Phân Định Thiêng
Liêng (thực hành)
PHÂN ĐỊNH THIÊNG
LIÊNG bản PDF
PHÂN
ĐỊNH THIÊNG LIÊNG
THEO
THÁNH INHAXIÔ LOYOLA
I. TRI THỨC- CHÂN LƯ- THỰC TẠI
c. Ngọn đèn dầu tắt đừng
nghe trẻ
II. THIÊN CHÚA VÀ THÁNH Ư THIÊN CHÚA
2. Thập giới tỏ
lộ ư muốn của Thiên Chúa
3. Lời Nhập Thể
mặc khải Thiên Chúa và thánh ư của Ngài
b. Tám mối phúc,
đặc biệt, mối phúc nghèo và sỉ nhục
4. Thánh Thần ở
với và dạy dỗ con người
III. PHÂN ĐỊNH ĐỂ BIẾT THÁNH Ư
THIÊN CHÚA
2. Phân biệt lành dữ
là một ơn
3. Phân định là
việc cần thiết
1. Chọn Thiên Chúa
trên hết (AMDG & B́nh Tâm)
2. Tội nhân
được Thiên Chúa yêu thương tha thứ
3. Được
Chúa mời gọi cộng tác cứu độ con người
4. Chọn Đức
Giêsu là lư tưởng sống
a. Hiểu Chúa
hơn, để yêu Chúa hơn và theo Chúa hơn
b. Đồng h́nh
đồng dạng với Chúa hơn
a. Chọn nên giống
Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục
b. Yêu như Đức
Giêsu: yêu đến cùng.
6. B́nh an tươi
vui triển nở hạnh phúc
7. Tất cả là hồng
ân Thiên Chúa ban
c. Ư thức Thiên Chúa
hiện diện và ở với Chúa
d. Cầu nguyện
để trở nên một với Thiên Chúa
e. Cầu nguyện
chính yếu là tâm sự
2. Xét gẫm như
phân định thiêng liêng
c. Những câu hỏi
gợi ư giúp xét gẫm..
d. Cầu nguyện
không được tốt hay bị sa sút
e. Tại sao tôi bị
cám dỗ nhiều về điều này
3. Hồi tâm xét ḿnh
như phân định thiêng liêng
a. Các bước gợi
ư giúp hồi tâm xét ḿnh.
b. Cảm tạ
Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu
c. Bắt đầu
lại khi thấy rơ ḿnh hơn
d. Cầu nguyện
ngắn dựa vào chính đời sống
a. Lựa chọn
theo thánh Inhaxiô
b. Điều kiện
để làm việc lựa chọn tốt
d. Dấu chỉ việc
lựa chọn được làm đúng
b. Cộng tác với
Chúa để giúp con người
c. Phân định việc
tông đồ ưu tiên
6. Phân định
chung, phân định cộng đoàn
Biên bản cuộc
nghị luận về việc thành lập ḍng Giêsu
Phân Định Chung
(Arturo Sosa, SJ)
ĐHTL Đồng
Hành Thiêng Liêng
LH Linh
Hướng
LT Sách
Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola
PĐTL Phân
Định Thiêng Liêng
TT Tự
Thuật (của thánh Inhaxiô)
Các chữ viết tắt
tên sách Kinh Thánh
theo
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ
Các chữ viết tắt
của Công Đồng Chung Vaticanô II
theo
bản Latin.
Trích
đoạn Kinh Thánh từ bản dịch của cha Nguyễn
Thế Thuấn, CSsR hoặc từ bản dịch của
Các Giờ Kinh Phụng vụ.
Phân
định thiêng liêng để nhận biết thánh ư Thiên
Chúa. Sách Các Vua quyển thứ hai (2V 22:8-13; 23:1-3) cho thấy
chính tư tế và một số người đă giúp vua
Giôsigia nhận ra thánh ư Thiên Chúa. Đức Giêsu trong Tin Mừng
Matthêu (Mt 7:15-20) cho thấy có thể nhận ra tiên tri giả
qua phân định: xem quả biết cây. Tiên tri giả lấy
lời của ḿnh và nói với người khác rằng
đó là Lời Chúa (Gr 27:1-28:17). Tiên tri giả luôn có “Lời
Chúa” cho những điều họ muốn; c̣n tiên tri thật
th́ phải hỏi Chúa, Chúa nói th́ vị đó biết, Chúa
không nói hay chưa nói, th́ vị tiên tri đó không biết hay
chưa biết.
Phân
định thiêng liêng, là điều người ta đă
làm từ ngàn xưa. Ở đây, phân định thiêng liêng
được giới hạn như phân định thiêng
liêng theo thánh Inhaxiô (1491-1556). Việc phân định thiêng
liêng[1]
(spiritual discernment) gồm cả việc phân định các
thần (discernment of spirits) và phân định ư Chúa (discernment
of God’s will).
Thánh Inhaxiô nói về phân định
các thần trong xét gẫm sau mỗi lần cầu nguyện
(LT 77), về phân định ơn gọi (để nhận
ra Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào) vào cuối
tuần II của Linh Thao (LT 169-188), về phân định
thiêng liêng (nhằm nhận ra ư muốn của Thiên Chúa) mỗi
ngày trong những lần hồi tâm xét ḿnh (LT 43). Phân định Inhă cũng
được thực hiện khi làm cải thiện đời
sống, để biết ḿnh cần làm ǵ và làm như thế
nào (LT 189).
Phân định thiêng liêng nhằm nhận ra và thực thi thánh ư Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ trong trường hợp này? Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4): tôi phải làm ǵ để b́nh an, tươi vui, triển nở và hạnh phúc như Thiên Chúa muốn? Phân định bậc sống hay ơn gọi: Thiên Chúa muốn tôi sống bậc sống nào? Thiên Chúa muốn tôi đi tu hay lập gia đ́nh?
Việc phân định ơn gọi
để nhận ra ư Chúa, được thực hiện
chính yếu trên b́nh diện cá nhân, và có thể cả trên
b́nh diện tập thể và cộng đoàn. Một người có thể
nhận ra Ư Chúa về ḿnh nhưng họ vẫn tự do
để thực hiện hay không. Anh nhà giầu được
Chúa mời bán bỏ tất cả để theo Chúa
nhưng anh ta không làm (Mc 10:21-22). Thánh Phaolô và Matthêu nhận
ra tiếng Chúa gọi và đă đi theo Ngài (Mt 9:9; Cv 9:1-25;
LT 175). Thánh Inhaxiô và các bạn của Ngài
đă làm phân định chung (tập thể) để nhận
ra xem Chúa có muốn họ trở thành một ḍng hay không.
Điều này đă được thánh Inhaxiô và các bạn
thực hiện vào mùa chay năm 1539 (xem phần Phụ Lục).
Để có thể làm phân định
ư Chúa, cũng cần phải có thái độ nội tâm nào
đó. Không phải ai cũng làm trọn Linh Thao được
(LT 18). Và như vậy, không phải ai cũng làm việc chọn
lựa bậc sống đúng đắn được. Vậy
đâu là điều kiện để một người
có thể làm Linh Thao và có thể làm chọn lựa? Để
làm Linh Thao, người đó phải có ḷng khao khát trở nên
tốt hơn (LT 18) và quảng đại (LT 5). Để
làm chọn lựa bậc sống, theo thánh Inhaxiô trong Linh
Thao, người đó phải làm Linh Thao đạt yêu cầu.
Đó là lư do tại sao việc chọn lựa bậc sống
được đặt ở cuối tuần II của
Linh Thao. Để có thể làm chọn lựa bậc sống
cách đúng đắn và chính xác, người đó cần
nhận biết ḿnh là tội nhân nhưng được
Thiên Chúa yêu thương tha thứ (LT 45-72), được
Chúa mời gọi và họ sẵn sàng đáp trả tiếng
Chúa mời gọi (LT 97-98), mong ước nên giống Đức
Giêsu (LT 104), sẵn sàng sống nghèo và chấp nhận sỉ
nhục khinh chê (LT 136-147), sẵn sàng bỏ quyến luyến
lệch lạc để theo ư Thiên Chúa (LT 149-156). B́nh tâm là
thái độ không thể thiếu để có thể làm
chọn lựa cách đúng đắn. B́nh tâm là thái độ
chọn Thiên Chúa và ư định của Ngài trên tất cả,
c̣n những điều khác th́ sao cũng được (LT
23).
Một
số từ được dùng để dịch chữ
discernment/discernement như biện phân/phân biệt/biện biệt/phân
biện/phân định/nhận định. Những từ
ngữ này thường là từ Hán Việt như chúng ta thấy:
biện biệt (辨別), phân biệt (分別), phân định (分定), phân
biện (分辨). Xin được chọn chữ phân định
để dịch chữ discernment/discernement/分定.
Trong giáo tŕnh Phân Định Thiêng Liêng
này, đầu tiên sẽ bàn sơ qua về tương quan
giữa Biết, Chân Lư, và Sự Thật (I), rồi về
Thiên Chúa và Thánh Ư Ngài (II), kế tiếp về Phân Định
để Biết Thánh Ư Thiên Chúa (III), sau đó sẽ xem
Linh Đạo Inhă (IV) như một con đường giúp
ta biết và đến với Thiên Chúa, rồi cuối cùng
sẽ xem Phân Định Thiêng Liêng như việc Thực
Hành Linh Đạo Inhă (V). Cuối cùng thêm phần phụ lục
với tài liệu về phân định chung của Inhaxiô
và các bạn đầu tiên về thành lập Ḍng Giêsu (mùa
chay 1539), và tài liệu về phân định chung của cha
bề trên cả Ḍng Tên Arturo Sosa SJ (27/09/2017).
Tri thức chi phối hành động,
cung cách cư xử, và thái độ sống của mỗi
người. Nó cũng ảnh hưởng tới cảm
nhận hạnh phúc của con người.
Phân định thiêng liêng nhằm nhận
biết thánh ư Thiên Chúa và thực thi Ư Ngài.
V́ con người, tạo vật nhờ
Thiên Chúa mà hiện hữu, có lư trí và ư muốn, nên Đấng
Tạo Hóa là hiện hữu tuyệt vời hơn con
người vô cùng, không chỉ có lư trí và ư muốn, mà c̣n là
nguồn Chân Thiện Mỹ.
Con người có thể biết Thiên Chúa và ư định của Ngài. Qua vũ trụ vạn vật, qua con người là tạo vật yêu thương, con người nhận biết Thiên Chúa như Đấng tự hữu, trọn lành, toàn tri, tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người. V́ yêu thương, Ngài muốn tỏ lộ ư muốn của Ngài cho con người biết.
Con người diễn tả tri thức/phán
đoán của ḿnh bằng lời qua những mệnh đề
phát biểu.
Biết là hành vi của chủ thể trở về với chính ḿnh một khi đă hiện diện nơi khách thể. Biết cũng là từ ngữ được dùng để chỉ kiến thức một người sở đắc khi tương tác với vạn sự vạn vật. Biết là một khả năng của con người. Con người có thể biết vũ trụ vạn vật, biết ḿnh, và biết Thiên Chúa.
Khi con người tra vấn về sự hiện hữu của Thiên Chúa, hàm chứa con người có khả năng biết Thiên Chúa, ít là biết Thiên Chúa hiện hữu. Khi con người biết ḿnh giới hạn, biết ḿnh có khả năng biết, biết ḿnh đang yêu, hàm chứa đă biết Thiên Chúa là Đấng vô hạn, Đấng toàn tri, Đấng yêu thương, v.v.
Biết không là có cái ǵ của đối tượng biết nơi chủ thể biết. Những h́nh ảnh về khách thể mà chủ thể biết vẫn là của chủ thể.
Karl Rahner[2] giải thích quan điểm của thánh Thomas Aquinô: “Trong điều kiện tại thế này, biết là hành vi chủ thể trở về với chính ḿnh khi đă hiện diện nơi tha thể.[3]”
Hành vi biết được thực hiện qua phán đoán. Chẳng hạn, có cái ǵ đó. Đó là cái bàn. Cái bàn này màu xanh. Không có phán đoán, không có đúng sai. Đúng sai, là thuộc tính của phán đoán.
Câu nói “anh sai rồi” chưa chính xác. Chính xác phải nói: “phán đoán của anh về điều đó sai.”
Tôi biết Thiên Chúa là t́nh yêu, Thiên Chúa yêu thương con người.
Tôi không thể cho anh tri thức
đó. Không phải anh học thuộc mệnh đề
đó, là anh biết. Tôi có thể chia sẻ về Thiên Chúa
là t́nh yêu như tôi biết và cảm nghiệm; nhưng nếu
anh chưa cảm thấy th́ anh vẫn chưa biết
(Thiên Chúa là t́nh yêu, là Đấng yêu thương anh vô cùng).
“Ai yêu thương th́ biết Thiên Chúa, ai không yêu
thương th́ không biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu”
(1Ga 4:7-8).
Tôi biết Thiên Chúa. Tri thức này là của
tôi, thuộc về tôi. Cái biết của tôi, không là cái biết
của anh, không là Thiên Chúa. Tri thức tôi có là của tôi, thuộc
về tôi. Kho tàng đức tin, xét như là những mệnh
đề đúng, những chân lư, có thể truyền đạt.
Tôi biết Thiên Chúa nhưng cái biết
của tôi không là Thiên Chúa. Cái biết của tôi là của
tôi.
Tri thức làm tôi có giá trị v́
nó cũng là tôi. Nó làm tôi là tôi. Nó là giá trị
của tôi.
Chủ thể biết và khách thể
biết thường không là một. Chẳng hạn tôi biết
anh, tôi biết Thiên Chúa; nhưng không phải v́ vậy mà tôi
là anh hoặc anh thuộc về tôi. Cũng tương tự
vậy khi nói tôi biết Thiên Chúa.
Tôi biết. Cái biết của tôi, thuộc
về tôi. Mỗi người biết khác nhau. Anh không thể
cho tôi cái biết của anh. Cái biết của anh là của
anh. Anh có thể giải thích, giúp tôi biết. Và một khi
tôi biết, là tôi biết, là của tôi. Tri thức của mỗi
người là của mỗi người, không thể cho,
không thể mất. Có thể giúp người khác có,
nhưng ḿnh không mất, và cái người khác biết là của
họ, không là của ḿnh.
Tin là từ ngữ có nhiều nghĩa.
Tin có nghĩa như ư kiến, và có nghĩa như biết nhưng không có sự chắc chắn khách quan. Chẳng hạn tôi tin chiều nay trời mưa, tôi tin đội bóng A sẽ thắng đội bóng B trong cuộc đấu chiều nay. Sở dĩ nói tin như ư kiến không có sự chắc chắn khách quan v́ có thể có những người khác không nghĩ như tôi.
Tin cũng có nghĩa là biết với sự chắc chắn chủ quan tuyệt đối. Chẳng hạn tin vũ trụ vạn vật như giác quan cảm nhận, hiện hữu thật (những người theo chủ thuyết hoài nghi không chấp nhận như vậy), tin vũ trụ vạn vật có liên hệ hỗ tương hữu cơ với nhau nên lư trí có thể biết những định luật chi phối vũ trụ vạn vật, nên lời diễn đạt tri thức. Những người hữu thần tin Thiên Chúa hiện hữu cũng có sự chắc chắn tuyệt đối như vậy.
Tin có đối tượng đặc biệt là ngôi vị. Hai anh chị yêu nhau, tin nhau, nên lập gia đ́nh với nhau tuy dù họ biết người bạn ḿnh là một hữu thể tự do, có thể thay đổi, nhưng họ tin và họ thề hứa chung thủy với nhau trọn đời. Tin nhau, nên biết nhau.
Có cái biết dựa trên cái biết của người khác. Kinh nghiệm của một người với Tuyệt Đối, hay với ai đó (ngôi vị nào đó), thuộc về cái biết của người khác. Nếu tôi tin vào người đó, th́ tôi biết; nếu tôi không tin, th́ tôi không biết. Lấy thí dụ kinh nghiệm với Chúa Phục Sinh của các tông đồ. Hôm nay chúng ta không thấy Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng nếu chúng ta tin vào các tông đồ, chúng ta nhận biết Đức Giêsu đă phục sinh. Đây cũng được gọi là biết do tin. Nhờ tin mà biết. Chúng ta biết bánh rượu trong Thánh Lễ sau truyền phép, là Ḿnh và Máu Đức Giêsu. Cái biết này chỉ có khi người ta tin Đức Giêsu là Thiên Chúa Nhập Thể.
Nhờ ánh sáng, con mắt (tôi) nhận
ra sự vật; qua vạn sự vạn vật và các biến
cố như lời, lư trí (tôi) nhận biết Thiên Chúa. Qua
vũ trụ vạn vật, tôi nhận biết Thiên Chúa là
Đấng tự hữu, thiện hảo, tuyệt mỹ,
toàn tri toàn năng. Cũng vậy, nhờ tin vào các tông đồ,
tin vào Đức Giêsu, tôi nhận biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị,
nhận biết bánh rượu sau truyền phép là Ḿnh Máu
Đức Giêsu Phục Sinh.
Thiên Chúa mặc khải chính Ngài qua vũ
trụ vạn vật, qua mặc khải tự nhiên. Qua việc
can thiệp vào ḍng lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa cũng
mặc khải cách đặc biệt cho dân Do Thái, và qua dân
Do Thái cho con người. Thiên Chúa cũng mặc khải
chính Ngài qua những con người có tương quan với
Ngài một cách đặc biệt, đây là mặc khải
thần bí huyền nhiệm.
Tin không chỉ là hành vi của lư trí mà c̣n là hành vi của ư chí nữa. Tin xét như đối tượng biết, là kho tàng chân lư, kho tàng đức tin, những điều chúng ta tin/biết là đúng, được Thiên Chúa dạy bảo qua Giáo Hội. Tin xét như hành vi nhân linh, có đối tượng là ngôi vị mà chúng ta tin tưởng (ngôi vị nhân linh) hay phó thác tuyệt đối (Thiên Chúa).
Lời, theo tiếng Hy Lạp, vừa có nghĩa là lời vừa có nghĩa là lư trí. Vạn sự vạn vật như lời, qua đó, lư trí biết. Một hành vi tự do luôn hàm chứa lư trí và ư chí. Không có lư trí, không có tri thức, và như vậy không có tự do.
Tri thức, luôn hàm chứa lư trí. Không
có tri thức nếu không có lư trí. Không có lư trí, người
ta không biết được. Tin cũng là biết,
nhưng không chỉ là hành vi của lư trí, nhưng của ư
chí nữa. Không có lư trí, cũng không thể tin.
Ngũ quan, giúp con người giao tiếp
với thực tại. Với những kinh nghiệm, qua lư
trí, con người biết những định luật chi
phối vạn vật tự nhiên. Với vũ trụ vạn
vật như lời, dấu chỉ, người ta nhận
biết Thiên Chúa.
Con người biết Thiên Chúa qua/nhờ/bằng
lư trí của ḿnh. Không nhờ lư trí, con người không có
tri thức, và không biết Thiên Chúa.
Để có hành vi biết, hàm chứa
phải có chủ thể biết, đối tượng
biết, và lời diễn tả thực tại. Hành vi biết
cũng hàm chứa chủ thể biết, lời diễn tả
thực tại, và chính thực tại có tương quan hữu
cơ với nhau.
Đứng trước một thực
tại, tôi có thể biết về thực tại, và tôi
dùng lời diễn tả tri thức. Thực tại có thể
ở ngoài tôi, chẳng hạn một cảnh đẹp mà
tôi đă thăm viếng, nhưng tri thức là của tôi,
là một với tôi. Tôi có thể diễn tả về thực
tại đó bằng lời (nói) hoặc bằng viết
ra. Lời được viết ra là của tôi, và một
khi được viết ra cũng có thể độc lập
với tôi.
Tôi biết, và tôi dùng lời để
diễn tả tri thức của tôi; tuy nhiên kinh nghiệm
cho chúng ta thấy nhiều khi lời không diễn tả trọn
vẹn cái biết của chúng ta. Lời của tôi diễn
tả tri thức của tôi về thực tại, nhưng
tri thức và lời của tôi về thực tại cũng
không trùng nhất với nhau.
Qua lời về thực tại của
ai đó, tôi có thể biết thực tại. Chẳng hạn
những bài viết về Đức Giáo Hoàng, giúp tôi biết
về Đức Giáo Hoàng. Lời giúp chủ thể biết
về thực tại qua những lời về thực tại
đó.
Lời có thể là vạn sự vạn
vật, như dấu chỉ, để một người
có thể nhận ra Đấng tạo hóa. Vạn sự vạn
vật có thể là dấu chỉ là lời để một
người nhận ra Thiên Chúa (hiện hữu). Đứng
trước con người yêu thương nhau, người
ta có thể nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu
thương. Con người thông minh, người ta nhận
ra Thiên Chúa là Đấng toàn tri, v.v…
Lời giúp tôi biết về thực
tại.
Lời diễn tả tri thức qua
phán đoán. Lời không trùng nhất với tri thức. Tri
thức không trùng nhất với thực tại (trừ phi
Lời Thiên Chúa là chính Thiên Chúa).
Lời của người ta về
tôi không là tôi. Tôi có thể bị ảnh hưởng bởi
lời của người ta.
Người ta có thể có phán đoán
về ai đó. Đó là phán đoán của người ta;
và phán đoán/tri thức này có thể đúng hay sai. Tri thức
của người ta về tôi không là một với tôi. Lời
về thực tại và thực tại, là hai hiện hữu.
Người ta nói không hay không tốt về tôi, không có nghĩa
là tôi không tốt.
Chân lư và sự thật được nhiều người hiểu đồng nghĩa với nhau, trùng khít với nhau, là một; tuy nhiên chân lư là thuộc tính của một phán đoán, của một mệnh đề. Phán đoán là hữu thể của lư trí. Sự thật là thực tại, là hữu thể độc lập với lư trí của con người.
Phán đoán là tri thức, được
diễn tả bằng lời, bằng mệnh đề.
Một phán đoán có thể đúng hoặc sai. Chân lư là sự
tương hợp giữa lư trí và thực tại.
Tôi biết, nhưng tri thức này,
được diễn tả bằng một mệnh đề,
có thể đúng hay không đúng. Một mệnh đề
diễn tả một phán đoán đúng, gọi là chân lư.
Định tín “Đức Maria là Đấng vô nhiễm
nguyên tội” và “Đức Giêsu là người thật và là
Thiên Chúa thật” là chân lư đối với Kitô hữu.
Để biết một phán
đoán/tri thức/mệnh đề có đúng không, có là
chân lư không, cần tiêu chuẩn là thực tại. Thực tại
hay sự thật là tiêu chuẩn quy chiếu. Mệnh đề,
ư kiến, phán đoán “anh X cao 1,9 mét” là đúng hay sai, có tiêu
chuẩn là thực tại/sự thật “anh X.”
Tri thức của một người,
thuộc về người đó. Lời được
phát biểu ra, thuộc về người phát biểu và cũng
có thể độc lập với người phát biểu.
Lời được phát biểu, diễn tả tri thức,
có thể đúng hoặc sai, có thể là chân lư hay không.
Để biết một lời, một mệnh đề
(được phát biểu) đúng hay sai, là chân lư hay không,
cần thực tại/sự thật làm tiêu chuẩn.
Đúng hay sai, là thuộc tính của mệnh
đề, của lời, của phán đoán, của tri thức.
Tri thức, phán đoán là hữu thể của hiện hữu
ngôi vị, không độc lập với hiện hữu
ngôi vị. Sự thật hay thực tại, là hiện hữu
độc lập với hữu thể tri thức (thể
tri).
Một mệnh đề, cho dù là
đúng, là chân lư, vẫn có thể bị hiểu không
đúng. Chúng ta có thể thấy điều này nơi công
thức định tín Đức Giêsu đồng bản
thể với Thiên Chúa. Có nhiều người thuộc
trường phái Arius hoặc Semi-Arius vẫn muốn hiểu
là nếu nói Đức Giêsu đồng bản thể với
Thiên Chúa th́ sẽ làm cho người ta hiểu là có hai Thiên
Chúa, nên họ đề nghị dùng chữ Omoiousios.
Cũng có những đoạn Kinh
Thánh (Kinh Thánh là Lời Chúa và như vậy không sai lầm)
bị hiểu lầm, chẳng hạn Ga 14:28 bị Arius và
những người theo lập trường của ông dựa
vào để nói Đức Giêsu thấp kém hơn Thiên Chúa
(theo hữu thể), và như vậy, Đức Giêsu không
ngang hàng với Thiên Chúa, không là Thiên Chúa thật. Một mệnh
đề đúng, một chân lư, vẫn có thể bị hiểu
sai. Kinh Thánh vẫn có thể bị hiểu sai, bị giải
thích sai.
Một mệnh đề, một phát
biểu bị hiểu sai, được đính chính bởi
người phát biểu mệnh đề đó. Kinh Thánh nếu
bị hiểu sai, sẽ được Giáo Hội, hiểu
như được Thánh Thần dùng, để giải
thích đúng ư Thiên Chúa như là tác giả của Kinh Thánh.
V́ chúng ta không thấy không nghe Thiên Chúa
(là Đấng thiêng liêng) bằng con mắt và lỗ tai bằng
xương bằng thịt của ḿnh, nên Giáo Hội giúp
ta hiểu đúng Kinh Thánh. Cũng tương tự vậy
trong lănh vực phân định thiêng liêng, những ǵ người
phân định cho là thánh ư Thiên Chúa cho họ, cũng phải
không được đi ngược với những ǵ
Giáo Hội hiểu về Thiên Chúa.
Với lời phát biểu thuộc phạm
vi trần thế, thực tại trần thế là chuẩn
quy chiếu để nhận biết phát biểu đó
đúng hay sai. Nơi phân định thần loại, nhận
định các thần, phân định thiêng liêng, th́ Kinh
Thánh, lời giải thích của Giáo Hội, truyền thống
Kitô giáo, là quy chuẩn để giúp xác định điều
ǵ đó là thánh ư Thiên Chúa (cho tôi).
“Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.”
Người già có nhiều kinh nghiệm, có thể nói cho ta
biết những ǵ ḿnh chưa biết. Em bé nói thật, khi
muốn biết chuyện ǵ xảy ra trong nhà, hỏi em bé
th́ sẽ biết chuyện, v́ em bé không che dấu. Nhưng
câu tục ngữ đó đúng tới mức nào?
Chuyện “miếu vợ chàng
Trương” nói với chúng ta nhiều điều. Người
chồng đi lính xa nhà khi con anh ta c̣n thơ bé chưa biết
anh ta. Lâu sau người chồng trở về, trùng lúc
người mẹ đi vắng, gặp con và nhận ḿnh
là cha của em bé; em bé nói không phải, nói đêm cha mới
về. Người chồng hiểu lầm, ghen. Khi vợ
về người chồng kết tội vợ. Người
vợ không thể minh oan nên đă trầm ḿnh tự tử.
Tối đến khi người cha đốt đèn dầu,
em bé chỉ bóng nói đó là cha ḿnh. Người chồng vỡ
lẽ, t́m vợ nhưng đă trễ…
Biết, cái biết này có đúng không,
và nếu đúng th́ đúng đến mức độ
nào? Tri thức không đồng nhất với chủ thể
biết, cũng không đồng nhất với đối
tượng biết!
Tri thức rất quan trọng. Biết
đúng, sống đúng, sẽ giúp người ta hạnh
phúc đời này lẫn đời sau. “Sự sống
đời đời là nhận biết Thiên Chúa chân thực
và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17:3).
Biết những điều Thiên Chúa
làm, là biết Thiên Chúa. Thiên Chúa mặc khải chính Ngài, tỏ
lộ ư muốn của Ngài cho con người. Biết ư
định của Thiên Chúa, cũng là biết Thiên Chúa.
Con người biết Thiên Chúa qua vũ
trụ vạn vật xét như là mặc khải tự
nhiên. Hơn nữa, Thiên Chúa yêu thương con người,
Ngài mặc khải. “Thầy không c̣n gọi các con là tôi tớ
v́ tôi tớ không biết việc chủ làm, nhưng Thầy
gọi các con là bạn hữu v́ những ǵ Thầy nghe biết
nơi Cha Thầy th́ Thầy cũng cho các con biết” (Ga
15:15).
Dưới đây xin tŕnh bày tri thức
căn bản về Thiên Chúa mà một người cần
có để làm phân định thiêng liêng, để có phán
đoán giống như Thiên Chúa.
Thiên Chúa là t́nh yêu. V́ yêu thương, Thiên Chúa tạo dựng con người. Thiên Chúa tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa: có tri thức, biết yêu thương, bá chủ cá biển chim trời, nghĩa là làm chủ vũ trụ vạn vật chứ không làm nô lệ tạo vật[4].
Thiên Chúa yêu thương con người.
Ngài muốn cho mọi người được cứu
độ và nhận biết Thiên Chúa (1Tm 2:4). Sự sống
đời đời là chúng nhận biết Thiên Chúa và
Đấng Ngài sai là Đức Giêsu Kitô.
Thiên Chúa là nhất, con người
được quư trọng chỉ sau Thiên Chúa. Yêu mến
Thiên Chúa hết linh hồn hết trí khôn hết sức lực,
và yêu mến anh em như chính ḿnh[5].
Chính cái biết, tri thức “Thiên Chúa
yêu thương con người vô cùng” làm cho con người
tin tưởng, b́nh an, hạnh phúc. Không có cái biết này,
con người khó có thể sống an b́nh hạnh phúc nếu
không muốn nói là không thể.
Để mặc khải Thiên Chúa là
t́nh yêu, Thiên Chúa đă tuyển chọn Abraham và dân tộc Do
Thái. Qua t́nh yêu đối với dân Do Thái và đặc biệt
qua Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Ngài yêu thương mọi
dân tộc. Thiên Chúa đă đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập
và dẫn dân vào Đất Hứa. Thiên Chúa ban luật cho
dân Do Thái qua Môsê trên núi Sinai[6].
Luật thập giới, mười
Lời Thiên Chúa ban cho dân Do Thái, là quà tặng vô giá Thiên Chúa
ban cho con người. Thập giới bảo vệ sinh mạng
và quyền lợi của con người, của mỗi
người, của tôi. Không chỉ là tôi không được
giết người, mà người khác không được
làm tổn thương tôi và không được xâm phạm
quyền lợi của tôi.
Thánh ư của Thiên Chúa được
diễn tả qua thập giới. Các ngôn sứ, là những
người nói Lời Chúa cho dân. Thiên Chúa muốn sao, các
ngôn sứ nói như vậy với dân[7].
Các ngôn sứ giúp dân Chúa hiểu biết hơn về Thiên
Chúa t́nh yêu, Đấng kư kết và luôn giữ giao ước
với Dân. Ngôn sứ cũng giúp dân biết về chính họ
hơn, đặc biệt khi họ không tuân giữ giao
ước, không tuân giữ thập giới như điều
kiện giao ước.
Thiên Chúa đă can thiệp vào ḍng lịch
sử của dân tộc Do Thái khi giải phóng dân Do Thái khỏi
ách nô lệ bên Ai Cập, và vào thời cánh chung, Ngài đă
cho Con Ngài nhập thể làm người. “Ngày xưa nhiều
lần nhiều cách Thiên Chúa nói với chúng ta qua các tiên tri
nhưng đến thời sau hết Ngài nói với chúng ta
qua người Con” (Dt 1:1-2).
Một hài nhi sinh tại Bê Lem, được đặt tên Giêsu, sống ở Nadarét, và rao giảng ba năm nơi đất nước Do Thái thời tổng trấn Philatô. Khi rao giảng, Ngài nhận Ngài có quyền tha tội (Mc 2:5.7), có trước Abraham dù Ngài chưa được 50 tuổi (Ga 8:57-58), là một với Thiên Chúa (Ga 10:30), ngang hàng với Thiên Chúa (Mc 14:62). Người đă bị kết án tử h́nh thời Philatô làm tổng trấn Giuđêa.
Sau khi Ngài được mai táng ba ngày nhiều người đă nói đă thấy Ngài. Những người này rao giảng rằng Ngài đă sống lại. Các môn đệ của Ngài nhớ lại những ǵ Ngài đă nói, và tin Ngài đúng là Đấng như Ngài đă nói về Ngài: Ngài là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, là Thiên Chúa nhập thể.
Với biến cố Đức Giêsu, và với niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, các tông đồ tin rằng “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă cho Con Ngài nhập thể để những ai tin vào Người Con đó, sẽ được sống muôn đời” (Ga 3:16).
Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8.16).
Khi Đức Giêsu rao giảng, Ngài dạy người ta yêu thương. Không chỉ yêu thương tha nhân như yêu thương chính ḿnh (Lv 19:18; Mt 22:39), mà yêu thương tha nhân như Đức Giêsu đă yêu thương: “anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em” (Ga 13:34).
Thiên Chúa là t́nh yêu. Ai yêu thương th́ biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa v́ Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8). Không ở trong Thiên Chúa, không yêu thương như Thiên Chúa, th́ không biết Thiên Chúa, không biết ư định của Thiên Chúa, không biết ư muốn của Thiên Chúa, và như vậy không thể làm phân định được.
Đức Giêsu không chỉ dạy mà Ngài c̣n sống điều Ngài dạy. Ngài dạy người ta về tám mối phúc (Mt 5:1-12).
Người đời cho rằng giầu có địa vị là mối phúc, c̣n Đức Giêsu lại cho rằng nghèo, đặc biệt là tinh thần nghèo khó, không bám víu vào của cải hoặc tạo vật, mới là mối phúc. Không chỉ dạy mà Ngài sống. Ngài có cha có mẹ thuộc thành phần nghèo, là Đức Mẹ và thánh Giuse; Ngài sinh ra trong cảnh nghèo hèn nơi chuồng chiên cừu ở Bê Lem; Ngài phải đói phải khát khi rao giảng, chết trần trụi trên thập giá, chôn nhờ mộ của người ta…
“Phúc cho kẻ bị bách hại v́ sống công chính, v́ nước trời là của họ. Phúc cho các con khi v́ Thầy mà bị sỉ nhục khinh chê, hăy vui mừng …” Đức Giêsu đă bị người ta kết tội phạm thượng v́ khi chữa người bại liệt Ngài nói “tội anh đă được tha” (Mc 2:5-7), v́ Ngài nhận ḿnh có trước Abraham (Ga 8:58), v́ Ngài nói Ngài và Cha là một (Ga 10:30), khi nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa (Mc 14:62). Ngài bị người ta ghét muốn giết (Mc 3:6); Ngài bị nói là người quỷ ám (Mc 3:22), người mất trí (Mc 3:21), kẻ tội lỗi (Ga 9:24).
Con đường Đức Giêsu đi là con đường thập giá. Chấp nhận sỉ nhục khinh chê, là đi trên con đường Đức Giêsu đă đi, là đang đi trên đường thập giá với Đức Giêsu. Đức Giêsu không đi t́m thập giá. Thập giá là cây gỗ người ta đặt lên vai Đức Giêsu và Ngài phải vác, không thể không vác.
Thập giá không chỉ được hiểu là cây gỗ người ta đặt lên vai Đức Giêsu và Ngài phải vác, nhưng cũng được hiểu là những trái ư trong cuộc sống, những hành vi và cách cư xử không tốt hoặc ác ư của người đương thời đối với Đức Giêsu. Muốn hay không điều đó vẫn xảy ra, vẫn tới, không thể tránh khỏi khi đang sống trên dương thế. Đó là thân phận của con người với thân xác mà không ai thoát được. Đức Giêsu đă chấp nhận tất cả những điều ấy.
Lịch sử kể cho chúng ta nhiều điều: chuyện Cain giết Abel, chuyện xích mích giữa người làm cho ông Lót và Abraham, chuyện những người anh của Giuse bán Giuse sang Ai Cập, Giêrêmia bị người ta hăm hại, Gioan Tẩy Giả bị giết, Đức Giêsu bị ghét và bị giết, các Kitô hữu bị bách hại, và kinh nghiệm sự dữ trong cuộc đời chúng ta. Đối diện với những chuyện tương tự, nếu xảy ra cho chúng ta, chúng ta phải hành xử như thế nào? Đức Giêsu là câu trả lời, Ngài là mẫu mực của chúng ta.
Thánh
Thần luôn ở với chúng ta: “Thầy sẽ xin Chúa Cha,
và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ
khác, để Ngài ở với anh em luôn măi” (Ga 14:16). Chúa
Giêsu Phục Sinh đă ban Thánh Thần cho các tông đồ
ngay buổi chiều thứ nhất khi Ngài sống lại
(Ga 20:22).
Chúa
Thánh Thần giúp các tông đồ nhớ lại những ǵ
Đức Giêsu khi c̣n sống đời tại thế
đă mặc khải cho các tông đồ mà các Ngài chưa
hiểu (Ga 14:26; 16:12-13). Chính Thánh Thần cũng biến
đổi các tông đồ, và làm các tông đồ làm chứng
Đức Giêsu đă phục sinh, làm chứng Đức
Giêsu là Thiên Chúa (Cv 2:1-18.22-24.32-36).
Nhờ
Thánh Thần, tín hữu tin Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Cor
12:3). Chúa Thánh Thần cũng giúp họ nhận ra tiếng
Chúa mời gọi, và giúp họ sống như Thiên Chúa mong
muốn.
Hăy làm
lành, lánh dữ. Đó là tiếng lương tâm, tiếng
Chúa đặt nơi tâm hồn mỗi người mà chúng
ta phải vâng nghe. Không được làm trái tiếng
lương tâm.
Thiên
Chúa cũng đă nói với con người qua lịch sử
dân Do Thái, qua thập giới được ban trên núi Sinai.
Thập giới, mười lời, là giới răn, là luật
Chúa truyền cho con người. Ai cũng phải tuân giữ
thập giới. Lương tâm và thập giới không mâu
thuẫn nhau.
Kinh
Thánh, Lời Chúa được ghi lại cho con người,
cho thấy Thiên Chúa nói với người ngày xưa, và cũng
nói với con người hôm nay. Qua Lời Chúa, hôm nay, cũng
có thể Chúa đang mời gọi chúng ta.
Những
biến cố xảy tới, lời của người
này người kia, có thể diễn tả thánh ư của
Thiên Chúa cho con người. Để có thể nhận ra
thánh ư Thiên Chúa, con người cần đồng h́nh đồng
dạng với Đức Giêsu, cần nên một với
Thiên Chúa, cần Thánh Thần giúp đỡ.
Chúa
Thánh Thần luôn ở trong tâm hồn chúng ta (1Cor 3:15-16; 6:19)
Ngài dạy chúng ta cầu nguyện (Rm 8:26), Ngài dạy chúng
ta phải nói ǵ (Mc 13:11), Ngài trợ giúp chúng ta.
Thiên
Chúa mặc khải cho chúng ta nhờ Thần Khí. Nhờ Thần
Khí chúng ta xét đoán được mọi sự[8].
Chúng ta được mời gọi để lắng nghe
và sống theo Thần Khí; nếu chúng ta sống theo Thần
Khí, chúng ta sẽ b́nh an, hoan lạc, yêu thương[9].
Chúa
Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu th́ thổi; ông nghe tiếng
gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi
đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra th́ cũng vậy"
(Ga 3:8). Thiên Chúa không bị lệ thuộc vào khuôn khổ do
con người định đoạt. Thiên Chúa tự do,
Ngài có cách của Ngài. Chúng ta cần luôn lắng nghe để
nhận ra điều Thiên Chúa muốn về chúng ta, để
rồi đem ra thực hành.
Ư muốn của Thiên Chúa được
thể hiện trong lịch sử cứu độ. Thiên
Chúa thông tri ư định của Ngài cho Adam và Eva: đừng
ăn cây ở giữa vườn, ăn th́ chết. Thánh ư
Thiên Chúa được thể hiện qua tiếng
lương tâm, qua thập giới, qua Kinh Thánh, và đặc
biệt nơi Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa nhập thể.
Thiên Chúa là t́nh yêu, Ngài muốn con
người yêu thương nhau. Đức Giêsu muốn con
người yêu thương nhau như Đức Giêsu (Ga
13: 34-35). Thiên Chúa muốn mọi người được
cứu độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4).
Với tôi, trong trường hợp cụ
thể này, Thiên Chúa muốn tôi chọn ǵ? Ngài muốn tôi làm
ǵ? Ngài muốn tôi sống như thế nào?
Eva trúng bẫy thần dữ. Thần dữ xuyên tạc: “có phải Thiên Chúa cấm các người ăn trái cây trong vườn?” Thần dữ muốn con người nói chuyện với nó, để nó có thể cám dỗ con người. Nó dựa vào lời của con người, để cám dỗ: “Không chết chóc ǵ đâu. Sở dĩ Thiên Chúa cấm ăn trái cây đó, v́ khi ăn th́ ngươi thành thần” (St 3:4). Adam Eva đă thiếu nhận định, không ư thức rơ bản chất của kẻ đang nói chuyện với ḿnh để có phản ứng đúng đắn, để rồi nghi ngờ không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh, rồi làm điều nghịch với ư định của Thiên Chúa. Thế là tội.
Thần lành truyền tải cho con người ư định của Thiên Chúa (Lc 1:11-21. 26-38) và con người tự do đáp trả. Thái độ đúng đắn của con người đối với Thiên Chúa, là vâng phục. “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1:38).
Đức Giêsu không đối thoại với thần dữ, Ngài luôn nói “không” với thần dữ. Khi bị cám dỗ trong hoang địa, biến đá thành bánh, Ngài trả lời: “con người không chỉ sống nhờ bánh mà c̣n bởi mọi Lời Thiên Chúa phán” (Mt 4:4); khi bị cám dỗ nhảy từ đỉnh đền thờ xuống, Ngài trả lời: “chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi” (Mt 4:7); khi bị cám dỗ bái thờ thần dữ, Ngài đă nói: “xéo đi, Satan, v́ chỉ phải thờ lạy một Thiên Chúa mà thôi” (Mt 4:10). Satan xuất hiện với Đức Giêsu như kẻ luôn chống lại Thiên Chúa. Đức Giêsu đă thẳng thắn chống trả.
Thánh Inhaxiô dạy phải làm ngược lại (agere contra) điều thần dữ muốn (LT 350).
Vua Salomôn đă được
ơn khôn ngoan để phân biệt lành dữ, tốt xấu.
Biện phân là một ơn Thiên Chúa ban. “Xin Chúa ban cho tôi tớ
Chúa tâm hồn ngoan ngoăn (biết lắng nghe) để
đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ” (1V 3:9).
“Ngươi đă không xin … nhưng xin cho được
tài phân biệt để xét xử, th́ Ta ban cho ngươi
một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn…” (1V 3:11-12). Phân định các thần là một ơn[10].
Salomôn dù được trí thông minh nhưng vẫn phạm tội. Con người luôn luôn tự do. Tri và hành không luôn đồng nhất nơi con người.
Môsê đă dạy người ta biết nhận ra thánh ư Thiên Chúa, rồi chọn người tài đức giúp dân nhận ra thánh ư Thiên Chúa[11].
Ngay thời thánh Gioan Tông Đồ,
phân định đă là việc khẩn thiết. Một số
người đă giảng dạy không đúng về Đức
Giêsu. Phải phân định, không phải thần khí nào cũng
tin, phải cân nhắc, phân định[12].
Đức Giêsu trách người
đương thời: thời tiết mây mưa các
ngươi biết nhận định, nhưng những dấu
chỉ Con Người làm, họ lại không biết nhận
định[13].
Đức Giêsu đă phân định
khi bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11; Lc 4:1-13), tại
vườn dầu: xin đừng theo ư con nhưng Ư Cha nên
trọn (Mt 26:36-46). Chính v́ giờ này mà con đến (Ga
12:27).
Ngay khi yêu cũng phải phân định
(discreta caritas) v́ nếu không, thay v́ giúp người th́ lại
hại người. Nh́n em bé khổ trong tay một người
ăn xin, động ḷng thương bố thí; nhưng có
biết khi ta động ḷng thương như vậy
đă làm bao em bé bị hành khổ v́ những người lợi
dụng các em bé để ăn xin.
Cần phân định v́ quỷ cũng
đội lốt thiên thần sáng láng (2Co 11:14), v́ có những
ngôn sứ giả đội lốt chiên mà đến (Mt
7:15), v́ ma quỷ thế gian xác thịt ảnh hưởng
trên con người (1Ga 2:15-17; 5:18-19), v́ có những tông đồ
giả, thợ gian xảo đội lốt tông đồ[14].
Cần phân định v́ cỏ lùng lẫn
với lúa, người dữ lẫn kẻ lành lẫn lộn[15].
Để có thể phân định nhận
biết thánh ư Thiên Chúa, cần người đó phải
nên giống Thiên Chúa: biết Thiên Chúa, có tương quan thân
thiết với Thiên Chúa, luôn nh́n ngắm Thiên Chúa để
biết đường lối của Thiên Chúa, thân quen cung
cách hành xử của Đức Giêsu. “Đường lối
của Ta không như đường lối của các
ngươi, tư tưởng của Ta cũng không như
tư tưởng của các ngươi. Như trời cao
hơn đất bao nhiêu, đường lối của Ta
cũng vượt trên đường lối của các
ngươi” (Is 55:8-9).
Họ phải là người giữ các giới răn (1Ga 2:3-5), đặc biệt giới răn yêu thương (1Ga 2:9-10), phải đi con đường Đức Giêsu đă đi (1Ga 2:6), và tin Đức Giêsu (1Ga 4:2-3).
Theo thư Do Thái, người trưởng
thành là người có thể phân biệt điều lành
điều dữ[16].
Người trưởng thành có thể phân định.
Để phân định, chúng ta phải
là người sống theo Thần Khí[17].
Được Thánh Thần giúp đỡ, chúng ta suy nghĩ
và chọn lựa như Thiên Chúa, hàm chứa chúng ta có thể
phân định nhận ra thánh ư Thiên Chúa[18].
Phân định để biết
thánh ư Thiên Chúa, để biết Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ.
Cứ sự thường, nếu tôi không là một với
Thiên Chúa trong tư tưởng, phán đoán, lời nói, hành
động, lối sống, th́ khó có thể, nếu không muốn
nói là không thể, nhận ra ư định của Thiên Chúa.
Ai nói yêu Chúa mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga
4:20; 2:9; 3:10).
Làm sao để biết một
người phân định đúng hay sai? Đâu là dấu
chỉ cho biết một người đă làm việc phân
định đúng đắn? Một
khi phân định đúng, người ấy sẽ sống
yêu thương (Ga 13:35) như Chúa dạy, sẽ được
b́nh an (Ga 14:27), sẽ sống b́nh an hoan lạc nhân hậu
tiết độ (Gl 5:22-23), và tin Đức Giêsu là Thiên
Chúa (1Ga 4:2).
Linh đạo, con đường
đến với Thiên Chúa. Khi nói về
thời gian Linh Thao, thánh Inhaxiô nói Thiên Chúa dạy ngài như
người Thầy dạy học tṛ (TT 27). Linh đạo
Inhă, con đường đến với Thiên Chúa của
Inhaxiô, được thấy đặc biệt nơi
Linh Thao. Có thể nói về linh đạo
như cơ cấu và linh đạo như nội dung với
điểm nhấn đặc thù.
Linh đạo như cơ cấu,
như những phương thế hay cách thức người
ta gặp gỡ Thiên Chúa. Người ta có thể gặp gỡ
Thiên Chúa qua lănh nhận các bí tích, và đặc biệt tham dự
Thánh Lễ, qua cầu nguyện với Lời Chúa, lần
chuỗi Mân Côi, qua hồi tâm xét ḿnh. Có thể nói mọi
linh đạo đều dùng cùng những phương thế:
Thánh Lễ, cầu nguyện, hồi tâm xét ḿnh, kinh phụng
vụ, v.v.
Linh đạo có thể
được đề cập tới như nội dung
với nét đặc thù của mỗi linh đạo. Mọi
linh đạo Kitô giáo đều quy Kitô. Tất cả cho
vinh danh Chúa hơn, t́m Chúa trong mọi sự, b́nh tâm, hơn
hơn nữa, ao ước nên đồng h́nh đồng
dạng với Chúa, … là những nét đặc trưng của
linh đạo Inhă.
Con
người cần có cái nh́n đúng đắn về Thiên
Chúa, con người và vũ trụ.
Thiên
Chúa là nguyên lư và nền tảng của tất cả, Ngài
yêu thương con người, Ngài tạo dựng vũ trụ
vạn vật để phục vụ con người,
để con người dùng chúng như phương tiện
đến với Thiên Chúa.
B́nh
tâm không đơn thuần là dửng dưng trước mọi
sự, nhưng chủ yếu là chọn
Thiên Chúa trên tất cả. Bất
cứ điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh chọn;
c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh không ham muốn
điều này hơn điều kia; chẳng hạn, nếu
làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không chọn giầu sang
hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ nhục, sống
lâu hơn chết yểu, v.v... (LT 23).
Chọn Thiên Chúa trên tất cả,
chọn làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là
điểm chính yếu của b́nh tâm.
Làm sao để mỗi người cảm thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ khác trong cuộc sống của ḿnh. Một khi người ta cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương người ta vô cùng th́ người ta sẵn sàng vâng phục những ǵ Thiên Chúa muốn cho người ta. Qua cầu nguyện, với Lời Chúa, người ta được đào luyện để có cái nh́n như Thiên Chúa muốn. Dưới đây là những đoạn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện hầu có cái nh́n và thái độ b́nh tâm:
Con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St
1:1-2:4a);
Con người là ai (Tv 8);
Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);
Các bạn t́m ǵ (Ga 1:35-51);
Này Ta đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 17:23.20; 3:16; 13:1; 15:9.13; 14:16;
15:26; 14:23);
Chương tŕnh “Giêsu Kitô” (Eph 1:3-14);
Chấp hết (Rm 8:31-39);
Thiên Chúa Quan Pḥng (Mt 6:25-34);
Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34);
B́nh Tâm (LT 23).
Làm
sao để mỗi người thấy sự xấu xa
ác hại của tội và nhận biết thực rằng
ḿnh là tội nhân.
Nhận
biết rơ về chính ḿnh và thân phận hèn yếu của
ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có người cho rằng
ḿnh không có tội, ḿnh chẳng phạm tội ǵ! Cũng có
người cho rằng ḿnh là một tội nhân, nhưng ai
mà không phạm tội, bản tính[19]
con người mà! Nếu người nào suy nghĩ như
vậy, th́ họ sai lầm! Tội là hành vi tự do của
con người, tôi cố t́nh
làm điều tôi thấy
tôi không nên làm và không được
phép làm. Chính hành vi tự do “cố t́nh làm điều tôi
không được phép làm,” đă làm biến dạng con
người tôi, khiến tôi không c̣n đẹp như
trước nữa, khiến tôi không c̣n dễ thương
và đáng yêu như trước nữa. Do phạm tội,
tôi đă làm mất phẩm giá con người ḿnh, và làm tôi
“xấu như qủy.”
Tội
không phải là thực tại ngoài ḿnh, nhưng do ḿnh mà ra,
là chọn lựa tự do của ḿnh. T́nh trạng tội
là hậu qủa chọn lựa cố
t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm thành.
Thiên
Chúa muốn con người luôn sống yêu thương,
để mỗi ngày một đẹp hơn, dễ
thương hơn và tự do hạnh phúc hơn. Không làm
theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những ǵ lương
tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không làm theo ư Thiên
Chúa.
Tội
là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ là
không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc phạm đến Thiên
Chúa, không tin rằng Thiên Chúa
yêu thương ḿnh và muốn làm những điều tốt
lành cho ḿnh.
Thiên
Chúa yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là tội nhân (Rm
5:8). Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh
và ao ước trở về với Ngài, là yêu cầu mà mỗi
người làm Linh Thao phải đạt được
trong tuần thứ nhất.
Tội
là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu thương thuận
phục Thiên Chúa nữa. Hai người yêu nhau luôn muốn
làm hài ḷng nhau, họ không muốn làm trái ư nhau; chỉ một
hành vi làm người kia buồn, là họ đă lo lắng
và muốn chuộc lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ
là xúc phạm nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ
cảm thấy tội ḿnh thực nặng nề và muốn
trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu
thương nên Ngài luôn trông chờ chúng ta trở lại với
Người, và Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta
khi chúng ta thống hối.
Nh́n
về tội không nhằm làm chúng ta bị tê liệt hay bị
dằn vặt hoặc mặc cảm, nhưng để
giúp chúng ta thấy được t́nh yêu vô bờ của
Thiên Chúa khi Ngài tha thứ tội lỗi cho chúng ta.
Đứng
trước t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa và thấy ḿnh tội
lỗi thấp hèn như vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ? Thái độ đúng
đắn là sám hối xin Thiên Chúa thứ tha, và ao ước
khao khát bắt đầu một đời sống mới
với Thiên Chúa.
Khao
khát yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi,
ao ước bắt đầu một đời sống
mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của một người
thống hối thật sự.
Dưới đây là
những đoạn Kinh Thánh có thể giúp nhận biết
ḿnh và có thái độ đúng đắn đối với
Thiên Chúa:
Tội Adam và Eva (St 3:1-21);
Tội Cain (St 4:1-16);
Dân Do-thái thờ ḅ vàng (Xh 32);
Dân Do-thái vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);
Bất công (Am 8:4-10);
Israel bất trung (Gr 3:1-4:4);
Tội dân Do-thái (Br 1:15-3:8);
Tội dân ngoại (Rm 1:18-32);
Không yêu thương là tội (Mt 25:31-46);
Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1-41);
Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);
Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11);
Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);
Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50);
Lời nguyện thống hối (Tv 51/50);
Thiên Chúa là cha nhân từ (Lc 15:11-24).
Dù
chúng ta tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu
thương tha thứ tội lỗi và mời gọi chúng
ta cộng tác với Ngài để chinh phục thế gian,
để giúp con người nhận biết t́nh yêu vô cùng
của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta có
sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Thiên
Chúa không?
Chọn
Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên tất cả, kết hiệp
với thánh ư Thiên Chúa[20],
sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài
dù thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ
nhục, là yêu cầu của bài cầu nguyện này[21].
Những đoạn Kinh Thánh có thể dùng để giúp có thái độ sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi:
Lời mời (Lc 5:1-11);
Hăy là thánh (Lv 19:2);
Sứ mạng (Ga 20:21);
Ơn gọi Abraham (St 12:1-9);
Đáp trả trong vâng phục đức tin (St
22:1-10);
Ơn gọi Môsê (Xh 3:1-12);
Ơn gọi Samuel (1Sm 3:1-21);
Ơn gọi Ysaya (Is 6:1-13);
Ơn gọi Yêrêmya (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);
Người tôi tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49:1-6; 50:4-10;
52:13-53:12);
Ơn gọi Phaolô (Cv 9:1-25); ..............
“Xin hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng
đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo
Ngài” (LT 104), đó là mục đích yêu cầu của tuần
thứ hai Linh Thao.
Vô
tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́
sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết ở đây
không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng chủ yếu
là cái biết thâm sâu do được cảm nghiệm.
Thiên
Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến độ nhập
thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy,
tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên
Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp trả được
t́nh yêu.
T́nh
yêu được diễn tả cách cụ thể, chính
Thiên Chúa đă nhập thể để phục vụ con
người: “con người đến không phải để
được phục vụ, nhưng để phục vụ
và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều
người” (Mc 10:45); c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu
Thiên Chúa đây? Tôi phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.
Hiểu
Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó
là cách nói khác của cùng nội dung “để trở nên
đồng h́nh đồng dạng với đức Giêsu
Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ
cùng sống với Người, nếu ta cùng đau khổ
với Người, ta sẽ cùng thống trị với
Người” (2Tm 2:11-12; Rm 6:8), “tôi sống nhưng không c̣n
phải tôi sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài sống
trong tôi” (Gl 2:20).
Nên
giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là người mẫu của
chúng ta, Ngài là thần tượng, là Đấng mà chúng ta
phải bắt chước và quy chiếu về. Yêu
thương là trở nên một với nhau, nếu chúng ta
yêu thương Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa
Giêsu hơn.
Những bản văn Kinh Thánh giúp cầu nguyện để biết Lời Nhập Thể và nên giống Ngài hơn:
· Lời đă thành xác phàm
(Ga 1:1-18);
· Nhập thể là tự
hủy (Pl 2:6-11);
· Sinh bởi người
nữ (Gl 4:4-6);
· LT 101-109
· Lời nhập thể
được giáng sinh (Lc 2:1-20);
· Lời Thiên Chúa Nhập
Thể được cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);
· Đức Giêsu
được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40);
· Trốn sang Ai-cập (Mt
2:13-23);
· Đức Giêsu thời
thơ ấu (Lc 2:39-40);
· Đức Giêsu ở lại
đền thờ (Lc 2:41-50);
· Đức Giêsu sống một
thời gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).
· Đức Giêsu chịu
phép rửa (Mc 1:1-13);
· Đức Giêsu chịu
cám dỗ (Mt 4:1-11);
· Trọn ngày sống cho
Thiên Chúa (Mc 1:21-39);
· Đức Giêsu luôn t́m và
thực hiện Thánh Ư Cha (Ga 4:34);
· Mối phúc thật (Mt
5:1-12);
· Thái độ của dân
chúng đối với đức Giêsu (Mc 1:32-3:12);
· Thái độ của
người thân, kư lục và biệt phái đối với
đức Giêsu (Mc 3:20-30);
· Khủng hoảng sứ
vụ tại Galilê (Mc 4);
· Hạt giống âm thầm
mọc (Mc 4:26-29);
· Loan báo tin mừng bằng
trừ qủy (Mc 5-6);
· Các tông đồ không hiểu
đường lối của đức Giêsu (Mc 4;6);
· Đức Giêsu là Kitô (Mc
8:27-30);
· Con đường đức
Giêsu đi là con đường thập giá (Mc 8:31-33);
· Ai muốn theo tôi phải
vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);
· Con đường đức
Giêsu đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);
· Con đường đức
Giêsu đi: phục vụ (Mc 9:33-37);
· Con đường đức
Giêsu đi: yêu thương (Mc 12:28-34);
· Tinh thần của đức
Giêsu (Mc 9:38-41);
· Không muốn hiểu bài
học thập giá (Mc 10:32-45);
· Người mù được
sáng (Mc 10:46-52);
· Những người
không chấp nhận con đường đức Giêsu
đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);
· Đức Giêsu, con
người tự do (với bạc tiền, danh vọng,
t́nh duyên);
Một ơn rất lớn đối với người làm Linh Thao: ao ước nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu. Yêu Chúa ở mức độ thứ ba, ở mức độ khiêm nhường thứ ba, là ao ước nên giống Đức Giêsu trong khó nghèo và khổ nhục.
Trong
các bài cầu nguyện “ngày Inhă,” thánh Inhaxiô mời gọi
người làm Linh Thao nếu có thể, nài xin cho ḿnh yêu
Chúa và được đứng vào dưới cờ của
Chúa Giêsu bằng:
· ơn được
nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả được
ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa được tôn
vinh hơn;
· ơn chịu sỉ nhục
và khinh chê để bắt chước Chúa hơn nếu
điều này không gây dịp tội cho ai và không làm mất
ḷng Chúa.
Trong
bài cầu nguyện Hai Cờ, thánh Inhaxiô dạy chúng ta xin
ơn nhận biết
mưu mô của kẻ thù và ơn
trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời sống
chân thực mà Chúa dạy cùng ơn
để bắt chước (LT 139). Trong bài Ba Mẫu
Người, chúng ta xin ơn chọn
điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152). Trong bài suy gẫm
về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh để ḿnh bắt chước và phục vụ Chúa hơn (LT
168).
Như
vậy chúng ta đi từ nhận thức, đến chọn,
và sống nghèo cùng sỉ nhục khinh chê v́ t́nh yêu đối
với Đức Giêsu Kitô.
Các
bài cầu nguyện ngày Inhă giúp hiểu biết hơn về
con người của chúng ta: xem chúng ta đă nhận thức
về con đường của đức Giêsu như thế
nào, và xem chúng ta có dám chọn theo đức Giêsu nghèo và bị
sỉ nhục không, xem chúng ta có sẵn sàng sống như
Chúa Giêsu đă sống không?
Những bản văn Kinh Thánh có thể giúp để biết, chọn, và sống như Chúa:
Hai con đường (Tv 1);
Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31);
Định mạng đức Giêsu (Mc 10:32-34);
Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);
Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28).
Đức Giêsu đối diện biến cố khổ
nạn với tất cả sự run sợ như chúng ta
mọi đàng, nhưng Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu
thương Cha và yêu thương con người.
Người
yêu Chúa Giêsu muốn đi vào tâm t́nh của đức Giêsu
trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời
tại thế này. Ngài tê tái ḷng biết bao khi thấy một
người thân yêu phản bội và nộp Ngài: t́nh yêu của
Ngài bị từ khước, bị phản bội. Ngài
đă ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt
trong vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho
đến chết mà không oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của
đức Giêsu, và ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà
đức Giêsu đă chấp nhận tất cả những
sự ấy.
Hiểu
Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn. Chúa đă chết v́
yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái độ nào đối
với Người yêu tôi dường ấy?
Xin
cho ḿnh hiểu nỗi đau buồn của Chúa (Ga 13; Mc
14). Xin cho ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu của
Chúa đối với ḿnh; và xin cho ḿnh yêu lại Chúa đến
độ ao ước được chia sẻ nỗi
đau buồn của Chúa, muốn được đồng
h́nh đồng dạng với Đấng yêu thương
ḿnh vô cùng như vậy.
Thánh
Inhaxiô dạy: “xin cho ḿnh được đau đớn,
hối hận và xấu hổ, v́ chính bởi tội tôi mà
Chúa phải bị khổ h́nh như vậy” (LT 193); “xin cho
ḿnh được đau đớn với Chúa Kitô thống
khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô tan nát tâm hồn,
được ơn khóc lóc và đau đớn trong ḷng v́
bao đau đớn mà Chúa Kitô đă chịu v́ tôi” (LT 203).
Những đoạn Kinh Thánh sau có thể giúp yêu Chúa
và nên giống Chúa hơn:
· Âm mưu giết đức
Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);
· Làm sao Ta có thể quên
ngươi (Hs 11:1-9);
· Ta tự ḿnh hiến mạng
sống Ta (Ga 10:17-31);
· Yêu thương là phục
vụ (Ga 13:1-17);
· Yêu thương là hiến
dâng (Lc 22:14-20);
· Hăy tin Thầy, hăy yêu Thầy
(Ga 14:1-15:8);
· Hăy ở lại trong t́nh
yêu Thầy (Ga 15:9-17);
· Báo trước Phêrô chối
Thầy (Mc 14:26-31);
· Đức Giêsu chiến
đấu với chính ḿnh ở vườn dầu (Mc
14:32tt);
· Yuđa nộp Thầy bằng
“dấu chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);
· Đức Giêsu bị xử
trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);
· Phêrô chối Chúa (Mc
14:66-72);
· Đức Giêsu bị xử
trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);
· Đức Giêsu trước
ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);
· Con đường t́nh
yêu (Mc 15:15-32);
· Đức Giêsu trên thập
giá (Mc 15:33-41);
· Đức Mẹ dưới
chân thập giá (Ga 19:25-27);
· Chứng nhân thinh lặng;
· Sinh th́ và táng xác (Mc
15:37-47);
· Tâm t́nh của những
người yêu thương đức Giêsu trong những
ngày khổ nạn;
· Tv 22;
· Đức Giêsu, người
tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12);
· Đức Giêsu chu toàn sứ
mạng dù phải chết thập giá (Pl 2:6-11).
Tươi
vui triển nở phải là thái độ b́nh thường
của Kitô hữu. Niềm
Niềm
hân hoan và vui mừng này không ai có thể lấy mất
được, v́ “dù thiên thần thiên phủ, dù hiện tại
tương lai, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ
tạo vật nào khác, không có ǵ có thể tách tôi ra khỏi
t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Rm 8:38-39).
Bản văn Kinh Thánh có thể dùng để giúp tin Chúa Phục Sinh, và để có niềm vui và hân hoan thực sự:
· Chúa Phục Sinh hiện
ra với chị Maria Magdala (Ga 20:11-18);
· Chúa Phục Sinh hiện
ra cho các tông đồ và trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);
· Chúa Phục Sinh đổi
đời hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);
· Chúa Phục Sinh củng
cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);
· Chúa Phục Sinh chăm
sóc các tông đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);
· Cứng ḷng và ngoan cố
trước biến cố Đức Giêsu Phục Sinh (Mt
28:11-15);
· Chúa Giêsu Phục Sinh lên
trời (Cv 1:1-12);
· Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở
với chúng ta (Mt 28:16-20);
· Chúa Phục Sinh hứa
ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);
· Thánh Thần sẽ làm chứng
về Ta (Ga 15:26-16:15);
· Thánh Thần tỏ hiện
trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);
· Nhân danh đức Giêsu
Nadarét, anh hăy đứng dậy mà đi (Cv 3:1-26);
· Phêrô làm chứng cho Chúa
Giêsu Phục Sinh trước chính quyền (Cv 3:1-26);
· Từ khi biết Đức
Giêsu Kitô, tôi coi tất cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).
Cảm
nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương chúng
ta trong từng giây phút của cuộc sống, để rồi
chúng ta yêu lại Chúa và phục vụ Ngài trong mọi
nơi mọi lúc, đó là thái độ thường mà mỗi
Kitô hữu cần có.
Yêu
là trao tặng người yêu những ǵ ḿnh có (LT 231). Nếu
Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất cả, ngay cả
những ǵ qúy nhất với Ngài là Chúa Con và Chúa Thánh Thần,
th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho Thiên Chúa đây?
Với
“kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta dâng tất cả
cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một điều duy nhất
“xin làm cho con yêu Chúa, và ơn đó là đủ cho con” (LT
234):
“Lạy Chúa, xin nhận
lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu và
toàn thể ư chí con, tất cả những ǵ con có và làm chủ.
Chúa đă ban cho con tất cả; lạy Chúa, con xin dâng lại
Chúa tất cả.
Tất cả là của Chúa, xin Chúa sử dụng hoàn toàn
theo ư Chúa. Xin Chúa ban cho con t́nh yêu và ân sủng Chúa: đối
với con thế là đủ”.
Linh đạo Inhă như cơ cấu được sống qua việc tham dự các bí tích, và đặc biệt qua cầu nguyện, xét gẫm, hồi tâm xét ḿnh, phân định (ơn gọi, tông đồ, sống) trên b́nh diện cá nhân hay cộng đoàn.
Chính qua việc thực tập hằng ngày theo hướng dẫn của thánh Inhaxiô mà ta đến với Thiên Chúa như thánh Inhaxiô đă được dạy và đến với Ngài. Có thể nói, linh đạo Inhă là linh đạo Giêsu, con đường đến với Thiên Chúa của Inhaxiô chính là con đường Giêsu, sống như Đức Giêsu suy nghĩ, chọn lựa, và sống.
Một nét đặc trưng của linh đạo Inhă là phân định thiêng liêng. Phân định thiêng liêng giúp ta t́m thấy Chúa trong mọi sự, nhận ra ư định của Thiên Chúa, nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong những t́nh huống cụ thể để thực thi ư Ngài. Sau cầu nguyện hoặc cuối ngày sống, người ta phân định để nhận ra ư Thiên Chúa nơi xét gẫm hoặc nơi hồi tâm xét ḿnh. Qua những dấu chỉ trong đời, người ta cũng có thể nhận ra tiếng Chúa mời gọi sống bậc sống nào (phân định ơn gọi), Chúa muốn ḿnh cộng tác với Chúa giúp đỡ con người như thế nào (phân định tông đồ), v.v.
Để
con người được cứu độ, Ngôi Lời
Thiên Chúa đă nhập thể làm chứng cho t́nh yêu, hầu
con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương ḿnh
vô cùng, để rồi yêu lại Thiên Chúa.
Con
người khi tin nhận đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ nhận
ra t́nh yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với
ḿnh. Rồi khi con người tin nhận rằng Thiên Chúa
yêu thương ḿnh vô cùng, con người có thể phó thác
đời ḿnh trong tay Thiên Chúa T́nh Yêu.
Cầu nguyện là ư thức Chúa đang hiện diện,
lắng nghe Chúa mời gọi, nói với Chúa (dâng lên Chúa lời
cảm tạ tri ân, lời tán dương, lời khẩn
cầu khi ư thức ḿnh bất lực), và ở lặng bên
Chúa.
Có nhiều
cách cầu nguyện, chẳng hạn như đọc
kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm; nhưng dù dùng cách thức
nào, nó cũng phải giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự với
Thiên Chúa.
Đứng
trước một biến cố hay một lời nào
đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và nhờ đó nói chuyện
với Thiên Chúa.
Chúng
ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh, để suy
gẫm như cầu nguyện:
·
Trước hết, xem Thiên Chúa hay đức Giêsu,
qua tác giả Kinh Thánh, muốn dạy ǵ trong đoạn
Kinh Thánh đó;
·
Sau đó, xem chúng ta đă sống điều
được dạy đó như thế nào;
·
Và cuối cùng chúng ta tâm sự thân thưa với Thiên
Chúa.
Trong
những bài cầu nguyện về mầu nhiệm nhập
thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều chỉ cách chiêm niệm.
Nh́n
đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Nghe
đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Quan sát
cung cách hành xử của đức Giêsu, suy nghĩ để
rút ích lợi: đó là cách cầu nguyện "chiêm niệm".
Có những
đề tài cầu nguyện không thể chiêm niệm
được, nhưng nếu đề tài cầu nguyện
là về Chúa Giêsu, th́ có thể áp dụng cách cầu nguyện
chiêm niệm.
Chúng
ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa đă nh́n nghe hành xử
như thế nào trong những trường hợp và t́nh huống
khác nhau, để ḿnh trở nên giống Đức Giêsu
hơn, nên giống Thiên Chúa hơn.
Trở
nên giống đức Giêsu hơn, nên đồng h́nh đồng
dạng với Ngài, không phải trên b́nh diện thể lư,
nhưng trên b́nh diện thiêng liêng: có con tim "nhân từ,
bao dung, thương yêu" như Chúa, có ánh mắt "nhân
từ, trong sáng, cảm thông" như Chúa, có cung cách hành xử
"độ lượng, kiên nhẫn, cương quyết
dứt khoát" như Chúa.
Chúa
Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và bắt chước:
quan điểm lập trường của Ngài, cách sống
của Ngài. "Để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn,”
đó là mục đích của những bài cầu nguyện
tuần thứ hai Linh Thao.
Cầu
nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói chuyện thân
thưa với Ngài như một người bạn với
một người bạn, như tṛ đối với thầy,
như tôi tớ đối với chủ, như người
con đối với cha ḿnh, và như một tạo vật
đối với Thiên Chúa (LT 54).
Những
bước cầu nguyện[22]
nhằm giúp người ta dễ dàng cầu nguyện
hơn; nhưng một khi gặp gỡ được
Thiên Chúa rồi, th́ những bước cầu nguyện
không c̣n cần thiết nữa.
Để
nói chuyện với ai, cần họ hiện diện với
ḿnh một cách nào đó; cũng vậy, để nói chuyện
với Thiên Chúa, cần ư thức Thiên Chúa hiện diện với
ḿnh.
Thiên
Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n xem, yêu
thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện diện với
chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy về
phương diện con người, chúng ta vẫn cần
ư thức Ngài hiện diện để có thể nói chuyện
với Ngài.
Khó có
thể nói chuyện thân t́nh với ai, nếu người
đó đang thù hận với họ. Cũng tương tự
như vậy, chúng ta không thể gặp gỡ nói chuyện
thân t́nh với Thiên Chúa nếu chúng ta đang ở trong t́nh
trạng thù nghịch Ngài.
Trước
khi cầu nguyện, chúng ta xin Thánh Thần tẩy luyện
thánh hóa con người chúng ta, để chúng ta có thể gặp
gỡ thân t́nh với Ngài.
Nếu
chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư tới lời nói
của người đang nói chuyện với ḿnh, th́ không
thể nói chuyện thân mật với người đó
được. Cũng tương tự như vậy, nếu
chúng ta không đặt Thiên Chúa lên trên hết, nếu chúng ta
không gạt bỏ mọi vướng bận, th́ chúng ta cũng
không thể nói chuyện thân thiết với Ngài được.
Cùng với
tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi chia trí đến
trong đầu chúng ta, và để hết tâm trí vào đề
tài cầu nguyện.
Để
gặp một nhân vật quan trọng, chúng ta phải xin gặp,
và nếu được ưng thuận chúng ta sẽ
được hẹn giờ. Không phải bất cứ
lúc nào ḿnh muốn, đều có thể gặp được
họ.
Cũng
tương tự như vậy, gặp gỡ Thiên Chúa là một
hồng ân lớn lao mà chúng ta cần ư thức để
trân trọng. Chỉ có điều Thiên Chúa rất muốn
gặp gỡ ḿnh v́ Ngài yêu thương ḿnh; tuy vậy,
được gặp gỡ Thiên Chúa vẫn luôn là một
hồng ân đặc biệt.
Trí
tưởng tượng rất quan trọng đối với
con người. Phần lớn hành vi phạm tội của
chúng ta có sự đóng góp của trí tưởng tượng.
Tương tự như vậy, để nên thánh, chúng ta
cũng dùng trí tưởng tượng. Thân xác cũng góp phần
giúp chúng ta nên thánh, như nó đă góp phần trong hành vi tội
của chúng ta.
H́nh
dung khung cảnh câu chuyện, và đặt ḿnh trong bối
cảnh và trường hợp đó, giúp chúng ta dễ cầu
nguyện hơn.
Mỗi
bài cầu nguyện đều có một yêu cầu cần
đạt được, đó thường là "ơn
xin" của bài cầu nguyện.
Ở
tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta hiểu
biết sâu xa về tội và những tác hại của tội,
cho chúng ta nhận biết ḿnh là tội nhân và ơn
được trở về với Người.
Ở
tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được
hiểu Ngôi Lời Nhập Thể hơn, để yêu mến
Ngài hơn và theo Ngài hơn.
Ở
tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng
ta được đồng h́nh đồng dạng với
Ngài; cụ thể trong tuần ba xin Thiên Chúa cho chúng ta
được chia sẻ với Đức Giêsu trong
đau khổ và sỉ nhục, được thông phần
với Ngài trong cuộc thống khổ; và trong tuần thứ
tư, chúng ta xin cho được chia sẻ niềm
Mỗi
bài cầu nguyện có một hay nhiều điểm cầu
nguyện. Điểm cầu nguyện là những gợi ư, nhằm
giúp ḿnh có chất liệu để suy nghĩ và cầu
nguyện với Thiên Chúa. Tuy mỗi bài có thể có nhiều
điểm cầu nguyện, nhưng mỗi người
chỉ dùng một số điểm ḿnh thấy ích lợi,
trừ phi người hướng dẫn nói khác trong
trường hợp cụ thể.
Tâm sự
là nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa, ở với và hạnh
phúc bên Thiên Chúa.
Tâm sự
là phần chính của bài cầu nguyện, dù người
hướng dẫn chỉ nhắc một vài câu về
điều này.
Cầu nguyện là một cách để
thông hiệp với Thiên Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống
thường ngày của con người, để con
người sống hạnh phúc với Thiên Chúa.
Thiên
Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và có ư thức về
điều đó hay không. Thiên Chúa luôn nh́n xem tôi và can thiệp
vào đời tôi một cách kịp thời, v́ Ngài luôn yêu
thương tôi. "Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa
tôi sau... bàn tay của Ngài đặt trên tôi" (Tv 139:5).
Khi cầu
nguyện người ta cần ư thức Thiên Chúa đang hiện
diện và yêu thương ḿnh. Như vậy trong suốt
ngày, nếu tôi làm việc mà vẫn luôn ư thức Thiên Chúa
đang sống với tôi, th́ tôi cũng đang cầu nguyện
và đang kết hiệp với Thiên Chúa một cách nào
đó.
Ư thức
Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong đời sống
thường ngày, không đ̣i chúng ta phải ngừng công việc
ḿnh đang làm. Trong cả ngày, chúng ta vẫn làm việc b́nh
thường trong tâm trạng "Thiên Chúa ở bên ḿnh và
làm việc với ḿnh."
Thiên
Chúa nói với mỗi người chúng ta qua lương tâm
mỗi người, qua những biến cố xảy tới
với ḿnh trong đời, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh...
Chúa
nói với tôi, tôi có lắng nghe?
Thái
độ đáp trả của tôi với Lời Ngài
như thế nào? Tôi vâng phục, hay từ chối, hay lẩn
tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa nói với tôi không?
Khi tôi
thấy con người của tôi dưới ánh sáng Lời
Chúa, tôi hăy nói với Ngài những ǵ Thánh Thần soi sáng và
thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu tôi có những bận tâm
và ao ước, tôi hăy nói với Chúa, để Lời Chúa
như gươm hai lưỡi phân tách (Dt 4:12), để
tôi được tinh sạch hơn (Ga 17:17) và tự do
hơn (Ga 8:32).
Như hai người bạn
thân, chỉ cần ở bên nhau; cũng vậy, chỉ cần
ư thức ḿnh đang ở với Chúa.
Có nhiều
người mong ước kết hiệp với Thiên Chúa
trong giờ cầu nguyện. Đây là ao ước chính
đáng và tốt lành thánh thiện. Nhưng làm sao có thể
kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện?
Để
hiệp nhất với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện,
đ̣i người đó luôn khao khát mong ước kết
hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng khao khát ước mong, sẽ
giúp người đó luôn kết hiệp với Thiên Chúa
trong cuộc sống thường ngày bằng việc chấp
nhận thánh ư Chúa ngay cả khi điều đó trái ư ḿnh,
và nếu được như vậy, sẽ giúp người
đó kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện.
Có
người cho rằng họ đă đạt đến
mức kết hiệp với Thiên Chúa cách rất đặc
biệt trong cầu nguyện, nhưng trong cuộc sống
thực tế cho thấy người đó rất khó sống
với người khác, và họ thường "khá kiêu
ngạo!" Thánh Inhaxiô lưu ư một số anh em Ḍng Tên:
"cầu nguyện lâu giờ mà không có tinh thần hy sinh
từ bỏ, th́ chỉ làm cho người ta thêm cứng
đầu."
Để
có thể kết hợp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện, người ta cần phải liên lỉ kết
hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Họ phải
luôn từ bỏ ư riêng để vâng phục Thánh Ư Thiên
Chúa, để yêu thương và chấp nhận anh em,
để thông cảm với những giới hạn của
anh em và những trái ư từ bên ngoài đưa tới. Một
người cho rằng ḿnh đă có thể kết hiệp
dễ dàng với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có
đời sống từ bỏ và yêu thương, e rằng
đó là người "ảo tưởng,” và chưa biết
ḿnh cách sâu xa và đích thực.
Để
kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện,
cần kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống.
Sống đời sống "từ bỏ" qua yêu mến
đức khó nghèo và sẵn sàng chịu sỉ nhục và
khinh chê v́ Chúa Giêsu Kitô, chấp nhận Thánh Ư Chúa trong suốt
ngày sống. Nói cách khác, cuộc sống "đồng
h́nh đồng dạng" với Đức Giêsu trong tư
tưởng, lời nói và hành động, sẽ giúp người
đó kết hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ
cầu nguyện.
Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là tâm sự.
Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng quan trọng;
trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan trọng; nhưng
có thể nói, tâm sự là phần quan trọng nhất. Tâm sự
phản ánh tương quan của ḿnh với Thiên Chúa.
Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những sự
thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu nguyện.
Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa hoặc
tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ giúp ḿnh
tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ đó cũng
thuộc về cầu nguyện; chẳng hạn, sau một
suy nghĩ, một người có thể thấy một ánh
sáng nào đó, và điều này giúp họ tạ ơn Thiên
Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài xin Thiên Chúa điều
ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng là cầu nguyện.
Điểm chính yếu của cầu nguyện không là có
nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái độ
của ḿnh đối với Thiên Chúa.
Để hướng dẫn người giúp Linh Thao,
thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện ngắn
gọn và trung thực, để giúp người tập
Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ "không phải sự
hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh hồn, nhưng
chính sự cảm nếm bên trong mới làm thỏa măn linh
hồn" (LT 2).
Trong cầu nguyện và đặc biệt trong tâm sự,
chúng ta có thời gian để sống với Thiên Chúa và cảm
nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta. Trong ư nghĩa này,
chúng ta có thể nói cầu nguyện là giờ phút cảm
nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa như
một người bạn với một người bạn,
như một người tôi tớ với chủ ḿnh.
Được coi là tâm sự,
khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa,
khi thân thưa với Thiên Chúa về chính con người và
nhu cầu của ḿnh,
khi xin một ơn,
khi xin tha thứ lỗi lầm,
khi phó thác công việc hay trọn cả con người cho
Thiên Chúa,
khi xin dạy bảo hay hướng dẫn (LT
54.61.109.199.224).
Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu nguyện
khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng giờ để
tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.
Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa bằng
cả con người với tất cả tâm t́nh, là ở
lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.
Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy nghĩ
và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện. Những
gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư để
giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và về Thiên
Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự với
Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă thấy
hoặc được soi sáng.
Những
điểm gợi ư cầu nguyện, chỉ là những gợi
ư, là phương tiện giúp chúng ta cầu nguyện; nó chỉ
có giá trị tương đối và "rất là
tương đối.” Chính v́ thế, chúng ta chỉ dùng những
điểm gợi ư trong mức độ nó giúp chúng ta cầu
nguyện, và chỉ dùng số điểm nào đó như
chúng ta thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả
mọi điểm đă được gợi ư (LT
2.76.228)[23].
Về
tư thế khi cầu nguyện, tư thế nào (ngồi,
đứng, qùy, phủ phục, ...) giúp ḿnh dễ dàng gặp
Chúa, th́ ḿnh dùng tư thế đó; Và một khi dùng tư thế
đó mà gặp được Chúa, th́ không nên thay đổi
(LT 76).
Trong
Linh Thao, sau 60 phút cầu nguyện, thánh Inhaxiô đề nghị
thao viên lượng giá giờ cầu nguyện, cũng c̣n
gọi là xét gẫm, trong 15 phút (LT 77). Mười lăm
phút xét gẫm, là 15 phút phân định thiêng liêng và cầu
nguyện, là những phút phản tỉnh để biết
ḿnh hơn và biết Thiên Chúa hơn. Việc xét gẫm rất
quan trọng để giúp người làm Linh Thao tiến bộ
hơn, chính v́ thế phải làm rất nghiêm túc.
Xét gẫm sau mỗi bài cầu nguyện để nhận ra những hồng ân Chúa ban để tạ ơn, và những cản trở cầu nguyện để chỉnh sửa, để nhận ra cạm bẫy của thần dữ để tránh. Phân định tác động các thần khi xét gẫm sau cầu nguyện, giúp thao viên tránh khỏi sa bẫy thần dữ, để b́nh an đi trên đường Chúa muốn. Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngài muốn chúng ta sống an vui, triển nở, hạnh phúc. Thần lành cũng muốn chúng ta sống hạnh phúc. Thần dữ không muốn chúng ta sống hạnh phúc.
Những nguyên nhân làm tôi bị chia trí khi cầu nguyện. Nếu tôi hay bị chia trí về ai đó! Có thể do tôi có t́nh cảm lệch lạc: thương quá hay ghét quá?! Chúa mời gọi tôi điều ǵ qua chia trí này? Phải chăng Chúa mời gọi tôi từ bỏ? hay tha thứ (cho người xúc phạm đến ḿnh)? hay tự hủy? Tôi cần nói chuyện với Chúa về những điều đó. Tôi không thể vượt qua nếu không có sự trợ giúp của Chúa.
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng. Ngài muốn tôi sống hạnh phúc. Ngài muốn tôi an vui triển nở hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, và đặc biệt khi cầu nguyện. Hạnh phúc hàm chứa b́nh an thẩm sâu trong tâm hồn. Nếu tôi không b́nh an, đó là dấu chỉ có ǵ đó chưa ổn, cần chỉnh sửa. Cái ǵ làm tôi không b́nh an, không hạnh phúc? Tôi lo lắng, sợ hăi về điều ǵ?
B́nh an là một ơn. Cần xin Thiên Chúa ban ơn b́nh an cho ḿnh. Những nguyên do có thể làm tôi không được b́nh an, tươi vui, triển nở, và hạnh phúc: không tin Thiên Chúa yêu thương minh, bị tổn thương mà không tha thứ, không có cái nh́n và thái độ đúng đắn về tạo vật, về tiền bạc chức quyền danh vọng. Nếu thấy được nguyên nhân, th́ chỉnh sửa chính ḿnh, để có được điều ḿnh cần. Và như vậy b́nh an đến với ḿnh.
Thiên Chúa tạo dựng con
người để con người được sống
hạnh phúc với Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn
sự dữ cho con người, Ngài không bao giờ muốn
con người phạm tội[24] dù Ngài cho con người tự do. Thiên Chúa muốn
con người hạnh phúc không chỉ ở đời sau
nhưng ngay cả ở đời này; Ngài không chỉ muốn
con người hạnh phúc trong cầu nguyện mà c̣n cả
trong cuộc sống thường ngày.
Thiên Chúa muốn con
người cảm nghiệm hạnh phúc khi sống đặc
biệt với Ngài. Cụ thể trong cầu nguyện,
Ngài muốn con người được b́nh an thư
thái, được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.
Các thần lành là tạo
vật thiêng liêng sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Các ngài
sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các ngài cũng muốn con
người sống trong t́nh yêu và hạnh phúc như các
ngài.
Thần dữ là các thiên
thần kiêu ngạo chống đối Thiên Chúa, và không muốn
chúng ta sống hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa.
Hơn nữa, thần dữ c̣n t́m mọi cách để
tôi xa ĺa và chống đối Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn tôi sống
hạnh phúc, trong cuộc sống thường ngày và đặc
biệt trong giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất,
tôi được b́nh an thư thái trong cuộc sống và
trong giờ cầu nguyện.
An ủi là t́nh trạng b́nh
thường trong giờ cầu nguyện nếu chúng ta sống
tương quan tốt với Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết:
"Gọi là an ủi khi trong tâm hồn có một thúc đẩy
nội tâm, làm linh hồn cảm thấy bùng cháy lửa yêu
mến Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy
không c̣n có thể yêu mến bất cứ tạo vật nào
trên mặt đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong Đấng
Tạo Hóa mà thôi. Tương tự, khi linh hồn chảy
nước mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm
nghiệm tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm
cuộc thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm
những sự khác hướng về việc phụng sự
và ngợi khen Thiên Chúa. Sau cùng, gọi là an ủi khi linh hồn
cảm nghiệm sự gia tăng đức cậy đức
tin và đức mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời
gọi và lôi kéo đến những sự trên trời và phần
rỗi của linh hồn, làm linh hồn cảm thấy
thư thái và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 316).
Phần lớn khi
được an ủi là do thần lành hướng dẫn[25] (LT 318), và nếu khi xét gẫm ḿnh đă nhận ra
đó là ơn Chúa th́ hăy tạ ơn Chúa.
Sầu khổ là do tác
động của thần dữ (LT 318).
Thánh Inhaxiô viết:
"Gọi là sầu khổ tất cả những ǵ trái
ngược với quy tắc thứ ba. Chẳng hạn, sự
tối tăm trong tâm hồn, xao xuyến bên trong, thúc đẩy
về những ǵ thấp hèn và phàm tục, bất an trước
những xáo động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng,
trông cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy lười
biếng, khô nhạt, buồn rầu và như bị ĺa xa Đấng
Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 317).
V́ sầu khổ là do tác
động của thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó
th́ không thể đến với Thiên Chúa được;
thế nên "chúng ta luôn luôn làm ngược lại điều
ác qủy hay thần dữ muốn" (LT 351).
Nếu thần dữ muốn
chúng ta bỏ cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi
quyết định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm
ngược lại điều thần dữ muốn, nghĩa
là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện hơn, xét
ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái độ
dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ bỏ ḿnh
hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi mở
lương tâm với những người đạo
đức am tường việc thiêng liêng (LT 326).
Nếu nguyên do làm chúng ta
cầu nguyện không được tốt, là bởi chúng
ta c̣n chia trí về những vướng bận hay lệch
lạc nào đó, hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở
nào đó với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải
lo thống hối và hoán cải (LT 321 bc).
Một vài ghi chú để
giúp nhận định.
Thiên
Chúa muốn người đang ở trong t́nh trạng tội
trở về với Ngài, Ngài luôn hành động trong thâm
sâu tâm hồn mỗi người để làm họ trở
về với Ngài, qua tiếng nói của lương tâm và
qua những dấu chỉ hữu h́nh.
Thần
dữ hành động ngược lại. Nó t́m mọi cách
để người đó ở lại trong tội, chẳng
hạn bằng gợi lên những h́nh ảnh gây
Thiên
Chúa vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi người, để
họ tiến tới hơn trên đường phụng sự
Chúa. Các thần lành cũng trợ giúp, để con người
cảm nhận b́nh an và hạnh phúc, để họ
Thần
dữ t́m mọi cách và mọi lư do "ngụy biện"
để ngăn cản con người tiến tới,
gây bất an và xáo động nơi tâm hồn con người
(LT 315).
Thiên Chúa muốn con
người được sống trong t́nh yêu và hạnh
phúc với Ngài; thần lành cũng muốn chúng ta sống
trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các ngài; c̣n thần dữ
th́ luôn chống đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để
làm con người sống xa Thiên Chúa.
Khi có nguyên do, cả thần
lành lẫn thần dữ đều có thể "an ủi,”
nhưng nhằm mục đích trái ngược (LT 331). Chỉ
có Thiên Chúa mới có thể tác động trực tiếp
trên con người không cần trung gian. Điểm đặc biệt
của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người đến
với Ngài không qua trung gian, mà con người hoàn toàn tự
do (LT 330).
Chỉ Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do con
người. Đó là lư do tại sao chúng ta cầu nguyện
xin Thiên Chúa biến đổi một người, xin cho
người nào đó trở lại. Làm một người
trở lại, đó là khả năng chỉ có một
Thiên Chúa mới có thể làm được (mà người
đó vẫn hoàn toàn tự do).
Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến đổi
một người, và Ngài cũng có thể biến đổi
một người không cần dùng trung gian, mà con người
vẫn hoàn toàn tự do[26].
Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu nguyện
được tiến bộ, chúng ta cần lượng
giá giờ cầu nguyện; việc lượng giá này
được gọi là xét gẫm (LT 77). Giờ cầu
nguyện vừa qua đă diễn tiến thế nào? Vui hay
buồn? Có ư tưởng ǵ hay? Được soi sáng ǵ? Bị
chia trí, bận tâm, cám dỗ về điều ǵ? Những
điều này phản ánh ǵ về con người ḿnh? Thiên
Chúa mời gọi tôi về điều ǵ qua những
điều đó? Tôi có ao ước ǵ muốn thân thưa
với Chúa?
Tôi có được b́nh an thư thái không?
Tôi có được thêm ḷng tin cậy yêu mến Thiên
Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần gũi với
ḿnh không?
Tôi có nhận được "ơn xin" của
bài cầu nguyện không?[27]
Tôi có được ơn ǵ khác không? Có được
đánh động hay được một ánh sáng ǵ đặc
biệt không?
Câu hỏi này giúp tôi nhận định tổng quát về
giờ cầu nguyện. Nếu không hài ḷng, th́ phải t́m
nguyên do và cải thiện, để giờ cầu nguyện
tiếp sau được tốt hơn.
Tại tôi thiếu cố gắng tập trung cầm
trí cầu nguyện?
Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí ngay khi tôi ư thức?
Phải chăng tại tôi chưa cố gắng giữ
ngũ quan và tâm trí?
Tôi chưa luôn sống với ư thức Thiên Chúa
đang hiện diện và yêu thương tôi trong suốt cả
ngày sống?
Tôi c̣n một vướng bận hay bất ḥa nào
đó với tha nhân mà chưa được giải quyết?
Có một quyến luyến lệch lạc nào đó
mà tôi chưa dứt khoát bỏ?
Hay tại tôi chưa thật sự mong ước
khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?
Hay tại tôi không sẵn sàng làm tất cả những
ǵ Thiên Chúa muốn?
Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân thưa với
Chúa về thái độ cầu nguyện của ḿnh, về
những ơn Chúa đă ban cho trong giờ cầu nguyện,
và về những trễ nải thiếu quảng đại
với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong suốt ngày
sống.
Sau khi cầu nguyện, người cầu nguyện
dùng một thời gian ngắn để xét gẫm, xem giờ
cầu nguyện của ḿnh thế nào! Nếu không tốt[28] hoặc không tốt lắm,
th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă nhận ra th́ cố
gắng sửa đổi (chính ḿnh), để giờ cầu
nguyện tiếp sau được tốt đẹp
hơn.
Nếu t́m đúng nguyên do và được chỉnh
đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau sẽ tốt
đẹp hơn. Có thể nhờ người có kinh nghiệm
thiêng liêng cùng nhận định với ḿnh, bằng cách
chia sẻ kinh nghiệm xét gẫm cho họ nghe, để
họ giúp ḿnh t́m được nguyên do đă làm ḿnh cầu
nguyện không được, cách chính xác và chắc chắn
hơn.
Có thể do ḿnh thiếu quảng đại với
Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày sống,
mà ḿnh cầu nguyện không được tốt.
Nếu ḿnh không cố gắng tập trung để
cầu nguyện, hoặc nếu không xua đuổi ngay các
chia trí đến trong giờ cầu nguyện, không đặt
Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng khó cầu nguyện "tốt".
Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp với
Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện. Để dễ
dàng cầu nguyện, con người cần luôn kết hiệp
với Thiên Chúa trong suốt ngày sống.
Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào
đó, mà ḿnh cầu nguyện không được "tốt."
Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên hoặc
bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́ cũng
khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh cầu nguyện
không được, hăy xem ḿnh có cố gắng quảng
đại hết sức để cầu nguyện
chưa; nếu đă cố gắng "hết sức"
rồi mà vẫn cầu nguyện không được, th́
xem ḿnh c̣n quyến luyến điều ǵ cách lệch lạc
không, và khi nhận ra th́ hăy quảng đại để chỉnh
đốn lại.
Cứ b́nh thường, qua chia trí bận tâm trong giờ
cầu nguyện, mà ta nhận biết lệch lạc của
ḿnh.
Một người có thể không cầu nguyện
được, v́ họ nhận thức sai lầm: họ
tưởng rằng cầu nguyện được là do sức
con người. V́ vậy, Thiên Chúa có thể để họ
cầu nguyện không được, nhằm giúp họ nhận
ra sự thật: cầu nguyện được, là một
ơn Thiên Chúa ban cho con người (LT 322c).
Một người có thể
bị sầu khổ thiêng liêng mà không phải do lỗi của
họ (LT 322b).
Nếu ḿnh cầu nguyện
không được, bị sầu khổ thiêng liêng, mà không
tại lỗi ḿnh, th́ hăy kiên tŕ và quảng đại. Lúc
đó chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không
được tốt, nhưng khách quan th́ vẫn tốt,
v́ lúc đó Thiên Chúa đang tôi luyện ḿnh, Ngài tập cho
ḿnh đến với Ngài v́ chính Ngài chứ không phải v́
ḿnh được an ủi; tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh
cầu nguyện không được sốt mến,
nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng thành hơn về
đức tin đức cậy và đức mến.
Đối với một người đang tiến tới
trên đàng thiêng liêng, nếu người đó biết
điều ǵ đó là do thần dữ th́ chắc chắn
người đó sẽ không theo; như vậy, để
làm con người đi theo đường lối tà vạy
của ḿnh, qủy thường giả dạng thần
lành để dẫn đưa người đó theo lối
đồi tệ của nó (LT 332).
Nếu một ư tưởng hay một điều
nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh thiện,
nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu nguyện không
được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu
nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút,
chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an
như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư
tưởng hay điều đó là do ác qủy (LT 333); chúng
ta hăy duyệt xét lại để rút kinh nghiệm cho lần
tới, để không trúng bẫy thần dữ nữa
(LT 334).
Có thể có những lúc
trong đời, chúng ta cảm thấy ḿnh bị cám dỗ
nhiều, và cảm thấy bị cám dỗ nhiều về
điều này hơn điều kia. Tại sao vậy?
Có thể đó là điểm
yếu của tôi.
Thánh Inhaxiô viết:
"Thần dữ xử sự như một tướng
quân để thắng và cướp những ǵ nó muốn.
Bởi v́, một vị chỉ huy hoặc thủ lănh của
một đạo quân, sau khi đặt doanh trại và quan
sát lực lượng hay cách bố trí của một thành
tŕ, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất.
Cũng vậy, kẻ
thù của bản tính loài người cũng lượn
quanh để quan sát các nhân đức đối thần,
các nhân đức trụ và luân lư, và nơi nào nó nhận thấy
ta yếu nhất và dễ nguy hiểm nhất cho phần rỗi
đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào
đó để cố hạ ta" (LT 327).
Nếu tôi bị tấn
công nhiều ở điểm nào, có thể đó là điểm
yếu (nhược điểm) nhất của tôi
chăng?
Nếu tôi bị tấn
công hay bị cám dỗ dữ dội ở điểm nào
đó, có thể tại v́ tôi chưa dứt khoát thái độ
ở điểm này, tại tôi chưa dứt khoát chống
trả thần dữ và những chước cám dỗ của
nó chăng?
Thánh Inhaxiô viết: "
Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ nó yếu khi ta chống
trả, và nó mạnh khi ta buông xuôi. Thực vậy, đặc
điểm của đàn bà khi gây gỗ với đàn ông,
là mất can đảm và chạy trốn khi đàn ông thẳng
tay chống trả. C̣n ngược lại nếu người
đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can
đảm, th́ cơn giận sự trả thù và sự hung
dữ của đàn bà thật lớn và không sao lường
được.
Cũng vậy, đặc
điểm của kẻ thù là yếu nhược và mất
can đảm cùng chạy trốn với những cám dỗ
của nó, khi người tập tành trong đường
thiêng liêng thẳng tay chống trả các chước cám dỗ
của kẻ thù và làm ngược lại với các cám dỗ.
Nhưng trái lại nếu kẻ bắt đầu tập
tành trên đường nhân đức lại sợ hăi và mất
can đảm trước cuộc tấn công của cám dỗ,
th́ trên mặt đất này không có con vật nào hung dữ
cho bằng kẻ thù của bản tính loài người nhằm
theo đuổi ư hướng xấu xa và vô cùng đồi
tệ của nó" (LT 325).
Một người thiếu
dứt khoát trong việc chống trả chước cám dỗ,
có thể v́ t́nh yêu của người đó đối với
Thiên Chúa đă bị giảm sút. Trong trường hợp
này hăy xin lỗi Chúa, và bắt đầu sống quảng
đại hơn với Chúa trong từng giây phút sống.
Khi c̣n sống trong thân
xác, chúng ta c̣n bị cám dỗ và thử thách; những cám dỗ
đó có thể là những dịp để chúng ta diễn
tả t́nh yêu của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ thể
hơn.
Không ai được miễn
trừ khỏi bị cám dỗ và thử thách.
Đức Giêsu không chỉ
bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài c̣n bị
thách thức để làm phép lạ từ trời (Mc
8:11-12), bị cám dỗ và thử thách trong vườn dầu
(Mc 14:32tt), bị thử thách cả về đức tin
ngay trên thập giá (Mc 15:34).
Đức Maria không chỉ
thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền tin (Lc
1:26tt), nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt cuộc
đời, đặc biệt trong biến cố Mẹ
đứng dưới chân thập giá.
Thánh Phaolô đă ba lần
xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt, nhưng Ngài
được trả lời: "ơn Ta đủ cho
con" (2Cor 12:7-9).
Thử thách và cám dỗ
trong cuộc sống tại thế, là thuộc thân phận
làm người của chúng ta; chúng ta hăy chấp nhận, và
can đảm đương đầu để vượt
qua. Chúa không miễn trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ,
nhưng Chúa bảo đảm rằng nếu chúng ta tin
tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ chiến
thắng: "Các con hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế
gian" (Ga 16:33).
Khi tôi bị cám dỗ
nhiều hoặc mạnh, cũng có thể Thiên Chúa để
tôi bị cám dỗ nhiều, để tôi có nhiều dịp
lập công và trưởng thành cùng cứng cáp hơn (LT
33-34.322b); nhưng có thể đó là dấu chỉ cho thấy
ḷng mến của tôi đối với Thiên Chúa đă bị
giảm sút.
T́nh
yêu được biểu lộ qua khát vọng nên thánh và
những hành động cụ thể.
Yêu là hành vi tự do. Sống
theo bản năng, không được lư trí hướng dẫn,
th́ không phải là hành vi tự do, và như vậy không là yêu
thương.
Khao khát nên thánh[29], ao ước thuộc trọn về Thiên Chúa, là hành
vi t́nh yêu.
Cứ xem chúng ta khao khát
thuộc về Chúa, khao khát nên thánh đến mức độ
nào, để chúng ta biết chúng ta yêu Chúa như thế
nào. Nếu khi xét gẫm mà chúng ta nhận thấy chúng ta c̣n
thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa hay thiếu ḷng
khao khát Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của
Ngài cho chúng ta.
Xin được yêu
Chúa, đó là điều chúng ta cần khiêm tốn nài xin
liên lỉ (Xem LT 234).
Từ ngữ "t́nh
yêu" là từ ngữ trừu tượng. Dù là từ ngữ
trừu tượng, nó vẫn diễn tả một thực
tại vô cùng phong phú được biểu lộ bằng
nhiều hành vi cụ thể.
Yêu Thiên Chúa, là sẵn
sàng để tùy Ngài muốn xếp đặt như thế
nào về con người và cuộc đời của ḿnh cũng
được. Sẵn sàng dâng tất cả cho Chúa, để
Chúa hoàn toàn tự do quyết định.
Yêu Thiên Chúa, là chọn
Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Thiên Chúa trên hết. Chẳng
hạn trong thời gian Linh Thao, dành tất cả thời
giờ cho Thiên Chúa và cụ thể là cầu nguyện; luôn
sống với ư thức Thiên Chúa hiện diện với
ḿnh và yêu thương ḿnh, luôn sống trong tâm t́nh của chủ
đề ḿnh đang cầu nguyện; luôn giữ ǵn ngũ
quan để dễ dàng tập trung cầu nguyện và
không làm người khác bị phân tâm chia trí; hy sinh hăm ḿnh
như dấu chỉ muốn thuộc về Thiên Chúa
hơn nữa.
Hồi tâm xét ḿnh là điều các Kitô hữu đă làm từ xưa. Với thánh Inhaxiô, hồi tâm xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng cần làm nếu muốn tiến bộ không ngừng trong đời sống thiêng liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày hơn. Ốm đau có thể không cầu nguyện, nhưng vẫn cần giữ hồi tâm xét ḿnh. Theo truyền thống trong Linh Thao thao viên được đề nghị làm hồi tâm xét ḿnh hai lần một ngày, mỗi lần sẽ làm 15 phút (xem LT 25.26.43).
Việc phân định vẫn
được thực hiện trong hồi tâm xét ḿnh. Xét ḿnh để nhận
ra những hồng ân Thiên Chúa đă ban cho ḿnh, cũng
như những lỗi lầm ḿnh đă phạm, để
tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa, để nghe được
tiếng Chúa mời gọi, để sống tốt
hơn từng ngày.
Xin đề nghị làm hồi tâm xét ḿnh theo năm bước.
i. Ư thức
ḿnh hiện diện trước nhan Chúa và kính cẩn chào
Chúa
ii. Xin
Thiên Chúa ban Thánh Thần để Ngài giúp ḿnh ...
iii.
Ơn lành[30]
iv. Lỗi
lầm[31]
v. Tâm
sự thân thưa với Chúa dựa vào những ơn lành
ḿnh đă nhận và những lỗi lầm khuyết điểm
ḿnh đă phạm.
Theo
thói quen người ta vẫn cho rằng xét ḿnh chỉ nhằm
nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm của
ḿnh để ăn năn sám hối; tuy nhiên việc nhận
ra những ơn lành Thiên Chúa ban cho ḿnh trong đời sống
thường ngày rất quan trọng, để luôn sống
trong ư thức và tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện
diện với ḿnh.
Nhận
ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh, là dấu chỉ của
một đời sống thiết thân với Thiên Chúa. Càng
nhận biết hồng ân Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên
Chúa hơn.
Nhận
ra những lỗi lầm của ḿnh để sửa
đổi, là điều chính yếu của việc xét
ḿnh.
Trong
xét ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra những lỗi
lầm khuyết điểm của ḿnh, nhưng c̣n nhận
ra những khuynh chiều tàng ẩn của ḿnh, để
có thể tránh được những lỗi phạm nghiêm
trọng hơn! Tại sao tôi làm điều này chứ không
phải điều kia, ngay cả khi điều tôi làm
chưa phải là tội? Cái tàng ẩn hay khuynh chiều
đằng sau hành động đó là ǵ?
Tại
sao tôi hay bị cám dỗ về điều này? Tại sao
tôi bị cám dỗ về điều này dai dẳng và mănh
liệt như vậy? Phải chăng v́ tôi chưa có thái
độ hay lập trường dứt khoát với điều
này (với khuynh chiều này, với tội này)? Hay tại
v́ t́nh yêu của tôi với Thiên Chúa đă bị phai lạt
và giảm sút? Tôi cần nhận ra những điều
đó, để có quyết định và thái độ cụ
thể nhằm tiến bộ hơn nữa trong đời
sống thiêng liêng.
Nếu
có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́ sau khi đă nhận
ra những hồng ân Thiên Chúa ban và những lỗi lầm
ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên Chúa, chúng ta nên dùng thời
gian c̣n lại để nói chuyện thân thưa với
Thiên Chúa dựa vào những hồng ân và những lỗi lầm
của ḿnh. Đây là những phút cầu nguyện dựa vào
đời sống ngày qua của ḿnh.
Trong Linh Thao người ta làm phân định thiêng liêng khi xét gẫm, khi hồi tâm xét ḿnh, khi chọn lựa bậc sống, v.v. Sau Linh Thao, người ta thường làm phân định thiêng liêng lúc hồi tâm xét ḿnh.
Theo thánh Inhaxiô, người ta có thể làm nhận định bậc sống (ơn gọi) hay những chọn lựa khác vào cuối tuần II Linh Thao. Không phải ai cũng làm chọn lựa bậc sống (nhận định ơn gọi) được. Phải là người b́nh tâm (ở một mức độ nào đó), biết được mục đích đời người cũng như ơn gọi Kitô hữu, sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi cho dù gặp khó khăn thập giá trên đời. Cũng không phải ai cũng làm Linh Thao được (LT 18), phải là người mong ước nên thánh, khao khát sống tốt hơn, hơn nữa. Phân định bậc sống là điều rất quan trọng. Chúa muốn ai sống bậc sống nào th́ Ngài tạo dựng họ thích hợp cho bậc sống đó. Không sống như Thiên Chúa muốn, con người khó có thể sống hạnh phúc.
Thánh Inhaxiô dùng từ chọn lựa bậc sống, nhưng không được hiểu theo nghĩa tôi thích, tôi muốn bậc sống nào, th́ tôi chọn bậc sống đó. Chọn lựa theo thánh Inhaxiô là nhận biết Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào, th́ ḿnh chọn bậc sống đó.
Chúa mời gọi anh thanh niên giầu có đi theo Chúa, nhưng anh ta không theo (Mc 10:21-22). Có người muốn đi theo Chúa nhưng Chúa không cho (Mc 5:18-19). Không phải cứ muốn đi tu, là đi tu được. Không thể lư luận: nếu Chúa không muốn tôi đi tu, làm sao tôi đi tu được! Nếu lư luận như vậy, làm sao trả lời câu: nếu Chúa không muốn tôi phạm tội, th́ làm sao tôi phạm tội được. Chúa không muốn ai phạm tội cả. Chúa ban cho người ta tự do, kể cả tự do làm trái ư Ngài.
Giúp người ta phân định chọn lựa ơn gọi, là giúp người ta nhận ra ư của Thiên Chúa đối với họ, và giúp họ quảng đại đáp trả lời mời gọi của Chúa. Đi tu không tốt hơn lập gia đ́nh. Nếu Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào, th́ sống bậc sống đó là tốt cho ḿnh. Nếu không sống theo bậc sống Chúa muốn, có thể sinh những hậu quả không tốt cho đương sự, và cũng không tốt cho Giáo Hội.
Không phải ai cũng làm Linh Thao được. Để Linh Thao, cần thái độ, ḷng khao khát muốn thành người tốt hơn, hơn nữa. Không phải ai cũng làm việc chọn lựa được. Để chọn lựa: nhận biết và chọn ư Chúa, đ̣i người đó cần: biết mục đích đời người, biết Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, b́nh tâm: luôn chọn Thiên Chúa trên hết, sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi, sẵn sàng bỏ mọi lệch lạc, mong ước yêu Chúa và nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu. Nếu không b́nh tâm, e rằng khó nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Nếu không b́nh tâm, không sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi, không sẵn sàng cực khổ v́ yêu Chúa, th́ không sẵn sàng chọn theo Ư Chúa.
Những lệch lạc cần nhận ra để
giúp một người biết rơ về ơn gọi của
ḿnh. Một người có thể muốn đi tu v́:
i.
Đời tu an nhàn hơn, ở gia đ́nh họ khổ
quá.
ii.
Đi tu được học hành, có cơ hội tiến
thân.
iii.
Những người đi tu được kính trọng,
gia đ́nh người đi tu được trọng vọng,
v.v.
iv.
Đời gia đ́nh quá bất hạnh, kinh nghiệm
nơi gia đ́nh của nhiều người, nơi anh chị
em, nơi bạn bè, nơi hoàn cảnh mà người đó
thấy.
v.
Không muốn lập gia đ́nh nhưng ở ngoài
đời cha mẹ cứ thúc ép suốt.
vi.
Thích đi tu dù không thể sống cộng đoàn, v́
ở ngoài không thể được cứu độ,
v.v.
vii.
Lỡ đi tu rồi, không thể ra v́ áp lực gia
đ́nh, áp lực giáo xứ bà con họ hàng, v.v.
Thánh Ư Thiên Chúa có thể tỏ hiện rơ ràng như trường hợp Chúa gọi Phêrô, Matthêu, anh thanh niên giầu có, Phaolô, v.v. (LT 175). Thánh ư Thiên Chúa cũng có thể được biết qua những an ủi hay sầu khổ trong cầu nguyện và trong cuộc sống (LT 176). Thánh ư Thiên Chúa cũng được nhận biết qua việc dùng lư trí để suy xét nhận định (177).
Từ
muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă tạo
dựng tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh cứu
độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ lưu tâm
cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài c̣n để ư lưu
tâm đến từng cử chỉ hành vi biến cố của
tôi (Tv 139; Lc 12:6-7); chính v́ thế trong từng biến cố
chúng ta có thể hỏi "Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?"
Nếu
ngay cả việc "đi đứng nghỉ
ngơi" Chúa đều biết, th́ huống hồ về
bậc sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa
đă có chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn
gọi và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă
tạo dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.
Lời
mời gọi "sống đời sống nào
đó" có thể được biểu lộ nơi
ḷng ao ước sống đời sống đó, hoặc
có những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa muốn.
Nếu một người khao khát sống bậc sống
dâng hiến với ư hướng ngay lành[32],
ḷng khao khát đó có thể là dấu chỉ cho thấy Chúa
gọi người đó. Nếu khát vọng này đă có
khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́ càng cho thấy
"người đó được Chúa gọi" cách
chắc chắn hơn. Nếu trong đời người
đó có những biến cố khách quan mà người
đó xác tín rằng đó chính là Chúa bảo vệ để
gọi họ, th́ càng chắc chắn hơn nữa rằng
"Chúa gọi họ".
Lựa
chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là quyết định
theo ư thích của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên
Chúa về ḿnh.
Lựa
chọn bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc sống
nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó[33],
nhưng: Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́
ḿnh chọn bậc sống đó.
Trong
sách Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập đến ba thời
để làm việc lựa chọn; trong thời thứ
ba, thánh Inhaxiô nói tới hai cách làm việc lựa chọn.
Tuy vậy chúng ta nên cẩn thận, không phải ai cũng
làm việc lựa chọn "đúng đắn"
được, nhưng chỉ những người có cái
nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người và vũ
trụ, cũng như họ phải b́nh tâm thực sự,
th́ họ mới có thể lựa chọn "đúng đắn"
được[34].
Để
làm việc lựa chọn tốt, cần ư thức rơ mục
đích đời người: Thiên Chúa tạo dựng con
người để con người sống hạnh phúc
vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn sự
được tạo dựng như phương tiện
để giúp con người đi tới với Thiên Chúa.
B́nh
tâm là một điều kiện cần thiết để
làm việc lựa chọn đúng đắn và chính xác: chọn
lựa theo điều Chúa muốn chứ không phải theo
ư riêng ḿnh thích.
Nếu
không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa đúng đắn
được. Như vậy, chỉ nên cho những
người "b́nh tâm" được làm chọn lựa,
tức là những người chỉ muốn làm theo ư Chúa
để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc muốn làm theo
ư ḿnh[35].
Đă là người, sống th́ phải
lựa chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là
hành vi nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con
người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư
chí.
Con người có lư trí.
Để sống hạnh phúc, đối
với chính ḿnh con người cần nhận thấy hành
vi, cách sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong
tương quan với Thiên Chúa con người cần thấy
việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.
Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và
cảm nhận ḿnh sống triển nở, thường
hay đi đôi với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa
luôn yêu thương và luôn muốn con người sống hạnh
phúc.
Tôi lựa chọn bậc sống
này, v́ tôi thấy bậc sống này giúp tôi sống triển
nở và hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng
sâu xa con người tôi mà bậc sống khác không thể
đáp ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa
gọi tôi.
Biết
và làm, đôi khi không trùng khít với nhau nơi nhiều
người. "Tri hành bất nhất,” làm cho con người
không được hạnh phúc.
Thiên
Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả
năng thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa
muốn ai thực hiện điều ǵ đó, th́ người
đó không thể nói "lực bất ṭng tâm.” Như vậy,
nếu một người thấy rơ ḿnh không thể làm
điều ǵ đó, hoặc không thể tin rằng Thiên
Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có khả năng làm điều
đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn
điều đó cho họ.
Khả
năng sống điều ḿnh xác tín, cho thấy điều
xác tín có thể là Ư Chúa đối với họ. Như vậy,
nếu ai tin rằng (hay thấy rằng) họ được
Thiên Chúa gọi sống đời sống dâng hiến, th́
trong cuộc sống cụ thể họ phải cảm thấy
sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống
dâng hiến. Không có khả năng sống đời sống
dâng hiến "một cách triển nở và hạnh phúc[37],”
là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn người
đó sống đời dâng hiến.
Nếu
chúng ta làm việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu
chúng ta chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng
ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản
ánh tương quan tốt với Thiên Chúa.
Một
cách cụ thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt,
chúng ta sẽ cầu nguyện tốt ít nhất là bằng
thời gian trước khi chọn lựa[38],
sẽ vui hơn, b́nh an thư thái hạnh phúc hơn.
Thiên Chúa yêu thương nên tạo dựng con người, để chia sẻ sự sống hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài cho con người. Con người đă phạm tội, không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh, hủy hoại tha nhân và hủy hoại chính ḿnh, và hậu quả là bất hạnh. Thiên Chúa thành tín, Ngài vẫn yêu thương con người, Ngài quyết định cứu độ con người. Ngài đă sai Con, Lời Thiên Chúa, nhập thể cứu độ con người.
Cứu độ con người, để con người được sống và sống hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau lẫn đời này. Cứ b́nh thường, người ta không muốn chết v́ cái chết làm người ta phải xa người họ thương yêu. Người ta muốn sống măi. Tuy nhiên cũng có người không muốn sống. Có người tự tử. Đau khổ (thể xác hoặc tinh thần) quá, người ta muốn chết. Có người giầu sang, quyền thế, nổi tiếng, ... cũng tự tử.
Bận tâm của Đức Giêsu là làm sao để giúp con người được sống và sống hạnh phúc. Đức Giêsu đă suy nghĩ t́m nguyên do. Ở trong hoang địa Ngài đă ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, Đức Giêsu đă t́m ra điều phải làm để cứu giúp con người.
Có nỗi khổ do người khác gây ra, và có nỗi khổ do chính ḿnh làm ḿnh khổ.
Nỗi khổ do người khác gây ra cho ḿnh: họ đánh ḿnh, giết người thân yêu của ḿnh (điều răn thứ 5), dùng ḿnh hay người khác làm phương tiện thỏa măn họ (điều răn 6), họ lấy của cải của ḿnh hay của người khác (điều răn 7 và 10), người ta làm chứng gian để hại ḿnh (điều răn 8), đoạt vợ chồng của ḿnh (điều răn 9), ...
Nỗi khổ do ḿnh gây ra cho ḿnh: muốn mà không được như ư.
Muốn hơn người khác (giầu hơn người khác, đẹp hơn người khác, giỏi hơn người khác, quyền hành hơn người khác, có địa vị cao hơn người khác, v.v.) nhưng thực tế không được như vậy.
Bệnh tật. Phải chết. Sinh, lăo, bệnh, tử. Không chấp nhận sự thật về chính minh, nên khổ.
Đức Giêsu giúp người ta biết và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Hơn nữa, Ngài giúp người ta yêu thương nhau, và giúp người ta có cái nh́n đúng đắn về tạo vật: của cải, danh vọng, chức quyền.
Khi được hỏi giới răn nào trọng nhất? Đức Giêsu đă trả lời: yêu Chúa hết linh hồn hết sức lực hết trí khôn và yêu anh em như chính minh (Mc 12:38-42). Tuy nhiên, không chỉ là biết, mà c̣n phải sống điều ḿnh biết: “Ai yêu mến Thầy th́ giữ Lời Thầy” (Ga 14:22). Chúa Giêsu để lại cho chúng ta giới răn duy nhất: "Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em" (Ga 13:34-35; 15:12).
Đức Giêsu dạy nơi bài giảng trên núi: phúc cho những người nghèo, người hiền lành, người sầu khổ, người khao khát công chính, người thương xót tha nhân, người tâm hồn tinh sạch, người xây dựng ḥa b́nh, người bị bách hại v́ Chúa (Mt 5:1-12).
Với người đời: có tiền là có tất cả. Có tiền mua tiên cũng được. “Cái ǵ không mua được bằng tiền, th́ mua được bằng rất nhiều tiền.” Với Đức Giêsu, tham dục tiền bạc gây khổ năo cho con người, và nghèo là mối phúc.
Với người đời: địa vị danh vọng chức quyền là quan trọng; c̣n với Đức Giêsu: bị bách hại v́ Chúa là mối phúc.
Chúa mời tôi cộng tác với
Ngài để giúp con người hôm nay. Bài cầu nguyện
"Tiếng Gọi Vua Hằng Sống" trong Linh Thao
giúp người làm Linh Thao ư thức, xác tín, và cảm nghiệm
điều này.
Chúa Giêsu đă thức suốt
đêm để cầu nguyện, chọn, và gọi các
tông đồ (Mc 3:13-14; Lc 6:13). Chúa Giêsu đă sai các tông
đồ đi rao giảng (Mt 10:1-16). Lần hiện ra
đầu tiên cho các tông đồ sau khi Ngài phục sinh:
“Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga
20:21; 17:18).
Đức Giêsu làm sao, tôi làm như
vậy. Chúa chữa bệnh nhưng vẫn c̣n bao nhiêu
người bệnh. Chúa giúp những người có thể
giúp được: nếu họ tin. Chúa không đ̣i ḿnh làm
điều ḿnh không thể, điều Chúa không ban cho ḿnh
khả năng. Chúa cho ḿnh có khả năng ǵ để giúp
người khác, th́ ḿnh dùng tài năng đó. Giúp người
khác, là phát triển tài năng của ḿnh.
Chúa Giêsu rao giảng. Tôi rao giảng
như Chúa. Chúa giảng dạy ǵ, tôi giảng dạy
như Chúa muốn: "dạy họ tuân giữ những
ǵ Thầy đă dạy anh em" (Mt 28:19).
Giảng dạy như Chúa Giêsu giảng dạy, giúp người ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng, giúp người ta yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu yêu họ, giúp họ tự hủy để yêu thương.
Qua việc lắng nghe để thông cảm, tôi được mời gọi an ủi và nâng đỡ người sầu khổ, cho họ những lời khuyên (để giúp họ thoát khổ).
Hơn nữa, tôi cũng được mời gọi làm việc để nếu có thể, giúp đỡ người nghèo túng quẫn bách.
Ai yêu thương
th́ ở trong Thiên Chúa v́ Thiên Chúa là t́nh yêu. Yêu
Chúa đ̣i yêu người (Ga 13:34-35; 15:12). Yêu người
là yêu Chúa (Ga 14:22). Không yêu bằng lời nhưng bằng
hành động (1Ga 3:18).
Thiên Chúa yêu thương con người.
Hăy sống yêu thương v́ không yêu th́ không giống Thiên
Chúa, và không thể hạnh phúc. Cần nên giống Chúa tự
hủy, v́ không tự hủy th́ không thể yêu thương
và không thể b́nh an hạnh phúc được.
Người tông đồ
(được sai đi) cần tiếp xúc, lắng nghe,
khuyên bảo nâng đỡ, giúp người nghèo khổ. Họ
cũng cần làm việc để có ǵ đó hầu giúp
người nghèo khổ, cả về vật chất.
Chính khi yêu thương giúp đỡ
tha nhân, th́ tôi phát triển tài năng Chúa ban, và tôi triển nở
hạnh phúc. Giúp đỡ tha nhân cách cụ thể, là yêu bằng
hành động.
Thiên Chúa là Đấng yêu
thương.
Chính khi yêu thương, là tôi đang trở
nên giống Thiên Chúa. Yêu thương, là trở nên tuyệt
vời. Không yêu thương, không yêu
thương bằng
hành động, bằng cuộc sống, th́ không thể trở
thành Kitô hữu đích thực.
Chúa muốn tôi sống
thế nào trong hoàn cảnh này? Chúa muốn tôi sống bậc
sống nào? Gia đ́nh hay đời sống dâng hiến?
Trong ḍng hay trong tu hội đời? trong ḍng nào hay tu hội
nào? Chúa muốn tôi/cộng đoàn/tỉnh ḍng/hội ḍng của
tôi làm ǵ để phục vụ Chúa nơi anh chị em
ḿnh?
Những công việc tông
đồ, có thể đă thấy rơ và đă được
xác định, chúng ta không cần đặt vấn đề.
Tuy nhiên khi hoàn cảnh thay đổi, nhu cầu có thể
khác, có những dấu chỉ cho thấy hôm nay ở
đây có thể Chúa muốn tôi/cộng đoàn/hội ḍng
làm điều ǵ đó để phục vụ Chúa. Đây
là lúc chúng ta cần phân định, xem Chúa mời gọi
ǵ? Chúa muốn chúng ta làm ǵ để phục vụ anh chị
em? Đây là phân định tông đồ.
Phân định tông đồ
có thể làm ở b́nh diện cá nhân, b́nh diện tập thể
(chung), b́nh diện cộng đoàn, và b́nh diện toàn hội
ḍng.
Trước khi phân định
tông đồ, ta cần biết đâu là nhu cầu của
Giáo Hội toàn cầu, của Giáo Hội địa
phương (nơi tôi đang sống)? Hội ḍng cần
ǵ? Cộng đoàn tôi sống cần ǵ? Khả năng của
tôi như thế nào? Tôi thích ǵ? Muốn phục vụ ở
lănh vực nào? Phục vụ ở đâu? Cho đối
tượng nào? Đâu là công việc giúp tôi triển nở
và hạnh phúc?
Những tài Chúa ban cho
tôi, Ngài muốn tôi phát triển. Thiên Chúa muốn tôi sống
b́nh an, tươi vui, triển nở, và hạnh phúc. Giáo Hội
cần tôi, Hội Ḍng cần tôi, anh chị em trong cộng
đoàn cần tôi, tôi không thể b́nh an tươi vui hạnh
phúc nếu quay lưng với những nhu cầu của tha
nhân. Tôi cũng không thể b́nh an nếu đặt ư thích của
ḿnh trên nhu cầu (khẩn thiết) của Hội Ḍng hay cộng
đoàn. Tài năng Chúa ban để tôi phục vụ anh chị
em tôi, có như vậy tôi mới triển nở, tôi không thể
nại vào phát triển tài năng mà dửng dưng không bận
tâm trước nhu cầu của Giáo Hội, của Hội
Ḍng, của chị em trong cộng đoàn, của Dân Chúa,
v.v.
Với những nhu cầu
khách quan, với tài năng Chúa ban, và với ư thích của
tôi, Chúa muốn tôi làm ǵ? Chúa muốn cộng đoàn tôi làm
ǵ? Chúa muốn Hội Ḍng tôi làm ǵ để phục vụ
Chúa, phục vụ Giáo Hội, và con người cụ thể?
Nếu tôi chỉ là giáo
dân, ư Chúa thể hiện qua nhận định của (lư
trí) tôi. Nếu là một tập thể nhận định,
th́ cứ theo luật (nội quy) của tập thể quy
định mà thực hiện. Nếu là một tu sĩ hay
cộng đoàn tu sĩ nhận định, ư Chúa tỏ hiện
qua quyết định của bề trên.
Trong phân định t́m ư
Chúa, ta xem xét:
i.
Đâu là điều tôi/tập thể/cộng
đoàn/hội ḍng cần quyết định/chọn lựa?
ii.
Nhu cầu của Giáo Hội? Nhu cầu của xă hội?
Nhu cầu của Hội Ḍng? Nhu cầu của cộng
đoàn?
iii.
Khả năng của cộng đoàn? Năng khiếu
và ư thích của tôi?
iv.
Cầu nguyện xem Chúa muốn tôi/tập thể/cộng
đoàn/hội ḍng làm ǵ?
v.
Nếu là nhận định cộng đoàn/tập
thể th́ chia sẻ những ǵ ḿnh thấy cho những
thành viên làm phân định (không nhằm thuyết phục
người khác theo ư minh; không tranh luận, không phê b́nh chia
sẻ của người khác).
vi.
Sau khi nghe chia sẻ, đi cầu nguyện, xin Chúa
cho ḿnh biết ư của Ngài muốn tôi/tập thể/cộng
đoàn/hội ḍng làm ǵ.
vii.
Trở lại chia sẻ những ǵ xảy tới
nơi ḿnh khi cầu nguyện. Chia sẻ điều ḿnh thấy
về điều phải quyết định.
viii.
Đi cầu nguyện riêng, tiếp tục xem Chúa muốn
ḿnh làm ǵ.
ix.
Viết chọn lựa/quyết định của
ḿnh và bỏ phiếu. Chọn lựa theo lư trí chứ không
theo t́nh cảm: chọn điều làm Vinh Danh Chúa Hơn, chọn
điều giúp ích cho tha nhân hơn, chọn điều Giáo
Hội được phục vụ hơn, chọn điều
Hội Ḍng được phát triển hơn, chọn
điều tôi triển nở và hạnh phúc hơn.
Nếu là cá nhân/tập
thể th́ theo nhận định của cá nhân đó, hoặc
tập thể với nội quy (chẳng hạn làm theo
đa số, nếu số phiếu ngang nhau th́ theo số
phiếu có người trưởng, v.v.); nếu là tu sĩ
th́ trách nhiệm vẫn là bề trên tương ứng, lúc
này phân định của cộng đoàn chỉ có tính
tư vấn. Ư Chúa thể hiện qua ư bề trên, dù rằng
bề trên vẫn phải đi t́m ư Chúa.
Sẵn sàng vâng phục nếu
ư bề trên khác ư ḿnh, và ngay cả khác với ư của
đa số anh chị em phân định. Điều chúng
ta phân định, có thể là ư Chúa. Sau một thời gian,
nếu cần phân định lại th́ chúng ta vẫn sẵn
sàng phân định lại trừ phi thấy rơ đó là ư
Chúa. Không nên theo thái độ phản ứng của Philatô
và Hêrôđê như “những điều ta đă viết là
đă viết” (Ga 19:22) hoặc không thể đổi (Mc
6:26). Nếu thấy không đúng không chỉnh, th́ phải sửa
lại cho đúng (thánh ư Chúa).
Chia sẻ thiêng liêng sẽ
làm những người cùng làm phân định được
soi sáng và hiểu nhau hơn, hiểu cái nh́n của nhau, giúp
tôn trọng nhau, và giúp có ư hợp tâm đồng hơn.
Chỉ những người
b́nh tâm mới có thể làm chọn lựa được.
V́ thế không phải cứ đa số là đúng. Rất
nhiều người hiện diện kết án Đức
Giêsu, những không có nghĩa rằng họ đúng.
Trong Linh Thao, thánh Inhaxiô nói tới chọn lựa: nhận ra thánh ư Thiên Chúa và chọn thực hiện thánh ư Thiên Chúa (LT 135.169-188). Điều này thường được cá nhân thực hiện trong khóa Linh Thao.
Mùa chay năm 1539 nhóm bạn của thánh Inhaxiô đă làm một cuộc phân định. Đây là cuộc phân định chung nhưng không phải là phân định cộng đoàn (tu sĩ) v́ lúc này nhóm bạn chưa là một ḍng tu. Trong cuộc phân định này, ư kiến của ai cũng có giá trị, và không có bề trên để quyết định.
Các bạn đă làm một phân định: Chúa có muốn nhóm bạn tiếp tục yêu thương và chịu trách nhiệm về nhau không (khi nhóm của các bạn sắp sửa tan: người được gởi đi Ấn Độ, người được gởi đi Đức, người được gởi đi Bồ Đào Nha, v.v. Nhóm lúc này có 10 bạn).
Vấn đề tất cả đều bận tâm:
i.
Có nên tiếp tục chịu trách nhiệm về nhau
không?
ii.
Nếu có, th́ bằng cách nào?
Họ đă cầu nguyện, chia sẻ, cầu nguyện, và đi đến kết luận: tiếp tục chịu trách nhiệm về nhau (v́ Chúa đă muốn họ biết và gắn bó với nhau) qua việc vâng phục một người. Và đó là quyết định (tập thể) lập Ḍng Giêsu. Họ đă thực hiện quyết định này, và Đức Giáo Hoàng Phaolô III đă ra trọng sắc Regimini Militantis Ecclesiae cho phép lập ḍng Giêsu ngày 27/09/1540.
Đây là nhóm bạn thời sinh viên của Inhaxiô, họ đă làm Linh Thao 30 ngày. Họ đă có lời khấn khiết tịnh và lời khấn khó nghèo. Nhóm bạn này giả sử đă có đủ tiêu chuẩn để có thể làm phân định cá nhân và tập thể:
i.
Cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa
ii.
B́nh tâm
iii.
Sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi
iv.
Mong ước nên đồng h́nh đồng dạng
với Đức Giêsu
Họ đă biết câu hỏi cần trả lời: có nên (Chúa có muốn họ) tiếp tục chịu trách nhiệm về nhau không (cho dù họ sẽ phải sống xa nhau v́ Đức Giáo Hoàng sai gởi họ đi; trước đó họ đă để tùy Đức Giáo Hoàng muốn sai họ đi đâu, làm ǵ, tùy ư Ngài).
Họ đă cầu nguyện, chia sẻ những cảm nghiệm, an ủi hay sầu khổ, những ánh sáng, rồi lại đi cầu nguyện, rồi chia sẻ, … và câu trả lời được sáng lên, rơ hơn, rồi đi đến quyết định.
Kinh nghiệm thiêng liêng an ủi hay sầu khổ được áp dụng để biết thánh ư Chúa mà chúng ta thấy nơi sách Linh Thao số 176 về thời kỳ thứ hai của việc nhận biết ư Chúa. Nếu ḿnh nghiêng về thánh ư Chúa, th́ dễ dàng gặp Chúa hơn. Thánh Inhaxiô cũng áp dụng điều này khi viết Hiến Pháp Ḍng Tên về khó nghèo: Chúa muốn các thành viên Ḍng Tên sống khó nghèo như thế nào?
Thời thứ ba để nhận biết thánh ư Chúa cũng được áp dụng khi mỗi người chọn lựa theo lư trí của ḿnh. Sau những suy nghĩ, cầu nguyện, chia sẻ, nghe anh em chia sẻ, tôi thấy như thế nào? Chúa đánh động soi sáng thúc đẩy tôi thế nào? Tôi chọn như lư trí thấy, điều làm vinh danh Chúa hơn, giúp đỡ các linh hồn hơn, và cũng làm tôi triển nở hạnh phúc hơn.
Ư Chúa luôn là một. Các cách thế (LT 178-188) chỉ là phương tiện giúp tôi nhận ra thánh ư Thiên Chúa, và rồi chọn thực hiện.
Nếu là chọn lựa cá nhân, sau đó cũng cần gặp linh hướng để soi sáng, để khách quan hóa, để được chuẩn nhận (trước đó đă xin Chúa chuẩn nhận: LT 183).
Nếu là nhận định tập thể th́ cần chia sẻ những ánh sáng, suy nghĩ, t́nh cảm liên quan đến việc cần nhận định. Những điều ḿnh cảm nhận và chia sẻ, sẽ giúp anh chị em (cùng phân định) được soi sáng hơn, và dễ dàng nhận ra ư Chúa hơn. Khi chia sẻ, lắng nghe xem Chúa muốn nói ǵ với ḿnh qua chia sẻ của anh chị em ḿnh. Như vậy, khi có quyết định, tập thể sẽ đồng tâm nhất trí hơn, thông cảm với nhau hơn, b́nh an hơn.
Không phản ứng lại điều bạn ḿnh chia sẻ. Cũng không nói lại cho người khác không cùng phân định những ǵ người khác chia sẻ v́ có những hoàn cảnh thời điểm mà chỉ ở lúc đó hoàn cảnh đó mới hiểu hoặc thông cảm được thôi.
Cũng cần nói lại: nếu một tập thể làm phân định th́ quyết định theo nội quy của tập thể quy định. Nếu là phân định của cộng đoàn tu sĩ th́ quyền quyết định vẫn thuộc về bề trên, những chia sẻ của anh chị em chỉ có tính tư vấn. Trong trường hợp này, nên chỉ bề trên biết những ư kiến chọn lựa của anh chị em phân định. Việc cho cộng đoàn biết phiếu ư kiến của anh chị em, thuộc quyền của bề trên. Trách nhiệm và quyền quyết định vẫn thuộc bề trên. Bề trên cũng không thể dựa vào phân định cộng đoàn để tránh trách nhiệm của ḿnh (trừ phi luật nói khác: phiếu cố vấn cũng là phiếu quyết định).
Tóm lại, dù phân định cá nhân hay tập thể hay cộng đoàn, mỗi cá nhân đều phải hội đủ điều kiện cần để có thể làm phân định. Mỗi thành viên làm phân định tập thể hay cộng đoàn, đều phải biết đối tượng cần biện phân và quyết định/chọn. Mỗi thành viên cũng cần biết khi nào là quyết định chính thức (đa số phiếu, hay quyết định của bề trên). Việc biết chia sẻ thiêng liêng là điều cần để có thể làm phân định tập thể hay cộng đoàn.
Có nhiều h́nh thức
chia sẻ, chẳng hạn, chia sẻ Lời Chúa, chia sẻ
cầu nguyện, chia sẻ tông đồ, chia sẻ đời
sống, chia sẻ thiêng liêng.
Khi
chia sẻ, một vài nguyên tắc chúng ta cần lưu ư
tuân giữ để việc chia sẻ đạt kết
quả tốt hơn: không phản bác ư kiến của
người khác, không mang tính dạy dỗ, không đem những
ǵ người khác chia sẻ nói cho người khác hoặc
nói lại trong bầu khí khác; cố gắng lắng nghe
để hiểu và thông cảm, nói ngắn gọn và dùng từ
dễ hiểu, dùng chủ từ ngôi thứ nhất số
ít, v.v.
Dưới đây xin gợi ư các bước chia sẻ Lời Chúa.
1. Ổn định chỗ. Thấy nhau, nghe được nhau nói, ngồi thành ṿng tṛn nếu có thể được. Ư thức Ba Ngôi Thiên Chúa đang ở với ḿnh.
2. Dấu thánh giá. Lời nguyện khởi đầu sau khi hát hoặc đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần.
3. Đọc đoạn Kinh Thánh muốn chia sẻ (tất cả cùng đọc chung lớn tiếng, sau đó mỗi người có thể đọc riêng lại một, hai hay ba lần tùy nhu cầu mỗi người).
4. Thinh lặng khoảng 5-10 phút, lắng nghe, suy nghĩ theo câu hỏi gợi ư chia sẻ (dưới)
5. Chia sẻ theo những
điểm gợi ư dưới nếu có thể:
·
Những từ, câu, điểm nào trong đoạn
Kinh Thánh vừa đọc đánh động tôi?
·
Chúa muốn nói ǵ với tôi qua đoạn Kinh Thánh
này?
·
Tôi đă sống điều Chúa dạy qua đoạn
Kinh Thánh này thế nào?
6. Sau khi tất cả
đă chia sẻ, hoặc tới thời gian đă định,
dành ít phút để cầu nguyện tự phát.
7. Người linh hoạt dâng lời nguyện. Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để kết thúc.
Xin đề nghị các bước trong một buổi họp chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện như dưới đây.
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i.
Ơn đă nhận được trong giờ cầu
nguyện, hay trong ngày (Linh Thao)?
ii.
Những cản trở cầu nguyện và đă
vượt qua như thế nào? (nếu đă vượt
qua được). Có những điều tế nhị
th́ không nên chia sẻ ở đây, mà chia sẻ cho người
linh hướng hay người giúp Linh Thao.
4. Sau khi đă hết người chia sẻ hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện tự phát. Nếu không có giờ (đặc biệt trong Linh Thao) có thể bỏ mục này.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện. Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để kết thúc.
Xin đề nghị các bước trong giờ chia sẻ về kinh nghiệm làm tông đồ.
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i.
Những ơn đă nhận được khi làm
tông đồ trong tuần/tháng qua?
ii.
Những cản trở, sầu khổ, thất vọng
chán nản khi làm tông đồ trong tuần/tháng? Nguyên nhân?
iii.
Kinh nghiệm trợ giúp nếu cần và nếu có thể,
đặc biệt của người hướng dẫn.
4. Sau khi đă hết người chia sẻ hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện. Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để kết thúc.
Chia sẻ đời sống là chia sẻ về những ǵ xảy tới cho ḿnh trong đời sống trong một thời gian nào đó, chẳng hạn một ngày hay một tuần hay một tháng.
Xin gợi ư đề nghị các bước chia sẻ như sau:
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i.
Ơn đă nhận được trong ngày/tuần/tháng
qua?
ii.
Những sầu khổ bất an trong ngày/tuần/tháng
qua? Nguyên nhân?
iii.
Trao đổi chia sẻ, đặc biệt của
người hướng dẫn nếu cần và nếu có
thể.
4. Sau khi đă hết người
chia sẻ hoặc tới giờ quy định, dâng lời
nguyện tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện. Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để kết thúc.
Chia sẻ thiêng liêng là cụm từ chỉ việc chia sẻ về những ǵ xảy tới cho ḿnh, tác động vào đời sống tâm linh của ḿnh. Nó thường bao gồm tất cả những kinh nghiệm xảy tới cho ḿnh.
Xin đề nghị các bước cầu nguyện như sau:
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang hiện diện.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ. Mỗi người có thể chia sẻ kinh nghiệm
về cầu nguyện (i),
về việc tông đồ (ii),
về đời sống của ḿnh trong ngày/tuần/tháng
qua (iii).
Nếu người hướng dẫn thấy cần, có thể chia sẻ soi sáng hoặc nâng đỡ (sau từng người hoặc sau khi tất cả chia sẻ).
4. Sau khi đă hết người chia sẻ hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện. Kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để kết thúc.
Đức Giêsu là đường, là sự thật, và là sự sống (Ga 14:6). Mọi linh đạo Kitô giáo đều quy về Đức Giêsu như nguyên mẫu. Các vị lập ḍng, được mời gọi để họa lại cách đặc biệt nét nào đó của Đức Giêsu. Linh đạo Inhă, nơi Linh Thao, có điểm đặc biệt là lấy Đức Giêsu là nguyên mẫu. V́ thế linh đạo Inhă luôn hợp thời và có chung nhiều điểm với các linh đạo khác.
Thiên Chúa tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa, Ngài yêu thương con người, Ngài đối thoại với con người, hàm chứa con người có thể nhận biết thánh ư Ngài. Một cách tận căn, không cần linh đạo đặc biệt nào để nhận ra tiếng Chúa v́ Thiên Chúa muốn thông tri ư định của Ngài cho con người; hay nói cách khác mỗi người đều có thể có “linh đạo riêng.” Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn có thể dùng linh đạo nào đó để giúp con người nhận ra thánh ư Ngài. Mọi linh đạo đều hàm chứa con người có thể nghe được tiếng Chúa mời gọi và thực hiện thánh ư Ngài.
Linh đạo Inhă được thấy rơ nét nơi Linh Thao, giúp người ta nên giống Đức Giêsu mỗi ngày một hơn, giúp người ta nhận ra và tự do với quyến luyến lệch lạc, giúp người ta phát triển mối tương quan thân thiết với Thiên Chúa đặc biệt với Đức Giêsu, giúp người ta mong ước t́m biết thánh ư Thiên Chúa, giúp người ta nhận ra thánh ư Thiên Chúa và đem ra thực hành. Chúng ta hiểu “linh đạo Inhă giúp nhận biết thánh ư Thiên Chúa” trong tinh thần trên.
Tất cả cho Vinh Danh Chúa Hơn.
Trong phần Phụ Lục này sẽ tŕnh bày hai bản văn về Phân Định Thiêng Liêng. Bản văn thứ nhất là biên bản cuộc phân định chung đầu tiên của nhóm bạn của Inhaxiô về việc thành lập Ḍng Tên (Ḍng Giêsu), và bản văn thứ hai là thư của Bề Trên Cả Ḍng Tên gởi các thành viên Ḍng Tên về phân định chung.
Dưới đây là biên bản
cuộc nghị luận về việc thành lập
Dòng Tên. Cuộc nghị luận[39]
này kéo dài từ tháng 3 đến
Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả năm 1539 tại Roma.
Vấn đề Đoàn Giê-su
đặt ra
1. Vào mùa Chay vừa qua,
đã đến lúc chúng tôi phải chia tay nhau
và phải phân tán, là lúc mà chúng tôi
ước vọng mau đạt tới mục
tiêu, vốn từ lâu chúng tôi đã suy nghĩ
và theo đuổi. Vì thế chúng tôi đã
quyết định quy tụ nhau lại trong nhiều
ngày trước khi phân tán để cùng
nhau bàn luận về ơn gọi và cách
sống của chúng tôi. Chúng tôi đã thảo
luận điều này nhiều lần. Nhưng
nhóm chúng tôi gồm những người
Pháp, Tây Ban Nha, người Savoir và Bồ
Đào Nha. Chúng tôi đã chia sẻ những
ý kiến và những ước muốn:
Tìm kiếm Ý Chúa tốt đẹp, thích
hợp và hoàn hảo trên con
đường mời gọi mà Ngài
đã ban cho. Nhưng chính về phương
tiện thích hợp và hữu hiệu
nhất, cho chúng tôi cũng như cho tha nhân mà vô số
những ý kiến được tỏ
bày. Không ai ngạc nhiên về những khác
biệt, về những quan điểm này
giữa chúng tôi vốn là những
người hèn yếu, vì chính các Tông
Đồ, những người lãnh đạo
và là những người cột trụ
của Giáo Hội, và vô số những vị
khác rất thánh thiện mà chúng tôi
chẳng đáng được so sánh,
cũng đã có những ý kiến khác
nhau, đôi khi còn đối nghịch nhau, và
các ngài đã để lại cho chúng ta
chứng từ về những đối
nghịch của các ngài bằng văn
tự.
Chúng tôi cũng đã phán
đoán khác nhau, với bận tâm và lo
lắng để chúng tôi khám phá ra một
con đường hoàn toàn tự do, vốn
dẫn chúng tôi đến sự hiến dâng
chính bản thân làm của lễ toàn thiêu cho
Thiên Chúa chúng ta, bằng cách đặt
tất cả những lợi ích của
chúng tôi vào việc ca ngợi, tôn kính
và làm vinh danh Ngài. Sau cùng, chúng tôi
đã quyết định và theo đuổi
với một sự nhất trí là
chúng tôi dấn thân cầu nguyện, cử hành
thánh lễ và suy gẫm sốt sắng hơn
thường ngày, và sau khi đã làm hết
sức có thể, còn lại, chúng tôi phó
thác mọi lo âu của chúng tôi cho Chúa,
với hy vọng rằng Ngài, rất nhân
lành và quảng đại, sẽ không từ
chối Thần Trí tốt lành của Ngài cho
bất cứ ai khẩn nguyện Ngài, với
sự khiêm nhường và tâm hồn đơn
sơ, nhưng Ngài ban Thần Trí cho mọi
người một cách tự do mà không
nuối tiếc về các ân huệ của Ngài,
thì Ngài cũng sẽ không bỏ rơi chúng tôi
mà còn giúp đỡ chúng tôi với
một lòng nhân từ của Ngài cùng
với lòng quảng đại lớn lao
hơn là điều chúng tôi có thể cầu
xin hay ước nguyện.
Phương pháp nhận định
cộng đoàn
2. Vì thế chúng tôi đã
bắt đầu về phía mình dồn
hết nỗ lực và bắt đầu
đề ra một số câu hỏi vốn đòi
buộc một việc xem xét kỹ lưỡng
và một sự tìm tòi nghiêm túc.
Chúng tôi đã suy nghĩ và suy tư về
những điều đó trong suốt ngày;
giờ cầu nguyện đối với chúng
tôi cũng là phương cách để tìm
kiếm. Đến tối, mỗi người công khai
đưa ra lời giải đáp mà họ
đã xét thấy là tốt hơn và
ích lợi hơn; Làm như thế chúng tôi
muốn cùng nhau đón nhận ý kiến chính
đáng nhất. Ý kiến đó phải
rút ra từ một cuộc thảo luận chung
và phải được dựa vào
những lý lẽ có giá trị nhất.
Vấn đề một: Đoàn Giê-su
duy trì hay không?
3. Vào cuộc hội họp đầu
tiên buổi tối, câu hỏi như sau được
đề ra: Con người và cuộc sống
của chúng tôi, một khi đã
được chúng tôi dâng hiến và hiến
thánh cho Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta
và cho Vị Đại Diện đích thực
và hợp pháp của Ngài trên trần gian
để Ngài sử dụng chúng tôi và sai
chúng tôi đến nơi nào mà ngài xét
thấy rằng sứ vụ của chúng tôi
sẽ được phong phú hơn, hoặc
đến với người Thổ, hoặc
người Ấn Độ, hoặc đến
với những người lạc giáo,
hoặc đến ở giữa tín
hữu khác hay lương dân, điều ấy
có thích hợp hơn không?...Một khi
được kết hợp với nhau và
một khi được liên kết chặt
chẽ với nhau thành một thân thể duy
nhất đến nỗi không một sự tách
biệt thể lý nào dù rất đáng
kể đến đâu lại có thể chia
cắt chúng tôi được hay
ngược lại. Một thí dụ để soi
sáng: Đức Thánh Cha sẽ sai hai
người trong chúng tôi đi đến Sienna.
Chúng tôi có phải duy trì một sự liên
đới với nhau hay không buộc phải
gắn bó với họ hơn những
người ở ngoài hội đoàn
chúng tôi?
Chúng tôi đã kết thúc bằng
một khẳng định. Vì theo chúng tôi
nghĩ, Chúa đã đoái thương
với lòng Thương Xót và nhân
từ của Ngài quy tụ chúng tôi lại,
mà chúng tôi là những người
nghèo hèn ở những nước
khác nhau với những phong tục rất
khác biệt nhau, để liên kết chặt
chẽ chúng tôi với nhau, thì chúng tôi không
được phép phá vỡ sự
hiệp nhất này đã do Thiên Chúa
thực hiện, nhưng tốt hơn là phải
tiếp tục củng cố và làm cho nhóm
được vững mạnh bằng cách
chỉ làm nên một thân thể duy nhất. Một
sự nâng đỡ lẫn nhau và một
sự liên minh với nhau đầy đủ
sẽ đảm bảo lợi ích dồi dào
hơn cho các linh hồn: Sức mạnh
được kết hợp lại sẽ có
sức kháng cự hơn và có năng lực
hơn để thi hành những công việc
khó khăn lớn lao hơn là khi sức
mạnh đó bị phân chia và phân tán.
Tuy nhiên, ở tất cả
những điều chúng tôi vừa trình
bày hay sẽ trình bày, phải hiểu
đúng cho chúng tôi là: hoàn toàn chúng
tôi không tiến hành một điều gì
từ sự khởi hứng riêng của
chúng tôi, hay từ vị thủ lãnh
tương lai của chúng tôi, nhưng dù kết quả
ra sao, chúng tôi chỉ tiến hành điều
mà Chúa đã gợi hứng cho
chúng tôi và là điều mà Tòa
Thánh đã đồng ý và phê chuẩn.
Vấn đề hai: Duy trì cách
nào?
4. Sau khi vấn đề đầu tiên
này được giải quyết dứt
khoát, đến vấn đề khác khó
khăn hơn và cũng đòi hỏi việc suy
tư và xem xét không kém vất vả. Chúng
tôi đã tuyên khấn sống khiết tịnh trọn
đời và sống khó nghèo trong tay
vị Khâm Sứ Tòa Thánh đáng kính
khi chúng tôi còn ở Vienne. Có cần
phải tuyên khấn lời khấn thứ ba,
tức lời khấn tuân phục một
người trong chúng tôi để ca ngợi
Chúa hơn và để được công
nghiệp hơn và đồng thời trong mọi
sự có thể hoàn tất một cách tinh
tuyền hơn Ý Muốn của Chúa chúng ta,
cùng với ý muốn và chỉ thị
của Đức Thánh Cha, Đấng mà
chúng tôi đã hết lòng dâng hiến chính
chúng tôi: ý chí, trí hiểu và hành
động cho Ngài?
Gặp sầu khổ
5. Để giải quyết câu hỏi
này, chúng tôi đã trải qua nhiều ngày
cầu nguyện không ngừng và suy nghĩ
nhưng không có một điều nào thỏa
đáng đến trong tâm hồn chúng tôi. Chúng
tôi đã đặt hy vọng của chúng tôi
trong tay Chúa, và bắt đầu bàn
luận về một số cách thức để
giải quyết tốt hơn mối nghi ngờ
của chúng tôi. Trước hết, tất cả
chúng tôi có nên rút vào nơi cô tịch
để ở lại đó ba mươi hay bốn
mươi ngày suy gẫm, ăn chay và đền
tội để nài xin Thiên Chúa nhận
những ước muốn của chúng tôi
và đoái thương cho việc giải quyết
vấn đề được thấu đạt
tới tâm trí chúng tôi một cách
chắc chắn không? Hoặc nữa, có
cần ba hay bốn người nhân danh tất cả
đến đó (thực hiện) cùng một
mục tiêu đó không? Hoặc nữa, nếu
không ai phải đi đến đó, thì khi
còn ở lại Rô-ma, chúng tôi có thể
dành nửa ngày riêng cho công việc của
chúng tôi, để việc suy gẫm, suy nghĩ
và cầu nguyện được thực
hiện một cách thích hợp hơn và
rộng rãi hơn. Phần còn lại trong ngày,
chúng tôi sẽ dành cho những sứ vụ
quen làm là giảng dạy và giải tội.
Hoàn thiện phương pháp
6. Sau cùng, sau khi đã bàn bạc
và xem xét về những điểm này,
chúng tôi đã quyết định mọi
người đều ở lại Rô-ma, vì hai
lý do chính. Trước hết để
tránh những lời gièm pha và
gương xấu trong thành phố và dân chúng
vốn có thể phán đoán và suy nghĩ
– con người thường có những
khuynh hướng tuyên bố hời hợt –
rằng chúng tôi chạy trốn, hoặc
chúng tôi âm mưu điều gì mới hay
chúng tôi thiếu chín chắn và bền
vững trong công việc đầu tiên của chúng
tôi. Thứ đến, để cho sự vắng
mặt của chúng tôi không gây thiệt hại cho
mùa gặt mà đối với chúng tôi
thì rất đáng quan tâm đến nỗi nếu
chúng tôi có số đông đến bốn lần
đi nữa thì như tình trạng hiện thời,
chúng tôi cũng không thể thỏa mãn
được (so với) nhu cầu của mọi
người.
Phương cách thứ hai mà
chúng tôi đã bắt đầu bàn bạc
để tìm ra con đường giải
quyết là đề ra cho mọi người
và cho mỗi người thực hiện 3
thái độ sau đây trong tâm hồn.
Trước hết, mỗi người chuẩn
bị và dấn thân cầu nguyện, dâng Thánh
Lễ và suy gẫm sao cho mọi nỗ lực
của mình đạt đến chỗ tìm
được niềm vui và sự bình an
trong Chúa Thánh Thần về việc tuân phục
bằng cách làm sao cho mỗi người
hướng ý muốn của mình về
việc tuân phục hơn là ra lệnh nếu vì
đó mà vinh quang Chúa và việc ca tụng
Ngài ngang bằng nhau – thái độ nội tâm
thứ hai, không một người bạn nào
được nói vấn đề cho một ai
khác cũng không hỏi những lý lẽ
của họ, làm như thế thì không ai phải
chịu ảnh hưởng bởi ý kiến
người khác và sẽ không còn nghiêng
chiều về việc tuân phục hơn là việc
không tuân phục hay ngược lại, nhưng mỗi
người sẽ chỉ tìm kiếm điều
mà việc cầu nguyện và suy gẫm cho họ
thấy là lợi ích hơn – Thứ ba,
mỗi người phải tự coi mình
như xa với nhóm bạn chúng ta và coi
mình như thể không bao giờ
được nhận vào đó. Khi coi
những sự việc như thế, không còn
một tình cảm nào có thể làm cho
họ suy nghĩ và phán đoán về phía
nào, nhưng muốn nói rằng, một khi
ở ngoài cuộc, người ấy sẽ
tự do tỏ lộ ý kiến của mình
về dự định tuân phục hay không tuân
phục - và sau cùng, nhờ sự phán
đoán của mình, người đó sẽ
ưng thuận và phê chuẩn phía nào mà
theo họ sẽ phụng sự Thiên Chúa hơn
và sẽ đảm bảo sự tồn tại
của hội đoàn lâu dài hơn.
Áp dụng phương pháp
để hoàn thiện
7. Chính trong thái độ nội
tâm thích hợp này mà chúng tôi đã
quyết định, sau khi đã chuẩn bị
mọi sự, (chúng tôi) gặp nhau vào
ngày kế tiếp, để mỗi người
diễn tả những vấn nạn có thể
được đưa ra chống lại việc
tuân phục. Mọi lý lẽ đều
được trình bày và mỗi người
đã khám phá ra những lý lẽ
ấy đặc biệt trong suy tư, suy gẫm
và cầu nguyện thì mỗi người
lần lượt trình bày ra. Thí dụ,
kẻ này nói “Danh hiệu Dòng Tu hay tuân phục
vốn không được tín hữu quý
trọng, vì thiếu công nghiệp và vì tội
lỗi (nơi) chúng ta, mà lẽ ra danh hiệu
này phải có tiếng tốt của nó”. –
Kẻ khác công bố: “Nếu chúng ta muốn
sống trong sự tuân phục, có lẽ chúng
ta sẽ bị Đức Thánh Cha ép sống
theo một quy luật khác với quy luật mà
(chúng ta) đã có và đã thiết
lập ra. Từ đó hậu quả sẽ
là, khi không còn có cơ hội cũng như
phương tiện làm việc để cứu
rỗi các linh hồn, mà sau mục đích
chúng ta, đó lại là mục tiêu duy nhất
mà chúng ta sống, như thế ước
muốn của chúng ta sẽ bị thất bại,
trong khi chúng ta lại tin rằng những
ước muốn ấy làm hài lòng
Chúa, Thiên Chúa chúng ta”. – Kẻ khác
nữa: “trong trường hợp chúng ta
tuân phục một người nào đó sẽ
có ít người mới gia nhập vào hội
đoàn chúng ta để làm việc trong
vườn nho của Chúa với một
lòng nhiệt thành chân thực, vì theo
luật yếu đuối và giòn mỏng của
loài người, đa số lại tìm
kiếm những ích lợi cho mình và
tìm kiếm ý riêng mình hơn là tìm
kiếm những lợi ích của
Đức Giê-su Ki-tô và sự từ bỏ
chính mình hoàn toàn”. – Người
khác: lại nói điều khác, rồi
người thứ tư đến
người thứ năm và cứ như
thế, người ta phải mổ xẻ
những vấn nạn được trình
bày chống lại việc tuân phục.
Một thời gian ngắn sau đó, vào một
ngày, chúng tôi bàn bạc quan điểm ngược lại bằng
cách đề ra tất cả những lợi ích và những
sự thiện hảo của việc tuân phục, (vốn)
đă được gợi hứng nơi mỗi người
qua việc cầu nguyện và suy gẫm của họ. Mỗi
người theo thứ tự tŕnh bày kết quả việc
suy tư của ḿnh, đôi khi đẩy đến cùng một
giả thiết không thể thực hiện được
khi trực tiếp tiến hành bằng con đường
khẳng định. Thí dụ, một người cho thấy
sự phi lư và không thể (không có sự tuân phục) theo
cách thức sau: “giả thiết rằng nhóm bạn của
chúng ta phải lănh nhận một việc tông đồ mà
không có sự hiến thánh của ách tuân phục, th́ sẽ
không có ai thực sự có trách nhiệm về việc tông
đồ ấy, mỗi người sẽ đẩy gánh
nặng của ḿnh cho người khác, như (chính) chúng ta
đă có kinh nghiệm này nhiều hơn một lần. Cũng
thế, chúng ta hăy giả thiết rằng nếu không có quyền
hành trong nhóm chúng ta, th́ nhóm ấy có thể sẽ không bền
vững và cũng không duy tŕ được lâu; mà điều
này lại đi ngược với ư hướng ban đầu
của chúng ta là duy tŕ măi hội đoàn của chúng ta. Chẳng
có ǵ duy tŕ một nhóm tốt hơn là sự tuân phục, v́
dường như nó rất cần thiết đối với
chúng ta, nhất là chúng ta đă tuyên khấn sống khó nghèo
trọn đời, và chúng ta lại không ngừng và luôn luôn
lao ḿnh vào trong những công việc thiêng liêng và trần thế,
vốn đă rất ít thuận lợi cho việc duy tŕ hội
đoàn chúng ta”. Một người khác tiến hành theo con
đường khẳng định đă nói: “Sự tuân
phục là mẹ các hành vi và các nhân đức anh hùng lâu dài.
Kẻ sống thực sự trong sự tuân phục luôn tuyệt
đối sẵn sàng thực hiện mọi lệnh truyền
được đề ra cho họ, một lệnh truyền
khó khăn cho người ấy hay một lệnh truyền
vốn trở nên tṛ cười đối với con mắt
thế gian mà người ấy thấy bối rối, chẳng
hạn nếu người ta buộc tôi ở trần hay
ăn mặc kỳ quái ra ngoài đường hay ở những
nơi công cộng; mà cho dù một lệnh truyền như
thế chưa bao giờ được truyền ra, mà một
khi người ta tuyệt đối sẵn sàng thực
thi bằng việc từ bỏ phán đoán riêng và ư muốn
riêng của ḿnh, người ta sẽ luôn ở trong t́nh trạng
anh hùng, luôn luôn có công nghiệp hơn măi”. Hoặc nữa
“chẳng có ǵ bẻ găy sự kiêu ngạo và tự phụ
bằng sự tuân phục. Kẻ kiêu ngạo rất ưa
thích chiều theo phán đoán và ư muốn riêng mà không chịu
nhường nhịn ai. Nó bước đi trên những
con đường cao sang và hào nhoáng vốn vượt trên
nó. C̣n người tuân phục hoàn toàn chiến đấu
theo nghĩa ngược lại, v́ luôn luôn nó đi theo một
phán đoán không phải của riêng nó và đi theo ư muốn
người khác; nó vâng phục mọi sự và liên kết
chặt chẽ với sự khiêm nhường, vốn là kẻ
thù của sự kiêu căng”. Và c̣n nữa, “Dù rằng chúng
ta đă đặt tất cả sự tuân phục vào
Đức Thánh Cha là vị mục tử tối cao, một
sự tuân phục tập thể hoặc cá nhân, tuy nhiên ngài
không thể quan tâm đến vô số những chi tiết
đặc thù về cuộc sống hằng ngày của
chúng ta được. Vậy phải chăng điều
đó lại không thích hợp sao?”.
Đạt tới quyết định chung
8. Vậy sau biết bao ngày bàn luận vô số
những điểm liên quan đến việc giải quyết
vấn đề theo mọi ư nghĩa, bằng việc cân
nhắc và xem xét những lư lẽ quan trọng nhất và mạnh
mẽ nhất, trong lúc chúng tôi vẫn cầu nguyện, suy
gẫm và suy tư theo thói quen của chúng tôi, sau cùng Chúa
đă đoái thương trợ giúp và kết quả đạt
được không chỉ theo đa số mà c̣n là sự
đồng tâm nhất trí tuyệt đối: Đối với
chúng tôi việc tuân phục một người giữa
chúng tôi là điều rất thích hợp và rất cần
thiết. Như thế niềm khát vọng đầu tiên
của chúng tôi là nhằm hoàn tất Ư Muốn Thiên Chúa
nơi mọi sự sẽ được thực hiện
cách tốt đẹp hơn và chính xác hơn; Cũng thế,
sự duy tŕ hội đoàn sẽ được bảo
đảm hơn; sau cùng, người ta có thể khôn ngoan
bổ khuyết cho những chi tiết của những công
việc thường ngày, về mặt thiêng liêng cũng
như việc thế trần hơn.
Sự phê chuẩn
9. Trong khi tuân giữ cùng một cách thức
bàn luận và tiến hành như thế đối với
những điều c̣n lại, bằng cách tiếp tục
suy nghĩ hai quan điểm đối nghịch, chúng tôi
đă ở lại trong những vấn đề này và những
vấn đề khác trong gần 3 tháng, từ giữa Mùa
Chay cho đến Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả. Vào ngày
đó, tất cả mọi sự đă được kết
thúc một cách dứt khoát trong niềm vui và ḥa hợp hoàn
toàn của các tâm hồn. Trước khi đạt tới
(quyết định) cuộc bàn luận dứt khoát này,
(chúng tôi đă phải trải qua) những buổi canh thức,
(đă phải dành ra) biết bao nhiêu giờ cầu nguyện,
(cùng với) những gian khổ thiêng liêng và thể xác.
Dưới đây là thư của cha Bề Trên Cả Ḍng Tên gởi các thành viên trong Ḍng về Phân Định Chung ngày 27/09/2017[40].
Mến gửi Anh em trong
Chúa,
Ngày 10 tháng 7 vừa
qua, tôi có gửi cho
toàn Ḍng một lá thư (2017/08) mời gọi mọi Giêsu-hữu phản tỉnh
về mối tương
quan sâu đậm giữa đời sống và sứ mạng mà chúng ta
được kêu
gọi
đến và được sai đi để thi hành. Lá thư ấy
mời gọi khám phá, ôm ấp và sống sứ điệp
của Tổng Hội 36 ở chiều sâu. Tiếp nối
suy tư ấy, tôi muốn chia sẻ với anh em một
vài suy xét về phân định
chung, vốn là điều kiện tiên quyết để
thực hiện các quyết định của Tổng Hội,
tương hợp với những đặc nét của nền
linh đạo vốn đem lại sinh khí cho thân thể tu
tŕ và tông đồ của Ḍng.
Lời
mời gọi phân định
Có hai thách đố
lớn mà Tổng Hội 36 đề xuất với chúng
ta: 1) Phân định
các hệ quả của định nghĩa sứ mạng
của Ḍng như là một đóng góp cho việc hoà giải;
2) Lựa chọn các ưu tiên tông đồ phổ quát tại
thời điểm đặc thù hiện nay của lịch
sử đối với thế giới và với Ḍng. Hai
thách đố này đ̣i hỏi chúng ta, và những người cộng tác với chúng ta trong sứ
mạng, cải tiến
năng lực của ḿnh trong việc
phân
định chung. Một số lănh vực khác cũng mời
gọi chúng ta tăng triển khả năng phân định
chung, trong số đó cần kể đến các công việc: xây dựng Ḍng
thành một thân thể liên văn hóa (intercultural), đào sâu đối thoại với
các nền văn hóa và các tôn giáo, thúc đẩy một nền
văn hoá bảo vệ trẻ em, người trẻ và những
người dễ bị tổn thương.
Tổng Hội
36 khẳng định phân định chung là một thực
hành cốt lơi trong cung cách hành xử của Ḍng Chúa Giêsu.
H́nh ảnh các bạn đường đầu tiên ở
Venezia (1537) nêu bật khả năng mà các vị đă đạt
đến trong việc bàn định chung dưới sự
soi dẫn của Thánh Thần, mặc dù các vị là một
nhóm rất khác biệt nhau về văn hoá.[41] Thế
nhưng tất cả
các vị đều có một đời sống thiêng liêng năng động,
thể hiện qua một t́nh yêu say đắm với Chúa
Kitô trong Linh Thao, qua việc phục vụ người nghèo
và qua sự ứng trực đặt ḿnh cho Giáo Hội sai
phái đến bất cứ nơi đâu có nhu cầu lớn
hơn.
Ngày nay, trong lúc
cùng với những
người
khác cộng tác vào sứ mạng ḥa giải mọi người
trong Chúa Kitô của Giáo Hội, Ḍng Chúa Giêsu cũng đối
mặt với thách đố phải phân định chung ở
mọi cấp trật của Ḍng đối với các quyết
định quan trọng nhất. Đồng thời, Ḍng
phải cổ vơ sự tham gia của toàn thân thể tông
đồ của Ḍng, vốn được kêu gọi lựa chọn (elect) những phương thế
tốt nhất có thể, để góp phần vào việc
loan báo Tin Mừng và biến đổi thế giới trong
một thời đại với những thay đổi
mau chóng và sâu sắc hôm nay.
Đức Thánh
Cha Phanxicô, về phần ngài, đă nhiều lần nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của phân định
thiêng liêng đối với Giáo Hội xét trong toàn thể,
và ngài đặc biệt yêu cầu Ḍng Chúa Giêsu góp phần
giúp cho việc phân định lan tỏa trong mọi b́nh diện
của đời sống Giáo Hội. Từ viễn tượng
ấy, chúng ta cảm nhận được rằng việc
chúng ta thường xuyên nại đến phân định
thiêng liêng như phương thế t́m kiếm và nhận
biết ư Chúa trong mọi khía cạnh của đời sống-sứ
mạng sẽ tiếp thêm sinh lực cho đời sống-sứ
mạng ấy và sẽ gia tăng khả năng của
chúng ta phục vụ Giáo Hội trong thời điểm hiện
tại.
Phân
định chung và lập kế hoạch tông đồ
Phân định chung diễn ra
cả trong các cộng đoàn lẫn các tổ chức tông
đồ của Ḍng, với sự tham gia năng động
của các cộng tác viên của chúng ta trong sứ mạng.
Hẳn nhiên, mỗi nhóm phân
định đặc thù phải được tăng giảm tùy theo quyết
định cần t́m kiếm. Trong đời sống của
Ḍng, có những quyết định đ̣i phải có trên một nhóm tham gia phân định
chung, hầu có thể
đạt đến một quyết định chung cục
tương hợp với ư Chúa mà nhóm đang dốc sức
t́m kiếm. Phân định chung cũng có thể được áp dụng
một cách hữu
hiệu vào các cuộc họp của Tư vấn Tỉnh, của
Ban điều hành các tổ chức mang bản sắc
Giêsu-hữu, và trong mọi t́nh huống quản trị về mặt tông đồ.
Phân định
chung là điều kiện đi trước việc lập kế hoạch tông đồ
ở mọi cấp trật cơ cấu tổ chức của
Ḍng. Hai hoạt động phân định chung và lập kế
hoạch tông đồ phải gắn kết với nhau, hầu
bảo đảm rằng các quyết định sẽ được đưa ra trong ánh
sáng kinh nghiệm từ Thiên Chúa, và sẽ được
đưa vào thực hành đúng ư Chúa và đạt
được hiệu năng theo Tin Mừng.
Thể theo nhăn quan của
Thánh Inhaxiô, sự căng thẳng
tích cực giữa phân định chung và lập kế hoạch
tông đồ đ̣i chúng ta phải xét ḿnh thiêng liêng về những ǵ ḿnh trải nghiệm,
hầu cho chúng ta mỗi
lúc một tăng
trưởng trong sự trung tín với ư Chúa. V́ thế,
một sự lượng
giá có hệ thống về các việc tông đồ của chúng ta mà
thôi th́ không đủ. Chúng ta c̣n phải bổ túc cho sự lượng giá ấy
bằng viễn
tượng thiêng liêng của việc xét ḿnh, một thực hành mà qua đó Thánh Inhaxiô mời
gọi chúng ta nhận biết hành động của Thiên
Chúa trong lịch sử, để tạ ơn về những
ân sủng Người ban, để tạ lỗi về
việc chúng ta không đáp ứng đủ với các ân sủng
ấy, và để xin ơn trở nên những cộng tác
viên tốt hơn vào công việc của Chúa trong thế giới.
Do vậy, khi
được đặt nền trên phân định chung như thế, việc lập kế
hoạch tông đồ sẽ trở nên một khí cụ
giúp đạt
hiệu năng tông đồ, và chúng ta cũng tránh
được nguy
cơ chạy theo kiểu lên kế hoạch thời thượng hiện
nay, dựa vào các kỹ
thuật phát triển của các đoàn thể.
Thực
hành phân định chung
Niềm xác tín rằng
Thiên Chúa đang hành động trong lịch sử và liên lỉ
thông đạt với con người là tiền giả
định đổ nền cho các nỗ lực tiến
hành phân định chung của chúng ta. V́ lư do đó, chúng ta
cần t́m kiếm những điều kiện cho phép nghe
thấy Thánh Thần và đặt ḿnh cho Ngài dẫn dắt
trong đời sống-sứ mạng của chúng ta. Việc
cá nhân và nhóm mở ḷng đón nhận và bước theo Thánh
Thần đang thông đạt với chúng ta sẽ giúp
chúng ta tránh khỏi một lối phân định chung lầm
lạc, nếu nói theo ngôn từ của Thánh Inhaxiô, chỉ
t́m cách khoác vào ḿnh những quyết định đă
được định sẵn dựa trên nền tảng
của các tiêu chí riêng của nhóm.[42]
Đă có rất
nhiều kinh nghiệm quư giá về phân định chung trong
truyền thống lẫn trong đời sống hiện tại
của Ḍng. Thu thập các thực
hành tốt nhất về đề tài này, và lập ra một
tủ sách chuyên đề đặc sắc dễ tiếp
cận đối với tất cả những ai tham dự
vào sứ mạng của chúng ta, sẽ là phương thế
hữu ích nhất giúp củng cố văn hoá phân định
chung. Tôi khuyến khích các tổ chức tông đồ, các Tỉnh
Miền và các Liên hiệp Bề trên Thượng cấp tiến
hành lập tức và dứt khoát công việc này; tôi cũng
thúc giục các đơn vị ấy soạn thảo những
tiến tŕnh đào tạo về phân định chung, dễ
dàng tiếp cận đối với tất cả những
người chia sẻ sứ mạng với chúng ta, cũng
như đối với mọi thành phần khác trong Giáo Hội,
đang thao thức tăng triển trong chiều kích này của
đời sống đạo.
Các thuộc
tính của phân định chung
Với mong ước
thúc đẩy sự gia tăng thực hành phân định
chung trong đời sống của Ḍng, nhưng không có ư
thay thế các phương thế trợ giúp tốt lành
khác hay các nghiên cứu xuất sắc về chủ đề
này, tôi muốn chỉ ra ở đây các thuộc tính chính yếu
của phân định chung. Các thuộc tính này có mặt ở
những mức độ khác nhau tùy mỗi trường hợp
phân định. Việc liệt kê các thuộc tính ấy
không có ư nói chúng là các giai đoạn hay các bước của
tiến tŕnh, nhưng đúng hơn, chỉ đơn thuần
miêu tả các tính năng chính yếu của phân định
chung. Đôi lúc chúng ta thấy tất cả các thuộc tính
ấy hiện diện đầy đủ, nhưng trong
những lúc khác, chúng không hiện diện theo cùng một thể
thức. Việc phân định chung cũng tuân thủ các
tiêu chí truyền thống của Thánh Inhaxiô, đó là cần
lưu ư đến những con
người, những thời điểm và nơi chốn.[43] Như vậy, một phân định
chung tốt lành sẽ đ̣i các yếu tố sau:
1.
Chọn lựa
cẩn thận đề tài phân định. Không phải
quyết định nào cũng cần đến phân định
chung. Mục đích của phân định chung là t́m kiếm và nhận biết ư
Chúa đối với những vấn đề quan trọng
mà ta chưa hoàn toàn rơ phải làm ǵ hay làm như thế nào,
hoặc đâu là điều tốt nhất hay cách làm tốt
nhất hết sức có thể. Do đó, điều quan
trọng là biết cách chọn đúng vấn đề hay
những vấn đề nào thực sự phải lựa chọn (election) thông qua phân định
chung. Đồng thời, cần có đầy đủ
các thông tin có chất lượng, dễ dàng tiếp cận
đối với mọi người, liên quan đến vấn
đề đang xem xét. Để đạt đến một
phân định tốt, cần biết chính xác đâu là vấn
đề cần quyết định và đâu là kết quả
được chờ đợi từ tiến tŕnh phức
hợp và đ̣i hỏi ấy. Như thế, chúng ta tránh
được việc tầm thường hóa "phân
định", khi dùng từ ngữ này như cách thế
để biện minh cho các quyết định lớn hoặc
nhỏ.
2.
Biết những
ai nên tham gia, và tại sao nên tham gia phân định. Phải
xác định rơ cần những
ai tham gia tiến tŕnh phân định, tại sao họ nên tham gia, và họ sẽ tham gia với những điều kiện
nào. Chính mỗi đề tài cần lựa chọn (election)
sẽ xác định nên mời những ai tham gia vào tiến
tŕnh. Điều này hàm nghĩa mỗi tham dự viên phải
biết chính xác các lư do khiến họ tham gia nhóm, và phải
tự nguyện chấp nhận các điều kiện tham
gia. Tùy từng nhóm, từng đề tài phân định, cũng
như các điều kiện khác của việc tiến
hành phân định, mà sẽ xét xem có nên và có thận trọng
đủ hay không nếu mời những người khác
tháp tùng tiến tŕnh hoặc đóng góp khả năng chuyên
môn của họ liên quan đến các đề tài đang
xem xét.
3.
Tự do nội
tâm, hay b́nh tâm theo lối nói
của Inhaxiô, là điều kiện thiết yếu để
có một lựa chọn ngay lành (good
election). Các tham dự viên phân định cần trau dồi
tự do nội tâm, tức phải gỡ ḿnh khỏi những
lợi ích riêng tư, và tự do đón nhận điều
ǵ là tốt hơn theo ánh sáng của Tin Mừng. B́nh tâm là
hoa trái của một đời sống thiêng liêng đích
thực, nơi đó đời sống và sứ mạng
không tách rời nhau, như Tổng Hội 36 đă khẳng
quyết. Những người không cùng niềm tin Kitô giáo
nhưng chia sẻ sứ mạng với chúng ta vẫn có thể
và cần phải đạt đến tự do nội
tâm. Thái độ ấy giúp họ gỡ bỏ được t́nh yêu vị kỷ, ư
riêng và những tư lợi. [44] Tự do nội tâm ấy là một tiềm
năng nhân linh, có thể tăng trưởng như những
nhân vị trong mối tương quan vô tư lợi (gratuitous) với tha nhân, biết
t́m kiếm thiện ích lớn lao hơn cho mọi người,
ngay cả khi việc theo đuổi lư tưởng ấy
đ̣i hỏi từ bỏ chính ḿnh và hy sinh.
4.
Đồng
tâm nhất trí. Phân định chung đ̣i phải có
điều mà Thánh Inhaxiô Loyola gọi là sự đồng tâm nhất trí trong nhóm phân định,
bởi lẽ mục tiêu của phân định là lựa chọn (election) một
cách tự do chiếu
theo
ư Chúa. Sự đồng tâm nhất trí ấy chỉ có
được khi mọi thành viên của nhóm có cùng một
cảm thức chung về cùng đích, bởi lẽ những
trục trặc xảy ra trong phân định sẽ tác
động trực tiếp trên tất cả và trên từng
người. V́ vậy cần có sự thông hiểu lẫn
nhau; từ sự thông hiểu ấy sinh ra sự tin tưởng
lẫn nhau và thúc đẩy sự tham gia tích cực của
mỗi người.
5.
Biết thể
thức phân định. Trong Linh Thao, Thánh Inhaxiô đề ra
ba thời kỳ khác nhau để làm một quyết định
đúng đắn và ngay lành.[45] Ở thời kỳ thứ nhất,[46] ư Chúa thật tỏ tường, không
thể hồ nghi. Ở thời
kỳ thứ hai,[47] phân định
chung có thể được thực hiện bằng cách
xem xét các chuyển động thiêng liêng và xác chuẩn (nguồn
gốc của) chúng, hoặc có thể được thực
hiện bằng cách suy xét và đi đến quyết định
dựa theo quy cách được mô tả ở thời kỳ thứ ba.[48]
Đối với
một nhóm bao gồm các thành viên đă có kinh nghiệm phân
biệt thần loại, phân định chung có thể
được thực hiện bằng cách nhận diện
và cân nhắc tác động do các thần gây ra trong nhóm
đang t́m kiếm ư Chúa. Khả năng phân biện tác động
của các thần là điều kiện cần để
nhóm sử dụng thời kỳ lựa chọn thứ
hai. Nhờ phân biệt thần loại mà nhóm có thể nhận
biết chuyển động của mỗi thần sẽ
hướng nhóm đi về đâu, từ đó bước
theo các chuyển động của thần lành. Theo ngôn từ
của Inhaxiô, các chuyển động đặc trưng
nhất đối với phân định được gọi
là an ủi và sầu khổ.[49] "V́ cũng
như trong lúc được an ủi, phần nhiều là
thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào,
th́ trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng (làm)
như vậy, mà nếu làm theo lời khuyên của nó, ta chẳng
thể gặp được con đường
đưa tới đích".[50]
Các chuyển động thiêng liêng th́
khác với các trạng thái tâm hồn. Chúng là những tác
động rơ rệt của các thần đang cố lay
động ư chí của một người đi theo hướng
này hay hướng kia. V́ thế, an
ủi và sầu khổ
không đồng nghĩa với vui hay buồn, với sảng
khoái hay sầu muộn, với hài ḷng hay bất măn, với
tán đồng hay bất đồng đối với ư kiến
hay lập trường của ai đó. Cảnh
tượng Chúa Giêsu cầu nguyện trong Vườn Dầu
trước cuộc Thương Khó[51] giúp thấy
rơ sự khác biệt giữa chuyển động thiêng
liêng với trạng thái tâm hồn. Các chuyển động
thiêng liêng th́ thúc bách tự do của chúng ta, và hướng
ta đến một lựa chọn. Mặc dù cảm nhận
buồn bă và phiền muộn (câu 37-38), Chúa Giêsu vẫn chọn bước theo ư muốn
của Chúa Cha.[52] Các chuyển
động của Thần lành th́ mang đến sự
tăng trưởng trong đức tin, đức cậy
và đức ái.[53] Ơn b́nh
an nội tâm sâu thẳm là dấu chỉ chúng ta đang
đi đúng hướng của Thánh Thần, một hoa
trái của phân định. Ơn b́nh an nội tâm ấy,
được cảm nhận ngay cả trong những t́nh
huống đau khổ lớn lao, là dấu chỉ cho thấy
ta đă t́m được ư
Chúa. Dấu chỉ xác chuẩn ta đi đúng hướng
của Thánh Thần được biểu lộ qua niềm vui Tin Mừng mà mỗi
người trải nghiệm trong nội tâm và nhóm phân
định chung cảm nhận được, hoặc qua
ơn an ủi mà Đức
Thánh Cha Phanxicô đă mời gọi chúng ta phải tha thiết
nài xin trong chuyến thăm viếng của ngài ở Tổng
Hội 36.
Tùy vào các điều kiện mà các
thành viên trải nghiệm, có khi nhóm phân định có thể
suy xét hay bàn thảo về những thuận lợi (pros) và bất lợi (cons) của một giả thiết
lựa chọn nào đó nghịch
với viễn cảnh giúp tôn vinh Thiên Chúa nhiều hơn và tốt
hơn. Trong trường hợp đó, để có
được phân định đúng đắn, nhóm phải
có khả năng sử dụng lư trí sáng suốt để
nhận ra đâu là thiện ích lớn hơn chiếu theo
các giá trị của Nước Trời, và dâng lên Chúa quyết
định của nhóm để xin ơn xác chuẩn.[54]
6.
Cầu nguyện
chung là một điều kiện thiết yếu khác của
một phân định tốt lành. Mỗi nhóm phân định
chung nên t́m những cách thế và không gian cho việc cầu
nguyện cá nhân và cầu nguyện chung phù hợp với những
đặc điểm riêng của nhóm. Cầu nguyện cá
nhân và cầu nguyện chung duy tŕ một thế giằng co
lành mạnh giữa trời và đất[55] khi t́m kiếm
sự hơn nữa (magis)
khởi đi từ tương quan của chúng ta với
Thiên Chúa và với Lời của Người. Việc cầu
nguyện ấy nhắc nhớ chúng ta rằng, trong tư cách một thân thể,
chúng ta là những người phục vụ sứ mạng của Thiên Chúa
(missio Dei). Bí Tích Thánh Thể
là phương thế cầu nguyện chung ưu tiên hàng
đầu. V́ thế bí tích ấy có một ư nghĩa đặc
biệt và giữ một vai tṛ trung tâm trong các tiến tŕnh
phân định chung. Nếu một cộng đoàn hay nhóm
có thể cử hành Bí tích Thánh Thể như nguồn sống
trong Thánh Thần, th́ cộng đoàn hay nhóm ấy sẽ gia
tăng khả năng nhận biết tác động của
Thánh Thần trong lịch sử, cũng như nghiệm ra
Chúa đang thực hiện lời hứa ở cùng chúng ta
mọi ngày cho đến ngày tận thế[56] như thế
nào.
7.
Tṛ chuyện
thiêng liêng là một đặc nét của phân định
chung. Tổng Hội 36 khuyến cáo mạnh mẽ rằng
chúng ta cần nâng cao khả năng tṛ chuyện này.[57] Trong phân
định chung, cần dành thời gian để các cá nhân
chia sẻ các hoa trái cầu nguyện hay các suy tư của
mỗi người. Chia sẻ là cơ hội để cá
nhân tŕnh bày cho người khác một cách giản dị
khác với diễn thuyết về những tác động
của Thánh Thần mà họ cảm nhận, hoặc về
các hoa trái của suy tư cá nhân liên quan đến vấn
đề đang suy xét. Mặt khác, một thái độ
"lắng nghe người khác" cách tôn trọng, và
không phi bác các chuyển động thiêng liêng mà người
khác cảm nhận trong nội tâm, có thể tạo ra
nơi người nghe một âm vang thiêng liêng hay những
chuyển động thiêng liêng mới mẻ, hoặc
khơi dậy nơi họ một lối nhận biết
các sự vật một cách tươi mới. Tập quán
tṛ chuyện thiêng liêng, thói quen lắng nghe người khác
cách chăm chú, kỹ năng diễn đạt một cách
giản dị và rơ ràng các kinh nghiệm và ư tưởng của
bản thân sẽ góp phần làm cho việc phân định
chung được tốt đẹp mỗi khi đề
tài phân định đ̣i hỏi điều ấy.
Chia sẻ trong tṛ chuyện thiêng liêng
th́ khác với bàn luận trong kinh doanh, vốn t́m kiếm những quyết
định hợp lư nhất theo logic của quản trị.
Việc chia sẻ ấy cũng khác với hoạt động
của nghị trường, nơi các phe đa số, thiểu
số, hay các liên minh… suy xét để nhắm đến những
lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, bằng cách vận dụng
khả năng diễn thuyết và các "kỹ thuật"
nghị trường. Các diễn đàn ấy có điểm
này giống với phân định, đó là tất cả
đều cần các thông tin tốt liên quan đến các vấn
đề cần quyết định và cần khả
năng lập luận hữu lư. Phân định cũng cần
đến những yếu tố vừa nói nhưng không dừng
ở đó. Phân định làm việc, về cơ bản,
dựa vào những chuyển động thiêng liêng, hoặc
khi các chuyển động ấy không rơ ràng, th́ dựa trên
những chất liệu mà lư trí xét thấy là đem đến
ḷng yêu mến Chúa hơn và tôn vinh Chúa hơn, sau đó cũng
phải t́m ơn xác chuẩn từ trên cao.
8.
Thực
hành một cách có hệ thống việc xét ḿnh (examen) trong
tiến tŕnh phân định chung cho phép chúng ta đi từ t́m kiếm đến nhận biết ư Chúa. Việc
xét ḿnh giúp chúng ta nhận ra
chân tính của tác động của các thần và xác chuẩn
chúng ta có đi đúng hướng hay không. Việc xét ḿnh cá nhân của mỗi
thành viên cần được kết hợp với việc
duyệt xét những ǵ
đang diễn ra trong nhóm xét như một toàn thể. Học
biết duyệt xét các chuyển động của nhóm sẽ
cho phép chúng ta nắm được đà tiến của
tiến tŕnh phân định hoặc xác chuẩn tiến
tŕnh ấy, từ đó chúng ta có thể biết được
có nên tiếp tục tiến tới, hoặc tiến tới
thế nào, dưới sự hướng dẫn của
Thánh Thần. Việc giám sát liên tục các chuyển động
của nhóm ngang qua xét ḿnh là
một công cụ giúp ghi nhớ những ǵ đă diễn
ra. Tương tự như khi học cách nhận biết
các chuyển động nội tâm nơi cá nhân, phân định
chung đ̣i chúng ta phát triển khả năng nhận biết
và lư giải những chuyển động thiêng liêng trong
nhóm đang đặt ḿnh lắng nghe Thánh Thần để
t́m kiếm ư Chúa.
9.
Thiết lập cách ấn định quyết
định cuối cùng. Phải
xác định rơ ràng và chính xác điều này khi khởi sự
tiến tŕnh phân định. Các tham dự viên phân định
cần biết và chấp nhận ngay từ đầu cách
đạt đến quyết định cuối cùng. Chẳng
hạn chúng ta đều biết, các Tổng Hội của
Ḍng th́ đạt đến quyết định cuối
cùng dựa trên đa số phiếu biểu quyết, trừ
những trường hợp Định thức ấn
định cách khác. Tương tự, trong cuộc phân
định của một cộng đoàn Giêsu-hữu, quyết
định cuối cùng thuộc về bề trên địa
phương; và các quyết định của một Tỉnh
hay Miền th́ thuộc trách nhiệm của Bề trên
Thượng cấp. C̣n các tổ chức tông đồ và
các định chế th́ được điều hành dựa
trên quy chế và luật riêng của tổ chức ḿnh,
trong đó sẽ quy định rơ cách thức đưa ra
các quyết định ảnh hưởng đến toàn
thể và ai được quyền ra các quyết định
ấy.
Đặt
trọn niềm
tin tưởng vào Thiên Chúa
Phân định là một di sản
phong phú của Linh Thao, một công cụ đặc biệt
hữu dụng cho những thời điểm cần làm các cuộc lựa chọn (elections) trong đời sống
và sứ mạng của Ḍng. Phân định và các lựa chọn
tốt lành đ̣i chúng ta phải siêu thoát khỏi những
quyến luyến và t́nh cảm lệch lạc, để
có thể đặt ḿnh hoàn toàn trong tay Chúa. Việc đẩy
mạnh phân định chung là một trực giác của Tổng
Hội 36, khi Tổng Hội t́m kiếm những cách thế
cải thiện đời sống chung của Ḍng bằng
cách dựa vào cầu nguyện cá nhân sâu xa hơn, cũng
như vào việc chia sẻ đức tin và đời sống
của chúng ta một cách phong phú hơn.
Huấn từ của
Đức Thánh Cha Phanxicô với các thành viên của Tổng
Hội 36 được kết thúc với lời nguyện
sau: "Chúng ta hăy nài xin Mẹ
chúng ta hướng dẫn và đồng hành với từng
Giêsu-hữu, cũng như với thành phần Dân Chúa mà anh
được sai đến, trên những con đường
của ơn an ủi, của ḷng trắc ẩn, và của
phân định."[58] Chúng ta hăy
biến ư nguyện ấy thành lời cầu của chính
chúng ta, bằng cách nài xin ơn ấy cho mỗi người
được kêu gọi chia sẻ sứ mạng phục
vụ sự ḥa giải và công b́nh của Tin Mừng, cho các
cộng đoàn, các tổ chức tông đồ và các cơ
sở mà ngang qua đó chúng ta thi hành sứ mạng tông đồ
của ḿnh.
V́ thế chúng ta
hăy cầu xin ơn hoán cải ở cấp độ cá
nhân cũng như cơ chế, để nhờ việc
chiêm ngắm Chúa Giêsu trong Tin Mừng, và từ mối
tương quan yêu thương và trung tín của Người
với Chúa Cha, chúng ta biết học cách nhận ra Thánh Thần
đang dẫn chúng ta đi đâu, và cách lựa chọn sống
theo ư Thiên Chúa.
Arturo
Sosa
Rôma, ngày 27.9.2017
Kỷ niệm
ngày Đức Phaolô III ban hành trọng sắc Regimini militantis
(1540).
(nguyên bản tiếng Tây Ban Nha)
Coathalem, Hervée. Ignatian Insight.
Ḍng Tên Việt Nam. Tạp Chí Linh Đạo Inhă: Phân Định Thiêng Liêng. Sài G̣n 2019
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of Spirits: An Ignatian Guide For Every Life. New York: Crossroad, 2006.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation: An Ignatian Guide For the Greater Discernment of Spirits. New York: Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Discerning the Will of God: An Ignatian Guide to Christian Decision Making. New York: Crossroad, 2009.
Green, Thomas, S.J. Weeds Among the Wheat. Indiana: Ave Maria Press, 1984.
Green, Thomas, S.J. Phân Định Thiêng Liêng: Cỏ Lùng và Lúa Tốt. Bản dịch Vô Danh. Sài G̣n: Lưu Hành Nội Bộ, 2000.
Inhaxiô Loyola. Linh Thao. Bản dịch của Nguyễn Công Đoan SJ và Mariano Manso SJ. Sài G̣n: Nhà Tập Ḍng Tên, 1969.
Inhaxiô Loyola. Tự Thuật. Bản dịch của Hoàng Văn Lục Sesto Quercetti S.J. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1975.
Tonner, Jules J., S.J. Discerning God’s Will: Ignatius of Loyola’s Teaching on Christian Decision Making. St. Louis: The Institute of Jesuit Sources, 1991.
Tonner, Jules J., S.J. A Commentary On St. Ignatius’ Rules For The Discernment of Spirits. St. Louis: The Institute of Jesuit Sources, 1991.
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa Tác Viên Của Ḷng Chúa Thương Xót: Tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh hướng. Roma: Vatican, 2011. Phêrô Đặng Xuân Thành dịch từ bản Anh ngữ. Hà Nội: Lưu hành nội bộ.
AD MAJOREM DEI GLORIAM
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
[1] Jules J. Tonner, S.J., Discerning God’s Will, p. ix.
[2] K. Rahner,
L’Esprit dans le monde (Mame 1968), p.91-92.139
[3] Thánh Thomas, ST. I, q. 84, a. 7, corp.:
“impossibile est intellectum nostrum, secundum praesentis vitae statum, quo
passibili corpori conjungitur, aliquid intelligere in actu, nisi convertendo se
ad phantasmata.” (Lư trí chúng ta trong t́nh trạng hiện tại,
t́nh trạng liên kết với thân xác, không thể biết
ǵ (ở hiển thể) nếu không trở về với ảnh
tượng.)
[4] St 1: 26 Thiên Chúa phán: "Chúng ta hăy làm ra con người
theo h́nh ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con
người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dă
thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật
ḅ dưới đất."
27
Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh ḿnh,
Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh Thiên Chúa,
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
28
Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ:
"Hăy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy
mặt đất, và thống trị mặt đất.
Hăy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật
ḅ trên mặt đất."
[5] Mc 12: 29 Đức Giê-su trả lời: "Điều
răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en,
Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.30 Ngươi phải
yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết
ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực
ngươi.31 Điều răn thứ hai là: Ngươi
phải yêu người thân cận như chính ḿnh. Chẳng
có điều răn nào khác lớn hơn các điều
răn đó."32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su:
"Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng.
Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không
có Đấng nào khác.33 Yêu mến Thiên Chúa hết ḷng, hết trí
khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận
như chính ḿnh, là điều quư hơn mọi lễ toàn
thiêu và hy lễ."
[6] Xh 20: 1 Thiên Chúa phán tất cả những lời
sau đây:
2
"Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đă
đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi
cảnh nô lệ.
3
Ngươi không được có thần nào khác đối
nghịch với Ta.
4
Ngươi không được tạc tượng, vẽ
h́nh bất cứ vật ǵ ở trên trời cao, cũng
như dưới đất thấp, hoặc ở trong
nước phía dưới mặt đất, để mà
thờ.
5
Ngươi không được phủ phục trước
những thứ đó mà phụng thờ: v́ Ta, ĐỨC
CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần
ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta
phạt con cháu đến ba bốn đời v́ tội lỗi
của cha ông.6 C̣n với những ai yêu mến Ta và giữ
các mệnh lệnh của Ta, th́ Ta trọn niềm nhân nghĩa
đến ngàn đời.
7
Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên
Chúa của ngươi, một cách bất xứng, v́ ĐỨC
CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất
xứng.
8
Ngươi hăy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh.9 Trong sáu ngày,
ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của
ngươi.10 C̣n ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC
CHÚA, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không
được làm công việc nào, cả ngươi cũng
như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều
ở trong thành của ngươi.11 V́ trong sáu ngày,
ĐỨC CHÚA đă dựng nên trời đất, biển
khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đă nghỉ
ngày thứ bảy. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA đă chúc
phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh.
12
Ngươi hăy thờ cha kính mẹ, để được
sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của
ngươi, ban cho ngươi.
13
Ngươi không được giết người.
14
Ngươi không được ngoại t́nh.
15
Ngươi không được trộm cắp.
16
Ngươi không được làm chứng gian hại
người.
17
Ngươi không được ham muốn nhà người
ta, ngươi không được ham muốn vợ người
ta, tôi tớ nam nữ, con ḅ con lừa, hay bất cứ vật
ǵ của người ta."
[7] Gr 1: 4 Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng:
5
"Trước khi cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ,
Ta đă biết ngươi;
trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh
hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."
6 Nhưng tôi thưa: "Ôi! Lạy ĐỨC
CHÚA là Chúa Thượng, con đây c̣n quá trẻ, con không biết
ăn nói!"
7 ĐỨC CHÚA
phán với tôi:
"Đừng nói ngươi c̣n trẻ!
Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;
Ta truyền cho ngươi nói ǵ, ngươi cứ nói.
8 Đừng sợ
chúng, v́ Ta ở với ngươi để giải thoát
ngươi",
- sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.
9 Rồi ĐỨC
CHÚA giơ tay chạm vào miệng tôi và phán:
"Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi.
[8] 1Co 2: 10 C̣n chúng ta, chúng ta đă được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những ǵ sâu thẳm nơi Thiên Chúa... Cũng thế, không ai biết được những ǵ nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa... 13chúng tôi không dùng những lời lẽ đă học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí.14 Con người sống theo tính tự nhiên th́ không đón nhận những ǵ của Thần Khí Thiên Chúa, v́ cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi v́ phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. 15 Nhưng con người sống theo Thần Khí th́ xét đoán được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán được người đó.16 Thật vậy, ai đă biết tư tưởng của Chúa, để chỉ vẽ cho Người? C̣n chúng tôi, chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Ki-tô.
[9] Gal 5: 16 Tôi xin nói với anh em là hăy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không c̣n thoả măn đam mê của tính xác thịt nữa.17 V́ tính xác thịt th́ ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, c̣n Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên ḱnh địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn… 22 C̣n hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín,23 hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế.24 Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su th́ đă đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. 25 Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, th́ cũng hăy nhờ Thần Khí mà tiến bước.
[10] 1Cor 12: 4 Có
nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một
Thần Khí.5 Có nhiều việc phục vụ
khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.6 Có
nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ
có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người.7 Thần
Khí tỏ ḿnh ra nơi mỗi người một cách, là v́
ích chung.8 Người th́ được
Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy,
người th́ được Thần Khí ban cho ơn hiểu
biết để tŕnh bày.9 Kẻ
th́ được Thần Khí ban cho ḷng tin; kẻ th́ cũng
được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những
đặc sủng để chữa bệnh.10 Người
th́ được ơn làm phép lạ, người th́
được ơn nói tiên tri; kẻ th́ được
ơn phân định thần khí; kẻ khác th́ được
ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại
được ơn giải thích các tiếng lạ.11
Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả
những điều đó và phân chia cho mỗi người
mỗi cách, tuỳ theo ư của Người.
[11] Xh 18: "Ấy là v́ dân đến với con để
thỉnh ư Thiên Chúa.16 Khi họ có việc ǵ, họ đến với
con; con phân xử cho đôi bên và cho biết những thánh chỉ
và lề luật của Thiên Chúa." …. chính anh sẽ
tŕnh các việc lên Thiên Chúa,20 sẽ dạy cho họ các thánh chỉ, các lề
luật, và cho họ biết đường lối phải
đi và cách phải xử sự.21 Rồi anh hăy
xem trong toàn dân những ai là người có tài, biết kính sợ
Thiên Chúa, đáng tin cậy, không ham của bất chính, th́
đặt họ làm người chỉ huy….22 Họ sẽ
thường trực xử kiện cho dân; việc nào lớn
th́ họ tŕnh lên anh, c̣n việc nào nhỏ th́ chính họ xử
lấy: hăy làm như vậy để nhẹ gánh cho anh. Họ
phải gánh việc đỡ anh.
[12] 1Ga 4: 1 Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần
khí nào cũng tin, nhưng hăy cân nhắc các thần khí xem có
phải bởi Thiên Chúa hay không, v́ đă có nhiều ngôn sứ
giả lan tràn khắp thế gian.
2
Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí
của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su
Ki-tô là Đấng đă đến và trở nên người
phàm, th́ thần khí ấy bởi Thiên Chúa;
3
c̣n thần khí nào không tuyên xưng Đức Giê-su, th́ không bởi
Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Ki-tô. Anh em
đă nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong
thế gian rồi.
[13] Lc 12: 54
Đức Giê-su cũng nói với đám đông rằng:
"Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các
người nói ngay: "Mưa đến nơi rồi,”
và xảy ra đúng như vậy.55 Khi
thấy gió nồm thổi, các người nói: "Trời
sẽ oi bức,” và xảy ra đúng như vậy.56 Những
kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc
đất trời, th́ các người biết nhận xét,
c̣n thời đại này, sao các người lại không biết
nhận xét?
[14] 2Cor 11: 12
Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để
những kẻ muốn có cơ hội tự phụ là những
người ngang hàng với chúng tôi, không c̣n cơ hội
đó nữa.13 V́ những
kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo,
đội lốt tông đồ của Đức Ki-tô.14 Lạ
ǵ đâu! V́ chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần
sáng láng!15 Vậy có ǵ là khác thường
khi kẻ phục vụ nó đội lốt người
phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lănh
nhận hậu quả công việc chúng đă làm.
[15] Mt 13: 24
Đức Giê-su tŕnh bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn
khác: "Nước Trời ví như chuyện người
kia gieo giống tốt trong ruộng ḿnh.25 Khi
mọi người đang ngủ, th́ kẻ thù của ông
đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất.26 Khi
lúa mọc lên và trổ bông, th́ cỏ lùng cũng xuất hiện.27
Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng:
"Thưa ông, không phải ông đă gieo giống tốt
trong ruộng ông sao? Thế th́ cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?
" Ông đáp: "Kẻ thù đă làm đó! " Đầy
tớ nói: "Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại
không? " 29 Ông đáp: "Đừng, sợ rằng khi
gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để
cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến
ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hăy gom cỏ lùng lại,
bó thành bó mà đốt đi, c̣n lúa, th́ hăy thu vào kho lẫm
cho tôi."
[16] Dt 5: 11 Về vấn đề
này, chúng tôi c̣n có nhiều điều phải nói, nhưng
khó mà cắt nghĩa, v́ anh em đă trở nên uể oải
không muốn nghe.12 Quả thật, với thời gian, đáng
lẽ anh em đă phải là những bậc thầy, thế
mà anh em lại cần phải để cho người ta
dạy anh em những điều sơ đẳng về
các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay v́ thức ăn đặc,
anh em lại phải cần dùng sữa.13 Thật vậy,
phàm ai c̣n phải dùng đến sữa, th́ không hiểu ǵ về
đạo lư liên quan đến sự công chính, v́ người
ấy vẫn là trẻ con.14 Thức ăn đặc
th́ dành cho những người đă trưởng thành, những
người nhờ thực hành mà rèn luyện được
khả năng phân biệt điều lành điều dữ.
[17] Gal 5: 13 Quả
thế, thưa anh em, anh em đă được gọi
để hưởng tự do. Có điều là đừng
lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt,
nhưng hăy lấy đức mến mà phục vụ lẫn
nhau.14 V́ tất cả Lề Luật
được nên trọn trong điều răn duy nhất
này là: Ngươi phải yêu người thân cận như
chính ḿnh.15 Nhưng nếu anh em cắn
xé nhau, anh em hăy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau
đấy!
16 Tôi xin nói với anh em là hăy sống theo Thần
Khí, và như vậy, anh em sẽ không c̣n thoả măn đam
mê của tính xác thịt nữa.17 V́
tính xác thịt th́ ước muốn những điều
trái ngược với Thần Khí, c̣n Thần Khí lại
ước muốn những điều trái ngược với
tính xác thịt, đôi bên ḱnh địch nhau, khiến anh em
không làm được điều anh em muốn.18 Nếu
anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, th́ anh em
không c̣n lệ thuộc Lề Luật nữa.19 Những
việc do tính xác thịt gây ra th́ ai cũng rơ, đó là: dâm
bôn, ô uế, phóng đăng,20 thờ quấy,
phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp,
chia rẽ, bè phái,21 ganh tỵ,
say sưa, chè chén, và những điều khác giống
như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như
tôi đă từng bảo: những kẻ làm các điều
đó sẽ không được thừa hưởng Nước
Thiên Chúa.22 C̣n hoa quả của Thần
Khí là: bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu,
từ tâm, trung tín,23 hiền
hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những
điều như thế.24 Những
ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su th́ đă đóng
đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng
và đam mê.
25 Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, th́
cũng hăy nhờ Thần Khí mà tiến bước.26
Chúng ta đừng có t́m hư danh, đừng khiêu khích nhau,
đừng ganh tỵ nhau.
[18] 1Co 2: 6Thế
mà điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu
trưởng thành cũng là một lẽ khôn ngoan, nhưng
không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng
không phải của các thủ lănh thế gian này, là những
kẻ sớm muộn ǵ cũng phải diệt vong.7
Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm
mầu của Thiên Chúa đă được giữ bí mật,
lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đă tiền định từ
trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển… 10 C̣n
chúng ta, chúng ta đă được Thiên Chúa mặc khải
cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu
suốt mọi sự, ngay cả những ǵ sâu thẳm
nơi Thiên Chúa... Cũng thế,
không ai biết được những ǵ nơi Thiên Chúa, nếu
không phải là Thần Khí của Thiên Chúa... 13chúng
tôi không dùng những lời lẽ đă học được
nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những
lời lẽ học được nơi Thần Khí;
chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng
để diễn tả thực tại thuộc về Thần
Khí.14 Con người sống theo
tính tự nhiên th́ không đón nhận những ǵ của Thần
Khí Thiên Chúa, v́ cho đó là sự điên rồ; họ không
thể biết được, bởi v́ phải nhờ Thần
Khí mới có thể xét đoán.15
Nhưng con người sống theo Thần Khí th́ xét
đoán được mọi sự, mà chẳng có ai xét
đoán được người đó.16 Thật
vậy, ai đă biết tư tưởng của Chúa,
để chỉ vẽ cho Người? C̣n chúng tôi, chúng tôi
biết được tư tưởng của Đức
Ki-tô.
[19] Tội không thuộc bản tính
con người. Con người có thể không phạm tội.
Phạm tội hay không là tùy tự do mỗi người.
[20] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.
[21] Xem ghi chú của FranVois Courel, sj, trong SAINT
IGNACE DE LOYOLA, Exercices Spirituels, DESCLÉE DE BROUWER 1960, p. 65 note 2.
[22] Các
bước gợi ư cho một lần cầu nguyện:
1.
Sau khi đă chọn địa điểm tốt nhất
để cầu nguyện như ḿnh thấy, đến
chỗ đó, và ư thức ḿnh
hiện diện trước Thiên Chúa Ba Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn tả
với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).
2.
Xin Chúa Cha ban Thánh Thần
của Chúa Giêsu Phục Sinh cho ḿnh, để Ngài thanh tẩy
ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ những vướng bận
đặc biệt trong giờ cầu nguyện này, và xin
Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa.
3.
Đặt khung cảnh (v́ thân phận con
người, chúng ta đến với Thiên Chúa qua những
ǵ hữu h́nh).
4.
Ơn xin (Mỗi bài cầu nguyện
đều có ơn xin; Thao viên cần khao khát điều
này trước khi xin).
5.
Điểm
6.
Tâm sự với Chúa (Sau mỗi điểm,
chúng ta nên tâm sự với Chúa, chứ không nhất thiết
phải chờ đến cuối giờ cầu nguyện,
v́ các điểm gợi ư chỉ là phương tiện
giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự cùng sống hạnh
phúc với Chúa).
[23] Tuy vậy cần lưu ư về
t́nh trạng biếng lười của ḿnh; có người
không muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ
cầu nguyện.
Cũng
có bài cầu nguyện cần dùng tất cả số
điểm được cho, như trường hợp
bài cầu nguyện về "Tội tôi" (LT 55 tt).
[24] "Ta không muốn kẻ gian ác
phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối
và được sống" (Ed 33:11).
"Thiên
Chúa muốn cho mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư" (1Tm 2:4).
[25] Cũng xảy ra trường hợp
có vẻ được an ủi,
nhưng không phải là an ủi thực; trường hợp
này là do qủy giả dạng thần lành để
đánh lừa người ta (2Cor 11:14), làm người ta
đi theo đường của nó, nhưng nếu theo nó,
người ta sẽ cảm thấy bất an bối rối,
v́ không đi trên con đường Thiên Chúa muốn (LT
332-333).
[26] Với tác động của
Thiên Chúa, tự do của con người luôn được
bảo toàn.
"Xin
thánh ... làm cho người em con trở lại.” Thánh... không
thể làm được điều này nếu "em
con" không đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm
được mà người "em con" vẫn hoàn toàn
tự do.
[27] Mỗi bài cầu nguyện
đều có ơn xin, có thể coi như yêu cầu của
bài cầu nguyện.
[28] Giờ cầu nguyện không tốt,
tốt, hay tốt lắm, là đánh giá chủ quan hay khách
quan của người cầu nguyện hay của người
hướng dẫn.
[29] Khao khát nên thánh, là hành vi đă
được lư trí tự do hướng dẫn.
[30] Giống như trong xét gẫm,
vẫn cố gắng nhận ra những ơn ḿnh đă
lănh nhận, chỉ khác trong xét gẫm, thấy những
ơn vừa nhận trong giờ cầu nguyện, c̣n trong
hồi tâm xét ḿnh th́ cố gắng nhận ra những
ơn đă lănh nhận từ lần xét ḿnh trước
cho đến giờ.
[31] Cũng vẫn như trong xét gẫm,
cố gắng nhận ra những lỗi lầm, những
khuynh chiều nơi con người ḿnh, cũng như những
buồn vui nơi ḿnh, những nguyên nhân của những lỗi
lầm, của khuynh chiều, của t́nh cảm nơi
ḿnh, để chỉnh sửa.
Tôi hay phản ứng gay gắt với anh chị em này. Tại
sao vậy? Sâu xa hơn là ǵ? Chúa mời gọi tôi ǵ qua
điều này?
Tôi không vui! Tại sao? V́ tôi mặc cảm, v́ người
khác trổi trang hơn tôi? V́ gia đ́nh người ta giầu
hơn gia đ́nh tôi? V́ anh chị này anh chị kia hành xử
không đúng, v.v.?
Tôi bị tổn thương! Người ta xúc phạm
tôi, v.v. Chúa có bị như tôi không? Chúa phản ứng sao?
Chúa mời gọi tôi ǵ trong trường hợp này? Tôi có sẵn
sàng “xin vâng” với lời mời gọi của Chúa không?
[32] Không vị lợi, có cái nh́n
trưởng thành về đời sống gia đ́nh và
dâng hiến, không bị quyến luyến lệch lạc
chi phối.
[33] Lấy con người cảm
tính của ḿnh làm tiêu chuẩn chọn lựa.
[34] Như vậy không nên lạm dụng
cách chọn lựa theo thánh Inhaxiô, như thể cứ làm
theo cách thức đó, th́ đă là làm việc lựa chọn
đúng đắn!
[35] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm
lựa chọn, th́ cuộc chọn lựa đó không
được coi là cuộc chọn lựa có giá trị.
[36] Ở một nghĩa nào đó,
không quyết định cũng là quyết định,
không chọn lựa cũng là chọn lựa.
Nếu
không thấy rơ th́ đừng quyết định. Cụ
thể, trong trường hợp lựa chọn bậc sống,
nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc sống
khác, th́ cứ sống trong bậc sống ḿnh đang sống.
[37] Điều này không muốn nói rằng
người đó không bị đau khổ hoặc thập
giá trong cuộc sống.
[38] Đương nhiên phải hiểu
là nếu chúng ta vẫn quảng đại với Chúa: vẫn
luôn kết hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống,
vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.
Nếu
sau chọn lựa mà chúng ta cầu nguyện dở hơn
trước dù chúng ta vẫn quảng đại với
Chúa như trước, th́ phải t́m nguyên do, cũng có thể
tại ḿnh chọn điều Chúa không muốn.
[39] Tài liệu này được
cha Jean Claude Dhôtel SJ in trong bài viết “Discernement ensemble” của
tạp chí Vie Chrétienne (trg 7-12) và được cha Giuse
Lê Quang Chủng SJ dịch sang tiếng Việt.
[40] Bản dịch của một anh em Ḍng Tên tỉnh ḍng Việt Nam.
[41] Tài liệu “Deliberatio Primorum Patrum” (Cuộc
bàn định của các Cha đầu tiên) có viết: "Thời
điểm phân tán và
chia tay đang gần đến. Chúng tôi dốc sức
chuẩn bị cho thời điểm này, sao cho có thể sớm
đạt được mục tiêu mà nhóm đă đề
ra và đă đặt vào đó tất cả tâm năo. V́ thế
chúng tôi đă quyết định sẽ họp mặt
trong một thời gian dài trước khi phân tán, để
bàn thảo về ơn gọi và cách sống tương
thích của nhóm. Một số trong chúng tôi là người
Pháp, số khác là người Tây Ban Nha, người Vùng
Savoie hay Bồ Đào Nha. Sau một số buổi gặp gỡ,
đă xuất hiện một sự phân rẽ trong cách thức
cảm nhận và giữa các ư kiến về t́nh h́nh của
nhóm, mặc dù tất cả chúng tôi đều một ḷng một
trí t́m kiếm thánh ư tốt lành và hoàn hảo của Thiên
Chúa thể theo viễn ảnh ơn gọi của chúng
tôi."
[42] Sách
Giêrêmia
chương 42-43 nêu một ví dụ rơ ràng về phân định
chung sai lạc.
[43] Chẳng hạn: HP [64, 238, 343]
[44] Có nhiều
người làm việc cho các tổ chức tông đồ
của Ḍng hoặc tham gia vào việc phục vụ người
nghèo của Ḍng, nhưng không có cùng đức tin Kitô giáo. V́
thế cần t́m ra những cách thức tôn trọng và chân
thành để họ cùng tham gia vào tiến tŕnh phân định
chung. Đây là một thách thức đối với sự
sáng tạo và tự do của chúng ta xét như những con
cái của Thiên Chúa.
[45] LT 175-188
[46] LT 175
[47] LT 176, 183 và 188
[48] LT 177-178
[49] Xem Các quy tắc giúp nhận biết và hiểu các thúc
đẩy khác nhau (LT 313-327) và Các quy tắc về
cùng một vấn đề giúp nhận biết tác động
của các thần hơn (LT 328-336).
[50] LT
318.
[51] Mt
26:36-46
[52] Kinh
Thánh có nhiều ví dụ phân biệt rơ việc đi theo
Thánh Thần hay theo trạng thái tâm hồn của cá nhân.
Điển h́nh như ơn gọi và đời sống của
các ngôn sứ, hay việc Giuse quyết định đón nhận
Maria đă có thai về làm vợ ḿnh (Mt 1:18-24).
[53] LT
316.
[54] LT
183
[55] LT 101-105
[56] Mt 28:20
[57] “Tṛ chuyện
thiêng liêng là một công cụ thiết yếu giúp làm sống
động việc phân định tông đồ của cộng
đoàn. Tṛ chuyện thiêng liêng bao hàm một sự trao đổi,
lắng nghe cách đón nhận và mong muốn chia sẻ ra
điều đang đụng chạm ta cách sâu thẳm nhất.
Việc tṛ chuyện này sẽ ghi nhận các chuyển động
thiêng liêng, nơi cá nhân cũng như nơi cộng
đoàn, để dùng sự an ủi mà thúc đẩy
đức tin, đức cậy và đức mến của
nhau. Tṛ chuyện thiêng liêng tạo ra một bầu không khí
tin tưởng và đón nhận lẫn nhau cho chúng ta và cho
tha nhân. Chúng ta đừng bỏ lỡ việc tṛ chuyện
này trong cộng đoàn cũng như trong những tiến
tŕnh đưa ra quyết định ở trong Ḍng” (TH 36,
NQ.1, số 12)
[58] Huấn từ
của ĐTC Phanxicô tại Tổng Hội 36, ngày 24.10.
2016.