MẶC
KHẢI
a. Chủ trương không có khả năng
biết
b. Chủ trương Thiên Chúa không hiện
hữu
ii. Lập luận chủ trương không có
Thiên Chúa
a. Con người có thể biết Thiên Chúa
c. Tự do- cấu tố làm nên lịch
sử
1. Tri thức của con người tại
thế
2. Lời- phương tiện và môi
trường mặc khải
b. Mặc khải như biến cố
lịch sử
PHẦN II: MẶC KHẢI TRONG KINH THÁNH
a. Thiên Chúa tạo dựng tất cả
đều tốt đẹp
b. Tương quan giữa Thiên Chúa và con
người
iii. Lời trong thị kiến, trong mộng
3. Thiên Chúa can thiệp vào ḍng lịch sử
iii. Lời- phương tiện mặc
khải
b. Tiêu chuẩn nhận biết tiên tri thật
ii. Tương quan giữa con người và
Thiên Chúa
a. Khôn ngoan- nguồn hạnh phúc
a. Đức Giêsu Nazareth phục sinh
ii. Mồ trống và những lần hiện
ra
iv. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
iii. Hội Thánh tiếp tục công tŕnh
của Ngài
4. Chúa Phục Sinh Sẽ Trở Lại Vinh
Quang
a. Đức Giêsu nói về ngày quang lâm
b. Phaolô đề cập đến ngày quang
lâm
c. Chúa quang lâm để con người
được hạnh phúc trọn vẹn
PHẦN III: TRONG D̉NG LỊCH SỬ HỘI THÁNH
a. Đức Giêsu- Lời Thiên Chúa mặc khải
b. Cần ơn soi sáng để nhận
biết chân lư
b. Con người- h́nh ảnh Thiên Chúa
d. Đức Giêsu Kitô- đường dẫn
đến với Thiên Chúa Cha
ii. Đức Kitô- lữ hành và phúc nhân
i. Giáo lư của những anh em Tin Lành
ii. Nhận xét về lập trường
của anh em Tin Lành
i. Một vài tác giả tin lành và thần giáo
B. ĐỨC GIÊSU- DẤU CHỨNG T̀NH YÊU
b. Lịch sử- nét đặc biệt
của mặc khải kitô giáo
2. T́nh yêu được bày tỏ và chứng
thực qua Lời
3. Đức Giêsu Kitô, biểu tượng t́nh yêu
DS Denzinger–Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum. Herder, 1963.
Tên sách Kinh Thánh được viết tắt theo
bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Tên các văn kiện Công Đồng Vaticanô II
được viết tắt theo bản gốc tiếng
Latin.
Trích đoạn Kinh Thánh từ bản dịch
của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc từ
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Giáo tŕnh mặc khải thuộc thần học
căn bản.
Thần
học căn bản được hiểu là những
giáo tŕnh thần học nghiên cứu những thực
tại đầu tiên và căn bản của Kitô giáo,
được giảng dạy ở năm đầu
của chương tŕnh thần học.[1]
Theo nghĩa này thần học căn bản gồm
những giáo tŕnh: Dẫn Nhập Thần Học, Mặc
Khải, Linh Ứng, Huấn Quyền, Đức Tin.
Thần
học căn bản cũng được hiểu như
chức năng phê b́nh và biện minh của thần
học, nhằm cho thấy tính hợp lư và khả tín
của mặc khải.[2]
Theo nghĩa này, giáo tŕnh mặc khải này sẽ bàn về
khả thể mặc khải.
Thứ tự sắp xếp của giáo tŕnh này:
Phần
I: Khả thể mặc khải
Phần
II: Mặc khải nơi Kinh Thánh
Phần
III: Mặc khải trong lịch sử Hội Thánh
Phần
IV: Suy tư tổng hợp về mặc khải.
Giáo
tŕnh "mặc khải" này được soạn
nhằm giúp sinh viên thần học, với mong ước
đóng góp chút ǵ trong việc xây dựng Hội Thánh.
Mặc
khải là từ ngữ Hán Việt dùng để dịch
chữ revelatio tiếng latinh và chữ Apokaluyiς tiếng Hy Lạp.[3]
Mặc
khải là ǵ?
Mặc
khải, theo tự điển của Thanh Nghị, có
nghĩa: "sự gợi cho biết một cách thầm
kín và không thể dùng lư trí để giảng giải
được.”[4]
Một
số thần học gia đă trả lời câu
"Mặc khải là ǵ?" bằng những lời khác
nhau:
Với
N. Jung, "Mặc khải là Lời Thiên Chúa dạy dỗ
và chứng thực;"[5]
Theo R.
Garrigou- Lagrange, mặc khải là "Lời Chúa tỏ lộ
mầu nhiệm siêu nhiên và các chân lư tự nhiên của tôn
giáo;"[6]
Bouillard:
"Mặc khải là sự tỏ lộ của Thiên Chúa
về Thiên Chúa và chương tŕnh cứu độ của
Người trong lịch sử và bởi lịch sử
được giải thích trung thực;"[7]
Theo
thần học gia tin lành Karl Barth, "mặc khải là
hành vi tối thượng của ân sủng Thiên Chúa, ở
đó Ngài tự thông ban chính Ngài cho con người biết;"[8]
S.
Thornton: "Mặc khải là một cách của hành
động thần linh, qua đó Đấng Tạo Hoá thông ban
chính ḿnh Ngài cho con người, và khi làm như vậy, Ngài
mời gọi con người đáp trả và cùng hoạt
động;"[9]
Theo
Geoffrey Parrinder, khuynh hướng thời đại ngày nay
cho rằng "Mặc khải là hành vi hay sự tỏ
lộ chính ḿnh của Thiên Chúa;"[10]
Với
J. Alfaro, "Mặc khải là sự tự trao ban chính ḿnh;"[11]
Theo H.
Fries, "Mặc khải là sự thông truyền siêu nhiên và
tự do của Thiên Chúa trong lời, hành động, và
biến cố;"[12]
Với
A. Dulles, "Mặc khải là sự tỏ lộ tự do
của Thiên Chúa về cái nằm ngoài tầm với b́nh
thường của con người; Nó là hành động
khởi đầu, qua đó Thiên Chúa ra khỏi sự
ẩn dấu của Ngài, kêu gọi và mời họ đi
vào một hiện hữu giao ước;"[13]
Với
R. Latourelle, "Mặc khải là Lời Thiên Chúa nói với
con người, là thực tại đầu tiên; tất
cả chương tŕnh cứu độ đều
tựa trên mầu nhiệm "Thiên Chúa tỏ lộ chính
ḿnh trong tin yêu;" mặc khải là mầu nhiệm
khởi đầu, mặc khải thông truyền cho chúng ta
các mặc khải khác; mặc khải là sự tỏ bày
chương tŕnh cứu độ mà Thiên Chúa đă ngẫm
nghĩ từ đời đời, và Ngài đă thực
hiện nơi Đức Giêsu Kitô (Ep 1:9-10; Rm 16:25-27);"[14]
C̣n
với đức giáo hoàng Phaolô VI, trong thông điệp
Ecclesiam Suam, Ngài nói: "Mặc khải là tương quan
siêu nhiên mà Thiên Chúa đă có sáng kiến thiết lập
với nhân loại, nó được diễn tả như
một cuộc đối thoại, trong đó Lời Thiên
Chúa biểu lộ qua việc nhập thể, và tiếp
theo là bằng Tin Mừng..."[15]
Gút
lại, mặc khải là hành vi tỏ lộ và trao ban chính
ḿnh của Thiên Chúa cho con người trong ḍng lịch
sử.
Giáo
tŕnh mặc khải này chỉ bàn về mặc khải
nơi Kitô giáo và gác qua một bên những vấn đề
mặc khải nơi các tôn giáo ngoài kitô giáo.[16]
Trong những phần tiếp sau, sẽ lần lượt
xem xét vấn đề khả thể mặc khải,
mặc khải theo Kinh Thánh, mặc khải trong ḍng
lịch sử Hội Thánh, và phần cuối là suy tư
thần học về mặc khải. Trong phần thứ
nhất về khả thể mặc khải, v́ nhằm cho
thấy tính hợp lư và khả tín của mặc khải,
nên sẽ dùng thuần lư trí để xét vấn đề
mặc khải và không nại đến Kinh Thánh và Huấn
Quyền như chuẩn mực đức tin.
Mặc
khải là hành vi Thiên Chúa tỏ lộ cho con người
trong ḍng lịch sử qua những dấu chỉ khả
giác, đặc biệt là nơi Lời nhập thể,
về Thiên Chúa và chương tŕnh cứu độ con
người của Ngài.
Không
có mặc khải nếu không có Thiên Chúa; cũng không có
mặc khải nếu Thiên Chúa tự do không muốn tỏ
lộ cho con người; và cũng chẳng có mặc
khải nếu con người không có khả năng
hiểu được Thiên Chúa hoặc không hiểu
được mặc khải. Nói cách khác, vấn
đề khả hữu mặc khải hàm chứa vấn
đề Thiên Chúa hiện hữu và vấn đề
khả năng tri thức Thiên Chúa của con người.
C̣n vấn đề Thiên Chúa tự do có mặc khải cho
con người hay không, tiên thiên mà nói th́ điều này tùy
thuộc Thiên Chúa tự do.
Trong
phần này sẽ cố gắng minh chứng "con
người có khả năng biết Thiên Chúa,” sau đó
sẽ bàn đến khả thể mặc khải, và
cuối cùng là môi trường mặc khải.
Nếu
thực sự Thiên Chúa hiện hữu, mà con người
phủ nhận, cho rằng Ngài không hiện hữu, th́ Ngài
vẫn hiện hữu. Nói cách khác, nếu Thiên Chúa hiện
hữu th́ Ngài hiện hữu khách quan không tùy thuộc con
người.[17]
Nếu
thực sự Thiên Chúa hiện hữu và con người
biết Ngài hiện hữu, th́ điều này hàm chứa
con người có khả năng biết Thiên Chúa. Nói cách
khác, nếu minh chứng được Thiên Chúa hiện
hữu thực sự, là chứng minh được
"con ngưới có khả năng biết Thiên Chúa.”
"Thiên
Chúa hiện hữu,” điều này không được
tất cả chấp nhận. Lược sơ qua
lịch sử tư tưởng, người ta ghi
nhận có những lập trường khác biệt.
Gorgias
chủ trương "không có ǵ cả,” v́ hư vô và
hữu thể đều không thể là những dữ
kiện cho cảm giác được; giả như có ǵ
đi nữa, người ta cũng không thể biết
được; giả như có biết được ǵ
đi nữa, người ta cũng không thể diễn
tả chúng nổi.[18]
Như
vậy Gorgias phủ nhận tri thức ngoài tri thức giác
quan; phủ nhận tương quan giữa hữu thể,
phủ nhận tương quan giữa lư trí và vạn
sự vạn vật, giữa ngôn ngữ và hữu thể.
Những
người theo chủ thuyết hoài nghi chấp nhận có
sự chắc chắn chủ quan, nhưng họ cho
rằng không thể chứng minh giá trị khách quan của
phán đoán, và như vậy không thể có sự chắc
chắn tuyệt đối rằng một phán đoán là
đúng.[19]
Agrippa
tóm luận lư của những người theo thuyết hoài
nghi bằng năm mệnh đề như sau:
1.
Nếu một người theo thuyết giáo
điều khẳng định một điều, th́ luôn
luôn người khác có thể phủ nhận nó (mâu
thuẫn);
2.
Nếu người ta muốn chứng minh nó bằng
một nguyên tắc khác, th́ người khác có thể
phủ nhận nguyên tắc này, và cứ như vậy
(diễn tiến đến vô cùng);
3.
Nếu người ta cho rằng một trong
những nguyên tắc này là hiển nhiên không cần
chứng minh, như vậy nguyên tắc đó chỉ có
vẻ chân thực thôi, nếu không th́ phải chứng minh
(tính tương đối);
4.
Nếu người ta từ chối chứng minh nó,
th́ nguyên tắc đó chỉ là một giả thiết có
thể được tranh căi;
5.
Nếu người ta muốn chứng minh nguyên
tắc đó, th́ phải có một tiêu chuẩn để
chứng minh nó, và người ta lại phủ nhận tiêu
chuẩn này. Như vậy lại trở lại như
khởi đầu.[20]
Chủ
thuyết hoài nghi không chấp nhận cái ǵ là thật, không
chấp nhận một tiêu chuẩn nào để phán
đoán.
Không
thể chấp nhận nguyên tắc của những
người theo thuyết hoài nghi. Để phản bác
thuyết hoài nghi, thánh Augustin đă cố gắng chứng
minh một chân lư, để qua đó chứng minh thuyết
hoài nghi là sai lầm. Chứng minh của thánh nhân như sau:
"Tôi sai lầm, vậy tôi hiện hữu.” Sau này Descartes
cũng làm tương tự: "Tôi suy tư, vậy tôi
hiện hữu."[21]
Nói cho cùng, những người theo chủ thuyết hoài
nghi vẫn không chấp nhận lập luận của thánh
Augustin và của Descartes, v́ họ đâu có chấp nhận
sự kiện "tôi sai lầm" hoặc "tôi suy
tư.” Họ hồ nghi cả sự kiện đó!
Những
người theo chủ thuyết hoài nghi khi đứng trên
quan điểm này, khi đứng trên quan điểm khác
để phê b́nh. Đây là những người đ̣i
người khác phải dùng lư luận, c̣n chính họ
lại không bao giờ chấp nhận tiêu chuẩn nền
tảng để lư luận của người khác! Đây là
lập luận và yêu sách không nghiêm chỉnh. Đối với
họ, không có tri thức chắc chắn chân thực, cao
nhất là có phần chắc
(probable) đúng.
Kant
(1724-1804) bị đánh động mạnh về sự
kiện:
·
các khoa học tự nhiên tiến bộ rất
nhiều c̣n khoa siêu h́nh lại dẫm chân tại chỗ,
·
hơn nữa trong khoa siêu h́nh, có nhiều lập
trường mâu thuẫn nhau! Tại sao?
Trong
tác phẩm "phê b́nh lư trí thuần túy,” Kant đă chứng
minh "lư trí thuần túy không thể bàn về vấn
đề siêu h́nh,” nói cách khác "lănh vực siêu h́nh
vượt ngoài khả năng của lư trí thuần túy.” Lư
trí thuần túy đă được sử dụng trong lănh
vực ngoài khả năng của nó.
Khi
phân biệt phán đoán phân tích và phán đoán tổng
hợp, Kant đă thực hiện theo mẫu một quan
niệm khoa học tự nhiên, và mặc nhiên loại
trừ quan niệm khoa học hiểu như hệ
thống chân lư được suy diễn từ chân lư
hiển nhiên (kiểu Aristote). Khi tách biệt đối
tượng hiện tượng (objet phénoménal) và
đối tượng tự thân (objet réel, noumène), Kant
đă cắt đứt tương quan giữa tự thân
(noumène) và hiện tượng (phénomène), giữa sự
vật và siêu h́nh. Sự phân biệt này cũng nằm trong
chọn lựa và giải quyết của Kant: lănh vực
siêu h́nh không nằm trong khả năng của lư trí
thuần túy.[22]
Lư trí
thuần tuư không thể biết đối tượng
tự thân (noumène) nhưng chỉ biết đối tượng
hiện tượng, tức đối tượng
"cho chúng ta."[23]
Đối tượng tự thân là thực tại hiện
hữu hiển nhiên phải giả sử khi chấp
nhận tri thức khoa học tự nhiên.[24]
Thiên
Chúa, linh hồn bất tử, tự do là những thực
tại phải được chấp nhận v́ hiện
hữu mệnh lệnh tuyệt đối "làm lành lánh
dữ," "phải làm điều này mà không
được làm điều kia." Nói cách khác, không
thể chứng minh bằng lư trí thuần túy sự
hiện hữu của Thiên Chúa, linh hồn bất tử,
con người tự do. Những điều này, được
đề nghị chấp nhận không phải v́ chúng
được chứng minh bởi lư trí thuần lư,
nhưng v́ nếu không chấp nhận th́ không thể lư
giải nổi tại sao lại có mệnh lệnh
tuyệt đối luân lư kia.
Nhận xét và phê b́nh:
Theo
Kant, lư trí thuần túy không thể khẳng định cách
có giá trị, sự hiện hữu của Thiên Chúa, sự
tự do, linh hồn bất tử, và những thực
tại siêu h́nh khác; v́ khi làm như vậy, nó đă làm
điều vượt ra ngoài khả năng của nó.
Nhưng khi Kant khẳng định giới hạn của
lư trí thuần túy như vậy, phải chăng Kant cũng
đă làm điều mà Kant cho rằng làm như vậy là
vượt ngoài phạm vi của lư trí thuần túy?
Với
Kant, lương tâm chứ không phải mặc khải,
mới thực sự là tiếng nói của Thiên Chúa trong
chúng ta. Mặc khải, Đức Giêsu và Giáo hội không
cần thiết. Kitô giáo được giản trừ
thành tôn giáo dạy cách cư xử tốt; Đức Giêsu là
người mẫu v́ Ngài là người thành toàn về luân
lư và có tâm hồn đặt nơi Thiên Chúa.[25]
Tiên
đề của Kant hủy hoại siêu h́nh, cắt
đứt tương quan giữa hữu thể hiện
tượng và hữu thể siêu h́nh.
Theo
một nghĩa rộng, người ta dùng "bất
khả tri[26]"
để chỉ những trường phái chủ
trương không thể biết đối tượng
ngoài tầm giác quan.[27]
Bất khả tri là một h́nh thái đặc thù của
thuyết hoài nghi. Thuyết hoài nghi nghi ngờ mọi
khả năng tri thức, c̣n thuyết bất khả tri
cho rằng không thể có tri thức ngoài tầm của giác
quan, và như vậy nó phủ nhận siêu h́nh như
một khoa học, và cho rằng không thể biết Thiên
Chúa. Thường thường bất khả tri là lập
trường của các nhà duy thực nghiệm, duy
nghiệm.[28]
Thần
học công giáo phủ nhận và bài bác mọi h́nh thái
bất khả tri, thần học công giáo không những
chỉ phủ nhận chủ trương cho rằng con
người không thể biết những thực tại
ngoài tầm với của giác quan, mà c̣n phủ nhận
cả chủ trương cho rằng tuy con người có
thể biết Thiên Chúa nhưng không thể chứng minh
sự hiện hữu của Ngài bằng lư trí qua những
thực tại hữu h́nh.[29]
Một
số người cho rằng Thiên Chúa không hiện hữu,
như Feuerbach, K. Marx, A. Camus, J-P. Sartre, v.v.
Những
người phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu không
hề phủ nhận ư niệm "Thiên Chúa." Khi
phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu, là hàm chứa
khẳng định có ư niệm Thiên Chúa nơi họ và
nơi những người khác.
Những
người phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu cho
rằng ư niệm Thiên Chúa không phản ánh thực tại
khách quan. Họ cho rằng ư niệm Thiên Chúa là hữu
thể của lư trí; Thiên Chúa là ư niệm, là tùy thể
chứ không là hữu thể khách quan độc lập
với lư trí con người.
Từ
"ư niệm" (hữu thể của lư trí) đến
thực tại (hữu thể khách quan độc lập
với lư trí con người), là cả một đoạn
đường dài vô tận! Ư niệm có phản ánh
thực tại khách quan không? Ư niệm có là thực tại
khách quan không?
·
Những người theo thuyết duy danh (nominalisme)
cho rằng ư niệm phổ quát là danh từ chỉ một
nhóm cá thể đặc thù.[30]
Những đại biểu của trường phái này có thể
kể Roscelin (1050-1120) và Guillaume d'Occam (1300-1349).
·
Những người theo thuyết duy niệm (c̣n
được gọi duy danh ôn ḥa, so với duy danh cực
đoan trên) cho rằng có những ư niệm phổ quát trong
trí, nhưng những ư niệm này không tương ứng ǵ
với thực tại.[31]
Triết gia tiêu biểu là Abébard (1079-1142).[32]
·
Những người theo thuyết duy thực ôn ḥa
cho rằng những ǵ ư niệm phổ quát chỉ, có
nơi sự vật, có tương quan với thực
tại.[33]
·
Những người theo thuyết duy thực cực
đoan cho rằng ư niệm phổ quát có thực, hiện
hữu độc lập với cái cụ thể
đặc thù nữa.[34]
Hữu
thể của lư trí và hữu thể khách quan độc
lập với lư trí con người, là hai cấp độ
hữu thể khác nhau. Từ "ư niệm" đến
"thực tại khách quan" có cả một khoảng
cách xa vời!
·
Với Feuerbach, con người tạo ra Thiên Chúa, v́ "Thiên
Chúa" là ư niệm của lư trí con người chứ
không có "Thiên Chúa hiện hữu như thực tại
khách quan."
·
Với Platon và Descartes, con người có ư niệm
Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện hữu đích thực như
thực tại khách quan v́ ư niệm phản ánh thực
tại.
·
Với Ansèlme (1033-1109), ư niệm trọn hảo
đ̣i hỏi hiện hữu, v́ bất cứ cái ǵ dù
tốt đến đâu mà chỉ là sản phẩm
của trí khôn th́ đâu đă là tốt trọn hảo! V́
vậy, ư niệm "Thiên Chúa" hiểu "Thiên
Chúa" là thực tại tuyệt đối, tuyệt
hảo, tốt trên tất cả sự tốt, nên
"Thiên Chúa" phải hiện hữu; nghĩa là ư niệm Thiên Chúa phải
phản ánh Thiên Chúa thực
tại, v́ nếu không, Thiên Chúa không phải là cái
tuyệt hảo. Không hiện hữu, th́ chưa tốt
lắm; cái tuyệt hảo, phải là cái hiện hữu.[35]
Hữu
thể của lư trí, do lư trí tạo ra trong tương quan
với thực tại, đó là những ư niệm. C̣n ư
niệm "Thiên Chúa?" Nếu ai chấp nhận lập
trường quan điểm của Feuerbach, th́ vẫn c̣n
câu hỏi "tại sao con người lại có khuynh
hướng phóng chiếu như vậy?” phải chăng
cơ cấu của lư trí con người là như vậy?
phải chăng con người được tạo thành
để hướng về Thiên Chúa?
Với
Feuerbach, Thiên Chúa chỉ là phóng chiếu của con
người; con người phóng chiếu những ǵ là
tốt lành trọn hảo nơi ḿnh lên cái gọi là Thiên
Chúa. Thiên Chúa không hiện hữu khách quan như một
thực tại.
K. Marx
chủ trương duy vật: từ đời
đời đă có vật chất, tinh thần là kết
quả của sự biến dịch và chuyển biến
từ lượng đến phẩm. Vật chất có
mâu thuẫn nội tại, và những mâu thuẫn này là
nguyên nhân của sự thay đổi biến dịch, v́
thế vật chất không cần nại vào nguyên lư kinh
viện "quidquid movetur ab alio movetur."[36]
Albert
Camus chứng minh Thiên Chúa không hiện hữu bằng
sự hiện hữu của sự ác. Thiên Chúa là Đấng
tốt lành và quyền năng vô cùng;[37]
thế mà sự ác và đau khổ hiện diện tràn lan
trên mặt đất; vậy phải kết luận
hoặc Thiên Chúa không toàn năng hoặc Thiên Chúa không
tốt lành, và như vậy Thiên Chúa không hiện hữu.
Jean-Paul
Sartre cũng chứng minh Thiên Chúa không hiện hữu! Thiên
Chúa là Đấng quyền năng, toàn tri, và quan pḥng tất
cả; nếu Thiên Chúa toàn tri th́ con người đâu c̣n
tự do nữa, mà nếu con người tự do th́ Thiên
Chúa đâu có toàn tri! Mà thực sự con người có tự
do, vậy phải kết luận rằng Thiên Chúa không
hiện hữu.
Người
ta chỉ chứng minh dựa vào một tiêu chuẩn nào
đó. Nếu người ta chứng minh được
Thiên Chúa hiện hữu, th́ Thiên Chúa cũng thuộc về
cùng một b́nh diện được chứng minh.
Nếu
muốn nói chứng minh Thiên Chúa hiện hữu, th́ phải
hiểu đây chỉ là những dấu chỉ, cho
thấy Thiên Chúa hiện hữu. Biết Thiên Chúa hiện
hữu, đó thuộc b́nh diện tin.
Có
nhiều hệ thống triết lư nhằm giải thích
vũ trụ vạn vật, và tất cả đều hàm
chứa một quan niệm về tri thức. Quan niệm
nào đúng? quan niệm nào phản ánh đúng sự thật
nhất?
Platon
(428-348), là học tṛ trực tiếp của Socrate;
động lực suy tư của Platon chính là cái đă làm
Socrate bận tâm.
Socrate
đă coi nguồn gốc tội nơi con người là
sự ngu dốt, và ông nỗ lực làm cho mọi
người hiểu biết; phương châm của Socrate
là "hăy biết ḿnh."[38]
Platon
và Socrate đều chịu ảnh hưởng của trào
lưu tư tưởng đương thời:
"con
người là thước đo vạn vật"
của Protagoras,[39]
"tất
cả là biến dịch" của Héraclite,
"chỉ
có hữu thể, ngoài ra không có ǵ cả" của Parménide.[40]
Bận
tâm của Platon là làm sao biết đúng để sống
tốt.[41]
Nếu mỗi người là thước đo vạn
vật th́ đâu là chân lư khách quan. Đối với Platon, con
người có tri thức là điều tự nhiên không
thể chối căi, vấn đề chính:
làm sao
giải thích tri thức này,
làm sao
dung ḥa tư tưởng của Héraclite và Parménide.
Tiên
đề của Platon là thế giới ư niệm. Con
người biết, biết cái tổng quát lẫn cái
đặc thù, v́ linh hồn con người đă tiền
hữu ở thế giới ư niệm; con người
biết v́ linh hồn nhớ lại những ǵ đă
biết khi ở trên thế giới ư niệm, v́ những
ǵ vô thường biến dịch ở thế giới
khả giác này đều là phản ánh của thế
giới ư niệm thường hằng.
Khởi
từ sự kiện con người có thể biết
những đồ vật chung quanh bằng các giác quan, và
qua tri thức giác quan này người ta có tri thức trí
tuệ (phản tỉnh và siêu vượt). Khi nói lư trí con
người có thể biết các hữu thể, hàm
chứa các hữu thể có tương quan hữu cơ
với nhau; nghĩa là, con người và các hữu thể
có tương quan với nhau; nói chi tiết hơn, giữa
lư trí cũng như ngôn ngữ con người có tương
quan hữu cơ bền vững với các hữu thể
khác.
Nếu
phủ nhận tương quan giữa các hữu thể,
tức phải phủ nhận tri thức của con
người. Không có tương quan hữu thể, th́ lư trí
không thể biết các sự vật, không thể biết
các quy luật chi phối chúng.
Khoa siêu h́nh nói về điều này bằng phạm
trù "hữu thể khả tri" (l'être est intelligible).
Platon
cho biết quan niệm của Parménide "tư duy và
hữu thể là một." "Tự bản chất,
hữu thể khả tri và hợp lư."[42]
Aristote
cho rằng "cái càng hiện hữu, th́ càng thật."[43]
Thánh
Thomas Aquinô cũng nói "bất cứ cái ǵ có thể
hiện hữu, th́ có thể hiểu được."[44]
Thời
kinh viện, người ta nói "Hữu thể, chân lư,
thiện hảo, hoán chuyển được lẫn nhau”[45]
và "mọi hữu thể đều chân thực.”[46]
K.
Rahner phát biểu "hữu thể tự bản chất
tỏa sáng.”[47]
Cái ǵ
có và xảy ra đều có một lư do giải thích
thỏa đáng tại sao nó có và xảy đến.[48]
Điều này được các nhà siêu h́nh gọi là nguyên lư
túc lư.
Hiện hữu, là có thể được tra
vấn. Người ta không thể tra vấn cái ǵ đó mà
người ta không thể biết, hoặc không biết
chút ǵ về cái đó.[49]
Nếu hữu thể không khả tri th́ ta không thể
đặt vấn đề khả tri của hữu
thể. Mệnh đề "hữu thể bất
khả tri" là một mệnh đề mâu thuẫn.[50]
Cái mà
lư trí tri nhận đầu tiên, là hữu thể.[51]
Người ta thường nói: "có cái ǵ đó,” "cái
ǵ hiện hữu.” Khi nói như vậy hàm chứa,
"hiện hữu" là cái được tri nhận
đầu tiên; và "cái ǵ" (yếu tính), là cái có
thể được tra vấn. Hiện hữu, xét như
hành vi hiện hữu, là cái mà nhờ đó yếu tính
được xác định.[52]
Khái
niệm chân lư không là khái niệm trực tiếp,[53]
nhưng là khái niệm phản tỉnh. Đầu tiên lư trí tri
nhận hiện hữu, sau mới tới tính chân thực.[54]
Các
mệnh đề "ens verum bonum convertuntur," "omne
ens est verum," và mệnh đề "hữu thể là
tri thể" của K. Rahner, không được hiểu
theo nghĩa của thuyết duy tâm với Hegel "hữu
thể và tri thể luôn đồng nhất;"[55]
nhưng phải được hiểu: hữu thể là
tri thể theo mức độ hiện thể sở
hữu hữu thể.[56]
Hữu thể khả tri theo mức độ hữu
thể, theo mức độ hiện thể sở hữu
hữu thể, theo mức độ hiện thể có
khả năng hiện diện với ḿnh, trở lại
trên chính ḿnh.[57]
Hiện
thể hiện hữu theo những mức độ tham
dự hữu thể khác nhau. Mức độ hữu
thể khác nhau cũng c̣n có thể được gọi
là tỷ lệ hữu thể, loại suy hữu thể.
Sự trở về lại chính ḿnh, hiện diện
với ḿnh, là nguyên tắc cấu thành những mức
độ hữu thể khác nhau. Một hữu thể càng
khả tri càng tham dự vào hữu thể. Mức
độ khả tri tỷ lệ với mức độ
hữu thể.[58]
Tri
thức nhân loại như thường được quan
niệm, hàm chứa tất cả hữu thể có một
tương quan hữu cơ; v́ nếu lư trí, ngôn ngữ và
thực tại, không có tương quan hữu thể nào
đó, th́ con người không thể biết sự vật
và cũng không thể diễn tả hoặc thông
đạt chúng. Lập trường quan điểm này khác
với:
·
Gorgias, v́ Gorgias đặt tương quan hữu
thể khả giác với thế giới ư niệm hơn
là giữa các hữu thể với nhau;
·
những người theo chủ thuyết hoài nghi, v́
họ chỉ nhận tri thức giác quan và phủ nhận
tương quan hữu thể, cụ thể là phủ
nhận tương quan của lư trí với vạn sự.
·
Kant, v́ Kant chỉ giới hạn khả năng
của lư trí vào hữu thể khả giác và loại trừ
khả năng của lư trí thuần lư vươn tới
thực tại siêu h́nh (nếu có). Cũng tương
tự như vậy đối với những
người chủ trương "bất khả tri;"
·
Hegel và Marx, v́ cả hai đều có cái nh́n không
đúng đắn và trung thực về con người và
về thế giới; Hegel đặt nặng tinh thần
và giản lược vật chất, c̣n Marx lại quá
đặt nặng vật chất và phủ nhận
hữu thể tinh thần;
·
Camus và Sartre, v́ cả hai có cái nh́n "hẹp"
về hữu thể (phủ nhận hữu thể siêu
vượt tuyệt đối).
Trung
thực mà nói, quan niệm về tri thức giả
thiết tri thức về con người. Một cái nh́n
đúng đắn và trung thực về con người,
sẽ giúp có quan niệm đúng đắn và chân thực
về tri thức của con người và về vạn
sự vạn vật.
Tôi là
một hiện hữu bất tất.
Đó là
cái nh́n nền tảng về con người, về nhân
học. Tôi không thiết yếu phải có trên đời,
giả như không có tôi, cũng có những người
khác. "Có mợ th́ chợ cũng đông, không mợ th́
chợ vẫn không vắng người."
Nếu
"tôi là một hiện hữu bất tất," th́
phải có một hiện hữu tất yếu. Nếu
không có hữu thể
tất yếu, th́ đă không có hữu thể bất
tất. Bất cứ khi nào khẳng định một
hiện hữu bất tất, hàm chứa khẳng
định một hiện hữu tất yếu. Nếu
khẳng định một hiện hữu bất tất
mà không khẳng định một hiện hữu tất
yếu, là phủ nhận lư trí, phủ nhận khả
năng tri thức của lư trí.
Ở
đây bỏ qua chuỗi mắt xích cần thiết
tương đối[59]
để theo lư luận vượt lên tới hiện
hữu tất yếu. Nói rơ hơn, một hiện hữu
bất tất hàm chứa hiện hữu tất yếu
tuyệt đối.
Một
hữu thể bất tất hiện hữu, theo lư
luận hàm chứa một hiện hữu tất yếu
tuyệt đối. Giả như chứng minh
được có nhiều hiện hữu bất tất
độc lập với nhau tuyệt đối, hàm
chứa có nhiều hiện hữu tất yếu tuyệt
đối; nhưng điều này không được
chứng minh, mà trái lại những hữu thể bất
tất đều liên hệ với nhau.[60]
Cứ theo luận lư, có thể có những hiện hữu
tất yếu tuyệt đối, nhưng đây chỉ
là có thể, không đồng nghĩa với khẳng
định "thực có nhiều hiện hữu tất
yếu."[61]
Bởi
một hữu thể tất yếu, có thể có nhiều
hữu thể bất tất. Những hiện hữu
bất tất như con người biết, đều
tùy phụ vào nhau; như vậy theo lư luận hàm chứa
một hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
Hiện hữu tất yếu tuyệt đối có
thể được gọi bằng nhiều tên như
Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối, Đấng tự
hữu, v.v.
Với
lư trí, con người có thể khẳng định sự
hiện hữu của Thiên Chúa như hữu thể
tất yếu tuyệt đối; nghĩa là, con người
có khả năng tri thức Thiên Chúa.
Thiên
Chúa là một tên gọi khác của hiện hữu tất
yếu tuyệt đối. Hiện hữu tất yếu
tuyệt đối là hiện hữu nhờ đó hiện
hữu bất tất "tôi" hiện hữu.
Khi
khẳng định tôi là hiện hữu bất tất,
hàm chứa khẳng định hiện hữu tất
yếu tự do thực
hiện hành vi, qua đó hữu thể bất tất
hiện hữu. Hiện hữu tất yếu tuyệt
đối, thực hiện hành vi "hữu thể
bất tất" hiện hữu hay không, là tự ngài do ngài, tự do ngài.
Hiện Hữu Tất Yếu Tuyệt Đối là Hiện
Hữu Tự Do, là Hiện Hữu Tự Do Tuyệt
Đối.
Với
tri thức đă giả sử như tiên đề, chúng ta
thấy vật thể[62]
không có tự do; chúng tất yếu phải tuân theo các
định luật thiên nhiên, và không thể không theo các
luật thiên nhiên đó.
Giác
thể[63]
cũng không có tự do, v́ chúng cũng phải theo những
định luật, những bản năng cách tất
yếu, chẳng hạn như bản năng sinh tồn,
bản năng tính dục, v.v.; những hữu thể
thuần giác quan[64]
không thể cưỡng lại những đ̣i hỏi
của bản năng, chúng tất yếu phải sống
và hành động như vậy.
Con
người, có tri thức và có tự do làm hay không làm
điều này hay điều kia, và có thể không theo
những bản năng của con người, chẳng
hạn bản năng sinh tồn, khi họ dám hiến
mạng sống ḿnh cho người khác, sẵn sàng chết
để kẻ khác được sống.[65]
Như vậy, chỉ có hữu thể sở hữu tri
thức siêu vượt mới là hữu thể tự do.
Hữu
thể tự do là hữu thể tri thức chính ḿnh,
hữu thể phản tỉnh và siêu vượt.[66]
Con vật cũng có tri thức giác quan, nhưng không có tri
thức phản tỉnh, tri thức chính ḿnh (phán đoán
về chính ḿnh).
Nếu
gọi hiện hữu tự do là tinh thần, th́ hiện
hữu tất yếu[67]
c̣n được gọi là tinh thần tuyệt
đối.[68]
Nói cách khác, tinh thần là hiện hữu tự do, có tri thức
chính ḿnh- phản tỉnh, trở về với chính ḿnh- và
siêu vượt.
Vật
thể tuân theo những quy luật tự nhiên cách tất
yếu. Cả với những sinh vật sống theo
bản năng, nó luôn sống theo bản năng và không
thể làm khác v́ nó không là hữu thể tự do. Tất
cả những hiện hữu này không có tự do, và như
vậy người ta có thể biết những ǵ sẽ
xảy ra nơi chúng khi người ta biết các
định luật-vật lư hay tâm lư- chi phối chúng.
Chuỗi
hành động của hữu thể tự do là lịch
sử. Với hiện hữu tuyệt đối tự
do, không thể lường trước được
những hành vi Ngài thực hiện. Ngài hành động
rồi con người mới biết. Chẳng hạn
không ǵ buộc Ngài phải tạo dựng vũ trụ
hoặc con người, chỉ khi Ngài thực hiện hành
vi để những hiện hữu bất tất
hiện hữu, con người mới biết Ngài đă
thực hiện những điều đó.
Mỗi
hành vi tự do của hữu thể tự do, đều
tỏ lộ về hữu thể tự do. Hiện
hữu tự do, tự bản chất, luôn luôn mới, luôn
luôn tạo ra lịch sử.[69]
Khi
hiện hữu tất yếu tự do tạo dựng
hiện hữu "người" như một ngôi
vị, hiện hữu tự do tỏ cho thấy hiện
hữu tự do là hiện hữu t́nh yêu.[70]
Hiện
hữu tự do luôn luôn có thể thực hiện một
hành vi bất tất mà người ta không thể biết
trước được, và như vậy hiện
hữu tự do luôn luôn là một mầu nhiệm. Hiện
hữu tự do có thể rất "mới”[71]
khi thực hiện một hành vi bất tất.
Hiện
hữu tất yếu tự do, là hiện hữu luôn luôn
mới. Nếu Ngài mặc khải, con người hiểu
biết hơn về Ngài, nhưng không bao giờ hiểu
trọn vẹn về Ngài, v́ Ngài là hiện hữu tự
do. Mỗi hành vi của Ngài đều là hành vi mặc
khải, và qua đó cho thấy Ngài là hiện hữu
tất yếu tự do "mới," trong sáng và
tuyệt mỹ hơn trước.
Nếu
hiện hữu tất yếu tự do không thực
hiện hành vi tạo dựng con người, con
người không hiện hữu và không biết về Ngài.
Ngài cũng có thể chỉ tạo dựng con
người và không tiếp tục mặc khải cho con
người, v́ Ngài là hiện hữu tuyệt đối
tự do. Nói theo ngôn từ của K. Rahner, Thiên Chúa là Đấng
tốt lành và thánh thiện, nhưng điều này không hàm chứa Thiên Chúa phải cứu độ con
người.[72]
Khởi
từ sự kiện con người có tri thức về
những vật thể qua giác quan, và với khả năng
của lư trí, con người đă vươn lên nhận
biết sự hiện hữu của hữu thể
tất yếu tuyệt đối.
Một
lư giải về lư trí và tri thức.
Trí
khôn hay lư trí là yếu tố cấu thành của con
người xét như tinh thần nhập thể. Nói theo
ngôn từ của thánh Thomas Aquinô, lư trí là mô thể lập
hữu.[73]
Trí khôn có nhiều khả năng (trí năng) như nhớ
(trí nhớ), tưởng tượng (trí tưởng
tượng), suy luận (lư trí) để đi tới phán
quyết.[74]
Phán quyết này có thể:
tạo
thành tri thức giác quan như khi khẳng định
"cái bàn này trắng," v.v.
hoặc
có thể tạo thành tri thức siêu việt do suy luận,
như "tôi là hữu thể bất tất, vậy
phải hàm chứa có hiện hữu tất yếu, v́
nếu không, đâu có hiện hữu bất tất là tôi,"
hoặc
làm thành tiếng lương tâm khi phán quyết về chính
hành vi cư xử của ḿnh như "tôi không
được làm như vậy v́ làm như vậy là trái
phẩm giá con người, tôi phải làm điều kia v́
như vậy tôi mới sống xứng đáng làm con Chúa,
v.v.”
Trí
tưởng tượng (phantasia) vận hành với
những ảnh tượng (phantasma, phantasmata) và
thường ở t́nh trạng vô thức. Các vật
thể được tiếp nhận qua giác quan và h́nh
thành các ảnh tượng (phantasma, phantasmata) nơi trí năo.
Lư trí trừu xuất từ những ảnh tượng
này, để có những ảnh niệm.[75]
Ảnh niệm (species intelligibilis) có thể được
hiểu là ư niệm (eidos),[76]
dùng để chỉ cái phổ quát đă được
trừu xuất từ những vật cụ thể. Qua
trung gian những ảnh niệm, lư trí với khả
năng suy luận tạo thành những ư niệm mới
hoặc những quan niệm, chẳng hạn tự do, công
bằng, bác ái.[77]
Không
sai lầm với ảnh tượng, ảnh niệm. Sai
lầm và chân thực chỉ có khi phán đoán; chẳng
hạn khi khẳng định "đó là cái bàn,"
"cái bàn này màu trắng," "anh đó là người
bác ái," v.v.! Chỉ có tinh thần, mới có thể
tự phán đoán hay đánh giá ḿnh đúng sai. Đánh giá
đúng sai, là phán đoán về phán đoán của con
người,[78]
kể cả ḿnh.
K.
Rahner trích dẫn tác phẩm thánh Thomas chú giải Aristote
"linh hồn không có tri thức trí tuệ nếu không
trở lại với ảnh tượng.”[79]
Thánh Thomas cho rằng yếu tính của lư trí con
người phải được xác định khởi
từ việc kết hợp với thân xác, và sự
kết hợp này được diễn tả trong
conversio intellectus ad phantasma, nghĩa là trở lại với
trí tưởng tượng.[80]
K.
Rahner đă thấy vấn đề trở về với
ảnh tượng (conversio ad phantasma) là vấn đề
khả thể của siêu h́nh học, và K. Rahner cho rằng
có thể xây nền siêu h́nh học của ḿnh dựa trên
S.T. I, q. 84, a.7: "Liệu lư trí có thể biết nhờ
những ảnh niệm có nơi ḿnh, mà không trở về
với ảnh tượng không (Utrum intellectus possit actu
intelligere per species intelligibilis quas penes se habet, non convertendo se
ad phantasma)?”[81]
Theo
thánh Thomas, ảnh tượng là khởi đầu của
tri thức con người v́ khởi từ nó lư trí hoạt
động.[82]
Đối tượng của lư trí là ảnh tượng,[83]
nhưng đối tượng riêng của lư trí là yếu
tính của sự vật như được trừu
xuất và không tách rời khỏi sự vật khả giác.[84]
Ảnh tượng là cái tương tự của sự
vật khả giác.[85]
Ảnh
niệm (species intelligibilis), theo thánh Thomas, không là đối
tượng của lư trí, nhưng là cái nhờ đó mà lư
trí biết.[86]
Ảnh niệm không có nghĩa là một "h́nh ảnh
hữu ư" nào đó, nhưng là sự hoàn hảo hữu
thể của tinh thần xét như hiện thể,[87]
là yếu tố làm tri thức có nền tảng khả
hữu nội tại.[88]
Trừu
xuất (abstractio), trở lại với ảnh
tượng (conversio ad phantasma), và siêu vượt (excessus),
là những khả năng của lư trí (intellectus), là
những tiến tŕnh để tri thức.
Trừu
xuất, xét như nó là sự thủ đắc ư niệm
phổ quát, là thực hiện việc trở lại
của chủ thể với chính ḿnh (reditio subjecti in
seipsum).[89] Bởi
trừu xuất, con người nắm bắt cái tổng
quát trong cái đặc thù, và nhờ đó có phán đoán.[90]
Khả năng trở lại hoàn toàn với chính ḿnh, là nét
đặc trưng cơ bản của lư trí.[91]
Trở
lại với ảnh tượng (conversio ad phantasma) là tính
chất riêng và nội tại của chính hành vi trừu
xuất.[92]
Trừu xuất và trở lại với ảnh
tượng, không được coi là hai thời kế
tiếp nhau, nhưng cả hai đều là điều
kiện hỗ tương, và tạo thành tri thức duy
nhất của con người.[93]
Tuy chúng được đề cập kế tiếp
nhau, và được xét như những tiến tŕnh
kế tiếp nhau, nhưng thật sự chúng là một
để làm thành tri thức nơi con người.
Siêu
vượt ở đây là từ ngữ dùng để
dịch chữ la-tinh excessus, nhưng chữ siêu
vượt (hay siêu việt) thường được
dùng để dịch chữ transcendance (tiếng Anh và
Pháp). Với K. Rahner, tiền dự (anticipation, Der Vorgriff) là
siêu vượt.[94]
Theo
thánh Thomas, siêu vượt (excessus) cần thiết
để lănh hội các đối tượng của khoa
siêu h́nh, mặc dầu cái khả giác vẫn
được coi như vùng đất thường
trực của tri thức con người.[95]
Ở một chỗ khác, siêu vượt và phủ nhận
(remotio) xuất hiện như những điều kiện
thủ đắc đối tượng siêu h́nh.[96]
Theo K.
Rahner, tiền dự là sự siêu vượt của tinh
thần, nhờ đó mà tinh thần lănh hội cái
đặc thù, bằng việc nh́n vượt qua nó
hướng về khoảng tuyệt đối của các
đối tượng có thể có.[97]
Để hiểu một yếu tính phổ quát tự bản
chất là vô giới hạn, dù rằng yếu tính phổ
quát này được kinh nghiệm trong cái khả giác, th́
đầu tiên lư trí phải lănh hội rằng yếu tính
này được giới hạn trong và nhờ cái khả giác này. Nhưng
để ư thức về sự giới hạn này, th́ hành
vi lănh hội cái khả giác đặc thù này phải siêu
vượt nó để hướng về cái ǵ hơn
nữa. Cái ǵ hơn nữa này không thể là một
đối tượng đặc thù cùng loại, v́
nếu không, lại phải siêu vượt qua nó nữa.
Như vậy khi lănh hội một đối tượng
đặc thù, ư thức vượt lên trên cái đối
tượng đặc thù, và lănh hội nó không chỉ trong
cái này (giới hạn và
riêng rẽ) mà c̣n trong tính hữu hạn của nó, cũng
như trong tương quan của nó với cái toàn thể
của những đối tượng có thể có.[98]
Khả
năng của lư trí để trừu xuất (abstractio,
reditio in seipsum) và siêu vượt (transcendance, tiền dự
anticipation) gọi là lư trí tác động ((intellectus agens). Lư
trí tác động là khả năng nhận biết
đối tượng trực giác qua giác quan như
thực tại giới hạn và cụ thể, và như
vậy lư trí tác động phổ quát hóa mô thể nơi
cái khả giác, và giải phóng mô thể khỏi cái đặc
thù vật
chất.[99]
Lư trí tác động là nền tảng của mọi nguyên
tắc, là nền tảng của tri thức.[100]
Thể
tri không là sự tiếp xúc của lư trí với sự
vật,[101]
không là một hành động (sản phẩm của hành vi
lănh hội) nhưng là một hiển thể, nghĩa là
một thực tại hiện diện với chính ḿnh.[102]
Thể tri là hiện diện với chính ḿnh, là t́nh
trạng phản tỉnh trên chính ḿnh của một hữu
thể có khả năng được xác định.[103]
Theo
thánh Thomas, thể tri[104]
là sự trở lại chính ḿnh của tri thể[105]
và như vậy, là hiện diện với chính ḿnh.[106]
Tri thể (cognoscens) và cái được biết (cognitum) là
một trong hiển thể.[107]
Lư trí và cái được biết là một.[108]
Cái được biết là sự trọn hảo của
tri thể.[109]
Như vậy cái được biết luôn luôn là hữu
thể của tri thể.[110]
Tri
thức, một cách tổng quát, là hiện diện với
ḿnh của hữu thể, là hữu thể phản
tỉnh, là sự trở về trên chính ḿnh (reditio in
seipsum). Nhưng đối với con người, tri
thức hàm chứa phải hiện diện với thế
giới, phải ở nơi tha thể trong giác thể.[111]
Thánh
Thomas diễn tả điều này trong ST. I, q. 84, a. 7, corp.:
"impossibile est intellectum nostrum, secundum praesentis vitae statum,
quo passibili corpori conjungitur, aliquid intelligere in actu, nisi
convertendo se ad phantasmata."[112]
Tri
thức hệ tại phán đoán. Cái riêng của lư trí là
khẳng định hoặc phủ định;[113]
và chỉ lư trí mới biết chân hoặc giả, chân lư
hoặc sai lầm.[114]
Và như ở trên đă thấy, lư trí không thể biết
ǵ nếu không nhờ ảnh tượng. Chính quan niệm
này giúp xác định môi trường mặc khải.
Thiên
Chúa tự do, Ngài tự do mặc khải, hoặc tự do
không mặc khải. Mặc khải hay không, là hoàn toàn tùy
thuộc Thiên Chúa.[115]
Trên b́nh diện thuần lư trí, trước khi Thiên Chúa
mặc khải cho con người, lư trí không biết Thiên
Chúa có mặc khải cho con người hay không. Hữu
thể tự do luôn là một mầu nhiệm, hữu
thể tự do luôn luôn mới, mỗi hành vi hành
động của hữu thể tự do đều là
những sáng tạo bất ngờ.[116]
Giả
như Thiên Chúa mặc khải cho con người, th́ đâu
là môi trường, đâu là phương tiện Ngài dùng
để mặc khải cho con người?
V́
Thiên Chúa là hữu thể tự do, nên không thể
định trước cho Ngài môi trường, cách
thức hay phương tiện. Những điều này,
hoàn toàn tùy thuộc Ngài. Nhưng nếu Ngài mặc khải
cho con người th́ Ngài chỉ mặc khải những điều
con người có thể lănh hội được.[117]
Nếu cứ ở điều kiện hiện tại,
tức điều kiện cấu thành con người
hiện tại,[118]
người ta có thể dựa vào cơ cấu con
người hiện tại để xác định môi
trường mặc khải, nếu có và thực sự
đă có, của Thiên Chúa cho con người.
Lời,
theo tiếng Hy lạp, có hai nghĩa: nghĩa thứ
nhất là lư trí, nghĩa thứ hai là lời; và từ hai
nghĩa chính này, chúng ta thấy có nhiều nghĩa khác.[119]
Lời (DABAR), theo tiếng Do thái, có nghĩa là lời nói,
sự vật, và cả lư trí nữa.[120]
Lời là tên làm cho sự vật có thể hiểu
được.[121]
Như vậy, lời (Logos, Dabar) là lời nói, là sự
vật, là lư trí.
Lời
là thực tại làm cho con người có thể hiểu
một thực tại. Như vậy, tất cả
những ǵ làm cho con người, làm cho lư trí con
người có thể hiểu một thực tại
đều được gọi là lời.[122]
Bao lâu
con người chưa được hưởng kiến
trực tiếp Thiên Chúa, th́ mặc khải được
thực hiện qua lời,[123]
v́ ở điều kiện hiện tại của con
người, con người tri thức nhờ các ư
niệm, ảnh tượng, các sự vật khả giác.
"Lời" ở đây không chỉ là dấu chỉ
của sự vật khả giác nhưng c̣n là dấu
chỉ của tinh thần.[124]
Lịch
sử là một chuỗi biến cố của một hay
nhiều hiện hữu tự do; nếu không có tự do,
không có lịch sử. Ở đâu có tự do, th́ ở
đó luôn luôn có một chuỗi biến cố mà người
ta không có thể tính toán và diễn dịch khởi từ
một nguyên tắc tổng quát.[125]
Hiểu
lịch sử như vậy, những hiện hữu
bất tất tùy thuộc hiện hữu tuyệt
đối tự do đều là những dấu chỉ,
là lời để con người tri thức, là lời
để con người nhận biết hiện hữu
tuyệt đối tất yếu. Tương tự
thế, những hành vi tự do của một ngôi vị
tự do, cho con người biết hơn về ngôi
vị ấy; cũng vậy, những hành động
của hiện hữu tất yếu mà con người có
thể tri thức được, cũng giúp con
người có thể biết hơn về hiện hữu
tất yếu tuyệt đối tự do.
Như
vậy, lịch sử xét như là lời, giúp con
người tri thức về hiện hữu tuyệt
đối. Nói cách khác, nếu Thiên Chúa mặc khải cho
con người trong hoàn cảnh điều kiện tại
thế, tạo thành lịch sử,[126]
th́ con người có thể ngang qua lịch sử đó
-tức là lời, nhận biết được thực
tại mặc khải. Nói như vậy không có nghĩa,
tất cả những ǵ Thiên Chúa hành động con
người cũng biết; v́ tri thức con người
phải qua giác quan và những vật khả giác, nên con
người chỉ có thể biết khi Thiên Chúa muốn
mặc khải, và Ngài mặc khải qua lời.
Như
vậy, mặc khải hay không, tùy thuộc hoàn toàn nơi
Thiên Chúa, v́ Ngài là hiện hữu tuyệt đối tự
do; và nếu Thiên Chúa mặc khải cho con người, th́
lịch sử là nơi Thiên Chúa mặc khải cho con
người, và con người phải luôn lắng nghe và
để ư tới lịch sử, v́ đây chính là môi
trường Thiên Chúa mặc khải cho con người.[127]
Khởi
từ tri thức về vạn sự vạn vật qua
giác quan và với khả năng suy luận của lư trí, con
người nhận ra hữu thể có một tương
quan mật thiết với nhau. Cũng từ tri thức
giác quan và với khả năng suy luận, con người
nhận ra ḿnh là hiện hữu bất tất, và từ
đó nhận biết Hữu Thể Tất Yếu Tự
Do.
Tất
cả đều hiện hữu, nhưng các hữu
thể hiện hữu theo những mức độ khác
nhau. Hữu thể sở hữu hữu thể tùy mức
độ tri thức, theo mức độ hữu thể
hiện diện với chính ḿnh.[128]
Hữu
thể được gọi là vật thể, khi hữu
thể này khả tri với hữu thể khác nhưng
lại ẩn dấu với chính nó, nó không thể trở
lại chính ḿnh. Hữu thể được gọi là
giác thể, khi tri thức của hữu thể có
đối tượng trước tiên là vật thể.[129]
Hữu thể được gọi là tinh thần khi
hữu thể có thể trở về chính ḿnh.
Con
người không chỉ là giác thể, tức là có tri
thức vật thể bằng hành vi hiện hiện
nơi tha thể, nhưng con người c̣n là tinh thần,
v́ con người có khả năng trở về chính ḿnh
(reditio completa in seipsum).[130]
Chính trong thân xác và qua thân xác mà con người là tinh
thần. Con người là tinh thần nhập thể.[131]
Con
người, ngoài tri thức giác quan c̣n có khả năng suy
tư trên cái biết giác quan. Chẳng hạn nh́n trái táo
rơi, con người có thể suy tư t́m hiểu
để khám phá ra định luật chi phối vật
thể. Dầu vậy tri thức này cũng chỉ nằm
ở b́nh diện sự vật.
Ngủ
mơ thấy ḿnh là bướm, tỉnh dậy không
biết có phải ḿnh là bướm đang mơ? Lúc đó
là mơ hay lúc này mới là mơ, bây giờ là mơ hay
thực! (Trang Tử).
Tôi sai
lầm, vậy tôi hiện hữu (Augustin).
Tôi suy
tư, vậy tôi hiện hữu (Descartes).
Cái
tuyệt hảo, phải hiện hữu; v́ nếu không
hiện hữu th́ không là tuyệt hảo (Anselme).
Tôi là
hiện hữu bất tất, vậy phải có hiện
hữu tất yếu.
Trên
đây là những tri thức, nhưng những tri thức
này không c̣n thuộc b́nh diện vật thể. Những tri
thức này khởi từ tri thức vật thể giác
quan, nhưng đă không dừng lại mà vượt trên
b́nh diện vật thể. Với tri thức này, con
người trở thành tinh thần, con người đă
qua tri thức giác quan để trở về chính ḿnh, con
người không dừng lại nơi sự vật,
nhưng vươn lên cái siêu vượt. Con người
trở thành tinh thần tự do. Con người có thể chỉ dừng
lại nơi sự vật, hoặc con người có thể vươn lên
hiện hữu tất yếu.
Người
ta thường nghe nói "con người tự do"
"ư chí tự do,” nhưng dường như không nghe nói
"tri thức tự do." Người ta thường
cho rằng tự do và lư trí không liên hệ với nhau,
nhưng thực sự tri thức cũng liên hệ tới
tự do v́ lư trí cũng bị ảnh hưởng bởi ư
chí tự do. Khi nói tri thức tự do, phải hiểu theo
văn mạch này.[132]
Con
người là tinh thần, theo K. Rahner, nghĩa là, con
người trong cuộc sống luôn hướng về
tuyệt đối, luôn khai mở với Thiên Chúa.[133]
Con người là tinh thần nhập thể, nghĩa là,
con người hiện diện với ḿnh, trở về
với ḿnh qua việc quy về ảnh tượng
(phantasma). Con người hiện diện với chính ḿnh
qua vật thể chứ không lệ thuộc vật
thể.[134]
Tự
do, đối với K. Rahner, là vượt trên tri thức
giác quan, vượt trên cảm tính; đó là tự do
của tinh thần. Tự do theo nghĩa này, là một tên
gọi khác của tiền dự (anticipation), là khả
năng vượt qua tri thức vật thể để
hướng về hữu thể tất yếu.[135]
Con người không dừng lại nơi vật thể,
nhưng luôn vươn lên vượt trên vật thể,
đó mới là tinh thần; lúc đó tri thức của con
người là tri thức tự do. Nếu tri thức
của con người chỉ
dừng lại nơi vật thể th́ tri thức
đó không tự do, hay nói đúng hơn, con người
đó không tự do.
Con
người có thể trở về với ḿnh bằng tri
thức phản tỉnh, có thể vươn lên khỏi
vật thể để hướng tới siêu việt
thể, đó là tinh thần. Con người là tinh thần,
nghĩa là có thể dừng lại nơi vật thể
hay vươn lên siêu việt thể. Lư trí không chỉ
dừng lại nơi sự vật nhưng vươn lên
siêu việt thể, đó là lư trí tự do. Bây giờ chúng
ta sẽ xét về ư chí nơi con người.
Ư chí
hay ư muốn, là hành vi của hiện hữu mà nếu không
có hành vi này, một hữu thể bất tất không
thể hiện hữu.
Ư chí
là hành vi tự do của hiện hữu, là hành vi tự do
của hữu thể tinh thần. Nếu một hữu
thể bất tất có
thể hiện hữu nhờ một "hiện
hữu,”[136]
hàm chứa "hiện hữu này" tự do. Nghĩa là,
hiện hữu này là tinh thần, có trở về chính ḿnh,
có tri thức phản tỉnh về chính ḿnh, và siêu
vượt.
Đối
với hiện hữu tất yếu tuyệt đối,[137]
hành vi tri thức và hành vi ư muốn là một; c̣n đối
với tinh thần nhập thể, tức con người,
ư muốn đi theo tri thức.[138]
Khi nói ư muốn đi theo tri thức, điều này đúng
khi tri thức là tri thức tự do, nghĩa là tinh thần
nhập thể vượt lên trên tri giác sự vật
để hướng tới hiện hữu tuyệt
đối. C̣n đối với tinh thần "không
tự do,” tức không hướng tới tuyệt
đối, cả lư trí lẫn ư chí đều không tự
do, đều dừng lại nơi vật thể.
Ư
muốn là hoạt động của tinh thần, là hành vi
của hiện hữu sở hữu tri thức tự do. Ư
muốn tự do, theo nghĩa siêu h́nh, là ư muốn đi theo
lư trí tự do, tức lư trí vượt qua tri thức
vật thể để vươn lên tuyệt
đối. Ư muốn không tự do, theo nghĩa siêu h́nh
nhưng vẫn là ư muốn tự do hiểu theo nghĩa
tự ư, khi tuân theo lư trí không tự do, tức lư trí chỉ
dừng lại nơi vật thể, không vượt lên
trên tri thức vật thể.
Một
cách b́nh thường, chúng ta vẫn nói ư chí tự do, v́ ư chí
là hành vi tự do của tinh thần tự do, thực
hiện chính hành vi muốn đó hay không, là tùy nơi
hiện hữu tự do này.
Theo
Thánh Thomas, ư chí là tham dục trí tuệ tuân theo sự
nhận thức của lư trí. Thánh Thomas chia tham dục làm ba
cấp độ: vọng dục, nộ dục, và ư chí.[139]
Tham dục tự nhiên là khuynh hướng tuân theo mô thể
tự nhiên; tham dục cảm giác là khuynh hướng tuân
theo mô thể cảm giác; tham dục trí tuệ (trí dục)
là khuynh hướng tuân theo mô thể tri thức.[140]
Theo
Aristote, "tham dục là khuynh hướng hoạt
động của mọi hữu thể hướng
về thiện hảo của ḿnh." Sở dĩ như
vậy, v́ "mọi cái hoạt động đều
hoạt động hướng về mục đích,"
và mục đích đây là cái thiện hảo.[141]
Theo K.
Rahner, thái độ tuyệt đối cần thiết mà
hiện hữu bất tất phải có là ư chí.[142]
Khởi từ nhận định con người
đặt vấn nạn về hữu thể, K. Rahner lư
luận: "trong mức độ con người tự
vấn về hữu thể, con người khẳng
định tính hữu hạn bất tất của ḿnh, và
trong mức độ con người phải tra vấn, con người khẳng
định cách tất yếu
hữu thể bất tất của ḿnh. Điều này hàm
chứa, đối với hiện hữu hữu hạn
bất tất của ḿnh, con người phải có
một thái độ; nói cách khác, con người phải có
thái độ cần thiết đối với hiện
hữu bất tất của ḿnh. Và thái độ tuyệt
đối của hiện hữu bất tất này là ư chí."[143]
Thiện
hảo là điều mọi hiện hữu nghiêng chiều
về, thế nhưng mức độ hiện hữu
nơi mỗi hữu thể khác nhau,[144]
nên cái thiện hảo của mỗi hiện hữu nghiêng
chiều về cũng ở những mức độ khác
nhau. Vật thể tự nhiên nghiêng chiều theo luật
tự nhiên, vật thể giác quan nghiêng chiều về cái
thiện hảo của nó theo bản năng, và hiện
hữu tinh thần nghiêng chiều về thiện hảo
được nhận thức bởi lư trí.
Nơi
các hiện hữu không là tinh thần, nghiêng chiều này
không thể chống cưỡng được; c̣n
với hiện hữu tinh thần, dù đây là nghiêng
chiều tất yếu nhưng là tất yếu theo
bản tính được lư trí nhận ra, th́ tinh thần
vẫn tự do. Nói theo cách vẫn thường
được dùng, ư chí tự do. Chẳng hạn nghiêng
chiều hướng về hiện hữu tất yếu
tuyệt đối, hiện diện nơi mọi hiện
hữu bất tất- cụ thể là nơi con
người, thế nhưng con người vẫn tự
do, con người tự do vươn lên hay ở lại
nơi sự vật.
Nói
tới con người là phải nói tới t́nh yêu, cũng
như nói tới con người là phải nói tới tri
thức. T́nh yêu là tư thái căn bản của con
người. Vậy t́nh yêu là ǵ?
Người
ta ham mê tiền bạc danh vọng, chứ người ta
không yêu tiền bạc danh vọng, yêu là hành vi tương
quan giữa người với người, giữa ngôi
vị và ngôi vị, chứ không là tương quan giữa
người và đồ vật, giữa ngôi vị và
vật thể. T́nh yêu là tương quan liên vị.
T́nh
yêu là nghiêng chiều của một ngôi vị về một
ngôi vị. T́nh yêu là ư muốn có đối tượng là
ngôi vị.[145]
Ư chí con người luôn luôn tự do. T́nh yêu là hành vi tự
do, nghĩa là con người luôn luôn có thể cưỡng
lại được. Nếu "yêu" ai tới
mức độ không thể cưỡng lại
được, th́ đó không là t́nh yêu mà là thèm muốn
đam mê. Khi ấy, người đó không tự do mà
đang sống trong t́nh trạng bản năng. Đối
tượng của bản năng không là ngôi vị
nhưng là vật thể, hoặc giác thể.
Con
người có thể cưỡng
lại t́nh yêu; nhưng con người không được phép cưỡng lại t́nh yêu
v́ con người là hiện hữu tự do; nếu con
người cưỡng lại t́nh yêu, con người
không tự do đích thực.
Tương quan giữa ngôi vị và ngôi vị, giữa
người với người, phải là tương quan
t́nh yêu; nếu không là tương quan t́nh yêu, đó không là
hành vi của những hiện hữu tự do đích
thực. T́nh yêu là hành vi tự do, là ư muốn hướng
tới ngôi vị.
Con
người tự do lắng nghe mặc khải
Con
người với lư trí nhận biết sự vật qua
giác quan, nhận biết chính ḿnh, và hơn nữa có thể
vượt trên sự vật khả giác để nhận
biết hiện hữu tất yếu tuyệt đối
tự do. Với khả năng siêu vượt, con người
là tinh thần nhập thể tự do.
Con
người là tinh thần tự do. Điều này
được nhận thấy khi con người biết
ḿnh có thể chọn làm điều này hay điều kia.
Đành rằng con người có nhiều giới hạn và tùy
thuộc nhiều yếu tố, nhưng con người
vẫn cảm thấy và biết ḿnh tự do. Con
người biết ḿnh có thể làm hay thực hiện
một hành vi bất tất.[146]
Thường
người ta nói ư muốn tự do chứ không nói lư trí
tự do, thế nhưng chính lư trí cũng có thể là lư trí
tự do hay không. Ư muốn tùy thuộc lư trí, nhưng chúng ta
trong kinh nghiệm cũng thấy có những khi muốn
không theo lư trí, lúc này con người vẫn tự do
nhưng thực sự nó không tự do đích thực. Con
người tự do đích thực khi con người theo
những ǵ lư trí thấy là đúng.
Con
người tự do đích thực, sống theo lư trí,
không dừng lại ở b́nh diện sự vật
nhưng vươn lên, siêu vượt lên khỏi vật
chất để hướng tới hiện hữu
tất yếu tuyệt đối tự do. Lư trí không
tự do khi lư trí chỉ dừng lại nơi sự
vật, không vươn khỏi sự vật để
hướng tới hiện hữu tuyệt đối,
nhưng theo bản năng, theo những ǵ thuộc về
vật chất. Lúc này voluntas non sequitur intellectum, mà intellectus
sequitur voluntatem. Và ư muốn lại theo bản năng
chứ không theo lư trí. Lư trí theo ư muốn, theo bản
năng, theo những ǵ là vật chất, không vươn
lên thực tại siêu việt, là lư trí không tự do. Lúc
đó con người không c̣n là tinh thần nữa, dù
thực sự con người vẫn có khả năng là
tinh thần (hiểu theo nghĩa, con người vẫn có
thể siêu vượt khỏi cái khả giác). Chỉ khi
nào con người với lư trí vượt lên trên cái
khả giác, vươn tới hiện hữu tất yếu,
con người mới là tinh thần đích thực, lư trí
con người mới tự do đích thực.
Dù có
nỗ lực giải thích lư do tại sao "lư trí không
tự do" nơi một số người hoặc
nơi mỗi người trong một số thời
điểm khác nhau trong cuộc đời, th́ yếu
tố chính yếu vẫn thấy, luôn nằm trong mọi
hành vi "không tự do,” là con người luôn luôn tự
do. Con người có tự do thực sự hay không, là do
chính mỗi người.
Thiên
Chúa có thể mặc khải cho con người trong
lịch sử, và thực sự Ngài đă mặc khải.[147]
Về phía con người, v́ là tinh thần nhập thể
tự do, con người vẫn tự do, tự do lắng
nghe và đáp trả.
Đau khổ, sự dữ là sự kiện và vấn
đề gây nhiều bức xúc cho con người. Con
người thường bị dằn vặt với
những tra vấn:
con người từ đâu tới? con người đi
về đâu?
tại sao con người đau khổ? làm sao để
con người hạnh phúc?
Khao
khát hạnh phúc- hiện tại và vĩnh cửu, luôn là
một vấn đề, luôn là điều làm con
người bận tâm.
Từ
ngàn xưa, con người đă khổ công đi t́m
hạnh phúc, đi t́m phương thuốc làm con
người có thể sống trường sinh bất
tử! Bao nhiêu tôn giáo xuất hiện nhằm chỉ cho con
người con đường giải thoát khỏi
những đau khổ và đạt tới cơi vĩnh phúc.
Hạnh
phúc đích thực và vĩnh cửu không hoàn toàn nằm
trong tầm tay của con người, nó là một ơn, là
sự chia sẻ và thông hiệp giữa Thiên Chúa và con
người, là chính sự sống của Thiên Chúa, là t́nh
yêu của Thiên Chúa đối với con người và
của con người đối với Thiên Chúa.
Từ thuở xa xưa cho
đến nay, con người không đặt nặng
"biết" bằng "sống,” và nhất là
sống hạnh phúc. Chính đời sống hạnh phúc
sẽ chi phối cái nh́n về mặc khải.
Sách
Sáng Thế chương 1-11, nói về tạo dựng và
tương quan giữa Thiên Chúa và con người
trước khi Abram xuất hiện.[148]
St 1-11
cho biết cái nh́n của truyền thống Do Thái về
thời kỳ tiền-Abraham.
Tŕnh
thuật St 1:1- 2:4a cho thấy Thiên Chúa tạo dựng
tất cả bằng lời (Ngài phán, và vạn sự
vạn vật hiện hữu); Ngài tạo dựng con
người giống h́nh ảnh Ngài, Ngài ban quyền
thống trị muôn loài vạn vật cho con người;
Ngài tạo dựng con người như chóp đỉnh
của muôn loài vạn sự. Theo truyền thống tư
tế (P) của tŕnh thuật này, Thiên Chúa hài ḷng v́ những
điều Ngài tạo dựng tốt lành quá đỗi (St
1:31). Thiên Chúa tạo dựng và Ngài yêu thương con
người.
Tŕnh
thuật St 2:4b-25 cũng cho cái nh́n về nguồn gốc
con người trong tương quan với Thiên Chúa. Thiên
Chúa tạo dựng con người không chỉ từ bùn
đất, nhưng c̣n bởi chính hơi thở của
Ngài (St 2:7). Con người được hưởng dùng
tất cả mọi hoa trái trên đất, kể cả
cây sự sống, chỉ trừ cây biết tốt
xấu; con người bá chủ[149]
vạn vật.
Ở
lần san định Ngũ kinh vào khoảng năm 400
trước công nguyên, tác giả đă lấy hai truyền
thống tư tế P và truyền thống Y[150]
về tạo dựng để làm thành phần đầu
của quyển sách Kinh Thánh đầu tiên.
Trong
cái nh́n truyền thống Do Thái này, thời đầu con
người sống trong t́nh thương yêu của Thiên
Chúa; con người sống trong hạnh phúc, sống trong
sự ḥa hợp thân mật với Thiên Chúa và với nhau.
Thiên Chúa săn sóc con người (St 2:20tt), con người
khắn khít với nhau (St 2:24) và không bị dằn vặt
đau khổ (St 2:25). Thuở đầu, khi Thiên Chúa
tạo dựng con người, không có đau khổ v́ Thiên
Chúa tạo dựng tất cả đều tốt lành.
Đau
khổ chỉ có từ khi con người phạm tội
(St 3:16-17); và đau khổ tột cùng là cái chết (St 3:19).
Tương quan tốt lành giữa Thiên Chúa và con
người bị găy đổ (St 3:23-24.8) bởi con
người đă ăn trái cây bị cấm (St 3:11).
Vấn đề ở đây không là ăn một trái cây,
nhưng là lỗi một mệnh lệnh, và hơn thế
nữa, nghi ngờ t́nh yêu Thiên Chúa, tin vào con rắn hơn
tin vào Thiên Chúa (St 3:4tt).
Điều
đáng lưu ư ở đây, không phải là con người
muốn nên một trong những vị thần linh (St 3:5),
nhưng là con người muốn độc lập
với Thiên Chúa.[151]
Từ
khi con người phạm tội, con người cảm
thấy xấu hổ và đổ lỗi cho nhau (St 3:12),
con người không c̣n thấy tha nhân và Thiên Chúa mang lại
hạnh phúc cho ḿnh nữa (St 2:23; 3:8-9).
Hạnh
phúc đích thực chỉ có khi con người sống
trong Thiên Chúa, trong t́nh yêu của Thiên Chúa, sống trong
tương quan tốt với Thiên Chúa. Khi con người
sống trong tương quan tốt với Thiên Chúa, con
người sẽ sống hạnh phúc với nhau.
Truyền
thống Do Thái qua các tác giả san định Ngũ Kinh
lần cuối cho thấy vấn đề sống
(đau khổ hay hạnh phúc) tùy thuộc siêu h́nh, tùy
thuộc quan niệm về nguồn gốc vũ trụ và
con người. Cuộc sống (hiện sinh) đặt
vấn đề, siêu h́nh (tri thức) giúp hiểu biết
vấn đề tận ngọn nguồn, và rồi con
người giải quyết bằng chính cuộc sống.
Chỉ trong nhăn quan này, mới thấy việc nghiên cứu
mặc khải là hữu ích, là liên hệ tới cuộc
sống, là giúp con người sống hạnh phúc, giúp con
người vươn tới ơn cứu độ.
Hạnh
phúc đă mất khi con người phạm tội.
Tương quan tốt lành giữa con người và Thiên
Chúa cũng như giữa con người với nhau, đă
bị con người phá hủy khi phạm tội;
nhưng Thiên Chúa đă nói một lời gây lạc quan hy
vọng cho con người (St 3:15). Thiên Chúa đi t́m con
người ngay khi con người trốn Ngài (St 3:9). Thiên
Chúa không muốn cắt đứt liên lạc với con
người, Ngài vẫn muốn đối thoại
với con người; Ngài chủ động nối
lại tương quan với con người dù
tương quan này đă bị con người phá hủy.
St 4-11
cho thấy cái nh́n về tương quan giữa Thiên Chúa và
con người cũng như giữa con người
với nhau. Tương quan giữa con người với
nhau cũng ảnh hưởng đến tương quan
giữa con người và Thiên Chúa.
Tŕnh
thuật St 4 cho thấy Abel bị Cain giết và Yahweh đă
can thiệp (St 4:9tt). Phạm tội là chống lại
Trời, con người và cả đất nữa. Đau
khổ gia tăng, con người không chỉ phải
vất vả mới có của ăn (St 3:19), nhưng c̣n
hơn thế, đất đai không c̣n cho hoa trái nữa (St
4:12).
Tội
lỗi càng ngày càng gia tăng (St 4:23) đến độ
đời sống con người giảm tuổi thọ
(St 6:3); và hơn nữa "Yahweh đă thấy sự
dữ của loài người đă ra nhiều trên
đất... và Yahweh đă hối tiếc v́ đă làm ra con
người trên đất, và Người đă phải
đau phiền trong ḷng Người" (St 6:5-6). Lụt
hồng thủy là hậu quả của tội (St 6:7).
Nhưng Thiên Chúa là Đấng giàu ḷng thương xót, Ngài
vẫn muốn cứu độ con người qua Noe (St 6:8tt).
Truyền
thống Do Thái ngay trong 11 chương đầu của
sách Sáng Thế cho thấy Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ,
là Đấng vẫn yêu thương con người ngay cả
lúc con người đang nhận lănh h́nh phạt như
hậu quả của tội:
khi
Adam phạm tội, Thiên Chúa có lời hứa cứu
độ (St 3:15);
khi
Cain giết em, lời hứa Cain không bị giết
trả thù (St 4:15);
khi
loài người quá tội lỗi và bị phạt hồng
thủy, Thiên Chúa cứu độ Noe và thiết lập
giao ước với ông, và qua ông với cả loài
người (St 9:8-17).
Thiên Chúa
cứu độ con người, để con
người được sống và sống hạnh phúc
với Thiên Chúa và với nhau.
Trong
thời kỳ trước Abraham, Thiên Chúa tỏ lộ
như Đấng tạo dựng vũ trụ vạn vật
và Nguồn hạnh phúc. Thiên Chúa là sự sống và là
Đấng làm cho muôn vật được sống; ở
ngoài Thiên Chúa, độc lập với Thiên Chúa, chỉ là
diệt vong.
C̣n
với Abraham, Thiên Chúa tỏ lộ cho thấy Ngài là
Đấng kêu gọi ông, đề nghị ông đi tới
nơi Ngài sẽ chỉ cho ông, hứa sẽ cho ông có con
nối ḍng[152]
và sẽ cho con cháu ông trở thành một dân lớn, làm ông
trở thành nguồn chúc phúc và bảo vệ ông.
Abram là con của Têrakh, quê ở xứ Kanđê. Têrakh
đă đưa con cái ḿnh xuống Haran (St 11:27.31).
Thiên
Chúa đă phán với Abram:[153]
"hăy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê
quán ngươi, khỏi nhà cha ngươi, đến
đất Ta sẽ chỉ cho ngươi; Ta sẽ cho
ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc lành cho
ngươi, và Ta sẽ cho danh ngươi nên lớn lao,
ngươi sẽ là một mối chúc lành. Ta sẽ chúc
lành cho những ai chúc lành cho ngươi, ai mà nói
động đến ngươi, Ta sẽ chúc dữ,
mọi thị tộc trên trần sẽ lấy
ngươi mà cầu chúc cho nhau" (St 12:1-3).
Lời
hứa này thật quan trọng đối với Abraham, v́
Sara không có con; và không con là một tội lớn đối
với năo trạng đông phương: tuyệt tự!
Lời Thiên Chúa phán với ông, bảo đảm rằng
ông sẽ có con nối ḍng, và ḍng giống từ nơi ông
sẽ thành một dân lớn mạnh.
Thiên
Chúa và lời hứa của Ngài đối với Abraham,
chi phối trọn đời Abraham. Abraham đă đi theo
lời Chúa phán bảo ông (St 12:4). Ông trở thành
người sống dựa vào lời hứa của Thiên
Chúa, nghĩa là ông tựa vào Thiên Chúa. Thiên Chúa đă hiện
ra và phán bảo Abraham: "Ta sẽ ban xứ này cho ḍng
giống ngươi" (St 12:7).
Thiên
Chúa hứa ban đất cho ḍng giống Abraham! C̣n với
Abraham? "Hăy ngước mắt lên và từ chỗ
ngươi đứng, hăy nh́n từ phía: Bắc, Nam, Đông,
Đoài. V́ toàn xứ ngươi thấy đó, Ta sẽ ban cho
ngươi và ḍng giống ngươi cho đến
vạn đại... Hăy chỗi dậy rảo khắp
xứ chiều ngang chiều dọc, v́ Ta sẽ ban
đất ấy cho ngươi (St 13:14-17). Thiên Chúa đă
ban đất vùng này cho Abraham, nhưng cho tới khi Sara
chết, Abraham c̣n phải mua đất để chôn
vợ (St 23:4tt); và khi Abraham chết ông cũng
được chôn cất tại chốn này (St 25:10).
Lời
Chúa hứa với Abraham đang được thực
hiện, nghĩa là lời hứa này chưa hoàn toàn thành
tựu; v́ thế Thiên Chúa vẫn thường lập
lại lời hứa này với Abraham:
"Sau
các điều ấy, lời của Yahweh đến
với Abram trong thị kiến mà rằng: Đừng sợ,
Abram, Ta là khiên mộc cho ngươi; phần thưởng
ngươi sẽ bội hậu. Abram thưa: Lạy Chúa
Yahweh, người sẽ ban ǵ cho tôi, trong khi tôi vô hậu ra
đi c̣n kẻ thừa tự gia đ́nh tôi lại là
Êliêzer, người ở Dama...
Và này
lời Yahweh phán với ông rằng: Nó sẽ không thừa
kế ngươi đâu, những kẻ sẽ phát
xuất từ ḷng dạ ngươi sẽ kế thừa
ngươi.
Người
đă dẫn ông ra ngoài trời và phán: Hăy nh́n lên trời, và
hăy đếm tinh sao, nếu ngươi có tài đếm
được chúng. Đoạn người phán bảo ông:
Ḍng giống ngươi sẽ như thế. Và Abram đă
tin vào Yahweh và sự ấy Người đă kể cho ông
như sự công chính (St 15:1-6)."
Lời
hứa ban phần đất cho Abraham và con cháu ông cũng
được lập lại:
"Người
đă phán với ông: Ta, Yahweh, Ta đă đem ngươi ra
khỏi Ur của dân Kanđê, để ban cho ngươi
đất này làm cơ nghiệp" (St 15:7).
"Ngày
hôm ấy Yahweh đă kết ước với Abram
rằng: cho ḍng giống người, Ta sẽ ban thửa
đất này từ sông Ai cập cho đến sông Cả,
sông Phơrát..." (St 15:18).
Giao
ước là lời thề hứa long trọng có
điều kiện kèm theo.
Năm
Abram[154]
được 99 tuổi, Thiên Chúa đă kư kết giao
ước với Abram, và đổi tên ông thành Abraham (St 17:5),
đổi tên Saray thành Sara (St 17:15).
Sáng
Thế tŕnh bày giao ước này trong chương 17:
"Khi
Abram được 99 tuổi, th́ Yahweh đă hiện ra cho
ông và phán với ông: Ta là El-Shadday, hăy bước đi
trước mặt Ta và ở cho trọn lành. Ta sẽ ban
giao ước giữa Ta và ngươi, Ta sẽ cho
ngươi sinh sôi đông lắm, đông lắm.
(Và)
Abram phục ḿnh sấp mặt xuống.
Và
Thiên Chúa phán bảo ông rằng:
Phần
Ta, này giao ước của Ta với ngươi:
ngươi
sẽ là cha của hằng hà sa số dân tộc...
Ta
sẽ lập giao ước giữa Ta và ngươi, và
ḍng giống ngươi sau ngươi qua các thế
hệ, làm giao ước vạn đại,
ngơ
hầu Ta là Thiên Chúa của ngươi và của ḍng
giống ngươi sau ngươi.
Và Ta
sẽ ban cho ngươi và ḍng giống ngươi sau
ngươi đất ngươi nương ngụ, toàn
cơi đất Canaan, làm sở hữu vạn đại, và
Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng.
(Và)
Thiên Chúa phán với Abram:
C̣n
ngươi, ngươi sẽ giữ lấy giao
ước của Ta, ngươi và ḍng giống
ngươi sau ngươi, qua các thế hệ. Này là giao
ước các ngươi sẽ giữ lấy, giữa Ta
và các ngươi, và ḍng giống ngươi sau
ngươi: mọi nam nhân trong các ngươi đều
sẽ chịu cắt b́" (St 17:10).
Tương
quan giữa Thiên Chúa và Abraham, cũng chính là tương quan
giữa Thiên Chúa và con người.
Trong
những đoạn St 12 và St 15 cùng St 17, Thiên Chúa là Đấng
ban cho Abraham lời hứa và giao ước; c̣n trong St 18
Thiên Chúa cư xử thật thân t́nh đối với
Abraham:
Thiên
Chúa đă hiện ra cho Abraham nơi cây sồi Mamrê
dưới dạng ba người (St 18:1); Thiên Chúa đă
chấp nhận để được Abraham hầu
hạ phục vụ (St 18:3-5); Yahweh đă tỏ cho Abraham
biết những điều kín, những điều
Người sắp làm (St 18:16-21) sau khi đă thăm
hỏi tṛ chuyện với Abraham về những chuyện
riêng của ông như gia đ́nh vợ con (St 18:9-15);
Abraham
đă nài nỉ xin Chúa đừng phạt dân Sođôm
nếu ở đó chỉ có 10 người công chính.
Yahweh
đối xử với Abraham thật thân thiết (St 18).
Ngài là Đấng bảo vệ Abraham và những quyền
lợi của ông. Ngài sẵn sàng nghe lời Abraham cầu
xin[155]
(St 20:7.17-18).
Yahweh
Thiên Chúa không chỉ là Đấng ban lời hứa và kư
kết giao ước với Abraham, Ngài c̣n là Đấng
đ̣i hỏi con người phải tin tưởng
tuyệt đối vào Ngài. Chính Thiên Chúa đă phán với
Abraham: "nơi Isaac, ngươi sẽ có ḍng giống
đội tên ngươi" (St 22:2); nhưng cũng chính
Thiên Chúa đă phán cùng ông: "Abraham, ngươi hăy lấy
con ngươi, con một ngươi, ngươi yêu
dấu tức là Isaac, mà đi tới đất Moriyah và
ở đó, hăy dâng nó làm của lễ thượng
tiến trên một quả núi Ta sẽ tỏ cho
ngươi" (St 22:2).
Abraham
đă làm theo lời Chúa phán cùng ông! "Khi họ
đến nơi Thiên Chúa phán cùng ông, th́ Abraham xây tế
đàn ở đó, rồi sắp củi, và trói Isaac con ông
mà đặt lên tế đàn, trên đống củi,
đoạn Abraham giơ tay cầm lấy dao phay để
tế sát con" (St 22:9-10). Nhưng thần sứ Giavê
từ trời phán bảo ông:
"Abraham,
Abraham, đừng giơ tay hại đứa trẻ,
đừng làm ǵ đến nó, v́ bây giờ ta biết
ngươi là người kính sợ Thiên Chúa: con một
ngươi, ngươi đă không từ chối với
Ta" (St 22:11-12). Và Thiên Chúa lại tái xác nhận lời
hứa Ngài đă ban cho ông một cách long trọng, Thiên Chúa
đă thề:
"Lần
thứ hai thần sứ Yahweh gọi Abraham từ trời
và phán: Ta lấy ḿnh Ta, Ta thề, sấm của Yahweh: v́
ngươi đă làm điều ấy, và đă không từ
chối (với Ta) con một ngươi, th́ Ta sẽ ban
phúc chúc lành cho ngươi, Ta sẽ làm cho ḍng giống
ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên trời,
như cát băi biển, và ḍng giống ngươi sẽ
chiếm cửa thành quân địch. Mọi dân thiên hạ
sẽ lấy ḍng giống ngươi mà cầu phúc cho nhau,
bởi v́ ngươi đă vâng nghe tiếng Ta" (St 22:15-18).
Mặc
khải là hành vi Thiên Chúa cứu độ con người!
Ngài tỏ cho con người biết Ngài là ai và con
người là ai (St 1-2), Ngài cũng tỏ cho Abraham và qua
Abraham cho tất cả mọi người, biết: Ngài
đă tuyển chọn Abraham, Ngài trở thành Đấng ban
lời hứa và Đấng bảo vệ Abraham trong suốt
đời ông.
Thiên
Chúa là Đấng tuyển chọn Abraham, là Đấng ban lời
hứa, là Đấng bảo vệ Abraham. Nhưng nếu Abraham không biết th́ Abraham đă không thể đáp
trả lời mời gọi và những đ̣i hỏi
của Thiên Chúa, và nếu vậy Abraham đă không
được cứu, và như vậy việc Thiên Chúa tuyển
chọn Abraham có ích ǵ cho ông? Con người chỉ là
người trọn vẹn khi con người hành
động một cách tự do, có ư thức. Chính v́ thế
Thiên Chúa đă tỏ lộ cho con người biết
về Thiên Chúa, về chính con người, và về cả
vũ trụ nữa.
St 12:1
cho biết "Yahweh phán với Abram.” Nhưng bằng cách
nào? qua trung gian nào?
Thiên
Chúa th́ vô h́nh; c̣n con người là tinh thần và thân xác; con
người thiết yếu biết qua trung gian khả
giác. Ở đây không thấy Kinh Thánh đề cập
đến bằng cách nào Abram biết được là
Chúa phán với ông; nhưng một điều Kinh Thánh
khẳng định: "Yahweh phán với Abram," Abram
đă ư thức điều này với tất cả sự
chắc chắn, không có một chút xíu nghi ngờ.
St 12:7:
"Và Yahweh đă hiện ra cho Abram và phán bảo ông ...."
Ở đây cũng không thấy Kinh Thánh nói Yahweh đă
hiện ra cho Abram như thế nào, dưới h́nh ǵ (x. St
17:1).
St 18:1-2:
"Yahweh đă hiện ra cho ông nơi cây sồi Mamrê... ông
ngước mắt lên, th́ này: có ba người đứng
bên ông." Ở đây Kinh Thánh cho biết: Thiên Chúa đă
hiện ra cho Abraham dưới dạng h́nh người. Hai
trong ba người Abraham đă thấy, được
gọi là thần sứ (St 19:1), c̣n Yahweh vẫn
đứng lại trước mặt Abraham (St 18:22).
St 16:7-13
cho thấy thần sứ của Yahweh đă phán với
Hagar, thị tỳ của Sara. Và sau đó Hagar cho là Yahweh
đă phán với nàng: "Và nàng gọi danh Yahweh Đấng
phán với nàng: "Người là El-Roy”[156]
(St 16:13). Nơi các bản văn xưa, thần sứ
của Yahweh không là tạo vật khác với Thiên Chúa.[157]
St 15:1:
"Sau các điều ấy, lời của Yahweh
đến với Abram trong thị kiến mà rằng....”
Kinh Thánh nói "lời đến trong thị kiến,"
nhưng không thấy qua trung gian người nói hay nhờ
trung gian nào khác.
St 20:3:
"Thiên Chúa đến với Abimêlek trong mộng ban
đêm và phán bảo ông ...." Theo ghi chú trong bản
dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn: mộng báo ban
đêm là một đặc điểm của nguồn
văn E (St 28:11; 31:11-14; 37:5tt; 40:5tt; 41:1tt; 46:2); đó là
một cách tả thần hiện được coi là
xứng đáng hơn với tính siêu việt của Thiên
Chúa.
Lời
hứa Thiên Chúa đă ban cho Abraham, Ngài lập lại
với Isaac: "Đừng xuống Ai cập; hăy ở
lại trong xứ, ta sẽ nói cho ngươi. Hăy ngụ
lại trong xứ này: Ta sẽ ở với ngươi, Ta
sẽ chúc lành cho người và Ta sẽ ban cho ngươi,
và ḍng giống ngươi tất cả xứ này. Ta
sẽ giữ lời Ta thề với Abraham cha
ngươi. Ta sẽ cho ḍng giống ngươi nên đông
đảo như sao trên trời, Ta sẽ ban cho ḍng
giống ngươi tất cả các xứ này. Mọi dân
thiên hạ sẽ lấy ḍng giống ngươi mà cầu
phúc cho nhau, bởi chưng Abraham đă vâng nghe Lời Ta và
đă giữ trọn đạo với Ta, các luật
điều, các thánh chỉ của Ta" (St 26:2-5).
Cũng
tại Ghêrar này, "Yahweh đă hiện ra cho ông chính đêm
ấy và phán: Ta là Thiên Chúa của Abraham, cha ngươi.
Đừng sợ, v́ Ta ở với ngươi! Ta sẽ chúc
lành cho ngươi, Ta sẽ cho ḍng giống ngươi nên
đông đảo, v́ Abraham tôi tớ của Ta" (St 26:24).
Trong
hai lần mặc khải cho Isaac được trích ở
trên, Kinh Thánh nói Thiên Chúa hiện ra và phán
(St 26:2. 24); ở câu 24: Thiên Chúa hiện ra vào ban đêm.
Cả trong hai lần hiện ra, Thiên Chúa đều
hứa: "Ta sẽ ở với ngươi." Thiên
Chúa ở với ai, người đó sẽ
được chúc phúc. Lời chúc phúc ở đây thật
cụ thể: ḍng giống đông đảo, và có
đất làm phần cơ nghiệp (St 26:3. 4).
Trong
hai lần hiện ra, Thiên Chúa đều nhắc tới
Abraham; ngoài những tên để chỉ Thiên Chúa như
El-Roy, El-Shadday, c̣n thấy xuất hiện một cách
để chỉ Thiên Chúa, đó là: Thiên Chúa của Abraham (St
26:24).
Những
điều Thiên Chúa đă hứa với Abraham và Isaac, th́
Ngài cũng lập lại với Giacóp. Thiên Chúa đă
hiện ra với Giacóp trên đường ông tới Haran:
"Giacóp chiêm bao: th́ này có một thang cấp dựng trên
đất, nhưng chóp đỉnh thấu trời. Và này
có những thần sứ của Thiên Chúa lên lên xuống
xuống trên đó. Và này Yahweh đứng bên chàng.
Người phán: Ta là Yahweh, Thiên Chúa của Abraham cha
ngươi, Thiên Chúa của Isaac. Đất ngươi
đang nằm, Ta sẽ ban cho ngươi và ḍng giống
ngươi. Ḍng giống ngươi sẽ đông như
cát bụi bành trướng ra Đông Tây Nam Bắc. Mọi tông
tộc trên trần sẽ lấy ngươi mà cầu phúc
cho nhau. Và này Ta sẽ ở cùng ngươi, Ta sẽ ǵn
giữ ngươi khắp nơi ngươi đi, Ta
sẽ đem ngươi về lại đất đai
này, v́ Ta sẽ không bỏ ngươi, sao cho đến lúc
Ta hoàn tất các điều Ta phán với ngươi" (St
28:12-15).
"Giacóp
đă tỉnh giấc và nói: hẳn thật có Yahweh ở
chốn này mà tôi không biết" (St 28:16).
"Giacóp
đă khấn với Chúa rằng: Nếu Thiên Chúa ở cùng
tôi, và ǵn giữ tôi trên đường tôi đang đi,
nếu người cho tôi có bánh ăn, áo mặc, nếu tôi
được trở về nhà cha tôi b́nh an vô sự, th́
Yahweh sẽ là Thiên Chúa của tôi và viên đá tôi đă
dựng làm thạch trụ sẽ là nhà của Thiên Chúa. Và
trên mọi điều Người ban cho tôi, tôi sẽ trích
thập phân dâng Người" (St 28:20-22).
Đọc
các tŕnh thuật ghi lại cuộc đời của Giacóp,
người ta thấy quả thực Thiên Chúa đă
dẫn dắt ông, đă đưa ông đi và dẫn ông
về. Sau khi Giacóp đă có vợ con và tài sản, chính Thiên
Chúa đă ra lệnh cho ông trở về: "Yahweh phán
bảo Giacóp: Hăy trở về đất cha ông ngươi
ở, về quê quán của ngươi và Ta sẽ ở
cùng ngươi" (St 31:3).
Thiên
Chúa cũng đă can thiệp với Laban để ông không
đụng chạm ǵ tới Giacóp (St 31:24. 29). Giacóp cũng
được Thiên Chúa đổi tên thành Israel, như Thiên
Chúa đă đổi tên cho Abram và Sara (St 32:29; 35:10).
Yahweh
Thiên Chúa đă hứa Ngài sẽ ở với ông, và
điều này thể hiện qua cuộc đời
của ông, qua những may mắn ông gặp trên đời,
qua những tài sản ông kiếm được. Điều
này chính Giacóp cũng đă thấy khi ông đến Bêthel
dâng lời tạ ơn Thiên Chúa: "hăy khử bỏ các
thần xa lạ khỏi giữa các ngươi, hăy thanh
tẩy ḿnh và thay y phục. Rồi ta hăy chổi dậy
đi lên Bêthel. Ở đó tôi sẽ làm tế đàn kính
Thiên Chúa, Đấng đă nhậm lời tôi trong ngày quân bách, Đấng đă ở với tôi
trên đường tôi đi" (St 35:2-3).
Thiên
Chúa đă ở với Giacóp để giải cứu ông,
để độ tŕ ông làm ăn phát đạt. Yahweh
đă thành nguồn hạnh phúc của Giacóp.
Yahweh
Thiên Chúa đă hiện ra cho Môsê nơi bụi gai bốc cháy
nhưng không tàn, và Người phán: "khi ngươi
dẫn dân ra khỏi Ai cập... các ngươi sẽ
thờ Thiên Chúa trên núi này" (Xh 3:12). Biến cố
Xuất Hành đi liền với giao ước trên núi
Sinai, biến cố xuất hành hướng về giao
ước tại Sinai. Ở đây t́m hiểu khía cạnh
mặc khải trong biến cố xuất hành- giao
ước này.
Trong
tŕnh thuật ơn gọi Môsê ở Xh 3, Thiên Chúa tự
giới thiệu Ngài là "Thiên Chúa của Cha ngươi,
Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp"
(Xh 3:6).
Thiên
Chúa là Đấng thương cảm dân Người: "Ta
thấy rơ nổi khổ của dân Ta bên Ai cập, và Ta
đă nghe tiếng than chúng kêu lên trước mặt
đốc công, quả Ta đă biết các khổ đau
của chúng" (Xh 3:7).[158]
Và Thiên Chúa quyết định: "Nên Ta xuống giựt
chúng thoát tay Ai cập và dẫn chúng ra khỏi xứ
ấy, lên xứ vừa đẹp vừa rộng, lên
xứ chan ḥa sữa mật. Vậy bây giờ ngươi
hăy đi. Ta sai ngươi đến với Pharaô;
ngươi hăy đem dân của Ta, con cái Israel ra khỏi Ai
cập" (Xh 3:8. 10).
Thiên
Chúa giải phóng con dân Israel ra khỏi Ai cập, bởi v́
"Thiên Chúa đă nhớ lại giao ước của
Người với Abraham, với Isaac, với Giacóp" (Xh
3:7.10; 5:1.7; 7:16.26). Thiên Chúa đă thương yêu và tuyển
chọn Abraham cùng ḍng dơi ông, chính v́ vậy Ngài đă
hướng dẫn cuộc đời của các tổ
phụ, đă ở với các ngài, đă cho các ngài gặp
may mắn trên đời, và bây giờ Ngài quyết
định giải phóng con cái Israel ra khỏi Ai Cập.
Không phải v́ con dân Israel luôn vâng theo lời Chúa mà Chúa
giải phóng họ,[159]
nhưng v́ Ngài yêu thương và tuyển chọn họ.
Môsê được chọn làm người đưa dân
Israel ra khỏi Ai Cập, v́ Thiên Chúa yêu thương dân
Người, chứ không phải v́ Môsê.[160]
Yahweh
phán với Môsê ở Madian: Đi đi! Hăy trở về Ai
cập[161]...
Môsê
đă cho dân biết cuộc gặp gỡ của ông
với Thiên Chúa và những điều Ngài nói với ông
về tương lai dân Ngài, nhưng không phải tất
cả đều tin và nghe (Xh 4:31; 5:21; 6:9.12).
Thái
độ của Pharaô đối với việc con dân
Israel ra đi:
Thiên
Chúa biết Pharaô không để dân đi[162]
(Xh 3:19-20; 4:21b; Xh 5:2; 6:1; 7:13). Môsê cũng đoán
được điều này: "Này con cái Israel đă
chẳng nghe tôi! Th́ làm sao Pharaô lại sẽ nghe tôi, một
kẻ cứng môi cứng miệng" (Xh 6:12). Do vậy
Yahweh Thiên Chúa đă cho Môsê có thể làm những dấu
lạ như gậy biến thành rắn (Xh 7:10tt),
nước hóa thành máu (Xh 7:17tt), ếch nhái (Xh.7:26tt),
ruồi muỗi (Xh 8:12tt), ruồi ṃng (Xh 8:16tt), ôn dịch (Xh
9:1tt), ung nhọt (Xh 9:8tt), mưa đá (Xh 9:13tt), châu
chấu (Xh 10:1tt), tối tăm (Xh 10:21); thế nhưng
Pharaô vẫn cứng ḷng (Xh 7:13.14; 8:11.15.28; 9:7.12.35; 10:20.27).
Dấu lạ cuối cùng là các con trưởng của Ai
cập bị chết (Xh 11).
Các
dấu lạ gây thiệt hại tài sản dân Ai cập, là
do tại sự cứng ḷng của vua Pharaô; kể cả
cái chết các con đầu ḷng của người Ai
cập cũng là do tội của Pharaô và toàn dân Ai cập
không chịu vâng phục ư Chúa, không "để dân Ngài ra
đi thờ phượng Ngài." Mạng sống con
người là tuyệt đối đối với con
người, con người không được phép xúc
phạm mạng sống của ḿnh và của anh em ḿnh; nhưng
mệnh lệnh của Thiên Chúa là tuyệt đối
đối với mọi sự: ai bất tuân th́ phải
chết.[163]
Và không phải chỉ các con đầu ḷng phải
chết, mà những ai cứng ḷng muốn bất tuân
lệnh Chúa, sẽ phải chết do chính lỗi của
ḿnh, khi đuổi theo dân Israel qua biển đỏ (Xh 14).
Trong
biến cố xuất hành khỏi Ai cập, Yahweh Thiên Chúa
là Đấng quyết định giải phóng dân Ngài khỏi
ách nô lệ Ai Cập; chính Ngài đă tuyển chọn Môsê
làm người dẫn dân Ngài ra khỏi Ai cập, và
cũng chính Ngài đưa ra lư lẽ để nói với
Pharaô: "Yahweh, Thiên Chúa của dân Hipri đă cho chúng tôi
gặp Người. Vậy bây giờ, xin cho chúng tôi đi
ba ngày đàng vào sa mạc tế lễ cho Yahweh Thiên Chúa
của chúng tôi" (Xh 3:18). Thiên Chúa Yahweh là lá cờ
giương cao của dân Israel trong biến cố giải
phóng dân khỏi Ai cập: "Yahweh Thiên Chúa của Israel
phán thế này: Hăy thả cho dân Ta đi, để chúng
trẩy lễ mừng Ta trong sa mạc" (Xh 5:1.3; 7:16.26; 8:4.16;
9:1.13; 10:3; 12:31).
Thiên
Chúa đă giải phóng con dân Israel khỏi ách nô lệ Ai
cập bằng nhiều điềm thiêng dấu lạ,
thế nhưng con dân Israel vẫn chưa tin tưởng
phó thác tương lai và cuộc sống trong tay Yahweh Thiên
Chúa. Họ vẫn nói những lời tỏ vẻ vô ơn
và bất cần Thiên Chúa: "Phải chi chúng tôi chết
đi bởi tay Yahweh trong đất Ai cập, khi c̣n
ngồi bên niêu thịt và được ăn bánh thỏa
thuê. Thật các ông đă đem chúng tôi ra sa mạc này
để làm cả lũ chết đói ở đây" (Xh
16:28).
Những
ǵ Yahweh truyền dạy dân qua Môsê, con dân Israel cũng không
tuân lệnh. Yahweh đă phán với Môsê: "Cho đến
bao giờ nữa, các ngươi sẽ từ
khước, không giữ lệnh truyền và luật
điều của Ta?" (Xh 16:28). Ở Massah và Mêribah,
họ c̣n thử thách Yahweh: "Có Yahweh ở giữa chúng
ta hay không?" (Xh 17:7).
Dầu
tất cả những điều ấy, Yahweh Thiên Chúa
vẫn muôn ngàn đời thành tín, Ngài trung thành với chính
Ngài, với điều Ngài đă hứa dù khi con người
phản bội Ngài. Ngài vẫn kư kết với dân một
giao ước, theo điều Ngài đă hứa với
Abraham, với Isaac và với Giacóp: "Ta sẽ lấy các
ngươi làm một dân thờ Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa các
ngươi, và các ngươi sẽ biết Ta là Yahweh, Thiên
Chúa của các ngươi, Đấng đem các ngươi ra
từ dưới ách khổ dịch của Ai cập"
(Xh 6:7).
Giao
ước là một lời hứa có điều kiện
kèm theo lời thề! Lời hứa có thể đến
từ một bên, tức đơn phương; thế
nhưng giao ước luôn luôn phải được
sự ưng thuận của cả đôi bên, tức song
phương. Trước khi có chữ viết, giao
ước là sự đồng ư của hai bên
được tuyên bố bằng lời trước
mặt những nhân chứng, với lời thề và
lời nguyền rủa theo nghi thức tế tự. Sau
này khi có chữ viết, bản văn thay thế
người chứng.
Người
thề hứa phải trung thành với những ǵ ḿnh giao
ước, không phải v́ người chứng nhưng v́
thần linh, họ sợ thần linh và sợ năng
lực lời họ đă thề theo công thức
nguyền rủa.[164]
Tŕnh
thuật trong sách Xuất hành, chương 19-24 cho thấy
giao ước giữa Thiên Chúa và con dân Israel
được kư kết:
·
Giới thiệu ngày tháng nơi kư kết giao
ước (Xh 19:1-2);
·
Cuộc đàm phán trao đổi giữa dân và Thiên
Chúa qua Môsê (Xh 19:3-15)
về nội dung giao ước (điều
kiện bảo đảm) (Xh 19:3-8)
về việc chuẩn
bị và thời gian kư kết (Xh 19:9-15).
·
Kư kết giao ước (Xh 19:16-24:8).
Toàn dân nghinh
đón Thiên Chúa và Thiên Chúa hiện diện (Xh 19:16tt);
Điều kiện
giao ước: thập giới (Xh 20:1-21. 22tt).
Toàn dân ưng
thuận (Xh 24:3).
Kư kết:
"Này là máu của giao ước đă kư kết với
các ngươi, thể theo mọi lời ấy" (Xh 24:8.4-8).
Đây là
bảo đảm của Thiên Chúa đối với con dân
Israel, trong giao ước Người kư kết với dân:
"Vậy, bây giờ, nếu các ngươi quyết nghe
tiếng Ta mà giữ giao ước của Ta, th́ các
ngươi sẽ là sở hữu của Ta giữa các dân
hết thảy, v́ toàn cơi đất đều là của Ta.
C̣n các ngươi, các ngươi sẽ là một
vương quốc tư tế cho Ta, một dân thánh" (Xh
19:5-6).
Theo
một số học giả, giao ước là nguyên lư
thống nhất quy tụ dân Israel xét như là một dân;
v́ vào thời quan án và quân chủ tiên khởi của Israel,
có nhiều nhóm dân với những nguồn gốc khác nhau
đă không chia sẻ kinh nghiệm xuất hành; v́ thế,
họ tháp nhập vào dân Israel qua việc chấp nhận
giao ước với Yahweh của Israel. Truyền thống
về những hành vi cứu độ dân Israel trở nên
truyền thống của cả nhóm, và những
điều khoản giao ước trở thành quy luật,
đặc biệt điều khoản chỉ thờ
Yahweh thôi. M. Noth giải thích Gs 24 như là một lễ nghi
tôn giáo, trong đó các nhóm khác nhau kư kết hiệp
ước chung quanh thánh tích. Các bộ lạc là những
chư hầu của Yahweh, và phải giữ ḥa b́nh với
nhau; họ không được giao ước với
bất cứ dân tộc hay thần linh nào khác.[165]
Thập
giới là điều khoản của giao ước Sinai
giữa Yahweh và toàn dân Israel. Thập giới không là luật
theo nghĩa b́nh thường đối với
người thời xưa hoặc ngay cả với
người thời nay: thập giới tỏ lộ ư
định của Thiên Chúa cho con người, và là nền
tảng của mọi luật lệ.[166]
Luật thập giới tỏ lộ ư định của
Yahweh cho toàn dân Israel, là điều khoản căn bản
của giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài; như
vậy, giữ thập giới là giữ giao ước
giữa Thiên Chúa và Israel, không giữ thập giới là
hủy bỏ giao ước giữa Thiên Chúa và Israel.[167]
Với
biến cố xuất hành khỏi Ai Cập và giao
ước trên núi Sinai, Thiên Chúa mặc khải Ngài yêu
thương và tuyển chọn dân Israel giữa các dân:
·
Ngài đă can thiệp vào ḍng lịch sử, Ngài
điều khiển ḍng lịch sử: Ngài đă giải
phóng dân Israel khỏi Ai cập! Qua lịch sử, con dân
Israel và mọi dân tộc khác có thể nhận ra bàn tay
của Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn dân Israel;
·
Ngài là Đấng bảo trợ dân, kư giao ước
với dân Israel, để biến dân Israel thành dân riêng
của Ngài, thành dân thánh và dân tư tế. Israel
được chọn làm dân riêng và được Thiên
Chúa kết ước với, không phải v́ dân Israel tài
đức hơn các dân tộc khác, nhưng v́ Thiên Chúa yêu
thương[168]
và tuyển chọn dân, v́ Thiên Chúa yêu thương và
tuyển chọn Abraham, Isaac, và Giacóp;
·
Thiên Chúa là Đấng ban luật cho Israel; Luật Yahweh
Thiên Chúa ban cho dân, nếu dân tuân giữ, sẽ là bảo
đảm dân là sở hữu của Thiên Chúa; và hơn
như vậy nữa, luật Yahweh ban cho dân Israel trong giao
ước, sẽ giúp dân trở nên giống Thiên Chúa là
Đấng Thánh, làm cho dân trở thành dân thánh của Thiên Chúa.
Thiên
Chúa đă mặc khải tên Ngài cho Môsê, và việc mặc
khải này là khởi đầu cho việc mặc khải
Ngài là Đấng tuyển chọn và giải phóng dân Israel
khỏi Ai cập.
Thiên
Chúa đă nói với dân qua Môsê, và qua trung gian Môsê Thiên Chúa
cũng nói với Pharaô và triều đ́nh Ai cập (Xh 19:19.21-25;
20:18-21). C̣n với chính Môsê, Thiên Chúa đă nói với ông qua
trung gian bụi gai gốc cháy nhưng không tàn (Xh 3). Sau
đó, Môsê sống rất thân mật với Thiên Chúa và
thường được Thiên Chúa phán bảo ông,
nhưng Kinh Thánh không cho biết Thiên Chúa phán bảo với
ông qua trung gian nào.
Qua
tŕnh thuật Xh 33:18-23; 34:6-7, con người và ngay cả
Môsê, không thể nh́n thấy Yahweh Thiên Chúa được;
cũng trong lần tỏ hiện này, Yahweh Thiên Chúa mặc
khải Ngài là "Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái,
bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành. Ngài giữ
nghĩa cho đến ngàn đời, chịu đựng
lỗi lầm quá phạm, nhưng không coi tội như
thể vô can. Ngài trị tội cha trên con cháu ba bốn
đời" (Xh 34:6-7). Thiên Chúa Yahweh là Thiên Chúa t́nh yêu,
kiên nhẫn và tha thứ.
Thời
kỳ thẩm phán kéo dài khoảng trên 200 năm, từ sau
khi Giôsuê đưa dân vào đất hứa cho tới
thời Israel có vua (khoảng từ 1210 đến 1000
trước công nguyên). Những thẩm phán được
sách thẩm phán đề cập tới, là những vị
được Thiên Chúa ở với họ cách đặc
biệt (Tl 3:10); họ là cứu tinh của dân tộc (Tl 3:9.15)
chứ không phải là những người được
đặt để theo thói thường (Xh 18:13-26).
Sách
thẩm phán tŕnh bày tương quan giữa Thiên Chúa và Israel
vào thời dân Israel đă được vào đất
hứa. Dân Israel liên tục phản bội Chúa, thờ các
thần ngoại; V́ vậy, Ngài đă phó nộp họ vào
tay các dân tộc khác! Khổ cực, họ quay trở
về với Chúa, và kêu xin Người; Thiên Chúa đă
thương, và sai các thẩm phán đến cứu họ
thoát khỏi tay những dân tộc khác.
Sách
thẩm phán cho cái nh́n rất đa dạng về ơn
gọi thẩm phán.
Với
những thẩm phán Otniel (Tl 3:7-11), Êhud (Tl 3:12-30) và Shamgar (Tl
3:31), sách không cho biết quá tŕnh h́nh thành ơn gọi làm
thẩm phán; với Baraq, Thiên Chúa đă nói với ông qua tiên
tri Đêbôrah (Tl 4:1-10); c̣n với Ghêđêô, thần sứ Yahweh
đă hiện ra cho ông (Tl 6:11-12) và Yahweh đă trao sứ
mạng cho ông (Tl 6:16tt); với Samson, ơn gọi đă
h́nh thành từ lúc được thụ thai, ông là
người được hiến thánh cho Thiên Chúa từ
trong dạ mẹ "chính trẻ ấy sẽ khởi công
cứu thoát Israel khỏi tay Philitin" (Tl 13:5).
Sau
thời thẩm phán, là thời kỳ vương quyền.
Có thể nói vị thẩm phán cuối cùng là Samuel (1Sm 7:2-17);
Samuel c̣n được coi là tiên tri, v́ Yahweh Thiên Chúa đă
nói với ông, và nói với dân qua ông (1Sm 3:1-21); Samuel cũng
là người đă xức dầu phong vương cho Saul
(1Sm 10:1tt) và cho Đavít (1Sm 16).
Tŕnh
thuật 1Sm 3 cho thấy Yahweh Thiên Chúa gọi Samuel, nhưng
lúc đó ông không nhận ra tiếng Chúa. Theo tŕnh thuật
này, Samuel nghe tiếng nhưng không thấy ǵ, chính v́ vậy
cậu mới chạy lại chỗ thầy Êli, v́
tưởng thầy gọi. Trong tŕnh thuật này,
tưởng có thể nghĩ rằng Chúa gọi Samuel lúc
cậu c̣n thức. Nghe thấy tiếng Chúa, đó là
điều thường thấy nơi các tiên tri: "Chúa phán...,”
"lời Chúa đến với ...."
Vào
thời trước và sau Samuel, người Israel cũng
vẫn có thói quen thỉnh ư Yahweh Thiên Chúa mỗi khi gặp
những chuyện khó khăn hoặc những điều
cần giải quyết (1Sm 9:1-10; Gs 7:6tt; 1Sm 10:20-21).
Thế nhưng vào thời Samuel, Kinh Thánh nói "Lời
Yahweh hiếm, thị kiến khan" (1Sm 2:1), nên
người ta thường gieo quẻ bốc thăm;
chẳng hạn việc t́m người lỗi luật
thần tru bằng bốc thăm (Gs 7:6tt), hoặc việc
chọn vua (1Sm 10:20-21).
Để
thấy rơ hơn việc thỉnh ư Yahweh bằng gieo
quẻ bốc thăm, hăy xem tŕnh thuật sau: "Saul nói:
Lạy Yahweh, Thiên Chúa của Israel, làm sao Người
lại không trả lời cho tôi tớ Người hôm nay?
Nếu tội ấy có ở về phía tôi hay Giônathan con
tôi, th́ lạy Yahweh, Thiên Chúa của Israel, xin ban Urim; c̣n
nếu tội ấy có ở về phía dân của
Người là Israel th́ xin ban Tummin. Và đă bốc thăm
trúng Giônathan và Saul, c̣n dân th́ đă thoát. Saul lại nói: hăy
gieo thăm giữa tôi và Giônathan, con tôi: Yahweh để ai
trúng thăm, th́ người đó phải chết" (1Sm 14:41-42).
Những
dân tộc đông phương lân cận của dân Israel
cũng dùng những cách như bói toán gieo quẻ để
biết ư định của Thần Linh. Nhưng có sự
khác nhau rơ rệt giữa một thầy chiêm “chân thật”
và một thầy chiêm “giả hiệu” dù ở nơi dân
lân cận hay nơi dân tộc Israel: thầy chiêm giả
hiệu buộc thần linh phải tỏ ư kiến qua việc
tuân giữ các nghi thức, c̣n thầy chiêm chân thực
lắng nghe Thiên Chúa v́ Ngài hoàn toàn tự do. Con dân Israel phải
chờ đợi câu trả lời của Thiên Chúa do ḷng
nhân lành và ư định tự do của Ngài. Việc hỏi
ư kiến này thường thuộc về nhiệm vụ
của các nhà chiêm thị, và của các tư tế (1Sm 1:36;
22:15).
Nhiều lần dân Israel phản bội Thiên Chúa, không
tuân giữ giao ước, thờ các thần khác ngoài Yahweh;
nhưng Yahweh Thiên Chúa vẫn đáp cứu dân mỗi khi dân
quay trở về với Thiên Chúa. Những tŕnh thuật này
cho thấy Thiên Chúa là Đấng thành tín, kiên nhẫn và tha
thứ; c̣n Israel là dân cứng cổ, bất trung, luôn
phản bội.
Không phải chỉ có dân Israel mới có các tiên tri,
nhưng những dân lân cận, các tôn giáo ngoài Do Thái giáo
cũng có các tiên tri (1V 18:19). Ở Israel, phong trào tiên tri
xuất hiện mạnh từ thế kỷ XI đến
thế kỷ V trước công nguyên. Không kể những
người được Yahweh Thiên Chúa gọi cách
đặc biệt để làm tiên tri, những tiên tri
chuyên nghiệp (những người hành nghề tiên tri
để kiếm sống) thường sống thành
từng nhóm, và có nhóm trưởng (1Sm 10:5tt; 19:20tt).
Tiên
tri, người biết trước; nhưng đúng
hơn, tiên tri là người nói nhân danh Thiên Chúa (ngôn
sứ).
Tiên
tri là người của Thiên Chúa, người
được Thiên Chúa chiếm đoạt, người
có kinh nghiệm về Thiên Chúa đến độ các
vị suy nghĩ, nói và hành động như Thiên Chúa
muốn, như thể các vị đó thấy hay nghe
được Thiên Chúa nói (Gr 20:7.9; Am 3:3-8). Tuy nhiên cũng
có người cho rằng các ngài là những người
bị bệnh "sùi bọt mép" (Mk 2:6; Am 7:16),
những người điên (Hs 9:7), những người
thiếu sự khôn ngoan tối thiểu (không biết nói
dối dù phải chết (Gr 26:12); không sợ thế
lực người đời dù thế lực đó là
quan quyền hay vua chúa (2V 1:5tt; 18:1tt; 21:20tt)).
Nói
tới tiên tri, không thể không đề cập
đến lời, sấm ngôn.
Lời,
tiếng Do Thái là DABAR. DABAR có hai gốc song song: một có
nghĩa là nói, và một có nghĩa là cái ở đàng sau;
như vậy, DABAR vừa có nghĩa làm cho hiểu
biết, vừa có nghĩa cái ǵ mang sức mạnh.
DABAR
là cái ǵ ở đàng sau, và cũng là cái ǵ được
phóng đẩy ra trước; là cái chuyển-thành-hành-vi
điều đầu tiên ở trong trái tim, trong ḷng. DABAR
là cái nền tảng của một sự vật, là cái
nghĩa riêng của sự vật; và nghĩa này được
diễn tả bằng ngôn từ. Như vậy, mỗi
lời chứa đựng không chỉ ư nghĩa mà c̣n
chứa đựng một năng lực nữa. Theo Kinh
Thánh, DABAR là cái ra khỏi môi miệng (Ds 30:13; Gr 17:16) và là
cái có nguồn gốc trong ḷng con người (St 17:17; Tv 14:1;
Gr 3:16). Dabar không chỉ diễn tả một tư
tưởng trừu tượng, nhưng c̣n diễn
tả t́nh trạng một tâm hồn.
Lời
là diễn tả "thân xác" của nội dung "linh
hồn;” đằng sau lời, có một hồn. Nếu
một người có tâm hồn cương nghị phát
biểu lời, th́ lời đó sẽ diễn tả
nhiều thực tại hơn lời của một
người có tâm hồn yếu nhược. Một
người nói với một người khác, là tạo
một cái ǵ thuộc tâm hồn họ nơi tâm hồn
của người khác nghe họ.[169]
Trong
ngôn ngữ hiện tại, Karl Buehler cho thấy:
·
Lời có một nội dung; nó diễn tả hay tiêu
biểu cho một vật nào đó; nó đặt tên cho
một vật, diễn tả một tư tưởng,
một phán đoán, kể lại một câu chuyện.
·
Lời c̣n là một lời mời gọi; lời
được ngỏ với ai, th́ có khuynh hướng
gợi lên nơi người đó một lời đáp
hay phản ứng.
·
Lời mặc khải, bày tỏ một ngôi vị,
bày tỏ tâm t́nh bên trong của người nói, bày tỏ
lập trường của họ.
Như
vậy, ba khía cạnh này của lời tương hợp
với ba ngôi của một động từ: lời
diễn tả ngôi thứ nhất, lời kêu gọi ngôi
thứ hai, và lời tường thuật ngôi thứ ba.
Tóm
lại, người ta có thể định nghĩa:
lời là một hành vi bởi đó một ngôi vị
ngỏ lời và diễn tả ḿnh với một
người khác, nhằm truyền thông và thông cảm
lẫn nhau.[170]
Ở
Ai cập và Lưỡng Hà Địa, lời là một
thực thể quyền uy. Lời thần linh, chính là
sức lực của thần linh mà con người không
thể chống cưỡng lại được.
Lời của con người cũng có năng lực,
đặc biệt trong những lời chúc lành hoặc chúc
dữ, trong lời hứa, lời thề! Lời của
vua chúa có năng lực hơn lời của người
thường.
Trong
Cựu Ước, t́m thấy nhiều đoạn văn
cho thấy năng lực của lời:
·
Isaac chúc lành cho Giacóp. Sự lầm lẫn không làm cho
lời đă nói mất giá trị, Isaac không thể rút
lời đă chúc phúc cho Giacóp (St 27).
·
Bà mẹ của Mikayohu phải chúc phúc để hóa
giải lời nguyền rủa bà đă thốt ra
hướng về người ăn cắp, mà bà không
biết người ăn cắp lại là chính con bà (Tl 17:1tt).
·
Lời nói của Đavít hướng về một
người bất kỳ nào đó được áp
dụng cho chính ông (2 Sm 12:1-8).
·
Lời thề đi kèm theo h́nh phạt, nếu
một người thề gian, lời thề độc
sẽ ứng nghiệm trên người thề gian đó (Ds
5:12-31).
Năng
lực của lời bắt nguồn từ năng
lực của chính ngôi vị nói. Ư muốn của ngôi
vị nói được chuyển tới thế giới
bên ngoài cùng với tất cả năng lực và tính
chất của lời được nói ra!
Lời
của Yahweh là nhân tố tác tạo trong suốt lịch
sử dân Israel, từ việc sáng tạo (St 1:3) đến
việc dựng lại đền thờ Yêrusalem (Is 44:28).
Lời của Yahweh kêu gọi Abraham, kêu gọi Môsê,
đưa dân Israel ra khỏi Ai cập, dẫn dân vào
đất hứa, gọi Samuel, tuyển chọn Đavít.
Lời của Yahweh là nhân tố chính trong lịch sử dân
Israel theo Cựu Ước.
Lời
của Yahweh là một từ ngữ rất thông dụng
trong các sách tiên tri. Lời là đặc sủng của tiên
tri, cũng như Luật (Torah) là đặc sủng
của tư tế, và lời khuyên (khôn ngoan) là đặc
sủng của hiền nhân (Gr 18:18). Lời Yahweh không do tiên
tri nhưng do tự Thiên Chúa Yahweh, chính Ngài bắt tiên tri
phải nói (Am 3:8).
Lời
của Yahweh đối với tiên tri, khi th́ ngọt ngào (Gr
15:16), khi th́ như ngọn lửa đốt trong
xương tủy (Gr 20:7-9), khi th́ trở nên lời
giận giữ phải nói ra (Gr 6:11). Lời của Yahweh là
chính Yahweh. Lời Yahweh mà tiên tri nói có sức lật
đổ và phá hủy (Gr 1:9-10). Lời của Yahweh không
thể không thành tựu (Is 45:23; 55:10-11; 31:2); hơn nữa,
Lời của Yahweh là lời vĩnh cửu và ứng
nghiệm (Is 40:8; Cf. Is 9:8).
Lời
của tiên tri đặt nền tảng trên mặc
khải qua biến cố, và mặc khải qua biến
cố dẫn tới lời. Lời của Thiên Chúa
được ban cho con người như một sứ
mạng, như một lời giáo huấn, như một
người hướng dẫn. Lời của Thiên Chúa là
chủ lịch sử, kiến tạo lịch sử, và
vang vọng trong lịch sử.[171]
Phác họa một lịch sử về Lời Thiên Chúa, là
đồng thời phác họa lịch sử mặc
khải.[172]
Tất cả các tiên tri đều có cảm thức
đặc biệt về Lời Chúa. Nhiều tiên tri
diễn tả tương quan với Thiên Chúa bằng
thị kiến; các ngài được Thiên Chúa nói với
"trong thị kiến và trong giấc mơ" (Ds 12:6tt; 1V
22:13-17; Am 1:1; Ed 1:1; Nk 1:1; Kb 1:1). Một số khác cho
rằng ḿnh được Thiên Chúa nói với, c̣n bằng
cách nào th́ không đề cập tới. Có những vị
diễn tả việc ḿnh có Lời Chúa bằng những
h́nh ảnh biểu trưng, chẳng hạn với tiên tri Giêrêmia,
Thiên Chúa đặt Lời Ngài vào miệng tiên tri (Gr 1:9); c̣n
với Ezekiel, tiên tri đă ăn sách viết Lời của
Yahweh, sách vừa đắng vừa ngọt đối
với ông (Ed 2:9- 3:3).
Xét
về phương diện chủ quan, tiên tri thật là
người xác tín ơn gọi tiên tri của ḿnh, ơn
gọi hiển nhiên đến mức độ không
thể nghi ngờ được, họ cảm thấy
bị bó buộc phải nói và hành động nhân danh Thiên
Chúa; sự bó buộc này thường chống lại
khả năng và khuynh hướng b́nh thường của
họ, nó đ̣i buộc như bị bắt buộc
phải nói hoặc làm. C̣n nơi tiên tri giả, họ cho
những điều họ mơ tưởng và mong
ước là mặc khải, và họ cho ư họ là ư Thiên
Chúa (Gr 23:23tt).
Xét
về phương diện khách quan, những điều
tiên tri thật nói phải ứng nghiệm (Đnl 18:21), và
có sự tương hợp giữa lời giảng
dạy và cuộc sống của vị tiên tri (như vâng
phục Thiên Chúa, từ bỏ ḿnh và những ǵ làm thoải
mái cho ḿnh).
Chính
v́ lấy ư ḿnh làm ư Chúa, cho nên tiên tri giả thường có
câu trả lời liền; c̣n tiên tri thật, phải
chờ câu trả lời từ Thiên Chúa (Gr 27-28).
Tiên
tri luôn luôn và chính yếu là người của thời
hiện tại đó, tức là cho
những người đương thời với các tiên
tri, chứ không phải là người cho thời quá
khứ hoặc tương lai.[173]
Tiên tri, người nói nhân danh Thiên Chúa cho dân, về
những điều Thiên Chúa muốn nói với dân.
Là
người của Thiên Chúa, được Thiên Chúa
chiếm đoạt, tiên tri có cái nh́n của Thiên Chúa. Tiên
tri nói cho dân biết tương quan giữa Thiên Chúa và dân,
tương quan giữa Thiên Chúa và vua, giữa Thiên Chúa và
tư tế.
Tiên
tri thấy rơ chứ không mù quáng. Ngay khi bên ngoài tất
cả dường như rất trật tự và tốt
đẹp, tiên tri vẫn phân biệt được,
nhận định và thấy sự trống vắng
đức tin và t́nh yêu đằng sau những cái bên ngoài có
vẻ tốt đẹp. Tiên tri nhận ra sự bất
hạnh nơi những cái có vẻ hạnh phúc bên ngoài mà
các tiên tri giả nơi triều đ́nh loan báo. Tiên tri cũng
là người loan báo sự an ủi, và an ủi dân trong
những cơn cùng quẫn, khi bị lưu đày và
những khi như thể tuyệt vọng.[174]
Tiên
tri nỗ lực duy tŕ và củng cố chân lư giao
ước, chống lại mọi cám dỗ trao
đổi giao ước của Thiên Chúa lấy giao
ước chính trị.[175]
Tiên tri lưu ư và cảnh cáo vua và các tư tế,
để họ đừng bất trung với giao
ước, và đừng an tâm với những yên ổn
giả tạo. Các tiên tri giải thích các tai ương và
các thử thách, không cho rằng chúng do những nguyên nhân bên
ngoài t́nh cờ; nhưng chúng là h́nh phạt Thiên Chúa trừng
trị tội lỗi của dân; những biến cố
đó là những biến cố mặc khải.
Có
thể nói, các tiên tri là những người nh́n lịch
sử dân Israel dưới cái nh́n giao ước; các ngài
lấy giao ước làm tiêu chuẩn phán đoán xem hành vi
cư xử của một người, của một
triều đại, có tốt hay không? xem họ có
để cho ư Thiên Chúa thể hiện nơi cuộc
đời họ, nơi quốc gia họ hay không?
Nói
vậy không có nghĩa là không biết các tiên tri thế
kỷ thứ VIII như Amos, Hôsêa, Isaia và Mikê, đă không
nhắc đến chữ giao ước. Tuy các vị
đó không nhắc đến chữ giao ước,
nhưng các vị đă khai triển nền thần học
giao ước: tính ưu việt của Yahweh, hành vi cứu
độ của Yahweh, chỗ đứng duy nhất
của Israel xét như dân Thiên Chúa và những đ̣i buộc
đối với Yahweh.
Một
số học giả cho rằng, các tiên tri thế kỷ
VIII tránh dùng chữ giao ước, v́ người thời
đó dễ hiểu lầm rằng giao ước đ̣i
Yahweh phải làm tất cả những ǵ dân Israel thích.[176]
C̣n Mendenhall lại cho rằng, các tiên tri thế kỷ VIII
không nhắc đến chữ giao ước v́ trong
vương quốc Giuđa, giao ước với Israel
đă được thay thế bởi giao ước
với nhà Đavít; mà các tiên tri không muốn đồng hóa
giao ước của Yahweh với Israel, với giao
ước của Yahweh với Đavít; tiên tri sợ
rằng nếu các ngài dùng chữ giao ước, dễ
dẫn tới hiểu lầm rằng sự tồn tại
của dân lệ thuộc vào sự tồn tại của
vương triều Đavít.[177]
Với
tiên tri Giêrêmia, chữ giao ước xuất hiện
lại. Giêrêmia c̣n nói tới một giao ước mới,
và coi tương lai của Israel như lệ thuộc vào
giao ước này (Gr 31:31-34). Giao ước này đề
cao tương quan của Yahweh với từng
người. Giao ước giữa Yahweh với dân Israel,
đặt dân Israel thành dân Yahweh; cũng vậy giao
ước giữa Yahweh với từng người, đặt
mỗi người thành người của Yahweh.
Cùng
thời với Giêrêmia, sách Đệ Nhị Luật nhấn
mạnh nhiều đến giao ước: người ta
được chúc lành hay chúc dữ là tùy người ta có
giữ luật hay không.
Trong
truyền thống P nơi Ngũ Kinh, giao ước
được đồng hóa với luật; trước
đó, truyền thống P đă tŕnh bày giao ước
dưới dấu hiệu cắt b́ (St 17:10). Truyền
thống P tŕnh bày toàn bộ lịch sử cứu
độ như một chuỗi giao ước, kể
cả giao ước với Nôe.
Các
tiên tri nhớ lại thời Xuất Hành, và coi đó là lư
tưởng của xă hội hiện tại. Tiên tri
muốn xây dựng một xă hội xứng với
phẩm giá con dân Thiên Chúa: các quyền của con
người phải được tôn trọng (1V 21),
tất cả đều b́nh đẳng và sống trong t́nh
huynh đệ. Ḷng nhiệt thành với công b́nh là một
biểu lộ của ḷng tin vào Thiên Chúa; chính Thiên Chúa
sẽ nâng đỡ và xây dựng xă hội này (Is 11:6-9; 19:23-25;
Dcr 8).[178]
Các tiên tri cảnh cáo mọi tầng lớp dân chúng (vua,
tư tế, dân chúng), để họ trở về
với Yahweh, đừng vi phạm giao ước của
Yahweh với Israel nữa. Các tội vi giao ước quy
về hai điều: thờ thần ngoại lai bỏ
Yahweh, bất công phạm đến anh em!
Êlia
tố cáo Akhab đă là nguyên nhân của nạn hạn hán.
"Akhab nói với Êlia: phải chăng chính là ngươi,
con người giá họa cho Israel? Êlia nói: không phải tôi
đă giá họa cho Israel, nhưng là ông và nhà cha ông, bởi
đă lỗi bỏ lịnh
truyền của Yahweh, và ông đă đi theo các Baal" (1V 18:18tt).
Không
phải dân đă bỏ hoàn toàn Yahweh để đi theo
Baal, nhưng dân đă baal hóa Yahweh, coi Yahweh như
đồng hội đồng thuyền với Baal,
đến độ họ đă đặt nữ
thần Anat, vợ của Baal bên cạnh Yahweh.[179]
Êlia đă nói thẳng với họ: Nếu Yahweh là Thiên
Chúa, hăy theo Ngài, c̣n như nếu là Baal, th́ các ngươi
hăy theo nó đi" (1V 18:21).
Tiên
tri Giêrêmia cũng tố cáo dân đă bỏ Yahweh để
đi theo các thần ngoại: "Há có dân nào tráo
đổi thần linh- mà nào chúng đâu phải thần
linh, nhưng dân Ta đă tráo đổi vinh quang của ḿnh
với đồ vô dụng.[180]
Trời ơi, hăy rụng rời trước sự này, hăy
rởn tóc, rất mực kinh hoàng- sấm của Yahweh, v́
dân Ta đă làm hai điều bất hảo: chúng đă
bỏ Ta mạch nước hằng sống, để
đào cho ḿnh bể nước, nhưng các bể ṛ không
chứa được nước" (Gr 2:11-13).
Tội
thờ quấy, được tiên tri Hôsêa ví như tội
ngoại t́nh, và tiên tri Mikê coi như hành vi làm điếm
tế thần ngoại lai (Mk 1:4-7; Am 3:14tt; 4:4; 5:4.21; Is 1:10.21tt;
Hs 4:15tt; 8:5tt; 9:15; 11). Bất công cũng được các
tiên tri phản đối mạnh (Mk 2:1tt; 2:8; 6:11tt; 3:1- 4:9;
Am 4:1tt; 5:11; 8:4tt; Is 10:1tt; Hs 4:1tt; 7:1-7; 6:7).
Thiên Chúa đă mặc khải qua biến cố
xuất hành và giao ước Sinai, Ngài là Thiên Chúa quyền
năng, là Đấng can thiệp vào ḍng lịch sử,
Đấng giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập,
Đấng bảo trợ dân, là Thiên Chúa của dân Israel,
Đấng làm dân Israel thành dân tư tế của Thiên Chúa,
Đấng kư kết giao ước với dân Israel, Đấng
biến dân Israel thành sở hữu của Ngài.
Thiên
Chúa, trong thời đại các thẩm phán, các vua và các tiên
tri, tỏ cho thấy Ngài là Thiên Chúa trung thành với giao
ước. Dù dân không giữ giao ước, dù dân phản
bội bất trung, th́ Thiên Chúa vẫn trung thành; Ngài không
bỏ giao ước dù dân đă không tuân giữ. Hơn
nữa, Ngài là người bảo vệ giao ước,
giúp dân tuân giữ giao ước; Ngài đă dùng những
phương tiện khác nhau để giúp dân trung thành
với giao ước, trung thành với Ngài, chẳng
hạn như cơ cấu vương quyền, cơ
cấu tư tế và các tiên tri; và nếu dân vẫn cứng
ḷng, Ngài cho những tai hoạ đến để
cảnh cáo dân, nhất là bằng biến cố lưu
đày. Khi những cơ cấu vương quyền và tư
tế, làm dân bê trễ không giữ giao ước, th́ Ngài
băi bỏ những cơ cấu đó, thậm chí cả ḥm
bia, đền thờ.
Thiên
Chúa được thấy trong giai đoạn này, là
Đấng yêu thương dân Israel vô cùng, và Người không
bao giờ nở bỏ dân:
"Mẹ
nào lại quên con đẻ của ḿnh? cạn ḷng
thương đối với con dạ nó không? cho dù chúng
quên được nữa, th́ phần Ta, Ta sẽ không hề quên ngươi (Is
49:15).”
"Làm
sao Ta nỡ bỏ ngươi hỡi Ephraim, hay thí hẳn
ngươi đi, hỡi Israel! làm sao ta nỡ bỏ
ngươi như Adma, cho ngươi hóa tựa Xơboim?
ḷng ta đảo lộn trong Ta, và mối chạnh
thương sôi réo cả lên" (Hs 11:8).
Thiên
Chúa là Thiên Chúa siêu việt, Ngài không suy nghĩ và hành
động như người phàm, Ngài không cư xử
với Ta như Ta đáng tội: "Như trời cao
hơn đất thế nào, th́ tư tưởng Ta
cũng vượt quá tư tưởng các
ngươi" (Is 55:9), "V́ Ta là Chúa, chứ không
phải người phàm" (Hs 11:9).
Israel
được gọi được chọn,
được yêu thương cưng chiều, là
để thành bí tích cho mọi dân mọi nước,
nhằm giúp con người nhận biết Yahweh là Thiên
Chúa, là Đấng yêu thương tất cả mọi
người.
Con
người chỉ là tạo vật; đối với
Thiên Chúa, con người như đất sét với
người thợ gốm (Is 45:9tt). Con người, là
tạo vật được Yahweh Thiên Chúa yêu thương
rất mực, đặc biệt con người đây
lại là dân Israel. Nhưng con người, và đại
biểu là con dân Israel, thật cứng ḷng cứng cổ,
luôn bất trung cùng Thiên Chúa, luôn phản bội Ngài,
phản bội giao ước.
Tương
quan giữa con người và Thiên Chúa cũng là tương
quan giữa dân Israel và Yahweh. Tương quan này
được diễn tả qua một số h́nh ảnh!
·
Tương quan "cha con"! Đây không phải là
tương quan tự nhiên theo nghĩa b́nh thường.
Israel không là con "theo bản tính" (phusis) nhưng là con
"được thừa nhận.” Đây là tương quan
t́nh yêu, ḷng sủng mộ, vâng phục.
·
Tương quan "chồng vợ." Tương
quan này nhấn mạnh tính nhưng không khởi đầu
của Yahweh, v́ trong Cựu Ước, chồng
thường chọn vợ. Tương quan giữa Yahweh
và Israel là tương quan t́nh yêu; bất trung là phản
bội chống lại Yahweh. Tương quan này
được Hôsêa và Giêrêmia diễn tả cách đặc
biệt.
·
Tương quan "chủ chiên đàn cừu.”
Tương quan này cho thấy Yahweh là người bảo
vệ. Đàn cừu tín thác vào người chăn, đi theo
người chăn và sẽ được no thỏa! Tiên
tri Ezekiel dùng h́nh ảnh này.
·
Tương quan "họ hàng." Yahweh
được gọi là người báo thù, người
chuộc (Gôel) của Israel. Trong phong tục Do Thái,
người thân phải trả thù máu hoặc phải
bảo vệ tài sản người thân ḿnh. Yahweh không
chỉ xuất hiện như người bảo vệ,
nhưng c̣n như người thân của Israel.
·
Tương quan "vua tôi.” Tương quan này hàm chứa
trong quan niệm Thiên Chúa cai trị dân Ngài, trong kiểu
gọi Yahweh là Chúa (Adonai, Kurios) trong giao ước.[181]
Theo truyền thống chấp nhận Israel có vương
quyền, vua cai trị dân thay Thiên Chúa.[182]
Một
nét đặc trưng của mặc khải thời các
tiên tri, cho thấy mặc khải chưa hoàn tất.
Mọi
tầng lớp dân đều ngóng chờ một vị
thiên sai. Vị này có thể là một tiên tri lớn như
Môsê (Đnl 18:18), hoặc một vị vua công chính mà trong
nước của Ngài sẽ có b́nh an hạnh phúc (Is 7; 9;
11), hoặc một mục tử (tư tế) luôn đi
t́m con chiên bị lạc, băng bó con chiên bị
thương, dẫn đàn chiên đến đồng
cỏ xanh tươi, đến suối nước trong
lành (Ed 34), hoặc là người tôi tớ Yahweh chịu
khổ nạn để công chính hóa nhiều người,
để chuộc tội cho dân (Is 42:1-9; 49:1-6; 50:4-9; 52:13-
53:12), hoặc con người từ trời xuống (Đn
7).
Giêrêmia
cũng loan báo một giao ước mới: "Sẽ
tới ngày Ta sẽ lập một giao ước mới
với nhà Israel và nhà Yuđa, không phải như giao
ước ta đă kư kết với cha ông chúng, ngày Ta
cầm tay chúng để đem chúng ra khỏi Ai cập...
Ta sẽ đặt luật của Ta vào bên trong chúng, và Ta
sẽ viết trên trái tim chúng; và Ta sẽ là Thiên Chúa của
chúng, c̣n chúng, chúng sẽ là dân của Ta ..." (Gr 31:32-33; 32:39-40).
Cũng
vào thời lưu đày, tiên tri Ezekiel đề cập
đến thần khí mới, thần khí mà Thiên Chúa ban cho,
sẽ làm con người được sống. "Ta
sẽ ban Thần Khí của Ta xuống trên các ngươi.
Và các ngươi sẽ được sống" (Ed 37:14.5-6).
"Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm ḷng
mới. Bên trong các ngươi, ta sẽ ban một thần
khí mới, Ta sẽ cất tấm ḷng đá khỏi
thịt ḿnh các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi
một tấm ḷng thịt. Bên trong các ngươi, Ta sẽ
ban xuống Thần Khí của Ta. Và các ngươi sẽ
giữ các phán quyết của Ta, và sẽ thi hành. Các
ngươi sẽ lập cư trên đất Ta đă ban
cho cha ông các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của
Ta. C̣n Ta, ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi" (Ed 36:26-28).
Như
luật, tiên tri, là hiện tượng chung của cả
vùng lân cận của Do Thái, văn chương khôn ngoan và
hiền nhân cũng vậy.[183]
Văn chương khôn ngoan xuất hiện vào thiên niên
kỷ thứ hai nơi những dân tộc lân cận
của Do Thái; c̣n với dân tộc Do Thái, văn
chương khôn ngoan chỉ thịnh hành sau thời lưu
đày và là phương tiện mặc khải.[184]
Khôn
ngoan đem lại cho con người trường sinh
bất tử, và cho con người t́m thấy niềm vui.
"Nhờ khôn ngoan, tôi được trường sinh
bất tử, để lại cho hậu thế lưu
niệm muôn đời không phai... v́ với khôn ngoan, không có
ǵ là cay đắng khó chịu, chung sống với khôn
ngoan, không có đau phiền, trái lại chỉ có hoan
lạc mừng vui" (Kn 8:13.16).
Khổ
đau, cực nhọc, là do con người bỏ
đường khôn ngoan. "Bởi đâu, hỡi Israel,
bởi đâu hỡi Israel, bởi đâu mà ngươi
lại ở trên đất kẻ thù, già đi trên
đất xa lạ? là v́ ngươi bỏ mạch khôn
ngoan" (Br 3:10.12).
Khôn
ngoan được nhân cách hóa như một người
đi rao giảng ở ngă ba đường hoặc
nơi phố chợ (Cn 1:20tt; 8-9), và ai nghe khôn ngoan sẽ
được chúc phúc, ai t́m khôn ngoan sẽ được
sự sống (Cn 8:34.35a), v́ khôn ngoan sẽ hướng
dẫn họ trong mọi hành vi, và ǵn giữ họ (Kn 9:11).
Người
ta có thể học biết khôn ngoan.[185]
Đầu
mối của khôn ngoan (Hc 1:14), gốc rễ của khôn
ngoan (Hc.1:20), khôn ngoan viên măn (Hc.1:16), là kính sợ Chúa.
Để
được khôn ngoan, phải kính sợ Chúa, và phải
sống như người con thảo (Tb 4:3-4; Cn 6:20; 23:20;
28:24; 19:26; 20:20), như người chồng tốt (Cn 5:1-23;
6:20-7:27; 23:27-28), như người cha tốt (Cn 29:13-21),
như một công dân tốt (Cn 25:8-10; 24:21-22). Phải
biết vâng theo lẽ phải (Cn 25:6-7), phải biết
nghe lời giáo huấn (Cn 1:8-9; 3:1; 4:13.20; 5:1; 12:1; 13:1v.v.)
phải biết nhận sự sửa phạt (Cn 13:24; 22:15;
23:13.14), phải có tư cách đúng đắn (Cn 23:29-35),
phải sống công b́nh (Cn 16:8-11; 23:10.11; 22:23.28).
Con
người có thể trở nên khôn ngoan, có thể trở
thành hiền nhân; nhưng con người không làm chủ khôn
ngoan; con người không sở hữu khôn ngoan như
một vật tự nhiên.
Khôn
ngoan không phát sinh do con người, nhưng từ Thiên Chúa.
"Khôn ngoan nhất nhất đều do tự Chúa, và
từ đời đời hằng ở với
Người" (Hc 1:1).
"Ta
(khôn ngoan) đă xuất tự miệng Đấng tối cao,
như áng mây Ta đă bao trùm trái đất" (Hc 24:3).
"Yahweh đă dựng nên Ta, tiên thường của công
tŕnh Người. Từ trước mọi thời, ngay
lúc khởi nguyên, Người đă dựng nên Ta, và cho
đến đời đời, Danh Ta sẽ không phai” (Hc 24:9).
“Từ đời đời, Ta đă được
tấn phong, ngay từ đầu, trước khi
đất khai sinh" (Cn 8:22-23).
Khôn
ngoan có những phẩm tính của Thiên Chúa: là phản ánh
của ánh sáng, là hào quang phát tự vinh quang Thiên Chúa, là
Thần Khí thông minh thánh thiện. "Khôn ngoan là phản ánh
sự sáng hằng có, là gương không t́ ố rọi
lại hoạt động của Thiên Chúa, là h́nh ảnh
của Thiên Chúa toàn thiện" (Kn 7:26); "Khôn ngoan là khí
thiêng xuất từ quyền phép Thiên Chúa, là hào quang tinh ṛng
tự vinh quang Đấng toàn năng phát hiện, v́ thế
không ǵ nhơ uế lọt vào được trong" (Kn 7:25).
"Có trong khôn ngoan, Thần Khí thông minh thánh thiện,
đơn độc, đa phức, tinh tế, linh
động, tinh ṛng, vô t́ tích, trong suốt, bất khả
xâm phạm." (Kn 7:22). V́ vậy, con người phải
nài xin Thiên Chúa ban khôn ngoan của Ngài cho con người (Cn 2:6;
Hc 1:8-10; Kn 9:4; G 28:12-27).
Luật
qua tư tế, lời qua tiên tri, khôn ngoan qua hiền nhân,
đều có nguồn gốc nơi Thiên Chúa. Tất cả
là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, giúp con
người nhận ra t́nh yêu củaThiên Chúa, giúp con
người sống tốt để trở nên con Thiên
Chúa. Các tác giả sách thánh vào thời văn chương
khôn ngoan, đă dung ḥa được thao thức t́m
kiếm khôn ngoan của người thời đại,
với truyền thống lề luật và lời Thiên Chúa.
Sách Huấn Ca đă đồng nhất ba thực tại
trên với nhau: "Nguồn mạch khôn ngoan chính là lời
Thiên Chúa trên cao, và đường lối của khôn
ngoan là lịnh truyền hằng
có” (Hc 1:5). Sự khôn ngoan đích thực đối với
người Do Thái, và sự khôn ngoan này vượt trên các
khôn ngoan của những dân tộc lân cận, là kính sợ
Thiên Chúa và giữ lệnh truyền (lề luật,
lời) của Ngài. Chính điều này làm cho họ trở
thành người khôn ngoan thực sự, và được
trường sinh bất tử. Luật Thiên Chúa ban trên núi
Sinai vẫn là điều cốt cán với người Do
Thái.
Luật, tiên tri và khôn ngoan, là những thực tại
xuất hiện không chỉ riêng với người Do Thái,
nhưng cũng chung cho các dân tộc vùng cận đông.
Điểm đặc biệt của người Do Thái, là
nhận ra luật Torah như hồng ân Thiên Chúa ban cho
những người Ngài thương yêu tuyển chọn;
tiếp đến với đặc sủng tiên tri, dân Do
Thái xác tín rằng Lời Thiên Chúa được ban cho con
người, để dẫn dắt con người
đi trên đường công chính; và bây giờ với
văn chương khôn ngoan đang thịnh hành ở
phương đông, người Do Thái nhận ra rằng
khôn ngoan là hồng ân Thiên Chúa trao ban cho con người.
Trước khi bước sang t́m hiểu mặc
khải trong Tân Ước, tóm lại sơ qua cái nh́n
của Cựu Ước xét như mặc khải của
Thiên Chúa cho con người:
Thiên
Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật và con
người;
đau
khổ và sự chết là hậu quả của tội
chống lại Thiên Chúa; hạnh phúc đích thực
của con người tùy thuộc tương giao của
con người đối với Thiên Chúa;
Thiên
Chúa đă yêu thương và tuyển chọn Abraham: chính Ngài
đă kêu gọi và lập giao ước với Abraham,
trở thành Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Giacóp;
Thiên
Chúa đă giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai
cập, Ngài trở thành Đấng giải phóng, Đấng
bảo trợ, Đấng cứu chuộc dân;
Thiên
Chúa đă lập giao ước với dân Israel trên núi Sinai,
đă ban lề luật cho dân, đă làm dân Israel thành dân riêng
của Ngài, đă cho dân Israel thành dân tư tế, trở
thành dân trung gian giữa Thiên Chúa và các dân khác, đă làm dân
Israel thành dân qua đó các dân tộc khác được chúc
phúc;
Thiên
Chúa muôn đời thành tín. Cho dù dân Israel có phản bội,
th́ Ngài vẫn là Thiên Chúa trung thành; Ngài ban các thẩm phán
để cứu dân, Ngài ban các tiên tri để giúp dân
trở lại với Ngài, để dân tuân giữ giao
ước của Ngài với dân;
Con
người và dân Israel luôn luôn phản bội, nhưng qua
đó Thiên Chúa cho thấy Ngài là Thiên Chúa giàu ḷng thương
xót và nhân từ, Ngài luôn tha thứ cho con người;
Thiên
Chúa là Đấng ban khôn ngoan đích thực cho con
người; sự khôn ngoan đích thực không chỉ
nằm trên b́nh diện tri thức ngọn nguồn sự
vật, nhưng chủ yếu hệ tại cuộc
sống; sự khôn ngoan đích thực là kính sợ Thiên
Chúa và tuân giữ lề luật giao ước.
Tất
cả Tân Ước đều xây nền trên biến
cố tử nạn phục sinh của Đức Giêsu Nazareth.
Đức tin của mọi kitô hữu cũng đặt
nền tảng trên biến cố tử nạn phục
sinh của Đức Giêsu.
Chính
nhờ biến cố tử nạn phục sinh, mà các tông
đồ nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa theo
bản tính. Các tông đồ là những chứng nhân về
biến cố tử nạn phục sinh của Đức
Giêsu; các ngài đă đi rao giảng tin mừng Đức Giêsu
Phục Sinh: Đức Giêsu đă phục sinh từ cơi
chết, Ngài là Kitô và là Chúa.
Các
tông đồ đă thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Các
ngài đă làm chứng về những điều tai nghe
mắt thấy "Đức Giêsu Phục Sinh.” Các kitô
hữu đă tin vào Đức Giêsu Phục Sinh qua lời rao
giảng, qua lời chứng của các tông đồ.
Đức tin của các tông đồ và của các kitô hữu
là một, thời xưa cũng như thời nay.
Bốn
Tin Mừng mang tên các tông đồ, là đức tin của
các tông đồ, và cũng là đức tin của cộng
đoàn kitô hữu tiên khởi. Các tín hữu tin vào Đức
Giêsu Phục Sinh qua lời rao giảng của các tông
đồ. Họ tụ họp nhau để nghe các tông
đồ kể về Đức Giêsu, về cuộc
đời và những điều Ngài giảng dạy.
Một số tín hữu có học thức ghi lại
những ǵ các tông đồ rao giảng hoặc kể
về Đức Giêsu. Khi phần lớn các tông đồ
chết,[186]
các tín hữu tiên khởi sợ rằng những
điều các tông đồ rao giảng và làm chứng
bị mai một theo thời gian, nên một số
người đă thâu lượm những lời kể
của các tông đồ về Đức Giêsu, cũng như
những lời giáo huấn của Đức Giêsu mà các
tông đồ đă thuật lại, và san định thành
sách. Đó là lịch sử h́nh thành các tin mừng, phản ánh
đức tin của các kitô hữu sơ khai cũng như
đức tin của các tông đồ.
Biến
cố tử nạn phục sinh của Đức Giêsu Nazareth
đều được bốn tin mừng ghi lại qua
tŕnh thuật thương khó, mồ trống và những
lần hiện ra.
Đức
Giêsu đă bị bắt vào ban đêm tại vườn
dầu (Mc 14:32-52; Mt 26:36-56; Lc 22:40-53; Ga 18:1-11). Ngài
được dẫn tới dinh Hanna, là nhạc phụ
của thượng tế Caipha (Ga 18:13); sau đó Ngài
được điệu tới dinh thượng tế
Caipha (Ga 18:24) và bị kết án tử ở ṭa Công Nghị
Do Thái (Mc 14:53-65; Mt 26:57-68; Lc 22:54tt). Sáng đến, Ngài
được điệu đến dinh tổng trấn
Philatô (Ga 18:28; Mc 15:1; Lc 22:66; Mt 27:1-2); sau đó Ngài
được chuyển đến ṭa của Hêrôđê (Lc 23:8-12);
rồi Ngài lại được chuyển về cho Philatô
(Ga 18:38tt; Mc 15:6-15; Mt 27:15-26; Lc 23:13-25). Ngài bị kết án
tử ở ṭa án Roma bởi Philatô, v́ ṭa công nghị Do Thái
không có quyền kết án tử h́nh.
Ở
trước ṭa công nghị người Do Thái, Đức Giêsu
bị kết án tử h́nh v́ tội phạm thượng (Mc
14:62-64 và //); nhưng ở trước ṭa án Roma, Đức Giêsu
bị cáo với tội phản loạn xưng vua (Ga 18:12
và //) và bị kết án tử với tội danh này.
Đức Giêsu vác thập giá (Ga 19:17-24; Mc 15:21-32; Mt 27:32-44),
bị đóng đinh thập giá. Ngài đă chết trên
thập giá và được mai táng bởi Giuse Arimathia (Mc 15:42tt
và //).
Đức
Giêsu đă chết và được mai táng vào ngày thứ
sáu; ngày thứ bảy là ngày sabat của người Do Thái
nên không có ai ra thăm mộ Ngài; vào sớm ngày thứ
nhất trong tuần,[187]
các chị phụ nữ ra thăm mộ và thấy mồ
trống, không thấy xác Đức Giêsu đâu (Mc 16:1-8; Mt 28:1-8;
Lc 24:1-12; Ga 20:1-10).
Đức Giêsu Nazareth chết trên
thập tự và mộ trống, là sự kiện đă
được nhiều người xác nhận, nghĩa
là, đây là những sự
kiện đă được kiểm chứng.
Đức
Giêsu Phục Sinh không hiện ra cho tất cả mọi
người, nhưng Ngài chỉ hiện ra cho một
số người. Ngài đă hiện ra cho các tông
đồ ngay chiều ngày thứ nhất trong tuần,
nhưng lần này vắng mặt Thomas (Ga 20:19-25). Không
thể tin được chuyện người chết
sống lại, tông đồ Thomas đă nói: "Nếu
nơi tay Ngài, tôi không thấy các dấu đinh, và tra tay tôi
vào lỗ đanh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn
Ngài, tôi sẽ không tin" (Ga 20:25). Tám ngày sau, tức
cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu
lại hiện ra cho các tông đồ, và lần này có
cả Thomas nữa, Đức Giêsu Phục Sinh đă mời
Thomas làm điều ông muốn để kiểm chứng
rằng Ngài đă sống lại, nhưng Thomas đă
thốt lên lời tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi và là Thiên
Chúa của tôi" (Ga 20:28).
Theo
tin mừng Gioan, Đức Giêsu Phục Sinh c̣n hiện ra và
chuẩn bị bữa sáng cho các tông đồ sau khi các ngài
đi đánh cá ở hồ Tibêria (Ga 21:1 tt). Theo tin mừng
Luca, Đức Giêsu Phục Sinh đă hiện ra cho hai môn
đệ trên đường Emmau, Ngài cũng hiện ra
trước đó cho Simôn, và cho các tông đồ, cùng ăn
trước mặt họ (Lc 24:1 tt). Theo tin mừng Matthêu,
Đức Giêsu đă hiện ra cho nhóm phụ nữ (Mt 28:9tt và
//); và Ngài cũng đă hiện ra cho các tông đồ, cùng
dạy họ đi rao giảng và làm phép rửa nhân danh Ngài
(Mt 28:16-20). Với mệnh lệnh đi rao giảng thâu
nạp môn đồ khắp muôn dân này, các tông đồ
đă trở thành nhân chứng của Đức Giêsu
Phục Sinh, và tin mừng "Đức Giêsu phục sinh"
đă được loan truyền khắp thiên hạ.
Tử
nạn phục sinh của Đức Giêsu là sự kiện,
nhưng là sự kiện đức tin, biến cố
đức tin. Đức Giêsu Phục Sinh không hiện ra cho
tất cả mọi người, thế nên để tin
Đức Giêsu phục sinh, người ta cần ân sủng
của Thiên Chúa, cần tác động của Chúa Thánh
Thần để tin vào lời rao giảng của các tông
đồ và những người kế vị các ngài.
Mầu nhiệm cứu độ được thực
hiện qua trung gian con người với ân sủng
của Thánh Thần.
Đức
tin của kitô hữu hiện thời, cũng là đức
tin của các kitô hữu tiên khởi, và cũng là
đức tin của các tông đồ. Có thể nói,
đức tin của các tông đồ được
diễn tả qua năm bài giảng được ghi
lại trong sách Công Vụ các tông đồ:
·
Lời rao giảng của Phêrô sau khi nhận lănh Thánh
Thần trong ngày lễ ngũ tuần (Cv 2:14-39);
·
Lời rao giảng của Phêrô ở đền
thờ sau khi chữa lành người què ở đền
thờ (Cv 3:12-26);
·
Lời rao giảng của Phêrô trước công
nghị Do Thái sau khi Ngài chữa lành người què và
bị bắt (Cv 4:9-12);
·
Lời giảng của Phêrô trước công nghị
sau khi được thiên thần giải phóng khỏi tù
để tiếp tục rao giảng trong đền
thờ (Cv 5:29-32);
·
Lời rao giảng của Phêrô tại nhà Cornêliô (Cv 10:34-43).
Trong
sách Công vụ tông đồ, và đặc biệt trong
năm bài giảng, luôn luôn thấy lặp đi lặp
lại khẳng định: các tông đồ là những
chứng nhân phục sinh của Đức Giêsu Kitô (Cv 1:8.22; 2:32;
3:15; 5:32; 10:39.41; 13:31 v.v.):
·
Cv 1:8: Các ngươi là chứng nhân cho Ta ở Giêrusalem
và mút cùng bờ cơi trái đất.
·
Cv 2:32: Thiên Chúa đă phục sinh Đức Giêsu. Chúng tôi
là chứng nhân của những điều này, chúng tôi và
Thánh Thần.
·
Cv 4:20: Chúng tôi không thể không nói về những
điều đă thấy và đă nghe.
·
Cv 10:39: chúng tôi là chứng nhân về những
điều Ngài đă làm trong vùng người Do Thái và ở
Giêrusalem.
Là tông
đồ, nghĩa là, chứng nhân của Đức Giêsu
Phục Sinh; v́ vậy tiêu chuẩn để chọn
một người thay thế Giuđa Iscariot, phải là
người đă đồng hành với các tông đồ
suốt thời gian mà Đức Giêsu đă ra vào giữa các
Ngài (Cv 1:21-22).
Bây giờ xét kỹ một bài rao giảng của
Phêrô để thấy rơ trọng tâm lời rao giảng
của các tông đồ, chẳng hạn Cv 2:14-40:
·
Cv 2:14-21: lời kêu gọi dân chúng, lư do;
·
Cv 2:22-24: nội dung chính của lời rao giảng
"Đức Giêsu, Đấng anh em đă nộp và giết
đi, Thiên Chúa đă làm cho Ngài sống lại;"
·
Cv 2:25-28: trích dẫn Tv 16 để minh chứng;
·
Cv 2:29-31: chú giải thánh vịnh hướng về Đức
Giêsu;
·
Cv 2:32-33: trở lại lời rao giảng và làm rơ
hơn;
·
Cv 2:34-35: trích dẫn Tv 110 để minh chứng
khẳng định;
·
Cv 2:36: trở lại lời rao giảng, kêu gọi
dân chúng tin vào sự kiện phục sinh của Đức Giêsu
"Thiên Chúa đă đặt làm Chúa và làm Kitô, Đức Giêsu
mà các người đă đóng đinh kia" (Cv 2:32).
Không
phải chỉ một ḿnh Phêrô làm chứng, nhưng tất
cả các tông đồ, tập thể những
người đă đi theo Đức Giêsu, những
người đă sống với Ngài, đă chứng
kiến Ngài chịu khổ h́nh, và cũng là những
người đă thấy và sống với Đức Giêsu
Phục Sinh.
Đức
Giêsu Phục Sinh đó, "Thiên Chúa đă đặt làm Chúa
và làm Kitô," Người mà các ông đă đóng đinh (Cv 2:36),
Ngài "được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa" (Cv
2:33). Đây là cách diễn tả hữu h́nh một thực
tại vô h́nh: "ngự bên hữu Thiên Chúa." Thiên Chúa
là Đấng thiêng liêng! Ngự bên hữu ai, là ngang hàng với
người ấy. Đức Giêsu Phục Sinh được
siêu tôn trên tất cả, để được ngự
bên hữu Thiên Chúa.
Khi
Đức Giêsu Nazarét c̣n sống, Ngài đă được coi
là một tiên tri, là đấng Thiên Sai,[188]
là con Thiên Chúa;[189]
c̣n với biến cố phục sinh, các tông đồ
đă nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa.
Đức
Giêsu bắt đầu sứ mạng của Ngài với
cách thức của một tiên tri. Như Giôna rao giảng
thống hối, và như Gioan tẩy giả, Đức Giêsu
bắt đầu rao giảng: "hăy thống hối và
tin vào tin mừng, v́ Nước Trời đă gần
đến" (Mc 1:14-15; Mt 4:17).
Trong
hội đường tại Nazarét, Đức Giêsu đă dùng
bản văn trong sách đệ nhị Isaia nói về
vị thiên sai tiên tri để áp dụng cho chính ḿnh:
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, Ngài đă sai tôi đi
rao giảng tin mừng cho người nghèo khó" (Lc 4:18-19
cf. Is 61:1 tt). Dân thành Naim, sau khi thấy Đức Giêsu làm cho con
trai bà góa sống lại, đă đồng thanh nói
"một tiên tri cao cả đă xuất hiện giữa
chúng ta" (Lc 7:16). Các tông đồ cũng xác nhận
sự kiện dân chúng cho rằng Đức Giêsu là một tiên
tri (Mt 16:14). Biệt phái và tư tế không dám bắt Ngài
khi Ngài đang rao giảng, v́ dân chúng coi Ngài là một tiên tri
(Mt 21:46). Hai môn đệ Emmau cho rằng Đức Giêsu là
vị tiên tri quyền năng trong lời nói và hành
động (Lc 24:19). Dân chúng cũng cho rằng Đức Giêsu
là vị tiên tri phải đến mà mọi người
đợi trông (Mt 21:10-11 cf. Đnl 18:18).
Tuy
Đức Giêsu không tự nhận ḿnh là một tiên tri,
nhưng Ngài tiên đoán số phận của Ngài là số
phận của một tiên tri: bị khinh khi nơi quê
hương xứ sở (Mt 13:57) và bị chết ở
Yêrusalem (Lc 13:33).
Xét
như người mặc khải, Ngài lớn hơn Giôna (Mt
12:40), lớn hơn Môsê và Êlia (cf. Mc 9:2-10; Mt 17:1-13; Lc 9:28-36),
lớn hơn Đavít (Mc 12:35-37 và //), và lớn hơn Gioan
tiền hô[190]
(Lc 7:18-23 và //). Đức Giêsu là Đấng kiện toàn lề
luật và các tiên tri (Mt 5:17); Ngài không nói "Yahweh phán..."
như các tiên tri đă thường nói, nhưng Ngài lại
nói: "c̣n ta, Ta bảo các ngươi" (Mt 5:22.28.32);
"Ngài giảng dạy như một Đấng có uy
quyền" (Mc 1:27).
Kitô (CristoV) hay Massiah,[191]
có nghĩa là "được xức dầu." Trong
truyền thống Do Thái, người "được
xức dầu" là:
·
vua, được Thiên Chúa trao ban sứ mạng (1Sm
10:1tt; 16:1tt; 1V 1:39; 2V 9:6; 11:12),
·
thượng tế (Xh 29:7. 29; Lv 4:3. 5. 16; 8:12 cf. Dcr 4:14)
hoặc các tư tế (Xh 30:30; 28:41; 40:15; Lv 7:36; 10:7; Ds 3:3),
·
các tiên tri (Is 61:1tt).
Các
vị vua thường được các tư tế hay
tiên tri xức dầu (cf. 1Sm 16:13; 1V 1:39; 2V 9:6). Aharon và các
con ông, được Môsê xức dầu tấn phong làm
tư tế (Xh 30:30). Các tiên tri, những người
của Thần Khí (Hs 9:7), nên việc xức dầu của
tiên tri cũng là việc của Thần Khí (Is 61:1tt).
Thời
Đức Giêsu, người Do Thái sống dưới ách
đô hộ của người Roma, nên họ vẫn mong Thiên
Chúa sai Đấng Thiên Sai Vua tới để giải phóng
họ khỏi ách thống trị của người Roma.
Niềm khao khát mong muốn có Đấng Thiên Sai Vua rất
mạnh đối với người Do Thái trong thời
điểm này. Điều này có thể được
thấy qua việc Gioan tẩy giả sai người
thỉnh vấn xem Đức Giêsu có phải là Đấng
phải đến không (Lc 7:19-20), và qua biến cố dân
chúng muốn tôn Đức Giêsu làm vua sau khi Ngài làm phép
lạ hóa bánh ra nhiều (Ga 6:15).
Các
tông đồ cũng cho rằng Đức Giêsu là Kitô.[192]
Đức Giêsu chấp nhận đúng là như vậy,
nhưng Ngài không muốn cho dân chúng biết (Mt 16:20), v́
họ thường hiểu Kitô theo nghĩa Kitô Vua chính
trị, Đấng đến để giải phóng họ
khỏi bị người Roma đô hộ.
Dân
chúng khi rước Đức Giêsu vào thành Giêrusalem long
trọng, là tiếp đón Ngài như một vị vua thiên
sai (Mt 21:1-11). Ngài ngồi trên lưng lừa, theo như tiên
tri Zacharia loan báo (Dcr 9:9), để khẳng định tính
vua thiên sai của Ngài, nhưng không như người ta
mong đợi. Trước ṭa Philatô, chính Đức Giêsu
đă nhận "tôi là vua, chính v́ lẽ này mà tôi sinh ra...
nhưng nước tôi không thuộc về thế gian
này" (Ga 18:37.36).
Đức
Giêsu là Kitô, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Giải Phóng; Ngài
đến không phải để giải phóng con
người khỏi ách nô lệ chính trị, nhưng
để giải phóng con người khỏi tội,
khỏi làm nô lệ ma quỷ; Ngài là vua, nhưng là vua trong
ḷng mọi người.
Với
biến cố phục sinh của Đức Giêsu, các tông
đồ có cái nh́n mới về Đức Giêsu. Trước
các ngài thấy Đức Giêsu là một tiên tri, là đấng
Kitô; nhưng với biến cố Đức Giêsu Phục Sinh,
và những lần tiếp xúc với Ngài sau khi Ngài phục
sinh, các tông đồ c̣n thấy cái ǵ hơn nữa. Các tông
đồ đă nhớ lại những lời nói của
Ngài, những việc Ngài đă làm, và đă nhận ra Ngài là
Con Thiên Chúa theo nghĩa rất đặc biệt.
Từ
ngữ "một Thiên Chúa ba ngôi vị" cũng như
từ ngữ "Đức Giêsu đồng bản tính
với Thiên Chúa," là những phạm trù thần học
có sau này; nhưng nội dung đức tin "Đức Giêsu
là Thiên Chúa," đă có nơi các tông đồ với kinh
nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh.
Chỉ
có một ḿnh Thiên Chúa có thể tha tội; thế mà Đức
Giêsu đă tha tội! Đức Giêsu phạm thượng hay
Đức Giêsu là Thiên Chúa? Khi chữa lành người bất
toại, Đức Giêsu nói "tội lỗi của con đă
được tha" (Mc 2:5); và khi bị phản
đối, Ngài nói "để các ông biết con
người có quyền tha tội dưới đất-
Ngài nói với người bất toại- Ta bảo
ngươi, hăy chỗi dậy vác chơng mà về nhà" (Mc 2:9-11).
Nếu Đức Giêsu phạm thượng, chắc chắn
Ngài không thể làm phép lạ chữa lành người
bất toại được. Đây cũng là lư luận
của người mù từ thuở mới sinh (Ga 9:1tt);
anh ta đă trả lời tương tự như thế
khi người biệt phái và kư lục muốn anh ta nói
rằng Đức Giêsu là người tội lỗi:
"Điều này quả cũng lạ! Các ông lại không
biết ông ấy tự đâu ra! ông ấy đă mở
mắt cho tôi! chúng tôi biết Thiên Chúa không nhậm lời
những hạng tội lỗi, nhưng ai thờ Chúa và làm
theo ư Người, th́ Người nhậm lời kẻ
ấy. Không đời nào thiên hạ đă nghe ai mở
mắt đứa mù từ thuở mới sinh. Nếu ông
ấy không bởi Thiên Chúa mà đến, th́ đă chẳng
làm được ǵ" (Ga 9:30-33).
Đức
Giêsu, khi sinh thời, Ngài đă nói: "Ta và Cha là
một." "Người Do Thái lại lấy đá ném
Ngài v́... lời phạm thượng! ông là người phàm
mà dám cho ḿnh là Thiên Chúa" (Ga 10:30.31.33).
Khi
thẩm vấn Đức Giêsu trước công nghị Do Thái,
vị Thượng Tế hỏi Đức Giêsu: "Ông là
Đức Kitô Con Đấng đáng chúc tụng ư? Đức Giêsu
đáp lại: Chính là tôi! và các ông sẽ thấy Con
Người ngự bên hữu Đấng quyền năng
và đến với mây trời. Thượng tế
mới xé toạc phẩm phục của ḿnh ra và nói: Nào c̣n
cần ǵ đến nhân chứng nữa! Các người
vừa nghe lời phạm thượng! Các ngài thấy sao?
Họ đều quyết nghị Ngài can án chết" (Mc
14:61-64).
"Con
người ngự bên hữu Đấng quyền
năng," đây là lời nói cho thấy Đức Giêsu ư
thức thân phận ḿnh, cao hơn mọi tạo vật,
ngang hàng với Thiên Chúa quyền năng. Chính v́ vậy mà
các người trong công nghị mới cho rằng Đức Giêsu
phạm thượng, và đáng bị kết án tử h́nh.
Với
biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, lời Đức Giêsu
đă nói khi sinh thời được bảo đảm
là lời chân thực, được Thiên Chúa bảo
đảm. V́ nếu Ngài nói lời gian dối, th́ Thiên Chúa
đă chẳng phục sinh Ngài từ cơi chết; chính
biến cố tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu,
làm các tông đồ nhận ra rằng, Đức Giêsu là Kitô,
là Chúa, là Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa
theo nghĩa rất đặc biệt (tử hệ
thần linh), là Thiên Chúa.
Tước
hiệu "con Thiên Chúa" đă được dùng
nhiều trong Cựu Ước. Nó không thiết yếu
diễn tả tử hệ bản tính (nguồn gốc
thần linh của người hay ngôi vị
được gọi); nó có thể chỉ là tử hệ
thừa nhận, là kết quả của việc tuyển
chọn của Thiên Chúa đối với tạo vật
trong một tương quan đặc biệt. Trong
nghĩa này, tước hiệu "con Thiên Chúa" đă
được gán cho các thiên thần (G 1:6; Đnl 32:8), cho
dân được tuyển chọn (Xh 4:22; Kn 18:13; Đnl 1:31;
7:6), cho người Israel và những người công chính (Đnl
14:1; Hs 2:1 cf. Mt 5:9.45), cho các vị thủ lănh (Tv 82:6), cho
vị vua thiên sai (1Sb 17:13; Tv 2:7; 89:27).
Như
vậy, tước hiệu này không hàm chứa người
được gọi mang thần tính. Trường
hợp Đức Giêsu được gọi là "con Thiên
Chúa," cũng được hiểu như vậy. Không
thể đ̣i hỏi từ ngữ "con Thiên Chúa" mà
Satan gọi Đức Giêsu (Mt 4:3.6), hay các thần ô uế (Mc 3:11;
5:7; Lc 4:41), hay của viên bách quản (Mc 15:39; Lc 23:47), hàm
chứa chỉ Đức Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Và
câu hỏi của thượng tế trước ṭa công
nghị (Mt 26:3), cũng không vượt qua ư nghĩa thiên
sai.
Tuy
vậy, tước hiệu "con Thiên Chúa" có thể
được hiểu theo một nghĩa rất
đặc biệt, như tử hệ theo bản
chất. Đức Giêsu trong dụ ngôn những người
làm vườn nho giết người, đă tự
nhận ḿnh như người con thừa tự duy nhất (Mc 12:6; Mt 21:37);
Đức Giêsu có Thiên Chúa là Cha cách rất đặc biệt (Ga
20:17; Mt 7:21; 10:32-33; 11:27; 12:50); Ngài là con cưng, con chí ái (Mc 1:11
và //; Mt 3:17; 17:5); Ngài là người con duy nhất có chỗ
đứng đặc biệt và có trách nhiệm
đặc biệt: "không ai biết Con trừ ra Cha, và
không ai biết Cha trừ Con và những người Con
muốn mặc khải cho" (Mt 11:25-27). Động từ ginoskein và epiginoskein chỉ sự biết
bằng kinh nghiệm và bằng đời sống thân
thiết. Những lời trên, cộng thêm với những
lời khác về phẩm tính thiên sai thần linh của
Ngài, và tất cả được xác chuẩn bởi
biến cố phục sinh, làm cho từ ngữ "con Thiên
Chúa" nơi Đức Giêsu mang ư nghĩa chỉ tử
hệ theo bản tính thần linh.[193]
Chỉ
với ánh sáng của biến cố phục sinh, các tông
đồ mới nhận ra ư nghĩa thâm sâu của
tước hiệu "Con Thiên Chúa" nơi Đức Giêsu.
V́ là
Lời nhập thể, Đức Giêsu đă mặc khải
Thiên Chúa cách tuyệt vời. Không có Đức Giêsu, con
người không thể biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị.
Với
ánh sáng phục sinh, tông đồ Gioan đă nhớ lại
lời Đức Giêsu đă nói với Nicôđêmô vào ban đêm:
"Thiên Chúa đă yêu mến thế gian, đến
đỗi đă ban Con Một của Ngài, ngỏ hầu
mọi kẻ tin vào Ngài th́ không phải hư đi,
nhưng được sự sống đời
đời" (Ga 3:16).
Trong
lời cầu nguyện trước khi chịu khổ
h́nh, Đức Giêsu đă nói: "sự sống đời
đời là chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa đích
thực và độc nhất, và Đấng Cha sai đến, Giêsu
Kitô" (Ga 17:3).
Đức
Giêsu là Lời Thiên Chúa cứu độ con người.
Ngài mặc khải Cha: "Ai thấy Thầy là thấy
Cha" (Ga 14:9), "Không ai biết Cha trừ Con và những
người Con muốn mặc khải cho" (Mt 11:25-27; Ga
14:6-7). Con người biết ǵ về Thiên Chúa, là biết
qua Đức Giêsu Kitô, và biết trong Đức Giêsu Kitô. Không
có tri thức đích thực về Thiên Chúa nếu không qua
Lời Thiên Chúa, và cụ thể là qua Đức Giêsu Kitô.
Biết Thiên Chúa, là biết Ngài yêu thương con
người vô cùng.
Đức
Giêsu đă mặc khải Thánh Thần. Ngài nói về
Thần Khí như một ngôi vị: "Và ai có nói lời
nghịch đến Con Người, điều đó có
thể tha thứ được cho người ấy;
nhưng nếu ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều
ấy sẽ không tha thứ cho người đó,
đời này cũng như đời sau" (Mt 12:32).
Theo
tin mừng Gioan, Đức Giêsu cho thấy chân tướng
của Thánh Thần. Thánh Thần đến từ Cha, Ngài
được gọi là Đấng Bầu Chữa khác (Ga 14:16).
Đấng Bầu Chữa, là Thần Khí Sự Thật, là quà
tặng Thiên Chúa ban cho con người, cũng như Con
Một của Thiên Chúa cũng được ban tặng
con người (Ga 14:16; 3:16), để ở với con
người luôn măi. Thánh Thần, Đấng Bầu Chữa,
được Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu,
với sứ mạng dạy và nhắc nhớ:
"Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai nhân
danh Ta, Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và
sẽ nhắc lại cho các ngươi mọi điều
chính Ta đă nói" (Ga 14:26).
Thánh
Thần, được Đức Giêsu gởi tới,
để làm chứng cho Đức Giêsu:
"Đấng
Bầu chữa, khi Ngài đến, Ngài mà Ta sẽ từ
nơi Cha gởi đến, Thần Khí Sự Thật,
Đấng tự Cha mà xuất ra, Ngài sẽ làm chứng
về Ta" (Ga 15:26);
"C̣n
nếu Ta đi, Ta sẽ sai Ngài đến cùng các
ngươi" (Ga 16:7);
sứ
mạng của Thánh Thần là "biện bác thế gian
về tội, về sự công chính, về án xử" (Ga
16:8).
"Ngài
sẽ dẫn các ngươi vào tất cả sự
thật... Ngài sẽ làm Ta được vinh hiển... Ngài
sẽ lấy của Ta mà thông báo cho các ngươi" (Ga 16:13.14).
Thánh
Thần có cùng nguồn gốc với Đức Giêsu, cùng
được Cha sai (Ga 14:26; 17:3). Cả hai cùng
được trao ban sứ mạng. Đức Giêsu luôn
lấy ư Cha làm ư ḿnh, làm của ăn, và Ngài chu toàn công
việc Cha giao phó (Mt 26:39 //; Mc 14:36; Ga 4:34; Ga 17:4). Thánh
Thần được sai đến để ở
với con người, để làm chứng cho Đức Giêsu
(Ga 14:16; 15:26).
Sau
biến cố phục sinh, Đức Giêsu Phục Sinh đă
ban Thánh Thần cho các tông đồ (Ga 20:22), và khi tới
thời đă định, Thánh Thần tỏ hiện
quyền năng của Người trong ngày lễ Ngũ
Tuần (Cv 2:1tt).
Thiên
Chúa là Đấng yêu mến thế gian, yêu mến con
người đến cùng cực, Ngài muốn con
người được sống đời đời.
Chính để cứu độ con người, mà ngôi
Lời đă nhập thể làm người, và để
tiếp tục công tŕnh cứu độ, Ngài đă
thiết lập Hội Thánh và Thánh Thần của Ngài
vẫn luôn hoạt động nơi Hội Thánh trên
trần gian.
Đức
Giêsu đă tuyển chọn nhóm mười hai, để
họ ở với Ngài và để Ngài sai đi rao
giảng (Mc 3:14). Giữa nhóm mười hai này, Phêrô
được chọn như người đại
diện: "C̣n tôi, tôi bảo ông: ông là Đá (Phêrô) và trên đá
ấy tôi sẽ xây Hội Thánh của tôi, và cửa âm
phủ sẽ không thắng được. Tôi sẽ trao
cho ông ch́a khóa Nước Trời" (Mt 16:18-19).
Simon
Phêrô cũng được Đức Giêsu trao nhiệm vụ
củng cố đức tin của anh em ḿnh: "Simon,
Simon, này Satan đă đ̣i được các ông, để
quày cho một trận như sàng lúa, nhưng tôi đă
cầu xin cho ông, để ḷng tin của ông không bị
sờn núng. Phần ông, khi trở lại rồi th́ lo cho
anh em ông được vững mạnh" (Lc 22:31-32); và
hơn nữa, Phêrô c̣n được trao trọng trách
chăn cả chiên con lẫn chiên mẹ (Ga 21:15.16.17).
Về
phần các tông đồ, Đức Giêsu nói: "Các ông là
những người hằng bền đỗ ở
với tôi giữa các cơn thử thách tôi phải
chịu; và tôi cho các ông thông chia quyền Nước tôi,
như Cha tôi đă thông ban cho tôi, các ông sẽ
được ăn uống nơi bàn tiệc tôi, trong
Nước của tôi, và các ông sẽ được
ngự trên ngai mà đoán xét mười hai chi tộc
Israel" (Lc 22:28-30).
Sứ
mạng của các tông đồ cũng được
Đức Giêsu lập lại rơ ràng sau khi Ngài phục sinh:
"Cũng như Cha đă sai Ta, Ta cũng sai các
ngươi" (Ga 20:21). Theo tin mừng Matthêu, lần
cuối cùng hiện ra với các tông đồ, Đức Giêsu
cũng nói: "Mọi quyền năng trên trời
dưới đất đă được trao ban cho Ta.
Vậy các ngươi hăy đi thâu nạp môn đồ
khắp muôn dân, thanh tẩy chúng, nhân danh Cha và Con và Thánh
Thần, dạy chúng giữ hết mọi điều Ta
đă truyền cho các ngươi" (Mt 28:18-20).
Theo
tin mừng Gioan, trong những lời tâm huyết cuối
cùng, Đức Giêsu đă nói về Đấng Bầu chữa,
Thánh Thần sự thật. Đức Giêsu hứa sẽ sai
Đấng Bầu Chữa đến khi Ngài ở bên Cha, và
Thần Khí sự thật sẽ làm chứng cho Ngài (Ga 15:26).
Đức Giêsu c̣n nói thêm: "Và các ngươi cũng sẽ
làm chứng, v́ từ ban đầu các ngươi hằng
ở với Ta" (Ga 15:27).
Chỉ
với biến cố Thánh Thần tỏ hiện trong ngày
lễ Ngũ Tuần, các tông đồ và đại
diện là Phêrô, mới can đảm đứng lên rao
giảng làm chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh (Cv 2:1tt).
Phải chăng nếu Thánh Thần không được ban
cho các tông đồ, các tông đồ đă không đủ
can đảm và khôn ngoan làm chứng cho Đức Giêsu Phục
Sinh; cũng có thể nói: chính Thánh Thần đă làm
chứng về Đức Giêsu Phục sinh qua các tông
đồ, qua những người kế vị các Ngài, và
qua những kẻ tin vào Đức Giêsu Phục Sinh. Chính các
tông đồ là những người ư thức về
sứ mạng làm chứng của Thánh Thần ngang qua các
ngài, nên Phêrô đă nói: "và chúng tôi đây xin làm chứng
về các điều ấy cùng với Thánh Thần... (Cv 5:32).”
Lịch
sử Hội Thánh, là lịch sử Thánh Thần hoạt
động trong Hội Thánh nơi mỗi kẻ tin. Sách
Công Vụ Tông Đồ cho thấy những tác động
của Thánh Thần:
·
Chính Thần Khí tác động khiến các tông
đồ rao giảng làm chứng cho Đức Giêsu Phục
Sinh, cũng chính Thần Khí sai Barnaba và Saolô đi rao
giảng (Cv 13:2. 4).
·
"Không ai có thể nói: Giêsu là Chúa, mà lại không
bởi sức Thánh Thần" (1Cr 12:3).
Thiên
Chúa đă làm tất cả cho con người! Điều con
người ngày xưa ao ước như sống lâu,
tồn tại qua con cháu, hạnh phúc như sung túc về
của cải và có đất sinh nhai,[194]
th́ ngày nay, tất cả những điều đó
được hoàn tất nơi Đức Giêsu như bảo
đảm để được sống đời
đời, được sống hạnh phúc v́ có Thiên
Chúa làm gia nghiệp, có Nước Trời là sở hữu
vĩnh cửu (x. Mt 5:2. 4). Có Thiên Chúa là có tất cả, tin
vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu Kitô là được sự
sống đời đời, là được chính Thiên
Chúa là gia nghiệp.
Được
yêu thương như vậy, con người phải có
thái độ sống tương hợp: tin tưởng
vào Thiên Chúa quan pḥng yêu thương (Mt 6:25-34). Tâm t́nh
phải có đối với Thiên Chúa là tâm t́nh cha con, tâm t́nh
của những người được yêu (Mt 6:5-15 và
//). Thái độ đối với anh em: phải yêu
thương nhau như Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta
(Mt 5:38-48), đừng thù hận, hăy ăn chay và bố thí (Mt
6:1-4; 6:16-21), đừng xét đoán (Mt 7:1-5). Thái độ
đối với của cải: xem nó chỉ là
phương tiện, không được coi tiền
của như ông chủ (Mt 6:24.19-21).
Niềm
tin của Phaolô là niềm tin của các kitô hữu sơ
khai, và cũng là niềm tin của các tông đồ.
"Hỡi
anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đă rao
giảng cho anh em... V́ tiên vàn mọi sự, tôi đă truyền cho anh em điều
mà chính tôi đă chịu
lấy: là đức Kitô đă chịu chết v́
tội lỗi chúng ta, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đă
bị chôn cất, là Ngài đă hiện ra cho Kêpha,
đoạn cho nhóm mười hai... Vậy dù là tôi hay là họ,
chúng tôi rao giảng như thế, và cũng như thế
mà anh em đă tin" (1Cr 15:1-5.11).
Phaolô
rao giảng đức Kitô đă chết, sống lại,
và là Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô là người duy nhất mà
mọi sự phải được quy chiếu về.
Nơi Đức Kitô Giêsu, không có chia rẽ hay hiềm khích.
Những hiềm khích hay chia rẽ nếu có, là tại con
người, do người ta chưa lấy Đức Kitô Giêsu
là trung tâm cuộc sống của ḿnh! "Một khi
người ta nói: tôi, tôi về phe Phaolô; c̣n kẻ khác: tôi, tôi
về phe Apôlô. Vậy th́ Apollô là ǵ? Phaolô là ǵ? V́ nền móng
th́ không ai có thể đặt cái khác, ngoài nền móng đă
đặt rồi, tức là Đức Giêsu Kitô" (1Cr 3:4.
5.11). "Tôi muốn nói là anh em mỗi người, ai
cũng phân phô: tôi về phe Phaolô; tôi, tôi về phe Apollô; c̣n
tôi, tôi về phe Kêpha; và tôi, tôi về phe Đức Kitô! Đức
Kitô bị phân mảnh rồi sao? phải chăng Phaolô
đă đóng đinh thập giá v́ anh em? hay anh em đă
được thanh tẩy nhân danh Phaolô? (1Cr 1:11-12).
Đức
Giêsu Kitô là mối lợi tuyệt vời. Đức Giêsu Kitô
là trung tâm cuộc đời của Phaolô, là cái ǵ quư
nhất Phaolô biết được và ước ao:
"tôi c̣n coi mọi sự hết thảy là thua lỗ
bất lợi cả, v́ cái lợi
tuyệt vời là được biết đức
Kitô Giêsu, Chúa tôi. V́ Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự,
và coi là phân bón cả, để lợi được
đức Kitô, và được thuộc về Ngài" (Pl
3:8-9).
Đức
Giêsu Kitô là sự khôn ngoan. Với những ai
được kêu gọi th́ đức Kitô là quyền
năng và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa; chính do tự
Người (Thiên Chúa) mà anh em được có trong
đức Kitô Giêsu, Đấng do bởi Thiên Chúa đă nên
sự khôn ngoan cho chúng ta, sự công chính, sự cứu
chuộc và thánh thiện ((1Cr 1:24. 30).
Đức
Giêsu Kitô là h́nh ảnh của Thiên Chúa (Cl 1:15; 2Cr 4:4), nhờ
Ngài mà mọi vật được tạo thành (Cl 1:15-17; 1Cr
8:6; Hr 1:3); Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ con
người.[195]
Cứu độ con người khỏi t́nh trạng
khốn nạn.[196]
Ngài là phương xá tội chúng ta (Rm 3:25), nghĩa là chúng ta
được cứu nhờ tin vào danh Đức Giêsu Kitô,
chứ không phải nhờ vào việc giữ lề
luật, v́ lề luật không có sức cứu độ
con người!
Đức
Giêsu Kitô là nguồn mối chúc lành của chúng ta.
Ep 1:3-14:
"Chúc tụng Thiên Chúa là Cha của Chúa chúng ta Đức Giêsu
Kitô, Đấng đă chúc lành cho ta với tất cả
những ǵ là chúc lành của Thần Khí, ở trên trời
trong Đức Kitô... Người đă chọn ta trong Ngài...Người
đă tiền định cho ta được phúc làm con,
nhờ Đức Giêsu Kitô và v́ Ngài...Trong Ngài ta được
ơn cứu chuộc...Trong Ngài, chúng tôi cũng đă
được hưởng phần dành cho chúng tôi...Trong
Ngài, cả anh em nữa ...." Nhờ Đức Giêsu và trong
Đức Giêsu Kitô, chúng ta được Thiên Chúa ban cho
tất cả.
Đức
Giêsu Kitô là mầu nhiệm được ẩn dấu
từ muôn thuở, nay được tỏ hiện:
"Và quả là lớn lao thật, mầu nhiệm của chân đạo đă
hiển hiện trong xác thịt, chứng thực nhờ
Thần Khí, bày tỏ cho thiên thần, loan báo giữa muôn
dân, tin kính trong hoàn vũ, siêu thăng chốn vinh quang"
(1Tm 3:16). “... mà tôi đă trở thành người phục
vụ mầu nhiệm đă giữ kín từ muôn thuở,
muôn thế hệ, nhưng nay đă được bày
tỏ cho các thánh của Người, những kẻ đă
được Thiên Chúa muốn thông báo cho biết là ǵ
lường phong phú vinh quang của mầu nhiệm ấy
nơi dân ngoại, tức là Đức Kitô trong anh em, mối
hy vọng vinh quang" (Cl 1:26-27). "... nghĩa là
được hiểu biết mầu nhiệm của
Thiên Chúa, tức là đức Kitô, trong Ngài có ẩn chứa
hết thảy mọi kho tàng khôn ngoan thông thái" (Cl 2:2-3).
Theo
Phaolô, Đức Giêsu Kitô là mặc khải lớn nhất, cao
quư nhất: "Mầu nhiệm đă được
ẩn dấu từ muôn đời nay được
mặc khải" (Rm 16:25-27). Đức Giêsu Kitô không chỉ
là người đă chết v́ tội của chúng ta,
được Thiên Chúa phục sinh từ cơi chết, mà
Ngài là mầu nhiệm Thiên Chúa dấu kín từ muôn thuở
nay bày tỏ cho các thánh của Người, Ngài là Chúa trên
hết các Chúa, là chính Thiên Chúa.
Đức
Giêsu là Thiên Chúa, đây là tột đỉnh của mặc
khải. Điều này hàm chứa trong nhiều bản văn
của Phaolô. Đức Kitô được gọi là Con Thiên
Chúa,[197]
Con (riêng) (Rm 8:3. 32), Con của t́nh yêu, Con chí ái (Cl 1:13).
Trong
bản văn "Ai biết được tư
tưởng của Chúa để dạy Ngài?[198]
c̣n chúng tôi, chúng tôi có tư tưởng của Đức
Kitô" (1Cr 2:16), Phaolô đặt sóng đôi giữa Chúa
Yahweh[199]
và đức Kitô. Điều này hàm chứa, theo Phaolô,
đức Kitô có thần tính như Yahweh.
Nơi
bản văn Rm 9:5 "... và do tự họ, Đức Kitô
về phần xác, Đấng vượt trên mọi sự,
Thiên Chúa đáng chúc tụng cho đến muôn
đời," có một số nhà chú giải cho rằng
câu "Thiên Chúa đáng chúc tụng cho đến muôn
đời" không gán cho Đức Kitô, nhưng là chúc
tụng Thiên Chúa Yahweh; nhưng nếu xét kỹ văn
mạch, người ta thấy lời chúc tụng này
hướng về đức Kitô chứ không về Yahweh.
Phaolô
ít dùng từ ngữ Thiên Chúa để chỉ Đức Giêsu,
sở dĩ vậy v́ Ngài muốn dùng chữ Thiên Chúa (QeoV) để chỉ Cha (Rm
15:6); hơn nữa Phaolô luôn nghĩ đến đức
Kitô lịch sử "Thiên Chúa làm người" (Pl 2:5tt;
Cl 1:15) nên đức Kitô được diễn tả
như suy phục Chúa Cha (1 Cr 3:23; 11:3) trong công tŕnh tạo
dựng (1 Cr 8:6), cũng như trong việc tái tạo cánh
chung (1Cr 15:27tt).
Lời
tôn vinh Pl 2:6-11 cho thấy:
·
"Ngài, phận là phận của một v́ Thiên Chúa
(morfh Qeou).
·
Thiên Chúa đă siêu tôn Ngài, và ban cho Ngài Danh Hiệu
vượt qua mọi danh hiệu, hầu trước danh
hiệu của Đức Giêsu, mọi gối đều
phải qú xuống bái lạy, nơi trời cao... và
mọi miệng lưỡi phải xưng hô: GIÊSU KITÔ LÀ
CHÚA (cc. 9-11). Trong bản dịch LXX của cựu
ước, Thiên Chúa Yahweh được gọi là Chúa (KurioV). Như vậy, khi thánh
Phaolô gọi Đức Giêsu Kitô là Chúa (KurioV), phải chăng Phaolô
muốn nói Đức Giêsu Kitô ngang hàng với Thiên Chúa?
Trước danh hiệu của Đức Giêsu Kitô, mọi
đầu gối phải quỳ xuống bái lạy, không
chỉ trên địa cầu nhưng cả chốn hoàng
thiên và dưới gầm đất! Chỉ có danh Yahweh,
th́ mọi gối mới phải quỳ gối để
tung hô thôi!
"Điều
tôi muốn tôi không làm, c̣n điều tôi không muốn tôi
lại làm" (Rm 7:19). "Ai cứu tôi khỏi t́nh
trạng khốn nạn này" (Rm 7:24). Thiên Chúa Cha cứu
độ con người nhờ Đức Giêsu và Thánh
Thần của Ngài.
Thiên
Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô.[200]
Nếu
đối với các tiên tri, Thiên Chúa là Đấng đă
giải phóng dân Israel ra khỏi Aicập, đă kư giao
ước cùng ban lề luật cho dân Do Thái trên núi Sinai; th́
đối với Phaolô, Thiên Chúa là Đấng đă phục
sinh Đức Giêsu Kitô Con Ngài từ trong kẻ chết.[201]
Thiên
Chúa là Đấng đă phục sinh Đức Giêsu Con Ngài từ
trong kẻ chết, và Ngài cũng sẽ phục sinh chúng ta.[202]
Thiên
Chúa, theo Phaolô, cũng chính là Thiên Chúa cứu độ. Ngài
cứu độ con người qua chính Đức Giêsu Kitô là
Con của Ngài, và hoàn tất chương tŕnh cứu
độ nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng mà Ngài thâu tóm
vạn sự vạn vật (Ep 1:3-14).
Một
trong những điểm chính về mặc khải trong
tư tưởng Phaolô là Thánh Thần. Từ ngữ Thánh
Thần hoặc Thánh Linh, hoặc Thần Khí thánh,
được dịch từ chữ Hylạp Pneuma agion; c̣n từ ngữ
Thần Khí, được dịch từ chữ Pneuma.
Thần
Khí của Con đă được gởi tới trong ḷng chúng
ta bởi Thiên Chúa, để chúng ta có thể gọi Thiên
Chúa là Cha, Abba (Gl 4:6). Thần Khí của Đức Giêsu làm chúng
ta thuộc về Ngài, nếu chúng ta không có Thần Khí
của Đức Giêsu, chúng ta không thuộc về Ngài (Rm 8:11).
Thần Khí của Con được ban trong ḷng chúng ta;
Thần Khí của Thiên Chúa cũng ở trong chúng ta (Rm 8:9.
11; 1Cr 3:16). Thần Khí của Thiên Chúa làm cho chúng ta thành con Thiên
Chúa (Rm 8:11).[203]
Thần
Khí đỡ đần sự yếu đuối của
chúng ta, cầu khẩn cho chúng ta (Rm 8:26tt), giúp chúng ta
biết những ǵ ở nơi Thiên Chúa (1Cr 1:11), giúp chúng ta
tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa (1 Cr 12:3). Thần Khí công chính
hóa chúng ta (1Cr 6:11), làm chúng ta trở nên những
người tự do đích thực (2 Cr 3:17).
Thần
Khí là thực tại bao phủ tất cả đời
sống của kitô hữu, những người thuộc
về Đức Kitô và Thiên Chúa.
Tư tưởng của Phaolô lấy Đức Giêsu
Kitô làm trục. Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà chúng ta
hiểu biết hơn về Thiên Chúa, Đấng đă
giải phóng dân Do Thái ra khỏi Ai cập và kư kết giao
ước với dân trên núi Sinai, Đấng nói với dân qua
môi miệng tiên tri và soi sáng mỗi người bằng
sự khôn ngoan, và bây giờ Ngài giải phóng con
người khỏi tội và khỏi nô lệ ma quỷ
nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô. Cũng chính nhờ Đức
Giêsu Kitô mà chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha. Chính
nhờ Đức Giêsu Kitô mà Thánh Thần đă được
ban cho mỗi người, làm mỗi người tự do
đích thực, và chắc chắn rằng ḿnh đă
được và sẽ được cứu độ.
Đức
Giêsu là tất cả đối với Phaolô, và cũng là
tất cả của mỗi người chúng ta. Không có
Đức Giêsu Kitô, những hiểu biết của chúng ta về
Thiên Chúa không trọn vẹn, và chúng ta cũng không
được cứu độ.
Có
người cho rằng tin mừng Gioan và các thư Gioan
không là những tác phẩm của thánh Gioan tông đồ,
nhưng đúng hơn là của các môn đệ thánh nhân. Dù
sao chăng nữa, tin mừng theo Gioan và các thư mang tên Gioan
đều chịu ảnh hưởng rất nhiều
của thánh nhân, đến độ người ta có
thể nói thánh Gioan là tác giả.
Tin
Mừng Gioan và các thư mang tên Ngài là những tác phẩm
phản ánh đức tin của Giáo Hội sơ khai, nó có
thể được coi là những tác phẩm của
Hội Thánh tiên khởi. Hơn nữa, tin mừng và
những thư này, v́ được soạn thảo sau tin
mừng nhất lăm và các thư Phaolô, cũng như nhờ
những suy tư và đời sống thiết thân với
Thiên Chúa, với Đức Giêsu Phục Sinh, nên tin mừng và
những thư mang tên Gioan mang nhiều ư nghĩa thần
học sâu xa. Nói như vậy không muốn nói rằng tin
mừng Gioan không có nhiều sử tính. Với những khám
phá hiện đại, người ta thấy tin mừng Gioan
có rất nhiều sử tính, đến độ không kém
tin mừng Marcô.
Lời
đă thành xác phàm và ở giữa chúng tôi (Ga 1:14). Có thể
coi đây là tột điểm của mặc khải
bằng lời.
Phần
đông các nhà chú giải đều cho rằng, lời
khởi đầu "Ga 1:1-18" là kết quả suy
tư lâu dài và chịu ảnh hưởng quan niệm
"lời" trong Do Thái giáo, đặc biệt văn
chương tiên tri, và cả văn chương Hy lạp
nữa. Nơi Ga 1:1-18: đă thấy những chủ
đề sẽ được khai triển trong tin
mừng Gioan, chẳng hạn:
Đức
Giêsu Kitô là sự sống (Ga 1:4; cf. Ga 11:1tt)
Đức
Giêsu Kitô là ánh sáng (Ga 1:4.5.9; cf. Ga 9:1tt)
Đức
Giêsu Kitô là sự thật (Ga 1:17; cf. Ga 14:6; 8:32)
Đức
Giêsu là Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần (Ga 1:33). Ngài
được xác chuẩn là Đấng Thiên Sai[204]
trong biến cố Ngài nhận phép rửa với Gioan
Tẩy giả.
Đức
Giêsu từ trời xuống, Ngài là Con Một Thiên Chúa (Ga 3:13.16).
Đức
Giêsu là Đấng ban Nước Hằng sống (Ga 4).
Ngài
sống tùy thuộc Cha đến độ "của
ăn của tôi dùng là thi hành ư Đấng đă sai tôi, và chu
toàn công việc Người" (Ga 4:34).
Đức
Giêsu mặc khải cho dân Do Thái biết giữa Ngài và Thiên
Chúa có một tương quan rất đặc biệt:
Ngài gọi Thiên Chúa là Cha; điều này làm người Do
Thái muốn giết Ngài, v́ hàm chứa "cho ḿnh bằng
Thiên Chúa" (Ga 5:18).
Đức
Giêsu là Bánh Hằng Sống, ai ăn sẽ được
sống đời đời (Ga 6:51).
Điều
trước kia Ngài đă tỏ lộ cho Nicôđêmô vào ban
đêm (Ga 3:13tt), th́ nay Đức Giêsu nói với dân chúng: Ngài
không thuộc trần gian này, Ngài được Cha sai
đến trần gian (Ga 7:28tt). Đức Giêsu đến
từ Thiên Chúa (Ga 8:21-29).
Đức
Giêsu là sự sáng (Ga 8:12). Trong biến cố Đức Giêsu
mở mắt người mù từ thuở mới sinh,
điều này được mặc khải rơ hơn (Ga 9).
Đức
Giêsu là sự thật. Sự thật giải phóng và làm con
người tự do đích thực (Ga 8:32tt; Ga 14:6).
Đức
Giêsu là chủ chiên nhân từ (Ga 10:11).
Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa, là một với Thiên Chúa (Ga 10:30).
Trong
phép lạ phục sinh Lazarô từ cơi chết, Đức Giêsu
mặc khải Ngài là sự sống lại và là sự
sống, ai sống mà tin Ngài th́ không phải chết, c̣n ai
chết mà tin Ngài th́ sẽ được sống lại (Ga
11:25.26).
Đức
Giêsu xử sự như thể Ngài là vua (Ga 12:12-19) dù
rằng khi người Do thái muốn tôn Ngài làm vua khi Ngài
cho họ ăn no th́ Ngài lại trốn (Ga 6:15).
Đức
Giêsu mặc khải về Thánh Thần (Ga 14-16), và mặc
khải Cha như Đấng sai Ngài và luôn nhận lời Ngài
nguyện xin (Ga 17).
Trong
Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu mặc khải về chính ḿnh;
và trong tương quan với Con, Thiên Chúa là Cha
được mặc khải; cũng chính qua Ngài mà Thánh
Thần được sai đến và hoạt động
trong thế gian.
Trong
lời nguyện của vị Thượng Tế, Đức
Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha (Ga 17:1tt). Sự sống vĩnh cửu
hệ tại nhận biết Cha và Đấng Cha đă sai,
Đức Giêsu Kitô (Ga 17:3).
Trong
khi giảng dạy và đối đáp với dân chúng,
Đức Giêsu cũng khẳng định Ngài đến
từ Cha. Chính Thiên Chúa đă sai Ngài[205]
(Ga 5:36).
Thiên
Chúa là Đấng Đức Giêsu luôn luôn tùy thuộc vào, Ngài luôn t́m
ư Cha (Ga 5:30), luôn làm những công việc của Cha (Ga 6:38)
luôn nói lời của Cha ban cho Ngài (Ga 12:49; 14:24), luôn t́m vinh
quang của Đấng đă sai Ngài (Ga 7:18).
Tương
quan giữa Thiên Chúa Cha và Ngài mật thiết đến
độ:
·
Ai không kính trọng Ngài là không tôn kính Cha, Đấng
đă sai Ngài (Ga 5:23),
·
Và ai tin vào Ngài, th́ không chỉ là tin vào Ngài, nhưng là
tin vào Cha, Đấng đă sai Ngài (Ga 12:44),
·
Ai tiếp đón Ngài là tiếp đón Đấng đă
sai Ngài (Ga 13:20).
Thiên
Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, là Đấng đă sai Đức Giêsu
Kitô, là Đấng mà Đức Giêsu luôn hướng về.
Một
số nhà thần học hiện đại, căn cứ
vào sự liên quan mật thiết giữa Đức Giêsu và
Thiên Chúa, đă đi tới kết luận: Đức Giêsu là
Thiên Chúa. Đây là một lư chứng nhằm chứng minh thiên
tính của Đức Giêsu qua sự tùy thuộc hoàn toàn của
Đức Giêsu vào Thiên Chúa Cha.
Thần
Khí đă xuất hiện khi Đức Giêsu lănh phép rửa
với Gioan Tẩy Giả tại sông Yordan: "Tôi đă
trông thấy Thần Khí như chim câu đáp xuống và
lưu lại trên Ngài, nhưng Đấng đă sai tôi
đến thanh tẩy bằng nước, chính
Người nói với tôi: ngươi thấy Thần Khí
đáp xuống và lưu lại trên ai, th́ chính Ngài là
Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần và tôi đă
được xem thấy, và xin đoan chứng: chính Ngài
là Đấng Thiên Chúa chọn" (Ga 1:32-34). Thần Khí và Thiên
Chúa đă làm chứng cho Đức Giêsu với Gioan Tẩy
giả, và đến lượt Gioan Tẩy giả, ông
cũng làm chứng cho Đức Giêsu.
Thanh
tẩy trong Thần Khí, là sinh lại bởi nước và
Thần Khí. Đây là điều kiện để
được vào nước Thiên Chúa (Ga 3:5-6), v́ kẻ
sinh bởi xác thịt là xác thịt, c̣n ai sinh bởi
Thần Khí là thần khí (Ga 3:6).
Thần
Khí, Đấng an ủi khác, là Thần Khí chân lư, sẽ
được Thiên Chúa ban cho các tông đồ,[206]
Thần Khí này thế gian không thể lănh nhận (Ga 14:17).
Thần Khí, Đấng an ủi, sẽ được gởi
tới nhờ danh Đức Giêsu; Thần Khí sẽ dạy
dỗ các tông đồ (Ga 14:26), sẽ dẫn các tông
đồ vào tất cả sự thật (Ga 16:13). Thần
Khí là thực tại được Đức Giêsu ban cho
kẻ tin Ngài (x. Ga 7:37-39).
Thần
Khí, Đấng an ủi, Đấng ở nơi Thiên Chúa Cha, Ngài
không chỉ được Cha sai gởi (Ga 14:17. 26),
nhưng c̣n được Đức Giêsu sai gởi, và Ngài
sẽ làm chứng cho Đức Giêsu (Ga 15:26).
Khi c̣n
sống ở trần gian với thân xác, Đức Giêsu đă
hứa ban Thần Khí cho các tông đồ, và Ngài đă
thực hiện điều này sau khi phục sinh từ cơi
chết: "Đức Giêsu thổi hơi trên họ và nói: các
con hăy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20:22). Thần Khí
được ban cho các tông đồ, để ở
với các tông đồ măi măi (Ga 14:16), để loan báo cho
các tông đồ những điều sẽ xảy
đến (Ga 16:13), để làm chứng cho Đức Giêsu (Ga
15:26), và cũng để các tông đồ có thể tha
tội nhân danh Thiên Chúa (Ga 20:22-23).
Con người
là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương vô
cùng. V́ yêu, nên Thiên Chúa đă sai gởi Con của Ngài
xuống trần gian (Ga 3:16). Thiên Chúa Cha yêu con người
như yêu Chúa Giêsu (Ga 17:23 cf. Ga 17:20). Chúa Giêsu yêu con
người như chính Cha yêu Chúa Giêsu (Ga 15:9); Ngài yêu con
người đến độ hiến mạng sống
cho con người "không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh
yêu của người hiến mạng sống ḿnh" (Ga 15:13),
Ngài biến bánh rượu trở thành thịt máu Ngài
để nuôi con người (Mc 14:22-25), Ngài yêu con
người đến cùng (Ga 13:1tt). Thánh Thần yêu
thương con người đến độ luôn ở
với con người (Ga 14:16), nhắc nhớ và dạy
dỗ con người (Ga 14:26), dẫn con người vào
sự thật trọn vẹn (Ga 16:13).
Niềm
tin và cách sống có tương quan mật thiết với
nhau. Tin vào Thiên Chúa và Đấng-Cha-sai Đức Giêsu, hàm chứa
tin rằng "máu Đức Giêsu, Con của Người, tẩy
sạch ta khỏi mọi tội lỗi" (1Ga 1:7).
Con
người có tội và được Thiên Chúa cứu
thoát nhờ máu Đức Giêsu! Nếu không nhận ḿnh có
tội, là phủ nhận công tŕnh cứu độ của
Đức Giêsu, phủ nhận giá trị nhập thể và
cứu chuộc của Đức Giêsu, và của chính Thiên Chúa.
"Nếu ta nói: ta không có tội, th́ ta tự dối ḿnh,
và sự thật không có ở nơi ta" (1Ga 1:8).
Tin vào
Đức Giêsu, hàm chứa phải giữ giới lệnh yêu
thương của Ngài: "Như Thầy yêu mến anh
em, anh em cũng hăy yêu mến nhau" (Ga 13:34-35).
"Thiên
Chúa là t́nh yêu, và ai ở trong t́nh yêu, th́ ở trong Thiên Chúa,
và Thiên Chúa ở trong kẻ ấy" (1Ga 4:16). Ai ở
trong t́nh yêu th́ ở trong Thiên Chúa, ai yêu thương th́
người đó ở trong Thiên Chúa, người đó
thuộc về Thiên Chúa; c̣n ai không yêu thương, ghét anh em
ḿnh, th́ đó là kẻ sát nhân, và như vậy không có sự
sống đời đời (1Ga 3:14-15).
Thư
thứ nhất của Gioan đặt song song hành vi
"tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa" và "ai
ở trong t́nh yêu." Cả hai hành vi đó đều làm
cho người ta "ở trong Thiên Chúa" và "Thiên
Chúa ở trong người đó" (1Ga 4:15-16).
Tin
Thiên Chúa và yêu anh em ḿnh, đây là những hành vi của
những người được cứu độ,
những người có sự sống đời
đời.
Toàn bộ thư và tin mừng theo Gioan
được viết ở thời điểm cuối
cùng của bộ Tân ước. Nhờ có thời gian dài
suy tư, và nhất là nhờ đời sống thiết
thân với Đức Giêsu Phục Sinh cùng Thánh Thần của
Người, mặc khải được tŕnh bày nơi
tin mừng và các thư Gioan thật rơ ràng và sâu sắc.
Đức
Giêsu tử nạn phục sinh là Con của Cha trên trời,
Ngài sống rất thiết thân với Thiên Chúa Cha. Ngài là
sự sáng, sự thật, và sự sống. Ngài là
đường đưa con người về với Cha,
cho con người sống trong vương quốc của
Cha. Ngài đă về với Cha để dọn chỗ cho
chúng ta, và Ngài sẽ trở lại đón chúng ta đi
với Ngài (Ga 14:3).
Thiên
Chúa là Cha của Đức Giêsu; chính Cha đă sai con tới
để cứu những kẻ tin vào Ngài và vào Con (Ga 17:3; 3:16).
Cha cũng là Đấng đă sai gởi Thánh Thần, Đấng
sẽ ở măi măi với các tông đồ, Đấng trở
nên chứng nhân của Đức Giêsu Phục Sinh nơi
những con người c̣n ở trần gian nhưng không
thuộc về trần gian.
Con
người là tạo vật được Thiên Chúa yêu
thương; chính v́ yêu thương nên Thiên Chúa đă
gởi Con và Thánh Thần đến để cứu
độ con người. Dù được yêu
thương, nhưng vẫn có những người từ
chối t́nh yêu của Thiên Chúa, không tiếp nhận và không
tin vào người Con mà Ngài đă sai gởi xuống
trần gian; những người này đứng về phe
ma quỷ, không thuộc về Thiên Chúa. Cuối cùng Thiên Chúa
vẫn chiến thắng thế gian v́ Đức Giêsu đă
chiến thắng thế gian (Ga 16:33). Sự sáng đă
chiến thắng bóng tối. T́nh yêu của Thiên Chúa thể
hiện nơi Đức Giêsu đă chiến thắng sự
chết, đă chiến thắng tội lỗi và tất
cả.
Các
tông đồ và cộng đoàn kitô hữu tiên khởi tin
rằng Đức Giêsu tử nạn thời tổng trấn
Philatô, đă phục sinh từ cơi chết, được
siêu tôn bên hữu Thiên Chúa, và Ngài sẽ trở lại trong
vinh quang.
Đức
Giêsu đă nói về ngày quang lâm khi giảng dạy[207]
các tông đồ cũng như khi trả lời vị
thượng tế khi Ngài bị tra vấn.[208]
Khi các môn đồ đến gặp riêng Đức Giêsu
hỏi về ngày quang lâm, Ngài trả lời: "Các
ngươi hăy coi chừng đừng để ai lừa
gạt các ngươi. V́ có nhiều kẻ đội danh
Ta mà đến nói rằng: Đức Kitô, chính là Ta. Và họ
sẽ lừa gạt được nhiều
người... V́ cũng như chớp ḷa bên Đông rạng
bên Đoài, th́ cuộc quang lâm của con người cũng
sẽ thế... và người ta sẽ thấy Con
Người đến trên mây trời với quyền
năng và vinh quang cao cả..." (Mt 24:3-4.27.30). Và khi Con
Người đến trong vinh quang, Ngài sẽ phán xét thiên
hạ dựa theo những điều họ làm cho
những người nghèo khó (Mt 25:31-46).
Tin
mừng theo Gioan đề cập đến việc
Đức Giêsu về với Cha, và Ngài sẽ trở lại
đón các môn đệ thân thương của Ngài: "Ḷng
các ngươi chớ rúng động. Hăy tin vào Thiên Chúa, và
cũng hăy tin vào Ta. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở;
chẳng vậy, Ta đâu có nói với các ngươi là Ta
đi dọn chỗ cho các ngươi. Và nếu Ta ra đi
và dọn chỗ cho các ngươi, th́ Ta sẽ đến
lại và đem các ngươi theo Ta, để Ta ở
đâu, các ngươi cũng ở đó" (Ga 14:1-3).
Về
ngày của Chúa, chẳng ai biết được, kể
cả các thiên thần trên trời, cả Con nữa trừ
phi là Cha (Mc 13:32; 1Tx 5:2). Vào ngày Chúa quang lâm, những kẻ
đă chết trong Đức Kitô sẽ sống lại, đó
là niềm tin của tất cả kitô hữu.
Đức
Giêsu đă cho những người thuộc bè Sađốc[209]
thấy rằng Thiên Chúa, là Thiên Chúa của kẻ sống,
chứ không là Thiên Chúa của kẻ chết. Khi Kinh Thánh nói
Thiên Chúa là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacóp-
mà điều Kinh Thánh nói là sự thật-, nên Abraham, Isaac
và Giacóp vẫn c̣n đang sống một cách nào đó.
Theo
đức tin kitô, người chết không đi vào cơi
hư vô nhưng vẫn tồn tại; họ chịu phán
xét riêng để được thưởng hoặc
bị phạt, để hưởng tôn nhan Chúa hay bị
sa hỏa ngục. Tuy vậy hạnh phúc trọn vẹn
tràn đầy chỉ đến khi Chúa Giêsu Kitô quang lâm;
ngày đó người chết sẽ sống lại, và
được hạnh phúc trọn vẹn cả hồn
lẫn xác.
Tất
cả tin mừng nhất lăm đều thuật lại
tŕnh thuật Đức Giêsu nói về sự sống lại (Mc
12:18-27; Mt 22:23-33; Lc 20:27-40); c̣n đối với tin
mừng theo Thánh Gioan, Đức Giêsu nói: "Phục sinh và
sự sống, chính là Ta. Ai tin vào Ta th́ dẫu chết
cũng sẽ sống; và mọi kẻ sống cùng tin vào Ta
sẽ không phải chết bao giờ" (Ga 11:25-26).
Phaolô
cũng đề cập đến ngày quang lâm của
Đức Giêsu Kitô (1Tx 5:23; 4:13tt; 2Tx 2:1tt). Về ngày giờ
của Chúa đến th́ không ai biết, v́ Ngài như
kẻ trộm đến trong đêm tối (1Tx 5:1tt). Phaolô
cũng nói về số phận của những
người đi trước, những người đă
chết trước ngày Đức Kitô quang lâm (1Tx 4:13tt). Khi nói
về số phận của những người đă
chết trước khi Đức Kitô quang lâm (1Tx 4:13tt), Phaolô
hy vọng ngài cũng thuộc về số những kẻ
c̣n sống khi Đức Kitô quang lâm. Những người
đă chết trước thời Đức Kitô quang lâm,
sẽ được sống lại và đi đón Chúa
(1Tx 4:16-17). Trong thư thứ hai gởi Thessalonika, Phaolô
chỉnh lại tư tưởng của một số
người cho rằng ngày của Chúa gần đến
(2Tx 2:1 tt), và họ không làm ǵ nữa (2Tx 3:10tt).
Phaolô
lư luận chứng minh người ta sẽ sống
lại dựa vào sự kiện đức tin "Đức Giêsu
Kitô đă phục sinh." "Nếu Đức Kitô đă
sống lại từ cơi chết, th́ làm sao trong anh em
lại có kẻ dám nói: không có chuyện kẻ chết
sống lại? Nếu không có chuyện kẻ chết
sống lại, th́ Đức Kitô cũng đă không sống
lại; mà nếu Đức Giêsu Kitô không sống lại, th́
lời giảng của chúng tôi thật hư không" (1Cr 15:12-14).
Nếu
Đức Kitô không sống lại, th́:
việc
anh em tin là hăo huyền (1 Cr 15:17),
anh em
vẫn c̣n trong tội lỗi của anh em (c. 17),
chúng
ta là kẻ khốn nạn nhất trong thiên hạ (c. 19),
việc
chúng ta chịu thanh tẩy v́ kẻ chết nào có ích lợi
ǵ? (c. 30-31),
Phaolô
chiến đấu với mănh thú tại Êphêsô nào có báo
bổ ǵ? (c. 32),
tốt
hơn là nên hưởng lạc thú nếu người
chết không sống lại.
"Nhưng
kỳ thực, Đức Kitô đă sống lại từ cơi
chết, tiên thường của các vong linh. V́ chưng
sự chết do bởi một người. Quả
thế, cũng như nơi Ađam mọi người
đều phải chết, th́ trong đức Kitô, mọi
người cũng sẽ được tác sinh. Nhưng
ai theo thứ tự nấy, tiên thường là Đức Kitô,
rồi đến các kẻ thuộc về Người vào
ngày quang lâm" (1Cr 15:20-23).
Những
chương khởi đầu của Kinh Thánh cho thấy
hạnh phúc của con người hệ tại
đời sống thân mật với Thiên Chúa, đau
khổ và tột điểm của đau khổ là sự
chết hệ tại tội lỗi, tức là thái
độ không tin tưởng- phó thác- yêu thương Thiên
Chúa.
Abraham,
người được yêu thương tuyển
chọn, đă sống lâu và giàu có, trở nên mối phúc
lành cho nhiều người.
Lịch
sử dân Israel cho thấy, nếu dân trung thành với Thiên
Chúa, th́ toàn dân sống trong yên b́nh hạnh phúc; c̣n nếu dân
phản bội Thiên Chúa, không tuân giữ giao ước, th́
dân sẽ bị các dân tộc khác thống trị (thời
quan án), hoặc sẽ bị đưa đi lưu đày
(các ngôn sứ).
Nơi
Đức Giêsu Phục Sinh, tất cả lời hứa
của Thiên Chúa cho con người đă và đang
được hoàn tất. Nơi Đức Giêsu tử
nạn phục sinh, tất cả lời hứa của
Thiên Chúa đối với con người đă
được bảo đảm. Ơn gọi làm con Thiên
Chúa, được chia sẻ sự sống vĩnh
cửu với Thiên Chúa được bảo chứng
bằng máu Đức Giêsu Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể.
Sự sống vĩnh cửu, đời đời
hạnh phúc, đă được ban nhờ và trong Đức Giêsu
Kitô; hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ
trọn vẹn vào ngày quang lâm của Đức Giêsu Kitô, ngày
Thiên Chúa làm trọn vẹn mọi sự.
Nơi
Abraham và những người thời cựu ước,
của cải là bằng chứng hạnh phúc; c̣n nơi
Đức Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa là gia sản của những
kẻ thuộc về Người; hạnh phúc của con
người là chính Thiên Chúa. Lề luật trong Cựu
Ước cho thấy con người là tội nhân; c̣n với
Đức Giêsu Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể, con
người là tạo vật được yêu! Nơi Đức
Giêsu Kitô, con người được ban dẫy
đầy ơn này đến ơn khác. "Luật
được ban nhờ Môsê, c̣n ân sủng và sự
thật th́ được ban nhờ Đức Giêsu Kitô" (Ga
1:17).
Nhờ
Đức Giêsu Kitô, với Đức Giêsu Kitô và trong Đức Giêsu
Kitô, con người được tất cả,
đặc biệt nhất là Thánh Thần.
Không
một giáo phụ nào có ư định soạn thảo
một khảo luận về mặc khải, tuy vậy
người ta vẫn t́m thấy những tư
tưởng rải rác trong các tác phẩm của các ngài
để làm một tổng hợp về chủ
đề này.[210]
Khi t́m
hiểu tư tưởng của một tác giả nào
đó, người ta phải đọc bản văn tác
giả để lại trong bầu khí văn chương
tư tưởng thời đại đó, cũng như
phải hiểu bản văn đó trong chính mạch
văn của tác giả. Phải cẩn thận để
tránh những sai lầm mà nhiều người vấp
phạm, là đọc bản văn xưa theo năo trạng
hiện đại, và không để ư đến sự
thay đổi ư nghĩa của từ ngữ theo những
nền văn hóa và thời đại khác nhau.
Thánh Inhaxiô
Antiokia sống vào cuối thế kỷ thứ nhất sang
đầu thế kỷ thứ hai sau công nguyên; Ngài
chết khoảng năm 110 dưới triều hoàng
đế Trajan: bị đưa làm mồi cho thú dữ
ăn thịt. Ngài có biệt danh là "người mang
Thiên Chúa" (Theophoros). Ngài là giám mục của Antiokia. Trên
đường được giải tới Roma
để đem ra xét xử, Ngài đă viết bảy lá
thư cho các giáo đoàn. Chính nhờ những lá thư này mà
người ta biết tư tưởng của thánh nhân.[211]
Vào
cuối thế kỷ thứ nhất sang đầu
thế kỷ thứ hai, dân Do Thái vẫn sống dưới
ách đô hộ của người Roma và bị thù ghét
đặc biệt sau biến cố năm 70. Các kitô
hữu, sau biến cố bị Nêron vu cáo đốt thành
Roma, bị nghi ngờ và căm ghét nhiều hơn.
Vào
thời điểm này, bộ Tân Ước đă h́nh thành
trọn vẹn, đă được lưu truyền và
được dùng trong các cộng đoàn kitô nhưng
chưa rơ ràng như hiện nay.
Các
kitô hữu, khi sống chung với dân ngoại cũng
như với người Do Thái giáo, phải trả
lời những câu hỏi liên quan đến đức tin
của ḿnh, cũng như phải đáp trả những
bài bác của những người theo triết thuyết Hy
lạp hoặc Do thái giáo. Nhờ những nỗ lực
nhằm trả lời này, mà có những tài liệu như
hiện nay.
Trong
thư gởi cộng đoàn Magnesios, thánh Inhaxiô Antiokia
viết: "Bởi v́ các tiên tri đă sống theo Đức Giêsu
Kitô, v́ thế các ngài đă bị hành h́nh; các ngài đă
được linh ứng bởi ân sủng của
Người, để những người không tin
được xác tín hoàn toàn rằng chỉ có một Thiên
Chúa, Đấng tỏ lộ bởi Đức Giêsu Kitô Con Ngài, là
Lời của Ngài xuất thân từ im lặng,
Người Con làm hài ḷng Ngài trong mọi sự" (Ad Magn.
8,2).
Với
Inhaxiô Antiokia, Đức Giêsu Kitô được coi là trung tâm
của mặc khải, ngay cả khi đề cập
đến các tiên tri. Khi người theo Do Thái giáo nại
đến Cựu Ước, Inhaxiô nại đến
Đức Giêsu Kitô với thập giá sự chết và phục
sinh của Ngài (Ad Philadenphenses 8,2).
Với
Inhaxiô Antiokia, Tin Mừng không là những quyển sách,
nhưng là Đức Giêsu Kitô và cuộc khổ nạn cùng
phục sinh của Ngài (Ad Philadenphenses 9,2 ).[212]
Thánh
Justin (100-163) sinh trong một gia đ́nh Hylạp ngoại
giáo, là một triết gia, trở lại. Ngài biện
hộ cho đạo trước các triết gia ngoại
cũng như trước hoàng đế Antoin Le Pieus. Ngài
bị chém đầu v́ đức tin dưới thời
hoàng đế Marc Aurène ở Roma.[213]
Justin
sống trong thời ngộ đạo phát triển và
thịnh hành. Chủ đề mặc khải hàm chứa
trong vấn đề biết
Thiên Chúa. Có ǵ khác biệt giữa mặc khải kitô giáo
và cái biết nơi ngộ giáo?
Trong
thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa
hy-lạp, kitô hữu trả lời sao cho những
triết gia đại diện cho năo trạng của đa
số dân chúng cho rằng "Thiên Chúa- Đấng trên cao không
thể khám phá, và giả như khám phá được th́
cũng không thể diễn tả được?[214]"
Theo triết lư này, quan niệm "Thiên Chúa là Đấng
tuyệt đối cao vời," không thể dung hợp
với đức tin kitô giáo cho rằng: Thiên Chúa là Đấng
tạo dựng tất cả cách tự do, và can thiệp
vào lịch sử!
Vấn
đề được đặt ra: "Tính không
thể xác, không cho phép Thiên Chúa giao tiếp trực tiếp
với thế giới" (Dial. 127,2; Apol. II,7,9). Tatien,
một học tṛ của Justin, giải thích rằng:
"đặc tính thiêng liêng của Thiên Chúa, là lư do làm Ngài
không thể được hiểu cách vật chất
được (Adversus Graecos Oratio, IV, 1). "Làm sao Ngài có
thể nói hay tỏ lộ cho ai ở một góc nào đó
trên trái đất này được?" (Dial. 127,3)! Làm sao
giải quyết vấn nạn "Thiên Chúa siêu
việt" có thể mặc khải trong không gian thời
gian? Phải chăng sự kiện Thiên Chúa mặc khải
trong không gian thời gian, phủ nhận tính siêu việt
của Thiên Chúa?
Để
giải quyết vấn đề này, Justin chú ư tới khía
cạnh trung gian của Đức Kitô: "bởi ư Thiên Chúa,
Abraham Isaac và Giacóp đă thấy Đấng là Thiên Chúa, là Con
Thiên Chúa, là Đấng được sai gởi (angelos),
bởi v́ Ngài phục vụ ư định của Cha, Ngài là
Đấng- bởi ư muốn của Cha- đă làm người
và sinh bởi đức trinh nữ, Ngài là Đấng khi
xưa đă lấy h́nh lửa nói chuyện với Môsê
giữa bụi gai (Dial. 127,4).
Đối
diện với người Do Thái, Justin giải thích sự
thần hiển trong Cựu Ước theo nhăn quan kitô:
Lúc
khởi đầu, Lời (logos) đă hành động
như thiên thần (Dial. 56,4; 128,2), như sứ giả
(Apol. I, 63,5).
Trong
nhập thể, mặc khải của Thiên Chúa đạt
tới chóp đỉnh (Dial. 127,4; Apol. I, 63). Như vậy,
đối nghịch với quan niệm Do Thái, biến
cố Giêsu Kitô được tŕnh bày như thời
điểm tối cao của mặc khải thần linh.
Các sự kiện lịch sử được viện
dẫn về biến cố này không cho phép có lời
giải thích thần thoại về nhập thể (Apol. I,
13,3; I, 46,1; Dial. 30,3). Mặt khác, quan niệm thần
học về lịch sử cho thấy đặc tính
cứu độ của mặc khải (Apol. I, 23,2; II, 5,4).
Điểm
mang nhiều ư nghĩa trong thần học về mặc
khải của Justin, là ông đồng nhất Đức
Giêsu lịch sử với Lời (Logos):
"Cha
của hoàn vũ có một người Con- Đấng là
lời và trưởng tử của Thiên Chúa, là chính Thiên
Chúa nữa. Ngày xưa Ngài đă hiện ra cho Môsê và các tiên
tri, khi th́ dưới h́nh lửa, khi th́ dưới h́nh thân
xác, nhưng rất mới đây, v́ vâng phục ư Cha và
để cứu rỗi những người tin vào Ngài,
Ngài đă làm người sinh bởi người nữ
đồng trinh, và đă nhận lănh trên ḿnh những sỉ
nhục và đau khổ, để chiến thắng cái
chết bởi cuộc tử nạn và phục sinh của
chính Ngài" (Apol. I, 63,15tt; cf. I, 23).
Như
một triết gia, Justin đă đem quan niệm lời
trong triết lư Hy lạp và trong tư tưởng Do Thái
để giải quyết vấn đề
được thế giới ngoại đạo
đặt ra cho vấn đề mặc khải kitô giáo.
Nhờ quan niệm Lời là chính Đức Giêsu Kitô, mà mặc
khải trong Đức Giêsu Kitô được quan niệm
như một tiến tŕnh cứu độ
được thể hiện trong lịch sử (Apol. I, 5,4).
Lư
thuyết về "logos spermatikos" giúp Justin nhận ra
rằng: các triết gia và các nhà làm luật trước
Đức Kitô cũng được tham dự vào chân lư (Apol.
II, 10,2; cf. Ga 14:6), và chân lư trọn vẹn chỉ
được ban cho nhân loại qua Đức Giêsu là Lời
(Apol. II, 8,3).
Trước
Đức Kitô, có sự hiện diện hạt giống
của lời nhân loại, nhưng điều này không
được hiểu hoặc không được
đồng nhất với mặc khải tự nhiên, mà
phải được hiểu: mọi chân lư và mọi
thực tại đều mang dấu ấn của
đức Kitô (cf. Apol. II, 10,8).[215]
Thánh
Irénée, một nhà hộ giáo nổi tiếng, sinh tại
Tiểu Á, là học tṛ của thánh Polycarpe de Smyrne. Vào
khoảng năm 177, Ngài được cử làm giám
mục kế vị Pothin tại Lyon. Thánh nhân chết v́
đạo vào thời Septime Sévère khoảng năm 202.[216]
Các
vị hộ giáo, ngoài việc minh chứng Kitô giáo sở
hữu mặc khải tuyệt đối, các ngài c̣n
phải đương đầu với những giải
thích sai lạc mặc khải kitô giáo, hoặc do những
người lạc giáo giải thích tín điều cách sai
lạc, hoặc do những người theo các tôn giáo khác
cũng nhận họ có mặc khải, chẳng hạn
như ngộ giáo.
Ngộ
giáo cho rằng, con người, tự sức ḿnh không
thể đạt tới tri thức nhờ đó con
người được cứu độ. Họ cho
rằng những tri thức tôn giáo, những tri thức
cứu độ mà họ có, được mặc
khải từ trên. Thời thánh Irénée, có những
người mang danh kitô hữu nhưng thực chất họ
là những người theo ngộ giáo, họ chủ
trương: "Thiên Chúa đích thực không ai đă
biết trước khi Chúa chúng ta đến; Thiên Chúa mà các
tiên tri rao giảng, không là Cha của đức Kitô"
(Adversus Haer. IV, 6,1). Lập trường này hàm chứa
nhị nguyên thuyết của ngộ giáo: Thiên Chúa đích
thực và Đấng tạo hóa không đồng nhất
với nhau. Tri thức cứu độ (gnose) không
đến từ Đấng tạo hóa, nhưng đến
từ Thiên Chúa chân thực. Họ cho rằng không phải
mọi người đều có thể nhận lănh tri
thức này, mà chỉ có một số người sống
theo Thần Khí thôi. Phủ nhận nét tích cực của
thế giới và lịch sử, hàm chứa phủ
nhận mặc khải trong ḍng lịch sử, phủ
nhận Đức Giêsu lịch sử và chỉ chấp
nhận Đức Giêsu "theo Thần Khí" mà thôi.
Irénee
nhấn mạnh rất nhiều đến lịch sử
cứu độ trong công tŕnh cứu chuộc. Với
Irénée, nhị nguyên siêu h́nh của lạc giáo không là giáo lư
của Kinh Thánh. Irénée cho rằng Đức Kitô hoạt
động trong toàn lịch sử cứu độ; ngài
phủ nhận sự đối nghịch giữa Thiên Chúa
Tạo Hóa và Thiên Chúa Cứu Độ. Với Irénée, Thiên Chúa
tạo hóa cũng chính là Thiên Chúa cứu độ trong ḍng
lịch sử.[217]
"Tư tưởng của những người theo
ngộ giáo xa rời Thiên Chúa chân thực. Họ không
biết rằng Lời, Con duy nhất của vị Thiên
Chúa này, là Đấng luôn hiện diện với nhân loại,
đă liên kết với công tŕnh được nhào nặn
bởi chính Ngài, và đă in dấu vào công tŕnh này bằng
thần tính của Ngài. Lời này đă làm người,
đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng đă chịu đau
khổ v́ chúng tôi, đă phục sinh v́ chúng tôi, sẽ
đến lần nữa trong vinh quang của Cha để
phục sinh mọi thân xác, mang lại ơn cứu
độ, và làm sáng lên quy luật thẩm phán chí công trong
hoàn vũ đă quy phục Người. Chỉ có một
Thiên Chúa là Cha như chúng tôi đă tŕnh bày, và chỉ có
một Đức Kitô Giêsu Chúa chúng ta đến trong suốt
nhiệm cục phổ quát và thu hồi tất cả trong
Ngài" (Ad. Haer. III, 16,6; 24,1).
Với
từ ngữ nhiệm cục (oikonomia), Irénée muốn
diễn tả hành vi cứu độ của Thiên Chúa trong
Đức Giêsu Kitô, và nhấn mạnh đặc biệt
đến những biến cố cứu độ.
Khởi
từ Ep 1:10 Irénée muốn làm nổi bật biến cố Giêsu
Kitô, cho rằng biến cố này vang vọng không chỉ
trong b́nh diện hoàn vũ, nhưng c̣n trong b́nh diện
lịch sử cứu độ nữa. Qua từ ngữ
nhiệm cục, Irénée đă đào hố chôn ngộ
thuyết- giáo thuyết chủ trương có sự
đối nghịch giữa Cựu Ước và Tân
Ước. Theo lư luận của những người
ngộ thuyết, có hai Đức Kitô, một Đức Kitô
nhập thể và một đức Kitô vô h́nh (Ad. Haer. III, 16,6
cf. IV, 9,1; 36,5). Đối nghịch với khuynh hướng
sai lạc này, giám mục thành Lyon khẳng định
sự duy nhất lịch sử và duy nhất hữu
thể của Đức Kitô.
Mặc
khải theo Irénée luôn được đặt trong văn
mạch cứu chuộc học. Chính trong viễn ảnh
này mà chúng ta đọc lời chú giải Mt 11:25-27 của
Ngài: "Cha, Đấng vô h́nh đối với chúng ta, đă
được biết bởi Lời của Ngài, và
mặc dầu (Cha) là Đấng không thể diễn tả
nổi, đă được diễn tả bởi Lời
Ngài; và ngược lại, Lời chỉ được
biết bởi Cha thôi. Đó là chân lư lưỡng diện mà
Chúa đă cho chúng ta biết. V́ thế, Con mặc khải
cái biết về Cha bằng sự tỏ lộ riêng
của Ngài; đó là cái biết về Cha... bởi v́
tất cả mọi sự được biểu lộ
nhờ trung gian của Lời" (Ad. Haer. IV, 6,3).
Thiên
Chúa mặc khải, cũng chính là Thiên Chúa tạo dựng
và cứu chuộc con người trong ḍng lịch sử:
"Ngài là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên
Chúa của Giacóp, Thiên Chúa của kẻ sống; Ngài là
Đấng lề luật loan báo, các tiên tri hứa, Đức Kitô
mặc khải, các tông đồ truyền lại, và Giáo
Hội tuyên xưng. Do Lời là Con Ngài, Ngài là Cha của Chúa
chúng ta, Đức Giêsu Kitô, Đấng mặc khải Ngài. Và Ngài
tỏ lộ cho những kẻ Ngài mặc khải cho,
bởi v́ chính cho họ mà Con đă mặc khải Ngài cho
họ (Ad. Haer. II, 0,9).
Irénée
quy chiếu mặc khải về Đức Kitô, và Đức Kitô
này không thể tách biệt với Con làm người.
Nhiệm cục cứu độ (oikonomia) không bẻ
gẩy tính duy nhất của quan niệm về Thiên Chúa:
nhận thức (mặc khải) vẫn liên kết với
sáng kiến của Cha.[218]
Chính Con đă mặc khải Cha. Nếu ai rao giảng
một Thiên Chúa vô minh, là chống lại đức Kitô; v́
Đức Kitô Chúa chúng ta là Con Thiên Chúa (Ad. Haer. IV, 6,4).
Tạo
dựng, nh́n trong nhăn quan duy nhất, cũng là công tŕnh
mặc khải của Thiên Chúa toàn năng (Ad. Haer. II, 9,1; 30,9).
Khởi
từ tạo dựng, qua luật và các tiên tri, chúng ta
đạt đến Đức Kitô. Xét như là Con,
đức Kitô là thực thể hữu h́nh của Cha (Ad.
Haer. IV, 6,6). Các biến cố lịch sử không chỉ
hướng chúng ta đến với Đức Kitô, nhưng
nó c̣n là công tŕnh của Ngài và mặc khải Thiên Chúa.[219]
Như vậy, Thiên Chúa mặc khải ngày càng rơ qua
những thời điểm khác nhau của lịch sử
cứu độ. Sự nhập thể của Lời thâu
tóm mọi thời điểm của nhiệm cục
đi trước.[220]
Khi
nhấn mạnh các biến cố của lịch sử
cứu độ, Irénée không cho ngộ đạo có dịp
len lơi vào giáo lư kitô giáo trong lănh vực mặc khải; và
cũng tương tự như vậy khi quy chiếu
tiến tŕnh mặc khải vào biến cố Giêsu Kitô.
Thánh
Irénée tŕnh bày các hành vi cứu độ như một khoa
sư phạm. Thiên Chúa dạy dỗ con người về
Ngài để họ biết Ngài hơn. Và trong việc này,
nhiệm vụ của Lời nhập thể rất quan
trọng: "Chúng ta chỉ có thể biết về các
mầu nhiệm của Thiên Chúa, nếu Thầy của
chúng ta, tức Ngôi Lời, làm người. Thực vậy,
không một ai khác có khả năng mặc khải các bí
mật của Cha, nếu không phải là Lời Ngài"
(Ad. Haer. V, 1,1).
Không
như những vị thầy nơi ngộ đạo,
Thiên Chúa là vị Thầy chân thực và duy nhất của
các tín hữu. Vị Thầy thần linh đă tỏ
lộ Con Ngài trong những thời gian sau cùng này, để
làm xấu hổ những kẻ cứng tin (x. Ad. Haer. IV, 35,5).
Các tín
hữu Kitô không nhận giáo huấn kiểu ngộ
đạo như nhớ lại (réminiscence), nhưng
nhận do trung gian hành vi cứu chuộc của Thiên Chúa.
Các cuộc tranh luận với ngộ đạo làm Irénée
nhấn mạnh các dữ kiện của nhiệm cục,
và quy hướng thần học của Ngài vào sự
kiện Giêsu Kitô. Ngộ đạo phân biệt Đức Kitô
và Đức Giêsu theo xác thịt, c̣n với Irénée, việc
nhập thể của Con là chóp đỉnh của mặc
khải.
Thần
học của Irénée xây nền trên các dữ kiện của
lịch sử cứu độ, và như vậy liên quan
mật thiết đến Kinh Thánh. Các người ngộ
đạo cũng nại đến Kinh Thánh, và cũng có
quy điển Kinh Thánh riêng của họ, nhưng có
một khác biệt sâu xa giữa họ và các kitô hữu.
Ngộ đạo cho rằng "nguồn gốc của
cái biết là cái biết,” và như vậy, họ có thể
vượt qua Kinh Thánh; ngược lại các kitô hữu
chính thống và đại diện là Irénée, coi trọng các
quy chuẩn của chân lư (Kanon aletheias) được chứa
trong Kinh Thánh cũng như trong truyền thống của
Hội Thánh (paradosis) (Ad. Haer. III, 11,1; 12,6; 15,1; IV, 35,4).
Chứng
từ căn bản về Thiên Chúa là Kinh Thánh. Kinh Thánh
truyền lại cho chúng ta hành động cứu
độ của Người:
"Bởi
v́ chúng ta có quy tắc là chính chân lư (regulam ipsam veritatem) và
chứng từ hiển nhiên về Thiên Chúa, nên chúng ta không
c̣n phải t́m kiếm khám phá những giải thích
mới..." (Ad. Haer. II, 28,1).[221]
Giữa
Kinh Thánh và mặc khải có mối dây liên kết phải được
tuyệt đối duy tŕ, v́ Kinh Thánh xác nhận hành vi
cứu độ của Thiên Chúa (Ad. Haer. II, 28,1); tuy
vậy thánh nhân không đồng nhất cách đơn
thuần chứng từ kinh thánh và thực tại lịch
sử; điều này được thấy rơ v́ biến
cố mặc khải đạt tới chóp đỉnh
trong việc nhập thể của Lời Thiên Chúa, xảy
ra trước Kinh Thánh Tân Ước. Xét như là chứng
từ về biến cố Giêsu Kitô, Tin Mừng (và Kinh Thánh
nói chung) là tài liệu mặc khải.[222]
Nói
tới Kinh Thánh Tân Ước là phải nói tới các tông
đồ; các ngài đóng một vai tṛ đầu tiên và
rất quan trọng trong việc h́nh thành Tân Ước. Các
ngài là mắt xích giữa Đức Kitô và Giáo Hội.
Những
người ngộ đạo đặt cái biết
của họ trên sự nhận biết của các tông
đồ; c̣n đối với kitô hữu chân chính, các tông
đồ là bảo chứng của Tin Mừng (Ad. Haer. II, 2,2;
I, 27,2):
"V́
chúng ta không nhận biết nhiệm cục cứu
độ bởi những ai khác ngoài những người
đă mang Tin Mừng lại cho chúng ta. Các ngài đă rao
giảng Tin Mừng này đầu tiên, và bởi ư
định của Thiên Chúa, các ngài đă truyền lại
cho chúng ta trong Kinh Thánh, để Tin Mừng này trở thành
nền tảng và rường cột đức tin của
chúng ta" (Ad. Haer. II, 1,1).
Như
vậy, theo Irénée, tiêu chuẩn (mặc khải) là các tông
đồ, chứ không là những truyền thống bí
mật nào khác như những người ngộ
đạo chủ trương và dạy bảo. Những
người ngộ đạo chủ trương có
những truyền thống truyền chân lư bí mật,
chứ không do truyền thống chữ viết.[223]
Chúa đă đặt các tông đồ như những nhân
chứng về hành động và những lời dạy
bảo của Người (Ad. Haer. III, 12,15). Bởi
thế, các tông đồ có chỗ đứng duy nhất
trong việc lưu truyền Tin Mừng. Chỗ
đứng này không bao giờ suy suyển, lung lay hoặc
già nua cằn cỗi. Hội Thánh biết rằng,
đức tin của ḿnh tựa trên uy quyền các tông
đồ. Tính tông truyền bảo đảm chân lư
mặc khải.
Thánh
Irénée đă thiết lập mối dây liên kết giữa
mặc khải và truyền thống khi Ngài khẳng
định các tông đồ có nhiệm vụ lưu
truyền mặc khải mà Đức Giêsu Kitô đă tỏ
lộ.[224]
Những
ǵ đă được mặc khải qua hành vi cứu
chuộc của Thiên Chúa, đă được ghi giữ
trong Kinh Thánh dưới tác động của Thánh Linh và
được truyền lại trong Hội Thánh, là một
thực tại sống động.
Kinh
Thánh và truyền thống không
là những thực tại được đặt bên
nhau cách độc lập, hoặc những thực tại
bổ túc cho nhau dù một trong hai có thể tồn tại
không cần thực tại kia; trái lại Kinh Thánh
được bảo đảm trong truyền thống
của Hội Thánh (Ad. Haer. III, 4,1). Hội Thánh ǵn giữ
Kinh Thánh bằng chính cuộc sống đức tin của
ḿnh, và truyền lại cho các tín hữu cách trung thành.
Mặc
khải được chứa đựng trong Kinh Thánh và
được truyền lại trong Hội Thánh bằng
đường lối kế tục (Ad. Haer. IV, 33,8).
Hội Thánh, dưới sự hướng dẫn của
Thánh Linh, là tiêu chuẩn giải thích Kinh Thánh, v́ Hội Thánh
là người ǵn giữ truyền thống. Hội Thánh
phải tùng phục Mặc khải và những dữ
kiện lịch sử cứu độ mà Kinh Thánh đă
xác định.[225]
Clément
d'Alexandrie[226]
sinh vào khoảng năm 150 và chết vào khoảng năm 215;
ngài là một giáo sư nổi tiếng tại Alexandrie, và
được coi như vị thầy sáng lập
trường phái thần học Alexandrie. Có những nhân
vật lừng danh thuộc trường Alexandrie như
Origène, Athanasia, Cyrille d'Alexandrie, v.v.; Origènne là học tṛ
trực tiếp của Clément.
"Con
người được tạo dựng để chiêm
ngắm trời, con người là tạo vật thiên thai,
Thiên Chúa mời gọi con người đến nhận
biết Thiên Chúa" (Protrepticus, X, 100,3). Theo Clément,
"sự nhận biết là tri thức thần linh, là ánh
sáng thắp lên trong tâm hồn con người, giúp con
người tùng phục các giới lệnh, là ánh sáng
tỏ lộ mọi cái trên thế giới, là ánh sáng làm cho
con người có khả năng nhận biết chính ḿnh,
và dạy dỗ con người tham dự vào sự
sống của Thiên Chúa" (Strom. III, 44,3).
Ngộ
đạo ảnh hưởng khá mạnh thời Clément
sống. Giáo thuyết này chủ trương rằng, cái
biết giúp con người được cứu
độ. Những người theo ngộ đạo cho
rằng họ sở hữu tri thức cứu độ,
tri thức này đă được mặc khải cho
họ. Nếu vậy, cái biết được mặc
khải qua Đức Giêsu Kitô có giá trị ǵ?
Dựa
vào Mt 11:25-27: "Không ai biết Con trừ Cha, và không ai
biết Cha trừ Con và những người Con muốn
mặc khải cho," Clément cho rằng chỉ có Đức
Kitô là Đấng mặc khải Thiên Chúa chân thực; và như
vậy không được tham dự vào các bói toán, và
cũng không được tin vào các lời sấm (của
ngộ đạo), v́ nếu không, tính duy nhất của
mặc khải do đức Kitô bị lu mờ (Protrepticus
I, 10,3). Clément cũng cho rằng các mầu nhiệm của
ngộ giáo thực sự rỗng tuếch. Họ cho
rằng họ t́m được tri thức cứu
độ, nhưng thực ra chỉ có Thiên Chúa có thể
mặc khải cho con người, và sự mặc khải
này phải qua trung gian của Đức Kitô, chứ không do
một ai khác.
Dựa
vào Ga 10:9 Clément nói: "cửa này đă đóng cho tới bây
giờ, và chắc rằng, người mở nó sẽ
mặc khải những cái ở bên trong và tỏ cho
biết những cái mà người ta đă không có thể
biết lúc trước... Đức Kitô- vị trung gian duy
nhất mặc khải Thiên Chúa" (Protrepticus I, 10,3).
Thực tế, Gioan muốn nói về cộng đoàn cánh
chung, nhưng Clément lại giải thích như một
khẳng định về nhiệm vụ mặc khải
duy nhất: các tín hữu được nhận biết và
được thấy, nghĩa là được cứu
độ.[227]
Clément
cho rằng, ư thức của con người về sự
siêu việt của Thiên Chúa, là một bằng chứng
phủ nhận ngộ đạo, v́ ngộ đạo
chủ trương, để có điều ấy,
cần phải có mặc khải từ trên.[228]
Những điều trên không trái với những khẳng
định khác của Clément cho rằng, để biết
Thiên Chúa cần phải được mặc khải, và
mặc khải này được Thiên Chúa khởi
xướng; cái biết Thiên Chúa bằng kinh nghiệm và
chứng cớ khoa học th́ không có thể đạt
được (Stromata V, 82,9).
Như
vậy, "chúng ta chỉ có thể biết
được cái không thể biết, nhờ ân sủng
thần linh, và bởi Lời Thiên Chúa, xuất từ Thiên
Chúa" (Stromata V, 82,4; cf. 71,5).
Logos
có một chỗ đứng rất quan trọng trong tư
tưởng của Clément:
·
"thiên thần" trong cuộc chiến với Giacóp
ở Cựu Ước được giải thích là
Logos.
·
Logos là gương mặt của Cha: "Gương
mặt của Thiên Chúa, là Logos. Bởi Lời (Logos) Thiên
Chúa đă thành hữu h́nh và khả tri" (Pedagogus 1,57,2; cf.
Gen. 32:29). Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu, chứ không
hoàn toàn không thể hiểu như triết thuyết Platon
thường chủ trương.[229]
·
"Người chỉ đạo chúng ta, thuộc
về chúng ta, là Thiên Chúa chí thánh, Đức Giêsu, Lời,
Đấng hướng dẫn nhân loại" (Pedagogus 1,55,2).
·
Clément trích dẫn Hr 1:1 và nói: "Từ khởi
đầu, ngay lúc tạo dựng thế giới, Lời
đă dạy dỗ nhiều lần nhiều cách, và dẫn
đưa đến trọn lành" (Stromata VI, 58,2); chính
v́ vậy "các ngươi đừng gọi ai là
thầy trên mặt đất" (Pedagogus III, 43,2; cf. Mt 23:8
tt).
Sẽ
dễ dàng hiểu những điều Clément khẳng
định hơn, nếu đặt ḿnh vào khung cảnh
văn hoá Hy lạp, v́ trong nền văn minh văn hoá này,
Thiên Chúa được gọi là người chỉ
đạo. Clément đă triển khai ư niệm này của
Kitô giáo, để giúp thế giới hiểu về Kitô
giáo hơn.
Clément
nhắc đến "nhiều giao ước" với
dân Do Thái và Hy lạp của Thiên Chúa duy nhất (Stromata VI, 42,3);
và trong một mức độ nào đó, Clément đặt
triết lư ngang hàng với Cựu Ước: "cũng
như sự rao giảng đă đến vào thời thích
hợp, cũng vậy lúc thời gian thích hợp, luật
và các tiên tri được ban cho những người man
di mọi rợ, c̣n người Hy lạp th́
được ban cho triết lư, để chuẩn bị
họ đón nghe lời rao giảng" (Stromata VI, 44,1).
Cùng ư tưởng
trên được thấy ở ngay đầu sách của
Ngài: "Trước khi Chúa đến, triết lư là
chuyện không thể miễn trừ được
đối với người Hy Lạp, để dẫn
họ tới công lư; c̣n bây giờ nó trở nên hữu
dụng để dẫn họ tới tôn kính Thiên Chúa. Nó
dùng để huấn luyện trí tuệ, để trí
tuệ có thể lănh nhận đức tin qua chứng
minh" (Stromata 1,28,1). Trước biến cố nhập
thể, khôn ngoan được ban cho người Hy
Lạp như nhiệm cục cứu độ cho họ;
c̣n bây giờ triết lư chỉ đóng vai tṛ phục
vụ đức tin. Biến cố Đức Giêsu Kitô là tiêu
chuẩn và ch́a khóa của mặc khải.
Clément
vẫn giữ nguyên tắc cho rằng, Thiên Chúa chỉ
được biết thời Đức Kitô đến
(Pedagogus 1,20,2). Lời đă đến để dạy
con người trở nên Thiên Chúa: "Chính là Lời,
Đấng đă nói với các ông bây giờ với tất
cả sự rơ ràng, để sự cứng tin của các
ông phải xấu hổ. Vâng, tôi nói rơ, Lời đă
trở nên người của Thiên Chúa, và chính người
này dạy dỗ các ông biết làm sao để trở nên
Thiên Chúa (Protrepticus 1,8,4).
Với
Clément d'Alexandrie, cả hai giao ước (Cựu lẫn Tân
Ước), tuy đến vào những thời điểm
khác nhau, nhưng đều có cùng một kết quả, và
đến từ một Thiên Chúa duy nhất:
"Giao
ước là hai, do tên gọi và do thời gian, đă
được kư kết theo nhiệm cục thần linh
vào thời đại và (tùy) sự tiến bộ (của
con người); cả hai giao ước đều có cùng
một hiệu quả, bởi v́ cả Tân Ước và
Cựu Ước đều đến từ Thiên Chúa duy
nhất, qua sự trung gian của Con" (Stromata II, 29,2).
Chính
Đức Kitô là trung tâm nối kết các biến cố
mặc khải trong Cựu Ước và Tân Ước:
"Lề luật, các tiên tri, Tin Mừng, đều
được liên kết tất cả trong Đức Kitô,
trong một nguồn nhận biết duy nhất"
(Stromata III, 70,3).
Tư
tưởng của Origène[230]
cũng nhằm biện minh cho mặc khải Kitô giáo. Theo
triết lư Hy lạp, Thiên Chúa là Đấng siêu việt khôn ḍ,
vậy làm sao Ngài lại có thể mặc khải cho con
người? Mặc khải kitô giáo khác với những tôn
giáo nhận ḿnh cũng có mặc khải như thế nào?
Origène
sinh khoảng năm 185 tại Alexandrie, là học tṛ của
Clément d' Alexandrie. Ông đă đi nhiều nơi, kể
cả đă qua Roma. Origène chú giải nhiều sách trong
bộ Kinh Thánh. Ông chết ở Césarée hay ở Tyr
khoảng năm 250, sau khi chịu cực h́nh v́ đức
tin.[231]
Theo De
Principiis, một trong những tác phẩm đầu tiên
của Origène, người ta thấy thần học
của Origène triển khai từ ư niệm Thiên Chúa.
Chịu
ảnh hưởng của trường phái Platon cũng
như trường phái thần học Alexandrie, Lời
đóng một vai tṛ rất quan trọng. "Người
ta thấy nơi Lời- Đấng là Thiên Chúa và là h́nh ảnh
của Thiên Chúa vô h́nh- Cha là Đấng đă sinh ra Lời... Ai
chiêm ngắm h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh, cũng có
thể chiêm ngắm Cha, nguyên mẫu của h́nh ảnh"
(Comm. in Joan. XXXII, 9).
Thiên
Chúa mặc khải theo một chương tŕnh, và trong
chương tŕnh này Lời đóng vai tṛ hướng
ngoại (De Princ. IV, 4,8; Comm. in Joan, VI, 57; Contr. Celsum II, 66).
Lời xét như người chỉ đạo, dẫn
đưa con người đến một nhận
thức cao hơn (Comm. in Joan. 19,6). Quan niệm mặc
khải bao hàm ư tưởng tiến bộ, được
diễn tả bằng bộ ba Umbra- Imago- Veritas.
Con
người có thể nhận biết Thiên Chúa qua công tŕnh
của Người (Princ. I, 1,6; Comm. in Cant. III), và qua
việc lắng nghe tiếng lương tâm của mỗi
người (Princ. I, 3,1). Con người có sự
đồng nhất thiêng liêng nào đó với nguyên lư
của hữu thể (Hom. in Gen. 17).
Mặc
khải của Thiên Chúa cho con người đạt
tới cao điểm trong biến cố nhập thể
của Lời. Nơi Đức Giêsu Kitô, Lời hiện
diện không chỉ như nguồn ư nghĩa trong tạo
dựng, cũng không chỉ như lực thiêng liêng nơi
con người có lư trí, mà như là autologos (Contr. Celsum V, 39;
VI, 47).
Mặc
khải có tính năng động nội tại, và hàm
chứa tính tiến bộ. Sự thần hiển trong
việc nhập thể của Lời liên kết với
biến cố tái lâm của Đức Kitô. Trong ngày cánh chung
đó, người ta sẽ thấy Đức Kitô "không
như chúng ta thấy bây giờ, nghĩa là như Ngài không
là, nhưng như là thời đó, nghĩa là như Ngài
thực sự là" (Comm. in Mt. XVII, 19).
Về
sự tiến bộ của mặc khải, R. Goegler
viết: sự tiến bộ của mặc khải không
hệ tại trong sự thay đổi nội dung,
nhưng trong sự khai mở tiệm tiến của
nội dung, trong sự thiêng liêng hóa và trong sự hoàn
tất nội dung mặc khải.[232]
Triết
gia Celsus, một đại diện của tư
tưởng Hy lạp thời đó cho rằng: "Cứ
theo người Do thái và Kitô hữu, Thiên Chúa và Con Thiên Chúa
đă chẳng có thể hạ cố" (Contr. Celsum V, 2).
Sở dĩ Celsus nói như vậy, v́ ông thấy có sự
mâu thuẫn nội tại trong lập trường của
Kitô giáo khi tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Lời,
nhưng đồng thời lại tŕnh bày Ngài như
một người bị đánh đ̣n và chịu khổ
h́nh, chứ không như Lời thuần túy và thánh thiện
(Contr. Celsum, II, 31).
Thực
ra, Origène không phải là người không cảm thấy
nhức nhối v́ sự "kỳ dị" này, nhưng
ông cố gắng thoát khỏi lưỡng luận này
bằng lư thuyết về sự thích ứng của Lời
với hoàn cảnh con người: "khi đến
với con người t́m kiếm Ngài và tiếp nhận
Ngài khi Ngài hiện ra cho họ, Lời có khả năng làm
cho họ nhận biết Cha và mặc khải Cha, Đấng
là Đấng vô h́nh trước khi Ngài tới. Ai có thể
cứu và dẫn linh hồn con người đến
với Thiên Chúa tối cao, nếu không phải là Thiên Chúa
Lời? Từ khởi đầu Ngài đă ở nơi
Thiên Chúa, nhưng v́ con người c̣n bị dính vào xác
thịt, nên Ngài đă thành thịt, để có thể
được nhận biết bởi những
người không thể thấy Ngài như Ngài là Lời,
như Ngài ở bên cạnh Thiên Chúa và là Thiên Chúa.
Được diễn tả trong hạn từ thân xác, và
được rao giảng như xác thịt, Ngài gọi
đến với Ngài những kẻ là xác thịt,
để làm cho họ được bước lên cao,
để họ có thể thấy Ngài như Ngài đă là
trước khi trở thành xác thịt" (Cont. Celsum VI,
68).
Origène
cố gắng thiết lập sự hài ḥa giữa Kinh
Thánh và những lời bài bác từ những ư thức
hệ xung quanh. Qua nổ lực này, Origène duy tŕ sự siêu
việt của Thiên Chúa cùng với ước vọng
hiểu biết của con người; và cho thấy
việc nhập thể hướng đến việc
biến đổi con người, dẫn con người
đến chiêm ngắm các thực thể thiêng liêng.
Trong
công thức "Đức Kitô loan báo chính ḿnh" (Comm. in Joan.
XIII, 28), Origène tŕnh bày quan niệm về mặc khải:
Lời làm người, vừa là Đấng mặc khải,
vừa là Đấng được mặc khải.
Tương
quan giữa Lời và Kinh Thánh rất chặt chẽ:
"tất cả đă được tạo dựng
bởi Lời, nghĩa là không chỉ các tạo vật,
nhưng cả lề luật và các tiên tri nữa" (Comm.
in Col., frgm. PG. 14,1297c cf. Ga 1:3).
Giữa
Kinh Thánh và Lời nhập thể có tương quan song
đối: "Cũng như Lời được loan
báo không thể sờ mó được v́ bản chất
của nó như vậy (tức vô h́nh), nhưng một khi
nó được chép lại trong sách, một h́nh thức
nhập thể nào đó, th́ nó có thể được
đụng chạm; cũng vậy, Lời của Thiên
Chúa. Theo thần tính, Lời không được thấy cũng
chẳng được viết, nhưng khi Lời thành
thịt, th́ Lời được thấy và
được viết. V́ Ngài làm người, nên có sách gia
phả của Đức Giêsu Kitô" (Comm. in Mt., frgm. PG. 17,289
AB).
Dưới
h́nh thức sách, mặc khải là một hành vi giống
như nhập thể (Contr. Celsum VI, 77). Theo một nghĩa
nào đó, Lời Kinh Thánh đồng nhất với
lời siêu thời gian. Kinh Thánh ở đây không chỉ
được hiểu như những tŕnh thuật về
lịch sử cứu độ được in dấu
bởi Thiên Chúa Lời, cũng không được hiểu
là bộ sưu tập những chữ chết, nhưng
phải được hiểu là tất cả các biến
cố cứu độ được Lời thực
hiện.
Celsus
cho rằng con người khó có thể biết Thiên Chúa
với cái biết tinh ṛng. Để trả lời, Origène nói:
"Chúng tôi cho rằng, bản chất con người không
đủ để t́m kiếm Thiên Chúa và khám phá ra Ngài
với sự tinh ṛng, trừ phi với sự giúp
đỡ của Đấng mà họ đă t́m kiếm. Sau khi
những kẻ t́m kiếm Ngài đă làm hết sức và
đă khám phá được Ngài, họ đă thú nhận
rằng, phải có sự giúp đỡ của Ngài
để khám phá được Ngài. Ngài tỏ lộ cho
những kẻ Ngài xét là hữu lư để Ngài hiện ra
cho họ" (Contr, Celsum VII, 42).
Với
câu trả lời trên của Origène, mặc khải là sáng
kiến của Thiên Chúa, chứ không phải do sức và
tự sức con người. Sự tiến bộ về
nhận biết Thiên Chúa vẫn là ân sủng.
Origène
không để ư nhiều đến chiều kích lịch
sử của mặc khải, nhưng lại nhấn
mạnh đến chiều kích đối thoại. Thiên
Chúa đă mặc khải cho con người, và qua hành vi
mặc khải, Ngài khơi nguồn những tương
giao mới và phong phú giữa Ngài và con người.
Augustin
sinh khoảng năm 354 tại Tagaste ở Numide. Mẹ là
thánh Monica, và cha là một người ngoại chỉ
trở lại vào giây phút cuối đời. Thời
thơ ấu, thánh nhân đă được mẹ dạy
cho biết "ơn cứu độ chỉ có
được trong Đức Kitô," và điều này đă
in sâu trong tâm khảm Agustin. Vào những năm 365-369,
nghĩa là vào thời điểm Augustin từ 11
đến 15 tuổi, Augustin được gởi đi học
tại Madaure; chính vào thời điểm xa gia đ́nh
đầu tiên này, và nhất là xa người mẹ
đạo đức Monica, mà Augustin bắt đầu
sống xa nếp sống đạo đức. Vào năm
370, Augustin được gởi đi Carthage để
học về hùng biện. Vào năm 373, lúc 19 tuổi,
Augustin đọc Lecture de l'Hortensius của Cicéron, và
nhận ra: con người chỉ có hạnh phúc đích
thực nếu chiếm hữu được chân lư.
Từ thời điểm này trở đi, câu hỏi
nền tảng luôn được lập đi lập
lại với Augustin: làm sao có được chân lư đích
thực?[233]
Trên
đường t́m kiếm chân lư đích thực, Augustin
đă đến với phái nhị nguyên (Manichéisme); đây
là thời điểm Augustin làm giáo sư về hùng
biện ở Tagaste năm 373, và ở Carthage vào những
năm 374-383. Nhị nguyên thuyết đă làm Augustin thất
vọng, nhất là khi lănh tụ phái nhị nguyên là giám
mục Fauste ở Milève tới Carthage vào năm 382, giám
mục này thú nhận không thể trả lời các vấn
nạn của Augustin. Hơn nữa, khi Augustin tới Roma
vào năm 383, ngài thất vọng hơn nữa khi thấy
đời sống vô luân của các lănh tụ phái nhị
nguyên tại đây.[234]
Vẫn
miệt mài t́m kiếm chân lư đích thực, sau khi thất
bại với nhị nguyên thuyết, vào năm 383 ở
Roma, Augustin t́m đến với chủ thuyết cái nhiên
(probabilisme) của trường phái tân hàn lâm (Nouvelle
Académie). Nhưng chủ thuyết này cũng làm Augustin thất
vọng, v́ họ nhận ḿnh dạy đường
lối khôn ngoan, nhưng chính họ lại chủ
trương thuyết cái nhiên, một chủ thuyết
lấy nghi ngờ làm chính, và cho rằng con người
không hoàn toàn chắc chắn sở hữu được
chân lư.
Cũng
vào năm 384, Augustin nhận ghế giáo sư tại Milan,
và ở đây Augustin gặp thánh giám mục Ambroise. Sau
những lần nghe thánh nhân giảng dạy và gặp
gỡ, Augustin nhận ra chân lư. Augustin quyết định
học đạo, trở thành dự ṭng vào năm 384.
Vào
khoảng năm 385 Augustin khám phá ra rằng, cần
thiết phải có một uy quyền phân biệt với lư
trí, để có thể sở hữu được chân
lư. Đó là Kinh Thánh hay Hội Thánh. Cũng chính vào thời
điểm này, Augustin phủ nhận hoàn toàn chủ
trương thuyết cái nhiên trong việc nhận biết
chân lư. Chấp nhận Kinh Thánh và Hội Thánh là quy phạm
của đức tin và chân lư, đó là sự hoán cải
tinh thần của Augustin., Tuy vậy vẫn c̣n nhiều
vấn đề thuộc b́nh diện tri thức mà Augustin
c̣n cảm thấy lấn cấn. Augustin vẫn tiếp
tục đọc và nghiên cứu những tác phẩm
của trường phái tân-Platon, chủ yếu của
Plotin. Những điều này soi sáng cho Augustin nhiều, và
bổ túc những điều giám mục Ambroise giảng
dạy.[235]
Vào mùa
thu, tức là vào khoảng tháng 9 năm 386, một lần
đang ở trong khu vườn tại Milan, Augustin nghe
thấy tiếng "Tolle, lege,” ngài đă quyết
định từ bỏ tham vọng, từ bỏ hôn nhân,
từ bỏ thế gian; ngài đă cùng một số
bạn bè lui về Cassiciacum để làm một loại
nhà tập, sống đời tu tŕ.[236]
Tới
đầu năm 387, Augustin trở về lại Milan
để chính thức chuẩn bị lănh nhận bí tích
rửa tội vào lễ Phục Sinh năm 387, cùng với
người con Adéodat và một người khác là Alype.[237]
Augustin
làm linh mục năm 391; và khi giám mục ở Hippone
mất, Ngài được chọn làm giám mục tại
đó năm 395. Chính từ giáo phận nhỏ bé này, mà Ngài
soi sáng Hội Thánh hoàn vũ.[238]
Augustin
chết ngày 28.08.430, thọ 76 tuổi, khi Ngài đang làm giám
mục ở Hippone, tức Numide, nay thuộc Carthage
nước Algérie.
Khi xét
quan điểm của Augustin về mặc khải,
phải lưu ư đặc biệt tới lư thuyết soi
sáng của thánh nhân. Chính nơi lư thuyết soi sáng này,
người ta thấy được quan niệm của
thánh nhân về Thiên Chúa và con người.
Lư
thuyết "soi sáng" (illumination) phản ánh cuộc
đời t́m kiếm chân lư của Augustin với bao nhiêu
năm miệt mài vất vả nơi các trường phái
nhị nguyên và Tân Hàn Lâm.
Augustin
đă t́m thấy chân lư.
Khi
nhận ra chân lư, tức là thấy được sai
lầm của trường phái nhị nguyên. Những
người này luôn nói họ rao giảng mặc khải
của đức Kitô, nhưng thực ra họ rao
giảng chính lư thuyết của họ. Họ không có
sự khôn ngoan đích thực, và cuộc sống vô luân
của họ cho thấy điều đó. Augustin cũng
thấy được sai lầm của phái Tân Hàn Lâm;
những người này cho rằng không thể biết chân
lư cách chắc chắn, và họ chủ trương
"thuyết cái nhiên" (probabilisme): có lẽ họ
biết được chân lư!
Cần
ơn soi sáng để nhận biết chân lư.[239]
Điều này không muốn nói, lư trí không có khả năng
biết chân lư. Lư trí có khả năng nhận biết chân lư
vĩnh cửu, nhưng cần có sự trợ giúp bởi
ánh sáng từ trên.
Sẽ
hiểu rơ hơn về lư thuyết ơn soi sáng, nếu
nh́n và so sánh với quan niệm của Augustin về ân
sủng và tự do: con người với nguyên tội
vẫn c̣n tự do nhưng phần nào đă bị ḷng tham
dục khống chế; ân sủng của Thiên Chúa vẫn
cần để con người làm điều thiện,
chứ không phải con người có khả năng hành
thiện độc lập với Thiên Chúa như Pélage
chủ trương, hoặc con người chủ
động hành thiện trước và ân sủng của
Thiên Chúa trợ giúp sau như nhóm Semipélagianisme chủ
trương.
Lư trí
cần ơn soi sáng để nhận biết chân lư,[240]
nhưng lư trí không "chỉ có nhiệm vụ thứ
yếu và có tính chuẩn bị trong việc nhận
biết chân lư như F-J. Thonnard chủ trương.[241]
Nếu giải thích lư trí chỉ có nhiệm vụ thứ
yếu trong việc nhận biết chân lư, e rằng chúng ta
hiểu sai tư tưởng của Augustin, v́ như
vậy trái với Rm 1:19-21 và cũng trái với quan niệm
về con người của Augustin (con người
vẫn c̣n tự do để làm điều thiện, và ân
sủng không làm giảm giá trị tự do của con
người).
Tương
tự như ánh sáng cần để thị giác có thể
nhận ra những vật hữu h́nh, th́ ơn soi sáng
cũng cần để lư trí nhận ra những chân lư
vĩnh cửu. Ánh sáng mặt trời cần để
nhận ra những sự vật hữu h́nh, nhưng nói
như vậy không có nghĩa muốn nói rằng: thị
giác chỉ có chức năng thứ yếu trong việc
nh́n thấy sự vật khả giác hữu h́nh.
Lư
thuyết soi sáng, tức lư thuyết về khả năng
của lư trí con người, là lư thuyết nằm trong nhăn
quan con người đă phạm tội. Như vậy,
quan điểm cứu độ là quan điểm nền
tảng trong cả thần học lẫn triết học
của Augustin. Chính con người sa đọa mới
cần ơn cứu độ. Không thể tách triết
học ra khỏi thần học nơi Augustin. Ở
đây người ta lại thấy lời dạy của
mẹ thánh Monica thật quan trọng với Augustin; lời
dạy này h́nh thành quan điểm của Augustin nơi
cả triết học lẫn thần học: "Ơn
cứu độ chỉ có nơi Đức Kitô."[242]
Sau bao năm trong mê lầm trong tăm tối, trong khắc
khoải t́m kiếm chân lư; cuối cùng Augustin đă nhận
biết chân lư cùng với thực tại cụ thể
của con người: con người với những
giới hạn và tham dục.
Lư
thuyết "soi sáng" không là lư thuyết độc
lập bàn về khả năng của lư trí con
người, nhưng nó diễn tả giới hạn
của con người cụ thể trong việc nhận
biết chân lư, và như vậy nó chỉ được
hiểu đúng đắn trong cái nh́n toàn bộ về con
người của Augustin. Lư thuyết "soi sáng" hàm
chứa khẳng định có những chân lư hiện hữu
độc lập với lư trí con người,[243]
và những chân lư vĩnh cửu khách quan này hiện hữu
nơi Thiên Chúa, nơi Lời Thiên Chúa.[244]
Ánh
sáng soi sáng lư trí này, là ánh sáng tự nhiên (xét như linh
hồn theo bản tính quy hướng về nhận
biết chân lư),[245]
là ánh sáng đặc biệt phân biệt với ánh sáng riêng
của trí khôn,[246]
là chính Thiên Chúa.[247]
Ánh sáng, nhờ đó lư trí nhận biết chân lư, là chính trí
năng tác động theo Thomas.[248]
Ánh sáng này, theo Thomas, tuy không do linh hồn sở hữu
như tự linh hồn có vẫn ở nơi linh hồn,
làm một với linh hồn. C̣n đối với Augustin, ánh sáng này
linh hồn nhận được từ trên, từ Thiên
Chúa.[249]
Chân lư
ở trên lư trí con người, là thực tại
độc lập với lư trí con người. Chính v́
vậy, lư trí con người cần ơn soi sáng để
nhận biết chân lư vĩnh cửu. Và cũng chính v́
vậy, con người cần một uy quyền tách
biệt với lư trí để giúp lư trí con người
nhận biết chân lư vĩnh cửu, đó là Kinh Thánh và
Hội Thánh.[250]
Thiên
Chúa là chân lư thực hữu, là chân lư của mọi chân lư,
là Đấng cứu độ con người qua Đức Kitô,
là Đấng soi sáng, để linh hồn con người
nhận biết chân lư vĩnh cửu, là Đấng yêu
thương luôn ban ân sủng giúp con người hành
thiện. Con người là tạo vật sa ngă bị
thương tổn, được cứu độ qua
ơn soi sáng để nhận biết chân lư vĩnh
cửu, qua ân sủng và đặc biệt qua Đức Giêsu
Kitô như Lời Thiên Chúa, Đấng vừa là Đường,
vừa là sự thật, vừa là Sự sống.
Với
kinh nghiệm sống của bản thân, Augustin không
đề cao lư trí như một khả năng tuyệt
đối mà các nhà duy lư đă làm sau này. Trái lại, thánh
nhân đề cao Đức Kitô như Lời Thiên Chúa sở
hữu mọi chân lư và làm con người hạnh phúc
đích thực. Ngài cũng đề cao Hội Thánh như
quyền bính bảo vệ và lưu truyền chân lư. Chính
nhờ Hội Thánh và cụ thể qua thánh giám mục
Ambroise, Augustin đă nhận biết chân lư vĩnh cửu.
Bonaventura[251]
không trực tiếp bàn về mặc khải, nhưng
cũng bàn về những mặc khải trong lịch
sử cứu độ. Ở đây sẽ t́m biết
tư tưởng của ngài về sự cần
thiết, chức năng và đặc tính của mặc
khải từ tổng hợp thần học.[252]
Với
một tín hữu, điều họ tin nhận, là chân lư.
Tương tự như vậy với một triết gia
kitô hữu chân thực, điều họ tin nhận và
triết thuyết của họ không thể mâu thuẫn
nhau. Trong cái nh́n này, những điều Bonaventura chấp
nhận hoặc vay mượn nơi triết lư của
Platon, đối với Bonaventura, có thể dung hợp hài
ḥa đối với chân lư đức tin ngài tin nhận.
Cũng trong cái nh́n này, đức tin trở thành chỉ
đạo cho lư trí, và chân lư đức tin trở thành nguyên
tắc triết lư.
Thuyết
ư mẫu (exemplarisme) là cốt lơi triết thuyết của
Bonaventura. Đây là thuyết được gợi hứng
bởi tư tưởng của Platon, cho rằng thế
giới khả giác này được giải thích nhờ
thông dự vào nguồn ư niệm.[253]
F-J. Thonnard tóm lại lư thuyết căn bản của
Bonaventura bằng câu: "Mọi sự đều khả
tri nhờ các ư niệm mẫu của Thiên Chúa."[254]
Lư
thuyết ư mẫu nơi Bonaventura hàm chứa:
·
Hữu thể tối cao đă tạo dựng vũ
trụ nhờ những ư niệm nơi Ngài;
·
Bởi v́ vũ trụ thế giới này
được tạo dựng theo ư mẫu nơi Thiên Chúa,
nên những hữu thể tạo dựng cũng giống
cũng phản ánh, như những bóng mờ (umbra) hoặc
như những dấu vết (vestigium) hoặc cao hơn
nữa là như h́nh ảnh (imago).[255]
·
Thiên Chúa biết tạo vật v́ những ư niệm
ở nơi Thiên Chúa như những ư niệm mẫu
của tạo vật; các ư niệm ở nơi Thiên Chúa,
nhưng cũng ở nơi các sự vật, đến
độ vũ trụ trong toàn bộ có thể
được coi như sự biểu lộ của nguyên
mẫu và sự tốt lành của Thiên Chúa.[256]
Các ư niệm mẫu được định nghĩa là
"Similitudo rei per quam cognoscitur et producitur."
Ư
niệm thuộc về tri thức, và tri thức là sự
đồng hóa nào đó, hoặc cái tương tự
giữa chủ thể tri thức và đối
tượng tri thức. Bonaventura dùng từ ngữ
"diễn tả" (expressio) để chỉ tri
thức.[257]
Chân lư được định nghĩa là tri thức
tuyệt hảo,[258]
là hành vi của trí khôn diễn tả sự giống nhau
tuyệt hảo giữa trí khôn và sự vật.[259]
Bonaventura
c̣n phân biệt tri thức do trừu xuất và tri thức do
ơn soi sáng. Tri thức trong trật tự trừu
xuất nhằm thủ đắc khoa học về
những hữu thể bất tất, c̣n tri thức ở
trật tự thị kiến trực giác có đối
tượng là chân lư vĩnh cửu thần linh.[260]
Ở đây Bonaventura lấy lại lư thuyết soi sáng
của Augustin.
V́ con
người là h́nh ảnh (imago) của Thiên Chúa, nên con
người có thể biết và yêu Thiên Chúa.[261]
Chính bởi ư niệm mà tương quan giữa Thiên Chúa và
tạo thành được thiết lập, đến
nỗi "sự tương tự" (similitudo) trở
nên nền tảng cho phép đạt tới tri thức
chắc chắn.[262]
Theo
Bonaventura, mọi tạo vật đều phản ánh Ba
Ngôi: Ngôi Cha như nguồn gốc, ngôi Con như h́nh
ảnh, và Thánh Thần như dây liên kết (Coll. in Hex. II,
23).
Con
người, v́ là h́nh ảnh, có thể vươn lên và
trở về với nguồn gốc của ḿnh. Con
người có khả năng đọc quyển sách là
thế giới tạo vật này để nhận
biết Thiên Chúa. Nơi con người xét như là h́nh
ảnh, có một khát vọng tự nhiên trở về
với nguyên mẫu, cái mà con người có một nhận
thức nào đó về, nhờ bản chất
được tạo dựng của ḿnh.[263]
Trật
tự tri thức và lịch sử cứu độ không
tách rời khỏi nhau. Lịch sử xét như là lịch
sử nhân linh, luôn hướng tới ơn cứu
độ hay sự hư mất như ta thấy trong Kinh
Thánh. Bởi tội, con người chuyển từ t́nh
trạng vô tội và vẹn toàn như thời ở
vườn địa đàng đến t́nh trạng sa
đọa; và chính đức Kitô đă giải phóng con
người bằng cách đặt con người
dưới luật ân sủng (III Sent. d. 16, dub. 4).
T́nh
trạng vô tội nguyên vẹn là sự ḥa hợp hoàn
hảo giữa cơ chế hữu thể của con
người xét như h́nh ảnh của Thiên Chúa với
chính cung cách hành xử của con người. Lúc này ư chí và
trí khôn nhận biết mối tương quan đặc
biệt giữa con người và nguyên lư của ḿnh; tri
thức trực giác và tri thức trừu xuất về
Thiên Chúa trở thành một, đến độ Thiên Chúa
có thể được nhận biết qua các tạo
vật như qua một tấm gương không t́ ố (I
Sent. d. 3, p. 1, a. un., q. 3). Nhưng ở t́nh trạng này, tri
thức về Thiên Chúa cũng không tuyệt hảo, v́ nó
chưa là thị kiến trong vinh quang. Tuy vậy, thế
giới được coi là quyển sách đă mở và có
thể đọc được (Brev. II, 12; II Sent, d. 23, a.
2, q. 3).
Tội
nguyên tổ đă bẻ gẫy sự hài ḥa giữa Thiên
Chúa và con người. Quyển sách tạo thành đă
trở thành bị niêm ấn; tinh thần đă xa ĺa
Đấng là nền tảng, nguyên lư, mục đích của
ḿnh, để hướng tới các thực tại chóng
qua. Hậu quả là bản tính bị sa đọa, tuy
vẫn là h́nh ảnh (II Sent., proem); nếu ba tài năng
của tâm hồn vẫn c̣n nguyên vẹn, th́ tấm
gương của thế giới bên ngoài đă bị lu
mờ, và khả năng nhận biết cũng như các
sự vật đă ra tệ (I Sent., d. 3, p. 1, a. un., q. 3). Sau
sa ngă không ai có thể từ các tạo vật trở
lại nguồn gốc của ḿnh, v́ quyển sách tạo
thành đă khép lại; bởi thế, để có thể
trở lại nguồn gốc của ḿnh, v́ quyển sách
tạo thành đă khép lại; Bởi thế, để có
thể trở về lại với nguồn gốc
của ḿnh, cần phải có một quyển sách mới,
hầu thế giới được soi sáng và các ngôn
ngữ biểu trưng của tạo thành có thể
được hiểu. Đó là Kinh Thánh (Col. in Hex. XIII, 12).
Các
phần của Kinh Thánh có một lịch sử
động, nó bao gồm ba giai đoạn lớn của
lịch sử cứu độ: thời luật tự
nhiên, thời luật được chi chép, và sau cùng là
thời đại luật ân sủng. Người ta
phải biết ba thời điểm này để
hiểu tính chất mầu nhiệm của Kinh Thánh (Col. in
Hex. XV, 20). Ai đi sâu vào mầu nhiệm Kinh Thánh, sẽ
nhận ra ư định của Thiên Chúa trong hành động
cứu độ.
Kinh
Thánh nhắm biểu lộ ơn cứu độ trong
thời gian và không gian. Kinh Thánh là sức mạnh canh tân
nhằm dẫn đưa tạo thành đến nguồn
gốc của nó và mang lại hạnh phúc tṛn đầy
(Bre., Prol., 2) Tuy vậy, Kinh Thánh không nhằm đưa con
người trở lại t́nh trạng địa đàng
đă mất, nhưng nó mang lại cái ǵ mới mà thế
gian không thể tự ḿnh làm ra được, v́ Kinh Thánh
là tác phẩm của Thiên Chúa, chính Ngài đă dùng các tác
giả nhân loại để viết nên Kinh Thánh (IV Sent., d.
2, a. 2, q. 2, ad.1).
Ở
t́nh trạng đầu tiên, con người được
đặt làm trung tâm của tạo thành; c̣n bây giờ
đức Kitô là trung tâm. Chính Ngài bây giờ là con
đường của tạo thành và con đường
chân lư, Ngài là khách lữ hành, xuất từ Cha và trở
về với Cha. Trong Ngài, quyển sách tạo thành
được mở ra; Ngài cũng là người
đọc sách với tri thức viên măn, là Đấng
đưa tất cả tạo thành trở về với
tác giả của nó. Như ở nơi Ba Ngôi, Lời Thiên
Chúa là Đấng diễn tả yếu tính của Cha; cũng
vậy bây giờ đối với tạo thành, Ngài
vừa là người mặc khải tối cao của Ngôi
thứ nhất. Quyển sách nội tâm của Thiên Chúa
đă được mở ra bên ngoài bởi việc
nhập thể; quyển sách này có thể đọc và có
thể hiểu, bởi v́ nơi quyển sách, nơi
người Con này, thâu tóm sự khôn ngoan vĩnh cửu;
đến độ trong Ngài, thế giời này có thể
được tái tạo (Brev. 11,11). Trong Đức Kitô,
hữu thể thâm sâu của Thiên Chúa được khai
mở cho thế gian, đến độ bây giờ
thế gian có thể biết và liên kết vói Ngài: đó là ơn
cứu độ đă được mầu nhiệm
nhập thể mang lại.
Kinh
Thánh là nguồn duy nhất của tri thức thần
học, Kinh Thánh mang lại cho người đọc không
chỉ mặc khải, hiểu theo nghĩa như lời
giải thích thế giới và lịch sử, nhưng nó c̣n
có nhiệm vụ thanh tẩy cùng soi sáng, và đem lại
cho người đọc ư nghĩa về Thiên Chúa,
điều đă bị mất bởi tội.
Kinh
Thánh phải được đọc trong truyền
thống giáo phụ, v́ nếu bị tách khỏi
đức tin truyền thống của Hội Thánh, Kinh
Thánh không mang lại tri thức cứu độ (Coll. in Hex.
XIX, 10).
Hiểu
trong bầu khí này, Bonaventura chống lại triết
học, v́ triết học không mang lại những tri
thức đóng góp vào tri thức cứu độ, không có
sức tha thứ tội (Vis. III, Coll. 7, n. 6-7; cf. Coll. in Hex.
XIX, 7), v́ lư trí nhân loại không có khả năng chứng
minh đức tin. Đức tin dựa trên Kinh Thánh và các phép
lạ (Coll. in Hex. XIX, 14).
Đức
Kitô, Đấng nói trong Kinh Thánh, là nền tảng cố
định, là đèn soi lối, và là cửa dẫn vào
(fundamentum stabiliens, lucerna dirigens, et janua introducens). Đức
Kitô trở nên nguyên lư soi sáng trí tuệ. Ngài là nguồn duy
nhất của tri thức chân thực, là đường
và chân lư, v́ Đức Kitô là Đấng mặc khải Cha. Sự
khôn ngoan của Thiên Chúa được viết trong Ngài
như trong
quyển sách
sự sống. Trong Ngài ẩn dấu kho tàng khôn ngoan và
hiểu biết.[264]
Xét
như là đường dẫn tới Cha, Đức Kitô là Thầy
và là nguyên tắc tri thức (những tri thức do
đức tin). Không có Ngài, không ai đạt đến tri
thức này, v́ bởi việc Ngài đến trong Thánh Linh,
Ngài là nguồn gốc mặc khải, và bởi việc
Nhập Thể, Ngài trở thành cột trụ uy quyền
(Sermo sel. de Reb. Theol. IV, n. 2). Xét như là chân lư, Ngài là
Thầy duy nhất, v́ nơi Ngài có chân lư vĩnh cửu
về đối tượng cần biết và không
thể sai lầm (Op. cit., n. 6). Đức Kitô cũng là mối
dây liên kết hai mặc khải chứa đựng trong
hai giao ước, do đó Ngài là nền tảng chân
thực của học thuyết nơi các tiên tri và nơi
các tông đồ.[265]
Hơn nữa, xét như Lời làm người, Đức Kitô
mở cho chúng ta ư nghĩa thâm sâu nhất của Kinh Thánh, v́
Kinh thánh chủ yếu nói về nguồn gốc và tiến
tŕnh cứu độ (Coll. in Hex. III, 2).
Đức
Kitô xuất hiện trong Tân ước dưới dấu
chỉ thập giá, do đó tất cả thần học
phải là thần học về thập giá: "Thập
giá là quyển sách duy nhất dẫn con người
đến sự khôn ngoan đích thực."[266]
Qua
Đức Kitô, Thiên Chúa đă nói với con người.
Đức tin là lời đáp trả duy nhất tương
ứng với chức vụ trung gian của Đức Kitô.
Tuy vậy nguồn của đức tin không là hành
động thuần túy của con người, nhưng
chính trong Đức Kitô và trong Thiên Chúa mà đức tin có
nền tảng (Coll. in Hex. VIII, 2).
Bonaventura
cho rằng, đức tin Hội Thánh tuyên xưng
được t́m thấy trong Kinh Thánh, nếu không
từng chữ th́ ít ra là trong ư nghĩa.[267]
Do đó mọi khẳng định thần học
phải có tương quan chặt chẽ với mặc
khải thành văn.[268]
Để hiểu Kinh Thánh, cần sự giúp đỡ của
truyền thống qua các giáo phụ. Trong nhăn quan này, các tín
khoản tuyên xưng thời các tông đồ có một
chỗ đứng rất quan trọng, v́ nó có giá trị
như nguyên tắc chỉ đạo và bất biến.[269]
Trong nhăn quan này, mặc khải thiết yếu liên hệ
tới Hội Thánh giáo huấn.
Khi lược sơ qua tư tưởng của
thánh Bonaventura, người ta nhận ra nỗ lực
của Ngài nhằm giải quyết vấn đề
tiềm ẩn: con người có thể biết Thiên Chúa
không? con người có thể nhận mặc khải
của Thiên Chúa không? Thánh nhân giải quyết bằng lư
thuyết các ư niệm, có sự liên hệ giữa Thiên Chúa
và tạo vật (Umbra, vestigium); riêng con người v́ là
h́nh ảnh của Thiên Chúa, có thể đọc
được quyển sách "tạo thành" nói về
Thiên Chúa. Quyển sách này đă bị tội làm đóng
lại, và con người không thể đọc
được nữa; thế nên cần một quyển
sách khác là Kinh Thánh. Với Đức Kitô, chúng ta nhận
biết về Thiên Chúa dễ dàng hơn và trọn vẹn
hơn quyển sách "tạo thành." Đức Kitô vừa
là phương tiện mặc khải mới và trọn
vẹn của Thiên Chúa, nhưng đồng thời Ngài
cũng là đối tượng mặc khải. Ai biết
Ngài, là biết Cha, ai thấy Ngài là thấy Cha; mặc
khải đă đạt tới tột đỉnh nơi
đức Kitô.[270]
Thomas
d'Aquin sinh khoảng năm 1225 ở lâu đài Rocca Secca
gần Naples tại Ư trong một gia đ́nh công
tước. Vào khoảng năm 1244, ngài vào ḍng Đa-minh,
nhưng măi một năm sau, tức khoảng năm 1245,
ngài mới được tự do theo ơn gọi; vào
khoảng năm 1252-1259, ngài dạy tại Paris; khoảng
năm 1272-1274, trở về Naples. Ngài chết trên
đường đi dự công đồng Lyon vào ngày 07.03.1274.[271]
Thomas
phân biệt rơ trật tự tự nhiên và trật tự ân
sủng. Lư trí có thể nhận biết những chân lư mà
không cần nại đến sự can thiệp
đặc biệt của Thiên Chúa; và như vậy,
triết lư là một khoa học độc lập.[272]
Những
ǵ khả hữu, đều khả tri.[273]
Theo
Thomas, trong t́nh trạng tại thế của con
người, đối tượng tương xứng
của con người tinh thần là hữu thể
trừu xuất từ sự vật khả giác. Trí năng
con người gồm trí năng tác động và trí
năng thụ động; trí năng thụ động
cũng c̣n gọi là trí năng khả thể. Trí năng tác
động trừu xuất những ảnh niệm
khả tri từ những ảnh tượng, và từ các
ảnh niệm khả tri này có các ư niệm.[274]
Một
quan niệm về khả năng tri thức của con
người bao hàm quan niệm về con người. Theo
Thomas con người có khả năng đi từ cái
đặc thù đến cái phổ quát, và có khả năng
đi từ cái hữu hạn đến cái vô hạn.
Hiểu
con người như trên, nghĩa là trong trật tự
b́nh thường,[275]
con người đă được tạo dựng
để hướng tới với Thiên Chúa. Như
vậy, con người trong trật tự tự nhiên, có
tri thức về Thiên Chúa, nghĩa là, triết lư có chỗ
riêng của nó, nó có thể được coi là khoa học
độc lập với thần học- khoa học
đặt nền trên trật tự đặc biệt,
trật tự mặc khải, trật tự siêu nhiên.
Nếu
lư trí con người ở trật tự b́nh thường
có khả năng đi từ cái đặc thù để
đến cái phổ quát, có khả năng từ cái
hữu hạn lên tới cái vô hạn, có khả năng
từ hữu thể khả giác vươn tới thực
tại vô h́nh siêu việt, th́ liệu có cần có mặc
khải không? Trong những điều liên quan đến
Thiên Chúa, có nhiều điều vượt quá khả năng
của lư trí con người, chẳng hạn chân lư
"Thiên Chúa là một và ba."[276]
Dưới sự hướng dẫn của ánh sáng tự
nhiên các triết gia chỉ có thể biết Thiên Chúa
hiện hữu và những phẩm tính tổng quát nơi
Thiên Chúa. Lư trí với khả năng tự nhiên, không có
khả năng hiểu thấu đáo Thiên Chúa và bản
chất của Ngài, v́ tri thức của con người
ở điều kiện tại thế này đều
khởi từ giác quan. Những sự vật khả giác
tự bản chất của chúng không thể đưa trí
khôn của chúng ta đạt đến yếu tính thần
linh (Contr. Gent. I, c. 3, n.16). Hơn nữa, với khả
năng tự nhiên của lư trí con người vẫn có
thể sai lầm về những ǵ có thể biết
được theo khả năng của nó, nên Thiên Chúa nhân
từ cũng mặc khải cả những chân lư tự
bản chất không vượt quá lư trí con người, khi
những chân lư này liên quan đến hạnh phúc con người,
ngơ hầu con người được thông phần vào
sự nhận thức thần linh (ScG. I, 4, n. 26). C̣n lư do
khác cho thấy mặc khải thực sự cần
thiết cho con người, đó là: con người
được tạo dựng để hướng
về Thiên Chúa. Không có mặc khải, con người không
có thể đạt tới cùng đích đời ḿnh mà
Thiên Chúa đă đặt nơi con người như
ơn gọi, như cái cấu thành hữu thể con người[277].
Thiên Chúa đă tạo dựng con người như một
hữu thể "quy thần,” như một hữu
thể có thể đối thoại với Thiên Chúa, có
thể được Thiên Chúa mặc khải, có khả
năng sống hạnh phúc với Thiên Chúa.
Mặc
khải cần thiết, v́ chỉ có đức tin dẫn
tới hưởng kiến. Hạnh phúc tuyệt
đối của con người hệ tại
được hưởng kiến Thiên Chúa, và con
người chỉ có thể đạt được
sự hưởng kiến này nếu con người
được Thiên Chúa dạy dỗ như một
người thầy dạy học tṛ (ST, IIa-IIae,
2,3).[278]
Nói một cách khác, đức tin là điều kiện
để được hưởng kiến vĩnh phúc.
Con người được mời gọi, để
vượt qua chính ḿnh, vượt qua những ǵ khả
giác, để học ao ước những ǵ vượt
quá điều kiện của cuộc sống hiện
tại (ScG. I, c.5, n.29). Đức tin thật cần thiết
để đạt tới tri thức chân thực hơn
về Thiên Chúa, và tri thức này chỉ được ban
cho những ai tin vào Thiên Chúa là Đấng vượt trên
cả cái mà người ta có thể nghĩ về Ngài (ScG.
I, c.5, n.30).
Đối
tượng vô h́nh của đức tin được
tỏ lộ đầu tiên cho các thiên thần bằng
một thị kiến trực tiếp (per apertam visionem). Và
rồi các thiên thần thông truyền cho một số
người nào đó với tất cả sự chắc
chắn do mặc khải thần linh (ScG. III, c. 154, n. 3256
tt). Sự chắc chắn này có được, là nhờ
một ánh sáng thiêng liêng nội tâm, cho thấy điều
c̣n bị che khuất đối với ánh sáng tự nhiên
của lư trí.
Mặc
khải không là một đặc ân cá nhân, chỉ dành cho
một số người; trái lại nó dành cho tất
cả mọi người; và như vậy, nó phải
trải dài qua thời gian. Và điều này chỉ có
thể, nếu mặc khải được viết ra.
Và không chỉ có thể, c̣n gồm cả việc chú
giải các tài liệu mặc khải cũng như
việc hiện tại hóa mặc khải (ScG. III, c.154, n.
3258-3273).
Mặc
khải xét như lịch sử chỉ có thể
đến với chúng ta trong những quyển sách của
hai giao ước, đó là Kinh Thánh. Kinh Thánh là nền
tảng của mọi suy tư thần học, nếu
những suy tư thần học này muốn tựa vào
lịch sử.
Theo
chứng từ Kinh Thánh, nhân loại đă trải qua
nhiều t́nh trạng (status): luật cũ rồi luật
mới. Tương quan giữa luật cũ và luật
mới cũng tương tự như tương quan
giữa cái bất toàn và cái hoàn hảo. Tất cả
lịch sử cứu độ hướng tới
đỉnh, là t́nh trạng đời sống hiện
tại (status praesentis vitae). Nghĩa là, sau nó sẽ không có
cái ǵ mới xét như thiết yếu nữa; bởi v́
không có cái ǵ gần mục đích cuối cùng hơn cái
dẫn trực tiếp tới mục đích cuối cùng:
thời gian ân sủng đă được biểu lộ
trong đức Kitô (ST. Ia-IIae, 106,4). Mặc
dầu giai đoạn cuối cùng của ơn cứu
độ đă được khởi đầu với
Đức Kitô, nhưng cái hiện tại vẫn là h́nh bóng và
bất toàn so với "quê hương" (patria); khi quê
hương được đạt đến vào
cuối thời th́ cái hiện tại sẽ chấm
dứt (ST. Ia-IIae, 106,4).
Cựu
Ước vẫn c̣n cần thiết, v́ nó là luật
chuẩn bị cho Đức Kitô xuất hiện. Mỗi
một thời điểm của lịch sử cứu
độ không thể được hiểu như
một giai đoạn ở ngoài đối với con
người. Chính nhờ thời điểm cuối cùng
này mà bản chất của Cựu Ước
được xác định, đến độ con
người không thể được xác định cách
đúng đắn nếu không để ư đến t́nh
trạng cuối cùng này. T́nh trạng của nhân loại
thay đổi qua thời gian. Và như vậy, đức
tin ở mỗi t́nh trạng cũng khác nhau theo thời
điểm nhưng tính duy nhất của đức tin
ở hai giao ước vẫn được bảo toàn
(ST. I-II,106,3, ad 2; 107,1, ad 1; 107,2).
Thomas
cũng bàn đặc biệt đến các tiên tri của
Cựu ước, và cho thấy những hoàn cảnh trong
đó mặc khải lịch sử đến với con
người. Nơi các tiên tri, Thiên Chúa đă ban cho các ngài
ánh sáng siêu nhiên để các ngài nhận biết Thiên Chúa;
các tiên tri hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa, và các ngài chỉ
nhận được ánh sáng này bao lâu các ngài
được ban cho (De Ver. 11,1). Người ta có thể
h́nh dung tiến tŕnh này như một cuộc nói chuyện
(quasi quaedam allocutio) hay như việc nghe nói (perceptio divinae
locutionis). Các lời hay các diễn từ của tiên tri
được tri thức này hướng dẫn
điều khiển, nhằm xây dựng tha nhân.
Đối
tượng của tri thức, là Thiên Chúa và con
người, là những biến cố tương lai, là
sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa, là tri thức
cần cho con người trong trật tự cứu
độ và truyền thông tri thức này. Yếu tố mô
thức của tri thức tiên tri là ánh sáng thần linh; chính
ánh sáng thần linh làm cho các sấm ngôn có tính thống nhất
dù đối tượng thay đổi, dù cách thức lănh
nhận có khác nhau (thị kiến, giấc mơ, h́nh
ảnh) (ST. II-II, 171,3, ad 3). Yếu tính của lời tiên
tri không hệ tại những h́nh thức diễn tả
nhưng ở nơi ánh sáng được thông truyền.
Nơi đây không c̣n là một tương quan tự nhiên
thầy tṛ, nhưng chính là ánh sáng siêu nhiên đến soi sáng
phán đoán. Chính nhở ánh sáng này mà các tiên tri có sự
chắc chắn tuyệt đối.
Mặc
khải tiên tri gồm những mức độ trọn
hảo khác nhau, và cao nhất là sự biểu lộ các chân
lư thần linh qua chiêm ngắm; sự biểu lộ qua chiêm
ngắm vượt trên sự biểu lộ bằng h́nh
ảnh được rút ra từ những sự vật
khả giác của thế giới này, bởi v́, biểu
lộ qua chiêm ngắm giống thị kiến hưởng
phúc hơn (ST. II-II, 174:2).
Nơi
tri thức tiên tri, các thiên thần cũng đóng một vai
tṛ nào đó trong mức độ các ngài có thể gợi
lên những thị kiến h́nh ảnh hoặc củng
cố ánh sáng thần linh trong tâm trí con người (De Ver. 12,8,
ad 4).
Sấm
ngôn hướng tới tri thức các chân lư thần linh.
Việc chiêm ngắm các chân lư thần linh. Việc chiêm
ngắm các chân lư này dạy dỗ con người ở b́nh
diện đức tin cũng như ở b́nh diện hành
động. Có sự tiến bộ về tri thức
thần linh trong ḍng thời gian. Thời trước
lề luật, Abraham và các tổ phụ cũng
được giáo huấn trong tri thức về Thiên Chúa;
thời dưới lề luật, tri thức này mang
một h́nh thức hoàn hảo hơn: chân lư không chỉ
được loan báo cho một số người hay
một số gia đ́nh, nhưng cho tất cả một
dân tộc; và rồi dưới thời ân sủng, Con Thiên
Chúa đă mặc khải mầu nhiệm Ba ngôi.
Đức
Kitô tới đánh dấu điểm dứt của
sấm ngôn.[279]
Ngài là Đấng mặc khải, là phúc nhân và lữ hành
(comprehensor et viator), Ngài nối kết thần linh và con
người, Ngài mang lại cho con người tri thức
tối hậu về Cha, Ngài thay thế sấm ngôn của
giao ước cũ. Nơi Ngài, mọi ân sủng
được ban cách hoàn hảo nhất (ST. III, 7,7). Ngài có
thể thông truyền cho thế gian trọn vẹn chân lư và
toàn thể đặc sủng. Chính Ngài đă linh ứng các
tiên tri trước Ngài, và cả các thiên thần nữa;
bởi v́ mọi tri thức đều do việc tham
dự vào Lời Thiên Chúa (Sup. Jo., c. VI, lect. 2, n.868).
Đức
Kitô là vị tiên tri tuyệt đối, hiểu như là
người "thị kiến" và "thông truyền,"[280]
bởi v́ Ngài đă loan báo các chân lư về Thiên Chúa (Sup. Jo.,
c. IV, lect. 6, n. 667). Bản án trên thập giá được
viết bằng ba ngôn ngữ, điều này hàm chứa
đặt mọi khoa học dưới sự vâng
phục của Ngài, và mọi tri thức tuyệt
đối đă được mặc khải trong
đức Kitô (Sup. Jo., c. XIX, lect. 4, n. 2422).
Chức
năng mặc khải của Đức Kitô ít được
bàn trong những tác phẩm chính của Thomas, nhưng
điều này không có nghĩa nó không có trong tư
tưởng của Ngài. Trong phần dẫn nhập
của tổng luận thần học phần thứ ba,
ngài viết: "Salvator noster Dominus Jesus Christus... viam veritatim
nobis in seipso demonstravit, per quam ad beatitudinem immortalis vitae
resurgendo pervenire possimus..." Đó là nội dung và mục
đích của mặc khải được thực
hiện nơi Đức Kitô. Ngài cho chúng ta thấy rằng:
chính con người Ngài là đường chân lư, qua ngài
chúng ta đến với Chúa Cha. Sự xuất hiện
của Ngài như một người giữa chúng ta,
chưa là kết điểm của hoạt động
thần linh; như vậy chúng ta không được
ngơi nghỉ trong nhân tính của Ngài, nhưng chúng ta
phải hướng về Chúa Cha qua nhân tính của Ngài.[281]
Như
Lời Thiên Chúa, Đức Kitô là chân lư. Và như vậy,
tất cả mọi người muốn biết chân lư
phải gắn bó với Ngài. Đồng thời, Ngài cũng
là sự sống, đến độ, Ngài có thể
giới thiệu ḿnh như là đường dẫn
tới đích điểm, v́ trong Ngài t́m thấy mọi
điều đáng ao ước (Sup. Jo., c. XIV, lect. 2, n.
1869).
Nhập
thể cần thiết, v́ việc nhập thể của
Con Thiên Chúa giúp con người đạt đến cùng
đích một cách chắc chắn hơn và thích hợp
hơn. Bởi việc nhập thể của Đức Kitô,
đức tin của chúng ta đạt tới sự
chắc chắn; v́ nơi con người Đức Kitô, chính
Thiên Chúa nói với chúng ta cách trực tiếp, không qua trung
gian. Niềm hy vọng của chúng ta cũng
được củng cố, v́ không có ǵ cho thấy rơ
hơn t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con
người qua việc Con của Ngài đến ở
giữa con người.
Mặc
khải là một chứng từ t́nh yêu, để chúng ta
có thể đáp trả bằng một t́nh yêu. Hơn
nữa, Lời làm người cho chúng ta một tấm
gương "ad rectam operationem,” bởi v́ hoàn toàn như
một người, hầu con người có thể
thấy Ngài và bắt chước. Việc nhập thể
biểu lộ sự tham dự hoàn toàn thần tính (plene
participatio deitatis); sự tham dự thần tính này là mục
đích và hạnh phúc của con người (ST. II, 1,2).
Tất
cả đời sống trần thế của Đức
Kitô đối với chúng ta là một mầu nhiệm,
mầu nhiệm cứu độ. Và điểm cuối
của mầu nhiệm này là sự phục sinh của
Người. Thomas cho rằng mầu nhiệm phục sinh
nhằm "bảo đảm sự công chính thần linh,
giáo dục đức tin của chúng ta, nâng cao ḷng trông
cậy; huấn luyện đời sống tín hữu,
bổ túc ơn cứu độ chúng ta."[282]
Moi ân
sủng được ban cho con người nhờ
Đức Kitô. Đức Kitô, hội tụ mọi ân sủng, xét
như Ngài là vị thầy đầu tiên và chủ yếu
của chúng ta (ST. III, 7,7).
Nhập
thể nhằm rao giảng chân lư (ST. III, 40:1). Sự rao
giảng này là một mặc khải của ngôi Cha, có
kết quả là giải phóng chúng ta khỏi tội,
đồng thời cho phép chúng ta lại gần Thiên Chúa
(Sup. Jo., c. I, lect. 11, n. 221).
Ngày
xưa người Con duy nhất đă thông truyền tri
thức về Thiên Chúa qua các tiên tri, tức những người
đă được tham dự vào Lời Vĩnh Cửu.
C̣n bây giờ trong giao ước, không cần nại
đến trung gian v́ sứ điệp đă vang vọng
trong chính ngôi vị Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta có một
giáo lư vượt trên tất cả mọi giáo lư về
địa vị, về sự đáng tin, và về
việc sử dụng. Đối tượng quan trọng
nhất của sứ điệp này là: Thiên Chúa một và
ba. Sứ điệp này không có tiên tri nào có thể nói
tới, ngay cả Môsê (Sup. Jo, c. I, lect. XI, n. 221). Bởi
nhập thể, Thiên Chúa đă có thể nói trực tiếp
với chúng ta, để chúng ta có thể nghe Lời Thiên
Chúa (Sup. Jo. c. VIII, lect. 3, n. 1138).
Khi
Đức Kitô tỏ lộ Ngài như chân lư, Ngài chuẩn
bị vương quốc của Ngài. Vương quốc
này chủ yếu tựa trên việc mặc khải chân lư,
đến độ trong vương quốc này chỉ có
sự khôn ngoan nhân loại trong mức độ sự khôn
ngoan này đến tự Ngài (Sup. Jo., c. XVII, lect.6, n.2267). Khi
chân lư mặc khải không c̣n liên kết với ngôi vị
Đức Kitô tỏ hiện nơi thân xác nữa, th́ những
người đến sau Đức Kitô chỉ có một
lối gián tiếp đến với chân lư này. Tuy vậy
lời mời gọi vẫn c̣n. Trong suốt ḍng thời
gian, lời rao giảng luôn gắn liền với mặc
khải duy nhất, bởi v́ chính Thiên Chúa dùng phương
tiện lời rao giảng để nói với con
người (De Ver. 18,3).
Để
con người có thể tin vào sứ điệp của
Lời rao giảng, lời rao giảng có thể
được củng cố bởi những phép lạ,
cho thấy lời rao giảng này có nguồn gốc
thần linh (ST. II-II, 2,1, ad 1). Có hai điều kiện
để tin: một là việc tŕnh bày giáo lư đức
tin, hai là phép lạ và xác tín của người rao giảng
(như nguyên nhân bên ngoài của đức tin). Sự thuận
t́nh (assensus) đến sau đó, là công tŕnh của Thiên Chúa
tác động thâm sâu do ân sủng (ST. II-II, 6,1). Tuy phép
lạ và những điều bên ngoài khác cũng đóng góp
vào việc phát sinh đức tin, nhưng thánh Thomas không cho
đó là điều tối hệ trọng. Điều quan trọng
là "sự thúc đẩy của đức tin"
(instinctus fidei). Bằng lời mời gọi thâm sâu này, con
người khai mở với Tin Mừng và với Thiên
Chúa; chính Thiên Chúa dẫn con người tới sự
thuận t́nh tin.[283]
Tiếng
gọi nội tâm mà Thiên Chúa ngỏ với con người
nhờ Đức Giêsu Kitô trong Thánh Thần này, là một
lời mời gọi tùng phục ơn cứu độ,
trong việc vâng phục lời rao giảng (Quodl. II, q. 4,1,
ad 3; Sup. Jo., c. XIV, lect. 6, n. 1958).
Chân lư
mặc khải đầu tiên ở nơi giáo lư của
Đức Kitô, và sau đó ở nơi các tiên tri và các tông
đồ. Các ngài là những người được
thông truyền mặc khải cách trực tiếp; c̣n
với những người khác, mặc khải
được thông truyền qua lời rao giảng (ST.
II-II, 6,1; 1,10, ad 1; II-II, 174:6). Do đó, đức tin của
kitô-hữu hôm nay tựa trên những quyển sách quy chuẩn
mà các ngài đă biên soạn.[284]
Vậy Kinh Thánh có một vị thế duy nhất, nghĩa
là nhờ Kinh Thánh mà kitô-hữu nhận được
điều mà Thiên Chúa muốn thông truyền cho về chính
Ngài, đến độ Kinh Thánh cung cấp cho đức
tin và cho thần học những luận chứng cần
thiết mà không một nguồn nào có thể mang lại.
Các tác
giả Kinh Thánh nhận một chứng từ thần linh
chứng thực bằng những phép lạ; những phép
lạ này giúp các ngài thoát khỏi nghi ngờ và những sai
lầm. V́ thế, các ngài là những bảo đảm
của chân lư mặc khải; đến nỗi kitô-hữu
chỉ phải tin vào các vị kế nhiệm các tông
đồ, trong mức độ lời rao giảng
của các vị này ăn khớp với những
điều các tông đồ đă kể lại qua
những bản viết của các ngài. Lănh vực mặc
khải trải rộng với nội dung Kinh Thánh (De Ver. 14,10,
ad 11).
Giáo
huấn của Giáo Hội không được đi quá
điều đă được nói trong Kinh Thánh. Với
những vấn đề thuộc tín lư theo nghĩa riêng,
Kinh Thánh được coi là đủ. Tất cả
những ǵ bắt nguồn từ ư định Thiên Chúa mà
lại vượt quá những đ̣i hỏi tự nhiên th́
đă được mặc khải trong Kinh Thánh (ST. III, 1,3).
Một cách tổng quát, đối với những ǵ liên
hệ đến cái siêu nhiên, kitô-hữu không bao giờ
được nói hay nghĩ rằng điều đó không
được "diễn tả" trong Kinh Thánh (In de
div. nom., c.1, lect.1). V́ chính bởi Kinh Thánh mà kitô-hữu lănh
nhận mặc khải của Thiên Chúa về chính Ngài,
vậy những ǵ được chứa đựng trong
Kinh Thánh phải được coi là "quy chuẩn
tuyệt hảo của đức tin" (optima regula fidei),
nên không được thêm hoặc bớt ǵ vào Kinh Thánh.
Kinh
Thánh là quy chuẩn đức tin. Những sự khác
phải tùng phục ḥa hợp với quy chuẩn này,
kể cả truyền thống các giáo phụ (ST. II-II, 1,9
arg. 1; III Sent., d. 25, q.2, a.2, qcl.4 arg. 3).
Mục
đích Kinh Thánh là giáo huấn con người; các giáo
phụ cũng như truyền thống chú giải
đều đóng góp vào mục đích này. Về
tương quan giữa Kinh Thánh và việc giải thích,
Thánh Thần như mắt xích nối kết hai
điều này. Thánh Thần có nhiệm vụ chính trong
việc khai sinh các tài liệu này, và Ngài cũng có nhiệm
vụ tương tự trong việc giải thích các tài
liệu này trong ḍng thời gian (Quodl., XII, q. 17, a. un). Đây là
điều phải giả thiết khi nói Giáo Hội là quy
chuẩn không sai lầm (regula infallibilis).
Kho
tàng đức tin đă được xác định ngay
thời các tông đồ; tuy nhiên kho tàng này phải
được làm rơ trong Giáo Hội; các quyết
định của Giáo Hội được Thiên Chúa soi
sáng là quy chuẩn, và cấu thành lời giải thích chân
thực về Kinh Thánh (ST. II-II, 2,6). Như vậy giáo lư
của Giáo Hội (doctrina Ecclesiae) trở thành quy luật
không sai lầm (regula infallibilis), bởi v́ đối
tượng mô thể của đức tin là chân lư thứ
nhất, đă tự tỏ lộ trong Kinh Thánh và trong giáo
lư của Giáo Hội.[285]
Như vậy, việc giải thích Kinh Thánh gắn liền
với uy quyền của Giáo Hội; đức tin của
Giáo Hội luôn quy chiếu vào Kinh Thánh như nền
tảng, bởi v́ chỉ có tác giả Kinh Thánh mới
nhận được mặc khải trực tiếp.[286] Giữa giáo lư của Giáo Hội
và Kinh Thánh có một sự duy nhất, bởi v́ Giáo Hội
không có quyền đi quá những ǵ đă được
thiết lập trong các sách quy chuẩn (ST. II-II, 5,3, ad 2;
Quodl. III, q. 4, a.10). Giáo Hội, được Thánh Thần
chân lư hướng dẫn, không thể rơi vào sai lầm;[287]
và trong những vấn đề tranh căi, quyết
định cuối cùng thuộc về giáo hoàng, v́ ngài
được trao phó việc tŕnh bày kinh tin (Credo) cho
mọi người, và các tín hữu phải vâng phục.[288]
Vào
thế kỷ XVI, mặc khải là một vấn
đề được nhiều người bàn căi. Do
ảnh hưởng của những anh em Tin Lành, có
những quan niệm và chủ trương sai lầm
về giáo lư mặc khải. Để cải chính lại
những sai lầm và để bảo toàn nguyên vẹn đức
tin công giáo, quyền bính Giáo Hội nơi công đồng
Trentô đă can thiệp và tŕnh bày giáo thuyết công giáo
về mặc khải.
Trước
khi xem ư kiến công đồng Trento về mặc khải,
hăy tự đặt ḿnh vào bầu khí tư tưởng
của thời đó, cụ thể là quan niệm về
mặc khải của phong trào cải cách.
Phong
trào cải cách tôn giáo được Martin Luther khởi
xướng,[289]
và được nhiều người hưởng
ứng. Những tư tưởng gia nổi tiếng
của phong trào cải cách này là: Jean Calvin (1509-1564), Mélanchton
(1497-1560), Zwingli (1484-1531), v.v.
Martin
Luther nghiên cứu nhiều về Kinh Thánh và khi nghiên cứu
thư của thánh Phaolô viết cho tín hữu Roma, ông bị
đánh động đặc biệt bởi tư
tưởng "bởi tin vào Đức Giêsu mà chúng ta
được cứu độ, chứ không phải
bởi việc làm" (Rm 3:22.28). Năm 1517, ông viết 95
luận đề chống lại giám mục Magdebourg là
Albert de Brandebourg về vấn đề lạm dụng
"ân xá." Và chính khởi từ biến cố này,
đă có nhiều biến cố tiếp theo đẩy
Luther dần dần xa ĺa đức tin công giáo: phủ
nhận quyền bính của giáo hoàng và chỉ tin vào Kinh
Thánh (sola Scriptura).[290]
Thiên
Chúa đă mặc khải cho con người qua các tạo
vật; nhưng từ khi con người phạm tội,
lư trí con người đă hư hỏng; và như vậy,
việc mặc khải qua các tạo vật thật là vô
dụng đối với con người ngày nay.[291]
Thiên
Chúa đă ban cho chúng ta Kinh Thánh, nên từ nay con
đường đi đến với Thiên Chúa đă
được tỏ lộ trong Kinh Thánh, Kinh thánh dạy
mọi sự cần thiết cho đức tin để
được cứu độ.[292]
V́ thế không cần đến truyền thống như
một nguồn bổ túc.
Quy chuẩn
đức tin là chính Kinh Thánh với sự giúp đỡ
của Thánh Thần; Thánh Thần soi sáng tâm hồn mỗi
người, giúp con người hiểu được
những ǵ Thiên Chúa muốn mặc khải và con
người phải tin.[293]
Với
cái nh́n đầu tiên, người ta tưởng rằng
anh em Tin Lành đề cao tính siêu việt của mặc
khải, khi họ xóa bỏ mọi trung gian giữa Lời
Chúa và người tiếp nhận, nhưng thực sự
không phải như vậy! Khi phủ nhận trung gian
giữa Lời Chúa và tâm hồn người tiếp
nhận, anh em Tin Lành phủ nhận truyền thống
được thể hiện nơi huấn quyền
của Hội Thánh trong suốt ḍng lịch sử, cũng
như trong quyết định hiện tại để
giải thích Lời Chúa. Như vậy, lư thuyết này
dễ dẫn tới giải thích Kinh Thánh tùy ư, chỉ theo
tiêu chuẩn là chính ḿnh (cá nhân và chủ quan), hoặc
chỉ theo những điều lư trí thấy đúng mà thôi
(duy lư).
Công
đồng Trentô được đức giáo hoàng Phaolô
III triệu tập năm 1545, nhằm canh tân Giáo Hội và
chấn chỉnh những chủ trương sai lầm do
ảnh hưởng của phong trào "thệ phản.”[294]
Trong
sắc lệnh Sacrosancta Oecumenica biểu quyết vào ngày
08.04.1546 tại khóa họp thứ IV, công đồng đă
bàn đến vấn đề sách thánh và truyền
thống (cf. DS. 1501 tt).
Công
đồng nhấn mạnh đến từ ngữ
"Tin Mừng," từ ngữ đă được Đức
Giêsu dùng để chỉ sứ điệp cứu
độ. Đức Giêsu đă sai các tông đồ đi rao
giảng Tin Mừng cho muôn dân. Tin Mừng này đă
được ban cho chúng ta cách tiệm tiến:
đầu tiên được hứa qua các tiên tri trong Kinh
Thánh, sau đó được chính Đức Giêsu Kitô Con Thiên
Chúa loan báo, và rồi các tông đồ rao giảng theo
lệnh của Ngài cho mọi tạo vật. Chân lư cứu
độ và luật luân lư, chứa đựng trong các sách
được linh hứng và trong truyền thống
bất thành văn. Các chân lư này có Tin Mừng là nguồn duy
nhất.
Với
cùng một ḷng kính trọng và thảo hiếu, công
đồng tiếp nhận cả Kinh Thánh lẫn
truyền thống khởi từ miệng Đức Kitô hay
được đọc bởi chính Thánh Thần và
được duy tŕ trong Hội Thánh công giáo nhờ
bởi kế tục.
Trong
phần dẫn nhập sắc lệnh "công chính
hóa," công đồng đề cập đến giáo lư
đă được Đức Giêsu dạy dỗ, các tông
đồ truyền lại và Hội Thánh ǵn giữ; công
đồng không cho phép bất cứ ai tin hoặc rao
giảng khác với điều đă được công
đồng xác định và tuyên bố trong sắc
lệnh này (DS. 1520). Cần lưu ư từ ngữ đă
được công đồng dùng ở đây: dạy
dỗ, truyền lại, ǵn giữ;[295]
không thể tách mặc khải, dù thành văn hay bất
thành văn, ra khỏi cơ cấu bộ ba này.
Công
đồng Trentô tuy không dùng chữ "mặc
khải" nhưng công đồng đă tŕnh bày mặc
khải như nội dung được rao giảng.
Một cách cụ thể, mặc khải này là Tin Mừng
đă được hứa qua các tiên tri, được
công bố bởi đức Kitô, được rao
giảng bởi các tông đồ, và được
truyền lại cho Hội Thánh duy tŕ và bảo vệ. Tin
Mừng này cũng được gọi là giáo lư,
được dạy và được truyền. Giáo lư
cứu độ này gồm các chân lư và các lời hứa,
đă được rao giảng cho những người
tin, và được lưu chuyển nhờ Kinh Thánh và
truyền thống.[296]
Dưới
một góc cạnh nào đó, công đồng Trentô
đồng hóa mặc khải với Đức Kitô và với
thực tại được rao giảng, và cuối cùng
là với các chân lư chứa đựng trong Kinh Thánh và trong
truyền thống.
Vatican
I (08.12.1869-20.10.1870), là công đồng đầu tiên bàn
về mặc khải. Để hiểu sâu xa giáo lư của
công đồng, cần t́m hiểu những quan niệm
về mặc khải của thời đó.
Sau
công đồng Trentô, mặc khải là vấn đề
sôi bỏng đối với anh em Tin Lành; và như vậy,
mặc khải cũng là vấn đề được
các thần học gia công giáo lưu ư. Những người
theo thần giáo (Deism) cho rằng có Thiên Chúa nhưng không
cần mặc khải; lư trí con người có khả
năng nhận biết chân lư, ngay cả những chân lư
về bản tính Thiên Chúa.
Benedict Spinoza (1632-1677) chủ trương chỉ có lư
trí có thẩm quyền trong lănh vực chân lư; mặc
khải chỉ liên quan đến sự vâng phục và
đạo đức; thần học chỉ nên gồm
những định tín về đức tin phải vâng
phục và để cho lư trí xác định cách chính xác
những chân lư phải được hiểu thế nào.
Mặc khải theo Spinoza, không thêm ǵ cho điều có
thể được lư trí biết.[297]
John Locke (1632-1704), trong tác phẩm Essay concerning Human
Understanding xuất bản vào năm 1700, cho rằng lư trí là
mặc khải tự nhiên, ở đó Cha Vĩnh Cửu
của ánh sáng và là nguồn của mọi điều
hiểu biết thông truyền cho nhân loại một
phần sự thật mà Ngài đă để lại trong
tầm với của khả năng tự nhiên của con
người. Mặc khải là lư trí tự nhiên
được nới rộng bởi những khám phá.
Những
khám phá ở đây là ǵ? John Loke cho rằng đây là
những điều có thể biết được
bởi những người khôn ngoan, c̣n những
người không có học không thể biết
được.[298]
Gotthold Ephraim Lessing (1729-1781) xác tín rằng chỉ có
một tôn giáo đích thực, đó là tôn giáo tự nhiên,
tôn giáo nằm trong phạm vi của lư trí con người.
Lessing
cho rằng, mặc khải th́ chân thực và có giá trị
như một phương pháp giáo dục con người
trong những điều chưa được lư trí khám
phá ra. V́ tiến tŕnh giáo dục này không bao giờ chấm
dứt nên theo Lessing, nếu kitô giáo được thanh
tẩy khỏi những yếu tố phi lư và mầu
nhiệm, th́ kitô giáo sẽ là tôn giáo gần nhất với
tôn giáo tự nhiên.
Theo
Lessing, chứng từ tốt nhất của kitô giáo là cái
biết Thiên Chúa bằng kinh nghiệm cá nhân. Đây là điều
Lessing gọi là "chứng từ của Thánh Thần và
của quyền năng" (cf. 1Cr 2:4); ông đă dùng từ
ngữ trên để đề tựa một bài suy
ngắm. Chân lư thâm sâu của kitô giáo hệ tại sự
kiện: mặc khải nói trực tiếp với ḷng chúng
ta và với sự chắc chắn cho chúng ta.[299]
Emmanuel Kant (1724-1804) cũng đồng quan niệm
với Lessing về tri thức lịch sử, nhưng Kant
ư thức giới hạn của lư trí con người. Kant
cho rằng, lư trí thuần lư (pure reason) không thể chứng
minh sự hiện hữu của những thực tại
siêu việt; tuy vậy, những ư niệm của lư trí
thuần lư này như linh hồn, tự do, và Thiên Chúa, là
nền tảng không thể thiếu được cho luân
lư và tôn giáo.
Trong
hệ thống triết lư của Kant, người ta không
t́m thấy chỗ đứng cho mặc khải hiểu
theo nghĩa truyền thống kitô giáo.
Nền
luân lư của Kant độc lập với mọi nền
siêu h́nh có trước. Kant khẳng định trong
Foundations of a Metaphysics of Morals: lư trí thực tiễn trong
việc đáp trả những đ̣i buộc luân lư, mở
đường đi tới đức tin tôn giáo. Nếu
một người tin rằng họ được
một vị thần linh hướng dẫn, th́
người đó dễ dàng ḥa hợp hành động
của họ với đ̣i hỏi của mệnh lệnh
tuyệt đối (categorical imperative). Như vậy,
mệnh lệnh của lư trí thực tiễn tương
đương với mặc khải thần linh.[300]
Friedrich D. E. Schleiermacher (1768-1834) lớn lên trong
bầu khí sùng tín (pietism). Ông đặt nền tảng
triết lư về tôn giáo không trên lư trí thuần túy nhưng
trên t́nh cảm của con tim (Gefuehl).
Schleiermacher
cho rằng con người trong ḍng kinh nghiệm hoặc
trong những kinh nghiệm t́nh cờ, nhận thấy ḿnh
tùy thuộc hoàn toàn vào cái bất biến, cần thiết,
vô hạn. T́nh cảm lệ thuộc tuyệt đối
này được Schleiermacher coi như tôn giáo. T́nh cảm
này làm nổi lên ư tưởng Thiên Chúa. Mỗi một
sự thông truyền của vũ
trụ cho con người đều là mặc khải.[301]
Triết gia Đan Mạch Soeren Kierkeggard (1813-1855) cho
rằng, các chân lư mặc khải thuộc b́nh diện
hiện sinh.
Mặc
khải kitô giáo không thích hợp với triết lư và khoa
học, v́ mặc khải thực nghịch lư. Mặc
khải đ̣i sự chấp nhận hiện sinh bằng
niềm tin mù quáng. Với Kierkeggard, mặc khải hàm
chứa uy quyền và có vẻ mâu thuẫn dị kỳ
đối với lư trí; thế nhưng, không phải v́
vậy mà không thể chấp nhận được.
Có
sự trái ngược giữa mặc khải và phương
pháp "dạy kiểu của Socrate." Bởi v́ trong
phương pháp của Socrate, học tṛ đă có và chỉ
cần giúp đỡ để học tṛ có thể
chấp nhận ra chân lư, vị thầy không phải là
người luôn luôn cần; c̣n đối với mặc
khải, học tṛ phải gắn bó thiết thân với
vị thầy.
V́
đối tượng của đức tin là Mâu Thuẫn Vĩnh Cửu Đă Làm
Người, thế nên đức tin không đơn
thuần hoàn toàn là cái thuộc lư trí và ư muốn.[302]
Georg W. F. Hegel (1770-1831) đặt nghệ thuật,
tôn giáo, và triết lư trong tiến tŕnh biện chứng. Tinh
thần tuyệt đối là mút cùng của tiến
bộ.
Mặc
khải đối với Hegel là tạm thời (tiền
triết lư), là sự tỏ lộ tạm thời của
tinh thần tuyệt đối trong lịch sử, chứ
mặc khải không là sự can thiệp tự do của
Thiên Chúa hiện hữu trong lịch sử. Đức tin
dưới lư trí, và tôn giáo dưới triết lư.[303]
Duy lư hoặc duy tín, đó là hai lập trường
thái cực mà anh em Tin Lành dễ rơi vào; C̣n đối
với bên Công giáo, lập trường duy tín cũng
bắt đầu xâm nhập do ảnh hưởng
triết lư của Kant và Schleiermacher. Lập trường
này chủ trương đức tin siêu nhiên tuyệt
đối cần thiết để con người
nhận thấy những chân lư tự nhiên của tôn giáo,
chẳng hạn, sự hiện hữu và những phẩm
tính của Thiên Chúa, linh hồn bất tử, các luật
luân lư, v.v.
Louis-Eugène Bautain (1796-1867) là giáo sư đại
học Strabourg. Do ảnh hưởng của Kant và kinh
nghiệm bản thân cùng những lư do tông đồ, Bautain
đă đi tới kết luận "đức tin là
nguồn mọi nhận thức tôn giáo và luân lư." Ông cho
rằng, sự nhận thức tự nhiên không thể
nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa.
Giám
mục Strabourg là De Trévern đă kết án lập
trường của Bautain năm 1834. Những mệnh
đề Bautain phải tuyên xưng được ghi
lại năm 1840:
·
Suy luận có thể chứng minh sự hiện
hữu của Thiên Chúa và những phẩm tính trọn
hảo của Ngài;
·
Đức tin giả sử đă có mặc khải;
·
Đức tin không thể được viện dẫn
như một lư chứng về sự hiện hữu
của Thiên Chúa đối với người vô thần
(DS. 2751);
·
Dù bị yếu và lu mờ bởi tội nguyên
tổ, lư trí vẫn c̣n đủ sáng suốt và sức
mạnh để nhận ra sự hiện hữu của
Thiên Chúa một cách chắc chắn, nhận ra mặc
khải được tỏ lộ cho người Do Thái
qua Môsê và tỏ lộ cho kitô hữu qua Đức Giêsu Kitô (DS.
2756).
Vào
năm 1844, Bautain phải kư nhận không dạy một
số điều, tựu trung là phải tôn trọng lư trí
(DS. 2765-2769).
Sau Louis-Eugène Bautain, Augustin Bonnetty (+1879) cũng rơi
vào sai lầm tương tự: quá đề cao mặc
khải và phủ nhận giá trị của lư trí.
Một số người công giáo khác lại rơi
vào sai lầm ngược lại: quá đề cao lư trí và
không phân biệt cái biết theo lư trí với cái biết theo
đức tin nhờ mặc khải; chẳng hạn như
nơi Georg Hermes (1775-1831) và Anton Guenther (1783-1863), v.v.
Đức Piô IX, vào năm 1846, đă ra một thông
điệp nhằm giải quyết dứt khoát vấn
đề tương quan giữa lư trí và đức tin.
Thông điệp Qui Pluribus này khẳng định:
·
nhiệm vụ của lư trí nhân loại là dẫn
tới mặc khải,
·
lư trí phải suy phục mặc khải nơi
Lời Chúa,
·
không có sự đối nghịch hoặc mâu
thuẫn giữa đức tin và lư trí, v́ cả hai
đều từ Thiên Chúa duy nhất (DS. 2775-2786).
Đức
Giáo Hoàng Piô IX, vào năm 1864, đă đưa ra một
sưu tập những sai lầm về các vấn
đề của thời đó, kể cả những sai
lầm của những người theo thuyết duy lư quá
đề cao lư trí (DS. 2903-2909).
Công
đồng chung Vatican I đă được Đức Giáo
Hoàng Piô IX triệu tập, và nhóm phiên đầu tiên vào ngày
08.12.1869. Đây là công đồng chung đầu tiên bàn
trực tiếp và rơ ràng về mặc khải trong hiến
chế tín lư Dei Filius.
Những
sai lầm thời trước công đồng chung Vatican I
đang hoành hành:
·
Luther chủ trương, lư trí sau khi con người
phạm tội đă bị hủy hoại, không c̣n khả
năng nhận biết chân lư!
·
Tự nhiên thần giáo (Deism) rất thịnh hành
ở Anh quốc quá đề cao lư trí (như một phản
ứng lại chủ trương coi thường lư trí
nơi những người Tin lành).
·
Sang thế kỷ XVIII, phong trào triết lư ánh sáng
xuất hiện và phát triển mạnh; lư trí
được đề cao tuyệt đối và dẫn
tới phủ nhận tri thức thuộc trật tự
khác- đức tin với lănh vực chân lư siêu nhiên
được mặc khải. Phong trào duy lư này cực
thịnh ở Đức vào thế kỷ XVIII và lan dần
sang các nước lân cận.
·
Ở Pháp vào thế kỷ XIX, xuất hiện
những thần học gia công giáo chịu ảnh
hưởng bởi thuyết duy lư, quá đề cao lư trí và
không hiểu mặc khải nguyên tuyền như truyền
thống vẫn dạy. Họ vẫn dùng từ ngữ
mặc khải, nhưng nội dung không c̣n là mặc
khải nữa.
·
Phản ứng chống lại những người
duy lư đề cao lư trí, một số người trở
lại quan niệm thái cực của Luther, coi lư trí đă
suy yếu tới mức độ không c̣n có thể
nhận ra chân lư, ngay cả những chân lư thuộc lănh
vực tự nhiên; những người này chủ
trương con người cần nhờ mặc khải
để biết chân lư, dù chân lư đó thuộc b́nh
diện tự nhiên. Đây là chủ trương của
những người bị ảnh hưởng bởi sùng
tín (piétisme) và duy tín (fidéisme) nơi anh em Tin Lành. Chủ
trương này c̣n được gọi một tên khác: duy
truyền thống.
Những
sai lầm trên đây đă được huấn quyền
Giáo Hội sửa sai, chỉnh đốn, kết án;
nhưng lạc giáo vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt.
Chính trong bầu khí này mà công đồng chung Vatican I bàn
về mặc khải trong hiến chế tín lư Dei Filius.
Hiến
chế Dei Filius gồm
bốn chương. Chương đầu bàn về Thiên
Chúa là Đấng Tạo Hóa, chương hai bàn về mặc
khải, chương ba bàn về đức tin, và
chương bốn bàn về tương quan giữa
đức tin và lư trí.
Chương
bàn về mặc khải được trích lại trong
DS. 3004-3007.
DS.
3004: "Giáo Hội Mẹ Thánh khẳng định và
dạy rằng, Thiên Chúa- nguyên lư và mục đích của
mọi sự có thể được nhận biết cách
chắc chắn bởi ánh sáng tự nhiên của lư trí con
người qua các tạo vật; thực vậy, những
ǵ vô h́nh của Người đă được trí khôn
nh́n thấy qua các tạo vật trên thế gian là những
cái đă được Người tạo thành: tuy nhiên
theo sự khôn ngoan và nhân từ của Người,
Người đă mặc khải cho nhân loại chính
Người và ư định muôn đời của thánh ư
Người bằng một con đường siêu nhiên
khác, như lời thánh tông đồ đă phán: ngày xưa
nhiều lần và nhiều cách, Thiên Chúa đă nói với cha
ông qua các tiên tri, nhưng trong những ngày sau hết này,
Người đă nói với chúng ta qua Con người (Hr 1:1tt).”
Qua
bản văn này công đồng khẳng định:
·
Con người có thể nhận biết Thiên Chúa
bằng trí khôn của ḿnh. Đây là điều chúng ta phải
chấp nhận như đức tin công giáo; c̣n nhận
biết như thế nào, giải thích việc nhận
biết này ra sao, là nhiệm vụ của các nhà thần
học.
·
Thiên Chúa đă mặc khải cho con người
bằng một con đường khác, con đường
siêu nhiên (ngoài con đường b́nh thường mà lư trí có
thể nhận biết Thiên Chúa).
·
Đối tượng mặc khải: Thiên Chúa và
chương tŕnh ư định muôn đời của
Người.
·
Mặc khải là do sáng kiến của Thiên Chúa, do ư
định tốt lành và sự khôn ngoan của
Người, chứ không phải do cái ǵ khác. Thiên Chúa không
bị bó buộc phải mặc khải cho con
người. Mặc khải là hồng ân Thiên Chúa ban cho con
người.
DS.
3005: "Chính nhờ mặc khải thần linh này,
những ǵ thuộc thần linh tự bản chất không
nằm trong tầm với của lư trí con người, có
thể được nhận biết cách chắc chắn
và không một chút sai lầm trong hoàn cảnh hiện
tại của con người. Không phải v́ điều
đó mà mặc khải được coi là cần
thiết, nhưng v́ ḷng tốt lành vô cùng của Thiên Chúa,
Ngài đă quy hướng con người tới mục
đích siêu nhiên, tới hưởng các sự tốt lành
thánh thiện vượt qua trí khôn con người có
thể hiểu; V́ những ǵ mắt không thấy, tai không
nghe, ḷng không thể hiểu, th́ Thiên Chúa đă chuẩn
bị cho những kẻ Ngài yêu (1Cr 2:9).”
Theo
DS. 3005, mặc khải thực sự cần thiết v́:
·
giúp con người nhận biết các chân lư
vượt quá khả năng con người,
·
con người được tạo dựng
để hướng tới mục đích siêu nhiên
của ḿnh, và nếu không nhờ mặc khải th́ con
người không thể đạt được mục
đích này.
Nói
cách khác, nếu không nhờ mặc khải th́ con
người không thể biết các chân lư vượt quá
sức con người; và nếu không biết chân lư này, th́
không thể đạt được cùng đích
đời ḿnh là sống hạnh phúc với Thiên Chúa,
hưởng kiến Thiên Chúa.
DS.
3006: "Mặc khải này, theo như đức tin
được thánh công đồng Trentô tuyên bố,
được chứa trong sách thánh và trong truyền
thống không được viết, được các
tông đồ lănh nhận qua môi miệng của chính
Đức Kitô, hay được truyền cho các tông
đồ như là từ tay qua tay dưới sự
đọc cho viết bởi Thánh Thần, và truyền
đến chúng ta" (DS. 1501).
Với
bản văn này, công đồng đồng hóa mặc
khải với sách thánh và truyền thống; theo nghĩa
này mặc khải được hiểu ở đây là
những chân lư; tuy vậy điều này không phủ
nhận thực tại được mặc khải là
thực thể sống động, là Thiên Chúa hằng
sống với ư định vĩnh cửu của Ngài.
Sau
đây là những quy chuẩn đức tin, công
đồng lên án chống lại những người
phủ nhận giá trị của thần học tự
nhiên, lên án những người chủ trương tôn giáo
tự nhiên, lên án những người đề cao lư trí
cách tuyệt đối!
DS.
3026: "Nếu ai nói: Thiên Chúa Đấng duy nhất và thân
thực, Đấng tạo hóa và Chúa của chúng ta, không
thể nhận biết cách chắc chắn bởi ánh sáng
tự nhiên của lư trí con người, qua những tạo
vật, th́ bị tuyệt thông."
Quy
chuẩn đức tin này nhắm tới sai lầm của
những người mang danh duy tín hoặc duy truyền
thống. Họ phủ nhận giá trị đích thực
của lư trí, và như vậy phủ nhận thần
học tự nhiên.
DS.
3027: "Nếu ai nói: việc con người
được dạy dỗ bởi mặc khải,
về Thiên Chúa và về việc thờ phượng
phải dâng kính Ngài, là chuyện không có thể và vô dụng,
th́ người đó bị tuyệt thông."
Với
quy chuẩn đức tin này, công đồng bài bác lập
trường cho rằng mặc khải là điều không
cần thiết, cũng như lập trường cho
rằng mặc khải là chuyện không thể có
được. Đó là lập trường của những
người cho rằng lư trí là đủ, không cần có
mặc khải.
DS.
3028: "Nếu ai nói rằng, con người không có
thể được nâng lên đạt tới nhận
thức và sự trọn lành vượt qúa sức tự
nhiên của con người, nhưng con người có
thể và phải tự ḿnh đạt tới việc
sở hữu mọi điều chân thực và tốt lành
bằng sự tiến bộ liên tục, th́ người
đó bị tuyệt thông."
Quy
chuẩn này cho thấy công đồng bài bác lập
trường cho rằng mặc khải là điều làm
hạ giá con người, và như vậy trái bản tính
con người; lập trường này cho rằng, quan
niệm đúng đắn là con người phải tự
ḿnh đạt tới Thiên Chúa, v́ con người có thể
làm chuyện này.
DS.
3041: "Nếu ai nói rằng, không có bất cứ một
mầu nhiệm đúng nghĩa nào trong mặc khải và
các tín điều có thể được hiểu và tŕnh
bày bởi lư trí của một người có học
dựa vào các nguyên tắc tự nhiên, th́ người đó
bị tuyệt thông."
Đây là
một quy chuẩn của chương bốn hiến
chế Dei Fillius, bàn về tương quan giữa lư trí và
đức tin. Quy chuẩn này lên án chủ trương cho
rằng lư trí con người có khả năng đạt
tới Thiên Chúa, mặc khải là chuyện không cần
thiết, không có mặc khải đích thực, cái gọi
là mặc khải cũng chỉ nằm trong tầm với
của lư trí con người. Đây là lập trường
của những người theo tôn giáo tự nhiên (Deism) và
phong trào duy lư.
DS.
3029: "Nếu ai không nhận tất cả và từng
phần của Kinh Thánh như đă được công
đồng Trentô liệt kê là sách thánh và sách quy chuẩn,
hoặc phủ nhận tính linh hứng của các sách đó,
th́ người đó bị tuyệt thông."
Khẳng
định này nhằm bảo vệ mặc khải.
Như vậy, mặc khải ở đây một lần
nữa được đồng hóa với Kinh Thánh
như những chân lư.
Công
đồng Vatican I đă cho thấy chủ thể mặc
khải là chính Thiên Chúa, đối tượng chất
thể mặc khải là Thiên Chúa và chương tŕnh
cứu độ con người. Công đồng cũng
khẳng định mặc khải là điều thực
sự tối cần thiết để con người
đạt được cứu cánh đời ḿnh.
Thuyết
duy tân (modernisme) đă làm huấn quyền Giáo Hội
bận tâm nhiều. Những người theo duy tân
thuyết nỗ lực thích ứng giáo lư công giáo với
tư tưởng hiện đại, với những
điều mà con người thời đại chấp
nhận.
Năo
trạng duy lư không chấp nhận tín điều, nên
những người theo thuyết duy tân giải thích
lại tín điều công giáo; nhưng khi làm điều
này, họ đă lấy tư tưởng hiện
đại đương thời làm tiêu chuẩn, và đă
phạm sai lầm khi cắt bớt hoặc giải thích
sai lạc mặc khải công giáo. Ở đây chỉ
đơn cử hai tác giả tiêu biểu, đó là Alfred
Loisy và Georg Tyrrell.[304]
Alfred Loisy cho xuất bản quyển sách nhan
đề L'Évangile et l'Église vào năm 1902, nhằm trả
lời quyển sách của Adolf von Harnack (1851-1930) có tựa
đề Wesen des Christentums. Với quyển sách của
Loisy này, có thể coi duy tân thuyết được
khởi đầu. Giáo quyền đă lên án quyển sách
này. Nó chủ trương yếu tính của Kitô giáo chưa
được xác định, v́ chân lư của Kitô giáo
cũng như những chân lư nhân loại, cũng
tương đối và có tiến bộ.
Năm
1903, Loisy cho xuất bản quyển "Autour d'un petit
livre" nhằm biện minh cho lập trường
của ḿnh. Trong quyển sách này, ông viết: "Cái
được gọi là mặc khải chỉ là ư
thức của con người trong tương quan với
Thiên Chúa... tương phản với tri thức thuộc
phạm vi lư trí và khoa học, tri thức chân lư tôn giáo không
chỉ là kết quả của lư trí nhưng nó c̣n là công
việc của trí khôn, được khám phá dưới
sự thúc đẩy của con tim, của luân lư và tôn giáo,
của ư muốn thực sự hướng tới sự
thiện."[305]
Theo A.
Loisy, mặc khải không là một giáo lư được ban
cho con người. Mặc khải cũng không là kho tàng chân
lư không đổi, nhưng là tri thức trực quan (và kinh
nghiệm) về tương quan giữa con người và
Thiên Chúa; tri thức trực quan này luôn biến đổi.
Mặc khải, xét như là tín điều thần học,
luôn biến đổi. Mặc khải đang
được h́nh thành.[306]
Georg Tyrrell tŕnh bày tư tưởng về mặc
khải của ḿnh trong quyển Through Scylla and Charybdis được
xuất bản vào năm 1907.
Theo
Tyrrell, mặc khải hệ tại một kinh nghiệm
gần như thần bí, và không được đồng
hóa với những cấu tố tri thức của kinh
nghiệm này. Các tông đồ đă lănh nhận trọn
vẹn mặc khải qua việc hiệp thông với
đức Kitô. Mặc khải nơi chúng ta phải là
một kinh nghiệm tiên tri mới, được lập
lại nơi chúng ta. Mặc khải không được
truyền thông, nhưng có thể được tạo dịp
qua việc rao giảng và qua những bản viết. Các tín
điều của Giáo Hội không là mặc khải,
nhưng chỉ là phản ứng của con người
đối với mặc khải; Các tín điều
được dùng khi nó giúp đỡ và phải bỏ khi
nó che dấu mặc khải.[307]
Tóm
lại, với Loisy, không có mặc khải. Cái người
ta gọi là mặc khải chỉ là những ư thức
những kinh nghiệm con người có về Thiên Chúa;
như vậy, mặc khải luôn thành h́nh, không là cái
bất biến không đổi. C̣n với Georg Tyrrell, có
thực tại mặc khải siêu việt, nhưng nó không
được truyền từ người này sang
người kia; nghĩa là, mỗi người phải lănh
nhận mặc khải cho ḿnh; v́ vậy, tín điều
không là mặc khải. Như vậy theo Tyrrell, có mặc
khải nơi các tông đồ và các tiên tri, nhưng
những điều này không liên hệ và không bổ ích cho
chúng ta bao nhiêu.
Đứng
trước những sai lầm của thuyết duy tân
về mặc khải, huấn quyền đă can thiệp
nhằm bảo vệ tinh tuyền đức tin công giáo.
Sắc lệnh Lamentabili được đức
giáo hoàng Piô X công bố ngày 03.07.1907 thu tóm 65 mệnh
đề sai lạc của chủ thuyết duy tân (DS.
3401-3466), trong số này có những mệnh đề liên
quan đến mặc khải (DS. 3420-3426).
DS.
3420: "Mặc khải không là ǵ khác hơn ư thức con
người về tương quan giữa ḿnh và Thiên
Chúa."
Đây là
mệnh đề của Loisy, phủ nhận mặc
khải được hiểu theo nghĩa truyền
thống của Giáo Hội Công Giáo.
DS.
3421: "Mặc khải cấu thành đối
tượng đức tin công giáo, không hoàn tất với
các tông đồ."
Đây là
lập trường của G. Tyrrell, chủ trương
mặc khải tiến bộ, hiểu theo nghĩa nó là những
chân lư được con người khám phá ra; như con
người thay đổi, những chân lư đó cũng
thay đổi.
DS.
3422: "Các tín điều, điều mà Giáo Hội xác
nhận như là mặc khải, không là những chân lư
từ trời xuống (nguồn gốc thần linh),
nhưng chỉ là lời giải thích các sự kiện tôn
giáo mà lư trí con người có thể nhận ra với một
nỗ lực nghiêm chỉnh."
Đây
cũng là lập trường của Tyrrell. Ông cho rằng,
các tín điều chỉ là nỗ lực nhân loại
chứ không phải là mặc khải. Hiểu như
vậy, con người có thể bỏ tín điều này
hoặc tín điều kia; hoặc nó sẽ thay đổi
thành một tín điều mới thích hợp với con
người hơn.
Thông điệp Pascendi
Dominici Gregis được đức giáo hoàng Piô X ban
hành vào ngày 08.09.1907, nhằm cảnh giác các tín hữu và
mọi tầng lớp trong Giáo Hội, để
đừng rơi vào duy tân thuyết.[308]
Tự sắc Sacrorum
Atistites được đức Piô X ban hành ngày 01.09.1910,
buộc tất cả các giáo sĩ làm mục vụ hay công
tác giảng dạy phải thề từ bỏ tất
cả các khẳng định của thuyết duy tân
về mặc khải và về truyền thống!
DS.
3538: "Thứ nhất tôi tuyên xưng rằng: Thiên Chúa,
nguyên lư và mục đích của mọi sự, có thể
được nhận biết cách chắc chắn, và v́
vậy có thể được minh chứng bởi ánh sáng
tự nhiên của lư trí từ những cái đă
được tạo thành, nghĩa là bởi những công
tŕnh hữu h́nh tức tạo thành, như nguyên nhân bởi
kết quả."
DS.
3539: "Thứ hai, tôi biết và chấp nhận những
luận chứng bên ngoài của mặc khải, tức là
những sự kiện thần linh, nhất là các phép
lạ và các lời tiên tri, như là những dấu chỉ
rất chắc chắn chứng tỏ nguồn gốc
thần linh của Kitô giáo; và tôi khẳng định, chúng
hoàn toàn thích hợp với trí khôn của con người
của mọi thời đại, kể cả với
thời đại ngày nay."
DS.
3540: "Thứ ba, tôi tin với cùng một đức tin
chắc chắn rằng, Giáo Hội là thầy và là
người ǵn giữ lời mặc khải,
được chính Đức Kitô chân thực và lịch
sử thiết lập trực tiếp khi Ngài sống
giữa chúng ta; và tôi tin Giáo Hội này được xây
trên Phêrô là đầu của phẩm trật tông
đồ, và trên những người kế vị ngài
trong mọi thời đại."
DS.
3541: “Thứ tư, tôi nhận cách chân thành giáo lư đức
tin được truyền bởi các tông đồ cho
tới chúng ta qua các giáo phụ chính thống với cùng ư
nghĩa và cùng những lời giải thích; cũng vậy
tôi từ bỏ cách giải thích lạc giáo cho rằng tín
điều tiến hóa từ một nghĩa đen này
đến một nghĩa khác, khác với nghĩa mà Giáo
Hội đă có trước; cũng tương tự
như vậy tôi kết án mọi sai lầm cho rằng,
sáng kiến triết lư hay sự sáng tạo của ư
thức con người, được h́nh thành do nỗ
lực của con người và được hoàn
chỉnh do những tiến bộ không ngừng, sẽ thay
thế kho tàng thần linh đă được truyền
lại cho hiền thê Đức Kitô, và được ǵn
giữ cách trung thành bởi chính Giáo Hội.”
DS.
3542: "Thứ năm, tôi khẳng định và tuyên
xưng chân thành rằng, đức tin không là t́nh cảm tôn
giáo mù quáng h́nh thành từ vùng tối tăm của vô
thức do con tim và ư muốn luân lư thúc đẩy, nhưng
là sự đồng t́nh thực sự của lư trí
đối với chân lư được đón nhận do
nghe (rao giảng), điều mà chúng tôi tin rằng thật,
được mặc khải, được xác
chuẩn, được phán truyền bởi chính Thiên Chúa
ngôi vị, được phán truyền bởi chính Thiên
Chúa ngôi vị, Đấng Tạo Hóa và là Chúa chúng tôi, bởi
quyền năng của Thiên Chúa chân thực.”
Lược
đồ về mặc khải đầu tiên đă
được bàn căi từ 14.11.1962, và bản văn
được bỏ phiếu vào ngày 20.11.1962 với 1368
phiếu chống, 822 phiếu thuận, và 19 phiếu
bất hợp lệ. Đức giáo hoàng Gioan XXIII đă can
thiệp, trả lược đồ lại cho ủy ban
hỗn hợp.
Bản
văn hiến chế Mặc khải Dei Verbum là bản
văn được bỏ phiếu vào ngày 29.10.1965
với 2081 phiếu thuận, 27 phiếu chống, và 7
phiếu bất hợp lệ (2115 nghị phụ); vào ngày
công bố (18.11.1965) có 2344 phiếu thuận, 6 phiếu
chống (tất cả 2350 nghị phụ).
Hiến
chế Dei Verbum gồm 26 số, ngoài số dẫn
nhập, hiến chế được chia thành sáu
chương:
Số
2-6: bàn về chính mặc khải
Số
7-10: bàn về lưu truyền mặc khải
Số
11-13: bàn về linh hứng và giải thích Kinh Thánh
Số
14-16: Về Cựu Ước
Số
17-20: Về Tân Ước
Số
21-26: Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội.
Giáo
tŕnh về mặc khải này lưu ư đặc biệt
chương một, từ số 2-6, v́ từ đây phát
sinh những tư tưởng phong phú và nền tảng
của thần học mặc khải.
Số mở đầu tŕnh bày mặc khải
như thực thể sống động.
"Chúng
tôi loan truyền cho anh em sự Sống đời
đời, đă có nơi Chúa Cha và đă hiện
đến với chúng tôi: điều chúng tôi đă
thấy, đă nghe, chúng tôi loan truyền cho anh em, để
anh em cũng được hiệp nhất với chúng tôi
và chúng ta được hiệp nhất với Chúa Cha và
với Chúa Giêsu Kitô Con Ngài" (1Ga 1:2-3).
Sự
Sống đă đến. Loan báo về sự Sống là
loan báo những điều ḿnh đă thấy đă nghe
về chính sự Sống này. Sự Sống đă nhập
thể, và hơn nữa sự Sống đă trở thành
lời được loan báo, đă trở thành chữ
được viết để loan báo. Như vậy,
chúng ta không được dừng lại ở lời loan
báo, không được dừng lại ở chữ
viết để loan báo, nhưng chúng ta phải
vươn lên tới sự Sống đời đời,
tức là thực tại được loan báo.
Dei Verbum
số 1 chưa đề cập đến đối
tượng mặc khải, nhưng đă thấy hàm
chứa: đối tượng mặc khải không
chỉ là chữ viết, không chỉ là lời loan báo
về sự Sống, nhưng chính là sự Sống ở
nơi Cha và đă đến giữa con người.
Mục
đích mặc khải, mục đích việc loan
truyền mặc khải, là để chúng ta
được thông dự, thông hiệp với chính Thiên
Chúa là Cha và với Chúa Giêsu Kitô. Đây cũng là mục đích
của con người, là cứu cánh của con
người, là ơn gọi của chính con người.
Hiệp thông với Thiên Chúa là hạnh phúc vĩnh cửu,
là thiên đàng, là tất cả những ǵ con người
có thể ao ước.
Ở
đây công đồng cũng không đưa ra lời
khẳng định mặc khải là cần thiết,
nhưng khi tŕnh bày mặc khải như sự hiệp
thông với Thiên Chúa, công đồng cũng cho thấy
mặc khải là việc tối quan trọng để con
người đạt tới cùng đích đời
người; không có mặc khải, con người không
thể hiệp thông với Thiên Chúa được, và
như vậy, không thể đạt tới mục
đích tối hậu của đời người.
Số 2
Đối
tượng mặc khải: Thiên Chúa mặc khải chính
ḿnh và mầu nhiệm thánh ư Ngài. Thiên Chúa mặc khải
Ngài là ai cho con người, và khi mặc khải như
vậy, Ngài cũng cho con người biết con
người là ai. Mặc khải giúp con người
biết nguồn gốc của ḿnh, lư do hiện hữu
của ḿnh, tương lai ḿnh sẽ đi về đâu,
cùng đích đời ḿnh là ǵ, ḿnh phải có tương
quan với Thiên Chúa ra sao! Và một khi thấy rơ ư
định của Thiên Chúa về ḿnh, con người
phải đáp trả.
Mục
đích mặc khải: giúp con người đi
đến với Chúa Cha, và được thông phần
bản tính của Người nhờ đức Kitô và
Thánh Thần. Mặc khải có mục đích giúp con
người đạt được hạnh phúc,
đạt được cứu cánh đời ḿnh,
tức thông hiệp với Thiên Chúa.
Chiều
kích Ba Ngôi của mặc khải: con người
đến với Thiên Chúa Cha nhờ Đức Kitô làm
người và trong Thánh Thần.
Lư do
mặc khải: nguyên động lực của mặc
khải là t́nh thương chứa chan của Thiên Chúa. Thiên
Chúa hoàn toàn tự do, không bị ép buộc bởi bất
cứ điều ǵ khi mặc khải cho con người.
Thiên Chúa hạnh phúc với chính Ngài, Ngài không có một nhu
cầu nào từ bên ngoài. Việc mặc khải cho con
người để họ tham dự sự sống
với Người là do t́nh thương của
Người mà thôi; không có sự cần thiết hữu
thể hoặc luân lư nào buộc Thiên Chúa phải mặc
khải cho con người, xét về khía cạnh Thiên Chúa.
Cách
thức mặc khải: Thiên Chúa ngỏ lời với con
người như một người bạn nói chuyện
với người bạn. Ngài trao đổi với
họ, mời gọi họ hiệp nhất với Ngài, và
Ngài tiếp nhận họ.
Mặc
khải mang chiều kích liên vị: Thiên Chúa tôn trọng và
yêu thương con người. Hành vi đối thoại,
là hành vi đề cao con người.
Mặc
khải có dự tính: mặc khải không là chuyện
hời hợt được thực hiện một sáng
một chiều, nhưng là cả một chương tŕnh,
được Thiên Chúa thực hiện qua hành động
và Lời.
Ở
đây vang vọng chữ DABAR của Do Thái: DBR gồm
cả biến cố và lời. Thiên Chúa không chỉ soi sáng
tâm hồn của các tiên tri, nhưng Ngài c̣n thực hiện
những biến cố trong lịch sử, và dùng lời
để giải thích sự kiện lịch sử này.
Mặc khải kitô giáo khác ơn khải ngộ nơi các
hiền nhân hoặc tiên tri của các tôn giáo khác.
Đức
Kitô là trung gian mặc khải, là mục đích mặc
khải, là mặc khải viên măn. Ngài là Lời và hành
động Thiên Chúa mặc khải cho con người.
Nơi Đức Kitô, chúng ta không c̣n phải chờ một
mặc khải nào mới nữa, v́ nơi Ngài là tất
cả mặc khải; Với Ngài mặc khải đă và
đang đạt đến đích.
Số 3:
Thiên
Chúa, Đấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự
nhờ ngôi Lời, luôn yêu thương và chăm sóc con
người. Ngài không ngừng tỏ ḿnh cho con người
qua các tạo vật, ban sự sống đời
đời cho tất cả những ai t́m kiếm sự
cứu rỗi nhờ kiên tâm làm việc thiện; đó là
lịch sử cứu độ "bằng
đường lối b́nh thường." Khi
đến thời đă định, Ngài kêu gọi Abraham
và lập một dân tộc; Ngài đă dùng Môsê và các tiên tri
để dạy dỗ họ, để họ nhận
biết Ngài; với Abraham, Thiên Chúa đă bắt đầu
thực hiện một lịch sử cứu độ
"đặc biệt."
Thiên
Chúa đă mặc khải trong ḍng lịch sử và qua
lịch sử dân Do Thái; Ngài đă mặc khải cho
một số người thuộc dân Do Thái nhưng hành
động mặc khải này nhắm đến nhiều
người, nhắm đến tất cả mọi
người thuộc mọi dân tộc. Từ Abraham,
mặc khải có chiều kích lịch sử v́ Thiên Chúa
đă can thiệp vào lịch sử dân Do Thái.
Số 4:
Đức
Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, là tiếng nói của
Thiên Chúa, là h́nh ảnh của Thiên Chúa, là Đấng mặc
khải Thiên Chúa, là chính mặc khải trọn hảo, là
tuyệt đỉnh mặc khải, là giao ước
vĩnh cửu, là sự sống đời đời.
Với Ngài, người ta không phải chờ đợi
một mặc khải công cộng nào khác nữa
trước khi Chúa Giêsu Chúa chúng ta hiện đến trong
vinh quang.
Số 5:
Vâng
phục đức tin, lời đáp trả đối
với mặc khải của Thiên Chúa. Để có đức
tin này, cần ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ
giúp của Thánh Thần.
Số 6:
Công
đồng tái khẳng định: Thiên Chúa muốn dùng
mặc khải để bày tỏ và thông ban chính ḿnh Ngài
cùng những ư định muôn đời của Ngài liên quan
đến phần rỗi nhân loại.
Công
đồng cũng tuyên xưng:
·
Với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con
người có thể nhận biết cách chắc chắn
có Thiên Chúa như nguyên lư và cứu cánh mọi sự,
khởi từ các tạo vật;
·
Những ǵ thuộc về Thiên Chúa mà tự nó vốn
không vượt quá khả năng lư trí con người, có
thể được biết cách dễ dàng chắc
chắn không lẫn lộn sai lầm nhờ mặc
khải.
Công
đồng Vatican II trong hiến chế mặc khải Dei
Verbum, đă tŕnh bày đối tượng mặc khải
là thực thể sống động khôn ḍ,
được loan báo rao giảng, và phải được
đáp trả bằng sự vâng phục của đức
tin.
Dưới
đây là một cái nh́n tổng hợp và nhất quán về
mặc khải kitô giáo:
Thiên
Chúa là t́nh yêu
Đức
Giêsu là dấu chứng tuyệt vời t́nh yêu Thiên Chúa cho
con người.
Mặc
khải là lời bày tỏ và chứng thực t́nh yêu Thiên
Chúa cho con người.
Qua
mặc khải nơi lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa
đă tỏ ḿnh như Đấng giải phóng dân Israel, như
chủ tể của vũ trụ và lịch sử.
Khởi từ kinh nghiệm này, dân Do Thái và những
người khác đă nhận biết Thiên Chúa là Đấng
sáng tạo vũ trụ bằng lời của
Người (St 1-2), đă giải phóng dân khỏi ách nô
dịch bên Ai cập, đă đưa dân lưu đày
từ Babylon trở về.
Qua
biến cố Giêsu Kitô, kitô hữu nhận biết
"Thiên Chúa là t́nh yêu" (1Ga 4:8. 16), Thiên Chúa là Thiên Chúa ba
ngôi vị.
Thiên
Chúa là một bản tính ba ngôi vị. Ba ngôi vị Thiên Chúa
nhưng là một Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa tất cả là
một trừ tương quan ngôi vị.[309]
Cả ba ngôi vị hiệp thông với nhau cách lạ lùng và
tuyệt diệu đến mức độ chỉ là
một Thiên Chúa T́nh Yêu.
T́nh
yêu là tương quan giữa ngôi vị với ngôi vị.
Nơi
những ngôi vị thực sự tự do, nghĩa là
những hiện hữu lư trí hướng về Hiện
Hữu Tuyệt Đối, tương quan giữa ngôi vị
là t́nh yêu, bởi v́ t́nh yêu là ngôi vị hướng về
ngôi vị theo lư trí "tự do."[310]
Nơi
ngôi vị có một vẻ đẹp nào đó rất
đáng yêu. Có thể nói, mỗi ngôi vị là một
kiệt tác của Thiên Chúa.
Nơi
Thiên Chúa, ba ngôi vị yêu thương nhau, cho nhau tất
cả, hiệp thông với nhau trong tất cả
đến độ có thể nói là một trong vinh quang, là
một trong sự thật, là một trong hoạt
động.[311]
T́nh
yêu là ngôi vị thực sự tự do hướng về
nhau, cho nhau tất cả, trở nên một với nhau,
hiệp thông tới mức độ tuyệt vời. Tuy
vậy, t́nh yêu là hành vi tự do, không là hành vi
đương nhiên hay tất yếu theo thể lư. Như
vậy khi nào không thể cưỡng lại
được, th́ không có tự do, và không là t́nh yêu
"đích thực." Thiên Chúa là t́nh yêu; ba ngôi vị
Thiên Chúa yêu nhau đến độ là một trong tất
cả, đến độ có thể nói và phải nói, là
một Thiên Chúa.
Đối
với con người, Thiên Chúa yêu con người như thế
nào, đến độ nào, đó là tùy Thiên Chúa, do tự Thiên Chúa. Nhờ
mặc khải kitô giáo, con người biết "Thiên
Chúa đă yêu thế gian đến độ đă ban Con
Một Người cho thế gian" (Ga 3:16). Với
Đức Giêsu Kitô và nhờ Đức Giêsu Kitô- Con Thiên Chúa
nhập thể, con người được bảo
đảm rằng Thiên Chúa rất yêu con người:
·
Thiên Chúa đă tuyển chọn ta trong Đức Giêsu Kitô
từ trước khi sáng thế. Người đă
tiền định cho ta được phúc làm con bởi
ḷng yêu mến (Ep 1:4-5);
·
Thiên Chúa Cha gởi Thánh Thần đến với
chúng ta để luôn ở với chúng ta (Ga 14:16.26);
·
Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô sẽ đến ở,
lập cư nơi những kẻ giữ lời Ngài (Ga 14:23);
·
Chúa Cha yêu chúng ta như yêu Chúa Giêsu (Ga 17:23. cf. Ga 17:20);
Chúa Giêsu yêu chúng ta như Chúa Cha yêu Chúa Giêsu (Ga 15:9).
Thiên
Chúa, khi tạo dựng nên con người như một ngôi
vị, Ngài đă yêu con người. Nhưng với mặc
khải kitô giáo, với biến cố Đức Giêsu Kitô, chúng
ta được biết Thiên Chúa đă yêu con người
đến mức độ "vô cùng."
T́nh
yêu là tương quan giữa hai ngôi vị.[312]
Ân sủng là thực tại diễn tả t́nh yêu.[313]
Ân sủng quí nhất là ban tặng chính ḿnh. Thiên Chúa đă
yêu thương con người, và Thiên Chúa đă ban cho con
người biết bao hồng ân, và ân sủng lớn
nhất là Thiên Chúa đă ban tặng chính Thiên Chúa cho con
ngưởi, ban tặng chính ḿnh cho con người.
Ân
sủng cũng chính là t́nh yêu. Khi hai người nam nữ
yêu nhau, họ cho nhau chính con người ḿnh, cho nhau
để trở nên một trong thân xác và tinh thần. Cho
nhau chính bản thân ḿnh, trở nên một với nhau, đó
là tuyệt đỉnh của hiệp thông. Thiên Chúa đă
ban tặng chính ḿnh Ngài cho con người, đă ở
với con người, để nên một với con
người, để con người trở nên Thiên Chúa.[314]
Hiệp
thông với Thiên Chúa, trở nên một với Ngài, sống
trong tương quan thân thiết với Ngài, đó là ơn
cứu độ. Dưới một khía cạnh nào đó,
t́nh yêu, ân sủng, ơn cứu độ là một.
T́nh
yêu là tương quan liên vị, là tương quan của
hiện hữu tự do với nhau. Trong t́nh yêu không có
cưỡng bức, bó buộc thể lư, nhưng tự do.
Con
người có thể tỏ t́nh cho nhau và có thể nín
lặng. Tỏ t́nh cũng cho thấy mức độ t́nh
yêu đối với nhau. Thiên Chúa yêu con người khi
tạo dựng con người như một ngôi vị,
như một hiện hữu tự do, như tinh thần
nhập thể. Nhưng như vậy không có nghĩa Thiên
Chúa thiết yếu phải mặc khải cho con
người. T́nh yêu là hành vi tự do! Tỏ lộ t́nh yêu
hay không, là tùy ở Thiên Chúa.
Khi tra
vấn lịch sử, con người nhận ra Thiên Chúa
đă mặc khải cho con người cách đặc
biệt. Khi Thiên Chúa tạo dựng con người như
tinh thần nhập thể, th́ con người có thể qua
các tạo vật nhận biết Thiên Chúa hiện hữu.
Nhưng nếu chỉ như vậy, cũng hợp lư;
không có ǵ buộc Thiên Chúa phải đi xa hơn, mặc
khải đặc biệt hơn cho con người.
Thực tế cho thấy Thiên Chúa đă mặc khải cho
con người trong ḍng lịch sử dân Do Thái và qua
biến cố Đức Giêsu Kitô. Đây là hành vi biểu lộ
t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người. Mặc khải là
ân sủng của Thiên Chúa cho con người.
Con
người là hiện hữu "vật chất tinh
thần," là tinh thần nhập thể. Con người
không chỉ cần thỏa măn những nhu cầu vật
chất như ăn ngủ, mà c̣n cần thỏa măn
những khao khát tinh thần.
Con
người có tri thức, tri thức giác quan và tri thức
phản tỉnh. Chính nhờ khả năng suy luận
của lư trí mà con người biết ḿnh và biết thực
tại siêu việt. Không thể tách tri thức siêu
vượt khỏi con người nếu không muốn con
người bị què cụt và không triển nở toàn
diện.
Con
người chỉ hạnh phúc trọn vẹn nếu con
người biết ḿnh được yêu và đáp trả
t́nh yêu. Hiểu như vậy, ơn cứu độ hàm
chứa mặc khải về t́nh yêu Thiên Chúa cho con
người. Ơn cứu độ chỉ
được trọn vẹn nếu con người
nhận biết ḿnh được cứu độ.
Nơi con người, đáp trả t́nh yêu hàm chứa
nhận biết ḿnh được yêu; và Thiên Chúa đă
mặc khải cho con người biết Ngài yêu con
người bằng t́nh yêu đặc biệt.
Biết
ḿnh được Thiên Chúa yêu, đáp trả t́nh yêu
được diễn tả bằng ḷng tin ḷng trông
cậy, là khởi đầu của ơn cứu
độ, của sự hiệp thông hạnh phúc với
Thiên Chúa.
Nếu
con người không biết Thiên Chúa, không biết ḿnh
được Thiên Chúa yêu, không biết thực trạng
con người ḿnh, th́ con người không thể đáp
trả t́nh yêu của Thiên Chúa. Không có t́nh yêu, th́ không có tin
tưởng và trông cậy; và như vậy không có sự
thông hiệp trọn vẹn, không có hạnh phúc tṛn
đầy.
Mặc
khải Thiên Chúa ban cho con người, tri thức con
người về Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài đối
với con người, là tri thức cứu độ con
người. "Thiên Chúa muốn cho mọi người
được cứu và được nh́n biết sự
thật" (1Tm 2:4). "Sự sống đời
đời là chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa chân thật
và độc nhất, và Đấng Cha sai đến, Giêsu
Kitô" (Ga 17:3).
Các tôn
giáo trên thế giới đều đề cập
đến những chân lư giúp con người
được cứu độ. Đặc biệt nơi
ngộ đạo thuyết (gnosticisme), những
người theo chủ thuyết này cho rằng họ
sở hữu những chân lư có khả năng giải phóng
con người, giúp con người được cứu
độ.
Theo
nghĩa rộng nhất, ngộ đạo chỉ tất
cả các loại giáo thuyết nhận ḿnh có thể tŕnh bày
cho các tín đồ một con đường dẫn
tới trọn lành; con đường này là một cách
thức nhận biết những thực tại không
hiển nhiên.[315]
C̣n theo truyền thống văn chương kitô giáo,
ngộ đạo chỉ những lạc giáo phát sinh
thời đầu của Hội Thánh như Valentinus,
Marcion,v.v..[316]
Những giáo phái này có cái nh́n lệch lạc về Kinh Thánh
hoặc về tạo dựng.
Mọi
tôn giáo đều nhận ḿnh có thể chỉ cho tín
đồ con đường giải thoát; chẳng hạn
như Ấn giáo (Bà-la-môn), Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo.
Như vậy, có chân lư giải phóng cứu độ con
người. Nhưng đâu là chân lư cứu độ?
đâu không là chân lư và không giúp giải phóng con người?
Để
giải quyết vấn đề này người ta
phải truy t́m những bằng cớ khách quan giúp nhận
biết những chân lư cứu độ đích thực.
Thánh Augustinus đă mất gần nửa đời
người mới nhận biết chân lư đích thực,
và nhận ra những sai lầm nơi ngộ đạo và
các triết thuyết.[317]
Mặc
khải Kitô giáo không chỉ là những tri thức, những
ư niệm, hữu thể của lư trí con người;
nhưng mặc khải kitô giáo, những chân lư cứu
độ thực sự, đă được chứng thực
qua những thực tại khách quan, qua những biến
cố lịch sử, qua lời thành xác phàm (Ga 1:14).
Lịch
sử dân Israel là lịch sử chứng thực mặc
khải kitô giáo, là lịch sử chứng thực tri
thức mặc khải kitô giáo là tri thức cứu
độ. Những phép lạ là những thực tại
chứng thực mặc khải kitô giáo. Biến cố
phục sinh của Đức Giêsu Nazareth là biến cố
đặc biệt, chứng thực và tỏ lộ chân lư
nền tảng có sức cứu độ con người.
T́nh
yêu là tương quan liên vị. Trong hiện trạng
tại thế của con người, t́nh yêu
được diễn tả bằng ân sủng và bằng
lời.
Lời
hiểu như DABAR tiếng Do thái, có nghĩa là chính sự
vật, là cái mà lời nói về.[318]
Như vậy, Lời là cái các tiên tri trong lịch sử dân
Do Thái nói về, là các biến cố lịch sử của
dân Do Thái, là lời các tiên tri, là lời Thiên Chúa ban cho con
người.
Lời,
hiểu như logos tiếng Hy lạp, là lư trí. Không có lư trí,
không có t́nh yêu.[319]
Lời diễn tả t́nh yêu, lời biểu lộ t́nh yêu.
Không có lời, không có tri thức, và như vậy không có lời,
t́nh yêu không được cảm nhận.
Lời
c̣n được hiểu như verbum mentis, tức ư
niệm.[320]
Những ư niệm một người có trong lư trí cũng
được coi như lời. Hiểu lời như
vậy, khi Thiên Chúa mặc khải cho một người
bằng ơn soi sáng, trong giấc mơ hay thị kiến,
cũng là mặc khải bằng lời. Như vậy,
lời cũng được hiểu là những quyết
định được thực hiện trong tâm trí
nhưng chưa nói ra hoặc chưa làm ǵ để
thực hiện ra bên ngoài.
Lời,
theo nghĩa b́nh thường vẫn được dùng,
chỉ lời được nói ra. Lời là hành vi của
hiện hữu tự do, lời là hành vi tự do của
hiện hữu sở hữu lư trí. V́ thế, lời
diễn tả và mặc khải chủ thể phát ngôn
lời. Lời mặc khải các ngôi vị phát ngôn, và
như vậy, lời giúp đối thoại, giúp hiểu
biết ngôi vị phát ngôn và diễn tả ngôi vị dùng
lời.
Trong
hoàn cảnh hiện tại của Hội Thánh lữ hành,
lời bí tích là dấu chỉ ban ân sủng, biến con
người thành một hiện hữu mới, biến con
người trở thành con Thiên Chúa, và liên kết con
người với Thiên Chúa.
Lời
bày tỏ t́nh yêu, và không chỉ thế, lời chứng thực
t́nh yêu. Thánh Inhaxiô Loyola nói trong sách Linh Thao "t́nh yêu hệ
tại việc làm hơn lời nói" (LT. 230 cf. 1Ga 3:18).
Nơi con người, người ta thường nói nhiều hơn hành động, và những ǵ
người ta nói không nhất thiết luôn đi đôi
với hành động; nhưng điều thường
xảy ra nơi con người th́ lại không đúng
với Thiên Chúa: nơi Thiên Chúa, những ǵ Ngài phán
đều là thực tại.
Thiên
Chúa tạo dựng tất cả v́ con người, v́ t́nh
yêu đối với con người. Thiên Chúa đă tạo
dựng tất cả bằng lời của Ngài: "Thiên
Chúa đă phán: hăy có ánh sáng; và đă có ánh sáng" (St 1:6).
Thiên Chúa tạo dựng con người v́ yêu con
người, và Ngài đă tạo dựng tất cả v́
con người và cho con người, để con
người được thuộc về Thiên Chúa t́nh yêu.[321]
Thiên
Chúa không chỉ yêu và diễn tả t́nh yêu của Ngài
đối với con người qua việc tạo
dựng bằng Lời, nhưng Ngài c̣n dùng Lời Ngài làm
nên lịch sử Israel qua việc giải phóng dân Israel ra
khỏi Ai cập bởi Môsê.
Những
điều Thiên Chúa nói với Môsê phải được
thực hiện và đă được thực hiện:
·
"Ta sẽ ở với ngươi. và này là
những dấu chứng thực là Ta đă sai ngươi:
khi ngươi đă dẫn dân ra khỏi Ai cập... Các
ngươi sẽ thờ Thiên Chúa trên núi này" (Xh 3:12);
·
"Ta biết: vua Ai cập sẽ không cho phép các
ngươi đi, trừ phi là dưới một bàn tay
mạnh. Nhưng Ta sẽ giương tay đánh phạt
Aicập bằng đủ thứ sự lạ Ta sẽ
làm giữa nó. Và sau đó hắn sẽ thả các
ngươi đi" (Xh 3:19-20);
·
"Bấy giờ ngươi sẽ nói với
Pharaô: Yahweh phán rằng: Con đầu ḷng của Ta là Israel,
nên Ta nói với ngươi: hăy buông thả cho con Ta đi
để nó phụng thờ Ta! Nhưng ngươi đă
khước từ không chịu thả ra, th́ này phần Ta,
Ta sẽ giết chết con đầu ḷng của
ngươi" (Xh 4:22-23).
Những
điều Môsê nói không phải là của Môsê, nhưng là
của Thiên Chúa; chính v́ vậy những lời Môsê nói nhân
danh Thiên Chúa sẽ trở thành hiện thực, trở thành
biến cố: "Vậy bây giờ ngươi hăy đi,
chính Ta sẽ ở với miệng ngươi và Ta sẽ
dạy cho ngươi điều ngươi phải
nói" (Xh 5:12).
Sách
Xuất Hành cho thấy những điều Thiên Chúa phán
truyền đă được thực hiện. Thiên Chúa
đă giải phóng dân Israel ra khỏi Ai cập bằng
lời của Ngài. Lịch sử dân Israel là lịch sử
Lời Thiên Chúa làm nên lịch sử dân riêng Ngài.
Thập
giới, mười giới răn được Thiên Chúa
ban cho dân Israel, là lời của Thiên Chúa. Thập giới
được ban như những điều kiện
của giao ước giữa Thiên Chúa và con dân Israel. Và chúng
ta đă biết, thập giới chi phối toàn bộ
đời sống dân Israel sau này:
·
Sách Thẩm Phán cho cái nh́n về lịch sử dân
Israel, lịch sử những phản bội và hối
hận, lịch sử ghi lại những can thiệp
của Thiên Chúa đối với dân riêng của Ngài;
·
Các sách lịch sử c̣n lại như sách Samuel, sách
các vua, sách kư sự, v.v., cũng cho thấy những
thăng trầm của dân Israel đối chiếu với
đời sống giữ giao ước của dân;
·
Các sách tiên tri cũng cho thấy Thiên Chúa can thiệp
bằng lời trong lịch sử dân Israel. Các tiên tri là các
ngôn sứ, đại diện Thiên Chúa, nói nhân danh Thiên Chúa.
Các tiên tri đă cảnh cáo những người không tuân
giữ lời của Thiên Chúa, đă loan báo tương lai
không tốt đẹp nếu dân và những người
lănh đạo bỏ các giới răn Chúa. Những
lời tiên báo mất nước và lưu đày của các
tiên tri, đă được ứng nghiệm; có thể
nói, lời Chúa phán qua miệng các tiên tri đă làm nên
lịch sử dân Israel.
Lịch
sử dân Israel đă được lời các tiên tri loan
báo trước, hoặc đă được lời các
tiên tri giải thích sau đó, là lời Thiên Chúa làm nên
lịch sử dân Israel, là dấu chỉ để con
người hiểu được Thiên Chúa và con
người, là dấu chỉ cho thấy t́nh yêu Thiên Chúa bày
tỏ cho con người và đặc biệt là cho dân
tộc Do Thái.
Trong
Kinh Thánh Cựu Ước, Chúa thường nói với con
người, chẳng hạn "Yahweh đă hiện ra cho
Abraham và phán bảo ông" (St 12:7; 17:1), "Lời của
Yahweh đến với Abram trong thị kiến mà rằng
..." (St 15:1), "Xảy có lời Yahweh đến
với Yêrêmia rằng ..." (Gr 28:12). Thiên Chúa hiện ra cho
các bậc thánh nhân này như thế nào? làm sao các vị này
nghe được tiếng Chúa phán?
Theo St
18:1 tt, Thiên Chúa đă hiện ra với Abraham dưới
dạng ba người và nói chuyện với ông. C̣n theo Xh 3:4
tt, Thiên Chúa nói với Môsê từ giữa bụi gai. Thiên Chúa
là hiện hữu tự do,
Ngài có thể hiện ra cho con người như thế nào
tùy ư ngài, Ngài có thể nói với con người như
thế nào cũng hoàn toàn do Ngài; nhưng dù con người
thấy[322] hay
nghe, điều chắc chắn là con người biết
chắc chắn, ư thức chắc chắn điều
đó.[323]
Thiên
Chúa đă không dừng lại với những lần
hiện ra cho một số người, Ngài cũng không
chỉ giới hạn việc phán bảo trong một
số trường hợp. Với t́nh yêu, Ngài đă
thực hiện một điều vượt quá sức
hiểu biết của con người: Lời Thiên Chúa
đă thành xác phàm (Ga 1:14).
T́nh
yêu không chỉ hệ tại lời nói, nhưng chủ
yếu hệ tại việc làm.[324]
Trong t́nh yêu, các ngôi vị hướng tới hiệp
nhất, trở thành một với nhau. T́nh yêu giữa con
người cho thấy như vậy! Khi hai người
yêu nhau họ trở thành một thân thể. Khi yêu, các ngôi
vị thông ban cho nhau những ǵ ḿnh có, để rồi
tất cả là chung; như vậy người ta chia
sẻ cho nhau của cải, chức quyền, tri thức,
v.v.! Sự trao ban đạt tới cao điểm khi
mỗi người tận hiến chính ḿnh cho người
ḿnh yêu. Nếu Lời Thiên Chúa làm người, nếu Thiên
Chúa ban tặng chính Ngài cho chúng ta, th́ Thiên Chúa yêu con
người vô cùng!
Nhập
thể làm người, là hành vi Thiên Chúa thông ban chính ḿnh.
"Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă
ban Con Một Người, để những ai tin vào Ngài
th́ không phải hư đi nhưng được sự
sống đời đời" (Ga 3:16).
Trong
thời gian Đức Giêsu đi rao giảng, Ngài đă làm
nhiều phép lạ. Lúc đầu nhiều người
đến nghe Ngài, và nhiều người muốn làm môn
đệ Ngài; nhưng khi nghe những lời Ngài rao
giảng, một số đă bỏ đi v́ điều
Ngài nói "không thể chấp nhận được"
(Ga 6:61.66). Dù lời rao giảng của Đức Giêsu
được các phép lạ đi kèm,[325]
nhưng những lời của Đức Giêsu quá đặc
biệt, đến độ người ta không chấp
nhận được!
Vài
lời nói "khác thường" của Đức Giêsu:
·
Ngài nhận Ngài có quyền tha tội. Theo quan niệm
của người Do Thái, chỉ có Thiên Chúa mới có
quyền tha tội (Mc 2:5.7; Lc 7:48-49);
·
Ngài nhận Ngài có trước Abraham (Ga 8:58);
·
Ngài nhận Ngài và Cha là một (Ga 10:30); Ngài đă
bị người ta lấy đá ném, v́ "Ông là một
người phàm mà dám cho ḿnh là Thiên Chúa" (Ga 10:33);
·
Ngài nhận Ngài là "Con Người ngự bên
hữu Đấng quyền năng và đến với mây
trời" (Mc 14:62). Lời này làm Đức Giêsu bị
kết án tử v́ người ta cho rằng Ngài phạm
thượng, chỉ là con người mà dám nhận ḿnh
ngang hàng với Thiên Chúa.
Sau
biến cô tử nạn và phục sinh, các tông đồ
nhận ra Đức Giêsu Nazareth là Con đích thực của
Thiên Chúa theo bản tính, là Thiên Chúa, v́ nếu Ngài nói không
đúng sự thật, th́ Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài
từ cơi chết. Nếu Thiên Chúa đă phục sinh Ngài, hàm
chứa những điều Ngài nói về Ngài và về Thiên
Chúa, phải là những điều chân thực.
Nếu
Đức Giêsu Nazarét là Thiên Chúa nhập thể, là Con Thiên Chúa,
th́ t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người
thật vô cùng! "Thiên Chúa đă yêu thế gian đến
nỗi đă ban Con Một Ngài, để những ai tin vào
Con Ngài th́ không phải hư mất nhưng được
sống đời đời" (Ga 3:16). Đức Giêsu Kitô
là Lời Thiên Chúa, lời bày tỏ t́nh yêu của Thiên Chúa
cho con người. Nơi Đức Giêsu Nazareth, nơi con
người chết treo thập giá, t́nh yêu của Thiên Chúa
Cha được mặc khải. Đức Giêsu Kitô là
dấu chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người.
Đức
Giêsu không chỉ làm chứng rằng Thiên Chúa Cha yêu con
người, nhưng Ngài c̣n mặc khải cho con
người biết Ngài cũng yêu con người vô cùng.
"Không có t́nh yêu nào lớn hơn là thí mạng sống
ḿnh v́ bạn hữu" (Ga 15:13).[326]
Đức
Giêsu là đường, là sự thật, và là sự
sống (Ga 14:6). Đức Giêsu vừa là phương tiện
mặc khải, vừa là nội dung mặc khải. Ngài là
phương tiện mặc khải tuyệt vời, v́ Ngài
là Lời Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa nhập thể. "Không
ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" (Ga 14:6b).
Ngài là
nội dụng mặc khải, v́ Ngài là Lời Thiên Chúa, là
h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh" (Cl 1:15). "Ai
thấy Ta là đă thấy Cha" (Ga 14:9b). Ngài là t́nh yêu
của Thiên Chúa được bày tỏ, ai biết Ngài là
biết được t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với con người, ai tin Ngài là tin vào Thiên Chúa, là tin vào
Thiên Chúa t́nh yêu. Ai giữ Lời Người th́ ở trong
t́nh yêu, và ở trong t́nh yêu th́ biết Thiên Chúa. Cái biết
đây không c̣n ở trạng thái lư luận của lư trí,
nhưng ở tại sự đồng cảm của con
tim. Chính nhờ t́nh yêu mà lư trí biết Thiên Chúa.
Đức
Giêsu là mục đích của mặc khải, v́ khi con
người đáp trả mặc khải bằng tin vào
Ngài, phó thác vào Ngài th́ con người được
sống đời đời (Ga 3:16b), được
ở trong Thiên Chúa, được sống trong t́nh yêu.
Nói
một cách khác như trong tin mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu
là sự sáng (Ga 9), là mục tử tốt lành (Ga 10), là
Nước hằng sống (Ga 4), là Bánh hằng sống (Ga
6), là sự sống lại và là sự sống (Ga 11).
Thánh
Thần mà Đức Giêsu hứa ban, đă tỏ hiện vào
ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2:1 tt), là bảo đảm t́nh
yêu của Thiên Chúa Cha và của Chúa Giêsu đối với
con người. Nhờ Đức Giêsu mà Thánh Thần đă
được ban cho con người. Thánh Thần hoạt
động trong Hội Thánh, nơi những kẻ tin,
để rồi Hội Thánh trở thành dấu chỉ
của Thánh Thần, trở thành dấu chỉ t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người.
Thánh
Thần thánh hóa con người, làm cho con người nên
thánh. Chính Thánh Thần làm cho con người tuyên xưng Đức
Giêsu là Chúa: "Không ai có thể nói Đức Giêsu là Chúa mà
lại không bởi sức Thánh Thần" (1Cr 12:3).
Đức Giêsu nói: "Nếu các ngươi lưu lại
trong lời Ta, th́ hẳn thật, các ngươi là môn
đồ Ta, và các ngươi sẽ biết sự
thật, và sự thật sẽ cho các ngươi
được tự do" (Ga 8:31-32). "Khi nào Ngài
đến, v́ là Thần Khí sự thật, Ngài sẽ
đưa các ngươi vào tất cả sự
thật" (Ga 16:13). Thiên Chúa thánh hóa chúng ta bởi Thánh
Thần của Người, bởi Lời mà Thánh Thần
dạy chúng ta[327]
"xin hăy tác thánh chúng trong sự thật, Lời của
Cha là sự thật" (Ga 17:17).
Thiên
Chúa là Đấng thánh, là Đấng chí thánh, chỉ có một ḿnh
Thiên Chúa là Đấng thánh. Khi Thiên Chúa đến ở với
ai Ngài sẽ làm người đó được nên
giống Ngài, nghĩa là được trở nên thánh, tách
biệt khỏi thế gian và chỉ thuộc về Thiên
Chúa thôi. Khi được nên giống Thiên Chúa, thuộc
về Thiên Chúa, tức là được cứu độ.
Lời
hứa Thiên Chúa cho Abraham, nói lên khao khát của Abraham và
của tất cả mọi người: có đất
đai làm gia nghiệp, có con nối dơi tông đường,
nên mối chúc lành.[328]
Khao
khát có con cái nối ḍng là một h́nh thức khác của ao
ước sống lâu, trường sinh bất tử.[329]
Thiên Chúa đă mặc khải cho dân Israel biết cái
chết là hậu quả của tội, đau khổ là
hậu quả của hành vi chống lại Thiên Chúa (St 3:1tt).
Điều con người hằng khao khát nhưng không thể
đạt được, th́ Đức Giêsu Nazareth, Lời
Thiên Chúa nhập thể, đă làm thành hiện thực. Con
người sẽ được sống đời
đời nếu con người tin vào Ngài (Ga 3:16; 17:3), nếu con
người ăn bánh hằng sống là thịt ḿnh Ngài (Ga
6:51).[330]
Con
người khao khát có nhiều tiền của. Sung túc[331]
cũng là dấu chỉ của một người
được thương và hạnh phúc. Nhưng nếu
Đức Giêsu Kitô là Quà Tặng Thiên Chúa ban cho con người,
nếu Thánh Thần là Quà Tặng của Thiên Chúa Cha và Con
cho con người, th́ đâu c̣n ǵ khác quư hơn để
con người ao ước nữa? Những ǵ thuộc
trần thế làm sao so sánh được với hồng
ân là chính Thiên Chúa? Có Thiên Chúa là có tất cả. Thiên Chúa là
tài sản, là gia nhiệp của những người
được Thiên Chúa yêu. Đức Giêsu là bảo
đảm cho những người tin vào Ngài rằng
họ được Thiên Chúa yêu thương, và Thiên Chúa là
gia nghiệp của họ.[332]
Dân
Israel đă từng cầu nguyện và mong chờ Thiên Chúa
sai Đấng Kitô tới giải phóng họ khỏi ách nô dịch
bên Aicập, khỏi sự đàn áp của các dân tộc
vùng Canaan, khỏi ách nô lệ lưu đày Babylon. Thiên Chúa
đă nhận lời, Ngài đă sai Môsê, các thẩm phán, vua
Kyrô xứ Batư đến để giải phóng họ.
Khi thời gian viên măn, lúc dân Israel mong chờ Thiên Chúa sai
Đấng Kitô giải phóng họ khỏi làm nô lệ
đế quốc Roma, th́ Ngài đă sai Đấng Kitô là chính
Con Ngài xuống, không phải để giải phóng họ
khỏi ách nô lệ chính trị, nhưng để giải
phóng họ khỏi nô lệ tội lỗi. Đức Kitô Con
Một Thiên Chúa đă giao ḥa con người với Thiên
Chúa, đă đưa con người thoát khỏi nô lệ
tội lỗi và ác quỉ, dẫn con người
đến với Thiên Chúa.
Đức
Giêsu Kitô Phục Sinh đă hoàn tất mặc khải,
nhưng con người vẫn phải chờ mọi
sự được tỏ lộ vào ngày Chúa quang lâm.[333]
Đức Giêsu đă hứa Ngài sẽ trở lại đón
chúng ta: "Và nếu Ta ra đi và dọn chỗ cho các
ngươi, th́ Ta sẽ đến lại và đem các
ngươi theo Ta, để Ta ở đâu, các ngươi
cũng ở đó" (Ga 14:3). Về
ngày và giờ Chúa quang lâm, không ai biết trừ Chúa Cha.[334]
Vào ngày đó, Thiên Chúa sẽ làm mới mọi sự (Kh 21:5),
sẽ có trời mới đất mới (Kh 21:1). Ngày
đó, Đức Giêsu Kitô sẽ biến đổi thân xác
khốn hèn của ta, trở nên đồng h́nh đồng
dạng với thân xác vinh quang của Ngài (Pl 3,21). Ngày
đó, những kẻ chết trong Đức Kitô sẽ
sống lại (1Tx 4:16), sẽ đi đón Chúa, sẽ
được ở với Chúa luôn măi (1Tx 4:17). Đó là ngày
Thiên Chúa thu họp vạn vật dưới một
đầu một mối là Đức Kitô, dù vật nơi
trời cao dù vật nơi dương thế (Ep 1:10).
Đức
Giêsu Kitô là Đấng hoàn tất mặc khải, là tột
đỉnh của mặc khải. Thời hiện tại
là thời đại cánh chung. Vào ngày Chúa quang lâm, Thiên Chúa
sẽ là tất cả cho mọi sự. Trong tâm t́nh chờ
đợi, chúng ta luôn hợp với tất cả mọi
kitô hữu tuyên xưng "Lạy Chúa, chúng con loan
truyền Chúa đă chịu chết, và tuyên xưng Chúa
đă sống lại, cho tới khi Chúa lại đến."[335]
Giáo
tŕnh này đă xem xét
·
khả thể mặc khải ở phần I:
Thiên Chúa mặc khải cho con
người hay không, là tùy Ngài;
·
Thiên Chúa đă mặc khải cho dân Israel (phần II):
bằng những điềm
thiêng dấu lạ, Thiên Chúa đă giải phóng dân Israel
khỏi ách nô dịch bên Aicập và Ngài có một
tương quan rất đặc biệt với dân;
Cũng trong phần này,
một dấu lạ tuyệt vời là Đức Giêsu Kitô;
chính nhờ biến cố tử nạn và phục sinh
của Đức Giêsu Kitô mà con người nhận ra t́nh yêu
tuyệt vời của Thiên Chúa đối với con
người;
·
phần III:
những nỗ lực của
tín hữu nhằm lư giải đức tin cho mọi
người; phần này cũng cho biết những sai
lệch mà kitô hữu cần tránh để hiểu đúng
thực tại mặc khải;
·
phần IV: một nỗ lực lư giải cách
nhất quán về mặc khải.
Mặc
khải là tri thức của Thiên Chúa, là lời Thiên Chúa ban
cho con người, để con người biết
về Thiên Chúa, về con người và về chương
tŕnh cứu độ con người; mặc khải c̣n
được coi là cuộc t́nh giữa Thiên Chúa và con
người, trong đó Thiên Chúa gặp gỡ, mời
gọi, tỏ lộ và chăm lo săn sóc con người;
đỉnh điểm mặc khải là Đức Giêsu Kitô,
Lời Thiên Chúa nhập thể làm người. Với
biến cố này, Thiên Chúa đă đi đến tận
cùng của t́nh yêu: Ngài trao ban chính ḿnh cho con người.
Biến cố Lời Thiên Chúa nhập thể làm
người, vừa là t́nh yêu vừa là phương
tiện tuyệt hảo biểu lộ t́nh yêu.
Với
biến cố Lời Thiên Chúa nhập thể, mặc
khải không chỉ ở b́nh diện tri thức, nhưng
là chính thực tại, chính sự sống vĩnh cửu,
là yếu tố cấu thành "đời sống theo Thần
Khí" của con người.
Thiên
Chúa đă mặc khải! Về phía con người? Con
người tự do đáp trả mặc khải. Đáp
trả mặc khải, không chỉ đơn thuần là
tin những điều được mặc khải là
đúng, nhưng chính yếu là tin vào Đấng mặc
khải, tin rằng Thiên Chúa yêu ḿnh, và như vậy, phó thác
đời sống ḿnh cho Thiên Chúa tùy Ngài định
đoạt. Các thiên thần phản loạn, biết có
Thiên Chúa, biết những điều được
mặc khải là chân lư, nhưng họ không quy phục Thiên
Chúa, họ không muốn sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa,
họ không phó thác tất cả cho Thiên Chúa.
Mặc
khải đă xảy ra trong lịch sử, nhưng mặc
khải cũng được hiện tại hóa cho
những người đang sống. Như vậy, con
người phải liên tục đáp trả lời
mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống, qua
những biến cố hàng ngày, qua kinh nguyện, qua lời
rao giảng của Hội Thánh! Làm như vậy, là đang
vươn tới Thiên Chúa, là tin tưởng và phó thác
đời sống trong ṿng tay Thiên Chúa T́nh Yêu. Mặc
khải là mặc khải t́nh yêu và mặc khải
để sống trong t́nh yêu.
(Những
sách được trích dẫn)
Alfaro, J. “Persona y Gracia,” Gregorianum 41 (1960)
Auer, J.
"Grâce," II: Theological, Sacramentum
Mundi. Burns and Oates, 1968.
Bailly, M. A. Abrégé du Dictionnaire Grec-Francais. Paris 1961.
Baumgartner,
H. M. "Transcendantal Philosophy," Sacramentum Mundi. Burns and Oates, 1968.
Bihlmeyer,
E. Histoire de l'E'glise, t. I. Paris:
Salvator, 1962.
Bouillard, H. "Révélation
et Histoire", Ed. E. Castelli, La
Théologie de l’histoire. Herméneutique et eschatologie, pp. 91-104. Paris
1971,
Ed. Castelli, E. La Théologie de
l’histoire. Herméneutique et eschatology. Paris 1971,
Cayré, F.
Précis de Patrologie, t. I. Paris: Desclée
et Cie, 1927.
Cazelles,
H. Introduction à la Bible: Introduction
critique à l'ancient Testament, t. II. DDB, 1973.
Congar, Y. La Foi et la Théologie.
Paris 1962
Dortigues,
Y. La Foi et la Théologie. Paris 1962.
Cornélis,
H. et Léonard, A. La Gnose éternelle. Col.
Je sais-ie crois 146. Paris 1959.
Dartigues,
A. Révélation du sens au salut. Desclée,
1985.
De
Finance, J. Connaissance de l'Être. Paris:
DDB, 1966.
De Lubac, H. Dieu
se dit dans l'histoire. Collection Foi Vivante 159. Cerf, 1974.
Denzinger
– Schoenmetzer. Enchiridion Symbolorum
Definitionum et Declarationum. Herder, 1963.
Dulles,
A. Revelation Theology. Burns and Oates
– Herder and Herder, 1969.
Đào Duy
Anh. Hán Việt Từ Điển.
Paris 1950.
Fries, H.
"Révélation," Mysterium Salutis
t. I, vol. I. Paris: Cerf, 1969.
Fries, H.
"Le Mythe et la Révélation,"
Questions Théologiques Aujourdhui. Paris: DDB, 1964.
Geffré,
Cl. "L’histoire récente de la théologie fondamentale. Essai
d'interprétation," Concilium 46
(1969), pp. 11-28.
Haardt,
R. "Gnosticism," Sacramentum
Mundi. Burns and Oates 1968
Halder,
A. "Knowledge," Sacramentum
Mundi. Burns and Oates 1968
Horst,
U. "La conception de la Révélation dans la haute scolastique," La révélation dans l'écriture, la
patristique, la scolastique, Ed. Michel Seybold, Col. Histoire des Dogmes.
Paris: Cerf, 1974
Inhaxiô
Loyola. Linh thao. Sài G̣n: Nhà Tập
Ḍng Tên, 1969.
Jolivet,
R. Dieu Soleil des esprits: La doctrine
augustinienne de l'illumination. Paris: DDB et Cie, 1934.
Jung, N. "Révélation," Dictionaire de Théologie Catholique, t.
XIII, col. 2586. Paris 1932
Keller,
A. "Universals," Sacramentum Mundi. Burns and Oates,
1968.
Krenn, K.
"Kantiannism," Sacramentum
Mundi. Burns and Oates, 1968.
Latourelle,
R. Théologie de la Révélation. DDB,
1966
Latourelle,
R. Théologie Science du Salut. Paris
1968
Latourelle,
R. "La spécificité de la
Révélation chrétienne," Studia
Missionalia, vol. XX. Roma: Gregoriana, 1971.
Leopold,
E. F. Lexicon Hebraicum et Chaldaicum.
Lipsiae, 1905
Lê Tôn
Nghiêm. Lịch sử Triết
học Tây Phương. Sài G̣n: Lá Bối, 1970
Loisy, A.
The Gospel and the Church. Paris 1903
McKenzie,
J. E. Dictionary of the Bible. Milwaukee
1965
McKenzie,
J. E. "Aspects of old Testament Thought," Jerome Biblical Commentary
Parrinder,
G. "Revelation in other Scriptures," Studia Missionalia, vol. XX. Roma: Gregoriana, 1971.
Paul
VI. Ecclesiam suam.
Pederson, J. Israel: life and
culture. London 1946
Phạm
Thanh Liêm, G. Thần học các
tôn giáo ngoài Kitô giáo. Đà Lạt: lhnb, 1982
Phạm
Thanh Liêm, G. Dẫn nhập Thần
học. Đà Lạt: lhnb, 1990
Rahner,
K. L'Esprit dans le monde. Mame 1968
Rahner,
K. L'homme à l'écoute du Verbe. Mame
1967
Rahner,
K. "A propos de la réforme des
études ecclésiastiques," Est-il
possible aujourd'hui de croire. Mame 1966
Rahner,
K. "Salvation," Mysterium Salutis. Herder 1970.
Ricken,
F "Platonism," Sacramentum Mundi. Burns and Oates 1968
Splett,
J. "Agnosticism," Sacramentum Mundi. Burns and
Oates 1968
Stockmeier,
P. "Révélation dans l'Église
chrétienne primitive," La Révélation
dans l'Écriture, la patristique, la Scolastique, Ed. Michel Seybold, Col. Histoire
des Dogmes. Cerf, 1974.
Thanh
Nghị. Việt Nam Tân Tự
Điển Minh Họa. Sài G̣n: Khai Trí, 1965.
Thiều
Chửu. Hán Việt Tự
Điển. Hà Nội 1942
Thils, G.
Propos et problèmes de la théologie des
religions non-chrétiennes. Casterman, 1966
S. Thomae In Aristotelis Librum De Anima Commentarium. Italy: Marietti, 1959.
S. Thomae
Summa Theologiae. Italy: Marietti,
1952.
S. Thomae
Aquinatis Liber de Veritate Catholicae
Fidei contra errores Infidelium seu Summa Contra Gentiles. Italy: Marietti
1961.
Thonnard,
F. J. Extraits des grands philosophes. Paris:
Desclée et Cie, 1963.
Thonnard,
F. J. Présis d'histoire de la
philosophie. Paris: Desclée et Cie, 1966.
Thornton, L. S. Revelation in the
modern world. Oxford Uni. Press, 1950
Wetter, G. A. "Marxism," Sacramentum Mundi I. Burns and Oates 1968.
Kinh Thánh.
Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn, DCCT. Sài G̣n 1976.
Kinh Thánh.
Bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Thánh Công Đồng
Chung Vaticanô II.
Sai g̣n: GHHV PIÔ X, 1972.
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
AMDG
AD MAIOREM DEI GLORIAM
14.12.52
23.03.38
[1] R. Latourelle,
Théologie Science du Salut, p. 105
Cf. G. Phạm Thanh Liêm, Dẫn Nhập
Thần Học, trg. 47.22
[2] K. Rahner,
“A propos de la réforme des études ecclésiastiques," p. 202
Y. Congar, La Foi et la Théologie, p. 183
Cl. Geffré, "L’histoire récente de la théologie
fondamentale. Essai d’interprétation," p. 11
[3] Cũng
có người dùng chữ mạc khải; theo ư kiến cá
nhân, dùng chữ mạc khải hay mặc khải
đều được, nhưng bản thân nghiêng về
dùng chữ mặc khải hơn. Công giáo bên Đài Loan dùng
từ 啟示 (Khải Thị: mở ra cho người ta
xem).
[4] Thanh
Nghị, Việt Nam Tân Tự Điển Minh Họa.
[5] N.
Jung, "Révélation" trong DTC, t. XIII, col. 2586.
cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des
religions non-chrétiennes, p. 84
[6] Cf. G.
Thils, op. cit., p. 84
[7] H. Bouillard,
"Révélation et Histoire," pp. 91-104,
Cf. R. Latourelle, "La spécificité de la Révélation
chrétienne," p. 46
[8] K. Barth,
Dogmatique, vol. II, t. II: "Gottes Offenbarung als Aufhebung der Religion,”
cf. G. Thils, op. cit., p. 46
[9] L. S.
Thornton, Revelation in the modern world, pp. 60. 194
Cf. G. Parrinder, "Revelation in other Scriptures,"
p. 103
[10] G. Parrinder,
art. cit., p. 103
[11] J. Alfaro,
“Persona y Gracia,” Gregorianum 41 (1960), p. 11,
Cf. R. Latourelle, Théologie de la Révélation, p. 392
[12] H. Fries,
"Le Mythe et la Révélation," p. 16
[13] A. Dulles,
Revelation Theology, p. 9
[14] R. Latourelle,
Théologie de la Révélation, p. 9
[15] Paul
VI, Ecclesiam Suam, n. 72
Cf. H. De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire, p. 29
[16]
Với cái nh́n chủ quan, tín đồ của tôn giáo nào
cũng cho rằng tôn giáo ḿnh đang theo là tôn giáo đúng
nhất và là tôn giáo được mặc khải.
Người Do thái cho rằng đạo Do thái của
họ là duy nhất đúng; người Hồi giáo cũng
cho rằng kinh Coran là kinh được mặc khải và
Hồi giáo là tôn giáo duy nhất chân thực; người
theo Ấn giáo cũng cho rằng Ấn Giáo mới là tôn giáo
được mặc khải. Kitô hữu cũng cho
rằng Kitô giáo mới là đạo chân thực.
Vậy đối với kitô hữu, và
đặc biệt với người công giáo chúng ta, các
tôn giáo ngoài kitô giáo có mặc khải không? Không bàn về
vấn đề này ở đây, nhưng theo ư kiến cá
nhân, các tôn giáo ngoài kitô giáo cũng có thể được
mặc khải. Xem Giuse Phạm Thanh Liêm, Thần học các
tôn giáo ngoài Kitô giáo, Đà Lạt: lhnb, 1982, trang 16-27.
Xem thêm Studia Missionalia, vol. XX (1971), Gregoriana
1971
[17] Không
tùy thuộc lư trí và ư chí con người, nghĩa là không tùy
thuộc con người có biết điều đó hay có
chấp nhận điều đó hay không.
[18] Lê Tôn
Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương, pp.
210-211.
[19] F-J. Thonnard,
Précis d' Histoire de la Philosophie, p. 156.
Ông tổ của chủ thuyết hoài
nghi là Pyrrhon (365-275);
Chủ thuyết cái nhiên (probabilisme)
với Arcésilas (315-241) lănh tụ Académie (Hàn Lâm);
Carnéade (215-126) lănh tụ Tân Hàn Lâm; và
những người khác như Aenesidemus, Agrippa, Sextus
Empiricus, v.v.
[20] F-J. Thonnard,
op. cit., p. 157
[21] Augustinus,
De Trinitate, l. XV, ch. XII, 21
Cf. F-J. Thonnard, op. cit., p. 208
[22] Kant
phân biệt phán đoán phân tích và phán đoán tổng
hợp, phán đoán tổng hợp tiên thiên và hậu thiên.
Chỉ có phán đoán tổng hợp tiên thiên mới có giá
trị khoa học. (F-J Thonnard, op. cit., p. 624).
Kant phân biệt đối tượng
hiện tượng và đối tượng tự thân.
Đối tượng tự thân thuộc lănh vực của
lư trí thực tiễn, chẳng hạn như Thiên Chúa, linh
hồn bất tử, tự do ... (F-J. Thonnard, op. cit., p. 630).
Không gian và thời gian không là thực
thể khách quan, nhưng là những khung tiên thiên (formes à
priori) của cảm quan nhờ đó những trực giác
giác quan được h́nh thành, cũng tương tự
như vậy các ư niệm phổ quát là những mô thức
tiên thiên (formes à priori) của trí hiểu (Der Verstand).
(Cf. A. Haldet, art. "Knowledge,” trong Sacramentum
Mundi, ed. K. Rahner, Burns and Oates 1968, p. 252
K. Krenn, art. "Kantianism,” trong Sacramentum
Mundi, p. 243)
Kant tiến hành việc phê b́nh tri
thức
bằng việc phê b́nh cảm quan
(critique de la sensibilité) trong phần thẩm mỹ siêu
nghiệm (Esthétique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh phán đoán trong
phần luận lư siêu nghiệm (logique transcendantale; luận
lư siêu nghiệm c̣n được gọi là phân tích siêu
nghiệm (analytique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh biện
chứng siêu nghiệm (dialectique transcendantale)
(Xem F-J. Thonnard, op.cit., pp. 646-647).
Phương pháp Kant dùng là phản
tỉnh phê b́nh (réflexion critique), hay c̣n gọi là phản
tỉnh siêu nghiệm (réflexion transcendale)
(F-J. Thonnard, op. cit., pp. 628-630).
Phản tỉnh phê b́nh gồm
phân tích phê b́nh (analyse critique) nhằm xác
định những yếu tố cấu thành và những
quy luật của phán đoán,
và diễn dịch phê b́nh (déduction critique)
nhằm xác định những điều kiện
tuyệt đối cần thiết (nếu không có
những giả sử này, th́ không có tri thức). (Xem F-J. Thonnard,
op.cit., pp. 639-640. 628-630)
Kant cho rằng tri thức khởi
đầu với giác quan, tiếp tục nơi trí năng
và kết cục nơi lư trí,
hoặc, tri thức là trực giác và quan
niệm, trực giác cộng thêm tư tưởng (K. Krenn,
art. cit., p. 243: "From sensible intuition, human knowledge finally
progresses to concepts and judgments. But for Kant, knowledge is intuition and
concept, intuition plus thought"),
hoặc, mọi tri thức nhân loại
đều khởi đầu với trực giác, rồi
qua quan niệm, kết cục nơi ư niệm (F-J. Thonnard,
op. cit., p. 633).
Giả sử của Kant:
có các phán đoán tổng hợp tiên thiên,
khả năng phản tỉnh phê b́nh,
phán đoán khoa học là chuẩn
(F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la Philosophie,
pp. 630-631).
[23] K. Krenn,
art. "Kantianism,” p. 243
F-J. Thonnard, op. cit., pp. 632. 630
[24] F-J. Thonnard,
op. cit., pp. 647- 648
[25] K. Krenn,
art. "Kantianism,” p. 243
[26]
Agnosticisme.
[27] A. De
La Barre, art. "Agnosticisme,” trong DTC. I/1, Paris 1923, col. 596
[28] J. Splett,
art. "Agnosticism,” trong Sacramentum Mundi I, Burns and Oates 1968, p. 15
[29] J. Splett,
art. "Agnosticism,” p. 16
[30] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire..., p. 285
Albert Keller, art. "Universals,” Sacramentum
Mundi, III, p. 325
Hans M. Baumgartner, art. "Transcendantal
Philosophy,” Sacramentum Mundi, p. 282
Tự điển Petit Larousse, từ
ngữ "nominalisme.”
[31]
Ibidem.
[32]
Tự điển Larousse, từ ngữ "conceptualisme."
[33] A. Keller,
art. cit., p. 325
[34] Ibidem
F-J. Thonnard, op. cit., p. 285
[35] F-J. Thonnard,
op. cit., p. 302
[36] G. A.
Wetter, art. "Marxism,” trong Sacramentum Mundi, IV, p. 425
[37]
như người ta vẫn thường quan niệm.
[38]
Connais- toi, toi même.
[39] Ibid.,
p. 306: "l' homme est la mesure de toutes choses."
[40] F-J. Thonnard,
Extrais Des Grands Philosophes, pp. 6-7
[41] Friedo
Ricken, art. "Platonism,” Sacramentum Mundi, Burns and Oates 1968, p. 30
[42] Platon,
Parménide: "Même chose se donne à penser et à être": chez Parménide.
L'être est, de soi, intelligible et rationnel. Trích bởi J. De Finance,
Connaissance de l'être, p. 129
[43] Aristote,
Met. A1 993b 31: "autant une chose a d' être, autant il a de vérité.”
Trích bởi J. De Finance, op. cit., p.130.
[44] S. Thomas,
C.G. II, 98: Quidquid esse potest, intelligi potest. Trích dẫn bởi
F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la Philosophie, p. 36
K. Rahner, L'esprit dans le monde, p. 79
[45] Ens,
verum, bonum convertuntur.
[46] Omne
ens est verum.
[47] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, pp. 83. 88
[48] J. De
Finance, Connaissance de l'être, pp. 147. 156-157
[49] K. Rahner,
L'esprit dans le monde, p. 79
[50] J. De
Finance, op. cit., pp. 135-136
[51] S. Thomas,
ST. I-II, q. 55, a. 4, ad 4: Id quod primo cadit in intellectu est ens.
S. Thomas, De Veritale, I, 1: "Illud quod primo
intellectus concipit quasi notissium et in quo omnes conceptiones resolvit est
ens.”
[52] J. De
Finance, op.cit., p. 138
[53] ngay
lập tức.
[54] S. Thomas,
ST. I, q. 16, a. 4, ad 2: "Intellectus... per prius apprehendit ipsum ens et
secundario apprehendit se intelligere ens... Unde primo est ratio entis,
secundo ratio veri.
Cf. J. De Finance, op. cit., p. 144
[55] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, p. 90
[56]
Ở đây đề nghị dịch chữ létant là
hiện thể, c̣n chữ acte là hiển thể (đi
với tiềm thể, puissance).
K. Rahner, op. cit., p. 99
[57] K. Rahner,
op. cit., pp. 88.94
[58] K. Rahner,
op. cit., pp. 97. 96. 94
S. Thomas, ST. I-II, q.3, a.7, c: "eadem est
dispositio rerum in esse sicut in veritate."
In II Metaph., lect. 1, n. 280: "Unumquodque est
cognoscibile in quantum est ens in actu; unumquodque est intelligens et
intelligibile, quod est idem, in quantum est ens actu."
In VII Met., lect. 2, n. 1301: "Secundum quod
aliquid est ens secundum hoc est cognoscibile.”
[59]
cần thiết bất tất, như tôi cần có cha
mẹ và cha mẹ cần có ông bà, và cứ tương
tự như vậy.
[60] Chúng
không là những hiện hữu bất tất độc
lập với nhau tuyệt đối.
[61]
Độc thần cũng là một chân lư được
mặc khải. Với tri thức của con người,
không có những hiện hữu bất tất độc
lập, nên không có nhiều hiện hữu tất yếu.
[62]
hữu thể thuần vật chất.
[63]
hữu thể có những giác quan.
[64] không
có lư trí.
[65]
như thánh Max. Kolbe.
[66] Đúng
ra chúng ta phải nói, hiện hữu tự do là tinh
thần, v́ tinh thần được định nghĩa
là hiện hữu sở hữu tri thức phải tỉnh
và siêu vượt.
[67] hay
Thiên Chúa, Hiện Hữu Tự Do Tuyệt Đối, Hiện
Hữu Tri Thức Tuyệt Đối.
[68] Tính
chất tự do của con người, sẽ có dịp
đề cập ở những đoạn sau.
[69]
Lịch sử hiểu là chuỗi những hành động
của hiện hữu tư do.
[70] T́nh
yêu là tương quan giữa hai ngôi vị, là ư muốn theo
lư trí "tự do" có đối tượng là ngôi
vị.
"Ư muốn là khuynh chiều của
hữu thể theo lư trí" (S. Thomae, In Aristotelis Librum De
Anima Commentarium,
Marietti_Italy
1959, n. 288).
[71] Không
theo cái cũ, không theo vết xe cũ, không theo thói quen
cũ, thế nên người ta không biết trước
được.
[72] K. Rahner,
art. "Salvation,” trong Sacramentum Mundi, V, Herder and Herder 1970, col.
406
[73] S. Thomae
in Arist. Librum De Anima Commentarium, n. 21
[74]
Một vài từ ngữ được dùng ở đây
tương ứng với từ ngữ tiếng
nước ngoài:
trí khôn, lư trí: intellect
hay intelligence, intellectus, Vernunft
trí tưởng tượng: imagination, phantasia
lư nhớ: mémoire, memoria
lư trí: raison, ratio, Vernunft
trí hiểu: entendement, Der Vernunft
Điều này không có nghĩa có nhiều lư
trí, nhưng nhằm diễn tả những khả năng
của lư trí con người.
Để hiểu có khi phải suy luận,
nhưng có khi là sự nắm bắt trực giác không qua suy
luận; như vậy trí hiểu có thể nằm trong lư
trí (trí hiểu như khả năng lư luận của trí
khôn) hoặc trí hiểu có thể được dùng
để chỉ chính trí khôn.
Lư trí, theo Đào Duy Anh trong Hán Việt Từ
Điển in tại Paris 1950, có nghĩa: sức suy nghĩ,
đối với sức cảm giác.
[75]
chẳng hạn ư niệm "cái bàn" phổ quát có
thể ứng dụng với mọi cái bàn cụ thể.
[76] eidos
là từ ngữ được Platon dùng để chỉ
nguyên mẫu của những vật thể của thế
giới khả giác; từ ngữ ư niệm (eidos, idée)
ở đây không trùng với nghĩa được Platon
dùng.
[77]
Tự do, công b́nh, bác ái, được hiểu là quan
niệm v́ nó không được trừu xuất từ
những vật thể cụ thể trực tiếp
nhưng nó được tạo thành do suy luận, do phán
đoán. Thực ra chúng cũng có thể được
gọi là những ư niệm, nhưng là những ư niệm
"cấp cao.”
[78] phán
đoán về tri thức, lối sống, cách hành xử
của con người.
[79] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 40
trích dẫn S. Thomae in III De Anima, lect. 12,
nn. 781-785
[80] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 49
K. Rahner, L’homme à l’écoute du Verbe, p. 254:
Nihil sine phantasmata intelligit anima (linh
hồn không hiểu ǵ nếu không có ảnh tượng).
Theo từ điển Latin-Pháp của
Quicherat:
phantasia, ae, f.: vision, imagination, simulacre
Phantasma, atis, n.: être imaginaire, simulacre
cả hai đều từ tiếng
Hylạp.
[81] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 41
[82] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 37 note 5 trích dẫn
S. Thomae in Boeth. de Trin., q. 6, a. 2, ad 5:
"Phantasma est principium nostrae cognitionis ut ex quo incipit
intellectus operatio, non sicut transiens sed sicut permanens ut quoddam
fundamentum intellectualis operationis, sicut principia demonstrationis oportet
manere in omni precessu scientiae.
[83] S. Thomae,
In Arist. Lib. De Anima Comm., n. 19
[84] S. Thomae,
In Arist. Lib. De Anima Comm., nn. 717. 718. 762
[85] S. Thomae,
In Arist. Lib. De Anima Comm., nn. 791. 794
[86] S. Thomae,
In Arist. Lib. De Anima Comm., n. 718
[87] K. Rahner,
L’homme à lécoute du Verbe, pp. 86-87
[88] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 36
[89] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 132
[90] K. Rahner,
L’homme à l’écoute du Verbe, p. 111
[91] S. Thomae,
Contra Gent., IV, 11 trích bởi
K. Rahner, L’Esprit dans le monde, p. 128
[92] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 129
[93] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, p. 128
[94] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde, pp. 248. 113
[95] S. Thomae,
S.T., I, q. 84, a.7, ad 3 trích dẫn bởi
K. Rahner, L’Esprit dans le monde, p. 150 note 14
[96] S. Thomae
in Boeth. De Trinit., q. 6, a. 2, corp.
trích bởi K. Rahner, L’Esprit dans le monde, p.
150 note 14
[97] K. Rahner,
L’homme à lécoute du Verbe, p. 248
Ở chỗ khác, Rahner nói:
Tiền dự là sự khai mở
của ư thức chúng ta về chân trời, mà trong chân
trời đó đối tượng đặc thù của
tri thức nhân linh được lănh hội (op. cit., p.
114).
Tiền dự là điều kiện
để có ư niệm phổ quát, để có trừu
xuất; Và đến lượt ḿnh, trừu xuất là
điều kiện để có khách thể hóa dữ
kiện khả giác, và như vậy cũng là điều
kiện để có tri thức (op. cit., p. 113).
Tiền dự như vậy không là
sự hiểu biết tiên thiên về một đối
tượng, nhưng là chân trời được ban cùng
với yếu tính con người, và như vậy, nó là
điều kiện tiên thiên của tri thức về
một hiện tượng hậu thiên (op. cit., p. 249).
[98] K. Rahner,
L'homme à l'écoute..., p. 112. 113. 115
[99] S. Thomas,
ST. I, q. 79, a. 3, corp: "Oportebat igitur ponere aliquam virtutem ex
parte intellectus, quae faceret intelligentia in actu, per abstractionem
specierum a conditionibus materialibus. Et haec est necessitas ponendi
intellectum agentem Cf. ST. I, q. 84, a. 4, ad 3
K. Rahner, L'Esprit dans le monde p. 150
K. Rahner, L'homme à l'écoute..., p. 111. 113
[100] K. Rahner,
L'Esprit dans le monde, p. 205
S. Thomae, De Anime, a. 5, corp;
In IV
Met., lect.6, n.599
[101] K. Rahner,
L'Esprit dans le monde, p. 80
K. Rahner, L’homme à l’écoute du Verbe, p. 85
trích dẫn S. Thomae, Contra Gent., II, 98
[102] K.
Rahner, L'Esprit dans le monde, p. 94:
Connaitre n’est pas une actio (production d’un acte d’appréhension)
mais un actus, cest-à-dire une réalité qui est-auprès-d’elle-même"
(De Verit., q. 8, a. 6, corp. và S.T., I, q. 18, a. 3,
ad 1)
[103] K.
Rahner, L'Esprit dans le monde, p. 94:
"Connaitre, c’est être-auprès-de-soi, c’est l’état
de réflexion sur lui-même d’un être doué d’une puissance d’être déterminée.”
[104] K. Rahner,
L’homme à l’écoute du Verbe, p. 87
Từ ngữ "thể tri" ở
đây được dùng để dịch chữ Erkennen
tiếng Đức của K. Rahner. Nếu đọc bản
dịch tiếng Pháp, dịch giả bản tiếng Pháp
lại dùng từ "Connaissance.”
Một vài từ ngữ được
dùng ở đây:
tri thức: connaissance,
connaitre
thể tri: connaitre,
erkennen
tri thể: connaissant,
sujet qui connait, cognoscens
cái được biết, thụ tri
thể: cognitum,
intellectum
khả tri thể: cognoscibile, intelligibile (tĩnh từ dùng như
danh từ).
[105] étant
connaissant. Chủ tri: sujet qui connait.
[106]
reditio subjecti in seipsum. Bei-sich-sein.
[107]
Cognoscens in actu et cognitum in actu sunt idem.
Cf. F-J. Thonnard, Précis dhistoire..., p. 108
[108] S.
Thomae, S.T. I, q. 87, a.1, ad 3: "Idem est intellectus et quod
intelligitur,” trích bởi K. Rahner, L'Esprit dans le monde, p. 81
[109] S. Thomae,
Contr. Gent. II, 98: "Intellectum est perfectio intelligentis;”
II, 99: "Intellectus in actu perfectio est
intellectum in actu"
trích bởi K. Rahner, L' Esprit dans le monde,
p.81. 85-86
[110] K. Rahner,
L' Esprit dans le monde, p. 82
Op. cit., p. 80:
"Intelligibile enim et intellectum oportet
proportiona esse et unius generis (d’une seule origine), cum intellectus et
intelligibile in actu sint unum" (Car autrement l’unité effective de
l'être et du connaitre dans la connaissance en acte ne pourrait être rendue
intelligible dans sa possibilité).
Khả tri thể và lư trí phải
tương xứng và cùng một loại; lư trí và thụ
tri thể là một trong hiển thể. "Idem intellectus
et intellectum et intelligere" (p. 80).
"Ens est intelligibile et intelligens, in quantum
est ens actu"
trong In II Met.,
livre I, n. 280
được trích bởi K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, p. 86
Tính khả tri là khả năng hiện
diện với ḿnh, v́ thế tính khả tri có nhiều
mức độ khác nhau (la cognoscibilité est
pouvoir-être-auqrès-de-soi...) (Esprit dans le monde, p. 84).
Mức độ chủ thể tính cho thấy
một hiện thể sở hữu hữu thể ở
mức độ nào (Rahner, L'Esprit..., p. 83: le degré de cette
"subjectivité" indiquent inversement quelle mesure de puissance
d'être possède un étant).
Tri thể và thụ tri thể
đều là hữu thể. Khả tri tính tương
ứng với chủ thể tính. Tri thể và thụ tri
thể là một trong hiển thể, bởi v́ cả hai là
hữu thể, và bởi v́ cả hai đều là hữu
thể trở về chính ḿnh của hiện thể.
[111] K. Rahner,
L'Esprit dans le monde, p. 139. 91-92
[112]
"Lư trí chúng ta trong t́nh trạng hiện tại, t́nh
trạng liên kết với thân xác, không thể biết ǵ
(ở hiển thể) nếu không trở về với
ảnh tượng.”
C̣n với với tác phẩm của
Aristote được thánh Thomas chú giải:
ARISTOTE, De Anima, Lib. III, lect. XII, c. VII:
"... propter quod numquam sine phantasmate intelligit anima" (Lư trí
(linh hồn) không biết ǵ nếu không nhờ ảnh
tượng) trong S. Thomae, In Arist. Libr. De Anima Comm., nn. 772.
791. 854
[113] S. Thomae,
In Arist. Libr. De Anima Comm., n. 767:
Intellectus proprium est facere affirmationem vel
negationem.
[114] Op.
cit., p. 793:
Intellectus solius est cognoscere verum et falsum.
[115]
Ở đây chúng ta không đứng trên quan điểm Kinh
Thánh; nhưng ngay cả với Kinh Thánh, ư định
cứu độ của Ngài cũng không đồng
nhất với sự thánh thiện và tốt lành của
Ngài. Nói một cách nôm na: Thiên Chúa tốt lành và thánh
thiện, nhưng không phải v́ vậy mà Ngài buộc
phải cứu độ con người.
Cf. K. Rahner, art. "Salvation" p. 406
[116]
Chẳng hạn để diễn tả t́nh yêu giữa hai
người với nhau, họ có thể dùng nhiều cách
khác nhau, và không buộc phải theo một công thức cố
định nào!
[117] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, p. 201:
Dieu peut révéler uniquement ce que lhomme peut
entendre... Mais ladite proposition devient fausse si l’on la modifie en
disant...
[118]
nghĩa là nếu Thiên Chúa không muốn thay đổi cơ
cấu con người.
[119] M. A.
Bailly, Abrégé du Dictionnaire Grec-Franais, từ ngữ Logos
[120] E. F.
Leopold, Lexicon Hebraicum et Chaldaicum, từ ngữ DABAR
[121] J. L.
McKenzie, Dictionary of the Bible, art. "Word":
"The dynamic reality of the Word is accompanied
by its dianoetic reality (O. Procksch). Hb uses "word" where we use
"thing" or "deed.” The word as name gives the thing
intelligibility; but the thing does not acquire full reality until it gets a
name and becomes intelligible. In conferring the name the person exercises his
dynamism by which he makes the thing real; in knowing the name the person
exercises his dynamism in the reverse direction and "apprehends" the
word-thing.” (page 938).
[122]
Như vậy, giả như Thiên Chúa mặc khải trong
giấc mộng, th́ những ảnh tượng (phantasma)
hiện diện nơi lư trí trong giấc mơ vẫn có
thể được coi như lời.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn, lư trí
chính là lời. Nếu Thiên Chúa mặc khải ǵ cho con
người, th́ mặc khải cho con người qua lư trí.
(Câu khẳng định này là thừa, nhưng nó giúp
hiểu rơ khẳng định: Thiên Chúa mặc khải cho
con người qua lư trí).
Theo K. Rahner, lời thích hợp
để hiểu thực tại siêu thế giới, v́
lời có khả năng phủ định. Lời có
thể phủ định những ǵ được xác
định nơi thực tại trần thế
để vươn lên thực tại siêu việt.
Cf. K. Rahner, L'homme à l'écoute du Verbe, p. 270
[123] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, pp. 200-201
[124] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, p. 266
[125] K. Rahner,
L'homme à l'écoute..., p. 203
Theo M.A. Bailly, op. cit., từ ngữ
HISTORIA:
Lịch sử là điều con
người t́m hiểu và khám phá rồi kể lại.
Như vậy, nếu con người chỉ nh́n biến
cố như những ǵ t́nh cờ chứ không do một lư
trí hay một hành vi của hiện hữu tự do (cố
ư) thực hiện, th́ biến cố đó đâu có ư
nghĩa ǵ.
Với người Do Thái, biến
cố lụt hồng thủy có nghĩa v́ nó được
nh́n như hành động của hiện hữu tự do
là Thiên Chúa.
Trong Linh Thao số 102. 111, thánh Inhaxiô
gọi là lịch sử những ǵ đức tin cho
biết về những quyết định của Thiên
Chúa.
[126] v́ là
hành động của hiện hữu tự do.
[127]
Lịch sử dân Do thái thực sự đă là lời để
dân Do Thái nhận biết Thiên Chúa và ư định của
Ngài trên dân. Các tiên tri là những người đă
đọc được các lời này một cách rơ nét và
đă loan báo lại cho dân.
Những biến cố lịch sử
nhân loại, do con người là những hữu thể
tự do thực hiện, đă trở thành lịch sử
mang tính thần linh, là lời thần linh giúp con
người nhận biết Thiên Chúa.
[128] K. Rahner,
L'homme à l'écoute du Verbe, pp. 220. 88. 94. 97. 99
[129] K.
Rahner, L'homme à l'écoute..., pp. 220-221
S. Thomae Aq., In Arist. Libr. De Anima commentarium,
n. 377: "Cognitio autem omnis fit per hoc, quod coggnitum est aliquo modo
in cognoscente, scilicet secundum similitudinem": tri thức là có cái
ǵ tương tự cái được biết nơi
chủ tri.
[130] K. Rahner.,
op. cit., pp. 104-105. 225
khả năng phản tỉnh, biết
ḿnh và siêu vượt.
[131] K. Rahner,
op. cit., p. 208
K. Rahner, L'Esprit dans le monde, p. 139
[132]
Về lư trí tự do, đức Phật và S. Freud đă nói
về trường hợp lư trí bị hủ hóa bởi
tư lợi. Xem thêm: Phạm Thanh Liêm, Dẫn Nhập
Thần Học, Đà Lạt: lhnb,1990, trg. 25
[133] K. Rahner,
L'homme à l'écoute..., pp. 124-125. 79
[134] K.
Rahner, L' Esprit dans le monde, p. 291 trích dẫn
De Verit., q. 10, a. 8, ad 4:
"Non tamen
materiae subditur, ut materialis reddatur.”
De Verit., q. 19, a. l corp.:
"Hoc lumen
(intellectuale) non est corpori obligatum"
[135] K. Rahner,
op. cit., pp. 286. 290. 191
[136]
hiện hữu này có thể là hiện hữu bất
tất đối với hiện hữu tất yếu
tuyệt đối.
[137] Thiên
Chúa
[138] ư chí
đi theo lư trí (voluntas sequitur intellectum).
[139] St. Thomae
Aquinatis in Aristotelis Librum De Anima Commentarium, Marietti 1959, n. 288:
"Quod quidem dividitur in tria: scilicet
desiderium, quod est secundum vim concupiscibilem; et iram, quae est secudum
vim irascibilem: qui duo appetitus pertinent ad partem sensitivam: sequuntur
enim apprehensionem sensus. Tertium autem est voluntas, quod est appetitus
intellectivus, consequens scilicet apprehensionem intellectus" (Lib. II,
lect. V, c. III).
[140]
Op.cit., n. 286:
Appetitus naturalis est inclinatio sequens formam
naturalem; Appetitus sensibilis est inclinatio quaedam quae sequitur ad formam
sensibilem; Appetitus intelligibilis est inclinatio quae sequitur ad formam
intelligibilem.
[141] F-J. Thonnard,
Précis d’histoire ..., p. 116
[142] K. Rahner,
L’homme à l’écoute du Verbe, p. 156
[143] K. Rahner,
L’homme à l’écoute du Verbe, pp. 155-156
[144]
người ta đă lấy khả năng tri thức làm
chuẩn đánh giá mức độ hữu thể này.
[145] K.
Rahner, L' homme à l'écoute Du Verbe, p. 176: 'L'amour est la volonté lumineuse
qui veut la personne dans son unicité irréductible'.
[146]
Chẳng hạn con người thấy ḿnh có thể ăn
hay không ăn, ăn lúc này hay lúc khác, và thậm chí có thể
tuyệt thực quyên sinh để bảo vệ hoặc
cảnh cáo hay phản đối điều ǵ đó.
[147] Thiên
Chúa đă mặc khải, điều này được
nhận biết khi tra vấn lịch sử. Điều này
sẽ được làm trong phần mặc khải theo
Kinh Thánh.
[148] Sách Sáng
Thế được san định lần cuối vào
khoảng năm 400 trước công nguyên; nhưng con
người đă xuất hiện trên trái đất
khoảng hơn một triệu năm rồi, c̣n Abraham
mới chỉ cách chúng ta đây chưa đầy bốn
ngàn năm (Abraham xuất hiện khoảng 1850 năm
trước công nguyên).
[149] Con
người được đặt tên cho muôn vật (St
2:19-20).
[150] Truyền
thống của miền nam, tức Giuđa.
[151] Thiên
Chúa đă cho con người sự sống của Ngài (St 2:7.
9. 16).
[152] v́
Sara son sẻ không con (St 11:30)
[153] Abram
là tên của Abraham trước khi Thiên Chúa đổi tên cho
ông (St 17:5).
[154]
Dựa theo Sáng Thế chương 16:16: "Abram sống
được 86 tuổi, khi Hagar sinh ra Ismael cho Abram.” Và
dựa vào St 16:3: "Măn 10 năm Abram lập cư ở
đất Canaan, Saray, vợ của Abram đă đem Hagar,
thị tỳ của bà, mà dâng nàng làm thiếp cho Abram
chồng bà. Ông đă ăn ở với Hagar, và nàng đă có
thai. Năm 99 tuổi, Abram đă cắt b́ để
thực thi điều kiện giao ước của Yahweh,
và Ismael đă 13 tuổi (St 17:24.25). Như vậy, dựa
vào sách Sáng Thế, Abram đến định cư ở
Canaan khi ông được khoảng 76 tuổi.
[155] Thiên
Chúa đến với Abimêlek trong mộng ban đêm (St 20:3).
Trước đó, Thiên Chúa hiện ra với Hagar, nữ
tỳ của Sara, để mách bảo những
điều Hagar phải làm (St 16:7-13). Thiên Chúa phán gọi
Hagar khi Sara đuổi Hagar ra khỏi nhà (St 21:17-19).
[156] El-Roy
có nghĩa là Thiên Chúa của thị kiến.
[157] Xem
chú thích trong bản dịch của cha Nguyễn Thế
Thuấn, nxb. D̉NG CHÚA CỨU THẾ - SG. 1976, chú thích St 16:7.
[158]
Về các nổi khổ đau của dân con Israel, xem thêm Xh
1; 2:23-25; 3:9
[159]
Như thấy trong những tŕnh thuật tiếp theo, dân
con Israel liên tục bất tuân lệnh Chúa và luôn càm ràm than
trách Yahweh.
[160] Có
lần Thiên Chúa nổi nóng với Môsê (Xh 4:14); và nhiều
lần Môsê t́m cách thoái thác sứ mạng (Xh 3:11; 4:1.10; 4:13; 5:22tt)
[161] Yahweh
phán với Môsê: Khi ngươi trẩy đi để
về Ai cập, ngươi hăy nh́n tỏ là các điềm
thiêng Ta sẽ đặt tay ngươi th́ ngươi
sẽ làm trước mặt Pharaô.
[162]
Nhưng Ta sẽ làm cho nó cứng ḷng và nó sẽ không buông
thả dân đâu. Bấy giờ ngươi sẽ nói
với Pharaô "Yahweh phán rằng: con đầu ḷng
của Ta là Israel nên Ta đă nói với ngươi: Hăy buông
thả cho con Ta đi để nó phụng thờ Ta!
Nhưng ngươi đă khước từ không chịu
thả ra, th́ này phần Ta, Ta sẽ giết chết con
đầu ḷng của ngươi" (Xh 4:19.21-23).
[163] Cái
chết thể xác của các con đầu ḷng người
Ai Cập có thể là điều gây cái tốt nơi Pharaô
và con dân Ai cập: v́ họ có thể nhận ra Yahweh và
thống hối, quay trở về với Người,
không c̣n bất tuân lệnh Người nữa. Trong cái nh́n
của chúng ta, cái chết thể xác không là điều ác
tuyệt đối khi nó giúp chúng ta trở về với
Chúa, được sống đời đời trong
tương lai.
[164] J. E.
McKenzie, art. "Aspects of Old Testament Thought,” trong Jerome Biblical
Commentary, p. 749
[165] McKenzie,
art. cit., p. 750
[166]
Nơi Israel cũng có những bộ sưu tập
luật, chẳng hạn, tập luật trong sách giao
ước (Xh 20:22- 23:19), sách luật (Đnl 12-26), bộ
luật thánh (Lv 17-26).
[167] McKenzie,
art. cit., p. 751
[168] Yêu
thương là hành vi tự do và nhưng không.
[169] R. Latourelle,
Théologie de la Révélation, p. 28
trích dẫn J. Pederson, Israel: life and culture,
London 1946, p. 107
[170] R. Latourelle,
Théologie de la Révélation, p. 388
[171] H. Fries,
Art. "La Révélation,” p. 262 trích dẫn E. Brunner, Offenbarung und
Vernunft, p. 103
[172] R. Latourelle,
op. cit., p. 18
[173] không
chủ yếu cho người thời tương lai, dù
rằng có thể giúp cho người thời tương
lai.
[174] H. Fries,
art. cit., p. 262
[175] J. L.
McKenzie, art. cit., p. 750
[176] Ibidem
[177] Ibidem
[178] H. Cazelles,
Introduction à la Bible, p. 359
[179] H. Fries,
art. cit., p. 225; trích dẫn F. Stier, Die Geschichte Gottes mit den
Menschen, Duesseldorf 1962, pp. 40tt
[180]
thần ngoại, hebel.
[181] trong
giao ước, vua được dân công nhận.
[182] J. L.
McKenzie, art. cit., p. 749
[183] Trong
Kinh Thánh, chúng ta thấy nhắc đến khôn ngoan của
Ai cập (Is 19:3-15; Kn 17:7), khôn ngoan của Babylon (Is 47:10-13; Gr
10:7; 50:35), khôn ngoan của Ả rập (1V 5:10; Gr 49:7; Br 3:22);
nhưng khôn ngoan của Salomon vượt trên các khôn ngoan
của Ai cập và phương đông (1V 5:10) và trên các khôn
ngoan của người bản xứ Canaan, tức là
của Etan và Hêman (Tv 88-89).
[184] R. Latourelle,
Théologie de la Révélation, p. 26 trích dẫn R. W. Robinson, Inspiration
and Revelation in the Old Testament, p. 235-237
[185]
Nơi các dân tộc lân cận, có những trung tâm
để dạy khôn ngoan và khoa học như ở Mari,
Ugarit, Ai cập, và Lưỡng Hà Địa. Những
địa danh vừa kể là những trung tâm văn hóa.
[186] v́
niềm tin mà bị giết.
[187] bây
giờ chúng ta gọi là ngày Chúa Nhật.
[188]
Massiah, Christos, Đức Kitô, đấng được
xức dầu.
[189] Chúng
ta cũng được gọi là con Thiên Chúa, nhưng là
con v́ chúng ta được nhận; con Thiên Chúa như
người ta hiểu Đức Giêsu trước biến
cố phục sinh, cũng là con thừa nhận, không
phải là con đồng bản tính như các tông
đồ biết sau biến cố tử nạn và
phục sinh.
[190] Gioan
tiền hô sai môn đệ đến thỉnh vấn;
Đức Giêsu cho ḿnh vượt trên các tiên tri như
người con vượt trên các đầy tớ (Mc 12:1-12).
[191]
chữ Do Thái đă được viết bằng mẫu
tự latinh.
[192]
Đấng thiên sai, Đấng được xức dầu.
[193]
như thấy trong Rm 9:5; Ga 1:1. 18; 20:28; 1Ga.5:20; Tit. 2:13
[194]
ơn gọi Abraham.
[195] Rm 10:9:
"nếu ngươi tuyên xưng ngoài miệng Giêsu là
Chúa, và nếu ḷng ngươi tin rằng Thiên Chúa đă
phục sinh Ngài từ cơi chết, ngươi sẽ
được cứu.”
[196] Rm 7:24:
vô phúc thay con người tôi! Ai cứu tôi khỏi cái xác
chết này? đội ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta.
[197] Rm 1:3.9;
5:10; 8:29; 1Cr 1:9; 15:28; 2Cr 1:19; Gl 1:16; 2:20; 4:4. 6; Ep 4:13; 1Tx 1:10
[198] Is 40:13
[199] Chúa
chỉ Yahweh theo bản dịch LXX.
[200]
Điều này chúng ta thấy nơi đầu thư và
kết thư của thánh Phaolô (Rm 15:6; 2Cr 1:3; 2 Cr 11:31; Ep 1:3;
Cl 1:3) Đức Giêsu là Con của Ngài (Rm 1:3.4.9; 5:10; 8:3.29.32; 1Cr
1:9; 15:28; 2Cr 1:19; Gl 1:16; 2:20; 4:4.6; Ep 4:13; Cl 1:13; 1Tx 1:10).
[201] Rm 4:24;
7:4; 8:11; 10:9; 1Cr 6:14; 15:15; 2Cr 4:14; Gl 1:1; Ep 1:20; 2:6; Cl 2:12; 1Tx.1:10
[202] Rm 8:11:
nếu Thần Khí của Đấng đă phục sinh Đức
Giêsu từ trong kẻ chết ngự trong anh em, Đấng
đă phục sinh Đức Kitô từ trong kẻ chết,
cũng sẽ ban sự sống cho thân xác hay chết
của chúng ta.
1Cr 6:14: Thiên Chúa, Đấng đă phục
sinh Chúa, cũng sẽ phục sinh chúng ta nữa bởi quyền
năng của Người.
[203] Trong
thư Roma chương 8, Phaolô dùng lẫn lộn Thần
Khí của Thiên Chúa, Thần Khí của Đức Giêsu, và
Thần Khí.
[204] Kitô, CristoV, Massiah, Đấng được xức
dầu.
[205] Các
công việc ta làm làm chứng cho ta rằng Cha đă sai Ta (x.
Ga 6:57; 7:29).
"Như Cha đă sai Con đến
trong thế gian, cũng vậy, Con cũng sai chúng (Ga 17:18.21.23.25;
20:21).
[206] Ga 14:17.26;
15:26
[207]
"bấy giờ nếu có ai bảo các ngươi: này
Đức Kitô ở đây, hay, Ngài đó ḱa; th́ các ngươi
đừng tin! Sẽ có những Kitô giả ...! và bấy
giờ người ta sẽ thấy Con Người
đến trong mây với uy quyền cao cả và vinh
quang..." (Mc 13:21-22.26).
[208]
"Và các ông sẽ thấy Con Người ngự bên
hữu quyền năng và đến với mây
trời" (Mc 14:62; Mt 26:64).
[209]
Những người không tin sự sống lại.
[210] R. Latourelle,
op. cit., p. 88
[211] C. Bihlmeyer,
Histoire de l’Église, p. 229
[212] P. Stockmeier,
"Révélation dans l’Église chrétienne primitive," pp. 74-76
[213] C. Bihlmeyer,
op. cit., pp. 233-234
[214]
Platon, Timée, 28C
[215] P. Stockmeier,
art. cit., pp. 82-87
[216] C. Bihlmeyer,
op. cit., pp. 239-340
[217]
Adversus Haer. III, 9,1:
"Unus igitur idem Deus est, Pater Domini Nostri,
qui et praecursorem per prophetas missurum se promisit: et salutare suum, id
est Verbum suum, visibile efficit.
[218] Cf.
Ad. Haer. IV. 6,4: sine Deo non cognosci Deum... Cognoscunt enim eum
quibuscumque revelaverit Filius.
[219] Ad.
Haer. IV, 20,7: Verbum... hominibus per multas dispositiones ostendum Deum.
[220] Ad.
Haer. II, 23,1: Dominum tantae dispositionis recapitulationem facientem.
[221]
Adversus Haer. III, 1,1:
"Non enim per alios dispositionem salutis nostrae
cognovimus, quam per eos per quos Evangelium pervenit ad nos.
[222]
"Lời một khi đă làm người, đă ban cho
chúng ta Tin Mừng dưới bốn h́nh thức" (Ad.
Haer. III, 2,8).
[223]
Adversus Haer. III, 2,1:
"... non enim per litteras traditam illam, sed
per vivam vocem.”
[224] Ad.
Haer. II, 30,9: Hic Deus Abraham, et Deus Isaac, et Deus Yacob, Deus vivorum,
quem et lex annuntiat, quem Apostoli tradunt, quem Ecclesia credit. Cf. Ad.
Haer. III, 3,1.
[225] P. Stockmeier,
art. cit., pp. 93-104
Tất cả phần về thánh Iréné
được tóm từ đây.
[226]
Tất cả phần về thánh Clément dAlexandrie
được tóm từ
P. Stockmeier, art. cit., pp. 112-119
[227] P. Stockmeier,
art. cit., p. 114
[228] Ibidem
[229] P. Stockmeier,
art. cit., p. 115
"Lời, Đấng tỏ lộ Cha
như Cha, đă trở nên "thân xác" với ngũ
quan" (Stromata V, 24,1).
[230]
Phần lớn những điều nói về Origène ở
đây, được tóm từ
P. Stockmeier, art. cit., pp. 119-125
[231] C. Bihlmeyer,
op. cit., pp. 245-249
[232] R.
GOEGLER, Das Evangelium nach Johannes
được trích dẫn bởi P. Stockmeier,
art. cit., p. 122
[233] F. Cayré,
Précis de Patrologie, t.I, l. I-II, p. 601 trích dẫn Augustinus,
Confess., l. III, c. IV, 7
[234] Ibidem
[235] F. Cayré,
op. cit., p. 602
[236] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, p. 204
[237] F. Cayré,
op. cit., p. 604
[238] R. Jolivet,
Dieu Soleil des esprits, pp. 44-45
[239] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, p. 204
[240] R. Jolivet,
Dieu Soleil des esprits, pp. 44-45 trích dẫn
Aug., Contra Academicos, III, c. VI, n. 13, t.I, col.
467a
Aug., De vita beata, c. IV, n. 35, t.I, col. 519b
Aug., Soliloques, I, c. I, n. 3, col. 599c
Aug., De Magistro, c. XI, n. 38, t. I, col. 916a
[241] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, p. 202:
"Donc la raison ne peut qu’un rôle préparatoire
et secondaire..."
[242] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, p. 200
[243] R. Jolivet,
Dieu Soleil des esprits, pp. 26-27
và những trích dẫn tác phẩm
của thánh Augustinus.
[244] Op.
cit., pp. 33-34. 58-59
[245] Op.
cit., p. 189
[246] Op.
cit., pp. 149. 189
[247] Op.
cit., p. 156 trích dẫn
Aug., In Joan. Evang. Tract. XV, n. 19, t. III, col.
1858b
[248] R. Jolivet,
Dieu Soleil des esprits, p. 80
[249] Op.
cit., pp. 189-190
[250] F. Cayré,
op. cit., p. 602
[251]
Bonnaventura sinh vào khoảng năm 1221, Ngài đă nhập ḍng
Phanxicô và đă là bề trên cả của ḍng này. Ngài
chết cùng năm với thánh Thomas d’Aquino ḍng Đa-Minh,
tức năm 1274.
[252] U. Horst,
"La conception de la révélation dans la haute scolastique,” p. 216
[253] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, pp. 392-393
[254] Op.
cit., p. 390
[255] U. Horst,
art. cit., p. 217
[256] Ibidem
[257]
"Haec similitudo est ratio expressiva cognoscendi.”
[258]
"lux expressiva in cognitione intellectuali.”
[259] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, p. 393
trích dẫn I Sent., dist. 35, q. 1, fund. 2
và I Sent., a. 1, q. IV, concl.
Chính nhờ lư thuyết về các ư
niệm này, mà Bonnaventura bắc một cây cầu giữa
hữu hạn và vô hạn (Ulrich Horst, art. cit., p. 216-217).
[260] F-J. Thonnard,
Précis d'histoire de la Philosophie, pp. 400-401
[261]
Quoniam enim omnis creatura comparatur ad Deum et in ratione causae et in
ratione triplicis causae, ideo omnis creatura est umbra vel vestigium. Sed
quoniam sola rationalis creatura comparatur ad Deum ut objectum, quia sola est
capax Dei per cognitionem et amorem: ideo sola est imago.
(I Sent., d.3, p.1, a. un, q. 2, ad 4 (I, 72b-73b)
cf. Ulrich Horst, art. cit., p. 217
[262] Ulrich
Horst, art. cit., p. 218
trích dẫn Quaestio disp. de scientia Christi, q.
4 (V, 24a) ở ghi chú 10.
[263] Op.
cit., p. 219, ghi chú 14
[264] Sermo
sel. de reb. theol. IV, n. 1: Unus est magister vester ... In verbo isto
declaratur, quod est fontale principium illuminationis cognoscitivae... ipse
est, qui est origo omnis sapientiae... Ipse Christus est autem fons omnis
cognitionis rectae. Ipse est via, veritas et vita ... (Ulrich Horst, art. cit.,
p. 222).
[265] Op.
cit., n.5: Ipse enim est fundamentum totius doctrinae authenticae, sive
apostolicae sive propheticae, secundum utramque Legem, novam et veteram.
[266] Sermo
de Tem. Fer.VI in Parasc., s.II, II:
Si volumus spiritualia contemplari, oportet tollere
crucem ut librum, quo erudiamur ... Liber sapientiae est Christus, qui scriptus
est intus apud Patrem, cum sit ars omnipotentis Dei; et foris, quando carnem
assumit. Iste non est apertus nisi in cruce; istum librum debemus tollere, ut
intelligamus arcana sapientiae Dei.
[267] I
Sent., d. 11, a. un., q.1, ad 5:
Si verba (in Scriptura) non reperiantur, reperitur
tamen sensus.
[268] I
Sent., d. 27, p. 1, a. un., q. 4:
Nam quaedam sunt de necessitate fidei, quaedam de
necessitate Scripturae, quaedam sunt his annexa, ut sunt illa quae faciunt ad
fidei explicationem et Scripturae expositionem.
[269] III
Sent., d. 25, a. 1, q. 1:
Nullum tamen est credibile a fide, quod non possit
reduci ad articulos in symbolo contentos sicut ad principia dirigentia et
stabilia fundamenta.
cf. Ulrich Horst, art. cit., p. 225.
[270]
Phần lớn những ǵ viết trong phần về
mặc khải theo thanh Bonaventura được lấy
từ Ulrich Horst, art. cit., pp. 215-226
[271] F. Cayré,
op. cit., pp. 526-536
F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la Philosophie,
pp. 321ss
[272] F. Cayré,
op. cit., pp. 568-569
[273] II
Contr. Gent., c. XCVIII: "Quidquid esse potest, intelligi potest.”
Cf. F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la
Philosophie, p. 361: "tout est intelligible par lêtre.”
[274] F. Cayré,
op. cit., p. 574
trích dẫn S.T. I, q. 85, a. 2, note a của
nxb. Marietti 1952, p. 584.
Vài từ ngữ được
dịch:
phantasma:
ảnh tượng
species intelligibilis: ảnh niệm
idea: ư
niệm
[275]
tức trật tự tự nhiên, khác với trật
tự đặc biệt là trật tự siêu nhiên.
[276]
Từ đây trở đi, về thánh Thomas, hầu hết
được lấy trong
Ulrich Horst, art.
cit., pp. 228 ss.
[277] ST. I,
q.1, a.1: Homo ordinatur ad Deum sicut ad quemdam finem.
Cf. ScG. I, c. 1, n. 4.
[278] Và con
người chỉ đạt được sự
hưởng kiến này nếu con người tin vào Thiên
Chúa như người học tṛ tin vào thầy dạy.
[279] Ulrich
Horst, art. cit., p. 238
[280]
nơi tiên tri, hai điều này là chủ yếu.
[281] Sup.
Jo., c.VII, lect.4, n. 1074: cum enim Christi humanitas sit nobis via tendendi
in Deum... non debemus in ea quiescere ut in termino, sed per eam debemus in
Deum tendere.
[282] ST.
III, 53,1: "... ad commendationem divinae iustitiae, ad fidei nostrae
instructionem, ad sublevationem spei, ad informationem vitae fidelium, ad
complementum nostrae salutis.”
[283] In
Rom., c. 8, lect. 6, n. 707: Vocatio hominum, quae quidem est duplex, una
exterior, quae fit ore praedicatioris... Alia vero vocatio est interior quae
nihil est quam mentis instinctus, quo cor hominis movetur a Deo ad assentiendum
his quae sunt fidei vel virtutis.
[284] S.T.I,
1,8, ad 2
[285] ST. II-II,
5,3: Formale autem objectum fidei est veritas prima secundum quod manifestatur
in Scripturis sacris et doctrina Ecclesiae.
[286] Cf.
Ibidem: Unde quicumque non inhaeret, sicut infallibili et divinae regulae,
doctrinae Ecclesiae, quae procedit ex veritate prima in Scripturis sacris
manifestata, ille non habet habitum fidei.
[287] ST.
II-II, 1,9: Ecclesia universalis non potest errare quia a Spiritu Sancto
gubernatur, qui est Spiritus veritatis.
[288] ST.
II-II, 1,10: Et ideo ad solam auctoritatem summi Pontificis pertinet nova
editio symboli: sicut et omnia alia quae pertinent ad totam Ecclesiam, ut
congregare synodum generalem et alia huiusmodi.
[289] Martin
Luther sinh khoảng năm 1483 trong một gia đ́nh nông dân
tại Eisleben ở Đức. Năm 1501 ông vào đại
học Erfurt. Năm 1505 ông vào tu viện thánh Augustin ở
Erfurt, và năm 1507 lănh tác vụ linh mục. Năm 1508 ông
đến Wittenberg để học triết lư luân lư, và
sau đó học Kinh Thánh. Từ năm 1513 trở đi, ông
nghiên cứu nhiều về Kinh Thánh. Martin Luther chết
khoảng năm 1546.
[290] C. Bihlmeyer,
op. cit., III, pp. 172 tt
[291] J. Calvin,
Institutio christianae religionis, Genenae 1618, L. I, c.5, n.2; c.2, n.1;
L.II, c.6, n.1
trích bởi R. Latourelle, op. cit., pp.271-272
[292] A. Dulles,
Revelation theology,
Herder and Herder-London
1969, p. 48
[293] R. Latourelle,
Théologie de la Révelation, DDB. 1966, p. 272
[294]
dịch từ chữ protestant.
[295]
tương ứng với Đức Giêsu, các tông đồ,
Hội Thánh.
[296] Đa
số phần này được lấy trong R. Latourelle, op.
cit., pp. 273-276
[297] Avery
Dulles, op. cit., p. 52
[298] J. Locke,
Concerning Human Understanding, bk.4, ch.19, n.4. New York 1947, p. 340 trích bởi A. Dulles,
op. cit., p.53
[299] A. Dulles,
op. cit., pp. 56-57
[300] A. Dulles,
op. cit., pp. 58-59
[301] F. D.
E. Schleiermacher, On Religion, New York: Paperback 1958, p. 89
trích bởi A. Dulles, op. cit., pp. 63-66
[302]
Phần này được lấy trong A. Dulles, op. cit., pp.
65-66
[303] A. Dulles,
op. cit., pp. 66-67
[304] Alfred
Loisy (1857-1940) là linh mục, đă dạy Kinh Thánh tại
Institut catholique ở Paris vào những năm 1884-1893
Georg Tyrrell (1861-1909) vào ḍng Tên năm 1880,
dạy luân lư hai năm tại Stonyhurst, thường
viết trong The Month; bị khai trừ khỏi Ḍng năm
1906 v́ không từ bỏ duy tân thuyết.
[305] A. Loisy,
The Gospel and the Church, Paris2 1903, pp. 195-197
[306] R. Latourelle,
op. cit., p. 302
[307] A. Dulles,
op. cit., pp. 84-85
[308]
Một phần thông điệp được trích trong DS.
3475-3580
[309]
CONCILIUM FLORENTINUM, Bulla unionis Coptorum Aethiopumque "Cantate Domino,”
4 Febr. 1442
DS. 1330: "Omnia in Deo sunt unum, ubi non obviat
relationis oppositio.”
[310] Lư trí
"tự do,” là lư trí không dừng lại nơi sự
vật, nhưng siêu vượt vật thể hướng
về hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
[311] Xem
DS. 73; 172; 415; ...
[312] Khi
nói: "T́nh yêu là hành vi tự do," phải hiểu là:
"hành vi biểu lộ t́nh yêu là hành vi tự do."
[313] Thiều
Chửu, Hán Việt từ điển, Hà Nội 1942
Ân: ơn.
Yêu mà giúp đỡ ban cho cái ǵ gọi là ân.
[314] God
became man so that man might become God
(Athanasius and
Gregory Nazianzenus).
Cf. Johann Auer, art. "Grace," II:
Theological,
Sacramentum Mundi
I, p. 413
[315] H. Cornélis
et A. Léonard, La Gnose éternelle, Paris 1959, p. 7; coll. Je sais-je crois, n.
146
[316] Op.
cit., pp. 34 ss
A. Dartigues, La Révelation du sens au salut, pp. 22
ss
R. Haardt, art. "Gnosticism," pp. 379-381
[317] Các
triết thuyết cũng có thể trở thành tôn giáo; lúc
đó chân lư theo triết thuyết trở thành tri thức
cứu độ đối với người tin và theo
triết thuyết đó. Người ta có thể gọi nó
là ngộ đạo triết lư.
Cf. A. Dartigues, op. cit., pp. 25-36
[318] E. F.
Léopold, Lexicon Hebraicum et Chaldaicum, từ "DABAR," p. 75
[319] A. Bailly,
Abrégé du dictionnaire Grec-Francais,
Hachette-Paris
1961, từ ngữ "logos," p. 538
[320] Ghi
chú nơi S. Thomae Summa theologiae, I, q. 85, a. 2 của nxb. Marietti
1952, p. 584
[321] 1Cr
3:21b-23: V́ mọi sự đều thuộc về anh em, dù
là Phaolô, Apôlô, hay Kêpha, dù là thế gian, dù là sự sống
hay sự chết, dù là hiện tại hay tương lai,
tất cả đều thuộc về anh em, c̣n anh em
thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về
Thiên Chúa.
[322]
thấy trong giấc mộng, như trường hợp
thiên thần hiện ra cho Giuse Mt 1:20
[323]
Lời xét như phương tiện mặc khải ở
đây, được hiểu một cách tối thiểu
như các ư niệm.
[324] Inhaxiô,
Linh Thao, Nhà Tập Ḍng Tên 1969, số 230
[325]
như chữa lành nhiều bệnh nhân, cho người què
đi được, kẻ câm nói được,
người mù được thấy, người
chết sống lại, hóa bánh ra nhiều, đi trên
biển, quát biển im lặng, v.v.,
[326] xem
thêm Ga 10:17-18 và Mt 26:28.
[327] Ga 14:26:
"Nhưng Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ
sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các
ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các
ngươi nhớ lại mọi điều Ta đă nói
với các ngươi.”
Ga 16:13-15: "...V́ không phải tự
ḿnh mà Ngài nói, nhưng nghe ǵ Ngài sẽ nói ra, và Ngài sẽ
loan báo cho các ngươi những điều sẽ
đến... Ngài sẽ lấy của Ta mà thông báo cho các
ngươi..."
[328]
Lời hứa của Thiên Chúa cho Abraham: "Hăy đi
khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán
ngươi, khỏi nhà cha ngươi, đến
đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ cho
ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc lành cho ngươi,
và Ta sẽ cho danh ngươi nên lớn lao, ngươi
sẽ là một mối chúc lành..." (St 12:1-2).
"Ta sẽ ban xứ này cho ḍng
giống ngươi" (St 12:7).
"Hăy ngước mắt lên và từ
chỗ ngươi đứng, hăy nh́n tứ phía Bắc Nam
Đông Đoài. V́ toàn xứ ngươi thấy đó, Ta sẽ ban
cho ngươi và ḍng giống ngươi cho đến
vạn đại..." (St 13:14-15).
"Ta sẽ cho ḍng giống ngươi
đông như bụi đất, khiến cho ai đếm
được bụi đất, th́ cũng tính sổ
được ḍng giống ngươi" (St 13:16).
"Lạy Yavê, Ngài ban ǵ cho tôi khi tôi vô
hậu... Hăy nh́n lên trời và hăy đếm các tinh sao,
nếu ngươi có tài đếm được chúng...
" (St 15:2-5).
[329] Khao
khát sống lâu được coi như khao khát chính
đáng. Sống lâu được coi như dấu chỉ
Thiên Chúa chúc lành cho người đó.
Xh 20:12: "Hăy trọng kính cha mẹ, ngơ
hầu ngày đời ngươi được kéo dài trên
thửa đất..." Cf. Đnl 4:40; 5:33; 6:2; ...
[330] Bánh
hằng sống bởi trời xuống, chính là Ta! Ai ăn
bánh này, th́ sẽ được sống đời
đời. Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt ḿnh Ta v́
sự sống thế gian.
[331] Kinh
Thánh nói Abraham giàu có (St 13:2) hoặc ông Gióp có nhiều
của cải (G 42:10-17), th́ được hiểu trong ư nghĩa
này.
[332] Đây
cũng là lư do tại sao có những người xả thân
sống đời dâng hiến, họ từ chối
lập gia đ́nh, và không t́m kiếm hoặc thu tích của
cải.
[333] Công
Đồng Vatican II trong hiến chế Dei Verbum số 4,
dạy:
"Vậy nhiệm cục Kitô giáo, v́ là
giao ước mới và vĩnh viễn, sẽ không bao
giờ mai một. Chúng ta không phải chờ đợi
một mặc khải công cộng nào khác nữa
trước khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta hiện đến
trong vinh quang."
Cha F. Gomez giải thích: "V́ Chúa Kitô là
sự viên măn và như vậy hoàn tất mặc khải,
nên không c̣n ǵ vượt trên sự viên măn nữa. Nhưng
cuộc mặc khải c̣n chờ sự vinh quang vào ngày
Quang Lâm."
Xem trong THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II,
bản dịch của GGHV-DALAT VIETNAM 1972, p. 571, ghi chú 13
[334] Mc 13:32:
"Về ngày ấy hay giờ ấy, th́ chẳng ai biết
được, cả thiên thần trên trời, cả Con
nữa trừ phi là Cha." Cf. 1Tx 5:1-3.
[335]
Lời tuyên xưng sau truyền phép trong thánh lễ theo nghi
thức Roma.