nh cảm với d́ này; nếu thầy thấy Chúa không gọi thầy sống đời dâng hiến, th́ thầy vẫn phải tôn trọng d́ này nếu d́ không chấp nhận t́nh cảm của thầy.
Giúp thầy này, không phải là giúp để thầy tiếp tục đi tu, mà là giúp thầy nhận ra tiếng Chúa đối với thầy, và để thầy quảng đại đáp trả tiếng Chúa mời gọi. Có thế, thầy mới có thể sống b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc.
Có một chị đă lập gia đ́nh cả gần 20 năm và hiện đang sống trong gia đ́nh cùng với mẹ chồng. Chị có bất đồng với mẹ chồng và những người chị bên chồng, cảm thấy khổ đến độ có lúc muốn chết, hiện không muốn về nhà nữa v́ không muốn thấy mặt mẹ chồng (lúc chị nói) …
Chị đặt câu hỏi: làm sao bây giờ, làm sao để không khổ, liệu có thể không về nhà (với chồng, con, và cả mẹ chồng nữa) được không?
Nghe chị kể về những nguyên nhân gây nên t́nh trạng hiện tại v́ thời gian đầu (cả hơn mười năm đầu) đâu có như vậy! Chị cũng nhận ra mẹ chồng cũng khổ.
Chị đă mua nhà và muốn ở riêng nhưng mẹ chồng không chịu; và v́ thế chồng chị cũng không đồng ư. Nhà mua để đó, và như vậy đă cho thuê v́ không thể ra “ở riêng.” Đúng là đi không được, mà ở th́ khổ.
Tại sao thời đầu sống chung với mẹ chồng được mà bây giờ không được? Tại sao lúc đầu thấy ổn mà bây giờ khổ khi sống với mẹ chồng? Chị ta cũng thấy lỗi của ḿnh: mua nhà khi chưa có sự đồng ư của chồng và của mẹ chồng. Lư do mua nhà th́ chính đáng v́ nhà đang ở quá chật, không đủ không gian cho các con đang lớn và các cháu đang lớn mà phải ngủ gần nhau…
Tôi cũng hỏi tại sao chị không chia sẻ bận tâm này cho mẹ chồng mà chỉ chia sẻ với chồng thôi? Nếu lư do chính đáng, th́ chắc mẹ chồng cũng đồng ư chứ? Chị im lặng…
Ở vào t́nh trạng của chị hiện tại, nếu Đức Giêsu ở trường hợp này, Ngài phản ứng và cư xử ra sao? Nh́n Đức Giêsu trên thập giá, và hỏi Ngài xem Ngài dạy chị điều ǵ? Ngài dạy sao cố gắng làm như vậy.
Một điều khác có thể làm. Khi một người đang làm Linh Thao, những chia trí tới khi đang cầu nguyện th́ phải đuổi ngay chứ không dừng lại ở đó. Có thể nh́n lại khi làm xét gẫm nhưng đang cầu nguyện th́ bỏ nó đi (áp dụng ư từ LT 33-35). Hơn nữa, trong suốt ngày sống phải luôn nhớ Chúa đang hiện diện với những đề tài cầu nguyện; ngay cả khi không là giờ cầu nguyện, những điều không thuộc về đề tài cầu nguyện tới, th́ cũng phải cho nó đi (áp dụng ư từ LT 78.130.206.229). V́ thế, những ǵ liên quan tới mẹ chồng “làm ḿnh khổ,” th́ nên bỏ đi, không cho những tư tưởng ấy ở nơi tâm trí ḿnh, hăy “đuổi nó như đuổi tà.” Khi làm hồi tâm xét ḿnh cuối ngày, có thể nh́n lại những ǵ đến trong đầu mà ḿnh đă xua đuổi, để biết ḿnh hơn và lắng nghe Chúa mời gọi ḿnh làm ǵ. Cố gắng làm theo những ǵ thấy Chúa mời gọi.
Không phải mọi vấn đề chúng ta đều có câu trả lời ngay. Nhiều khi chúng ta không biết; hăy nh́n Chúa Giêsu trên thập giá và hỏi Ngài: “ở vào trường hợp con th́ Chúa làm ǵ? Xin Chúa chỉ cho con, và ban sức cho con để con làm như Chúa dạy con. Xin Chúa Thánh Thần giúp con.”
Một số người tưởng rằng người đi tu lâu hay đă đi Linh Thao nhiều lần th́ dễ cầu nguyện hơn người đi Linh Thao lần đầu. Thật ra, có những người đi Linh Thao lần đầu và ngay cả c̣n trẻ như vừa tốt nghiệp trung học phổ thông hay đang học đại học, cũng có thể cầu nguyện sốt sắng và tốt hơn cả những người đi Linh Thao nhiều lần hay đi tu nhiều năm rồi.
Việc cầu nguyện dễ dàng hay không, tùy thuộc được hướng dẫn cầu nguyện một phần, nhưng chính yếu tùy thuộc t́nh trạng đời sống thiêng liêng của mỗi người. Nếu một người trẻ, có đời sống đơn sơ và đạo đức, không vướng bận quyến luyến lệch lạc, không thù oán ai, tốt lành th́ những người này, cứ b́nh thường, dễ dàng cầu nguyện cho dù họ là người trẻ mới bắt đầu suy gẫm hay chiêm niệm. Nếu một người đi tu lâu rồi, hay đi Linh Thao nhiều lần rồi, mà đời sống không nghiêm túc, để ḷng thù oán, vướng bận quyến luyến lệch lạc (như t́nh cảm, tiền bạc, địa vị chức quyền) th́ vẫn khó cầu nguyện. Những người này, khi cầu nguyện, thường bị chi phối bởi những vướng mắc lệch lạc của họ. Chỉ khi họ dứt khoát với những lệch lạc, những vướng bận sai lệch, trở lại với Chúa, th́ họ mới cầu nguyện được thôi. Như vậy, một người khó cầu nguyện cần xét ḿnh xem, ḷng ḿnh với Chúa như thế nào, có chọn Thiên Chúa trên hết không? Có sẵn sàng bỏ tất cả để theo Chúa không? Những lệch lạc thường được thấy qua những chia trí trong giờ cầu nguyện.
Cho dù một người quá khứ có thế nào đi nữa, nhưng họ dứt khoát trở lại, th́ họ vẫn có thể cầu nguyện được, v́ Thiên Chúa thương yêu người tội lỗi vô cùng. Dĩ nhiên thường th́ họ vẫn phải chịu ảnh hưởng và hậu quả của đời sống trác táng của họ khi xưa, trừ trượng hợp Chúa ban ơn đặc biệt cho họ.
Đi tu lâu năm, đi Linh Thao nhiều lần, không là yếu tố cần để dễ dàng cầu nguyện, dễ dàng kết hiệp với Thiên Chúa. Để dễ dàng cầu nguyện, cần có đời sống thiện hảo, quảng đại, sẵn sàng mở ḷng lắng nghe Thánh Thần; và nếu quá khứ có lỗi lầm lệch lạc th́ người đó phải dốc ḷng trở lại với Chúa.
Có một số bạn làm Linh Thao ngạc nhiên v́ thánh Inhaxiô dạy người ta xin được nghèo với Chúa nghèo, bị sỉ nhục khinh chê với Chúa bị sỉ nhục khinh chê (LT 98. 146-147.167-168). Một số bạn phát biểu: “nghèo” th́ con có thể xin nhưng “sỉ nhục và khinh chê” th́ thật sự con không dám v́ kinh nghiệm cho thấy ḿnh không thể chịu nổi.
Đầu tiên chúng ta cần biết chính Chúa Giêsu đă dạy nghèo là mối phúc: nghèo thực (Lc 6:20.24) và tinh thần nghèo (Mt 5:3). Chính Chúa Giêsu đă sống nghèo và chết trần trụi ô nhục trên thập giá. Chúa không chỉ dạy nhưng Ngài đă sống điều Ngài dạy. Người có tinh thần nghèo khó, là người không bám víu vào tiền bạc hay thụ tạo nào đó mà chỉ bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.
Theo thánh Inhaxiô, ác quỷ cám dỗ người ta ham muốn tiền bạc, danh vọng, để rồi dẫn người ta tới kiêu ngạo (LT 142). Đề cao và ham muốn của cải tiền bạc, danh vọng địa vị, làm nhiều người mặc cảm tự ti và sầu khổ. Ngược lại, nếu ḿnh sẵn sàng chấp nhận, và hơn nữa, muốn nghèo và sỉ nhục với Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục, th́ khi bị người ta coi thường, và thậm chí bị lăng mạ, ḿnh cũng không dễ bị tổn thương. Nếu một người được ơn yêu Chúa đến độ xin được nghèo với Chúa nghèo, bị sỉ nhục với Chúa bị sỉ nhục (LT 167.168) th́ họ đă được ơn rất lớn.
Xin được nghèo và sỉ nhục khinh chê cùng với Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục khinh chê, không phải v́ ḿnh thích nghèo và bị sỉ nhục nhưng v́ t́nh yêu đối với Đức Giêsu. Đây cũng là thái độ ao ước nên giống Ngôi Lời tự hủy qua biến cố nhập thể, tự hủy qua việc vâng lời chịu chết, và chết ô nhục trên thập giá (Pl 2:5-11). Với người được ơn này, họ là người tự do như Đức Giêsu- con người tự do.
Chắc chắn, nếu “nghèo và sỉ nhục khinh chê” xảy ra mà không tốt cho ḿnh th́ ngay cả ḿnh xin Thiên Chúa cũng không ban v́ Thiên Chúa yêu thương ḿnh, Ngài chỉ ban điều tốt cho chúng ta thôi. Chỉ những ai tin tuyệt đối vào Thiên Chúa yêu thương, th́ mới dám xin điều này thôi.
Thánh Inhaxiô không ép buộc, Ngài nói nếu ai mong ước muốn yêu Chúa Giêsu ở mức độ thứ ba th́ làm ba cuộc tâm sự với Đức Mẹ, với Chúa Giêsu, và với Chúa Cha để được ơn này (LT 168). Ai được ơn này, là dấu chỉ cho thấy người đó làm Linh Thao đạt yêu cầu.
Có một số người kiến
thức rộng, biết nhiều, chuyện ǵ cũng biết
cũng nói được, nhưng sống lại không
được như họ nói. Họ biết nhưng
không thực hành. Hiện tượng này cũng có thời
Đức Giêsu: “1 Bấy giờ,
Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người
rằng:2 "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu
ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy.3 Vậy, tất
cả những ǵ họ nói, anh em hăy làm, hăy giữ, c̣n những
việc họ làm, th́ đừng có làm theo, v́ họ nói mà
không làm” (Mt 23:1-3).
Cái biết của những người này không là cái biết thật nhưng là lập lại một mệnh đề đúng do thuộc ḷng. “Nói như vẹt.” Con vẹt được dạy cũng có thể lập lại một lời hay. Một người ngoại đạo vẫn có thể nói rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa nhưng họ không tin, không cho điều họ nói là đúng thật, không sống điều họ nói. Saul đă nghe và có thể đă thuộc ḷng câu “Đức Giêsu đă phục sinh, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa” nhưng Saul không biết đó là thực nên Ngài mới giữ áo cho những người ném đá Têphanô (Cv 7:58); chỉ trên đường đi Damas bắt bớ các Kitô hữu mà Phaolô mới nhận biết “Đức Giêsu đă phục sinh, Đức Giêsu Phục Sinh ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.”
Một người nghe một điều ǵ đó nhiều lần, thuộc ḷng câu hay mệnh đề nào đó, nói trôi chảy hoặc dạy về điều ǵ đó, chưa chắc người đó đă biết thực. Họ biết thực, nếu họ sống điều họ nói. Thư thứ nhất của thánh Gioan viết: “7 Anh em thân mến, chúng ta hăy yêu thương nhau, v́ t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, th́ đă được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. 8 Ai không yêu thương, th́ không biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu” (1Ga 4:7-8).
Không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa! Không sống điều ḿnh biết th́ không biết thực. “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17).
Những người như vậy là những người đáng thương. Họ cần biết họ, họ cần sống điều họ nói. Những người này thường khá kiêu ngạo, họ cho rằng họ không cần học nữa v́ họ biết rồi. Giúp những người này thật khó. Người đồng hành thiêng liêng được mời gọi khiêm tốn, kiên nhẫn, và cầu nguyện cho họ.
Đồng hành thiêng liêng được tŕnh bày ở tập sách này là đồng hành thiêng liêng, đồng hành theo Thánh Thần, theo đức tin Kitô giáo. Có thể có người muốn được đồng hành tâm lư chứ không đồng hành thiêng liêng. Dĩ nhiên mỗi người có tự do để chọn theo điều họ nghĩ tốt hơn cho họ; hơn nữa những người có vấn đề tâm lư, đặc biệt tâm bệnh, th́ cần được đồng hành tâm lư hay tâm lư trị liệu chứ không phải đồng hành thiêng liêng.
Đồng hành thiêng liêng là một nghệ thuật và ơn gọi. Thiên Chúa mời gọi người đồng hành thiêng liêng cộng tác với Ngài, đại diện Thiên Chúa để giúp đỡ tha nhân, giúp con người thời đại cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương và muốn họ sống b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc.
Thật tuyệt khi được tiếp xúc với con người, giúp họ mỗi ngày tươi đẹp hơn. Yêu thương, tôn trọng, lắng nghe người thụ hướng, để hiểu và nâng đỡ họ, đồng thời nhận ra những ǵ Thiên Chúa mời gọi họ, để giúp họ nhận ra Ư Chúa và thực hành, và như vậy họ sẽ triển nở và hạnh phúc hơn. Mỗi người chúng ta đều có thể trở nên tuyệt vời, tuyệt vời như Đức Mẹ như Đức Giêsu; đó cũng là thánh ư Thiên Chúa về mỗi người chúng ta.
Người linh hướng hay đồng hành thiêng liêng là người đại diện Thiên Chúa để đồng hành giúp đỡ người được sai tới với ḿnh, nên họ càng phải nên giống Thiên Chúa mỗi ngày hơn, để có thể đối xử với người thụ hướng như Thiên Chúa muốn. Khi hoàn tất công việc, người đồng hành thiêng liêng cần có tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa đă dùng ḿnh để phục vụ Ngài, và ư thức “con chỉ là đầy tớ vô dụng, đă chỉ làm việc bổn phận Chúa trao” (Lc 17:10).
Tất cả cho Vinh Danh Chúa Hơn
AD MAJOREM DEI GLORIAM
Barry, William A. & Connolly, William J. The Practice of Spiritual Direction. New York: Seabury, 1982. Bản dịch từ ấn bản lần hai năm 2009: Thực Hành Linh Hướng. Dịch giả: Trần Quốc Anh & Giang Trung Kiên. Sài G̣n: Tủ sách Linh Đạo I-nhă, 2013.
Fleming, David L., S.J. Ed. The Christian Ministry of Spiritual Direction. 2nd Ed. St Louis, MO: Review for Religious, 1996.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of Spirits. New York: Crossroad books, 2005.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation. New York: Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. A Handbook for Spiritual Directors. New York: Crossroad, 2017
Gioan Phaolô II. Pastores Dabo Vobis. Vatican: Vatican Press, 1992.
Houdek, Frank J., S.J. Guided by the Spirit: A Jesuit Perspective on Spiritual Direction. Chicago: Loyola Press, 1996.
Phạm Thanh Liêm, S.J. Để Tự Do và Hạnh Phúc Hơn. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1994
Phạm Thanh Liêm, S.J. Linh Thao Trong Cuộc Sống. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1984
Phạm Thanh Liêm, S.J. Bạn Đồng Hành. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1997
Phạm Thanh Liêm, S.J. Hiện Tại Mới Quan Trọng. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1995
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Thương Xót: tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh hướng. Vatican: Vatican Press, 2011. Bản dịch của Phêrô Đặng Xuân Thành. Hà Nội: Lưu hành nội bộ, 2012.
Toner, Jules J., S.J. Discernment of Spirits. St Louis, Missouri: Institute of Jesuit Sources, 1982.
AD MAJOREM DEI GLORIAM
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
[1] Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Chúa Thương Xót (Vatican: Vatican Press 2011), số 64.
[2] Barry, William A. & Connolly, William J., Thực Hành Linh Hướng, bản dịch của
Trần Quốc Anh và Giang Trung Kiên theo ấn bản 2009, (Sài G̣n: Linh Đạo Inhă,
2013), trang 22-23.
[3] Fleming, David L., S.J., “Spiritual Direction: Charism and Ministry,” trong The Christian Ministry of Spiritual Direction, ed. David L. Fleming (St. Louis, MO: 1996), trg 6
[4] Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis (Vatican, 1992), số 40.
[5] Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Chúa Thương Xót (Vatican: Vatican Press, 2011).
[6] Các vị Bề Trên …. phải đặc biệt để cho họ được tự do cần thiết trong việc xưng tội và linh hướng (PC 14).
GL 630 §1 Các Bề Trên hăy nh́n nhận cho các phần tử sự tự do thích đáng trong việc lănh bí tích thống hối và linh hướng (direction of conscience), miễn là bảo toàn kỷ luật của ḍng.
[7] Các Bề Trên cũng có nhiệm vụ chọn lựa kỹ lưỡng và chuẩn bị cẩn thận những vị Giám Đốc, Linh Hướng và Giáo Sư (PC 18).
[8] GL 239 §2 Trong mỗi chủng viện, ít ra phải có một linh giám (spiritual director). Tuy nhiên, các chủng sinh được tự do lui tới với các linh mục khác đă được giám mục trạch cử vào trách vụ đó.
[9] GL 240 §4 Các chủng sinh hăy năng xưng tội thường xuyên; ngoài ra, nên khuyến khích mỗi chủng sinh hăy có một cha linh giám (director of spiriatual life) do ḿnh lựa chọn và có thể tin cậy cởi mở lương tâm với người.
[10] Một tu sĩ, theo giáo luật, có tự do để tới với người linh hướng, nhưng bề trên có nhiệm vụ phải t́m những người xứng đáng để người tu sĩ thuộc quyền tới với họ để linh hướng (PC 14.18; GL 630 §1).
[11] Không luôn luôn là vậy.