Thần Học Tôn Giáo Ngoài Kitô bản PDF
THẦN HỌC TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
GIÁ TRỊ CỨU
ĐỘ CỦA CÁC TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
I. LỊCH SỬ
THẦN HỌC VỀ TÔN-GIÁO-NGOÀI-KITÔ
4. Những thần
học gia tiêu biểu.
3. Cái nh́n tích cực
thời trung cổ
4. Nơi các thần
học gia hiện đại
II. TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
THEO NHĂN QUAN MẶC KHẢI
2. Niềm tin
của các tín hữu ngoài-Kitô
b. Sai lầm không
đến từ Thiên Chúa
2. Mặc khải
nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô
c. Kinh nghiệm
Tuyệt Đối nơi các tôn giáo ngoài-Kitô
III. TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
LÀ PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
B. TÔN GIÁO-
PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
2. Giá trị cứu
độ của các tôn giáo
3. Vị thế
ưu việt của đức Giêsu Kitô
a. Những
điều không là mặc khải Kitô giáo
b. Nét đặc
biệt của mặc khải Kitô giáo
AG Ad
Gentes. Sắc lệnh Truyền giáo của Công Đồng
Vatican II.
Art Articulus Bài
Art. Cit. Articulo
citato Bài đă dẫn
AUG Augustinô
DS Denzinger-Schonmetzer,
Enchiridion Symbolorum Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum, Herder
MCMLXIII
Ep Epistula Thư
ET K.
Rahner, Ecrits Théologiques
FV Coll.
FOI VIVANTE
Ibid. Ibidem Cùng vậy
LG Lumen
Gentium Hiến Chế Giáo
Hội
NAe Nostra
Aetate. Tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II về liên
lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô
op. cit. Opere
citato Sách đă dẫn
p (pp) Trang
(các trang)
PG J.
P. Migne, Patrologiae cursus completus, Series graeca, Parisiis 1857 seq.
PL J.
P. Migne, Patrologiae cursus completus, Series prima Latina, Parisiis 1844 sqq.
R Rouet
De Journel, Enchiridion patristicum, Herder MCMLXV
ST St.
Thomas, Summa Theologiae
TCN Trước
Công Nguyên
Kư hiệu Kinh Thánh dùng theo
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Một số trích đoạn
Kinh Thánh theo bản dịch của cha Nguyễn Thế
Thuấn (D̉NG CHÚA CỨU THẾ, 1976) và một số trích
đoạn theo bản dịch của Các Giờ Kinh
Phụng Vụ.
Kư hiệu của Công
Đồng Vatican II dùng theo bản tiếng Latin.
Trên toàn thế giới, Kitô
hữu chiếm khoảng 30% dân số; tại Á châu số Kitô
hữu chỉ vào khoảng 3%; riêng tại Việt Nam,
số người công giáo vào khoảng 7%. Con số
khổng lồ người ngoại làm những
người nhiệt thành lo nước Chúa và những nhà
truyền giáo bận tâm rất nhiều.
Đứng trước hiện
tượng các tôn giáo và số đông bao la tín hữu
của các tôn giáo này, hơn bao giờ hết trong lịch
sử, các thần học gia đặt câu hỏi về ư
nghĩa thần học của các tôn-giáo-ngoài-Kitô: các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ không? các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương thế Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người không?
Để trả lời câu hỏi
này, cần xem những câu trả lời trong lịch
sử thần học trước khi đưa ra câu
trả lời đề nghị, nhưng trước tiên
t́m hiểu vài từ ngữ.
Tôn giáo là cộng đoàn
những người có cùng niềm tin, có giáo lư và diễn
tả tâm t́nh của ḿnh với Tuyệt Đối bằng
những nghi lễ riêng. Từ ngữ "các tôn-giáo-ngoài-Kitô,”
được hiểu là các tôn giáo không tin Đức Giêsu là
Thiên Chúa, chẳng hạn như Ấn giáo, Phật giáo,
Khổng giáo, Lăo giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, v.v.
Nhằm hiểu biết sâu xa
hơn về tôn giáo, người ta đă so sánh đối
chiếu các tôn giáo với nhau. Khoa tôn giáo đối
chiếu là một khoa học, nó không nhằm chứng minh
sự ưu việt của tôn giáo nào đó, nó xét tôn giáo
như những sự kiện, khoa tôn giáo đối
chiếu nhằm nhận ra những điểm dị
đồng giữa các tôn giáo, không đề cập
đến đúng sai tuy rằng không loại trừ khía
cạnh này. Khoa tôn giáo đối chiếu cung cấp
những dữ kiện để giúp các nhà triết
học và thần học suy tư có cơ sở hơn,
khoa học hơn, khách quan hơn.[1]
Qua lịch sử các tôn giáo, có
thể tóm lược những giai đoạn chính trong
việc h́nh thành các tôn giáo như sau:
·
đầu tiên có
một cá nhân được mặc khải hoặc có kinh
nghiệm với Tuyệt Đối;
·
cá nhân này thu nhập môn
đệ, hoặc những người trong gia tộc
thừa tiếp gia sản này, và những người này
theo đường lối của thầy ḿnh (đạo)
trong việc tiếp xúc với Tuyệt Đối;
·
khi những
người cùng tin vào Tuyệt Đối và theo cùng cách
thức người thầy đầu tiên tăng
nhiều (cộng đoàn xuất hiện) th́ những
lời dạy của thầy được hệ
thống hóa thành giáo lư và những h́nh thức; công thức
diễn tả tín ngưỡng được thành h́nh (nghi
lễ);
·
trong ḍng lịch sử,
cơ cấu tôn giáo ngày càng thêm chặt chẽ.
Ư niệm cứu độ,
giải thoát đi liền với khái niệm tôn giáo. Ở
phương đông, chữ đạo trong Đạo
Phật, Đạo Khổng, v.v., được hiểu
như con đường mà người sáng lập đă
đi qua, đó cũng là con đường mà tín hữu
chấp nhận theo, để cũng được
cứu độ, giải thoát như người sáng
lập.
Chữ "cứu
độ" trong vấn đề của chúng ta có
nghĩa là ǵ? Theo J-H. Walgrave, từ ngữ cứu
độ bắt nguồn từ chữ có nghĩa là
"tất cả.”[2]
Cứu độ là được trở nên cái ḿnh là.
Cứu độ luôn hàm nghĩa được trở nên
ḿnh cách hoàn hảo, trọn vẹn và ḥa hợp với
tất cả.[3]
Theo các Đạo ở phương
đông, cứu độ là điều mỗi
người ao ước đạt tới bằng
những đường khác nhau. Các đạo là những
con đường dẫn tới đích! Tất cả
đều dẫn đến Rôma, tất cả các Đạo
đều dẫn tới giải thoát, tất cả các
Đạo đều tốt!
Theo Kitô giáo, cứu độ là
trở nên như Thiên Chúa muốn. Con người hiện
tại được cứu độ khi biết ḿnh và
Thiên Chúa, được giải phóng khỏi tội, ḥa
giải với Thiên Chúa và con người, sống trong t́nh
thân với Thiên Chúa. Theo nhăn quan Kitô giáo, cứu độ
không là chuyện tự sức con người có thể làm
được. Nếu con người muốn độc
lập với Thiên Chúa, con người không thể
được cứu độ. Hiểu như vậy,
để giải đáp câu hỏi về tôn-giáo-ngoài-Kitô có
là phương tiện cứu độ không, một
số nhà thần học đă đặt vấn
đề thành: các tôn-giáo-ngoài-Kitô là công tŕnh của Thiên Chúa
hay của con người!
Trong sách Công Vụ tông đồ
"Không có ơn cứu độ nơi một
người nào khác nữa. V́ dưới gầm trời
này, không có một Danh nào khác được ban xuống cho
nhân loại để phải nhờ vào đó mà trông
được cứu thoát" (Cv 4:12). Đức Giêsu Kitô là
"đường, sự thật, và sự sống"
(Ga 14:6). Như vậy, Đức Giêsu là phương tiện
và là chính ơn cứu độ. Ngài là Đấng trung gian duy
nhất giữa Thiên Chúa và con người.
Khi đặt câu hỏi "các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương thế Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người không?” không
muốn nói rằng các tôn giáo là phương thế cứu
độ thay thế Đức Giêsu Kitô. Cần minh
định lại lập trường Kitô giáo của
người viết bài này: tất cả mọi
người, dù là Công giáo hay Tin lành, dù một người
theo tôn giáo nào đi nữa, hoặc nh́n nhận là vô
thần, nếu họ được cứu rỗi là
được cứu rỗi nhờ Đức Giêsu Kitô.
Kitô giáo là phương tiện
cứu độ. Chữ phương tiện cứu
rỗi ở đây là phương tiện thứ yếu,
đó là điều Thiên Chúa muốn dùng như dụng
cụ để cứu rỗi con người trong Đức
Giêsu Kitô, nhờ và qua Đức Giêsu Kitô. Chữ
"phương tiện cứu độ" trong câu
hỏi "các tôn giáo ngoài-Kitô có là phương tiện
cứu độ không?” cũng tương tự như
chữ phương tiện trong câu "Kitô giáo là
phương tiện Thiên Chúa để cứu độ
con người.”
Vấn đề
được bàn trong bài này hàm chứa vấn đề
cứu độ lương dân. Lời Chúa trong thư
thánh Phaolô viết: "Thiên Chúa muốn cho mọi
người được cứu thoát và nh́n biết chân
lư" (1Tm 2:4). Công Đồng Vatican II trong hiến chế
về Giáo Hội cũng khẳng định:
"Những kẻ đang t́m kiếm Thiên Chúa trong bóng tối
và qua ngẫu tượng, Thiên Chúa mà họ không biết,
cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ,
bởi v́ chính Ngài ban cho mọi người sự sống,
hơi thở và tất cả mọi sự, và v́ là
Đấng Cứu Thế, Ngài muốn mọi người
được cứu rỗi. Thực tế, những
kẻ vô t́nh không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và
Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm t́m kiếm
Thiên Chúa, dưới tác động của ơn thánh,
họ cố gắng chu toàn thánh ư Thiên Chúa trong công việc
ḿnh theo sự hướng dẫn của lương tâm,
th́ họ có thể được cứu rỗi. Cả
những kẻ vô t́nh chưa nhận biết Thiên Chúa cách rơ
ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống
đời chính trực, th́ Chúa Quan Pḥng không từ chối
ban ơn trợ lực cần thiết để họ
được cứu rỗi" (LG 16).
Khẳng định của công
đồng được trích dẫn trên đ̣i
người ta phải hiểu đúng đắn câu
"extra ecclesiam nulla salus.” Đức Giáo Hoàng Piô IX trong Singulari
Quadam năm 1854 cũng nói: "bởi đức tin chúng ta
nhận rằng ngoài Giáo Hội tông truyền Rôma không có ai
được cứu; chỉ có một con tàu cứu
độ duy nhất mà nếu ai không vào th́ sẽ bị
hư mất trong nước lụt. Nhưng cũng
phải xem là chắc chắn, những ai làm việc
dưới sự vô tri bất khả thắng về tôn
giáo chân thực, th́ không có lỗi về vấn đề
này dưới con mắt của Chúa.”[4]
Ở đây không đặt câu
hỏi "những người theo các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
được cứu độ trong tôn giáo của
họ không,” nhưng "những người sống trong
các tôn-giáo-ngoài-Kitô có được cứu độ qua
trung gian tôn giáo của họ không” (hiển nhiên là
không thay thế đức Kitô).
Đây là một vấn đề
thần học c̣n phải được bàn căi (questiones
disputatae). Kinh Thánh không nói rơ ràng về điều này, và các
nhà thần học cũng không cùng quan điểm với
nhau. Sau đây sẽ xem ư kiến các nhà thần học
về vấn đề này cũng như những ư
kiến dị biệt khi họ chú giải Kinh Thánh.
Trong lịch sử thần
học, vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không được nhiều người đề cập
đến, và nếu được đề cập
tới th́ cũng không được bàn cách trực
tiếp.
Trong phần này sẽ
lược qua các thời đại để t́m xem các
tư tưởng gia Công giáo nghĩ ǵ về các tôn giáo.
Chúng ta phân chia ư kiến của các nhà thần học về
vấn đề này ra làm hai: một "tiêu cực"
cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô không là phương tiện
Thiên Chúa dùng để cứu độ con người
sống trong đó, hai "tích cực" cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người. Chúng ta sẽ
tuần tự lược qua các tác giả linh ứng, các
giáo phụ, các thần học gia thời trung cổ,
cải cách và hiện tại.
Có nhiều tôn giáo xuất
hiện trước Do Thái giáo và Kitô giáo, và các Kitô hữu
đă sống chung đụng với những người
theo tôn giáo khác. Thời Cựu Ước và Tân Ước,
các tác giả linh ứng không bàn trực tiếp về các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, nếu có dịp th́ các tác giả chỉ
nhắc sơ qua thôi; thời các giáo phụ cũng vậy.
Việc nghiên cứu các tôn-giáo-ngoài-Kitô chỉ xuất
hiện trong những thế kỷ gần đây[5].
Kinh Thánh cũng là những suy
tư của con người về Thiên Chúa, con
người và vũ trụ; tuy vậy những suy tư
của các tác giả này không chỉ thuần túy của con
người nhưng nó đă được Thiên Chúa linh
ứng, nghĩa là lời con người đă thành lời
Thiên Chúa; và do đó những lời này không thể sai
lầm. V́ thế những suy tư của các tác giả
linh ứng trở thành tiêu chuẩn giúp các thần học
gia sau này qui chiếu về. Kinh Thánh là những lời qui
phạm, làm tiêu chuẩn để biết những suy
tư của các thần học gia sau này có đúng không
(norma normans).
Nếu người ta chứng
minh được một vị trong các tác giả linh
ứng khẳng định các tôn giáo ngoài-Kitô không là
phương tiện cứu độ, th́ không cần
đặt vấn đề này nữa! Chính v́ các tác
giả Kinh Thánh không trả lời rơ ràng về vấn
đề này, nên người ta phải t́m hiểu.
Một số tác giả dựa
vào những đoạn Kinh Thánh sau để nói rằng các
tác giả linh ứng có câu trả lời tiêu cực về
vấn đề này: 1V 11:1-13; Gr 2:26-29; 10,1-16; Br 6:7-72; Is 40:18-20;
44:9-20; 46:6tt; Tv 105; 113:10-16; Kn 13:1-14.20; 15:6-19; 1Mac 1:41-64; 2Mac 4:1-11;
Dn 14; v.v.[6]
Có thật các tác giả linh
ứng của những đoạn Kinh Thánh trên muốn nói
các tôn giáo ngoài Do Thái giáo tự bản chất là xấu,
không có giá trị cứu độ không? Vấn đề
này thuộc về khoa chú giải Kinh Thánh, nhưng dù sao
đây không là vấn đề được các tác giả
linh ứng muốn bàn tới trực tiếp.
Bản văn 1V 11:1-13 nói về
việc vua Salomon mê con gái các dân ngoại và để ḷng xiêu
theo các thần ngoại lai, chính v́ đó mà Thiên Chúa đă
chia cắt xứ sở ra làm hai. Bản văn này coi các
thần dân ngoại thờ kính (thần sản lực
Astartê-Astoret của dân Canaan; thần Milkom-Molek của dân
Ammon; thần Kamosh của dân Moab) như đối
nghịch với Yahveh của dân Israel. Ngày nay người
ta không đơn thuần đồng hóa đức Giêsu và
đức Phật, nhưng Đấng Tuyệt Đối nơi
các tôn giáo khác (Cao Đài, Hồi giáo, v.v.) cũng là Chúa tể
vạn vật như Yahveh của dân Do Thái và Thiên Chúa
của người Kitô.
Bản văn Gr 2:26-29; 10,1-16,
châm biếm các ngẫu tượng của các dân ngoại
bằng gỗ, bằng bạc, bằng vàng. Điều này
hiểu được dễ dàng, v́ đây chính là
điều Yahveh Thiên Chúa cấm dân Israel không
được làm h́nh tượng Yahveh (Xh 20:4) và khi con dân
Israel làm ḅ vàng để thờ và cho đó là Đấng đă
dẫn họ ra khỏi AiCập th́ Yahveh đă nổi
giận dân (Xh 32:4-10)! Ngày nay chẳng ai trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô
thờ kính khúc gỗ, ngẫu tượng do người
phàm làm ra; nếu họ cúi ḿnh trước những ảnh
tượng th́ không phải những ảnh tượng là
đối tượng tôn thờ, nhưng đối
tượng tôn thờ là cái ǵ siêu vượt trên cái đó!
Người công giáo cũng không thờ ảnh
tượng, nhưng ảnh tượng là biểu tượng
của cái ǵ siêu vượt!
Một số người đă
dựa vào thư thánh Phaolô gởi Roma để kết án
tôn-giáo-ngoài-Kitô. "Quả vậy, tự trời sự
thịnh nộ của Thiên Chúa được mặc
khải ra trên mọi sự vô đạo và bất chính
của những kẻ lấy bất chính hăm cầm sự
thật. V́ chưng lộ hiện rồi nơi họ
những ǵ biết được về Thiên Chúa, bởi
Thiên Chúa đă bày tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo
thành vũ trụ, những ǵ nơi Người, mắt
xác thịt không thể thấy, th́ trí khôn nh́n ngắm
được nơi công việc người làm: quyền
năng hằng có và thần tính của Người,
khiến họ vô phương chữa ḿnh. V́ rằng
họ đă biết Thiên Chúa, họ lại đă không tôn
vinh Người như Thiên Chúa, hay không tạ ơn
Người, nhưng họ đă ra hư luống trong các
tư tưởng của họ; và ḷng ngu muội của
họ đă ra tối tăm. Trong khi họ huyênh hoang ḿnh
khôn ngoan, th́ họ đă ra điên rồ. Và họ đă
tráo đổi vinh quang Thiên Chúa bất hoại với h́nh
tượng loài người hư nát, và bao cầm thú, cùng
rắn rít.” (Rm 1:18-23). Ở đây Phaolô bàn về tội
lỗi của con người, đă không theo
đường lối của Thiên Chúa nhưng đă
bẻ quặt đường lối Thiên Chúa theo kiểu
của ḿnh; Phaolô cũng giống tác giả sách Sáng Thế
cho rằng tội của Adam là muốn nên giống Thiên
Chúa, trở nên một thần linh bằng sức riêng
của ḿnh, độc lập với Thiên Chúa; c̣n vấn
đề ở đây là "thần học các tôn giáo,”
đang t́m hiểu xem các tôn giáo là công tŕnh của Thiên Chúa
hay của con người.
Dù các giáo phụ không đặt
câu hỏi về các tôn giáo như người ta đang
đặt ngày nay, nhưng đôi khi các ngài cũng bàn
về khía cạnh chân lư trong tôn-giáo-ngoài-Kitô. H. Kraemer đă
tóm tắt lập trường của các giáo phụ như
sau:
·
lập trường
thứ nhất cho rằng các điều hay và tốt
nơi các tôn giáo khác là do công tŕnh của Logos spermatikos;
·
lập trường
thứ hai chủ trương rằng những ǵ tốt
đẹp và chân thật nơi các tôn giáo khác là do các tôn giáo
ấy lấy những ǵ tốt đẹp và chân thật
nơi Do Thái giáo hoặc Kitô giáo (lập trường này
giải thích bằng sự tiếp xúc);
·
lập trường
thứ ba cho rằng những ǵ được coi là chân
thiện mỹ nơi các tôn giáo khác chỉ có vẻ là chân
thiện mỹ, chứ thực ra không có chân thiện mỹ
nơi các tôn giáo khác; đó là do ma qủy mà ra.[7]
Trong thời
sơ khai của Hội Thánh, có những kẻ tiếp xúc
với các tôn giáo và có khuynh hướng "ḥa đồng
tôn giáo,” đă cho rằng Zarathoustra, đức Phật,
đức Kitô đều chỉ một thực tại.
Hội Thánh Byzantine đă kết án những người
chủ trương như vậy: "Coi là ngoại
đạo những ai nói rằng Zarathoustra, đức
Phật, đức Kitô, Mani và mặt trời là một và
cùng là một sự... Coi là ngoại đạo những ai
nhận thuyết luân hồi, nghĩa là sự di chuyển
linh hồn của một thân xác này vào trong một thân xác
khác (PG I, 1446).[8]
Giáo phụ Tatien sinh khoảng
năm 120 tại Assyrie, là môn đệ thánh Justin ở Roma,
được huấn luyện về văn chương
và triết lư ở đó. Tatien không bàn về tôn giáo
nhưng qua thái độ của ông đối với
triết gia, ta thấy ông rất nghiêm khắc: ông kết
án các triết gia đă rơi vào một loại tật
xấu đáng tởm, các loại sai lầm và mâu thuẫn.[9]
Théophile d’Antioche cũng vậy,
ngài bài bác các triết gia bằng cách chưng ra những sai
lầm và nghịch lư của ho.[10]
Thái độ của các ngài có thể hiểu
được nếu người ta đặt ḿnh vào
bầu khí hộ giáo: thời đó các triết gia ngoại
giáo đang châm biếm và đả kích Kitô giáo, v́ thế
các ngài bênh vực đạo giáo và cho thấy những sai
lầm của họ. Nếu thái độ của các ngài
đối với các triết gia c̣n vậy, huống
hồ là đối với các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Thánh Augustinus, một thần
học gia vào loại bậc nhất của Hội Thánh,
sinh khoảng năm 354 ở Numide tại Tagaste, Ngài cho
rằng các triết lư có những giá trị đích
thực, nhưng nó có được như vậy là do
chiếm đoạt cách bất chính những giá trị
đích thực của Kitô giáo. Và dựa quan niệm này
của Augustinus người ta cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô
cũng có những giá trị tôn giáo đích thực nhưng
giá trị đó là do các tôn-giáo-ngoài-Kitô chiếm đoạt
cách bất chính nơi Hội Thánh Kitô.[11] Để
hiểu rơ giá trị lời nói trên của thánh Augustinus,
phải nhớ rằng thánh nhân đă có thời gian dài
sống theo hết các triết lư này đến triết lư
khác và cuối cùng ngài mới trở lại tin đức
Kitô.[12]
Đối với thánh giáo phụ
Fulgence de Ruspe, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá trị cứu
độ, và thậm chí những người sống ngoài
Giáo Hội Công Giáo đều phải sa hỏa ngục:
"không có ǵ phải nghi ngờ rằng không chỉ
những lương dân mà tất cả những
người Do Thái, tất cả những người
lạc giáo và ly giáo, những người chết ngoài Giáo
Hội Công Giáo, họ sẽ sa vào lửa đời
đời đă được sắm sẵn cho ma
qủy và các thần của nó.”[13]
Đọc chung hàng này của thánh Fulgence de Ruspe, người ta
nhớ đến câu châm ngôn thần học thịnh hành
trong những thế kỷ đầu của Giáo Hội:
extra ecclesiam nulla salus. Câu châm ngôn này được Giáo
Hội chính thức giải thích trong hiến chế Giáo Hội
của Công Đồng Vatican II (LG 16)!
Thánh Thomas, một thần
học gia vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo sinh
năm 1225 tại Rocca Secca, ngài đă đặt vấn
đề: các nghi lễ của dân ngoại có được
dung thứ không? Theo ngài, các nghi lễ của dân ngoại
không có sự thật cũng chẳng có ích lợi chút nào,
nhưng để có một ích lợi lớn hơn th́ có
thể dung thứ các nghi lễ của dân ngoại với
mức độ.[14]
Một số người
dựa vào một nguyên lư của thánh Thomas "bonum ex integra
causa, malum ex quocumque defectu" để kết luận
rằng mọi tôn-giáo-ngoài-Kitô tự bản chất là
xấu, nghĩa là nó không nằm trong chương tŕnh
của Thiên Chúa và do đó không là phương tiện Thiên
Chúa dùng để cứu độ con người.[15]
Với Luther, tất cả các
tôn giáo (kể cả Công giáo) đều xấu v́ đó là
nỗ lực của con người nhằm đạt
đến sự cứu độ.[16]
Luther đă theo nguyên tắc "chỉ do sức con
người th́ không thể đạt tới sự
cứu độ;” Adam và Evà xưa cũng muốn trở
thành thần linh độc lập với Thiên Chúa, và do
đó hai ông bà đă phạm tội. Nếu tôn giáo chỉ
là nỗ lực của con người để
đạt tới sự cứu độ, th́ tôn giáo không
là phương tiện cứu độ, mà hơn nữa
đó c̣n là một tội. Thực ra người sống
trong tôn giáo vẫn chờ mong sự cứu độ
từ thực tại ngoài ḿnh!
Một số tác phẩm cho
rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô thờ ngẫu tượng,
chẳng hạn tác phẩm của P. Aubry: "văn minh
Trung Hoa, gần như dưới mọi quan điểm,
là một sự dị hợm không chỉ phản Kitô giáo
nhưng c̣n phản nhân bản nữa. Tôn giáo hay các tôn giáo
của người Trung Hoa thật dị hợm, phi lư,
lố bịch nhất thế giới... Các tu sĩ là giai
cấp đê tiện, bị khinh bỉ, vô tri, hư
thối. Nghệ thuật không được biết, nó
không hiện hữu; trong các chùa và các lâu đài, có vài h́nh
tượng được vẽ hay điêu khắc
về ma qủy và các con vật kinh khủng, dị
hợm,..."[17]
J. Witte cũng coi tôn-giáo-ngoài-Kitô
là sai lầm, tội lỗi và hư vong.[18]
Quan điểm thường có
câu trả lời tiêu cực về vấn đề
thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô, là cái nh́n từ phía
những nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo thường
gặp sức phản kháng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô
nơi các tôn giáo; họ thấy các tôn-giáo-ngoài-Kitô ngăn
cản người ta đón nhận đức Kitô.
Ngược lại các nhà truyền giáo "văn pḥng"
lại tŕnh bày các tôn-giáo-ngoài-Kitô như là những con
đường cứu độ, và như vậy các nhà
truyền giáo "thứ thiệt" có cảm
tưởng như ḿnh bị tấn công từ sau lưng.[19]
Đạo Hồi với Mahomet (sinh
khoảng năm 570 tại La Mecque) là một hiện
tượng tôn giáo đă phá hủy nhiều nhăn quan tích
cực về tôn giáo. Đầu thế kỷ XX, H. Lammens cho
rằng: "Đạo Hồi có lẽ là một giả
dạng của ma qủy, bằng một mưu kế
tế vi, đă thúc dục Mahomet liên kết vài giáo lư Kinh
Thánh và loan truyền điều đó theo cách thức
tạo ảo tưởng về địa vị của
ông ta, nhằm đánh đổ đạo Do Thái và hơn
nữa là đạo Kitô.”[20]
Sở dĩ có thần học gia coi đạo Hồi
như là mưu mẹo của ma qủy như vậy, là v́
đạo Hồi nhận ḿnh là một tôn giáo đến
thay thế Kitô giáo, và Mahomet đến sau và vượt trên
Đức Giêsu: Đức Giêsu chỉ là một tiên tri và thời
của Đức Giêsu đă chấm dứt, Mahomet mới là
tiên tri khai mở kỷ nguyên sau cùng. Đạo Hồi đă
phá hủy luận chứng các tôn-giáo-ngoài-Kitô là chuẩn
bị cho Tin Mừng Đức Giêsu Kitô và cũng đẩy
giả thuyết các tôn-giáo-ngoài-Kitô là công tŕnh của Logos
spermatikos vào "hậu trường."[21]
Đạo Hồi coi Mahomet vượt
trên Đức Giêsu. Đạo Hồi đă phá hủy nhiều
thánh đường và cộng đoàn Kitô giáo tại
phương đông. Những điều này cũng phá
hủy quan niệm cho rằng Kitô giáo vượt qua các tôn
giáo khác, hoàn thiện các tôn giáo khác, là điểm tới
của các tôn giáo ngoài-Kitô!
Các thần học gia biện
chứng hiện đại như Karl Barth và H. Kraemer
lấy lại quan điểm tôn giáo của Luther:
"Tất cả các tôn giáo xuất hiện như một
toan tính tự công chính hóa và tự cứu rỗi của con
người. Nói bằng những hạn từ khác, tôn giáo
là những nỗ lực của con người nhằm xác
định ḿnh trước Thiên Chúa và nhằm từ
chối ân sủng của Thiên Chúa là Đấng ban sự công
chính cho kẻ vô đạo. Mặc khải lột mặt
nạ tất cả các tôn giáo. Nó vạch cho thấy sự
không cần thiết của mọi tôn giáo, nghĩa là,
sự bất lực bẩm sinh của con người
nhằm sản sinh ra chân lư, nỗi bất lực này
sự phát triển tôn giáo của con người đă xác
chuẩn. Như vậy, mọi tôn giáo đều là h́nh
thức thờ ngẫu tượng hay tự công chinh hóa
bởi việc làm, nghĩa là, bất tín. Xét như một
tôn giáo, Kitô giáo cũng là sự bất tín v́ thờ ngẫu
tượng, công chính hóa nhờ việc làm, kiêu ngạo
về phát triển thiêng liêng. Những điều này là
những cây mọc trên đất Kitô giáo..."[22]
Như vậy vấn đề
thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô được các nhà
thần học gia biện chứng đặt thành: Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là công tŕnh của Thiên Chúa hay của con
người? Họ đă đứng về lập
trường tiêu cực, nghĩa là coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không là công tŕnh Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá trị cứu
độ, v́ họ cho đó là nỗ lực của con
người tự công chính hóa chính ḿnh. Điều này phát
xuất từ lập trường về công chính hóa và ân
sủng của trường phái này! H.R. Shlette cho rằng
không có khẳng định nào của Kinh Thánh nâng
đỡ cho quan điểm của họ.[23]
Một số người cho
rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá trị cứu
độ v́ Thiên Chúa không thể là nguyên nhân những sai
lầm trong các tôn giáo ngoài-Kitô. Nh́n dưới khía cạnh
nào đó các tôn-giáo-ngoài-Kitô (chẳng hạn Phật giáo,
Ấn Độ giáo) có nhiều điểm hay như triết
lư sâu xa, con đường thực hành uyên bác, nhưng giáo
lư của họ không thể dung ḥa với mặc khải
Kitô giáo (chẳng hạn thuyết luân hồi). Với
những lư thuyết sai lầm dẫn những
người trong các tôn giáo đó có những hành động
không chỉnh, chẳng hạn giao cấu với các nữ
tư tế trong tôn giáo Hy Lạp, việc dâng người
để tế thần, v.v.!
Trên đây đă thấy các
thần học gia và những luận chứng coi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá trị cứu độ, nhưng
nếu chấp nhận lập trường này
người ta thấy một số dữ kiện khó
giải thích; chẳng hạn có những nhà thần bí
nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô[24]
và có những điểm tương đồng trong giáo lư
của những tôn-giáo-ngoài-Kitô và Kitô giáo như tin vào
Tuyệt Đối, tin con người cần được
cứu độ, dạy làm lành lánh dữ. Những
điều này sẽ được giải quyết trong
phần chính của bài.
Nỗ lực của các nhà
thần học hiện nay là xác định xem các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có chỗ đứng trong lịch sử
cứu độ không. Nói cách khác, cố gắng để
biết các tôn-giáo-ngoài-Kitô có nằm trong chương tŕnh
cứu độ của Thiên Chúa không! Để có câu trả
lời chắc chắn, các nhà thần học thường
tra vấn Kinh Thánh, v́ câu trả lời trong Kinh Thánh là câu
trả lời chính xác mà mỗi người Kitô hữu
phải theo. Trong phần này cũng lần lượt t́m
xem trong Kinh Thánh và trong lịch sử tư tưởng Kitô
giáo có câu trả lời tích cực cho vấn đề
thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô không.
Như đă nói, Kinh Thánh không
trả lời vấn đề này, không đặt vấn
đề này cách minh nhiên. Như vậy điều
phải làm hiện tại, là xem trong Kinh Thánh có chỗ nào
chấp nhận lập trường cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người không!
Trong Kinh Thánh, có đề
cập đến các thánh nhân không là người Do Thái
như Menkisêdek, Cyrus, v.v.;[25]
nhưng không thể dựa vào đó để nói rằng
các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ, v́ đây
liên hệ đến vấn đề ơn cứu
độ cho các dân ngoại nhiều hơn.
Các nhà thần học
thường phân biệt lịch sử cứu độ
làm ba giai đoạn:
giai đoạn thứ nhất
từ Adam tới Abraham,
giai đoạn hai từ Abraham
đến Đức Giêsu Kitô,
và giai đoạn ba từ
Đức Giêsu cho đến ngày Ngài Quang lâm.
Một số người
như H. R. Schlette gọi giai đoạn thứ nhất là
lịch sử cứu độ phổ quát và các giai
đoạn c̣n lại là lịch sử cứu độ
đặc biệt! Giai đoạn lịch sử cứu độ
phổ quát được sách Sáng Thế đề cập
đến từ chương 1-11. Dựa vào 11
chương đầu của quyển đầu tiên
của Kinh Thánh này, H. R. Schlette cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô
là phương tiện Thiên Chúa dùng cứu độ con
người sống trong tôn giáo đó.
Theo sách Sáng Thế,
"người ta bắt đầu kêu danh Yavê" từ
thời Adam (St 4:26).
"Tất cả ngày
đời của Hênóc là ba trăm sáu mươi lăm
năm. Và Hênóc đă đi với Thiên Chúa, ông không c̣n
nữa v́ Thiên Chúa đă cất ông đi mất" (St 5:23.24).
"Nhưng Noê đă
được nghĩa trước mặt Yavê. Đây là tông
tích Noê: Noê là người đức nghĩa, vẹn toàn
giữa những người đồng thời. Noê
hằng đi đứng rập theo Thiên Chúa" (St 6:8-9).
Sau khi truyền cho ông Noê đóng tàu, Yavê Thiên Chúa đă cho
lụt hồng thủy đến trên trái đất
hủy diệt mọi xác thịt có sinh khí, sau đó Thiên
Chúa cho Noê ra khỏi tàu và kư kết giao ước với
ông và những người cùng ở với ông và mọi
sinh vật trên trái đất: " Thiên Chúa đă phán
bảo Noê và các con ông ở bên ông mà rằng: phần Ta, này
Ta lập giao ước của Ta với các ngươi,
với chim chóc, thú vật, dă thú với các ngươi, tóm
lại mọi vật đă từ tàu đi ra, mọi sinh
vật trên đất. Ta lập giao ước của Ta
với các ngươi: mọi loài có xác sẽ không c̣n
bị nước Hồng Thủy tiêu trừ. Sẽ không
c̣n có Hồng Thủy đến hủy diệt cơi
đất. Và Thiên Chúa phán: này là dấu giao ước Ta
đặt giữa Ta và các ngươi, cùng tất cả
chúng sinh ở với các ngươi, đời đời
măi măi... Ṿng cung mà có trên mây, thời Ta sẽ nh́n và nhớ
lại giao ước vĩnh tồn được
đặt giữa Ta và các ngươi, cùng tất cả
chúng sinh ở với các ngươi, đời đời
măi măi... Ṿng cung mà có trên mây thời Ta sẽ nh́n và nhớ
lại đến giao ước vĩnh tồn giữa
Thiên Chúa và tất cả chúng sinh, mọi loài có xác ở trên
cơi đất (St 9:8-12.16).”
Như vậy giao ước
ở đây Thiên Chúa kư với Noê, chung cho tất cả
mọi người, mọi sinh vật trên đất
chứ không chỉ với con cái Israel như Ta thấy sau
(từ chương St 12 trở đi). Và điều này hàm
chứa: ơn cứu độ được ban cho con
người ở ngay trong t́nh trạng này, nghĩa là
trước khi có giao ước với Abraham và ḍng
giống ông. Như vậy phải chăng trước khi
có Do Thái giáo và Kitô giáo, người ta đă được
cứu độ nhờ tôn giáo của họ, nghĩa là
nhờ ḷng tin của họ vào Thiên Chúa, nhờ hành vi
phượng tự họ dâng lên Thiên Chúa?
Trong thánh vịnh 19 (18), tác
giả nói đến việc Thiên Chúa mặc khải chính
ḿnh qua những tạo vật, các tạo vật đă
"nói" thứ ngôn ngữ không phải bằng
tiếng loài người nhưng đă lọt thấu tai
tất cả:
"Vinh quang Thiên Chúa trời xanh
vang lời kể lể,
và ṿm cao xanh thuật lại
việc của tay Người.
Ngày cho ngày thổ lộ nên
lời, đêm với đêm tỉ tê rằng: biết.
Nhưng chẳng rằng cũng
chẳng nói năng, không vang một tiếng ḥng lọt
thấu tai.
Thiên Chúa đă nói qua các tạo
vật và con người có đáp trả mặc khải
của Thiên Chúa qua việc có tin hay không, điều này
thuộc lănh vực tự do của mỗi người.
Nếu con người đáp trả, họ
được cứu độ (và đây cũng thuộc
lănh vực cứu độ của các lương dân); c̣n
nếu họ không đáp trả, họ thuộc diện
người thánh Phaolô đă nói trong Rm 1:19-21: "v́ chưng
lộ hiện rồi những ǵ biết được
về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày tỏ cho họ. V́
từ buổi tạo thành vũ trụ những ǵ nơi
Người, mắt xác thịt không thể thấy, th́ trí
khôn nh́n ngắm được mọi nơi công việc
Người làm: quyền năng hằng có và thần tính
của Người, khiến họ vô phương chữa
ḿnh. V́ rằng họ đă biết Thiên Chúa, họ là đă
không tôn vinh Người như Thiên Chúa.”
Thiên Chúa muốn cứu
độ mọi người, nhưng được
cứu độ hay không, là tùy thuộc con người có
đáp trả hay không. Khi đặt vấn đề các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có là dụng cụ Thiên Chúa dùng để
cứu độ những người sống trong tôn giáo
đó, hàm ư hỏi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là môi trường
chuyển mặc khải của Thiên Chúa không, có giúp con
người sống trong tôn giáo đó đáp trả dễ
dàng mặc khải của Thiên Chúa không? Cho tới bây
giờ chưa thấy Kinh Thánh nghiêng về lập
trường nào trong hai lập trường trên.
Ở Athêna khi thấy trong
số những bàn thờ dân chúng dành thờ kính các thần
có một dành cho vị mà họ không biết, nên Phaolô đă
dựa vào đó để Ngài giảng dạy: "Kính
thưa quí vị người Athêna, xét về mọi
mặt, tôi nhận thấy các ngài rất mực sùng tín. V́
ngang qua, tôi ngước mắt nh́n các đồ thờ
của các ngài, tôi đă gặp cả một tế đàn
trên đó có khắc: "Kính Thần Vô Danh.” Vậy
Đấng các ngài không biết nhưng có kính thờ, th́ này tôi
xin loan báo về Người cho các ngài:
Thiên Chúa Đấng tạo thành
vũ trụ... Người đă định thời
tiết phân minh và cương giới nơi chốn họ
ở, ngơ hầu họ t́m kiếm Thiên Chúa và họa may
rờ rẫm sao mà gặp được Người, và
quả thật, Người không xa mỗi người
chúng ta... (Cv 17:22-24.26-27).
Xét như đoạn văn trên
đây thánh Phaolô đă nghĩ rằng các dân ngoại,
đặc biệt là dân Athêna, đă thờ kính Thiên Chúa
nhưng họ không biết tên Ngài. Họ sẵn sàng nghe nói
về Thiên Chúa nhưng không thể chịu được
việc Thiên Chúa làm người và chết rồi sống
lại! Họ đă ḍ dẫm đi t́m Thiên Chúa và thật sự
Người cũng không xa họ! Đặc biệt ở
đây thánh Phaolô đề cập việc thờ tự
của một dân thành có nghi lễ riêng. Không thấy Phaolô
kết án tôn giáo nhưng Ngài muốn dùng chính tôn giáo đó
để dẫn họ đi đến Thiên Chúa đích
thực; và để dẫn họ đến Thiên Chúa đích
thực, ngài đă vạch những sai lầm như
việc họ coi thần linh giống như vàng, như
bạc, như đá... (Cv 17:29).
Ở Lystra có một
người tàn tật từ ḷng mẹ, Phaolô đă
chữa cho anh ta, và dân chúng cho rằng Barnaba là thần
Jupiter c̣n Phaolô là thần Hermes, hai tông đồ đă
ngăn cản họ tế các ngài: "Này các ông, tại
sao làm thế? Chúng tôi là người đồng
điệu đồng ṇi với các ông, chúng tôi rao
giảng Tin Mừng cho các ông, phải bỏ những cái hăo
huyền này đi... Trong những thế hệ qua
Người để mặc các dân đi theo
đường lối của họ; tuy rằng
Người không để thiếu chứng chỉ về
Người, Người hằng thi ân, cho mưa từ
trời xuống trên các ông..." (Cv 14:15-17). Ở đây
Phaolô coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô là chuyện thuộc thế
hệ đă qua, c̣n ở thế hệ này bây giờ chúng
tôi rao giảng Tin Mừng cho các ông! Dường như
ở đây Phaolô chấp nhận tôn-giáo-ngoài-Kitô hiện
hữu đồng thời với Do Thái giáo, nhưng khi các
tông đồ rao giảng th́ các tôn giáo khác không c̣n lư do
để hiện hữu nữa!
Với những bản văn
Kinh Thánh trên, không thể nói rằng Kinh Thánh chấp
nhận lập trường cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô
là dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu độ
con người sống trong tôn giáo đó! Điều rất rơ
là Phaolô đă dùng các tôn-giáo-ngoài-Kitô như là khởi
điểm để giảng về Thiên Chúa, nhưng
thực tế lời rao giảng của Ngài bị số
đông từ chối (Cv 17:22 tt).
Một sự kiện không
thể chối căi, có những chân lư và những điều
tốt lành nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô. Để giải
quyết sự kiện này, các giáo phụ đă đưa
ra những lư thuyết khác nhau:
·
thuyết "ăn
cắp" và "xảo trá của ma qủy" (fraus
diabolica).
·
thuyết "logos
spermatikos" và "hạ cố của Thiên Chúa"
(condescendence de Dieu).
Một số thần học gia
cho rằng lư thuyết "ăn cắp”[26]
không c̣n giá trị v́ bây giờ người ta thấy có
những tôn-giáo-ngoài-Kitô có trước Do Thái và Kitô giáo.
Sở dĩ hồi đó các giáo phụ đưa ra lư
thuyết này v́ các ngài dựa trên sự phỏng tính
thời gian không chính xác.[27]
Một số nhà thần học
như Lamenais, cho rằng các điều tốt và chân lư
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô là do tàn dư của mặc khải
tiên khởi cho những người sống thời
đầu tiên truyền lại. Daniélou cho rằng lư
thuyết này không chắc chắn v́ làm sao có thể
thiết lập ḍng truyền thống liên tục từ
thời tiên khởi đó cho đến ngày nay hoặc ngày
tôn giáo đó xuất hiện.[28]
Có thể tóm tắt lập
trường nơi các thánh giáo phụ"tích cực:"
tất cả những ǵ tốt, chân thật và thiện
mỹ- dù nó đến từ đâu- đều đến
từ Thánh Linh.[29]
Thánh giáo phụ đầu tiên
trong lập trường tích cực là Justin. Ngài tử
đạo khoảng năm 165, trong tác phẩm Hộ Giáo,
ngài nói "những người sống với Lời
đă là Kitô hữu, ngay cả khi người ta coi họ
là vô thần, như vậy, là Kitô hữu nơi
người Hy Lạp là Socrate, Héraclite và những
người khác cùng loại, nơi những người
không phải là người Hy Lạp là Abraham, Menchisedek, Elie
và nhiều khác."[30]
Cùng tinh thần với thánh Justin, từ ngữ "Kitô
hữu vô danh" thường được K. Rahner dùng!
Thực ra lời của thánh Justin đây không khẳng
định về tôn-giáo-ngoài-Kitô nhưng về vấn
đề dân ngoại!
Athénagore, triết gia của
Athène, trong tác phẩm Đơn Thỉnh Nguyện Cho Các Kitô
hữu, viết khoảng năm 177 gởi cho các hoàng
đế Antonin và Commode đă viết:
"các triết gia và các thi
sĩ là chứng nhân cho một Thiên Chúa độc nhất,
và các Kitô hữu không vô thần như bị trách."[31]
Đây là một lập trường rất cởi mở, coi
các triết gia làm chứng cho Thiên Chúa duy nhất; dù lời
khẳng định này không nhắm thẳng vào các
tôn-giáo-ngoài-Kitô nhưng nó cũng hàm chứa cái nh́n tốt
về các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Thánh Irénée (104-202), giám mục
của Lyon, gốc Tiểu Á, môn đệ của thánh
Polycarpe (+155), trong tác phẩm Chống Những Người
Lạc Giáo, viết: "Hăy đến, hỡi những
kẻ Cha Ta chúc phúc...: chỉ có một và duy nhất
chỉ có một Thiên Chúa là Cha, và Lời Ngài, Đấng giúp
tất cả theo nhiều đường (variis quidem
dispositionibus), Đấng hoạt động nhiều, và là
Đấng cứu những người được
cứu ngay từ khởi đầu: những người
yêu mến Thiên Chúa và theo Lời Thiên Chúa theo cách thức
của họ."[32]
Như vậy, từ "nhiều đường"
ở đây được hiểu là những con
đường, những "đạo" giúp
người ta đến với Thiên Chúa.
Giáo phụ Clément thành Alexandrie
(150-215), viết trong những hàng đầu của
quyển Stromates: "Thiên Chúa là nguyên nhân của mọi
sự lành; của những sự lành này th́ Ngài như nguyên
lư, như Cựu và Tân Ước; của những sự
lành khác th́ như là hậu quả, như triết lư. Chính
Ngài đă ban triết lư cho người Hy Lạp
trước khi những người này được
gọi. Thực vậy, triết lư dạy những
người Hy Lạp như cách thức một thầy
giáo, như lề luật đă dạy dân Do Thái,
hướng về đức Kitô .... Kinh Thánh không chỉ
nêu lên nhiều đường cứu độ cho một
người công chính, nhưng nhiều đường
cứu độ cho nhiều người công chính theo
như đă viết: đường người công chính
sáng ngời như ánh sáng. Như vậy có những giới
răn, những propédeutiques, những đường và những
phương tiện cứu độ."[33]
Và ở chỗ khác Ngài viết: "Thiên Chúa săn sóc
tất cả hoàn vũ bởi v́ Ngài là Chúa của hoàn vũ.
Ngài là Cứu Chúa: không phải là Cứu Chúa của
người này mà không là Cứu Chúa của người
khác. Nhưng Ngài đổ tràn hồng ân của Ngài theo
khả năng của từng người, trên
người Hy Lạp và người mọi rợ, và
cũng trên những người trong họ, đă
được tiền định, đă được
gọi trở nên tín hữu và trên những người
được gọi vào giờ cố định."[34]
Theo nhăn quan của thánh Clément d’Alexandrie về triết lư,
ngài có cái nh́n rất tích cực về triết lư của
người Hy Lạp. Ngài đă coi triết lư của
người Hy Lạp như những phương tiện
cứu độ của họ, cũng như luật cho
người Do Thái.
Trong cùng tác phẩm nhưng
ở một chỗ khác ngài viết: "Thiên Chúa đă ban
cho chúng ta một giao ước mới. Bởi v́ giao
ước liên quan đến người Do Thái và Hy
Lạp đă là cũ. Theo ư kiến tôi, thánh Phaolô đă
dạy rơ rằng cùng một Thiên Chúa và duy một Thiên Chúa
đă được biết bởi người HyLạp
cách người ngoại, bởi người Do Thái cách Do
Thái, nhưng bởi chúng ta cách thiêng liêng. Hơn nữa, ngài
chứng tỏ rằng Thiên Chúa đă ban cho chúng ta hai giao
ước, nhưng đồng thời cho người HyLạp
triết lư HyLạp, trong đó Ngài được tôn vinh
bởi người HyLạp.... Bởi v́ cũng như là
Thiên Chúa đă muốn cứu những người Do Thái
bằng cách ban cho họ các tiên tri, th́ cũng vậy Ngài
đă chọn những người thanh cao nhất giữa
những người Hy Lạp và đă đặt họ như
các tiên tri trong ngôn ngữ của họ với mức
độ nhờ đó họ có thể nhận biết
ḷng nhân từ của Thiên Chúa"[35].
Ở đây Clément d’Alexandrie đặt sóng đôi song
đối giữa Do Thái giáo với triết lư Hylạp:
dân Do Thái được cứu độ với các tiên tri
th́ người Hylạp cũng được cứu
độ với triết lư, dân Do Thái có giao ước và
lề luật th́ người HyLạp cũng nhận ḷng
nhân từ của Thiên Chúa nơi triết lư Thiên Chúa ban cho
họ.
Trước Clément d’Alexandrie
đă có những giáo phụ có cái nh́n rất nghiêm khắc
đối với triết lư HyLạp, cho rằng triết
lư Hylạp rơi vào mọi sai lầm và tật xấu
đáng tởm; nhưng ở đây, ngài có cái nh́n rất
lạc quan về triết lư, thiết tưởng có thể
đặt song song Do Thái giáo và các tôn giáo; và coi tôn-giáo-ngoài-Kitô
là cách người ngoại tôn vinh Thiên Chúa, đó là kiểu
dân ngoại biết Thiên Chúa.
Thánh Gioan Chrysostome (344-407),
một giáo phụ nổi tiếng của trường
Antioche, làm giám mục tại Constantinople, khi chú giải
về chương IX của sách Sáng Thế đă viết: "Bạn
có đo lường được sự rộng lớn
của giao ước này? Bạn đă thấy sự
rộng răi khôn ḍ của những lời hứa này? Hăy xem
ḷng nhân từ này c̣n trải dài đến thú vật
mọi loài như thế nào?"[36]
Với giao ước Thiên Chúa kư kết với Noê, có
thể nói: "trước biến cố Hồng Thủy
với giao ước, con người c̣n sợ bị tiêu
diệt v́ tội lỗi, sau giao ước sự liên
hệ giữa tội và sự hủy diệt bị
bẻ găy. Chắc chắn sẽ c̣n tội và cũng c̣n
h́nh phạt, nhưng sự kiên nhẫn của Thiên Chúa,
sự cứu chuộc và nhiệm cục cứu độ
đă hé mở trên số mạng của tạo vật."[37]
Ở đây thấy không đề cập đến
vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nên dù
được hiểu rộng ra,
cũng chỉ có thể nói thánh nhân nhấn mạnh
đến ḷng nhân từ của Thiên Chúa không chỉ
đối với con người nhưng tất cả tạo
vật nữa.
Thánh Augustin trong tác phẩm
Civitate Dei đă cho rằng tôn giáo chân thực đă có
từ khởi đầu nhân loại: "Cái mà bây giờ
người ta gọi là Kitô giáo đă luôn hiện hữu
trong qúa khứ và đă không bao giờ lại không
được biết tới từ khởi đầu
nhân loại cho tới khi đức Kitô xuất hiện
trong xác thịt. Chính từ thời gian này mà người ta
bắt đầu gọi là Kitô cái tôn giáo đích thực
hiện hữu hôm nay."[38]
Tôn giáo chân thực từ khởi đầu nhân loại
đó là ǵ? những ai thuộc về tôn giáo này? Phải
chăng là những người sống tốt, theo
tiếng lương tâm, luôn lắng nghe tiếng Thiên Chúa
nói trong ḷng và cả những người sống trong
tôn-giáo-ngoài-Kitô nữa? Phải chăng nhất thiết
phải hiểu tôn giáo đích thực có ngay từ khởi
đầu nhân loại là các tôn-giáo-ngoài-Kitô, bởi khi nói
đến tôn giáo th́ phải hiểu đây là niềm tin
của một tập thể được biểu
lộ bằng những nghi thức riêng? Ở đây
chỉ đặt vấn đề mà không trả lời
v́ sợ đi qúa xa ư tác giả muốn khẳng
định!
Ở trên đă lược qua
vài giáo phụ để t́m hiểu xem các ngài nh́n thế nào
về tôn-giáo-ngoài-Kitô, bây giờ t́m hiểu xem thời trung
cổ có thần học gia nào nh́n các tôn giáo khác cách tích
cực không.
Ở thời trung cổ này,
sẽ đề cập đến hai người, thứ
nhất là thánh Bernard và thứ hai là Nicolas de Cusa.
Thánh Bernard sống trong những
năm 1090-1153, ngài sinh tại Fontaines les Dijion (Côté d’Or), là
người đă thiết lập rất nhiều tu
viện. Khi bàn về phép rửa tội, ngài viết:
"Ai mà không biết thuở xưa, có một phương
thuốc khác phép rửa để chống tội nguyên
tổ. Đối với Abraham và ḍng giống ông, có mầu
nhiệm cắt b́ ban cho kết quả này cách thần linh.
Đối với các dân, chúng tôi cho rằng những
người sống trong tín ngưỡng (en croyants) đă
được tha thứ, người lớn bởi
đức tin và các nghi lễ, trẻ con th́ bởi
đức tin của cha mẹ."[39]
Căn cứ vào bản văn này, thánh Bernard phân ra làm ba
loại có thể được cứu thoát khỏi
tội nguyên tổ: loại thứ nhất là những Kitô
hữu nhờ phép rửa, loại thứ hai là dân Do Thái
với phép cắt b́, và loại thứ ba là những
người sống trong tôn giáo khác nhờ đức tin và
hy lễ của họ! Ở đây dám nói tôn-giáo-ngoài-Kitô,
v́ thánh nhân có nhắc đến đức tin và hy lễ.
Trước khi có Do Thái giáo th́ Abraham, Isaac và Giacóp đă có
đức tin vào Thiên Chúa và dâng lên Ngài những hy lễ!
Một trong những thần
học gia có cái nh́n tích cực rất rơ ràng về các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là hồng y Nicolas de Cusa. Ngài sinh năm 1401,
làm hồng y năm 1448 và mất năm 1464. Ngài cho rằng
"Thiên Chúa đă nói với mọi dân tộc bởi
những tiên tri. Ngài cho rằng chính các tiên tri này dạy cho
mỗi tôn giáo học thuyết và nghi lễ của họ:
sự khác biệt này là điều làm đẹp ḷng Thiên
Chúa, những sự khác biệt làm rạng ngời vinh quang
Thiên Chúa hơn; tuy nhiên Kitô giáo hoàn thành cách trọn hảo
cái chính yếu của tôn giáo đích thực, Kitô giáo là cách
diễn tả hoàn hảo nhất của tôn giáo đích
thực này."[40]
Lời tóm của Gustave Thils
về lập trường của Nicolas de Cusa bằng
lời nguyện của chính ngài, giúp thấy rơ cái nh́n
của ngài hơn: "Lạy Chúa, Ngài biết một
số lớn sống với nhiều điều trái
ngược nhau, và hầu như tất cả mọi
người sống một đời khổ cực, lo
lắng, đau khổ và dưới ách thống trị
của những vị vua chúa. Từ đó có rất ít
người giữa họ có giờ để đạt
tới cái biết về chính họ như họ muốn.
Họ bị thúc đẩy bởi những mối lo và
những công việc trần thế và không thể t́m Ngài,
Thiên Chúa ẩn dấu. Chính v́ thế Ngài đă gởi
xuống cho dân Ngài những vị vua, các nhà thấu thị
được gọi là các tiên tri; một số lớn
trong họ khi hoàn thành trách nhiệm và nhân danh Ngài- đă qui
định những hành vi tôn giáo và những luật
lệ, và đă dạy dỗ dân vô tri. Họ đă nhận
các luật này như thể Ngài đă nói với họ
mặt đối mặt, như vị vua của các vua;
họ đă nhận trong niềm tin rằng họ nghe
những luật này, th́ không phải là nghe các tiên tri
nhưng là nghe Ngài trong các tiên tri. Với những dân tộc khác nhau, Ngài đă
gởi những tiên tri và những tiến sĩ khác nhau,
người này ở giai đoạn này, kẻ khác ở
giai đoạn khác. Những điều này ở trong
điều kiện của con người; sau một thói
quen lâu dài, đă trở nên như một điều không
thể thay đổi- được bảo vệ như
một chân lư. Chính v́ thế nẩy sinh ra những
điều mâu thuẫn, khi mà mỗi nhóm quí chuộng
niềm tin của ḿnh hơn của người khác"[41].
Với bản văn của
Nicolas de Cusa được trích ở trên, lập
trường của ngài rất rơ: các tôn-giáo-ngoài-Kitô là
phương tiện cứu độ con người
sống trong tôn giáo đó, bởi v́ các tôn-giáo-ngoài-Kitô
hiện hữu là do ư định của Thiên Chúa, nằm
trong chương tŕnh cứu độ của Ngài!
Vấn đề thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là một vấn
đề tương đối khá mới và có tầm quan
trọng đặc biệt tại Châu Á, và v́ thế
chưa có nhiều tác giả bàn về vấn đề
này. Bây giờ sẽ duyệt qua ư kiến của những
nhà truyền giáo "lạc quan,” sau là một vài ư kiến
của các nhà thần học hiện đại, cuối
cùng là lập luận của H. R. Schlette.
Một số nhà truyền giáo có
cái nh́n tiêu cực về các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhưng cũng
có những nhà truyền giáo có cái nh́n "thuận
lợi" cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô, chẳng hạn như M.
Ricci và R. De Nobili. M. Ricci coi Kitô giáo vượt qua các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, đặc biệt là Khổng giáo, và coi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có điểm tới là Kitô giáo. R. De Nobili
muốn hội nhập hoàn toàn vào văn hóa và phong tục
Ấn Độ, trở thành "brahme" để
đưa những brahmes trở về với Thiên Chúa,
nhận biết Thiên Chúa.[42]
Sau vụ án các nghi lễ thế
kỷ XVIII và khi phong trào triết lư ánh sáng và duy lư đă
lắng xuống, các nhà triết và thần học nh́n
vấn đề tôn giáo cách trong sáng hơn. Tiền bán
thế kỷ XX, Romano Guardini cho rằng "đức Giêsu
có những người tiền hô trong thế giới
HyLạp là Socrate và ở phương đông là đức
Phật cũng như Gioan tiền hô ở Do Thái.[43]
Quan niệm coi đức Phật là tiền hô của
đức Giêsu, hàm chứa rằng các tôn giáo do những
vị đó khởi lập sẽ tiếp nhận
đức Giêsu. Tất cả những ǵ giúp nhận ra
đức Giêsu là Thiên Chúa, đều là công tŕnh của
Thánh Thần (1Cr 12:3). Như vậy đây là lập
trường cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị
cứu độ!
Trong những thế kỷ
trước, người ta nhấn mạnh nhiều
về những sai lầm trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhưng
ở thế kỷ này khía cạnh tích cực
được nhấn mạnh không kém. Trong sứ
điệp gởi qua hệ thống truyền thanh cho
hội nghị tại Ernakulam ngày 31.12.1952, đức Giáo
Hoàng Piô XII nói: "các con hăy làm cho thấy rơ: tất cả
những ǵ là chân thật và tốt đẹp trong các tôn
giáo khác đều t́m thấy ư nghĩa sâu xa và sự
bổ tức hoàn hảo nơi đức Kitô."[44]
Yves Congar, một thần học
gia nổi tiếng của thế kỷ XX, trong tác phẩm
Vaste monde ma paroisse, tuy không khẳng định rơ các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ, nhưng trong
cách trích dẫn và lập luận của tác giả, tác
giả muốn nói điều này! Yves Congar trích dẫn
lời của đức Giáo Hoàng Piô XII nói trong bài nói
chuyện với các "cô đỡ" ngày 29.10.1951:
"một hành vi t́nh yêu có thể đủ cho một
người trưởng thành nhận ân sủng thánh hóa và
bù lại việc không có phép rửa;"[45]
và Congar trích thêm: "không có tôn-giáo-ngoài-Kitô nào mà ở đó
người ta không t́m thấy một loại, một
dấu vết của t́nh yêu Thiên Chúa."[46]
Trong Ấn Độ giáo, có một giáo phái lấy đức
ái (Bakti) làm con đường căn bản để
được cứu đô. Nếu hiểu câu nói của
đức giáo hoàng trong liên quan với giáo phái đó, th́ có thể
khẳng định rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là
phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người.
Karl Rahner, một thần học
gia của thế kỷ XX, khi bàn về con người,
ngài viết: "bởi v́ con người chỉ có thể
thực hiện việc cứu độ của ḿnh trong
một cộng đoàn tôn giáo cụ thể, sự xác tín
của cộng đoàn tôn giáo này được diễn
tả bằng lời và bằng hành vi phượng tự,
và bởi v́ Thiên Chúa muốn sự cứu độ này
chỉ được thể hiện cách siêu nhiên, qua
sự chủ quan siêu việt được hướng
dẫn nhờ ân sủng, trong sự khách quan của
lịch sử nhân loại (lời, phượng tự, các
nhóm tôn giáo, luật luân lư), do đó phải kết luận
rằng những sự thể hiện việc cứu
độ này, hàm chứa trong chương tŕnh (quan pḥng)
cứu độ của Thiên Chúa. Các tôn giáo tiền Kitô
giáo, ngoài Israel, có thể được coi như những
"con đường cứu độ,” khái niệm này
không hàm chứa rằng tất cả các tôn giáo "hợp
lư" đều sở hữu một loại quyền
bính được thiết lập, có khả năng chia sẻ
(với uy quyền và không hàm hồ) những khách quan tính
chính đáng của lịch sử cứu độ phổ
quát, của ân sủng, của mặc khải và của
đức tin (xét về một mặt) và những cái khác
thuần túy nhân loại (xét về mặt khác) hay đă
bị hư hỏng bởi con người. Khái niệm
của một tôn giáo như thế, có thể
được thể hiện theo những cấp
độ rất khác nhau."[47]
Lư luận của Karl Rahner được
tóm như sau:
con người là một sinh vật xă
hội, nên tín ngưỡng con người cũng
được diễn tả cách xă hội, nghĩa là tôn
giáo như được thấy ngày nay. Như vậy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô trước khi có Do Thái giáo và Kitô giáo,
hiện hữu là chuyện tự nhiên, và như vậy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô nằm trong chương tŕnh cứu
độ của Thiên Chúa. Tuy nhiên những tôn giáo này không có
những khách quan tính của lịch sử cứu
độ như nhau! Vấn đề c̣n lại là có
thể mở rộng quan điểm này đối với
những tôn-giáo-ngoài-Kitô sau khi Do Thái giáo và Kitô giáo xuất
hiện không!
H. R. Schlette trong quyển sách
nguyên bản bằng tiếng Đức Die Religionen als Thema der
Theologie được nhà xuất bản Herder in tại
Freiburg năm 1963, quyển sách này được dịch ra
tiếng Anh bởi W. J. OHara với tựa đề Towards
a Theology of Religions và được in ở Tây Đức
năm 1966. Trong sách này ngoài phần dẫn nhập
đặt vấn đề, H. R. Schlette chia sách làm bốn
phần. Phần thứ nhất tŕnh bày những phát
biểu thần học về vấn đề thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô từ xưa đến nay,
phần thứ hai tác giả qui chiếu về khoa tôn giáo
đối chiếu để làm nổi rơ ư nghĩa, công
việc và khả thể của thần học các tôn giáo,
phần thứ ba đặc biệt quan trọng bàn về
vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô
dưới ánh sáng của chương tŕnh cứu
độ, phần cuối cùng bàn về viễn ảnh
tương lai. Đối với H. R. Schlette, các tôn-giáo-ngoài-Kitô
có giá trị cứu độ; tác giả đă lập
luận dựa trên khái niệm lịch sử cứu
độ, và đă phân biệt ra lịch sử cứu
độ thông thường và lịch sử cứu
độ đặc biệt. Tác giả cho rằng Kitô giáo
nằm trong lịch sử cứu độ đặc
biệt c̣n các tôn-giáo-ngoài-Kitô nằm trong lịch sử
cứu độ thông thường; nếu lịch sử
cứu độ thông thường được Thiên Chúa
muốn th́ các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng nằm trong
chương tŕnh của Thiên Chúa; như vậy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ.
Trong phần thứ nhất
của quyển Towards a Theology of Religions, Schlette cho thấy
có hai khuynh hướng một tích cực và một tiêu
cực trong cái nh́n về tôn-giáo-ngoài-Kitô, và không lập
trường nào thỏa măn; Mỗi lập trường
đều có cái đúng và cũng có cái sai, hay đúng hơn
mỗi lập trường đều nửa đúng
nửa sai.[48]
Mỗi lập trường đều ư thức rằng
những lư do của lập trường đối
nghịch đưa ra không thể cho là sai hoặc không
thể chấp nhận được. Lập trường
dung ḥa cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô có sai lầm nhưng
cũng có những điểm xác thực, có thể làm tṛn
đầy được.[49]
Schlette cho rằng lập trường tổng hợp
bằng đường lối dung ḥa, không tiêu biểu cho
một giải đáp thần học. Nếu có một
giải đáp bằng đường lối dung ḥa, nó
sẽ phải, một mặt không chỉ tiêu biểu cho
cái ǵ đúng trong mỗi lập trường, nhưng
mặt khác nó phải là một sự liên kết mới
trên một b́nh diện cao hơn cho những cái khác nhau.
Lập luận chính của
Schlette về ư nghĩa các tôn-giáo-ngoài-Kitô, dựa vào
lịch sử cứu độ; sở dĩ có những
câu trả lời khác nhau về ư nghĩa các tôn-giáo-ngoài-Kitô
là do có những quan niệm khác nhau về lịch sử
cứu độ![50]
Ông cho rằng nếu dùng những phân tích triết học
hiện tượng về đặc tính lịch sử
của con người, và nếu đặc tính này
được hiểu là điều kiện của
lịch sử thánh (ở trong Kinh Thánh và cùng trương
độ của lịch sử thế trần), th́ có
thể nói, thần học lịch sử cứu độ
có thể được mô tả như thần học
siêu việt với trương độ: lịch sử
cứu độ phổ quát với nền tảng trong
bản tính lịch sử của con người, không
chỉ tiêu biểu cho tập hợp mặc khải,
đức tin, thần học và tôn giáo,[51]
nhưng cũng là điều kiện căn bản thông
thường nhất của những điều đó.
Lịch sử thế trần
luôn có tính hàm hồ, chỉ có thể nhận ra ḿnh là
lịch sử phàm trần với quan điểm lịch
sử cứu độ; và nếu được nh́n
dưới con mắt của lịch sử cứu
độ, lịch sử thế trần cũng chính là lịch
sử thánh. Khi nói như vậy- theo tác giả- phải làm
một sự phân biệt: lịch sử thánh, mà khi
đứng trên quan điểm đó để nh́n lịch
sử thế trần mà nhận ra đó là lịch sử
thánh, phải là lịch sử thánh đặc biệt. Theo
Schlette, sự phân biệt giữa lịch sử thánh thông
thường và lịch sử thánh đặc biệt là
điểm quyết định cho nền thần học
các tôn-giáo-ngoài-Kitô. Sự phân biệt này trở nên rơ ràng
hơn nếu theo quan niệm của Cựu và Tân
Ước, lịch sử thánh gồm nhiều giai
đoạn.[52]
Schlette đă dựa vào sách Sáng
Thế chương 1-11 và cụ thể hơn là ḍng
truyền thống Y trong những chương đầu
đó để chứng minh cho lập trường
của ông. Tác giả cũng nhận rằng các tŕnh
thuật này có tính tầm nguyên, nhằm nối kết
lịch sử dân Israel với nguồn gốc tuyệt
đối của vũ trụ, và những tŕnh thuật
này cho thấy có những kinh nghiệm tôn giáo hiện
hữu ngoài Israel.[53]
Dựa vào truyền thống Y trong St 1-11, ông cho thấy
tương quan giao ước không chỉ hiện hữu
giữa Thiên Chúa và Israel, nhưng tương quan này cũng
đă hiện hữu giữa Thiên Chúa và Noê, nghĩa là
với người không phải là Israel, mà là với
mọi người và mọi sinh vật trên đất.[54]
Những suy tư thần học về giao ước
giữa Thiên Chúa và Noê cho thấy ơn cứu độ có
thể được đạt tới t́nh trạng
của giao ước này, nghĩa là t́nh trạng ngoại.[55]
Đi sâu hơn vào lập luận
của Schlette, ông cho rằng con người là một con
vật xă hội, nên mọi sinh hoạt của con
người đều mang tính xă hội, kể cả hành
vi tôn giáo; Và dựa vào luận cứ của K. Rahner, Schlette
cho rằng những hành vi tôn giáo "với xă hội
tính" đó phải có tính cách cứu độ trừ
phi chứng minh chắc chắn được điều
ngược lại.[56]
Schlette cho rằng nếu lịch sử thánh thông
thường (so với lịch sử thánh đặc
biệt khởi đầu với dân Israel) có thể và
phải được coi là Thiên Chúa muốn, th́ các
tôn-giáo-ngoài-Kitô phải được coi là được
muốn và được thánh hóa bởi Thiên Chúa; ngay
cả với t́nh trạng bây giờ của các tôn giáo
đó, nghĩa là với những lầm lỗi và tăm
tối, cũng không thể đặt vấn đề,
dị nghị về sự hợp pháp của các tôn giáo
đó; ngược lại cùng với những yếu tô
tiêu cực, phải kể cả đến sự
hướng dẫn cũng như sự hiện diện
của Ngài trong các tôn giáo này.[57]
Gút lại, theo Schlette, các tôn-giáo-ngoài-Kitô là cách diễn
tả xă hội, được Thiên Chúa muốn và nó có
chỗ trong chương tŕnh cứu độ thông
thường, của con người t́m kiếm ơn
cứu độ và cũng là tặng vật của Thiên
Chúa; như vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô là những con
đường cứu độ, những con
đường cứu độ thông thường trong
lịch sử thánh thông thường so với con
đường cứu độ đặc biệt là Giáo
Hội trong lịch sử thánh đặc biệt.[58]
Những hàng kế tiếp trong
phần thứ ba, tác giả bàn đến chỗ
đứng ưu việt của dân Israel, đó là chuẩn
bị cho đức Kitô xuất hiện.[59]
Ông cũng lưu ư rằng mỗi người
được cứu độ hay không là do thái độ
của họ đối với lời mời gọi
của Thiên Chúa, đối với việc Thiên Chúa mặc
khải cho họ.[60]
Ông cho rằng những hành vi cứu độ của Thiên
Chúa nên được gọi là sự tôn vinh của Thiên
Chúa (dựa vào Ga 17:1-22), và việc tôn vinh này là ư nghĩa
lịch sử thánh; lịch sử cứu độ
cũng được nên thay bằng "lịch sử
hiển linh;” và nếu như trong nhăn quan này th́ thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô xuất hiện một ánh sáng
mới.[61]
Schlette cũng bàn về sự ưu việt của
lịch sử thánh đặc biệt, nhất là của
Giáo Hội. Ông cho rằng sự ưu việt không hệ
ở chỗ là khi người ta gia nhập vào Giáo Hội
th́ có cơ may được cứu độ nhiều
hơn, nhưng hệ tại là nơi lịch sử thánh
đặc biệt, Thiên Chúa đă tỏ lộ vinh quang
của Ngài cho thế giới cách đặc biệt
hơn, Thiên Chúa hiển linh trong lịch sử thánh đặc
biệt cách sáng chói hơn.[62]
Schlette cho rằng việc
đánh giá thấp các tôn-giáo-ngoài-Kitô không làm cho địa
vị đức tin Kitô giáo nổi bật, nhưng trái
lại việc đánh giá cao các tôn-giáo-ngoài-Kitô mới cho
thấy điểm ưu việt của đức tin Kitô
giáo. Tác giả cho rằng nếu đứng trên quan
điểm của lịch sử thánh đặc biệt,
dễ nh́n thấy những bất toàn, những nguy
hiểm và sai lầm trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô hơn là chúng ta
ở trong lịch sử thánh thông thường. V́ thế,
theo tác giả, lịch sử thánh thông thường chỉ
được nhận ra và được phân tích trên
nền tảng lịch sử thánh đặc biệt.[63] Với
những hàng gần cuối của phần ba, tác giả
bàn về sự tồn tại của các tôn-giáo-ngoài-Kitô sau
khi đức Kitô xuất hiện. Tác giả cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô vẫn là con đường cứu rỗi
thông thường ít nhất là đối với những
người không cố t́nh từ chối đức Kitô,
và như vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô vẫn tồn tại
cách hợp lư.[64]
Một vấn đề khác tác giả cho là khá gai góc, là làm
sao thấy "sư phạm giáo dục" của Thiên
Chúa nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô; tác giả cho thấy không
thể tiên thiên khẳng định rằng tương
quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác cũng tương
tự như tương quan giữa Giáo Hội và các tôn
giáo của đế quốc Roma hồi những thế
kỷ đầu của Giáo Hội.[65]
Lược qua các luận
chứng coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô là những phương
tiện cứu độ, những khó khăn
được nêu lên bởi lập trường tiêu
cực đă được giải đáp, chẳng
hạn như sự kiện có các nhà thần bí nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng như nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
những điểm tương đồng trong giáo lư mà không
thể đơn thuần giải thích bằng lư trí
được. Tuy vậy, nếu chấp nhận lập
trường tích cực, và ngay cả với luận
chứng của H. R. Schlette, người ta vẫn gặp
những khó khăn mà cơ hồ như không thể
vượt qua được. Đó là những sai lầm
nghiêm trọng nơi các giáo lư của các tôn giáo khác và
nhất là sự xuất hiện của Hồi giáo; có
thể nói, sự xuất hiện của Hồi Giáo đă
lật nhào tất cả các luận chứng của
lập trường tích cực, khi những luận
chứng này khẳng định các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá
trị cứu độ.
Nền thần học "tích cực"[66]
về các tôn-giáo-ngoài-Kitô đụng phải thực
tại Hồi giáo, không thể đứng vững. Trong
phần thứ hai, sẽ đưa ra câu trả lời có
thể giải quyết hai hiện tượng nổi
bật trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô: một là có những
điểm tích cực trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô, hai là trong các
tôn giáo này có những sai lầm không thể dung hợp
với Tin Mừng đức Giêsu.
Không có mặc khải th́ không có
cứu độ. Một các tổng quát, thần học chấp
nhận cùng với thánh Thomas: ngoài Kitô giáo ơn cứu
độ được biết nhờ mặc khải
đặc biệt.[67]
Như vậy để biết các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá
trị cứu độ hay không, hăy xem các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
mặc khải hay không. Nếu không có mặc khải
nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có sự can
thiệp của Thiên Chúa, nghĩa là, tôn-giáo-ngoài-Kitô chỉ
là công tŕnh của con người, và như vậy nó không có
giá trị cứu độ. C̣n nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
mặc khải, th́ đó là công tŕnh của Thiên Chúa và các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ.
Thiên Chúa mặc khải cho con
người chứ không cho một cơ cấu; nên khi
đặt câu hỏi "các tôn-giáo-ngoài-Kitô có mặc
khải không,” hàm chứa, "những người sáng
lập các tôn giáo đó có được mặc khải
không? những người trong các tôn giáo đó có nhận
lănh mặc khải không? cơ cấu tôn-giáo-ngoài-Kitô có
khả năng bảo tồn và lưu chuyển mặc
khải không?”
Để biết Thiên Chúa có mặc
khải trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô không, sẽ xét về mặt
lư thuyết có ǵ ngăn trở Thiên Chúa mặc khải nơi
các tôn giáo ngoài-Kitô không, nếu không có mâu thuẫn nội
tại th́ sẽ xem thực tế Thiên Chúa có mặc
khải nơi các tôn giáo ngoài-Kitô không!
Trong mục này, trước tiên
t́m hiểu về khái niệm mặc khải, kế
tiếp xem những người sống trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô nghĩ ǵ về vấn đề mặc
khải nơi các tôn giáo của họ, và sau cùng xét Thiên Chúa
trên
nguyên tắc có thể mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô không.
Theo N. Jung, mặc khải là
Lời của Thiên Chúa dạy dỗ và chứng thực.[68]
Theo K. Barth, mặc khải là hành vi tối thượng
của ân sủng Thiên Chúa, ở đó Ngài ban chính Ngài cho
người ta biết; đức tin là nhận biết và
chấp nhận sự kiện này.[69]
Theo L. S. Thornton, mặc khải là một hoạt
động thần linh, qua đó Đấng Tạo Hóa thông ban
chính ḿnh cho con người và khi làm như vậy, Ngài
gợi cho con người đáp trả và cùng hành
động.[70]
Theo Geoffrey Parrinder, khuynh hướng thời đại này
cho rằng mặc khải là hành vi hay sự tự tỏ
lộ chính ḿnh của Thiên Chúa;[71]
hiểu như vậy mặc khải không chỉ là một
kho chân lư được chứa trong Kinh Thánh, mà c̣n là hành vi
sống động và liên tục của Thiên Chúa.
Theo đức Giáo hoàng Phaolô VI,
mặc khải là cuộc đối thoại giữa Thiên
Chúa và con người: "Mặc khải, là mặc
khải siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đă có sáng kiến
thiết lập với nhân loại, có thể
được tŕnh bày như cuộc đối thoại
trong đó, Lời Thiên Chúa tự diễn tả ḿnh
bằng việc nhập thể và sau đó bằng Tin
Mừng."[72]
Theo hiến chế Mặc
Khải của công đồng chung Vatican II, "trong
mặc khải, Thiên Chúa vô h́nh, v́ ḷng thương yêu vô
bờ bến của Ngài, đă ngỏ lời với con
người như thể với bạn hữu và tṛ
chuyện với họ nhằm đưa họ vào trong
thông giao với Người và để nhận họ vào
trong sự thông giao đó" (DV 2). Những hàng đơn
sơ này của công đồng, cho thấy mục đích
của mặc khải là giúp đưa con người vào
sống trong sự thông giao, hiệp thông với Thiên Chúa.
Một lần nữa lại thấy ở đâu có
mặc khải th́ ở đó có ơn cứu độ
nếu người ta đáp trả!
Như vậy mặc khải là
việc Thiên Chúa tỏ lộ chính ḿnh Ngài cho con
người, để con người được
sống trong hiệp thông với Ngài. Có thể nói mặc
khải là bước khởi đầu của ơn
cứu độ. Khi Thiên Chúa mặc khải chính Ngài, th́
con người biết ḷng nhân từ vô biên của Ngài,
biết về ư định cứu độ con
người của Ngài, và cũng nhờ mặc khải mà
con người biết chính ḿnh hơn. Mặc khải là
việc Thiên Chúa tỏ lộ chính Thiên Chúa và con
người cùng ư định của Ngài cho con
ngườí!
Các nhà thần học c̣n chia ra
làm nhiều loại mặc khải, chẳng hạn như
mặc khải tiên khởi, mặc khải thiên nhiên,
mặc khải lương tâm, mặc khải triết lư,
mặc khải siêu nhiên, mặc khải tiên tri, mặc
khải lịch sử, mặc khải phổ quát, mặc
khải riêng tư.
·
Mặc khải tiên
khởi[73]
là mặc khải Thiên Chúa tỏ lộ cho những con
người đầu tiên, nói một cách cụ thể là
cho ông bà nguyên tổ. Mới thoạt nói, thấy khái niệm
này đơn giản nhưng thực tế rất
phức tạp v́ mỗi tác giả giải thích mỗi
khác, mỗi người xác định cho nó những
đặc điểm về nguồn gốc, người
được hưởng, sự cần thiết và
sự lưu truyền của mặc khải này theo quan
điểm của họ.[74]
·
Mặc khải tự
nhiên là mặc khải được ghi trong trật
tự thiên nhiên, nó hiện hữu ngay trong việc tạo
dựng. Mặc khải thiên nhiên biểu lộ Thiên Chúa
như chủ của thế giới, trong tương quan
nhân quả. Mặc khải thiên nhiên khám phá một Thiên Chúa
hiện diện và Thiên Chúa ngôi vị, nhưng mầu
nhiệm ngôi vị này vượt khỏi nó. Mặc
khải thiên nhiên đạt tới ngưỡng cửa
mầu nhiệm nhưng không thể vào được... v́
tội của con người, v́ sự kiêu ngạo, v́
sự yếu đuối của con tim, người ta luôn
có khuynh hướng lầm lẫn chủ tể thiên nhiên
với thiên nhiên.[75]
·
Mặc khải siêu nhiên
tiến gần Thiên Chúa duy nhất và ba ngôi, tác giả
của trật tự siêu nhiên. Mặc khải siêu nhiên có
lời đáp trả trực tiếp là đức tin;
đức tin giúp con người gặp gỡ,
hướng về thị kiến Thiên Chúa hằng
sống. Mặc khải siêu nhiên coi mầu nhiệm
đời sống thâm sâu của Thiên Chúa là đối
tượng. Nó khai mào một cuộc đối thoại,
t́nh bạn, sự hiệp thông, sự chia sẻ những
điều thiện hảo giữa Thiên Chúa và tạo
vật.
·
Mặc khải phổ
quát và mặc khải đặc biệt. Mặc khải
phổ quát là mặc khải mà mọi người có
thể nhận thấy, mặc khải cho mọi
người. Mặc khải này bao gồm mặc khải
tự nhiên và mặc khải lương tâm. Mặc
khải đặc biệt gồm cả mặc khải huyền
nhiệm, mặc khải triết lư, mặc khải
lịch sử, mặc khải riêng tư, mặc khải
công khai.
·
Mặc khải
triết lư, mặc khải khôn ngoan là điều Thiên Chúa
muốn tỏ lộ cho con người qua khả năng
lư trí được ban cho con người với nỗ
lực suy tư của họ.
·
Mặc khải
huyền nhiệm (mặc khải thần bí) là những ǵ
Thiên Chúa ban cho ai đó để dẫn họ tới
đời sống kết hợp đặc biệt
với Thiên Chúa. Những nhà thần bí thường có
lời giải thích những biến cố lịch sử.
Mặc khải lịch sử được thể
hiện rơ ràng nơi lịch sử dân Do Thái, và các tiên tri là
những người giải thích lịch sử trên vị
thế của Thiên Chúa.[76]
·
Mặc khải tiên tri
là mặc khải cho một cá nhân nhưng nhằm cho
cả cộng đoàn. Với mặc khải này, cá nhân
được mặc khải "bắt buộc"
phải trở thành chứng nhân, loan báo mặc khải này
cho dân.[77]
·
Mặc khải riêng
tư là mặc khải cho một cá nhân để họ
được cứu độ khi họ sống ngoài Kitô
giáo;[78]
mặc khải riêng tư c̣n được dùng để
gọi mặc khải xảy ra sau khi các tông đồ
chết (mặc khải cộng đồng) và không nằm
trong kho tàng đức tin (depositum fidei); mặc khải
cộng đồng được trao cho Giáo Hội
bảo quản và truyền bá, c̣n mặc khải riêng tư
th́ không chính thức được trao cho Giáo Hội,
nhưng dù vậy nó vẫn nhắm tới mọi
người.[79]
Quan niệm mặc khải riêng
tư là mặc khải vẫn là cho tất cả nhưng
không được kư thác cho Giáo Hội, nghĩa là, không
nằm trong depositum fidei, có sau khi các tông đồ chết,
là của K. Rahner. Để biện minh cho từ ngữ ngài
dùng, ngài đă phân biệt mặc khải trước và sau
đức Kitô xuất hiện. Trước khi đức
Kitô xuất hiện người ta phải sẵn sàng
đón nhận một mặc khải mới từ Thiên
Chúa, Đấng có thể thiết lập một giao
ước mới để cứu độ con
người.[80]
C̣n sau và từ khi đức Kitô xuất hiện, thời
đại mới và cuối cùng đă xuất hiện; hành
vi và chương tŕnh cứu chuộc của Thiên Chúa
đối với con người đă đạt
đến kỳ điểm cuối cùng và chung cuộc.
Chính v́ thế với thời đại Kitô, người
ta không c̣n phải chờ mong bất cứ cái ǵ có thể
thay đổi điều kiện cứu độ con
người nữa. Trước đức Kitô xuất
hiện người ta không chỉ có thể chờ
nhưng phải chờ mong sự thay đổi; c̣n hôm nay
Kitô hữu chỉ phải chờ sự tỏ hiện
của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con
người vào ngày phán xét cuối cùng. Thần học
hiện sinh về khả thể mặc khải và mặc
khải tương lai của Thiên Chúa đối với
con người trước đức Kitô đă
được thay thế bằng nền thần học
cánh chung đối với Kitô hữu. Như vậy không có
nghĩa, thời này không c̣n mặc khải nào nữa. Ngay
trong thời đại cuối cùng này vẫn có thể có
mặc khải cho cá nhân và mặc khải đó cũng có
thể ảnh hưởng đến thân thể Giáo
Hội, nhưng mặc khải này không thay đổi
điều kiện cứu độ v́ điều
kiện này đă được đức Giêsu làm nên
trọn.[81]
Theo K. Rahner, Thánh Linh có thể tác động trên Giáo Hội
qua một phần tử nào đó trong Giáo Hội
để loan báo cho Giáo Hội biết điều Thánh Linh
đ̣i hỏi lúc này. Theo K. Rahner, điểm chính yếu
của mặc khải riêng tư[82] sau
thời tông đồ là: Thiên Chúa gợi cho một
phần tử trong Giáo Hội để truyền mệnh
lệnh của Ngài cho Giáo Hội trong một hoàn cảnh
lịch sử cụ thể.[83]
Theo K. Rahner, khả thể
của mặc khải riêng tư bằng thị kiến
hoặc bằng kinh nghiệm thính giác, là hiển nhiên trên
nguyên tắc với một Kitô-hữu. V́ Thiên Chúa là
thực thể hữu vị tự do, Ngài có thể tỏ
ban chính Ngài cho một tinh thần thọ tạo, không
chỉ qua công tŕnh của Ngài nhưng cũng c̣n bằng
Lời tự do và hữu vị của Ngài nữa.[84]
Mặc khải riêng tư tiên tri không chỉ liên hệ
với cá nhân người được thị kiến
nhưng c̣n được gởi tới Giáo Hội hay
một phần lớn Giáo Hội để cổ vơ
một sự sùng kính đặc biệt nào đó, hoặc
để khuyến khích ăn năn, giáo huấn về
điều ǵ đó, cảnh cáo chống lại một vài
học thuyết, khuyến khích một giáo thuyết hay
một cách sống, v.v. Trong ḍng lịch sử Giáo Hội,
người ta thấy có những mặc khải riêng
tư thuộc loại này, và chúng đă ảnh hưởng
rất nhiều trên Giáo Hội.[85]
Nếu một khi Thiên Chúa đă nói và sự kiện đă
được thiết lập qua kiểm chứng, th́
mọi người phải lắng nghe, vâng phục và tin
tưởng theo mức độ sứ điệp liên
quan đến.[86]
Gút lại, có thể chia mặc
khải ra làm ba cấp độ: mặc khải phổ
quát, mặc khải đặc biệt cấp một và
mặc khải đặc biệt cấp hai. Mặc
khải phổ quát gồm mặc khải qua thiên nhiên và qua
lương tâm, mặc khải đặc biệt cấp
một gồm mặc khải triết lư và mặc khải
huyền nhiệm, và mặc khải đặc biệt
cấp hai là mặc khải qua lịch sử và đức
Kitô. Các phân chia này cũng tương đối và có tiêu
chuẩn là phương tiện mặc khải.[87]
Mặc khải lịch sử ở đây được
hiểu là những biến cố trong lịch sử dân
Israel và có lời đi kèm để giải thích!
Nh́n dưới nhăn quan Kitô giáo,
ba cấp độ mặc khải này đều hàm
chứa trong Kinh Thánh:
·
mặc khải qua thiên
nhiên (St 1), qua lương tâm (Rm 1:1 8tt),
·
mặc khải khôn ngoan
(trong văn chương khôn ngoan của Kinh Thánh,
thường thuộc thời sau lưu đày, năm 539
TCN), mặc khải huyền nhiệm (với các thị kiến,
đặc biệt nơi các tiên tri),
·
mặc khải lịch
sử, qua các biến cố và đặc biệt nơi
đức Giêsu Kitô; đức Giêsu là mặc khải
tối hậu.
Nơi Do Thái giáo và Kitô giáo, công
tŕnh tạo dựng, Luật, Khôn Ngoan, những can thiệp
của Thiên Chúa trong ḍng lịch sử dân Israel, đều
là mặc khải, đều là những điều kỳ
diệu qua đó Thiên Chúa tỏ ḿnh cho con ngườí!
Bây giờ trở lại vấn
đề, cụ thể xem các tín hữu nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô nghĩ ǵ về mặc khải?
Sự kiện không thể
chối căi là những tôn giáo lớn như Phật giáo,
Ấn giáo, Hồi giáo, đều có Kinh Thánh; chẳng
hạn như Ấn Độ giáo có kinh Veda, Hồi giáo có kinh
Koran, Do Thái giáo có Cựu Ước. Người
đạo Bàlamôn coi Rig-veda là Cruti, nghĩa là Lời mặc
khải;[88]
người Hồi giáo coi kinh Koran là Lời Thiên Chúa
"Koran là Lời Thiên Chúa, được viết trong
sách, được ǵn giữ trong trí nhớ,
được lập lại bằng lưỡi,
được mặc khải cho vị tiên tri. Những
lời loan báo, việc sao chép, việc đọc kinh Koran
của chúng ta là được tạo thành, trong khi đó
Koran th́ không được tạo thành."[89]
Hồi xưa khi các học
giả Kitô giáo được hỏi: kinh Koran có
được mặc khải không? Thường có câu
trả lời là không! Ngày nay với khoa tôn
giáo đối chiếu, một số học giả Kitô
giáo muốn đặt lại vấn đề và nghi
ngờ câu trả lời không của những
người trước! Đứng trên khía cạnh thuần
túy khoa học để khảo sát, nghĩa là không
thuộc phe phái hay quan điểm tôn giáo nào, người ta
ghi nhận rằng:
·
với người
Hồi giáo th́ Koran là sách mặc khải, c̣n Veda và Tân
Ước th́ không được mặc khải;
·
c̣n đối với
người Do thái giáo th́ Cựu Ước được
mặc khải c̣n Tân Ước, Veda, Koran không
được mặc khải!
Mỗi người có một
lập trường dựa trên tôn giáo họ theo, coi
điều ḿnh tin là đúng, được mặc
khải, c̣n điều người khác tin là không
được mặc khải! Khoa học về các tôn
giáo, cũng c̣n gọi là khoa học tôn giáo đối
chiếu, nghiên cứu về nguồn gốc, sự h́nh
thành và phát triển của các tôn giáo, những điểm
dị đồng giữa các tôn giáo giúp có những dữ
kiện để người ta dễ dàng suy tư hơn
về vấn đề này. Những người làm công
việc đối chiếu giữa các tôn giáo không phải
là những người chủ trương tất cả
các tôn giáo đều như nhau; nhưng khi làm công việc
này, họ không đứng trên một quan niệm tôn giáo
nào, họ coi tất cả các tôn giáo đều như nhau,
nghĩa là có những điểm đúng và những điểm
sai (xét trên những mặt thuần túy lịch sử
hoặc nhân loại).
Với phương pháp hiện
tượng luận, Th. P. Van Baaren cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô được mặc khải.[90]
Như vậy vấn đề hiện tại c̣n lại, trên
quan điểm Kitô giáo, có thể bảo vệ ư
kiến cho rằng Thiên Chúa cũng mặc khải cho nhân
loại ở ngoài truyền thống Do Thái không?
Người theo tôn-giáo-ngoài-Kitô cho rằng tôn giáo họ theo
được mặc khải, nghĩa là, Thiên Chúa đă
nói với họ và họ cũng có Kinh Thánh, vậy
điều họ cho là được mặc khải có
thật là được Thiên Chúa mặc khải không?
Thiên Chúa có thể mặc
khải cho các người sống trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không? Nói cách khác, với những điều Kitô-hữu
biết về Thiên Chúa và những điều Thiên Chúa
mặc khải, Kitô-hữu có t́m thấy điều nào cho
thấy Thiên Chúa không mặc khải nơi tôn giáo ngoài Kitô
không?
Thiên Chúa là nhất thể tam
vị, Ngài tự do trong mọi sáng kiến và hoạt
động của Ngài, Ngài muốn mặc khải cho ai,
ở đâu là tùy ư Ngài, không ǵ cấm cản
được Ngài.
Giả như Thiên Chúa mặc
khải nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô, th́ Kitô giáo có c̣n tính ưu
việt nữa không, hay Kitô giáo cũng ngang hàng với các
tôn giáo khác và đức Kitô cũng ngang hàng với
đức Phật, đức Mahomet, Zarathoustra?
Nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng
được mặc khải, Kitô giáo vẫn giữ
được tính ưu việt, nghĩa là, vẫn là
phương tiện cần thiết để
được cứu độ (LG 14), v́ đức Kitô
vẫn là Lời mặc khải trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô, và
hơn nữa Ngài cũng là mặc khải trọn vẹn
của Thiên Chúa. Đức Kitô vẫn là chóp đỉnh
mặc khải mà các tôn khác phải vươn tới.
Nếu Thiên Chúa mặc khải
cho tôn-giáo-ngoài-Kitô th́ tại sao có những sai lầm trong
các tôn giáo đó? Tại sao các tôn giáo đó không có chân lư
như Kitô giáo? Nếu cùng một Thiên Chúa mặc khải
th́ tại sao những chân lư đó không ḥa hợp
được với nhau?
Những ǵ sai lầm trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô không đến từ Thiên Chúa, nghĩa là
những điều đó không là những điều
được mặc khải! Những điều không
thể dung hợp, hoặc đối kháng với chân lư được
mặc khải trong Kitô giáo, cũng được coi
như không đến từ Thiên Chúa; Chỉ những
ǵ hay hoặc tốt nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô mới
được coi là những điều Thiên Chúa mặc
khải mà thôi. Chính những sai lầm hoặc những chân
lư chưa trọn vẹn
nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô, giúp người ta nhận ra tính
ưu việt của Kitô giáo.
Nếu chấp nhận có
mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô, người ta
thấy những chân lư và sự kiện có các nhà thần bí
được giải thích dễ dàng hơn: "tất
cả những ǵ tốt đẹp đều đến
từ Thiên Chúa.”
Tóm lại, người ta đă
không t́m được lư do để kết luận
"trên nguyên tắc" Thiên Chúa không thể mặc
khải nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Trên nguyên tắc không ǵ ngăn
cản Thiên Chúa mặc khải cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô
nhưng cụ thể th́ sao? Thiên Chúa có mặc khải
nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô không? Thực tế Thiên Chúa đă
mặc khải ngoài Kitô giáo; hơn nữa, trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị mặc khải; và có thể
kết luận "Thiên Chúa đă mặc khải trong các
tôn giáo ngoài-Kitô.”
Cùng đích của con
người, là sống thiết thân với Chúa. Sau khi
mối tương quan thân mật với Ngài bị chính con
người phá hủy, tự sức con người không
thể nối lại mối tương quan ấy,
nghĩa là, con người không thể tự ḿnh cứu
độ ḿnh được! Trong lịch sử cứu
độ, Thiên Chúa luôn luôn là người có sáng kiến
nối lại tương giao với con người.
Lịch sử cứu độ đặc biệt bắt
đầu với ơn gọi Abraham, nhưng trước
khi Abraham xuất hiện, Thiên Chúa đă can thiệp trong
ḍng lịch sử của con người.
Ngay sau khi con người
đầu tiên phản bội, Thiên Chúa đă đi t́m con
người và ngỏ lời với con người
đầu tiên, dù con người lẩn tránh Thiên Chúa (St 3:9-10).
Trong lần gặp gỡ này, ơn cứu độ đă
được hứa ban cho con người (St 3:15).
Hênok được Kinh Thánh ca
ngợi, cho rằng ông đă đi với Thiên Chúa (St 5:22-24).
Như vậy chúng ta thấy Thiên Chúa không ngừng hiện
diện với con người. Trong giao ước Thiên Chúa
kư kết với Noê và gia đ́nh ông, giao ước này không
chỉ gồm Noê và gia đ́nh, nhưng bao gồm tất
cả chúng sinh ở với họ: "Này là dấu ta
đặt giữa ta và các ngươi, cùng tất cả
chúng sinh ở với các người, đời
đời măi măi" (St 9:12.15-17). Tương quan giữa
con người và Thiên Chúa đă được chính Thiên
Chúa cương quyết nối lại: Ngài không ngừng
ngỏ lời, đối thoại và tỏ hiện
với con ngườí! Ngài làm tất cả để
cứu con người.
Sau biến cố Thiên Chúa kêu
gọi Abraham, Ngài vẫn tỏ ḿnh cho dân ngoại như
trong tŕnh thuật Balaam. Balaam là tiên tri của dân ngoại
bên bờ sông Phơrat, ông đă có tương quan khá
mật thiết với Thiên Chúa dù ông không phải
người Israel. Thiên Chúa đă dạy ông không
được trù ẻo dân Israel, v́ Israel là dân đă
được Thiên Chúa Yahweh chúc phúc; ông đă vâng lời
Thiên Chúa (Ds 22:2-14). Với Balaam người ta thấy Thiên
Chúa đă tỏ ḿnh cho tiên tri dân ngoại để can
thiệp vào vận số của con dân Israel; nếu Balaam
đă có tương quan với Thiên Chúa như vậy,
chắc chắn ông cũng đă truyền đạt ư định
của Thiên Chúa cho những người đến với
ông hay những người tới thỉnh cầu ư
kiến của ông!
Với Kyrô vua xứ Batư, tiên
tri Isaia nói là Thiên Chúa đă xức dầu phong vương
để ông giải phóng dân Israel khỏi làm nô lệ
ở Babylon! Kyrô là một người ngoại, làm vua dân
ngoại, nhưng Thiên Chúa đă chọn ông, tuyển
chọn ông, đă nói với ông (Is 44:28; 45:1). Kyrô
được Thiên Chúa phong vương, nhờ ông mà dân
Israel được trở về, ông đă thực
hiện ư định Thiên Chúa nơi dân Israel; như vậy
không có lư ǵ khiến người ta phủ nhận ư
kiến cho rằng cũng chính vua được xức
dầu này đă thực hiện ư Thiên Chúa nơi dân tộc
ông, tức dân Ba-tư. Có thể nói: qua vị vua
được Thiên Chúa xức dầu này, Thiên Chúa đă nói
và cai trị không những dân Israel mà thôi, nhưng c̣n cả
dân Batư nữa.
Như vậy, Thiên Chúa không
chỉ mặc khải cho dân ngoại qua việc tạo
dựng, qua lương tâm, qua sự khôn ngoan do lư trí t́m
kiếm, nhưng c̣n bằng những lời hoặc
bằng chính con người Thiên Chúa chọn và ngỏ ư,
tỏ bày ư định của Ngài cách đặc biệt.
Có thể nói Thiên Chúa mặc khải cho Noê và gia đ́nh ông,
và qua đó cho tất cả mọi người và mọi
sinh vật trên đất, là mặc khải tiên tri.
Những lư chứng trên cho
thấy Thiên Chúa đă mặc khải cho dân ngoại theo
cách thức và lề lối của họ, để
cứu độ tất cả nhân loại, v́ Thiên Chúa là
Thiên Chúa của cả dân Do thái lẫn dân ngoại, Đấng
"muốn cho mọi người được cứu
rỗi và nhận biết sự thật" (1Tm 2:4).
Cũng trong bầu khí này, Lời Kinh Thánh trong thư
gởi Do Thái "Ngày xưa nhiều lần nhiều cách
Thiên Chúa đă nói với chúng ta qua các tiên tri; vào thời sau
hết, tức là trong những ngày này, Người đă
nói với chúng ta nơi một người Con" (Hr 1:1),
không chỉ đúng với dân Do Thái nhưng c̣n đúng
với cả dân ngoại nữa. Dầu vậy
người ta cũng phải thêm rằng, cả khi
chấp nhận Thiên Chúa nói với dân ngoại theo
"kiểu của Thiên Chúa và cũng là kiểu của
họ,” người ta vẫn thấy rằng qua biến
cố Thiên Chúa mặc khải cho dân riêng Ngài, Ngài cũng
mặc khải cho cả dân ngoại nữa. Điều này
người ta thấy rơ khi:
·
Yavê Thiên Chúa giải
phóng dân riêng ra khỏi AiCập, và qua biến cố này,
"dân AiCập sẽ biết rằng Ta là Yavê" (Xh 14:18);
·
Quân Philitinh chiếm
được ḥm bia Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đă
đánh phạt những nơi nào có sự hiện diện
của ḥm bia. Dân chúng đă sợ hăi và đem trả ḥm bia
lại cho con dân Israel sau khi đă tỏ ḷng tôn kính ḥm bia và
Thiên Chúa dân Israel thờ qua việc cúng tế (kiểu
của những dân này) (1Sm 5-6)
Các tôn giáo ngoài-Kitô có mặc
khải không? Người ta có thể xét
mặc khải phổ quát qua
thiên nhiên và lương tâm;
mặc khải triết lư;
mặc khải huyền
nhiệm;
mặc khải qua lịch
sử và lời giải thích;
mặc khải nơi Đức Giêsu
Kitô.
Mặc khải phổ quát qua
thiên nhiên và lương tâm, dành cho tất cả mọi
người, nên không thành vấn đề. Mặc khải
nơi Đức Giêsu là độc nhất, nên cũng khỏi
phải bàn. Như vậy chỉ cần lưu ư mặc
khải đặc biệt cấp một[91]
và một phần mặc khải đặc biệt cấp
hai[92],
nghĩa là, mặc khải huyền nhiệm tiên tri và
mặc khải lịch sử có lời giải thích
biến cố.[93]
Theo R. Latourelle,[94]
mặc khải Kitô giáo phải là tiêu chuẩn để
biết các tôn giáo ngoài-Kitô có mặc khải không. Nói như
vậy không phải là đánh giá thấp các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
nhưng đó là cách duy nhất để xác định và
lượng giá mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô;
bởi v́ đức Kitô là chóp đỉnh của mọi
mặc khải, nên nhờ Ngài mà người ta có thể
xác định và phân biệt những h́nh thức mặc
khải khác nhau.[95]
Sẽ so sánh giáo lư hoặc
niềm tin của những tôn giáo khác với đức tin
Kitô giáo để biết xem tôn-giáo-ngoài-Kitô đó có mặc
khải không.
Trong thời xa xưa và ngày nay
cũng vẫn c̣n có những người cúng tế
"thần cây đa,” "thần đá,” v.v. Tín
ngưỡng này không hiếm trong niềm tin b́nh dân của
những người Việt Nam.
Theo M. Éliade, những cây
và những đá được thờ không phải chúng
được thờ v́ chúng là cây là đá, nhưng chúng
được thờ bởi v́ chúng biểu lộ cái ǵ
không c̣n là cây là đá mà là cái ǵ thánh, một cách hoàn toàn khác
(ganz andere).[96]
Niềm tin b́nh dân này tuy được diễn tả cách
tập thể tại một số nơi nhưng nó không
là tôn giáo đúng nghĩa, v́ không có một nền giáo lư
diễn đạt niềm tin của họ, dầu
vậy nó cũng cho người ta thấy có niềm tin vào
một cái ǵ siêu việt, và một cách nào đó có thể
nói, niềm tin này cũng có giá trị cứu độ.
Có thể đồng ư với
triết gia Kierkegaard: "Lời nguyện có thể là không
chân thực khi cầu nguyện với Thiên Chúa chân
thực, nhưng người ta cũng có thể
cầu nguyện trong chân lư mặc dù
người ta dâng lời cầu nguyện trước
một ngẫu tượng."[97]
Đây là "sự thần
hiển" của những thế lực chống Thiên
Chúa hay là "sự thần hiển" của chính Thiên
Chúa? Theo thiển kiến, nếu không chứng minh
được đó là sự thần hiển của ma
qủy, th́ cứ giả sử chúng tự Thiên Chúa mà
đến.
Ở phương đông các h́nh
thức và hệ thống tôn giáo chỉ có giá trị
"lại gần" chân lư. Chẳng hạn ở Trung
Hoa, ba tôn giáo (Khổng-Phật-Lăo) tuy là ba trong hệ
thống nhưng chỉ là một trong cách sống, cách
cư xử. Ở Ấn Độ cũng vậy, Ramakrishna
nói: "Hữu thể là đơn nhất nhưng có
nhiều tên gọi... Bạn hăy gọi như bạn
muốn và cầu nguyện với Ngài theo h́nh thức thích
hợp với bạn hơn."[98]
Quan niệm tương đối này được
thấy gần như hầu hết nơi các tác giả
lớn:
·
ngón tay chỉ mặt
trăng, đừng nh́n ngón tay mà nh́n điều
được chỉ (Phật);
·
nơm để
đơm cá, đặng cá hăy quên nơm; ḍ là v́ thỏ,
đặng thỏ hăy quên ḍ; bè để qua sông, qua sông hăy
bỏ bè; lời là v́ ư, đặng ư hăy quên lời (Trang Tử);
Với người đông
phương, chân lư là cái ǵ không nắm bắt như
nắm bắt một đồ vật. Lời diễn
tả chỉ nói lên phần nào thực tại sâu thẳm
chứ không gói trọn, bó chặt, giam cầm được
thực tại. Nếu có thái độ độc đoán
tưởng rằng ḿnh nắm chân lư trong tay th́ chẳng
khác những người mù xem voi: ai cũng cho ḿnh đúng
và chỉ có ḿnh đúng thôi, c̣n người khác là sai
lầm!
Với quan niệm tương
đối này về vấn đề tôn giáo,[99]
có người cho rằng mọi tôn giáo đều tốt
tuy dù bàn tay có ngón dài ngón ngắn.
Những người theo
đạo Khổng không tôn thờ đức Khổng
nhưng coi Khổng Tử như người dẫn
đường, như vị thầy. Quan niệm này không
chỉ của những người theo đạo
Khổng nhưng là của chung những người Trung
Hoa, họ coi đức Khổng là "vạn thế
sư biểu.” Người theo đạo Khổng cho là
theo đạo của những bậc tiên vương:
thờ Trời và tế Trời. Niềm tin vào
Thượng Đế được diễn tả trong
những sách cổ nhất của Trung Hoa: "(Vua
Thuấn) làm lễ phần sài tế Thượng Đế."[100]
Sách Trung Dung cũng nói: "lễ Giao, lễ Xă là lễ
để tế Thượng Đế vậy.”[101]
Những lời trên trong sách Trung Dung cho thấy: ngay cả
lễ tế đất (lễ Xă) cũng là lễ tế
Thượng Đế như lễ Giao vậy. Những
người đi theo đường lối của
Khổng Tử (đạo Khổng) tin vào Thượng
Đế nhưng họ chú trọng đến những ǵ
cụ thể; họ đưa vào thái độ sống,
cách sống của con người để biết
người nào đó có sống đạo không!
Người Trung Hoa quan niệm như vậy cũng không
khác tư tưởng của thánh Gioan: "Nếu ai nói
ḿnh yêu Thiên Chúa mà ghét anh em ḿnh th́ đó là kẻ nói
dối" (1Ga 4:20).
Người theo đạo
Khổng, "đạo thờ Trời,” phải làm theo ư
Trời. Những bậc tiên vương thánh vương
của dân Trung Hoa cũng luôn làm theo ư Trời. Các vị khi
đem binh đi chinh phạt nước nào th́ cũng xác
tín đó là mệnh Trời, ư Trời muốn ḿnh làm như
vậy.[102]
Người càng làm lớn, càng phải sống đạo,
và đạo phải biểu lộ nơi ḿnh; Điều này
được thấy nơi những vị vua Trung Hoa,
họ coi ḿnh như người thay Trời hành
đạo; kế đến là những người quân
tử, họ cũng có nhiệm vụ lớn đối
với dân nước: "Đại học chi đạo,
tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ
ư chí thiện."[103]
Và muốn đạt được điều ấy th́
phải bắt đầu từ chính ḿnh: "cổ chi
dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên tŕ
kỳ quốc; dục tŕ kỳ quốc giả, tiên tề
kỳ gia; dục tề kỳ gia thiên hạ giả, tiên tu
kỳ thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm;
dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ư; dụ thành
kỳ ư giả, tiền trí kỳ tri; trí tri tại cách
vật.”
Hồi c̣n thời quân chủ,
vua tôi Việt Nam cũng thờ Trời tế Trời,
gọi là lễ tế Nam Giao.
Đạo Lăo do Lăo Tử vạch
ra. Người theo đạo Lăo cũng không tôn thờ Lăo
Tử nhưng coi Lăo Tử như người đi trước
dẫn đường (đạo)! Ư tưởng then
chốt trong đạo này là Đạo, và Đạo này không
thể diễn tả nỗi:
"Đạo khả đạo
phi thường Đạo,
Danh khả danh phi thường
Danh" (Đạo Đức Kinh, 1).
Đạo là nguồn gốc
của vạn sự vạn vật "vô danh vạn
vật chi thỉ, hữu danh vạn vật chi mẫu (ĐĐK 1).”
Người tin vào Đạo, sẽ sống theo Đạo. Thái
độ sống của những người theo Đạo
(đạo Lăo) thường là vô vi, nhưng vô vi không
phải là không làm ǵ cả "Đạo thường vô vi,
nhi vô bất vi" (ĐĐK 37,1).
Đặt vào trong bầu khí
thời đạo Khổng và đạo Lăo phát sinh,
người ta thấy hai "đạo" này biểu
lộ hai cách cư xử khác nhau, cứ b́nh thường
người ta coi một lối cư xử là tích cực
và lối kia là tiêu cực; Mới thoạt nh́n người
ta tưởng chừng chúng không thể dung hợp
được với nhau, nhưng thực chúng không hoàn
toàn mâu thuẫn nhau:
"xưa nay xuất xử
thường hai lối,
măi thế rồi ta sẽ tính
đây" (Nguyễn Công Trứ).
Niềm tin của những
người theo đạo Khổng và Lăo tuy khác nhau
nhưng giống nhau; một tin vào Trời một tin vào
Đạo; Trời và Đạo tuy được gọi là hai
nhưng cũng là một! Cách sống, cách cư xử
của hai đạo cũng không khai trừ nhau và có
thể dung hợp nơi một người.
Khi nghiên cứu đạo
Khổng và Lăo, người ta thấy khái niệm về
mặc khải rất đơn sơ[104]
nếu không muốn nói là không có; thế nhưng những
điều các đạo dạy người ta thấy
rất uyên thâm và rất gần với Kitô giáo.
Các tôn giáo
huyền nhiệm ở Ấn Độ trổi vượt
ở nét phản tỉnh. Mặc khải được
hiểu như một soi sáng nội tâm nhằm giải
phóng con người khỏi u mê lầm lạc.[105]
Nếu so sánh các tôn giáo "tiên tri" với các tôn giáo
"khôn ngoan,” người ta thấy ư niệm mặc
khải rất rơ nơi các tôn giáo tiên tri, c̣n trong tôn giáo khôn
ngoan th́ không rơ. Mặc khải được hiểu
như một khải ngộ (soi sáng nội tâm) không
chỉ là cái biết bằng trí năo nhưng c̣n hàm chứa
một sự cảm nghiệm sâu xa, nó phần nào cho
thấy thực tại con người cảm nghiệm.
Tuyệt Đối trong Ấn
Độ giáo là một thực tại người ta không
thể tri giác hoàn toàn, vượt trên khả năng lănh
hội của con người. Tuyệt Đối này
"mắt không thể đạt tới, cả lời và
lư trí cũng vậy. Cái ấy không phải là cái ta biết,
cũng không phải là cái ta không biết."[106]
"Chẳng có ǵ cao hơn và thấp hơn Ngài. Chẳng
có ǵ nhỏ hơn và cũng chẳng có ǵ lớn hơn....
Ngài biết tất cả, c̣n Ngài th́ chẳng ai biết
được."[107]
Nhờ quan niệm về Tuyệt Đối như vậy,
nên "các hiện hữu đáng quư đối với chúng
ta không phải v́ t́nh yêu của các hiện hữu đó,
nhưng bởi v́ t́nh yêu của sinh vật Tối Cao mà các
hiện hữu đáng quư."[108]
Cũng chính trong Upanisad này người ta đọc
thấy lời cầu nguyện: "xin dẫn con từ
nơi tối tăm tới ánh sáng, từ sự chết
đến sự sống, từ cái không thực
đến cái thực."[109]
Với những lời trong các Upanisad này, người ta có
cảm tưởng Tuyệt Đối được
diễn tả là một Thực Tại Tuyệt Đối
Hữu Vị; và như vậy, đâu có xa với Thiên Chúa
Kitô giáo?
Những
người theo đạo Phật coi chư Phật
như những bậc thầy chứ không tôn thờ
chư Phật,[110]
chính v́ vậy Phật tử "không cầu xin một ân
huệ vật chất hay tinh thần nào khi đảnh
lễ tượng Phật mà chỉ bày tỏ ḷng tôn kính
ngưỡng mộ của ḿnh đến lư tưởng
siêu việt mà bức tưọng tiêu biểu... Phật
tử cũng đảnh lễ cây bồ đề, không
phải để ḷng tôn sùng thờ tự cái cây, mà xem
đó là tượng trưng của sự giác ngộ.
Dầu có nhiều nghi thức lễ bái trong các buổi
lễ, người tín đồ phật giáo không tôn sùng
đức Phật như một thần linh.[111]
Theo quan niệm của Phật giáo "đức Phật
không khi nào và không thể nào ban bố những ân huệ cho
người cầu nguyện. Để được
cứu rỗi người Phật tử không nên cầu
nguyện mà phải lănh trách nhiệm, cố gắng trau
dồi đức hạnh, kiên tŕ tu tập, để
đạt tự do và trong sạch."[112]
Nếu người theo
đạo Phật cho rằng đức Phật chỉ là
người dẫn đường, là bậc thầy
chứ không như đức Giêsu vừa là
đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14:6),
th́ họ tin vào ai? Phải chăng đạo Phật
chủ trương vô thần? Đạo Phật phát sinh là do
hoàng tử Gautama, một người khi nhận biết
cái khổ mà chúng sinh
phải chịu, đă t́m đường giúp con
người thoát khỏi cảnh khổ cực này. Như
vậy mục đích của Phật giáo là diệt
khổ, mục đích của Phật tử là
được giải thoát khỏi khổ cực, và
để đạt được như vậy họ
phải được giác ngộ, nhận biết chân lư,
tránh được vô minh; chân lư mà người ta nhận
ra đó là: mọi khổ cực con người có là do dục mà ra cả, thế nên
để thoát khổ, con người phải diệt dục! Đạo
Phật chú trọng về khía cạnh thực tế, làm
sao để con người thoát khổ, hơn là t́m nguyên
nhân siêu h́nh; đạo Phật t́m những biện pháp giúp
con người hết khổ, chứ không bận tâm t́m
hiểu xem ai là Đấng đă tạo ra vũ trụ này.[113]
Người Phật tử không t́m thấy bất cứ
một lư do nào để chống đối việc
thờ nhiều thần thánh bởi v́ ư niệm về
một Thượng Đế hay ghen tuông hoàn toàn xa lạ
với họ. Như vậy thật là một sai lầm vô
cùng lớn lao khi mô tả Phật giáo như một tôn giáo
vô thần- nếu hiểu vô thần như phủ nhận
sự hiện hữu của Thượng Đế.[114]
Đạo Phật tuy không
để ư đến vấn đề Đấng Tạo Hóa
nhưng qua những giáo lư để giúp con người
sống tốt, bớt khổ và được giải
thoát... rất sâu xa; chẳng hạn như "bát chính
đạo.” Đặc biệt là phái Phật giáo sùng tín
chủ trương rằng Bakti thay thế- hoặc ít là
bổ túc- con đường trí tuệ.[115]
Ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX xuất hiện
đạo Cao Đài, những người trong tôn giáo này cho
rằng tôn giáo của họ được Thánh Thần
mặc khải; Đấng Tối Cao họ thờ cũng chính
là Yahweh của dân Israel, là Cha của đức Giêsu Kitô.[116]
Những người theo tôn giáo này cho rằng đạo
Cao Đài là dự định của Đấng Tối Cao
nhằm thâu tóm tất cả các tôn giáo lớn trên hoàn
vũ; họ coi đức Giêsu, đức Phật,
đức Khổng Tử, Môsê là những người
được Đấng Tối Cao sai tới, nhưng
điểm tới của tất cả những tôn giáo ở
Đông Tây trong quá khứ là đạo Cao Đài!
Hồi giáo,
một tôn giáo xuất hiện ở phương đông vào
thế kỷ thứ VII sau đức Giêsu, tôn thờ Thiên
Chúa của dân Do Thái. Những người theo đạo
Hồi cho rằng đức Giêsu cũng là một vị
tiên tri, nhưng vị tiên tri lớn nhất là Mahomet,
người được Thiên Chúa mặc khải Lời
và những lời này được chép laị trong kinh
Koran. Với nhăn quan Kitô giáo, dù đạo Hồi có
những sai lầm nhưng cũng có những điểm
tích cực như tôn thờ Thiên Chúa độc nhất,
giáo lư dạy làm lành lánh dữ và có nhiều nét tương
đồng với Kitô giáo! Khoa tôn giáo đối chiếu
cho cái nh́n khách quan về những điểm này.
Những hàng
viết về giá trị Kitô giáo của các tôn-giáo-ngoài-Kitô
trên đây rất thô sơ mộc mạc, và nó chỉ có
tính gợi ư để dẫn tới một lập
trường. Công việc nghiên cứu về vấn
đề này rất bao la và phức tạp, cần có
sự đóng góp của nhiều người. Để gút
lại vấn đề giá trị của các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
xin mượn lời của đức Hồng Y Daniélou:
"truyền thống công giáo dứt khoát kết án
những sai lầm hư nát nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô như
thờ ngẫu tượng, phiếm thần, nhị
nguyên. Truyền thống Công giáo coi tất cả những
điều đó như là lỗi thời khi đức
Kitô, chân lư cao hơn đă được bày tỏ.
Nhưng truyền thống công giáo không phủ những giá
trị tôn giáo đích thực nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Những giá trị tôn giáo này diễn tả sự hiện
diện của Thiên Chúa- Đấng không ngừng cứu giúp
con người. Những giá trị tôn giáo này cũng có
thể được coi như "viên đá chờ
đợi" đối với Do Thái giáo và Kitô giáo. Thánh
Phaolô nói trong Công Vụ các sứ đồ: Thiên Chúa đă
để các dân đi theo đường lối của
họ, nhưng Ngài đă không ngừng gởi những
chứng từ đến với họ, bằng cách ban cho
họ mưa từ trời xuống cùng mùa màng hoa trái."[117]
Tới
đây người ta có thể khẳng định: Thiên
Chúa đă mặc khải cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô. Nhưng
nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô được mặc khải,
vậy tại sao có những sai lầm nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô? Vấn đề này sẽ được
giải quyết trong phần tôn giáo ngoài-Kitô là phương
tiện cứu độ.
Các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là
phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người không?
Chúa Giêsu dạy: "Không
phải những kẻ nói Lạy Chúa, lạy Chúa, là
được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm
theo ư Thiên Chúa" (Mt 7:21). "Có nhiều kẻ từ
đông tây tới dự tiệc Nước Trời, c̣n con
cháu trong nhà th́ bị quẳng ra ngoài" (Mt 8:11-12). Không
phải cứ là Kitô-hữu, cứ theo Kitô giáo, cứ là
Công Giáo, là được cứu độ, nhưng
những người được cứu độ là
những người thực hiện ư định của
Thiên Chúa! V́ thế, các tôn giáo ngoài-Kitô, nếu là
phương tiện cứu độ, th́ cũng là
phương tiện thứ yếu.
Có hai yếu tố làm các nhà thần
học khuynh hướng tiêu cực cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô không là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ:
·
những sai lầm trong
các tôn-giáo-ngoài-Kitô;
·
các tôn-giáo-ngoài-Kitô
thường là hệ thống đóng kín với Tin
Mừng đức Giêsu Kitô.
Người ta có thể liệt
kê vài sai lầm trong giáo lư nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
chẳng hạn:
·
Đạo Phật chủ
trương luân hồi, nghĩa là, con người chết
có thể đầu thai làm người hay làm con vật
nếu họ không được giải thoát lên cơi
niết bàn!
·
Hồi giáo coi
đức Giêsu chỉ là một tiên tri lớn, chứ không
phải là Thiên Chúa; đạo Công Giáo cũng như bao
đạo khác, đều có điểm tới là Hồi
Giáo. Mahomet là tiên tri lớn hơn đức Giêsu,
vượt trên đức Giêsu!
·
Đạo Cao Đài cũng cho
rằng đạo Công Giáo cũng là một trong các
đạo khác, đức Giêsu cũng chỉ là một tiên
tri lớn như bao các tiên tri lớn khác mà thôi!
Khi bàn về mặc khải trong
đạo Hồi, W. M. Watt cho rằng kinh Koran của
Hồi giáo, xét về một khía cạnh nào đó và theo
một ư nghĩa nào đó, là sản phẩm của sáng
kiến thần linh và được mặc khải. Khi
Watt dùng chữ "theo một ư nghĩa nào đó"
nghĩa là ông chấp nhận có sai lầm trong kinh Koran.[118]
C̣n theo R. Latourelle, các tôn giáo lớn cứu độ như
Ấn giáo, Phật giáo, là hoa trái của ân sủng cứu
độ và là những kiểu mẫu giải thích ân
sủng này, nhưng bởi v́ thiếu tiêu chuẩn nhận
định nên những lời giải thích mà các tôn giáo
đó đề ra gồm cả những yếu tố nhân
loại, những hàm hồ, những trệch
đường, những sai lầm cùng với những
yếu tố có giá trị thực.[119]
Theo R. Latourelle, các tôn giáo là hoa trái của ân sủng cứu
độ, bởi v́ con người là con người
lịch sử nên ân sủng cứu độ này
được biểu lộ ra trong các nghi lễ, trong
việc thực hành, trong ngôn ngữ; chính dưới tác
động ân sủng này mà con người t́m hiểu trong
lần ṃ, linh cảm thấy cách mơ hồ mầu
nhiệm cứu độ. Hiểu như vậy các tôn giáo
cứu độ duy tŕ một quan hệ tích cực
đối với mặc khải thần linh, nhưng
nội dung của nó phải được xác định
và giải thích. Và chính mặc khải Kitô giáo là tiêu
chuẩn nhận định đâu là công tŕnh của ân
sủng, và nguyên tắc giải thích là chính Thiên Chúa nơi
đức Giêsu Kitô.[120]
Những chân lư và những giá
trị tôn giáo đích thực nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô
đều đến từ Thiên Chúa- nguyên nhân mọi
sự tốt lành, c̣n những sai lầm và "thái
độ đóng kín đối với Kitô giáo" là do con
người!
Một điều rất khó
giải quyết với những người nghiêng về
lập trường tích cực, là sự kiện các tôn giáo
ngoài-Kitô ngăn cản các tín hữu trong các tôn giáo đó tin
vào Đức Giêsu.
Do Thái giáo sẽ giúp có câu trả
lời.
Cựu Ước của Dothái
giáo, là lời Thiên Chúa mặc khải cho con người, và
như vậy không thể sai lầm. Những điều
này là đối tượng câu nói của đức Giêsu
"trước khi trời đất qua đi, th́ một
chấm một phết cũng không qua khỏi lề
luật, trước khi mọi sự thực đă
xảy ra" (Mt 5:18). Nhưng nơi Do Thái giáo, không chỉ
có Kinh Thánh, mà c̣n nhiều điều nữa như tập
tục của tiền nhân, và đôi khi người ta coi
tập tục tiền nhân trên cả linh truyền của
Thiên Chúa (Mt 15:1-20)! Người theo Do Thái giáo quá nô lệ vào
luật nên không hiểu đúng lệnh truyền của
Thiên Chúa (Mt 12:1-14). Khi họ giải thích Lời Chúa như
vậy, nghĩa là họ đem ư của con người, ư
của họ làm ư của Thiên Chúa! Qua ánh sáng của
đoạn Lời Chúa trên, người ta có thể kết
luận: những ǵ sai lầm và thái độ đóng kín
trước Tin Mừng của đức Giêsu Kitô
đều đến từ con người, và con
người là nguyên nhân của những sự đó. Con
người ở đây hiểu là con người bị
ảnh hưởng của tội!
Do Thái giáo có Kinh Thánh Cựu
Ước là mặc khải của Thiên Chúa, nhưng
chỉ với Cựu Ước, Do Thái giáo chưa lănh
nhận trọn vẹn mặc khải. Đáng lẽ mặc
khải Cựu Ước phải giúp họ tiếp
nhận đức Giêsu nhưng họ đă từ chối
Ngài v́ thành kiến và tập tục tiền nhân (Ga 5:46-47; 1:11;
Mt 15:1tt).
Dothái giáo không tiếp đón
Đức Giêsu, là thực trạng làm thánh Phaolô suy nghĩ và
buồn phiền nhiều (Rm 9-11). Tuy vậy theo thánh nhân,
họ vẫn là dân rất được yêu quư bởi
đă được tuyển chọn; Thiên Chúa đă không
ân hận ǵ v́ đă ban ơn và kêu gọi họ (Rm 11:28-29).
Họ cũng đă đáp
trả mặc khải của Thiên Chúa bằng việc tin
vào lời hứa của Thiên Chúa ban cho cha ông họ.[121]
Nếu việc từ chối tin vào đức Giêsu không là
do lỗi họ, họ vẫn được Thiên Chúa
cứu độ!
Các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những sai
lầm nhưng cũng có những chân lư, có những yếu
tố mặc khải. Những yêú tố mặc khải,
chân lư đến từ Thiên Chúa nhưng những sai lầm
đến từ con người, là công tŕnh của con
người. Sở dĩ vậy là v́ con người đă
đi quá những điều Thiên Chúa mặc khải, con
người muốn có một hệ thống hợp lư
chắc chắn. Họ chưa hoàn toàn b́nh tâm lắng nghe
Thánh Thần, họ chưa chấp nhận những
điều Thiên Chúa mặc khải như nó là. Đây là khuynh
hướng chung của con người đă phạm
tội hoặc như thái độ của Adam và Eva
muốn được như Thiên Chúa mà độc lập
với Thiên Chúa!
Cái khó khăn cho những
người làm công tác thần học về tôn-giáo-ngoài-Kitô
là phải nhận định xem đâu là mặc khải
của Thiên Chúa và đâu là yếu tố nhân loại; câu
trả lời trên chỉ là một soi sáng giúp biết
hướng nghiên cứu và cũng cho thấy giá trị
không thể thay thế của mặc khải Kitô giáo!
Câu hỏi "các tôn-giáo-ngoài-Kitô
có là phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người không?" trở thành "các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có là dụng cụ Thiên Chúa dùng cứu
độ con người không?” và "Thiên Chúa có mặc
khải cho những người trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không?” Nếu Thiên Chúa đă mặc khải trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, th́ những người trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô
có thể đáp trả tùy tự do của họ, và do
đó họ có thể được cứu rỗi, và
như vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là phương
thế Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người sống trong tôn giáo đó.
V́ Thiên Chúa mặc khải Ngài
trong mỗi tôn giáo theo mức độ khác nhau, nên giá
trị cứu độ của mỗi tôn giáo cũng khác
nhau. Nơi Kitô giáo, mặc khải đă đạt
đến đỉnh cao nơi đức Giêsu Kitô, nên Kitô
giáo là phương tiện cứu rỗi cần thiết
(cf. LG 14); c̣n các tôn giáo khác, có thể nói, là phương tiện cứu rỗi cần thiết
theo mức độ.
Trong phần tŕnh bày về lập
trường thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô người
ta đă thấy các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố
mặc khải và cũng có những yếu tố thuần
túy nhân loại, có những chân lư nhưng cũng có sai
lầm. Chính nhờ những yếu tố mặc khải
mà các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ!
Những yếu tố nhân loại và sai lầm nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có thể trở thành cơ cấu ngăn
cản con người tiếp nhận Tin Mừng
đức Giêsu Kitô- Đấng không chỉ hoàn tất lề
luật và các tiên tri của Israel nhưng c̣n của các tôn
giáo và dân tộc khác nữa.[122]
Nơi Kitô giáo, tuyệt
đỉnh mặc khải là đức Giêsu Kitô; con
người được cứu độ khi đáp
trả mặc khải này bằng tin vào đức Giêsu. Nơi các tôn giáo khác
người ta được cứu rỗi nhờ tin vào Tuyệt Đối qua mặc
khải trong các tôn giáo họ theo. Sau đây sẽ t́m
hiểu giá trị cứu độ của các tôn-giáo-ngoài-Kitô
và ngay cả của những người không sống trong
một tôn giáo nào.
"Phương tiện cứu
độ" ở đây được hiểu như
phương tiện thứ yếu, v́ tất cả
mọi người, dù người đó là ai chăng
nữa, nếu được cứu độ là
được cứu độ nhờ đức Giêsu
Kitô. Hơn nữa một người được
cứu hay không, là do chính thái độ của người
đó với Thiên Chúa, với đức Giêsu Kitô, với
mặc khải của Ngài. Như vậy,
"được cứu độ" là một
biến cố có tính cá nhân giữa Thiên Chúa và chính
đương sự chứ không do một cơ cấu
tôn giáo. Con người có được cứu độ
hay không, là tùy người đó có đáp trả lời
mời gọi của Thiên Chúa mặc khải qua
lương tâm, qua vũ trụ thiên nhiên, qua sự khôn ngoan
và chân lư Thiên Chúa đă ban cho lư trí nhận ra, qua mặc
khải Ngài ban cho một số người để
từ người đó đến với nhiều
người, qua mặc khải đặc biệt Ngài
tỏ lộ nơi một dân tộc.
Con người đáp trả
mặc khải này bằng đức tin, v́ "không có
đức tin th́ vô phương làm đẹp ḷng Thiên Chúa"
(Hr 11:6).
Đức tin là lời đáp
trả của con người đối với Thiên Chúa
mặc khải, bằng việc ưng thuận và dấn
thân trọn vẹn. Việc đáp trả này nói theo ngôn
từ của thánh Phaolô là "sự vâng phục của
đức tin."[123]
Thiên Chúa mặc khải cho con người theo mức
độ tùy ư Ngài, và con người cũng đáp trả
theo mặc khải Thiên Chúa ban.
Những người sống
theo lương tâm ở đây, muốn chỉ đặc
biệt những người không nhận biết Thiên Chúa.
Họ c̣n được gọi là người vô thần.
Với những người này, Giáo Hội công giáo dạy
rằng "tất cả những kẻ chưa nhận
biết Thiên Chúa rơ ràng nhưng nhờ ơn Chúa, cố
gắng sống đời chính trực, th́ Chúa Quan Pḥng
không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết
để họ được cứu rỗi" (LG 16).
Những người này cũng
đă lănh nhận mặc khải phổ quát qua thiên nhiên và
lương tâm. Tuy không nhận biết Thiên Chúa nhưng
họ đă đáp trả lại lời mời gọi
của Thiên Chúa- dù họ không biết- bằng cách vâng nghe
tiếng lương tâm. Công Đồng cũng dạy:
"nhờ lương tâm, con người nhận thức
và hiểu biết những mệnh lệnh của lề
luật Chúa... V́ vậy không ai bị cưỡng bách hành
động trái với lương tâm, cũng như không ai
bị ngăn cấm hành động theo tiếng
lương tâm nhất là trong lănh vực tôn giáo" (DH 3).
Kitô hữu có luật t́nh yêu, người Do Thái giáo có
thập giới, c̣n người theo lương tâm sống
theo luật được ghi khắc trong ḷng (cf. Rm 2:15).
Nơi những người
"sống theo lương tâm" này, c̣n phải kể
những người không sống trong một tôn giáo nào,
nhưng họ tin nhận có một Thiên Chúa, Đấng
Tối Cao, Đấng Tuyệt Đối. Những người
này đă nhận ra Thiên Chúa và tin tưởng nơi Ngài. Đây
là những người mà Công Đồng đă đề
cập đến: "Con người nhờ ánh sáng
tự nhiên của lư trí, có thể từ các tạo vật
nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa như nguyên
lư và cứu cánh mọi sự" (Rm 1:20; cf. DV 6).
Như vậy những
người sống theo tiếng lương tâm vẫn
được Thiên Chúa ban ơn cứu độ dù họ
không có ở trong cơ cấu tôn giáo nào! Có thể nói mà
không sợ sai lầm: họ được cứu
độ nhờ đức Giêsu Kitô và qua lương tâm
của họ.
Tín hữu đạo Cao Đài, tin vào Thượng Đế. Với họ, Đấng ngự
nơi Cao Đài chính là Yavê của Israel và là Cha của
đức Giêsu. Tuy họ có nhiều sai lầm nhưng
cũng vẫn được những cơ cấu tôn giáo
giúp đỡ để sống niềm tin vào Đấng
Tuyệt Đối.[124]
Với các tôn giáo đông
phương như Ấn độ giáo, Phật giáo, Lăo
giáo, Khổng giáo, tôn giáo phản ảnh cách suy nghĩ và
diễn tả văn hóa của mỗi dân tộc. Điều
này muốn nói, ngay khi người ta diễn tả cùng
một thực tại, mỗi dân tộc có những cách
diễn tả khác nhau!
Với người đông
phương, hư vô là nền tảng của mọi
hiện hữu, là "nơi" cuối cùng của
tất cả, thậm chí của cả vô hữu; như
vậy Hư Vô có đặc tính siêu h́nh mà triết lư Kitô
gán cho Thiên Chúa. Đối với người tây phương,
Hư Vô tuyệt đối là một khái niệm khó
hiểu; c̣n đối với người đông
phương Hư Vô là nền tảng, con đường
của tư duy.[125]
Lăo giáo và Khổng giáo nhấn mạnh đến khía
cạnh sống của con người, cũng như
Phật giáo, có những lời dạy bảo và những
con đường tập luyện sống tốt, thành
nhân và hữu dụng với đời! Nếu đem so
sánh những lời của Khổng, Lăo và đức
Phật với văn chương khôn ngoan Cựu
Ước, theo khía cạnh nhân loại mà nói, người
ta thấy chúng không kém uyên thâm và ư vị! Theo thiển
kiến, nơi những tôn giáo này người ta có thể
t́m thấy nhiều điểm tương đồng
với giáo lư Kitô giáo! Ấn Độ giáo đặt nặng
niềm tin vào Tuyệt Đối và khía cạnh nghi lễ, và
điều này không hoàn toàn xa lạ với Kitô giáo.[126]
Ơn cứu độ cho
những người sống trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô đă
được Công Đồng đề cập đến:
"những kẻ đang t́m đến Thiên Chúa trong bóng
tối và qua ngẫu tượng, Thiên Chúa mà họ không
biết, cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa
họ, bởi v́ chính Ngài ban cho mọi người sự
sống, hơi thở và tất cả mọi sự, và v́
là Đấng Cứu Thế, Ngài muốn mọi người
được cứu rỗi. Thực thế, những
kẻ vô t́nh không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và
Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm t́m kiếm
Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh,
họ cố gắng chu toàn thánh ư Thiên Chúa trong công việc
ḿnh theo sự hướng dẫn của lương tâm,
th́ họ có thể được cứu rỗi" (LG 16).
Công Đồng khẳng định những người
sống trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô được cứu
độ qua lương tâm, nhưng không đề cập
đến khía cạnh cứu độ qua tôn-giáo-ngoài-Kitô,
họ vẫn thuộc về dân Thiên Chúa. Sở dĩ
vậy v́ công đồng chưa thấy vấn đề
này được giải quyết rơ ràng, nên để
ngỏ vấn đề này cho các nhà thần học!
Trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô phải
kể đến Hồi giáo,[127]
Công Đồng cho rằng "họ giữ đức tin
của Abraham; cùng với chúng ta, họ thờ
phượng Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng phán xét
loài người trong ngày sau hết" (LG 16).
Sau khi đă xét vấn đề
mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô, chúng ta có thể
kết luận: các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu
độ tùy theo mức độ chúng mở ra với tin
mừng đức Giêsu Kitô. Một tôn giáo càng là một
hệ thống chặt chẽ theo kiểu con người,
càng khó đón nhận tin mừng đức Giêsu Kitô, càng có
ít giá trị cứu độ, bởi v́ ở đó
yếu tố con người đă ngăn cản con
người đón nhận mặc khải! Trên nguyên
tắc một tôn giáo càng có nhiều mặc khải, càng
dễ đón nhận đức Giêsu như điểm
tới của mặc khải.
Nếu được dùng
đường biểu diễn để diễn tả
giá trị cứu độ nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô chúng ta
sẽ tŕnh bày như ở h́nh bên cạnh:
trục tung
chỉ giá trị cứu độ;
trục hoành
để ghi giá trị mặc khải nơi các tôn giáo theo
thứ tự:
·
người sống
theo lương tâm không nhận biết Thiên Chúa,
·
người sống
theo lương tâm và nhận biết Thiên Chúa,
·
các tôn-giáo-ngoài-Kitô
như Cao Đài, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Khổng và Lăo
giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,
·
Kitô giáo và đặc
biệt Công Giáo. Công giáo có giá trị mặc khải
nhất (các tôn giáo được xếp trước sau
chỉ có tính cách gợi ư và thí dụ).
Đường biểu diễn
chỉ giá trị cứu độ của các tôn giáo là
một nhánh hyperbol nhận giá trị cứu độ
của Kitô giáo Công giáo làm đường tiệm cận.
Đây chỉ là các diễn tả biểu trưng.
Với câu trả lời trên
về các tôn-giáo-ngoài-Kitô, một cái nh́n mới xuất
hiện trong tương quan với các tôn giáo ngoài-Kitô.
Một số vấn đề như tự do tôn giáo,
đối thoại tôn giáo, truyền giáo, đức Giêsu Kitô
và tương quan giữa Giáo hội Công giáo với các
tôn-giáo-ngoài-Kitô sẽ được đề cập,
nhưng trước hết nói sơ qua về những khó
khăn đă gặp phải trong lập trường tích
và tiêu cực về tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Với các thần học gia
chủ trương các tôn giáo ngoài-Kitô đầy dẫy
những sai lầm nên không thể là công tŕnh của Thiên
Chúa cũng như không thể nằm trong chương tŕnh
của Thiên Chúa được, xin trả lời tóm tắt:
·
những sai lầm và
khuyết điểm trong các tôn giáo ngoài-Kitô không đến
từ Thiên Chúa, nhưng đến từ con người và
là công tŕnh của con người;
·
các tôn giáo ngoài-Kitô
vẫn là phương tiện cứu độ "thông
thường,” "cần thiết theo mức
độ" cho những người sống trong tôn giáo
đó, khi họ theo tôn giáo đó với ư hướng ngay
lành.
Câu trả lời này, cũng có
thể được dùng để trả lời
những người cho rằng các tôn giáo ngoài-Kitô là
dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người, nhưng đă không trả lời
được vấn nạn về những sai lầm
trong các tôn giáo ngoài-Kitô!
Sự kiện có các nhà thần
bí cũng như có những điểm giáo lư tương
đồng giữa các tôn-giáo-ngoài-Kitô và Kitô giáo cũng có
thể giải thích ổn thỏa với câu trả
lời này, v́ những điều tốt lành đó
đều đến từ Thiên Chúa- nguồn mọi
sự tốt lành.
Một số nhà truyền giáo
quan niệm rằng tất cả những người
không được rửa tội đều không
được cứu độ, nên v́ bác ái Kitô giáo, họ
cố gắng rửa tội cho nhiều người
hết sức có thể, ngay cả khi đương
sự không đồng ư! Ngày nay với quan niệm về
ơn cứu độ các dân ngoại của Công Đồng
Vatican II, người ta tôn trọng tự do con
người hơn, đặc biệt về khía cạnh
tự do tôn giáo.
Theo Công Đồng, con người
có quyền tự do tôn giáo; nghĩa là, con người không
bị lệ thuộc vào áp lực cá nhân, đoàn thể xă
hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào
khác. Không ai bị ép buộc hành động trái với
lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành
động theo lương tâm, dù đó là hành động
riêng tư hay công khai, một ḿnh hay cùng với người
khác trong những giới hạn chính đáng (DH 2).[128]
Dù con người có quyền
tự do tôn giáo[129]
và cho dù các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là phương tiện
cứu rỗi "theo mức độ,” th́ không phải
v́ đó mà Kitô hữu được lơ là, chểnh
mảng việc rao giảng tin mừng đức Giêsu Kitô
cho những người chưa nhận biết Ngài!
Mệnh lệnh rao giảng Tin Mừng là mệnh lệnh
của đức Giêsu, và như vậy không ai có quyền
từ chối hoặc trốn tránh.
Thực sự, tiếng
những người rao giảng tin mừng đức Giêsu
Kitô đă vang đến cùng trái đất, nhưng vẫn
c̣n nhiều người chưa tin nhận đức Giêsu!
Để tin vào đức Giêsu Kitô, ngoài việc
được nghe rao giảng, c̣n cần ơn của
Thánh Thần Thiên Chúa.
Giả sử ơn Thánh Thần
luôn đủ, th́ sự kiện nhiều người không
chấp nhận tin mừng đức Giêsu buộc
người ta phải suy xét:
gương mặt đức Giêsu
có được tŕnh bày trung thực khả dĩ có
thể chấp nhận không?
hay gương mặt Ngài đă
được tô vẽ theo kiểu riêng khiến không
thể chấp nhận được?
Trong phần t́m hiểu về
các tôn-giáo-ngoài-Kitô, cùng một Thực Tại Tuyệt
Đối được diễn tả theo những cách khác
nhau của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa.
Vậy để tin mừng đức Giêsu Kitô
được những người trong những nền
văn hóa khác nhau dễ chấp nhận, phải tŕnh bày tin
mừng đức Giêsu Kitô theo năo trạng và cách suy nghĩ
khả dĩ người ta có thể chấp nhận
được!
Hơn nữa, nếu các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố được
mặc khải, th́ những người truyền giáo
phải khai thác những điều đó và cho thấy Tin
Mừng đức Giêsu không hủy bỏ nhưng làm tôn
giáo họ đang theo nên trọn hảo! Chính v́ vậy
phải tích cực t́m hiểu, nghiên cứu các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
xem đâu là yếu tố được mặc khải,
đâu là yếu tố con người nơi các tôn giáo
đó. Nếu hiểu được năo trạng của
từng dân tộc và những điều chân thật
nơi tôn giáo họ đang theo, người ta sẽ tŕnh
bày Tin Mừng đức Giêsu sáng sủa và dễ
được chấp nhận hơn!
Như vậy, công tác truyền
giáo trong hoàn cảnh hôm nay bao gồm cả công tác
"hội nhập văn hóa!” Nhận ra những nét
đẹp Kitô giáo nơi các nền văn hoá và tôn-giáo-ngoài-Kitô
là công việc của các thần học gia của thế
kỷ hiện tại, đây là công việc khó khăn và
rộng lớn, đ̣i sự cộng tác của nhiều
người và không thể hoàn thành một sớm một
chiều!
Dù những người sống
trong tôn-giáo-ngoài-Kitô không tin đức Giêsu là Đấng mang
lại ơn cứu độ cho họ, nhưng thật
sự, ai được cứu rỗi cũng
được cứu nhờ đức Giêsu Kitô! Dù
người ta biết hay không biết, đức Giêsu
vẫn là điểm tới của những yếu tố
tốt lành nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô. Đức Giêsu là
đỉnh cao và là Đấng hoàn tất mọi mặc
khải, kể cả những mặc khải xảy ra sau
biến cố Giêsu Kitô!
Các tôn-giáo-ngoài-Kitô là
"phương tiện cứu độ,” mặc dù
chỉ là phương tiện cần thiết theo mức
độ, vậy Kitô giáo có c̣n là tôn giáo trỗi vượt
trên các tôn-giáo-ngoài-Kitô không? Và nếu trỗi vượt th́
trổi vượt về phương diện nào?
Đứng trên phương diện
nhân loại, nếu so sánh giữa hai nếp sống của
hai người b́nh thường, một Công giáo, và một
ngoại đạo, người ta thấy khó có thể nói
ai sống tốt hơn ai! Chính v́ nếp sống của
người Kitô hữu không làm cho người ngoại
nhận thấy ưu việt tính của Giáo hội Công
giáo nên khi rao giảng Tin Mừng, khi mời gọi họ
tin vào đức Giêsu Kitô, người ta thường
gặp câu trả lời: "vào đạo để làm
ǵ? những người công giáo đâu có sống tốt
hơn chúng tôi!”
Nói trên nguyên tắc, người
Công giáo phải sống tốt hơn người
ngoại, v́ họ lănh nhận mặc khải trọn
vẹn hơn! Kitô hữu phải sống khác một
người ngoại đạo v́ họ thấy ư nghĩa
cuộc đời, thấy cùng đích đời họ rơ
hơn. Cứ lư mà nói, người Công giáo dễ
được cứu độ hơn người
ngoại, v́ họ theo con đường đúng nhất;
nhưng thực tế, mỗi người được
cứu độ hay không là do thái độ sống, cách
mỗi người đáp trả lại lời mời
gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày!
Chắc chắn Giáo hội Công giáo trổi vượt trên
các tôn giáo khác, và điều này thể hiện đặc
biệt trong nội dung mặc khải. Kitô giáo có những
nét mặc khải đặc thù mà các tôn giáo khác không có!
Mặc khải Kitô giáo không là
một ngộ thuyết, một tri thức huyền bí
chỉ dành cho một thiểu số người và không
liên quan ǵ đến lịch sử nhân loại. Mặc
khải Kitô giáo cũng không là một sự khải ngộ
đơn thuần của Thần Khí, thông ban trực
tiếp những bí mật thần linh trên trời. Mặc
khải Kitô giáo cũng không là một kinh nghiệm không rơ
ràng về thần linh: một sự gặp gỡ khôn
tả mà người ta không biết nó làm sao và cũng không
biết diễn tả thế nào! Mặc khải Kitô giáo
cũng không là một học thuyết về con
người nhằm bàn về ư nghĩa con người,
cuộc hiện hữu và tiến bộ của con
người.117
Mặc khải Kitô giáo là mặc
khải mang tính lịch sử, xảy ra trong lịch
sử và với những biến cố có lời giải
thích. Cuộc Xuất Hành khỏi Aicập được
dân Thiên Chúa xác tín rằng chính Thiên Chúa là người
chủ động trong cuộc ra đi này. Các tiên tri
cũng như bao người (nơi các truyền thống
Yaviste, Eloiste, Đệ Nhị Luật, tư tế, kư sự)
đă suy tư trên những biến cố này cũng như
bao biến cố trong lịch sử dân Israel và đă
nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa. Mặc
khải của Do thái giáo và cũng là của Kitô giáo xảy
ra trong ḍng lịch sử kèm theo lời giải thích.
Mặc khải này có tiến tŕnh là lời hứa và sự
hoàn tất lời hứa trong lịch sử.[130]
Những mặc khải trong các tôn giáo không-Kitô, tuy cũng
xảy ra cho một người nào đó trong ḍng lịch
sử, nhưng không phải là những biến cố
xảy ra nơi lịch sử của một dân tộc và
có thể kiểm chứng lịch sử này qua khoa học.
Có thể nói, mặc khải Kitô giáo khởi đầu
với mặc khải phổ quát, nhưng với Abrahm,
Thiên Chúa đă can thiệp đặc biệt và trực
tiếp hơn để chuẩn bị cho cuộc tỏ
hiện trọn vẹn của Ngài nơi Đức Giêsu Kitô.
Mặc khải của Do Thái giáo
chưa hoàn toàn là mặc khải của Kitô giáo. Mặc
khải Kitô giáo trổi vượt nhờ biến cố Giêsu
Kitô. Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa mặc khải trọn
vẹn cho con người. Đức Giêsu vừa là mầu
nhiệm mặc khải, vừa là mầu nhiệm
được mặc khải. Ngài vừa là người
mặc khải, vừa là đối tượng mặc khải.
Không có một tôn giáo nào mà người sáng lập coi ḿnh là
đối tượng đức tin như Kitô giáo. Nơi
Kitô giáo, gặp gỡ Đức Giêsu là gặp gỡ chính Thiên
Chúa:
"ai thấy Thầy là
thấy Cha" (Ga 14:9)
"Thầy là đường,
là sự thật và là sự sống" (Ga 14:6).
Đức Giêsu không chỉ là
người sáng lập tôn giáo, nhưng Ngài là chính lịch
sử và tuyệt đối trong lịch sử.[131]
Mặc khải Kitô giáo với
Đức Giêsu Nazarét là điểm độc đáo trổi
vượt trên tất cả các mặc khải khác, dù
đó là mặc khải ǵ đi nữa và trong bất
cứ tôn giáo nào. Mặc khải là việc Thiên Chúa đi
vào ḍng lịch sử con người; nhưng với
biến cố Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đă đi vào
lịch sử con người, bằng cách mang lấy thân
xác con người: Thiên Chúa là người, và người
này là Thiên Chúa. Đức Kitô là sự hiển lộ tột
đỉnh của Thiên Chúa.[132]
Mặc khải Kitô giáo là
nhiệm cục cứu độ con người,
được chính Thiên Chúa Ba Ngôi thực hiện. Ngôi Cha
khai sáng, ngôi Con thực hiện, và Thánh Thần nội tâm
hoá, hiện thực hoá và bảo đảm cho mặc
khải này được giải thích cách trung thành.
Nhiệm cục này được chuẩn bị bằng
lời hứa, giao ước, lề luật, đền
thờ cũng như bằng biến cố xuất hành,
vào đất hứa, v.v.; nhưng đặc biệt
với các sấm ngôn của tiên tri, Thiên Chúa đă chuẩn
bị cho biến cố đức Giêsu Kitô là chóp
đỉnh mặc khải. Tất cả mặc khải
trong Cựu Ước của Do Thái đă được
biến cố Giêsu Kitô vượt qua, làm nên trọn.121
Việc
bảo toàn mặc khải qua những đặc ân linh
ứng, lưu truyền mặc khải, giải thích
mạc khải. Đây là công tŕnh của Thánh Thần Thiên Chúa
chứ tự sức con người không làm nổi!
Nhờ đặc ân linh ứng,
lời con người trở thành Lời Thiên Chúa; và
nhờ đặc ân không thể sai lầm được
ban cho huấn quyền trong Giáo Hội, lời Thiên Chúa
được giải thích trung thành!122 Với đặc
điểm này của mặc khải Kitô giáo, có thể nói,
sở dĩ tôn-giáo-ngoài-Kitô có những sai lầm là v́ nó
không được ban những đặc ân này.
Các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng
chứa đựng những yếu tố mặc khải.
Câu khẳng định này không đưa đến
một thái độ lừng khừng, coi tôn giáo nào cũng
tốt như nhau; trái lại niềm xác tín tính ưu
việt của mặc khải Kitô giáo và Giáo hội Công
giáo, giúp Kitô-hữu can đảm và mạnh dạn
đối thoại với các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhằm t́m ra
đâu là chân lư và giúp mọi người nhận ra Thiên Chúa
trong sự viên măn của Ngài. Khi xác tín mặc khải Kitô
giáo đă được thể hiện nơi đức Giêsu
Kitô, Kitô hữu không được tự măn cho rằng
ḿnh đă khám phá trọn vẹn những ǵ Thiên Chúa bày
tỏ nơi Con Một Ngài, nhưng phải khiêm
nhượng ư thức, Thần Khí Thiên Chúa có thể
hoạt động nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô và cách nh́n
của những dân tộc này có thể giúp khám phá những
phong phú của mặc khải đức Giêsu hơn. Khi
nhận ra các tôn-giáo-ngoài-Kitô sở hữu những yếu
tố mặc khải, Kitô-hữu t́m thấy ư nghĩa
của việc đối thoại với các anh em sống
trong tôn-giáo-ngoài-Kitô hơn, và giúp đối thoại trong
niềm hy vọng và tin tưởng lẫn nhau hơn!
Chúng ta đă t́m hiểu giá
trị cứu độ nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô bằng
cách duyệt qua những lập trường khác nhau trong
ḍng lịch sử, sau đó t́m hiểu vấn đề
mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô; chính yếu tố
mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô đă giúp nhận
ra giá trị cứu độ của các tôn-giáo-ngoài-Kitô;
nhưng không phải tất cả các tôn giáo đều
chứa đựng những yếu tố mặc khải
như nhau, v́ nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô người ta cũng
nhận ra những yếu tố nhân loại! Chính những
yếu tố con người này đă ngăn cản
người ta đón nhận Tin Mừng đức Giêsu
Kitô, và nó là nguồn gốc những sai lầm!
Các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những
yếu tố mặc khải không đồng nhau, nên giá
trị cứu độ của mỗi tôn giáo cũng khác
nhau. Nhiệm vụ của chúng ta trong tương lai là làm
sáng "mặc khải trọn vẹn nơi đức Giêsu"
bằng cách t́m ra những giá trị mặc khải nơi
các tôn-giáo-ngoài-Kitô, và khi làm được như vậy,
sẽ giúp có nhiều người trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô tin
nhận đức Giêsu hơn!
AD
MAIOREM DEI GLORIAM
CHO
VINH DANH CHÚA HƠN
AMDG
14.12.52
24.05.30
Congar, Y. Vaste monde ma paroisse, FV
27. Témoignage Chrétien, 1968.
Cayré, F. Précis de Patrologie, t. I. Paris 1927.
Conze, E. Buddhism its essence and development. Oxford 1951.
bản dịch của Nguyễn
Hữu Hiệu. Tinh Hoa và
sự phát triển của Đạo Phật. Vạn Hạnh
1969.
Cornélis, E. Valeurs chrétiennes des religions non chrétiennes. Cerf, 1965
Cuttat, J-A. Expérience chrétienne et spiritualité orientale, FV 56. DDB, 1967.
Daniélou, J. Dieu et nous. Paris: Grasset, 1965.
Daniélou, J. Holy pagans of the Old Testament. Paris 1957.
De Lubac, H. Dieu se dit dans l’histoire. Cerf, 1974.
De Surgy, P. Les grandes étapes du mystère du salut. Ouvrières, 1969.
Dournes, J. trong UNAM SANCTAM 61, pp. 84ss
Drexel, A. Ngôi Lời Nhập Thể. GHHV, không ngày (cours
ronéotypé).
Đại
Học, bản dịch của Phạm Ngọc Khuê. BGD, 1967.
Éliade, M. Le sacré et le profane. NRF-Gallimard, 1965.
Heinrichs, M. Théologie catholique et pensée asiatique. Casterman, 1965.
Hoàng Sỹ Qúy. Triết sử Ấn Độ, tập I. Sài G̣n: HGVD,
không ngày.
Kinh
Pháp Cú, bản dịch của Thích Trí Đức. Chợ Lớn: Phật Học Viện Trung
Phần, 1959.
Kinh
Thư, bản dịch của Thẩm Quỳnh. BGD, 1967.
Kraemer, H. Religion and Christian Faith. Londres 1956.
Kraemer, H. Foi chrétienne et les Religions non-chrétiennes. Neuchâtel 1956
Latourelle, R. Théologie de la Révélation. DDB, 1966.
Latourelle, R. “La spécificité de la révélation chrétiennes,” STUDIA MISSIONALIA, vol.
20 (1971). Roma: Gregoriana, 1971.
Masson, J. Valeurs religieuses de l’Hindouisme, Coll. UNAM SANCTAM 61, pp.161ss
Nàrada, M.T. Buddha and his teachings, bản dịch của Phạm Kim
Khánh, Đức Phật và Phật Pháp. Sài G̣n 1971.
Panikkar, R. Le mystère du culte dans l’Hindouisme et le Christianisme. Cerf,
1970.
Parrinder, G. “Revelation in others Scriptures,” trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20.
Roma: Gregoriana, 1971.
Rahner, K. Visions and Prophecies, Coll.
QUESTIONES DISPUTATAE 10. Freiburg: Herder, 1963.
Schlette, H.R. Towards a Theology of Religions, Coll. QUESTIONES DISPUTATAE 14.
London 1966.
Trương Vĩnh Thành. Pháp Chính Truyền, La constitution
religieuse du Caodaisme. DERVY 1953.
Thils, G. Propos et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes. Casterman,
1966.
Trung
Dung, bản dịch của Tạ Thanh Bạch. Sài G̣n: Khai Trí, 1960.
Walgrave,
JAN-HENDRIK. Un salut aux dimensions du
monde. Cerf, 1970.
Zaehner, R.
C. Hindu and Muslim mysticism.
London: Athlone Press, 1957
Zaehner, R.
C. Mysticism sacred and profane.
Oxford: Clarendon Press, 1957
[1] Cf. H. R. Schlette, Toward a theology of religions, pp. 41 ss
[2] Tiếng Hy Lạp từ chữ holos; tiếng
Đức từ chữ heil, heel; tiếng Ba Tư từ
chữ haurvatat; tiếng Phạn từ chữ Sarva; tất
cả những chữ này đều có nghĩa là
"tất cả.”
[3] J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde, pp. 57.112.11
[4] H. R. Schlette, Toward a theology of religion, p. 16
[5] Cf. M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p. 79
[6] H. R. Schlette, Toward a theology of religion, p. 25, ghi chú 9
[7] H. Kraemer, Religion and Christian Faith, Londres 1956, pp. 54-56
trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes
de la théologie des religions non chrétiennes, pp. 44-45
[8] M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p. 79 ghi
chú 11
[9] Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 140
[10] Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 140
F. Cayré, Précis de Patrologie, t.I,
p. 124
[11] Augustinus, De doctrina christiana, l. II, c. 40, n. 60; PL. t. 34,
c. 63
Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de
la théologie des religions non chrétiennes, p. 43
[12] Ngài chỉ được rửa tội năm
387, nghĩa là 33 năm sống trong lầm lạc.
[13] FULGENCE DE RUSPE, De Fide ad Patrum, 38. 39
Trích bởi Y. Congar, Vaste
monde ma paroisse, p. 111
[14] St. Thomas, ST., IIa-IIae, q. 10, a. 11 cf. G. Thils, Propos et Problèmes
de la théologie des religions non chrétiennes, p. 42
[15] St. Thomas, ST., IIa-IIae, q. 18, a. 4, ad. 3m cf. G. Thils, Propos
et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, p. 42
[16] H. Kraemer, op. cit., pp. 67-68 trích bởi G. Thils, Propos et
Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, p. 45
[17] G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 42 trích P. AUBRY, Les chinois chez eux, DDB. 1889, pp. 139ss
[18] J. WITTE, Die Christusbotschaft und die Religionen, GOTTINGEN 1936,
p. 75
[19] Bài viết của Jacque Dournes trong UNAM SANCTAM 61, p.
84. Nhưng theo H. R. Schlette, thần học truyền giáo
không chỉ đạo thần học về các tôn giáo mà
đúng ra phải ngược lại, v́ thần học
truyền giáo chỉ xuất hiện ở một thời
điểm cứu độ (cf. H. R. Schlette, Toward a theology
of religion, p. 26).
[20] H. LAMMENS, Mahomet fut-il sincère, trong Rech. Sciences
religieuses, 2 (1911), trang 25-53. 140-166, trích bởi G. Thils, Propos
et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, p. 42
[21] Cf. M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p. 81
[22] H. Kraemer, Foi chrétienne et les Religions non-chrétiennes, pp.
76-77, trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des
religions non chrétiennes, pp. 46-47
[23] H. R. Schlette, Toward a theology of religion, p. 29
[24] Lacombe Olivier, Râmânuja, approaches de l’Inde, CAHIER DU SUD 1949
Lacombe Olivier, La Mustique
naturelle et l’Inde, REVUE THOMISTE 1951
R. C Zaehner, Hindu and Muslim
mysticism, London: Athlone Press, 1957
R. C. Zaehner, Mysticism sacred and
profane, Oxford: Clarendon Press, 1957
L. Massignon, La passion de
al-Hallâj, martyr mystique de l’Islam, 2 vol., Paris 1922
[25] J. Daniélou, Holy Pagans of the Old Testament,
[26] các tôn giáo khác có những chân lư là do các tôn giáo
ấy đă mượn những tư tưởng đó
nơi luật Môsê và Tân Ước.
[27] J. Daniélou, Dieu et nous, Paris 1956, p. 17
[28] J. Daniélou, op. cit., pp. 17-18. Lư thuyết coi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có những rơi rớt của mặc
khải tiên khởi được Van der Leeuw phê b́nh và bác
bỏ trong tác phẩm La Religion dans son essence et ses
manifestation, p. 157
[29] H. R. Schlette, Toward a theology of religion, p. 36 trích H. De
Lubac, Catholicisme, pp. 146-160
[30] Justin , Apol. I, 46; BKW.
XII, 59 trích bởi M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique,
pp. 105 ss
[31] Athénagore, Legat, 5-6 PG. VI, 900-904
[32] Irénée, Adversus Haereses, 4, 28, 3 PG. t. 7, 1062 trích bởi
G. Thils, op. cit., p. 65
[33] Clément d’Alexandrie, Stromates, I, 5 PG. t. 8, c. 717-720 trích
bởi G. Thils, op. cit., p. 66
[34] Clément d’Alexandrie, Stromates, VII, 2. PG. t. IX, 409-410 trích
bởi G. Thils, op. cit., p. 66
[35] Clément d’Alexandrie, Stromates, 6, 5; PG. 9, c. 262 ss trích
bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 106
[36] Jean Chrysostome, In Cap. IX Gen. homelia 28, n. 2; PG. t. 53, c.
254 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions
non chrétiennes, p. 72
[37] G. Thils, ibidem
[38] St Augustinus, Civitate Dei, 6, 4sst; PL. 40, c. 180 ss trích
bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 80
[39] St. Bernard, Tractatus de Baptismo, Cap. 1, n. 4; PL. t. 182, c.
1034 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des
religions non chrétiennes, p. 73
[40] G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 50
cf. Br. Decker, Nicolaus van Cues und
der Friede unter den Religionen trong J. Koch, Studien und Texte zur
Geistesgeschichte des Mittelaltres, t. III, Cologne: Lieden, 1953
[41] Nicolaus Von Kues, Ueber den Frieden in Glauben, Leipzig 1943, p.
91 trích bởi M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p.
81, ghi chú 17
[42] H. Bernard, Le P. M. Ricci et la société chinoise de son temps, 2
vol., Tientsin 1937
J. Miranda, The introduction of
christianity into the heart of India, or Robert de Nobili’s mission, Trichinopoly
1923
[43] R. Guardini, Der Herr, Wurzburg 1949, p. 355 trích bởi M.
Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, 106
[44] cf. Y. Congar, Vaste monde ma paroisse, Témoignage Chrétien 1968
FV. 27, p. 40 gc. 1
[45] Piô XII, Diễn từ cho các cô đỡ, ngày 29. 10.
1951, DC. 1951 col. 1480 trích trong Y. Congar, Vaste monde ma paroisse, p. 141
[46] H. Ohm, Die Liebe zu Gott in den nichtchristliche Religionen. Die
Tatsachen der Religionens geschichte und die christliche Theologie, Krailing
Vor Munchen 1950, p. 442 trích bởi Y. Congar, Vaste monde ma paroisse, p.
141
[47] K. Rahner, Mensch, trong Lex. f. Th. und K, col. 292 trích
bởi Étienne Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétiennes,
p. 46
[48] H. R. Schlette, Toward a theology of religion, p. 30
[49] Ibidem, pp. 36-37
[50] Ibidem, p. 67
[51] Ibidem, p. 70
[52] Ibidem, p. 70-71
[53] Ibidem, p. 71-72
[54] Ibidem, p. 74
[55] Ibidem, p. 76 Thực ra với giao ước Noê,
chúng ta thấy liên hệ với vấn đề cứu
rỗi của các dân ngoại, chứ không phải vấn
đề ơn cứu rỗi nhờ các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
[56] Ibidem, p. 77
[57] Ibidem, pp. 78. 79-81 Theo thiển kiến, các
tôn-giáo-ngoài-Kitô (hiểu như những hành động
phượng tự của con người được
biểu lộ cách xă hội) là điều Thiên Chúa muốn
và qua những hành động đó con người
được cứu. Nhưng vói những tôn giáo hiện
tại- xét như một hệ thống tự coi ḿnh là
đủ (autosuffisant), đóng kín với tin mừng
đức Giêsu Kitô- th́ không thể coi là điều Thiên
Chúa muốn được. Khi này nó đă bị hành vi
thuần túy của con người bóp méo, nên không có giá
trị cứu độ, mà đôi khi c̣n ngăn cản
ơn cứu độ nữa.
[58] Ibidem, pp. 80-81
[59] Ibidem, p. 83
[60] Ibidem, p. 86
[61] Ibidem, p. 87
[62] Ibidem, pp. 93 ss
[63] Ibidem, pp. 94-95
[64] Ibidem, p. 98
[65]Ibidem, pp. 100-101
[66]Ibidem, p. 80
[67]J. H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde, Cerf, 1970, p. 171
[68]N. Jung, art. "Révélation,” DICT. THÉOL. CATH., t. 13, c. 2586
trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 84
[69]K. Barth, Dogmatique, vol. II, t. 2 Gottes Offenbarung als Aufhebung
der Religion trích bởi G. Thils, op. cit., p. 46
[70]L. S. Thornton, Revelation in the modern world, Oxford: University
Press 1950, pp. 60. 194 trích bởi G. Parrinder, Revelation in other
Scriptures, trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20, Roma: Gregoriana 1971
[71]G. Parrinder, ibidem, p. 103
[72]Paul VI, Ecclesiam suam, n. 72 trích bởi H. De Lubac, Dieu se
dit dans l’histoire, p. 29
[73] Révélation primitive
[74]G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 100
[75]R. Latourelle, Théologie de la Révélation, pp. 362-363 cité par G.
Thils, op. cit., p. 13
[76]R. Latourelle, "La spécificité de la révélation
chréchienne," p. 47
[77]J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde, p. 171
[78]Ibidem
[79]K. Rahner, Visions and Prophecies, pp. 19-20. 23
[80]Ibidem, p. 24
[81]Ibidem, p. 24-25
[82] Mặc khải riêng tư có tính tiên tri.
[83]Ibidem, p. 27
[84]Ibidem, p. 13
[85]Ibidem, p. 19
[86]Ibidem, p. 23
[87] Khi có tiêu chuẩn khác th́ người ta có cách phân
chia và có tên gọi khác, chẳng hạn như theo thời
gian th́ có mặc khải tiên khởi, mặc khải
thời Cựu Ước, mặc khải Tân Ước...
[88]E. Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétiennes, p.
31 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions
non chrétiennes, p. 109
[89]A. M. Wensinck, The muslim Creed, 2nd. édition, London: CASS, 1965,
p. 189 trích bởi G. Parrinder, art. cit., STUDIA MISSIONALIA, vol. 20,
pp. 101-102
[90]Th. P. Van Baaren, Voorstellingen van openbaring, phaenomenologisch
beschouwd, Utrecht 1951 trích bởi J-H Walgrave, Un salut aux dimensions
du monde, p. 170
[91] mặc khải triết lư và mặc khải
huyền nhiệm tiên tri
[92] mặc khải lịch sử với lời
giải thích, và mặc khải nơi Giêsu Kitô.
[93] Mặc khải triết lư, được các giáo
phụ cho là công tŕnh của Logos spermatikos.
St. Justin, Apol. I, 46; II, 10. 13
trích bởi G. Thils, op. cit., pp. 96ss
Cf. R. Holte, Logos spermatikos,
STUDIA THEOLOGICA 12 (1958), pp. 109-168.
[94] giáo sư tại đại học giáo hoàng
Grégoriana ở Roma.
[95] R. Latourelle, “La spécificité de la révélation chrétienne,” p. 69
[96] M. Éliade, Le sacré et le profane, nrf-Gallimard 1965, p. 15
[97]É. Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétiennes,
Cerf, 1965, p. 58
[98]A. Holpiau, Pourquoi tant de religions, Paris 1955, pp. 58ss
cf. M. Heinrichs, Théologie
catholique et pensée asiatique, pp. 72-73
[99] Người không ưa cho đây là lập
trường ba phải, người chấp nhận
lại cho đây là lập trường bao dung.
[100] Hữu năng điển trẫm tam lễ. Tam
lễ ở đây là tế trời, tế đất,
tế bách thần.
Kinh Thư, Thuấn
Điển, 23; bản dịch của Thẩm Quỳnh, p. 53
[101] Giao Xă chi lễ, sở dĩ sự Thượng
Đế giă.
Trung Dung, 19; bản dịch
của Tạ Thanh Bạch, p. 43
[102] Kinh Thư; bản dịch của Thẩm
Quỳnh, pp. 214-218
Tôi là tiểu tử đă
dùng được người có ḷng nhân, dám xin kính thưa
ư Đấng Thượng Đế để dẹp thời
loạn (Vũ Thành 2); Kính theo mệnh trời, nên ta
đến phương đông dẹp loạn, để
dàn ông, đàn bà, dân gian được vui (Vũ Thành 8).
[103] Đại Học, bản dịch của Phạm
Ngọc Khuê, pp. 14-16
[104] Làm sao để biết mệnh Trời, ư
Trời?
Vua Thành Vương t́m ư
Trời bằng cách coi bói rùa: "Ninh Vương di ngă
đại quy bảo, thiệu thiên minh tức mệnh
viết. . . " (Vua Ninh Vương- tức Vũ
vương- để lại cho ta con rùa to rất quư, dùng
để xem mệnh trời, định các việc
xấu tốt)
cf. Kinh Thư, Đại các 3,
bản dịch của Thẩm Quỳnh, p. 253
[105]cf. J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde, p. 44
[106]Kena-Upanisad, I, 3 trích bởi Hoàng Sỹ Quư, Triết
sử Ấn Độ, tập I, p. 33
[107]Svetâsvatara-Upanisad III, 9, 19
[108]Brhad Ar. Up., IV, 5, 3-6 trích bởi J. Masson, Valeurs
religieuses de l’Hindouisme, UNAM SANCTAM 61, pp. 16ss
[109]Ibidem, Brhad Ar. Up., I. 3, 28
[110]Kinh pháp cú, c. 276 dịch giả Thích Trí Đức.
cf. Nàrada M. T., Buddha and His teachings, bản dịch của
Phạm Kim Khánh, đức Phật và Phật pháp, p. 291
[111]NARADA M. T., op. cit, pp. 289-290
[112]Ibidem, p. 291
[113]E. Conze, Buddhism its essence and development, Oxford 1951;
bản dịch của Nguyễn Hữu Hiệu, Tinh Hoa và
sự phát triển của đạo Phật, Vạn
Hạnh -SG. 1969, p. 71
[114]Ibidem, p. 77
[115] Trước người ta cho rằng đó là con
đường duy nhất để được
cứu độ.
Để thấy rơ hơn giá
trị tôn giáo của Phật giáo, có thể đọc
lại các sách của E. Cornélis và J. Masson, J. Cuttat trong
những sách đă trích dẫn trong bài này.
[116]Phối Sư Trương Vĩnh Thành, Pháp Chính
Truyền, la constitution religieuse du Caodaisme, DERVY 1953, p. 14
[117]J. Daniélou, Dieu et nous, Paris: Grasset 1956, p. 16
[118]cf. G. Parrinder, “Revelation in other Scriptures,” p. 104
[119] R. Latourelle, “La spécificité de la Révélation chrétienne,” pp.
72-73
[120] Ibidem, p. 73
[121] H. De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire, pp. 88-89
[122] Cf. R. C Zaehner, At sundry times, Londres 1958, p. 184
trích bởi J-H Walgrave, Un
salut aux dimensions du monde, p. 173
Xem thêm ư kiến của
một số thần học gia công giáo họp tại
Bambay được J. Neuner xuất bản với tựa
đề Christian Revelation and World Religions, tại London.
[123] H. De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire, Cerf, 1974, p. 85
[124] Xem thêm ư kiến về các tôn-giáo-ngoài-Kitô của P.
De Surgy, Les grandes étapes du mystère du salut, Ouvrières 1969, pp. 201-202
[125] Kirato Nishida, A Study of Good, Tokyo 1960, pp. 212. 216
Kirato Nishida, Intelligibility and
the philosophy of nothingness, được dịch và giới
thiệu bởi Schinzinger. Trích bởi M. Heinrichs, Théologie
catholique et pensée asiatique, pp. 27-28
[126] Cf. R. Panikkar, Le mystère du culte dans l’Hindouisme et le
Christianisme, COGITATIO FIDEI 53, Cerf 1970.
[127] Cha A. Drexel, giáo sư tại Giáo Hoàng Học
Viện Piô X Đàlạt, cho rằng: "Hồi giáo công
nhận một mặc khải nào đó, và cũng chứa
đựng những yếu tố mặc khải, nhưng
xét toàn thể, nó không phải là một tôn giáo mặc
khải, và phần lớn do con người tạo ra."[127] Như
đă nói, các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố nhân
loại và những yếu tố mặc khải, có tôn giáo
có nhiều có tôn giáo có ít. Tôn giáo nào có nhiều yếu
tố mặc khải th́ có nhiều giá trị cứu
độ hơn.
[128] Với ánh sáng của nền thần học các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, các nhà truyền giáo có thể an tâm không
sợ những người theo tôn-giáo-ngoài-Kitô sa hỏa
ngục, bởi v́ các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là phương
tiện cứu độ cho những người sống
trong tôn giáo đó!
[129] Nghĩa là được phép và có bổn phận
phải t́m kiếm Thiên Chúa và theo tôn giáo nào ḿnh thấy
đúng nhất.
117 R. Latourelle, “La spécificité de la Révélation Chrétienne,” p. 42
[130] Ibidem, pp. 48-49
[131] Ibidem, p. 53
[132] Ibidem, pp. 50-51
121 Ibidem, pp. 58. 54
122 Ibidem, p. 55