1. Tĩnh tâm
theo phương pháp của thánh Inhaxiô
a. Cuộc
tĩnh tâm có nhiều giờ để cầu nguyện
b. Cuộc
tĩnh tâm có hướng dẫn riêng
i. Giúp Linh Thao
không chỉ là cho điểm gợi ư cầu nguyện
ii. Giúp đỡ
các linh hồn qua hướng dẫn thiêng liêng
c. Việc
thiêng liêng có một tiến tŕnh
i. Linh Thao là các
việc thiêng liêng
2. Thời
điểm gặp gỡ và sống với Thiên Chúa
a. Gặp gỡ
và cảm nghiệm T́nh Yêu
c. Kinh nghiệm
t́m kiếm và thi hành thánh ư Thiên Chúa của Inhaxiô
B. ĐIỀU
KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO
a. Thiếu ḷng
khao khát sống tốt hơn, không thể làm Linh Thao
b. Ao ước
khao khát nên trọn lành hơn nữa
a. Dâng trót con
người ḿnh cho Chúa
b. Để
tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn
c. Kết qủa
của Linh Thao được thể hiện trong cuộc
sống
2. Ḷng quảng
đại được cụ thể hóa
c. Ư thức sống
trước nhan Chúa
PHẦN HAI:
NHÂN HỌC THIÊNG LIÊNG
A. KHUYNH CHIỀU
VÀ KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI
2. Nét tuyệt
vời của con người: tự do siêu vượt
B. CON NGƯỜI:
TINH THẦN NHẬP THỂ
1. Con người
tự do trong hành động
a. Con người
không tự do “tuyệt đối”
c. H́nh thành ḿnh
qua chọn lựa
2. Không ai đến
được với Ta nếu Cha Ta không lôi kéo nó (Ga 6:44)
a. Kinh nghiệm
bất lực dù vẫn ư thức ḿnh tự do
b. Thiên Chúa yêu
tôi, Ngài lôi kéo tôi đến với Ngài
c. Đáp trả
t́nh yêu: “Xin điều tôi ao ước khao khát”
1. Con người
và ư định của Thiên Chúa
a. Những cái
nh́n sai lạc về con người
i. Con người,
một hiện hữu “t́nh cờ”
ii. Con người,
“một hiện sinh phi lư”
iii. Con người,
một tṛ chơi của Tạo Hóa?
b. Thiên Chúa muốn
con người hạnh phúc
i. Thiên Chúa tạo
dựng con người v́ yêu thương
ii. Thiên Chúa muốn
chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với con người
iii. Nên giống
Thiên Chúa th́ hạnh phúc
a. Thiên Chúa cứu
độ con người
i. Con người
cần được cứu độ v́ đă từ chối
t́nh yêu
ii. Từ khi phạm
tội, con người đă “yếu đi”
iii. Được
cứu độ trong đức Giêsu và nhờ đức
Giêsu Kitô
b. Ngôi Lời
nhập thể để làm chứng cho T́nh Yêu
iii. Con người
được cứu độ khi đáp trả t́nh yêu
3. Thánh Thần
Thiên Chúa hoạt động để dẫn đưa con
người đến với Thiên Chúa
a. Thiên Chúa luôn
hoạt động để làm con người trở về
với Ngài
i. Thiên Chúa luôn ở
với con người
ii. Thánh Thần
dạy dỗ con người
iii. Thiên Chúa lôi
kéo con người
b. Chỉ
được cứu độ khi cảm nhận ḿnh
được yêu
i. Muốn
điều tốt cho người ḿnh yêu
ii. Thiên Chúa trao
ban cho con người tất cả
iii. Thiên Chúa tôn
trọng tự do con người
iv. Làm con
người nên một với Ngài trong T́nh Yêu
v. Trân trọng
đón nhận và phó thác đời ḿnh
4. Con người
tại thế tự do trước những tác động
a. Trí tưởng
tượng như chiến trường
b. Khuynh chiều
thân xác và lư trí như cám dỗ
c. Ưng thuận
hay từ chối, con người trở thành tự do
đích thực hay nô lệ
d. Cám dỗ và
thử thách là những cơ hội để nên thánh
5. Cầu nguyện
và nhận định các thần
i. Ư thức
Thiên Chúa hiện diện và yêu thương ḿnh
ii. Lắng nghe
và thân thưa với Chúa
iii. Cầu nguyện
để trở nên một với Thiên Chúa
i. Tiêu chuẩn
“b́nh an hạnh phúc”
iii. Nguyên do làm
giờ cầu nguyện không được tốt lắm
i. Cảm tạ
Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu
ii. Bắt
đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn
iii. Cầu nguyện
ngắn về chính đời sống ngày qua
PHẦN iii:
LINH THAO- ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN
a. Trí (biết
đúng để sống đúng)
2. Bản
văn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện
i. Những câu
hỏi gợi ư giúp xét gẫm
4. Gợi ư cầu
nguyện về Nguyên Lư Nền Tẩng
11. Các
ngươi t́m ǵ (Ga 1:35-51)
1. Hai môn đệ
này ao ước và khao khát ǵ?
2. Gặp gỡ
Đức Giêsu, th́ được biến đổi
3. Tôi t́m ǵ, tôi
khao khát mong ước ǵ?
12. Thiên Chúa ḍ
xét tôi (Tv 139)
3. Thiên Chúa tạo
dựng tôi, nên Ngài yêu thương tôi
4. Xin Chúa tiếp
tục ḍ xét con, để ǵn giữ con
13. Thiên Chúa yêu
tôi vô cùng
1.Thiên Chúa Cha
yêu tôi vô cùng
3. Chúa Thánh Thần
yêu tôi vô cùng
14. Thiên Chúa quan
pḥng (Mt 6:25-34)
1. Ư nghĩa và
mục đích của đời người
22. Hồi niệm
(năm bài: từ bài 11 đến bài 21)
ii. Nhận biết
sự xấu xa và ác hại của tội
i. Cảm nhận
Thiên Chúa yêu thương tha thứ
ii. Khao khát trở
về với Thiên Chúa
2. Những
đoạn Kinh Thánh dùng cầu nguyện
i. Ư thức
Chúa hiện diện và chào Chúa
b. Xét gẫm
như nhận định thiêng liêng
2. Không tin vào
Thiên Chúa nữa (St 3:1tt)
3. Từ chối
thúc đẩy của Thánh Thần mời gọi hoán cải
31. Hồi niệm
(hai bài Tội và Tội tôi)
32. Dửng
dưng trước nỗi khổ của tha nhân (Mt 25:31 tt)
2. Đức
Giêsu đồng hóa ḿnh với những người khốn
cùng, nghèo hèn nhất
3. Tiêu chuẩn
Thiên Chúa phán xét ngày Ngài quang lâm: yêu thương
34. Người
mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)
2. Cha mẹ
người mù “khôn qúa” nên không dám nói sự thực
41. Chị phụ
nữ thống hối (Lc 7:36tt)
1. Tâm t́nh và cung
cách hành xử của chị phụ nữ
2. Thái độ
của người biệt phái
3. Tâm t́nh và thái
độ của đức Giêsu
42. David thống
hối (Tv 51/50)
C. LỜI MỜI
GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG
2. Những đoạn
Kinh Thánh có thể dùng
a. Cầu nguyện
chủ yếu là tâm sự
ii. Điểm
gợi ư và tư thế khi cầu nguyện
b. Xét gẫm
như nhận định thiêng liêng
i. Tại sao
tôi bị cám dỗ nhiều về điều này
4. Gợi ư cầu
nguyện về tiếng gọi Vua Hằng Sống
2. Từ nay ngươi
sẽ là kẻ chài lưới người
3. Họ đă
bỏ tất cả mà theo Ngài
1. Hăy nên thánh,
v́ Ta là thánh
2. Cách thế
đức Giêsu thực hiện sứ mạng
3. Sứ mạng
và cách thế thực hiện sứ mạng của chúng ta
D. LỜI THIÊN
CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ
a. Hiểu Chúa
hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn
b. Đồng
h́nh đồng dạng với Chúa hơn
2. Những bản
văn dùng cầu nguyện
b. Đời
b́nh thường “phi thường”
i. Nh́n, nghe, quan
sát, suy nghĩ để rút ích lợi
ii. Để
nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu
hơn
ii. Cầu nguyện
bị giảm sút hay bất an
4. Gợi ư cầu
nguyện Ngôi Lời Thực Hiện Sứ Mạng
1. Con người
trong t́nh trạng tội
2. Thiên Chúa quyết
định cứu độ con người
53. Giáng Sinh và
Dâng Chúa Giêsu (Lc 2:1-40)
1. Ngôi Lời
Nhập Thể được giáng sinh
2. Thiên Chúa tỏ
ḿnh cho những người nghèo
6.Đức
Giêsu sống thời thơ ấu tại Nadarét
54. Đức
Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41tt)
2. Đức
Giêsu sống một thời gian dài tại Nadarét
62. Thanh Tẩy
Và Bị Cám Dỗ (Mt 3:13- 4:11)
3. Bản chất
con người không hàm chứa “phạm tội”
1. Phúc cho những
ai có tinh thần nghèo khó
2. Phúc cho các
ngươi khi người ta sỉ nhục các ngươi
a. Nhận thức,
chọn và được chọn
b. Để hiểu
rơ hơn về con người ḿnh
2. Những bản
văn Kinh Thánh có thể dùng cầu nguyện
a. Lựa chọn
theo thánh Inhaxiô
b. Điều
kiện để làm việc lựa chọn tốt
i. Nhận thức
đúng đắn về mục đích đời người
d. Dấu chỉ
việc lựa chọn được làm đúng
b. Thái độ
của tôi đối với nghèo và sỉ nhục
c. Dứt khoát
với quyến luyến lệch lạc
d. Mức độ
t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa
71. Tôi phải
làm ǵ (Mc 10:17-31)
1. Có ǵ đem
bán mà cho kẻ khó
2. Người
có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao
3. Này chúng tôi
đă bỏ tất cả mà theo Thầy
1. Đâu là
mười ngàn dollars của tôi?
2. Tôi thuộc
mẫu người thứ mấy?
73. Đức
Giêsu luôn thực hiện Ư Cha
1. Này con xin
đến, để thực thi Ư Chúa
2. Của
ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta
3. Xin đừng
theo Ư Con, nhưng Ư Cha
74. Ba mức
độ yêu thương (LT 165-167)
2.Có muốn
đồng h́nh đồng dạng với Ngài không
1. Chúa có gọi
tôi sống đời dâng hiến không
2. Dấu chỉ
khách quan cho thấy Chúa gọi tôi
2. Bản
văn Kinh Thánh được dùng
3. Gợi ư cầu
nguyện về đường t́nh yêu
83. Yêu
thương là phục vụ và dâng hiến
1. Đức
Giêsu yêu các tông đồ vô cùng
2. Đức
Giêsu rửa chân cho các tông đồ
3. Này là Ḿnh Ta,
sẽ bị nộp v́ các con
1. Xin cho giờ
này qua đi khỏi Con
2. Anh dùng cái hôn
để nộp con người sao
1.Tất cả
đều lên án Ngài đáng chết
2.Ta không thấy
lư do để kết tội ông ấy
2.Đức
Maria đứng dưới chân thập giá
3.Chúa Cha thinh lặng
nh́n Con của Ngài
2. Bản
văn Kinh Thánh được dùng
3. Gợi ư cầu
nguyện về Chúa Phục Sinh
94. Chúa Phục
Sinh hiện ra cho Mẹ và cho chị Maria Magdala
1.Chúa Giêsu Phục
Sinh hiện ra cho đức Maria
2.Chúa Giêsu Phục
Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala (Ga 20:1-18)
101. Chúa Phục
Sinh hiện ra cho các tông đồ
1. Chúa Phục
Sinh hiện ra cho mười tông đồ (Ga 20:19-24)
2. Chúa Phục
Sinh hiện ra cho mười một tông đồ (Ga
20:25-29)
3. Tôi có thực
sự tin Chúa đă phục sinh không
102. Chúa Phục
Sinh được siêu tôn
1. Chúa Giêsu Phục
Sinh lên trời (Cv 1:1-11)
2. Chúa Giêsu Phục
Sinh là Thiên Chúa
3. Hệ qủa
thực tại "đức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa"
103. Thánh Thần
tỏ hiện quyền năng
1. Thánh Thần
tỏ hiện quyền năng (Cv 2:1-17.32tt)
3. Thánh Thần
luôn hoạt động trong Hội Thánh
H. CHIÊM NIỆM
ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU
2. Xin Chúa làm cho
con yêu Chúa
104. Chiêm niệm
để được t́nh yêu
ĐỂ DUY
TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO
1. Luôn sống
đời sống thường ngày với ư thức Thiên
Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh
|
|
|
|
|
ĐHTL |
|
đồng
hành thiêng liêng |
|
GL |
|
Giáo Luật của Giáo Hội
Công Giáo Latin, ban hành năm 1983 |
|
LH |
|
Linh hướng |
|
LT |
|
sách Linh Thao của
thánh Inhaxiô Loyola |
|
PĐTL |
|
phân định
thiêng liêng |
|
|
|
|
Sách Kinh Thánh viết tắt theo bản
dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Các hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn
của Công Đồng Vaticanô II viết tắt theo bản
tiếng Latin.
Trích đoạn Kinh Thánh từ bản
dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc
từ bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng
Vụ.
[HVVT1]Đă là người, ai
lại không khao khát hạnh phúc? Con người mong ước sống hạnh
phúc ngay giây phút hiện tại; và hơn nữa,
người ta c̣n mơ ước làm sao sống hạnh
phúc trọn đời và vĩnh viễn nữa! Ao
ước sống hạnh phúc như thể thuộc
bản chất con người.
Giầu sang, danh vọng, chức
quyền, cũng không mang lại cho con người hạnh
phúc đích thực! Có biết bao người “lắm tiền nhiều
bạc” đau khổ; có không ít người “danh tiếng”
khổ đau; và có nhiều người “có chức có
quyền” vẫn không hạnh phúc!
Kinh
nghiệm sống cho thấy, có bao người lầm
tưởng rằng tiền bạc sẽ mang lại
hạnh phúc. Họ chủ trương: “có tiền mua tiên
cũng được..., đồng tiền là Tiên là
Phật...;” và họ đă miệt mài đi t́m và thu tích
của cải; nhưng rồi họ thất vọng chán
nản v́ họ thấy họ đă sai lầm!
Nhiều
người đi t́m công danh tăm tiếng, nhưng có
những người từng trải đă kinh nghiệm:
“cái ṿng danh lợi cong cong, kẻ ḥng ra khỏi
người mong được vào!”
Đói
làm người ta khổ, đau cũng làm con người
khổ, và sầu cũng làm người ta khổ...! Chính
quyền cũng như những người thiện chí,
luôn bận tâm t́m công ăn viêc làm cho bao người,
để con người có một cuộc sống sung túc
hơn. Có bao người đang nỗ lực giúp con
người vượt qua nỗi đau nỗi sầu
của ḿnh, để con người bớt khổ
hơn. Nhưng kinh nghiệm cho thấy: sự sung túc về vật chất cũng như
những nỗ lực bên ngoài không đủ làm cho con
người được thư thái, b́nh an, hạnh phúc.
Con
người chỉ được hạnh phúc đích
thực khi sống đúng tương quan của ḿnh
với Thiên Chúa, với anh em đồng loại, và với
tạo vật. Con người sống hạnh phúc đích
thực khi con người chấp nhận sống như
Thiên Chúa muốn, khi con người sử dụng tạo
vật như Thiên Chúa muốn, khi con người yêu
thương anh em đồng loại và Thiên Chúa như chính
Thiên Chúa muốn, khi con người sống yêu thương
như Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương.
Thiên Chúa
yêu thương con người, và măi măi yêu thương con
người. Ngài muốn con
người sống hạnh phúc với Ngài, không chỉ
ở đời sau mà ngay cả ở đời này
nữa. Thiên Chúa luôn luôn hành động trong ḍng lịch
sử và nơi tâm hồn mỗi người, để
đưa con người trở về với Ngài,
để làm con người thuộc về Ngài, để
con người được hạnh phúc đích thực.
Linh Thao
là một phương tiện, là một môi trường mà
Thiên Chúa dùng, để làm con người thuộc về
Ngài, để làm con người sống hạnh phúc.
Nhằm
giới thiệu Linh Thao và để làm Linh Thao dễ dàng
hơn mà tập sách này được h́nh thành. Nó gồm ba
phần:
·
phần thứ nhất
bàn về những điều cần biết để làm
Linh Thao,
·
phần thứ hai bàn
về nhân học thiêng liêng,
·
phần thứ ba
về Linh Thao như phương thế giúp người ta
tự do hạnh phúc.
Linh Thao
là ǵ? Đâu là điều kiện cần thiết
để làm Linh Thao? Trong Linh Thao, cụ thể
người ta phải làm ǵ? Đó là những mục
sẽ được đề cập đến trong
phần một này.
Linh Thao
là ǵ? Đóù là cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng theo
phương pháp của thánh Inhaxiô Loyola Ḍng Tên[1]. Nhưng, cuộc tĩnh
tâm hay cấm pḥng này có ǵ khác so với những cuộc
tĩnh tâm hay cấm pḥng khác?
Tôi đă
nghe một nữ tu đă đi linh thao trả lời
với một bạn cùng một Ḍng, khi nữ tu này
muốn biết về Linh Thao: “Linh Thao là cuộc tĩnh
tâm trong đó người ta không nói chuyện, và có nhiều
giờ cầu nguyện hơn những cuộc tĩnh tâm
“b́nh thường” khác.”
Một nữ
tu nói với tôi: “Chúng con không hiểu tại sao các tu sĩ
Ḍng Tên không chịu giúp Linh Thao cho một số đông
khoảng ba bốn chục người trong một khóa?
Chúng con thấy Linh Thao rất tốt, chúng con muốn cho
nhiều chị em được tham dự, nhưng v́
bị giới hạn số người nên có ít chị em
được tham dự; Thật ḷng, chúng con sẵn sàng
theo mọi kỷ luật của Linh Thao: chúng con sẽ
cầu nguyện đủ bốn hoặc năm lần
mỗi ngày, và sẽ cầu nguyện mỗi lần
đủ một giờ, chúng con cũng sẽ giữ im
lặng suốt ngày trọn khóa Linh Thao...; xin quư cha quư
thầy mở rộng cho một số đông
người được dự trong một khóa Linh Thao!”
Theo ư
riêng của tôi, không thể thỏa măn lời đề
nghị trên! Tại sao?
Có
lần đi xuống miền tây giúp Linh Thao cho một Ḍng
nọ, gặp một người phát biểu: “Tại sao
lại phải vất vả mời một tu sĩ ở
xa như vậy tới giúp Linh Thao? Ai giảng mà chẳng
được? Hoặc một linh mục nào đó, và
thậm chí ngay cả một d́ cũng giảng
được mà!”
Đúng
là một d́ phước cũng có thể giảng, và
giảng hay nữa chứ; và một linh mục nào đó
cũng có thể giúp tĩnh tâm, và giúp tĩnh tâm tốt;
nhưng như vậy, chưa có nghĩa là người
đó có thể giúp LinhThao! Tại sao vậy?
Không
phải hễ ai có thể giảng hoặc giảng hay, đều
là người “giúp Linh Thao” được! Bởi v́,
nếu Linh Thao chỉ là giảng, th́ người ta có
thể thu băng những bài giảng “hay,” và cho những
người muốn làm Linh Thao nghe lại; hoặc
người ta có thể chuẩn bị và cho đánh máy
lại những bài giảng hay, rồi phổ biến cho
những người muốn làm Linh Thao. Và nếu hiểu
Linh Thao như vậy, th́ một người có thể giúp
một khóa Linh Thao mà không phải giới hạn số
người!
“Giúp Linh
Thao,” không phải chỉ là cho điểm gợi ư giúp
cầu nguyện (LT 2), nhưng
c̣n là gặp gỡ giữa thao viên và người
đồng hành (LT 17.22), nhằm giúp người tập
Linh Thao đạt được kết qủa mong
ước. Thế nên, để có thể giúp Linh Thao,
người đó phải có khả năng “giúp đỡ
các linh hồn;” nghĩa là, người đó phải có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên
Chúa (để hy vọng có thể giúp người khác
gặp gỡ Thiên Chúa), người đó phải có kinh
nghiệm hoặc được học biết rằng Thiên
Chúa luôn luôn tự do dẫn đưa con người
đến với Ngài theo con đường của Ngài
(để người đó không dập tắt Thần
Khí), và người đó cũng phải có kinh nghiệm thiêng liêng nhận biết tác
động của các thần khác nhau (để giúp
người ta nhận ra Ư Chúa).
Để
giúp Linh Thao, người đó
phải có phán đoán đúng đắn. Nếu phán
đoán sai lầm, th́ không những không giúp mà c̣n làm hại
người được giúp nữa. Giúp Linh Thao là
một nghệ thuật, và là một nghệ thuật
tuyệt vời! Không phải ai cũng có thể làm
được điều này.
Gặp gỡ trao đổi
để giúp đỡ, là một yếu tố quan
trọng và không thể thiếu trong Linh Thao.[2] Và như vậy, học
biết “giúp đỡ các linh hồn” qua Linh Thao, không là
chuyện dễ dàng, và điều này không thể học
biết trong thời gian “một sáng một chiều.” Không thể tách Linh Thao khỏi
“hướng dẫn thiêng liêng:” Ai không biết
“hướng dẫn thiêng liêng” th́ không thể giúp Linh Thao.[3]
Linh Thao
là ǵ? Thánh Inhaxiô trả lời: “Hai tiếng Linh Thao ở
đây được hiểu là mọi cách xét ḿnh, suy
gẫm, chiêm niệm, cầu nguyện bằng miệng
lưỡi hay bằng tâm trí, và các việc thiêng liêng khác
như sẽ nói sau. V́ như đi dạo, đi bộ,
chạy, là thể thao, th́ cũng thế, được
gọi là Linh Thao tất cả những cách dọn và
chuẩn bị linh hồn để xa bỏ những
quyến luyến lệch lạc, và sau khi đă xa bỏ
các quyến luyến lệch lạc th́ t́m và t́m thấy Ư
Chúa trong cách sắp đặt cuộc đời nhằm
cứu rỗi linh hồn ḿnh” (LT 1).
Theo thánh Inhaxiô,
ở một nghĩa rất rộng, tất cả các hành vi hoạt động thiêng liêng
đều được gọi là Linh Thao.
Với
một nghĩa hẹp hơn, Linh Thao là những hành vi
hoạt động thiêng liêng có mục đích “xa bỏ
quyến luyến lệch lạc...và t́m kiếm Thánh Ư Chúa.”
Với
nghĩa hẹp hơn nữa, Linh
Thao là những bài cầu nguyện theo một tiến tŕnh:
“Những Linh Thao sau đây gồm có bốn tuần,
tương ứng với bốn phần được
phân chia như sau: tuần thứ nhất suy xét và chiêm
niệm về các tội lỗi, tuần thứ hai về cuộc
đời đức Kitô Chúa chúng ta cho đến hết
ngày lễ lá, tuần thứ ba về cuộc thương
khó của đức Kitô Chúa chúng ta, tuần thứ tư
về sự sống lại và lên trời, thêm bản
chỉ dẫn ba cách cầu nguyện... tuy nhiên sẽ
kết thúc trong khoảng hơn kém ba mươi ngày” (LT 4).
Gút
lại, Linh Thao không chỉ là những hành vi hoạt
động thiêng liêng bất kỳ nào đó, mà c̣n là
những hành vi hoạt động thiêng liêng có một
tiến tŕnh và nhắm mục đích rơ ràng.
Linh Thao
không là một khóa thần học nhằm cung cấp
những kiến thức mới lạ về Thiên Chúa,
nhưng là một thời gian đặc
biệt để sống với Thiên Chúa.
Nơi
Linh Thao, con người ước muốn, khao khát gặp
gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa, và một khi
được gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa,
th́ được Ngài biến đổi.
Linh Thao
là hành tŕnh t́m kiếm Thiên Chúa, và chính Thiên Chúa làm cho con
người được gặp gỡ Ngài, và cũng
chính Thiên Chúa làm cho con người cảm nghiệm t́nh yêu
của Ngài đối với con người, cũng chính
Thiên Chúa biến đổi cung cách suy nghĩ, con tim t́nh
cảm, ước muốn khát vọng của con
người, làm con người trở nên giống Thiên
Chúa, giống đức Kitô mỗi ngày một hơn.
Trong kinh
nghiệm sống, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm “tri
hành bất nhất,” ước muốn một điều
nhưng dường như không thực hiện
được! Linh Thao không chỉ giúp con người
nhận ra chân lư, nhận ra Ư Chúa, nhưng c̣n là phương
tiện Thiên Chúa dùng để giúp con người thực
hiện Ư Chúa. Nói bằng ngôn từ của thánh Inhaxiô: “Linh Thao để thắng ḿnh và
tổ chức cuộc đời cho có trật tự mà
không quyết định theo một t́nh cảm lệch
lạc nào” (LT 21).
Trước
năm 1521 (khi ngài khoảng 30 tuổi), Inhaxiô đă sống
khá phóng túng. Với biến cố bị thương ở
Pampeluna và thời gian sau đó, đặc biệt thời
gian tại Manresa, Inhaxiô đă có kinh nghiệm với Thiên
Chúa và được Ngài biến đổi. Kể từ
thời điểm đó, Inhaxiô say mê giúp đỡ các linh
hồn bằng chính kinh nghiệm mà Ngài đă
được Thiên Chúa dạy dỗ, và kinh nghiệm này
được gọi là Linh Thao.
Tập
sách nhỏ mang tựa đề “LINH THAO” được in
lần đầu tại Roma năm 1548, và với phép
của đức giáo hoàng Phao-lô III, nhằm tránh mọi
dị nghị và chỉ trích. Sở dĩ thánh Inhaxiô làm
như vậy, là để phụng sự Thiên Chúa và giúp
đỡ các linh hồn hữu hiệu hơn; bởi v́
kinh nghiệm cho thấy thánh Inhaxiô đă bị ngăn
cản và phiền hà nhiều trong việc giúp đỡ các
linh hồn bằng Linh Thao: Ngài đă từng bị hỏi
cung, bị cầm tù, bị cấm giảng dạy
chuyện thiêng liêng và giúp đỡ các linh hồn!
Kinh nghiệm
phân định các thần, ḷng hoán cải thật sự,
ao ước khao khát bắt đầu một đời
sống phụng sự Thiên Chúa bằng việc giúp
đỡ các linh hồn, t́nh yêu đặc biệt
đối với đức Giêsu đến độ ao
ước khao khát được trở nên giống Ngài
trong khó nghèo khổ nhục, là những kinh nghiệm
đặc biệt của Inhaxiô và là đặc sủng Linh
Thao.
Chúng ta
đă t́m hiểu Linh Thao là ǵ, bây giờ trong những
đoạn tiếp sau, chúng ta sẽ t́m hiểu đâu là
những điều kiện cần để có thể làm
một cuộc Linh Thao tốt.
Có
phải tất cả mọi người đều có
thể làm Linh Thao được không?
Tôi có biết một vài
vị có trách nhiệm huấn luyện trong một Ḍng
nọ, sau khi làm Linh Thao có kết qủa tốt, các vị
đó muốn cho tất cả những thành viên trong Ḍng
đi Linh Thao, nhưng kết qủa không khả quan
lắm! Tại sao vậy?
Có người sau khi đi
dự một khóa Linh Thao, liền nghĩ ngay rằng
họ đă biết “đủ” về Linh Thao, và thấy
rằng Linh Thao cũng “thường” thôi! Một người
khác không muốn đi Linh Thao th́ lập luận: “Đi Linh
Thao cũng đâu có ích ǵ! Cứ nh́n bạn X th́ biết!.”
Một người có trách nhiệm trong một Ḍng bận
tâm: “Khi tĩnh tâm hoặc khi Linh Thao th́ sốt sắng,
nhưng sau một thời gian trở về cuộc
sống thường ngày th́ lại sống như b́nh
thường. Làm sao để các tu sĩ được
biến đổi thực sự?.” Trả lời sao
đây?
Không phải ai cũng làm Linh
Thao được. Có những người chỉ có
thể làm được tuần thứ nhất của
Linh Thao: “Phải đề ra cho mỗi người
việc ǵ có thể giúp họ và làm ích cho họ hơn, tùy theo mức độ họ
sẵn sàng đón nhận. Bởi vậy đối
với một người muốn cố gắng học
hỏi và thỏa măn linh hồn tới
một mức độ nào đó, th́ có thể
đề nghị cho họ việc xét ḿnh.... không nên
dẫn đưa họ vào việc chọn bậc sống
và những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ tuần
thứ nhất” (LT 18).
Những
người chỉ ao ước tiến bộ tới
một mức độ nào đó, không thể làm trọn
vẹn Linh Thao được! Đúng ra phải nói:
không nên cho những người như vậy làm Linh Thao, v́
không chắêc thu lượm được nhiều
kết qủa như ḿnh mong ước, và nhất là khi
không có nhiều giờ để giúp họ; và nếu là
cuộc Linh Thao cho một nhóm người, th́ những
người “không có thái độ nội tâm tương
ứng” này có thể phá hủy bầu khí thiêng liêng, và làm
ảnh hưởng gây kết qủa xấu cho khóa Linh
Thao.
Để có thể làm
trọn vẹn Linh Thao, cần phải có thái độ
nội tâm cần thiết: ḷng khao khát thuộc trọn
về Chúa, ao ước nên trọn lành, ước mong nên
thánh.
Ḷng quảng đại là
thái độ duy nhất cần thiết để
chuẩn bị và làm Linh Thao.
Thánh Inhaxiô nói: “Người
luyện tập Linh Thao sẽ được nhiều ích
lợi nếu bước vào với ḷng quảng
đại và hào hiệp với Đấng Tạo Hóa và
Chúa ḿnh, dâng trót cho Ngài cả ư
muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để
mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi
sự ḿnh có theo Thánh Ư Ngài” (LT 5).
Quảng
đại, theo ngôn từ của thánh Inhaxiô, là thái độ sẵn sàng
để Chúa làm bất cứ điều ǵ Ngài muốn
về ḿnh; Ḿnh sẵn sàng mở ḷng ra trước tác
động của Thánh Thần, để tùy Chúa lôi kéo ḿnh,
và ḿnh sẵn sàng đáp trả mọi đ̣i hỏi
của thánh ư Chúa. Quảng
đại, hàm chứa tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho
Thiên Chúa để Ngài định đoạt về
đời ḿnh, để Ngài làm cho ḿnh những ǵ Ngài
muốn; và chắc chắn đó là điều tốt
nhất đối với ḿnh.
Khao khát nên thánh, ḷng quảng
đại sẵn sàng thực hành tất cả những ǵ
Chúa muốn về ḿnh, là yếu tố cần thiết
để làm Linh Thao.
Một người làm Linh
Thao mà không thấy sống tốt hơn, nên xem
người đó có đạt được kết
qủa của Linh Thao không?
·
Người đó có
ḷng khao khát nên thánh và quảng đại với Chúa không ?
·
Người đó có
đạt yêu cầu của từng giai đoạn Linh
Thao không? Một người có thể đă trải qua
bẩy ngày,hoặc tám ngày, hoặc mười ngày Linh Thao,
nhưng nếu người đó thực sự chưa
đạt được kết qủa của từng bước
của Linh Thao, người đó chưa có kinh nghiệm
Linh Thao thực sự! Linh Thao được chia làm
bốn tuần, và mỗi tuần đều có yêu cầu
cần phải đạt. Nếu không đạt
được yêu cầu này, không nên qua tuần khác. Chính v́
vậy, Linh Thao thuở ban đầu theo thánh Inhaxiô
được giúp riêng cho từng người một, v́
tùy theo nhu cầu và sự tiến bộ của mỗi
người mà vị hướng dẫn cho những bài
Linh Thao thích hợp (LT 17).
·
Linh Thao chỉ là
khởi đầu của một đời sống
“quảng đại" với Chúa hơn. Nếu con
người không cố gắng liên tục trong đời
sống mỗi ngày, th́ con người có thể lạm
dụng tự do Thiên Chúa ban để phản bội Ngài.
Để nên thánh trong cuộc sống thường ngày,
chúng ta phải cố gắng liên tục, phải liên
tục vượt qua chính ḿnh, phải cầu xin Chúa làm cho
ḿnh yêu Chúa, và cụ thể là quảng đại với
Chúa liên tục trong cuộc sống thường ngày
hơn.
Cụ thể, trong Linh Thao,
người ta phải làm ǵ? Và ḷng quảng đại
phải được thực hiện như thế nào?
Mục đích của Linh Thao là gặp
gỡ Thiên Chúa, sống thân thiết và hạnh phúc với
Thiên Chúa, để Thiên Chúa biến đổi và làm ḿnh
thuộc trọn về Thiên Chúa.
Trong cầu nguyện, con người ư
thức ḿnh hiện diện trước nhan thánh Chúa,
lắng nghe Chúa nói trong tâm trí, tâm sự thân thưa với
Chúa. Chúa nói với ḿnh về chính ḿnh và về Chúa,
đểø ḿnh biết ḿnh hơn và biết Chúa hơn,
biết ḿnh là con người “tội lỗi” nhưng
vẫn được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.
Trong Linh Thao, lắng nghe Chúa nói, để
Lời Chúa tra vấn soi chiếu tận tâm khảm thâm sâu
ḷng ḿnh, và sẵn sàng vâng phục Thánh Thần để
thay đổi chính ḿnh, là điều quan trọng nhất.
Để cầu nguyện dễ dàng hơn
và đạt được mục đích hơn,
người làm Linh Thao phải dành thời gian để
chuẩn bị nội dung cho việc cầu nguyện.
Nếu là cuộc Linh Thao có hướng dẫn, th́
đề tài cầu nguyện thường được
người hướng dẫn gợi ư (LT 2), c̣n nếu
là cuộc Linh Thao “không có người hướng dẫn”
th́ người làm Linh Thao sẽ tự ḿnh làm công việc
này.
Sau khi cầu nguyện, người làm Linh
Thao sẽ dùng khoảng 15 phút để lượng giá hay
kiểm điểm xem giờ cầu nguyện vừa qua
có kết qủa như thế nào, có đạt
được kết qủa như ḿnh mong ước
không? Nếu cầu nguyện tốt, th́ tạ ơn Chúa;
c̣n nếu không tốt lắm, th́ xem đâu là nguyên do, và
cố gắng sửa chữa để giờ cầu
nguyện tiếp theo được tốt hơn. Việc xét gẫm rất quan
trọng, người làm Linh Thao phải làm thật nghiêm
túc nếu không sẽ không đạt nhiều kết
quả (LT 77).
Xét ḿnh là việc
thiêng liêng rất quan trọng đối với thánh Inhaxiô.
Ngài đề nghị xét ḿnh một ngày hai lần, và trong
hai lần xét ḿnh “chung” này, sẽ xem xét “cách riêng” ḷng
quảng đại của ḿnh với Thiên Chúa (LT 32tt.24.90).
Quảng
đại, chính là t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên
Chúa. Ḷng quảng đại được biểu lộ
một cách cụ thể trong chính cuộc sống, trong
từng hành vi cụ thể của chúng ta, và trong trọn
cả ngày sống.
Linh Thao là thời gian đặc biệt mà
người làm Linh Thao muốn dành trọn vẹn cho Thiên
Chúa. Thế nên, người làm
Linh Thao sẽ cầm giữ ngũ quan để không
bị những tác động bên ngoài chi phối: giữ
con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi. Để
nếu cần, nghe như không nghe, nh́n nhưng như không
nh́n, không nói khi không thực sự cần phải nói.
Người làm Linh Thao gạt bỏ mọi
bận tâm thường ngày cũng như những ǵ không
phải suy nghĩ, để dành tất cả thời gian
và con người ḿnh cho Thiên Chúa trong những ngày này.
Người làm Linh Thao gạt bỏ
những tư tưởng "chia trí" và “không hợp”
không chỉ trong giờ cầu nguyện, mà c̣n cả trong
suốt ngày sống nữa. Tuy vậy, trong lúc xét gẫm và
xét ḿnh, người làm Linh Thao phải t́m hiểu nguyên do
tại sao ḿnh lại hay bị chia trí và thường
bị bận tâm về những điều đó,
để có thể nhận biết về ḿnh hơn.
Trong thời gian Linh Thao, người tĩnh
tâm luôn sống dưới con mắt Chúa, luôn ư thức Chúa
đang hiện diện với ḿnh và đang yêu
thương ḿnh, và luôn sống trong tâm t́nh của mầu
nhiệm ḿnh đang cầu nguyện suốt cả ngày.
Để
có thể tiến bộ hơn về đời sống
thiêng liêng, và đặc biệt nếu để giúp
người khác về đời sống thiêng liêng, chúng ta
cần hiểu biết về con người một cách
sâu xa.
V́
thế, chúng ta sẽ lần lượt t́m hiểu về:
khuynh chiều và khả năng siêu vượt của con
người,
con người xét như tinh thần nhập thể,
con đường để nên thánh.
Đức
Giêsu nói với Phêrô: “Hăy tỉnh thức và cầu nguyện
kẻo sa cơn thử thách, tâm thần tuy sẵn sàng
nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Thánh
Phaolô cũng nói: “Sự lành tôi muốn, tôi không làm; c̣n
sự dữ tôi không muốn tôi lại làm” (Rm 7:19).
Con
người là thân xác và tinh thần. Con người có khuynh
chiều của thân xác và khuynh chiều của tinh thần.
Có thể nói khi nào c̣n là người tại thế với
thân xác, chúng ta c̣n có những khuynh chiều của thân xác mà
chúng ta cần vượt qua trong mức độ nó có trái
với ơn gọi con người hay không.
Sinh
vật, và cụ thể những con vật mà chúng ta
thường thấy, sống theo bản năng. Đói
cần phải ăn! Con vật không thể không ăn
nếu có đồ ăn trước mắt, khi nó đói.
Bản năng sinh tồn: “đừng đánh chó ở
đường cùng,” hăy cho nó một lối thoát, v́ nếu
không, nó sẽ cắn. Bản năng truyền giống: con
vật không thể cưỡng lại được
khuynh chiều tự nhiên: khi tới thời kỳ, nó
phải thỏa măn đ̣i hỏi để truyền sinh.
V́ con
người có thân xác, nên con người cũng cảm
thấy những khuynh chiều "tự nhiên" nơi chính
con người ḿnh như những sinh vật hạ
đẳng khác; nhưng phải lưu ư ngay kẻo
hiểu lầm: con người không chỉ có thân xác,
nhưng con người c̣n có khả năng vượt trên
khuynh chiều "tự nhiên" của xác thịt
nữa.
Nơi
con người vẫn có những khuynh chiều thuộc
thân xác như các sinh vật hạ đẳng khác, tuy dù
những khuynh chiều này được biểu lộ
tinh tế hơn.
Con
người vẫn cảm thấy nơi ḿnh khuynh
hướng ham mê ăn uống, ham mê t́m kiếm tiền
tài sắc dục, ham mê công danh địa vị; và
thực tế, có những người v́ ham mê một ít
tiền bạc, đă dám giết người cướp
của; có người đă sắp xếp mưu
đồ hạ bệ người khác, nhằm chiếm
đoạt địa vị danh vọng, v.v.
Trí
tưởng tượng là một khả năng của
con người, được coi là thành phần của
thân xác, nhưng nó không hoàn toàn tùy thuộc ư muốn con
người chúng ta.
Những
h́nh ảnh mà giác quan đă cảm thụ, được
trí nhớ lưu giữ lại; rồi với khả
năng liên tưởng của lư trí, những h́nh ảnh
được tŕnh bày trong tâm trí theo những khuynh
chiều của con người chúng ta, không chỉ theo những
khuynh chiều của thân xác mà c̣n theo cả những khuynh
chiều của tinh thần nữa.
Khuynh
chiều của thân xác đôi khi được diễn
tả qua trí tưởng tượng phong phú đến
mức độ chúng ta không ngờ đến!
Trí
tưởng tượng thuộc con người, nhưng
không hoàn toàn "là" chúng ta. Những h́nh ảnh của
trí tưởng tượng gợi lên, có thể "cám
dỗ" chúng ta, tuy vậy con người là một
chủ vị tự do, con người có thể thuận
theo hay từ khước những điều đó.
Con
người c̣n có lư trí, có khả năng trừu xuất,
nhận ra định luật tổng quát nơi những
cái đặc thù, nhận ra những định luật
chi phối thế giới tự nhiên. Các khoa học tự
nhiên đặt nền tảng dựa vào lư trí “tự nhiên”
này.
Ở
mức độ lư trí ‘luận lư’ này, con người thông
minh hơn con vật, nhưng điều này cũng không làm
cho “con người là người” đúng nghĩa. Con
người với lư trí, c̣n có một khả năng khác
đặc biệt và trổi vượt trên con vật, mà
con vật không thể có được, chính điều
đó làm cho con người trở nên người, nên tinh
thần, nên thánh. Đó là khả năng "siêu
vượt" của con người với lư trí
"tự do.”
Thật ra không phải có hai lư trí,
một “tự nhiên” và một “không tự nhiên,” nhưng phân
biệt như vậy, là để thấy rơ khả
năng của lư trí con người thôi. Khả năng lư
trí “không tự nhiên,” tức siêu vượt, sẽ
được đề cập đến sau.
Con
người có tự do, tùy ḿnh chọn điều này hay
điều kia theo sở thích. Ăn hay không ăn, ngủ
hay không ngủ, tùy ḿnh thích hay không thích, tự do[4] ḿnh muốn.
Nếu
chỉ dừng ở b́nh diện trên, không đặt tiêu
chuẩn tốt xấu, th́ ư
muốn tự do ở đây chỉ được
hiểu là khả năng chọn lựa của con
người. Nhưng con người c̣n có khả năng
đặc trưng: lựa chọn theo tiêu chuẩn
thiện ác, tốt xấu. Con người xét như
một hữu thể nhân linh, sẽ lựa chọn
điều này hay điều kia dựa vào tiêu chuẩn
"điều đó có
tốt đối với tôi hay không.”
Cái làm cho
con người trổi vượt và hoàn toàn khác với con
vật, đó là khả năng siêu
vượt của con người.
Con
người là một chủ vị có khả năng siêu
vượt, và khả năng siêu vượt này bao hàm con
người có lư trí và ư chí tự do.
Thường
xưa nay người ta vẫn cho rằng “không có vấn
đề lư trí tự do hay không tự do.” Điều ǵ
đúng là đúng, điều ǵ sai là sai, lư trí không thể
phán đoán một điều đúng là sai hoặc
điều sai là đúng được. Giác quan có thể
sai lầm như khi con người bị ảo giác
(trường hợp người đi trong sa mạc
dễ mắc phải: mắt thấy có nước
nhưng khi tới gần mới biết ḿnh lầm),
nhưng lư trí luôn luôn phán đoán đúng và không bị
ảnh hưởng bởi bất cứ cái ǵ! 2+2=4 là
một thí dụ điển h́nh.
Lư trí
thường phán đoán đúng trong trường hợp
“điều đó” không liên hệ tới chủ thể
phán đoán, nhưng nếu “điều đó” có liên quan
mật thiết đến chủ thể, th́ lư trí vẫn
có thể bị ảnh hưởng hoặc bị chi
phối bởi ư muốn của chủ thể.
Trường hợp này lư trí là công cụ của chủ
thể, t́m những lư lẽ để biện minh cho ư
muốn của chủ thể. Chẳng hạn một
người muốn chạy tội, không dám nhận sự
thật về con người của ḿnh, t́m cách đổ
tội cho người khác hoặc đưa ra những lư
do “ngụy biện” cho hành vi của ḿnh. Trường hợp
này bên giáo lư nhà Phật cho rằng ḷng dục đă làm con
người “vô minh.”
Đứng
trước lời “vô ngôn” của vũ trụ:
“Đây không phải lời cũng không phải tiếng,
để mà con người có thể cho rằng âm thanh
chúng không thể lọt tai; nhưng thực sự tiếng
chúng (dù không nghe được) đă vang đến
tận cùng trái đất, và lời chúng (dù không thành
tiếng) truyền ra khắp cơi địa cầu” (Tv 19
[18]:4-5), con người
với lư trí của ḿnh, đúng ra đă phải nhận
biết Thiên Chúa là Đấng sáng tạo vũ trụ này.
Nếu ai đó đă không nhận biết Thiên Chúa hiện
hữu khi nh́n vũ trụ hữu h́nh tuyệt đẹp
này, th́ e rằng họ chưa tự do thực, và lư trí
của họ chưa vượt lên trên tạo vật,
vẫn c̣n dừng lại ở b́nh diện sự vật
và chưa trở thành tinh thần đúng nghĩa.
Con
người và lư trí chỉ thực sự “tự do,” khi
vượt qua thực tại vật chất khả giác
để vươn tới thực tại siêu
vượt là Thiên Chúa vô h́nh.
Con
người có lương tâm. Đó cũng là nét
đặc trưng của con người. Lương tâm
là tiếng Thiên Chúa nói nơi cung ḷng con người, là lư
trí “tự do,” là lư trí vượt
qua tạo vật để vươn tới Thiên Chúa.
Thiên Chúa
dùng lương tâm để thức tỉnh con
người, để cảnh cáo và nhắc nhở con
người trở về với Thiên Chúa khi con
người lạc xa Thiên Chúa bằng những chọn
lựa tội lỗi.
Lương
tâm b́nh an là dấu chỉ cho thấy con người
sống trong tương quan tốt với Thiên Chúa. Tuy
vậy cũng nên lưu ư trường hợp một
người đă chai ĺ và không nghe được tiếng
nói của lương tâm cách rơ ràng. Trong trường
hợp này, tuy dù lương tâm “khiển trách” nhưng
họ vẫn cho rằng “lương tâm không hề trách
cứ họ điều ǵ.”
Trong
đời sống thiêng liêng, khi cảm thấy mất b́nh
an, người ta cần t́m hiểu để thấy rơ
chỗ nào sai lệch để điều chỉnh
lại đời sống của ḿnh.
Con
người, và chỉ có hữu thể ngôi vị mới
biết yêu. Yêu là nét đặc trưng của một ngôi
vị.
Con
vật không biết yêu, nó sống theo bản năng. Ngay
cả khi một con vật nuôi con, bảo vệ con, th́
cũng là sống theo bản năng của nó. Một con
người cũng có thể chỉ sống theo bản
năng chứ không sống yêu thương.
Yêu là
sống theo lư trí “tự do” chứ không sống theo cảm
tính; tuy vậy, yêu không loại trừ cảm tính. Vượt lên trên, không sống
theo bản năng, nhưng sống theo lư trí “tự do,”
đó là yêu. Chính v́ vậy, không trả thù nhưng
nhường nhịn, nhường phần hơn cho
người khác, hy sinh cho người khác đến
độ quên chính bản thân ḿnh, đó là yêu.
Con
người là tinh thần, nhưng con người có thân
xác. Các thiên thần cũng là tinh thần, nhưng thiên
thần không có thân xác như con người.
Con
người là tinh thần, nhưng chỉ là tinh thần
qua thân xác. Nghĩa là, nhờ thân xác và qua thân xác mà con
người là tinh thần. Nói bằng ngôn từ của cha
K. Rahner, “con người là tinh thần nhập thể.”
Là tinh
thần, nghĩa là, con người không chỉ dừng
lại ở b́nh diện “sự vật,” nhưng con
người có khả năng vượt trên sự vật
để vươn tới Tuyệt Đối. Một
điều cần lưu ư: con người hoàn toàn tự
do để siêu vượt; nghĩa là, siêu vượt hay
không siêu vượt, là TỰ DO của ḿnh.
Con
người là hữu thể tự do, có thể hành
động theo sở thích. Điều này ai trong chúng ta
cũng nhận thấy trong chính kinh nghiệm sống
của ḿnh.
Tuy con
người là hữu vị tự do, nhưng ai trong chúng
ta cũng biết, con người cần ăn để
sống.
Con
người không thể sống nếu không ăn! Như
vậy, phải chăng con người không có tự do?
Không! Con người có tự do, nhưng con người
tự do trong giới hạn của ḿnh, con người
không có tự do tuyệt đối để rồi “không
cần ăn cũng sống!” Con người “tự do”
trong và qua hành động của ḿnh.
Con
người, nếu đ̣i cho ḿnh có tự do tuyệt
đối, th́ trong hành vi "yêu sách và không chấp nhận
thân phận con người" đó, cho thấy họ
không là người “tự do đích thực.”
“Tự
do đích thực” không có nghĩa là muốn làm ǵ th́ làm theo
“ư thích xác thịt” của ḿnh.
Con
người tự do đích thực khi sống theo “ơn
gọi làm người,” tức là khi con người
sống theo điều lư trí thấy là đúng, theo
điều tốt cho ḿnh và cho tha nhân, theo ư định
của Thiên Chúa về ḿnh và về con người, theo tiêu
chuẩn là ḿnh “với Thiên Chúa là chuẩn mực.”
Con
người sống theo ḿnh “với Thiên Chúa là chuẩn mực,”
là con người luôn đặt Thiên Chúa lên trên hết, coi
anh em là thực tại có giá trị như ḿnh, trong hành
động luôn tôn trọng phẩm giá con người ḿnh
và tha nhân, mong muốn cho tha nhân được hạnh phúc
như chính ḿnh.
Con
người thực sự tự do khi yêu thương chính
ḿnh và tha nhân.
Ăn,
uống, truyền sinh, v.v., là những hành vi mà con vật
b́nh thường nào cũng có. Con người cũng có
những hành vi và sinh hoạt như vậy. Tuy nhiên, con
người là hữu thể tự do, không hiểu theo
nghĩa là không phải ăn phải uống, nhưng theo
nghĩa: khi con người làm những điều đó
hay điều khác, con người hành động theo
mục đích và tiêu chuẩn nào, con người t́m
kiếm điều ǵ khi làm như vậy, con người
làm những điều đó có nhằm ích lợi đích
thực cho ḿnh và cho tha nhân hay không, con người có t́m
kiếm hạnh phúc đích thực cho ḿnh và cho tha nhân không!
Con
người chỉ tự do đích thực trong hành
động và bằng hành vi hoạt động của
ḿnh, nghĩa là, bằng chính đời sống cụ
thể. Qua chính hành vi hoạt động trong đời sống
thường ngày, mà một người trở nên
người tự do đích thực hay thành người nô
lệ những tham muốn ích kỷ của ḿnh. Qua
chọn lựa và hành động, con người thành
thần hay thành vật, thành thánh hay thành quỷ.
Con
người được sinh ra để được tự do đích thực,
để trở nên thần linh qua hành vi hoạt
động của ḿnh. Thế nhưng, con người
trong lịch sử đă không sống theo ơn gọi
của ḿnh, đă không siêu vượt lên khỏi vật
chất, mà đă làm nô lệ tạo vật.
“Điều
tôi muốn (tôi biết là đúng) tôi không làm, c̣n điều
tôi không muốn (tôi biết là không đúng) tôi lại làm” (Rm
7:19).
“Con
người cảm nghiệm ḿnh bất lực không làm
được điều ḿnh thấy là đúng!” Ai có kinh
nghiệm trong đời sống thiêng liêng chắc đă
nhận biết điều này. Tuy vậy, mỗi
người đều nhận biết ḿnh vẫn tự do khi làm điều ḿnh
biết là không đúng.
Siêu
vượt, sống tốt lành thánh thiện, không thể
là kết qủa do nỗ lực riêng của con
người "muốn độc lập với Thiên Chúa.”
Như vậy th́ sao? Phải chăng có mâu thuẫn khi
khẳng định con người "tự do,” nghĩa
là con người được mời gọi siêu
vượt để trở nên tự do đích thực,
để vươn lên tới Thiên Chúa, nhưng
đồng thời lại khẳng định con
người cảm thấy ḿnh bất lực trong nỗ
lực làm điều thiện hảo? Những khẳng
định trên không hề mâu thuẫn nhau!
Trong
vườn địa đàng xưa, Eva muốn trở nên
thần linh một cách độc lập với Thiên Chúa,
và hậu qủa là con người phải chết. Cái
chết thể lư là biểu hiệu cái chết tinh
thần, khi con người không thông hiệp với
Nguồn Sống là chính Thiên Chúa (St 3:1tt).
Thế
nhưng ngay từ thời đó, Thiên Chúa đă chủ
động đi t́m và đối thoại với con
người "từ chối t́nh yêu của Ngài” (St 3:9tt).
Sở dĩ như vậy, v́ Thiên Chúa yêu thương con
người, Ngài yêu chúng ta ngay khi chúng ta c̣n là tội nhân (Rm
5:8). Ngài luôn yêu thương con người và t́m mọi cách
lôi kéo con người trở về với Ngài.
Không khi
nào con người có thể độc lập tuyệt
đối với Thiên Chúa, v́ nếu không nhờ Thiên Chúa
th́ con người không thể hiện hữu
được. Không chỉ thế, ngay cả khát vọng
hoàn thiện, con người cũng có nhờ Thiên Chúa. Tóm
lại, tất cả những ǵ tốt lành thánh thiện
nơi con người, cũng đều nhờ Thiên Chúa mà
có; và nếu không nhờ Thiên Chúa th́ không có ǵ tốt lành
thánh thiện nơi con người.
Thiên Chúa
luôn yêu thương con người, Ngài không ngừng
mời gọi con người đến với Ngài; Ngài
mời gọi con người đáp trả t́nh yêu bằng
lôi kéo con người đến với Ngài.
Yêu
thương là siêu vượt con người hạ
đẳng tầm thường của ḿnh, không chiều
theo cảm tính và bản năng "gây hấn" nơi
ḿnh, là trở nên giống Thiên Chúa. Yêu thương là nét
tuyệt vời của con người mà con vật không
thể có được. Yêu thương là “thành nhân,” là
trở nên con người hoàn thiện, là nên thánh.
Yêu
thương là sống theo lư trí "tự do,” là khao khát và
sống theo điều lư trí "tự do" thấy là
đúng. Không sống theo lư trí tự do, là không yêu
thương Thiên Chúa và con người.
Yêu
thương là hành vi tự do, hành vi nhân linh. Cầu xin Chúa
giúp để ḿnh sống yêu thương hơn, là một
hành vi siêu vượt và cũng là hành vi yêu thương. Nói
cách khác, xin cho ḿnh sống yêu thương, là hành vi làm ḿnh
trở nên tinh thần hơn.
Ở
mục trên, chúng ta đă nh́n con người thực của
chính chúng ta một cách cụ thể, và đă phần nào
thấy nét cao qúy của con người. Bây giờ, chúng ta
tiếp tục t́m hiểu con người trong ư
định của Thiên Chúa, để rồi chúng ta có
thể đến với Thiên Chúa một cách dễ dàng
hơn dưới sự hướng dẫn và trợ giúp
của Ngài.
Con
người là ai? Con người sẽ đi về
đâu? Đời sống con người có giá trị và ư
nghĩa nào không? Những câu hỏi trên đă
được nhiều người quan tâm thao thức
đưa ra những lư thuyết trả lời; và có
những lư thuyết đă ảnh hưởng rất sâu
đậm trên lập trường sống của
nhiều người. Có những lư thuyết sai lầm
đă làm băng hoại bao nhiêu tâm hồn, và đă làm bao
người đau khổ. Ánh sáng của mặc khải
sẽ giúp chúng ta có cái nh́n đúng đắn về con
người, và Thiên Chúa sẽ chỉ cho chúng ta con
đường để chúng ta sống hạnh phúc
đích thực.
Với
lư trí của ḿnh, con người đă ṃ mẫm đi t́m
lời giải đáp về chân tính của ḿnh. Lời lư
giải th́ nhiều và đa dạng, và đôi khi cũng mâu
thuẫn nhau; nhưng điều đáng bận tâm hơn
là: “những lư giải này có đúng thực không?”
Có
người cho rằng con người do tiến hóa
ngẫu nhiên mà có. Nếu con người ngẫu nhiên mà
hiện hữu, th́ con người đâu có giá trị
trường tồn! Và nếu đúng như vậy,
chết là hết! Và người ta có thể kết
luận: “con người có thể làm những ǵ ḿnh thích,
ḿnh muốn, hoặc những ǵ làm thỏa măn ḿnh.”
Một
nhăn quan như vậy về con người, kéo theo
những hệ luận vô cùng tai hại:
·
không có hạnh phúc
đích thực;
·
nếu nói đến
hạnh phúc, th́ hiểu hạnh phúc là thỏa măn nhu cầu
thể lư; nếu có nói tới nhu cầu tinh thần, th́
tinh thần ở đây cũng chỉ là dạng khác
của thân xác;
·
con người không là
một gía trị trường tồn; v́ tất cả
sẽ hư vô khi cái chết đến;
·
con người có thể làm
tất cả; luật pháp chỉ có gía trị giúp trị
an, để đời sống “xă hội” được
dễ dàng hơn thôi, không phản ánh bản chất con
người.
Một
số người cho rằng không thể lư giải sự
hiện hữu của con người, con người là
hiện sinh “phi lư,” cuộc đời đáng “buồn nôn.”
Những
người thuộc trường phái này không biết ḿnh
từ đâu tới và ḿnh sẽ đi về đâu,
họ không thấy ư nghĩa cuộc đời. Một
nhân sinh quan như vậy sẽ dẫn con người
tới thái độ bi quan chán chường:
·
họ có thể
sống buông thả theo những khuynh chiều “thú tính”
của con người;
·
và tệ hơn, họ
có thể tự tử nếu họ gặp quá nhiều
thất bại trên đường đời!
“Ấy Con Tạo đành hanh quá
quắt,
Chết đuối người trên cạn mà chơí!”
Tại
sao lại có lắm cảnh éo le trong cuộc đời?
Phải chăng con người chỉ là tṛ chơi của
Tạo Hóa, của những thần linh “thích vui đùa trên
sự đau khổ của con người?” Phải
chăng con người đă có một phần số rơ
ràng, không ǵ có thể tránh được?[5] Tại sao có sự ác,
phải chăng v́ Tạo Hóa muốn vậy, bởi v́
Tạo Hóa quyền năng vô cùng mà?
Một
cái nh́n sai lệch về Thiên Chúa kéo theo cái nh́n sai lệch
về con người. Và nếu chấp nhận cái nh́n
như vậy về con người và về Thiên Chúa, th́
con người không thể sống hạnh phúc
được v́ luôn ở trong t́nh trạng lo sợ
bất an.
Thiên Chúa
không phải là “ông kẹ,” cũng không phải là “Con
Tạo đành hanh quá quắt,” cũng không phải là ông
chủ độc ác, nhưng là Cha Vô Cùng Nhân Từ và Yêu
Thương.
“Thiên Chúa
muốn cho tất cả mọi ngựi được
cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4). Thiên Chúa
muốn chia sẻ hạnh phúc với con người khi
Ngài tạo dựng con người.
Thiên Chúa
hoàn toàn tự do trong
việc tạo dựng con người, và Ngài đă tạo
dựng con người v́ t́nh
yêu và trong t́nh yêu. Không ǵ buộc Thiên Chúa phải tạo
dựng con người; và việc Ngài tạo dựng con
người không mang lại ǵ thêm cho bản tính Thiên Chúa.
Thiên Chúa
có thể không tạo dựng con nguời mà Ngài vẫn hạnh
phúc tṛn đầy; thế nhưng v́ yêu thương con
người nên Ngài đă tạo dựng con người, và
Ngài muốn con người được hạnh phúc
vĩnh cửu với Ngài: “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16).
Thiên Chúa
tạo dựng con người, v́ Ngài muốn cho con
nguời thông phần hạnh phúc vĩnh cửu với
Thiên Chúa.
Hạnh
phúc đích thực và vĩnh cửu của con
người, không hoàn toàn nằm trong tầm tay con
người, nhưng cũng không phải là điều mà
con người không thể có được. Con
người có thể sống hạnh phúc, nhưng con
người không thể sống hạnh phúc thật
nếu con người muốn tách biệt hay độc
lập với Thiên Chúa.
Hạnh
phúc vĩnh cửu, là thuộc tính của Thiên Chúa; hạnh
phúc vĩnh cửu nơi con người chỉ có thể
có, nếu con người sống hiệp thông với Thiên
Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa.
Thiên Chúa
luôn luôn hạnh phúc, và chỉ những ai nên giống Thiên
Chúa mới hạnh phúc thật sự mà thôi.
“Thiên Chúa
là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Ai yêu thương th́ nên giống Thiên
Chúa, và ai không yêu thương th́ không giống Thiên Chúa.
Như vậy, chỉ những người sống yêu
thương mới hạnh phúc và hạnh phúc thật
sự.
Thiên Chúa
tạo dựng con người “giống h́nh ảnh Ngài” (St
1:26), Ngài tạo dựng con người tự do, Ngài
tạo dựng con người có khả năng yêu
thương để sống hạnh phúc vĩnh cửu
với Ngài. Thế nhưng con người “tự do” đă
không sống yêu thương như Thiên Chúa muốn, con
người đă lạm dụng tự do để thù
ghét và làm hại anh em ḿnh: đó là tội! Để con
người được hạnh phúc, cần Thiên Chúa cứu độ con người, làm cho con người sống yêu
thương: yêu Chúa và yêu người. Cứu độ
con người, là làm con người sống yêu
thương, để con người giống Thiên Chúa,
để con người được hạnh phúc.
Thiên Chúa
là T́nh Yêu, Ngài là Đấng chỉ biết yêu thương,
và làm tất cả v́ yêu thương: “Ngài tạo dựng
con người để con người sống và
hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài.” Thực tế con
người đă từ chối t́nh yêu của Ngài, từ
chối sống thông hiệp với Ngài, và như vậy là
xúc phạm Thiên Chúa, là tội. Tuy vậy, Thiên Chúa đă không
bỏ mặc con người, Ngài tiếp tục yêu
thương con người qua hành vi làm con người
trở về sống thông hiệp với Ngài, đáp
trả t́nh yêu của Ngài.
Từ
đời đời Thiên Chúa đă biết con
người từ chối Ngài, phản bội Ngài khi Ngài
tạo dựng họ “tự do;” nhưng Thiên Chúa vẫn
tạo dựng con người; và Ngài có chương tŕnh
cứu độ con người khi Ngài quyết
định tạo dựng con người “tự do.”
Tự do của con người vẫn được tôn
trọng và bảo vệ.[6]
Các
kitô-hữu tiên khởi đă diễn tả chương
tŕnh Thiên Chúa yêu thương và cứu độ con
người qua bài ca trong thư gởi Eâphêsô của thánh
Phaolô:
“Chúc
tụng Thiên Chúa là Thân Phụ đức Giêsu Kitô Chúa chúng
ta.
Trong
đức Kitô, từ cơi trời Người đă thi ân
giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh
Thần.
Trong
đức Kitô, Người đă chọn ta trước
cả khi tạo thành vũ trụ, để trước
thánh nhan Người ta trở nên tinh tuyền thánh thiện
nhờ t́nh thương của Người.
Theo ư
muốn và ḷng nhân ái của Người, Người đă
tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ
đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân
sủng rạng ngời, ân sủng người đă ban
tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu.
Trong Thánh
Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra mà chúng ta
được cứu chuộc được thứ tha
tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú
của Người.
Ân
sủng này Thiên Chúa đă rộng ban cho ta cùng với
tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.
Người
cho ta được biết Thiên Ư nhiệm mầu: Thiên Ư
này là kế hoạch yêu thương Người đă
tiền định từ trước trong đức Kitô.
Đó là
đưa thời gian tới hồi viên măn là quy tụ muôn
loài trong trời đất dưới quyền một
thủ lănh là đức Kitô.
Cũng
trong đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi
sự theo quyết định và ư muốn của
Người, đă tiền định cho chúng tôi đây làm
cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của
Người, để chúng tôi là những người
đầu tiên đặt hy vọng vào đức Kitô, chúng
tôi ngợi khen vinh quang Người.
Trong
đức Kitô cả anh em nữa, anh em đă
được nghe lời chân lư là Tin Mừng cứu
độ anh em; vẫn trong đức Kitô, một khi anh em
đă tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần,
Đấng Thiên Chúa đă hứa.
Thánh
Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng
ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được
cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” (Ep
1:3-14).
Phạm
tội là từ chối Thiên Chúa và muốn độc
lập với Ngài. Qua hành vi phạm tội con người
chọn và làm ḿnh trở thành “qủy.” Điều này không
hợp lư và “không hiểu được,” nhưng đó
lại là sự thật! Một điều ác điều
dữ, tại sao con người vẫn làm?!
Thiên Chúa
đă yêu thương con người ngay cả khi con
người là tội nhân. Đây cũng là điều
“không hiểu được!”
Thiên Chúa
yêu thương con người, Ngài muốn con người
hạnh phúc, Ngài muốn con ngựi trưởng thành và
triển nở về mọi phương diện. Nhưng
thực tế, bằng chính hành vi phạm tội của
ḿnh, con người đă từ chối vươn lên và
đă đồng hóa ḿnh với con vật, và đôi khi c̣n
tệ hơn cả con vật, chẳng hạn
trường hợp con nguời lợi dụng lư trí
của ḿnh nhằm diệt hẳn một dân tộc như
hành vi của Hitler đối với dân tộc Do Thái
thời đệ nhị thế chiến. Tội là xúc
phạm Thiên Chúa bằng hành vi từ chối sống yêu
thương như Thiên Chúa đă muốn cho con
người.
Tŕnh
thuật “sa ngă” của sách Sáng Thế chương 3 cho
thấy: con người không tin rằng Thiên Chúa yêu
thương ḿnh, mà hơn nữa lại tin vào ác quỷ qua
h́nh ảnh con rắn, coi Thiên Chúa là Đấng lừa
dối ḿnh, cho rằng Thiên Chúa không muốn cho con
người trở thành thần linh, coi Thiên Chúa như
một vị sợ con người được “ngang
hàng” với ḿnh. Khi con người không tin vào Thiên Chúa
nữa, th́ con người không c̣n trông cậy vào Thiên Chúa,
và con người không sống trong t́nh yêu của Ngài
nữa. Tội là từ chối t́nh yêu của Thiên Chúa.
Không ai có
thể tha tội nếu không phải là chính Thiên Chúa (Mc 2:7).
Quan niệm này của người Do Thái hoàn toàn chính xác: con
người không thể đền được tội
mà ḿnh đă xúc phạm đến Thiên Chúa. Chính v́ thế
con người cần được Thiên Chúa cứu
độ.
Con
người đầu tiên đă phạm tội cách tự
do, và bây giờ con người vẫn c̣n tự do
để phạm tội hay không phạm tội; thế
nhưng kể từ biến cố phạm tội
đầu tiên của con người đó, con
người cảm thấy ḿnh “như thể bất
lực” để làm điều tốt ḿnh biết là nên
làm hay phải làm.
Kinh
nghiệm đời sống thiêng liêng cho thấy: có
nhiều lúc trong đời tôi không muốn phạm tội,
tôi không muốn làm “điều đó” nữa, nhưng
rồi tôi lại đă tự do làm điều tôi đă
quyết định rằng sẽ không bao giờ làm
nữa; sau khi làm điều đó rồi, tôi lại
hối hận v́ ḿnh đă làm điều đó... và rồi
lại quyết định!
Con
người đă bị ảnh hưởng bởi
tội, và đặc biệt bởi tội đầu tiên
đó. Con người đă bị “yếu” kể từ
khi con người phạm tội, và con người càng
trở nên yếu khi con người càng ch́m sâu trong tội.
Có lẽ ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về
điều này.
Kinh
nghiệm “điều tôi muốn (tôi biết là đúng, là
nên làm) tôi không làm, nhưng tôi lại làm điều tôi không
muốn (tôi biết là không đúng và không nên làm)” của
thánh Phaolô (Rm 7:19), là kinh nghiệm “bất lực” của
con người, và đúng hơn của mầu nhiệm
tự do của con người, của tội. Khi nói con
người cảm nghiệm sự “bất lực làm
điều tốt,” người viết hoàn toàn không có ư
muốn nói “con người không c̣n khả năng hành thiện,”
hoặc “con người mất tự do để làm
điều tốt!” Con người vẫn c̣n khả
năng chọn lựa làm điều tốt hay
điều xấu tùy họ.
Ai
cứu tôi khỏi t́nh trạng khốn nạn này?
“Tạ
ơn Chúa, nhờ đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!” (Rm 7:24-25).
“Trong đức Kitô và nhờ đức Kitô, chúng ta
được cứu chuộc, được thứ tha
tội lỗi” (Ep 1:7).
Nhập
thể là sáng kiến t́nh yêu tuyệt vời của Thiên
Chúa để cứu độ con người, bởi v́
con người không thể trả gía đền tội
ḿnh, v́ con người chỉ là tạo vật: “chỉ có
Con Chiên mới xứng đáng mở sách ấy mà thôi” (Kh 5:9)!
Chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể trả
được giá “thục hồi” cho Thiên Chúa, và như
vậy chỉ có đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập
Thể, Con Thiên Chúa làm người, mới có thể
cứu độ được con người mà thôi.
Con
người từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa, con người
coi thường và cho rằng ḿnh không cần Thiên Chúa. Thái
độ khinh thường Thiên Chúa là thái độ
đáng tội. Làm sao để cứu độ con
người?
Làm sao
để cứu độ con người?
V́ con
người là hữu thể tự do, nên Thiên Chúa không
thể cứu độ được con người
nếu con người không chấp nhận.
Con
người được cứu độ nếu con
người coi trọng Thiên Chúa và mệnh lệnh của
Ngài, nếu con người vâng phục Thiên Chúa, tin tưởng
và phó thác nơi Thiên Chúa. Cứu độ con người,
là làm cho con người cảm nghiệm được
rằng Thiên Chúa yêu con người, và đó là sứ
mạng của đức Giêsu.
Cứu
độ con người là hướng dẫn và trợ
giúp con người, làm sao để con người cảm
được Thiên Chúa yêu thương họ, và rồi
họ đáp trả t́nh yêu, và như vậy là con
người được hạnh phúc, được
cứu độ.
Sứ
mạng của đức Giêsu là làm sao để con
người cảm được rằng Thiên Chúa yêu
thương con người. Để thực hiện công
tŕnh cứu độ này, Thiên Chúa đă có cả một
chương tŕnh, và trải dài trong gịng lịch sử,
đặc biệt là nơi dân tộc Do Thái với
lịch sử của họ.
Có
thể nói: sứ mạng của đức Giêsu là làm
chứng cho T́nh Yêu, là chứng nhân t́nh yêu: làm cho con
người cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng.
Liệu
Thiên Chúa có thể cứu độ con người mà không
cần Ngôi Lời nhập thể, không cần đức Giêsu
phải chết không?
Nếu
Ngôi Lời không nhập thể, liệu con người có
tin Thiên Chúa yêu con người không? Nếu đức Giêsu
không chịu chết, liệu con người có
được đánh động bởi hành động
và đời sống của Ngài, để cảm nhận
rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh không?
Bằng
hành vi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh viễn
thành người:
·
Đức Giêsu sống
hoàn toàn như con người (trừ tội, v́ tội
không thuộc bản chất con người). Ngài biết
đói, biết khát, biết đau, biết khổ
nhục; Ngài bị cám dỗ trong hoang địa, trong
vườn dầu, trên thập giá; Ngài bị thử thách
về đức tin nhưng không bao giờ qụy ngă.[7]
·
Ngài luôn nói sự
thật dù người ta không tin và không chấp nhận Ngài
(Mc 2:7), dù người ta kết án tử h́nh Ngài (Mc 14:62).
·
Ngài ư thức Ngài
chết v́ yêu thương con người, v́ Ngài hiến
mạng Ngài cho con người: “không có t́nh yêu nào lớn
hơn t́nh yêu của Người hiến mạng sống
ḿnh v́ bạn hữu” (Ga 15:13).
Dường
như thập giá là con đường duy nhất diễn
tả t́nh yêu một cách
thuyết phục nhất. Một cô gái có thể tin
rằng một anh nào đó nói yêu cô ta, là thực chăng?
Nếu cô gái này khôn ngoan, cô ta biết ḿnh có thể bị
lừa! Để tin lời nói của người đó
có thực không, cô ta cần có thời gian để
nghiệm xét: chính qua hành động và đời sống,
chứ không chỉ bằng lời nói, mà cô ta biết
được anh ta có yêu cô ta thực không! Chính nhờ hành
động, xem người đó có hy sinh quên ḿnh v́ tôi không,
xem người đó có muốn tôi được hạnh
phúc thực không, mà tôi nhận biết người đó có
yêu tôi thực không. Cũng tương tự như
vậy, qua việc Đức Giêsu dám chết v́ yêu con
người, mà con người tin biết rằng Ngài yêu
con người, và nhờ Ngài mà con người cũng biết
rằng Thiên Chúa yêu con người vô cùng.
Tội
là coi thường Thiên Chúa, không tin Thiên Chúa, không trông
cậy ǵ nơi Ngài, không vâng phục Ngài! Nhưng Thiên Chúa
luôn yêu thương con người, Ngài sẵn sàng tha thứ
tội lỗi con người đă xúc phạm đến
Ngài, Ngài mong muốn con người trở lại với
Ngài, để con người được hạnh phúc.
Khi con người trở lại với Ngài, rung
động trước t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với ḿnh, trân trọng Thiên Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, vâng
phục Thiên Chúa trong mọi sự, th́ con người
được cứu độ.
Rung
động trước t́nh yêu của đức Giêsu và
của Thiên Chúa đối với con người, hối
hận v́ tội lỗi ḿnh, ao ước đáp trả
t́nh yêu Thiên Chúa bằng chính cuộc sống ḿnh, đó là
khởi đầu ơn cứu độ. Chính t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người và làm con
người đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho con
người được sống, và sống tṛn
đầy, sống hạnh phúc.
T́nh yêu
không chỉ là cảm giác, và t́nh yêu cũng không chỉ là lư
trí. T́nh yêu diễn tả và cảm nhận bằng cả
lư trí và thân xác. Con người cần cảm nghiệm Thiên
Chúa yêu thương ḿnh bằng
cả con người, để ḿnh sống một
đời đầy ư nghĩa, và được hạnh
phúc.
Cứu
độ con người là chương tŕnh của cả
Ba Ngôi Thiên Chúa:
·
Thiên Chúa Cha như
nguồn gốc mọi sự, là sáng kiến của
chương tŕnh;
·
Thiên Chúa Con như
Lời thực hiện chương tŕnh qua hành vi nhập
thể vĩnh viễn;
·
Và Thánh Thần hoạt
động trong tâm hồn mỗi người để
dẫn đưa con người trở về với Thiên
Chúa.[8] Thánh Thần giúp các tông đồ hiểu Lời
của đức Giêsu (Ga 14:26), dẫn đưa các tông
đồ vào tất cả sự thật (Ga 16:13), giúp các
tông đồ làm chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26-27).
Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh để
giúp các Kitô-hữu sống đức tin, và giúp các Kitô hữu
rao giảng tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa.
Con
người là tạo vật được Thiên Chúa yêu
thương, nên cứu độ con người là công
việc quan trọng đối với Thiên Chúa.
Thiên Chúa
yêu thương con người, và yêu con người vô cùng.
Thiên Chúa Cha yêu con người như yêu chính Con Một
của Ngài (Ga 17:23), và Ngài yêu con người đến
độ ban Con của Ngài cho con người (Ga 3:16). Chúa Giêsu
yêu con người như Thiên Chúa Cha yêu Ngài (Ga 15:9), và Ngài
yêu con người đến độ hiến mạng
sống bản thân Ngài cho con người (Ga 15:13), và c̣n
biến bánh rượu thành thân xác Ngài để trở
thành của ăn của uống cho chúng ta.
Chính v́
yêu thương con người nên Thiên Chúa luôn ở với
con người:
·
“Nơi nào có hai hay ba
người họp nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở
giữa họ” (Mt 18:18). “Này đây Thầy ở cùng anh em
cho đến tận thế” (Mt 28:20);
·
“Ai yêu mến Ta th́
giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người
đó, và chúng ta sẽ đến và ở với người
đó” (Ga 14:23);
·
“Thầy sẽ xin Cha,
và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bầu Chữa
khác, để Ngài ở với các con luôn măi” (Ga 14:16).
Yêu nhau,
người ta muốn ở gần nhau. Thiên Chúa muốn
ở với chúng ta, và Ngài muốn chúng ta ở trong t́nh yêu
của Ngài (Ga 15:9). Thiên Chúa ở với chúng ta để
cứu độ chúng ta, để chúng ta sống hạnh
phúc với Ngài.
“Sự
sống đời đời là chúng nhận biết Cha và
đức Giêsu Đấng Cha sai” (Ga 17:3).
Để
sống hạnh phúc tṛn đầy, con người cần
biết ḿnh đang hạnh phúc. Chúa Thánh Thần là thầy
dạy chúng ta, Ngài giúp chúng ta nhận ra sự thật
cứu độ: “Thánh Thần sẽ dẫn chúng con vào
tất cả sự thật” (Ga 16:13). Không có Thánh Thần,
con người không thể làm ǵ tốt, ngay cả việc
tin đức Giêsu là Thiên Chúa: “Không ai tuyên xưng
đức Giêsu là Kitô, nếu không bởi Thánh Thần” (1Cr 12:3).
Thánh
Thần giúp con người tin vào đức Giêsu và tin vào
Thiên Chúa, giúp con người cầu nguyện than thở
với Thiên Chúa (Rm 8:26-27), giúp con người sống b́nh an
hạnh phúc, giúp con người hưởng ân phúc cứu
độ.
“Không ai
có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đă
sai Ta, không lôi kéo nó, và Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau
hết” (Ga 6:44).
Con
người không thể tự cứu chính ḿnh, nhưng
chính Thiên Chúa cứu độ con người: Thiên Chúa
cứu độ con người nhưng cần con
người ưng thuận cách tự do.
Chính Thiên
Chúa lôi kéo con người đến với Thiên Chúa,
chứ không phải con người tự ḿnh có khả
năng đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa lôi kéo con
người, và con người ưng thuận để
Thiên Chúa lôi kéo ḿnh đến với Ngài. Lôi kéo con
người đến với Thiên Chúa mà con người
vẫn hoàn toàn tự do, đó là đặc điểm
của Thiên Chúa.
Thiên Chúa
là T́nh Yêu, Thiên Chúa yêu con người, nên “Ngài muốn
tất cả mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4). Ngôi Lời Thiên
Chúa đă nhập thể làm người để ở
măi với con người theo cách thức mà con người
lănh hội được; Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt
động trong con người để lôi kéo con
người đến với Thiên Chúa, để làm con
người rung cảm trước t́nh yêu Thiên Chúa,
để con người có thể sống an b́nh và phó thác
tất cả trong tay Thiên Chúa, để con người
được hạnh phúc.
Tuy con
người hoàn toàn tự do nhưng Thiên Chúa lại
rất tuyệt vời: Ngài
chinh phục con người bằng t́nh yêu.
Thiên Chúa
yêu thương con người, Ngài muốn những
điều tốt lành cho con người, Ngài muốn con
người được hạnh phúc vĩnh cửu
với Ngài. Sở dĩ như vậy, bởi v́ khi yêu,
người ta muốn cho người ḿnh yêu
được những điều tốt lành,
được hạnh phúc đích thực.
Thiên Chúa
muốn con người được sống hạnh phúc
tṛn đầy với Ngài: “Ta đến để chúng
được sống, và sống sung măn” (Ga 10:10).
Thiên Chúa
Cha đă ban Con Ngài cho con người (Ga 3:16), Chúa Con đă
ban chính ḿnh Ngài cho con người qua bí tích Thánh Thể và
bằng hành vi chết cho người ḿnh yêu (Mc 14:24-25; Ga 15:13),
Thánh Thần hiện diện với con người như
quà tặng của Ba Ngôi (Ga 14:16).
Để
hạnh phúc và cảm nghiệm hạnh phúc, cần có
tự do.
Thiên Chúa
luôn tôn trọng tự do của con người. Chính v́
vậy, Ngài chỉ mời gọi và đề nghị, c̣n
tùy con người có đáp trả hay không.
Thiên Chúa
tôn trọng ư muốn của con người; ngay cả khi
con người không đáp trả lại t́nh yêu của
Ngài, không làm theo ư muốn của Ngài, th́ Ngài vẫn kiên
nhẫn chờ đợi, Ngài vẫn luôn tác động
để con người trở lại với Ngài,
hầu con người được sống hạnh phúc
đích thực.
Khi yêu
nhau, họ trở nên một, một thân xác một tinh
thần. Nói một cách chính xác, những người yêu nhau
đều hướng tới hiệp nhất dù mỗi cá
vị vẫn được tôn trọng và duy tŕ: “Ḿnh
với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai.” Hai
người yêu nhau, sẽ được hạnh phúc
hơn khi họ cùng lư tưởng, cùng ước muốn
và đồng cảm.[9]
Chúa Giêsu
yêu Chúa Cha, nên đă lấy Ư Cha làm ư Ngài (Mc14:36), đă
lấy Ư Cha làm của ăn (Ga 4:34). Cũng tương
tự như vậy, khi con người yêu Thiên Chúa, sẽ
lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẽ vâng giữ Lời Ngài: “Ai
yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến
người đó, và chúng ta sẽ đến và ở nơi
người đó” (Ga 14:23).
Con
người chỉ có thể nên một với Thiên Chúa
trong cầu nguyện, nếu con người đă cố
gắng để nên một với Thiên Chúa trong suốt
đời sống thường ngày.
Trong t́nh
yêu người ta thường nghe nói, “Anh là tất cả
với em” hoặc “Em là tất cả với anh.” Khi hai
người yêu nhau, người này là qúy nhất với
người kia. Chính v́ thế, ư kiến hay ư thích của
người yêu rất được coi trọng.
Ai càng yêu
th́ càng yếu, v́ khi yêu người ta muốn chiều ḷng
người ḿnh yêu, để thấy người yêu
hạnh phúc và ḿnh cũng được hạnh phúc v́
người ḿnh yêu hạnh phúc.
Khi yêu
nhau, người ta tin tưởng lẫn nhau và có thể
tin tưởng cậy nhờ người ḿnh yêu, v́ ḿnh tin
rằng người ḿnh yêu sẽ làm theo ư ḿnh. Khi yêu,
người ta tin tưởng trông cậy lẫn nhau.
Tội
là coi thường và không tin tưởng trông cậy ǵ
nơi Thiên Chúa, c̣n yêu Thiên Chúa là trân trọng và tin
tưởng phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa là
Đấng yêu thương ḿnh.
Tin
rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài sẽ làm cho ḿnh
những điều tốt lành nhất, và như vậy
ḿnh sẽ b́nh an hạnh phúc để phó thác đời
ḿnh trong tay Thiên Chúa.
Con
người không có tự do tuyệt đối, nhưng
con người chỉ tự do trong hành động của
ḿnh.
Là tinh
thần nhập thể, nên con người trở thành tinh
thần qua thân xác, nghĩa là, con người
được mời gọi vượt lên những khuynh
chiều xác thịt để thành nhân, để nên thánh,
để sống như Thiên Chúa muốn, để
thuộc trọn về Thiên Chúa.
Lư trí con
người với những h́nh ảnh được
cảm thụ qua giác quan, do tác động bởi những
khuynh chiều thân xác, làm nên trí tưởng tượng. Trí
tưởng tượng thuộc về “tôi,” cấu thành
con người tôi, nhưng “tôi” không chỉ là nó; tôi hoàn toàn
tự do để ưng thuận hay từ chối
những ǵ hiện đến trong trí tưởng
tượng của tôi.
Con người là linh
hồn và thân xác. Con người là chủ vị với
thân xác. Tôi xét như thân xác, có những khuynh chiều đ̣i
thỏa măn, như đói cần ăn khát cần uống,
nhu cầu thỏa măn sinh lư; tôi xét như sinh vật bậc
cao, cũng có khuynh hướng muốn được kính
trọng, nổi tiếng.
Là người, tôi cảm
thấy ḿnh có những nhu cầu và đ̣i hỏi như
vậy nơi chính bản thân; khi tôi cảm thấy
những đ̣i hỏi đó nơi ḿnh, không hàm chứa
rằng tôi “thấp hèn;” tôi tự do, tôi có thể ưng
thuận hay từ chối làm theo những đ̣i hỏi
đó.
Khi nào c̣n
sống trên dương thế này, tôi c̣n cảm thấy
những đ̣i hỏi của thân xác và lư trí. Những khuynh
chiều như thế là b́nh thường; đó là thân
phận con người trong điều kiện tại
thế. Tuy nhiên, con người xét như chủ vị hoàn
toàn tự do, có thể “siêu vượt” trên những “cám
dỗ,” trên những khuynh chiều này.
Con
người, trở nên người tự do đích
thực hay nô lệ vật chất, trở nên thánh nhân hay
như con vật, là do chính con người. Chính bằng hành
vi siêu vượt hay thuận
theo cám dỗ, mà con người là “thần” hay “vật,”
trở nên thần linh hay sống như “con vật.”
Bị
cám dỗ và thử thách nhiều, không có nghĩa là ḿnh
thiếu quảng đại với Chúa, hoặc ḿnh
“xấu xa thấp hèn.” Đức Giêsu cũng bị cám
dỗ nhiều và mănh liệt (Mt 4:1-11; Mc 14:32 tt), Ngài bị
cám dỗ cả trong lănh vực đức tin (Mc 15:34), Ngài
đă chiến đấu chống trả cám dỗ
đến nỗi mồ hôi máu chảy ra (Lc 22:44).
Đức Maria cũng bị thử thách nhiều trong
cuộc sống, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng phó
thác trong tay Thiên Chúa dù không biết Lời Chúa phán cùng Mẹ
sẽ được thực hiện thế nào, nhất
là khi Mẹ chứng kiến đức Giêsu chết ô
nhục thảm thương trên thập giá (Lc 1:26-38.45; Ga 19:25-27).
Cám
dỗ và thử thách là những dịp để con
người tại thế siêu vượt trên chính ḿnh,
để con người là tinh thần hơn, nên thánh và
thuộc trọn về Chúa hơn.
Đức
Giêsu chiến thắng cám dỗ, và như vậy chúng ta tin
tưởng rằng con người tại thế có
thể vượt thắng cám dỗ nếu con
người tin tưởng phó thác trong tay Thiên Chúa. Là con
người, không có nghĩa là buộc phải phạm
tội. Phạm tội hay không, tùy con người tự
do: con người có thể không phạm tội.
Để
con người được cứu độ, Ngôi
Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm chứng cho t́nh yêu,
hầu con người nhận biết Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng, để rồi yêu lại Thiên
Chúa.
Con
người khi tin nhận đức Giêsu là Thiên Chúa, th́
nhận ra t́nh yêu thương vô bờ của Thiên Chúa
đối với ḿnh. Rồi khi con người tin
nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, con
người có thể phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa
T́nh Yêu.
Cầu
nguyện là một cách để thông hiệp với Thiên
Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống thường ngày của con
người, để con người sống hạnh phúc
với Thiên Chúa.
Thiên Chúa
luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và có ư thức về
điều đó hay không. Thiên Chúa luôn nh́n xem tôi và can
thiệp vào đời tôi một cách kịp thời, v́ Ngài
luôn yêu thương tôi. “Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa
tôi sau... bàn tay của Ngài đặt trên tôi” (Tv 139:5).
Khi
cầu nguyện người ta cần ư thức Thiên Chúa
đang hiện diện và yêu thương ḿnh. Như
vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà vẫn luôn
ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́ tôi cũng
đang cầu nguyện và đang kết hiệp với
Thiên Chúa một cách nào đó.
Ư
thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong đời
sống thường ngày, không đ̣i chúng ta phải
ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày, chúng ta
vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng “Thiên
Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh.”
Thiên Chúa
nói với mỗi người chúng ta qua lương tâm
mỗi người, qua những biến cố xảy
tới với ḿnh trong đời, qua Lời Chúa trong Kinh
Thánh, v.v.
·
Chúa nói với tôi, tôi có
lắng nghe?
·
Thái độ đáp
trả của tôi với Lời Ngài như thế nào? Tôi
vâng phục, hay từ chối, hay lẩn tránh? Tôi có
sống theo Lời Chúa nói với tôi không?
Khi tôi
thấy con người của tôi dưới ánh sáng
Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những ǵ Thánh Thần soi
sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu tôi có những
bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với Chúa, để
Lời Chúa như gươm hai lưỡi phân tách (Hr 4:12),
để tôi được tinh sạch hơn (Ga 17:17) và
tự do hơn (Ga 8:32).
Có
nhiều người mong ước kết hiệp với
Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện. Đây là ao
ước chính đáng và tốt lành thánh thiện. Nhưng
làm sao có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu
nguyện?
Để
hiệp nhất với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện, đ̣i người đó luôn khao khát mong
ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng khao khát
ước mong, sẽ giúp người đó luôn kết
hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống thường
ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa ngay cả khi
điều đó trái ư ḿnh, và nếu được như
vậy, sẽ giúp người đó kết hiệp
với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện.
Có
người cho rằng họ đă đạt đến
mức kết hiệp với Thiên Chúa cách rất
đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng trong
cuộc sống thực tế cho thấy người
đó rất khó sống với người khác, và họ
thường “khá kiêu ngạo!” Thánh Inhaxiô lưu ư một
số anh em Ḍng Tên: “cầu nguyện lâu giờ mà không có
tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho
người ta thêm cứng đầu.”
Để
có thể kết hợp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện, người ta cần phải liên lỉ kết
hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Họ
phải luôn từ bỏ ư riêng để vâng phục Thánh Ư
Thiên Chúa, để yêu thương và chấp nhận anh em,
để thông cảm với những giới hạn
của anh em và những trái ư từ bên ngoài đưa
tới. Một người cho rằng ḿnh đă có thể
kết hiệp dễ dàng với Thiên Chúa trong cầu
nguyện mà không có đời sống từ bỏ và yêu thương,
e rằng đó là người “ảo tưởng,” và
chưa biết ḿnh cách sâu xa và đích thực.
Để
kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện, cần kết hiệp với Thiên Chúa trong
suốt ngày sống. Sống đời sống “từ
bỏ” qua yêu mến đức khó nghèo và sẵn sàng
chịu sỉ nhục và khinh chê v́ ChúaGiêsu Kitô, chấp
nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách khác,
cuộc sống “đồng h́nh đồng dạng”
với Đức Giêsu trong tư tưởng, lời nói và
hành động, sẽ giúp người đó kết
hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ cầu
nguyện.
Suy nghĩ, và ngay cả suy
nghĩ về những sự thiêng liêng và thần học,
cũng chưa là cầu nguyện.
Cầu nguyện là nói
chuyện, thân thưa hoặc tâm sự với Thiên Chúa.
Nếu một suy nghĩ giúp ḿnh tâm sự thân thưa
với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ đó cũng thuộc về
cầu nguyện; chẳng hạn, sau một suy nghĩ,
một người có thể thấy một ánh sáng nào
đó, và điều này giúp họ tạ ơn Thiên Chúa hay
nói chuyện với Thiên Chúa hay nài xin Thiên Chúa điều ǵ
đó, th́ suy nghĩ đó cũng là cầu nguyện.
Điểm chính yếu
của cầu nguyện không là có nhiều ư tưởng
phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái độ của ḿnh
đối với Thiên Chúa.
Xét
gẫm là lượng giá giờ cầu nguyện, nhằm
giúp ḿnh thấy được những ơn lành đă
nhận lănh trong giờ cầu nguyện để tạ
ơn Chúa, và biết được những “nguyên nhân
nơi chính ḿnh” đă làm cho giờ cầu nguyện không
được tốt đẹp, để sửa
đổi.
Thiên Chúa muốn con
người sống b́nh an hạnh phúc, không chỉ ở
đời sau nhưng c̣n ngay cả ở đời này
nữa. Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an hạnh
phúc trong mọi thời điểm của cuộc sống,
và đặc biệt trong giờ cầu nguyện. Có
thể nói, t́nh trạng “an ủi thiêng liêng” là t́nh trạng
b́nh thường trong đời sống cầu nguyện;
nghĩa là, trong và sau cầu nguyện, con người
được b́nh an hơn, được thư thái và
hạnh phúc hơn, và thấy tin tưởng và trông cậy
cùng yêu mến Thiên Chúa hơn.
Thiên Chúa muốn con
người sống b́nh an hạnh phúc, nhưng ác quỷ-
kẻ từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa và chống lại Thiên
Chúa- muốn con người về phe nó chống lại
Thiên Chúa, nên t́m mọi cách ngăn cản con người
sống b́nh an và hạnh phúc với Thiên Chúa.
Thiên Chúa
muốn người đang ở trong t́nh trạng tội
trở về với Ngài, Ngài luôn hành động trong thâm
sâu tâm hồn mỗi người để làm họ
trở về với Ngài, qua tiếng nói của
lương tâm và qua những dấu chỉ hữu h́nh.
Thần
dữ hành động ngược lại. Nó t́m mọi cách
để người đó ở lại trong tội,
chẳng hạn bằng gợi lên những h́nh ảnh gây
vui thú giác quan, v.v.
Thiên Chúa
vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi người, để
họ tiến tới hơn trên đường phụng
sự Chúa. Các thần lành cũng trợ giúp, để con
người cảm nhận b́nh an và hạnh phúc, để
họ vui tiến trên đường thiêng liêng.
Thần
dữ t́m mọi cách và mọi lư do “ngụy biện”
để ngăn cản con người tiến tới,
gây bất an và xáo động nơi tâm hồn con
người.
Sau khi cầu nguyện,
người cầu nguyện dùng một thời gian
ngắn để xét gẫm, xem giờ cầu nguyện
của ḿnh thế nào! Nếu không tốt[12] hoặc không tốt lắm, th́ đâu là nguyên do? Và
một khi đă nhận ra th́ cố gắng sửa
đổi (chính ḿnh), để giờ cầu nguyện
tiếp sau được tốt đẹp hơn.
Nếu t́m đúng nguyên do và
được chỉnh đốn, th́ giờ cầu
nguyện tiếp sau sẽ tốt đẹp hơn. Có
thể nhờ người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng
nhận định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh
nghiệm xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh
t́m được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện
không được, cách chính xác và chắc chắn hơn.
Có thể do ḿnh thiếu
quảng đại với Chúa trong giờ cầu
nguyện hay trong cả ngày sống, mà ḿnh cầu nguyện
không được tốt.
Nếu ḿnh không cố
gắng tập trung để cầu nguyện, hoặc
nếu không xua đuổi ngay các chia trí đến trong
giờ cầu nguyện, không đặt Thiên Chúa lên trên
hết, th́ cũng khó cầu nguyện “tốt.”
Nếu trong ngày ḿnh không hy
sinh và kết hiệp với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng
khó cầu nguyện. Để dễ dàng cầu nguyện,
con người cần luôn kết hiệp với Thiên Chúa
trong suốt ngày sống.
Có
thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào đó, mà ḿnh
cầu nguyện không được “tốt.”
Khi ta c̣n
đặt một tạo vật nào trên hoặc bằng
Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́ cũng khó cầu
nguyện. Như vậy nếu ḿnh cầu nguyện không
được, hăy xem ḿnh có cố gắng quảng
đại hết sức để cầu nguyện
chưa; nếu đă cố gắng “hết sức”
rồi mà vẫn cầu nguyện không được, th́
xem ḿnh c̣n quyến luyến điều ǵ cách lệch
lạc không, và khi nhận ra th́ hăy quảng đại
để chỉnh đốn lại.
Một
người có thể không cầu nguyện
được, v́ họ nhận thức sai lầm: họ
tưởng rằng cầu nguyện được hay không
là do sức con người. V́ vậy, Thiên Chúa có thể
để họ cầu nguyện không được,
nhằm giúp họ nhận ra một sự thật:
“cầu nguyện được, là một ơn Thiên Chúa
ban cho con người.”
Một người có
thể bị sầu khổ thiêng liêng mà không phải do
lỗi của họ (LT 322b).
Nếu ḿnh cầu
nguyện không được, bị sầu khổ thiêng
liêng, mà không tại lỗi ḿnh, th́ hăy kiên tŕ và quảng
đại. Lúc đó chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện
không được tốt lắm, nhưng khách quan th́
vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên Chúa đang tôi luyện ḿnh,
Ngài tập cho ḿnh đến với Ngài v́ chính Ngài chứ
không phải v́ ḿnh được an ủi; tuy chủ quan
ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được
sốt mến, nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng
thành hơn về đức tin đức cậy và
đức mến.
Có thể xảy ra là trong
một thời điểm một người cảm
thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều về một
điều ǵ đó, và thường đó là điểm
yếu của ḿnh, th́ người đó nên xét ḿnh
để t́m coi nguyên nhân tại sao.
Có
thể bởi v́ ḿnh thiếu dứt khoát trong việc
chống trả với chước cám dỗ, và như
vậy t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa đă
bị giảm sút.
Trong
trường hợp này hăy xin lỗi Chúa, và bắt
đầu sống quảng đại hơn với Chúa
trong từng giây phút sống.
Khi c̣n
sống trong thân xác, chúng ta c̣n bị cám dỗ và thử
thách; những cám dỗ đó có thể là những dịp
để chúng ta diễn tả t́nh yêu của ḿnh với
Thiên Chúa cách cụ thể hơn.
Không ai
được miễn trừ khỏi bị cám dỗ và
thử thách:
·
Đức Giêsu không
chỉ bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài
c̣n bị thách thức để làm những phép lạ
từ trời, bị cám dỗ và thử thách trong
vườn dầu (Mc 14:32tt), bị thử thách cả
về đức tin ngay trên thập giá (Mc 15:34);
·
Đức Maria không
chỉ thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền
tin (Lc 1:26tt), nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt
cuộc đời, đặc biệt trong biến cố
Mẹ đứng dưới chân thập giá;
·
Thánh Phaolô đă ba
lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt Ngài,
nhưng Ngài được trả lời “ơn Ta
đủ cho con” (2Cr 12:7-9).
Thử
thách và cám dỗ trong cuộc sống tại thế, là
thuộc thân phận làm người của chúng ta; chúng ta
hăy chấp nhận, và can đảm đương
đầu để vượt qua. Chúa không miễn
trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ, nhưng Chúa
bảo đảm rằng nếu chúng ta tin tưởng và
cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ chiến thắng:
“Các con hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian” (Ga 16:33).
Xét ḿnh
để nhận ra những hồng ân Thiên Chúa đă ban
cho ḿnh, cũng như những lỗi lầm ḿnh đă
phạm, để tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa,
để sống tốt hơn.
Xét ḿnh là
việc thiêng liêng rất quan trọng, nếu muốn
tiến bộ không ngừng trong đời sống thiêng
liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày hơn.
Theo thói
quen người ta vẫn cho rằng xét ḿnh chỉ nhằm
nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm
của ḿnh để ăn năn sám hối; tuy nhiên
việc nhận ra những
ơn lành Thiên Chúa ban cho ḿnh trong đời sống
thường ngày rất quan trọng, để luôn
sống trong ư thức và tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương
và hiện diện với ḿnh.
Nhận
ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh, là dấu chỉ
của một đời sống thiết thân với Thiên
Chúa. Càng nhận biết
hồng ân Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên Chúa hơn.
Nhận
ra những lỗi lầm của ḿnh để sửa
đổi, là điều chính yếu của việc xét
ḿnh.
Trong xét
ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra những lỗi
lầm khuyết điểm của ḿnh, nhưng c̣n
nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn của ḿnh,
để có thể tránh được những lỗi
phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi làm điều
này chứ không phải điều kia, ngay cả khi
điều tôi làm chưa phải là tội? Cái tàng ẩn
hay khuynh chiều đằng sau hành động đó là ǵ?
Tại
sao tôi hay bị cám dỗ về điều này? Tại sao
tôi bị cám dỗ về điều này dai dẳng và mănh
liệt như vậy? Phải chăng v́ tôi chưa có thái
độ hay lập trường dứt khoát với
điều này (với khuynh chiều này, với tội
này)? Hay tại v́ t́nh yêu của tôi với Thiên Chúa đă
bị phai lạt và giảm sút? Tôi cần nhận ra
những điều đó, để có quyết
định và thái độ cụ thể nhằm tiến
bộ hơn nữa trong đời sống thiêng liêng.
Nếu
có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́ sau khi đă
nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban và những lỗi
lầm ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên Chúa, chúng ta nên dùng
thời gian c̣n lại để nói chuyện thân thưa
với Thiên Chúa dựa vào những hồng ân và những
lỗi lầm của ḿnh. Đây là những phút cầu
nguyện dựa vào đời sống ngày qua của ḿnh.
Thánh Inhaxiô đă cho in quyển Linh Thao vào
năm 1548 với phép của đức giáo hoàng Phao-lô III,
và quyển sách nhỏ này đă là thủ bản của
những người hướng dẫn Linh Thao và
đặc biệt là của Giêsu-hữu.
Kinh nghiệm với Thiên Chúa qua Linh Thao tuy
giống nhau, nhưng mỗi người lănh nhận theo
cách thức của ḿnh. Cũng tương tự như
vậy, khi giúp Linh Thao, mỗi người hướng
dẫn theo cách thức và kinh nghiệm với Thiên Chúa
của ḿnh, và tôn trọng Thánh Thần tác động
nơi mỗi người làm Linh Thao.
Dưới đây là những bài gợi ư giúp
cầu nguyện cho một khóa Linh Thao 10 ngày. Cũng
cần biết, những người giúp Linh Thao khác, và ngay
cả tác giả viết điều này, có thể thay
đổi những đoạn Kinh Thánh được
dùng, cũng như triển khai những gợi ư theo như
người đó thấy tốt nhất để làm vinh
danh Thiên Chúa hơn.
Theo thánh Inhaxiô,
Linh Thao gồm bốn tuần. Tuần thứ nhất
cầu nguyện về tội, tuần thứ hai về
cuộc đời Chúa Giêsu cho tới ngày Ngài
được rước vào Giêrusalem, tuần thứ ba
về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, và tuần
thứ tư về Chúa Giêsu Phục Sinh. Tuy vậy, vẫn
c̣n một số bài cầu nguyện khác, như:
·
Lời mời của
Vua Hằng Sống;
·
Các bài cầu nguyện,
tạm gọi là ngày Inhaxiô;
·
Chiêm niệm để
được t́nh yêu;
·
Ngoài ra c̣n có những
điểm phải suy nghĩ được gọi là
“Nguyên Lư và Nền Tảng” ở khởi đầu của
Linh Thao, và các chỉ dẫn để làm việc lựa
chọn ở cuối tuần thứ hai.
Tiến tŕnh Linh Thao được
tŕnh bày dưới đây theo thứ tự sau:
nếu không tính Nguyên Lư và Nền Tảng,
các bài cầu nguyện về tội và ḷng nhân từ tha
thứ của Thiên Chúa, thuộc tuần nhất;
các bài cầu nguyện về Lời Mời của Vua
Hằng Sống, về cuộc đời ẩn dật,
về cuộc đời công khai của Chúa, các bài cầu
nguyện của ngày Inhă, việc lựa chọn,
được coi thuộc tuần hai;
các bài cầu nguyện về cuộc khổ nạn và
phục sinh của đức Giêsu, thuộc tuần ba và
bốn;
bài “Chiêm niệm để được t́nh yêu”
thường là bài cầu nguyện cuối cùng của Linh
Thao.
Theo
nhận định của các nhà nghiên cứu về Linh
Thao, “Nguyên Lư và Nền Tảng” không có nguồn gốc
tại Manresa, nó h́nh thành sau, khi thánh Inhaxiô học tại
Paris. Tuy vậy “Nguyên Lư và Nền Tảng” vẫn thuộc
Linh Thao, v́ nó là cái nh́n tổng quát về vũ trụ, con
người và Thiên Chúa, và v́ nó là cái nh́n nền tảng
để làm Linh Thao.
Mỗi
tuần của Linh Thao, và cụ thể là mỗi bài
cầu nguyện trong Linh Thao đều có mục đích và
yêu cầu cần đạt được. Chính v́
vậy, một người khi làm Linh Thao, cần cố
gắng cầu nguyện hết sức để
“đạt yêu cầu của từng bài,” như thể
không hy vọng đạt được ǵ khác ở
những bài tiếp sau (LT 11).
Vậy
đâu là mục đích và yêu cầu khi suy nghĩ và cầu
nguyện về “Nguyên Lư và Nền Tảng?”
Những
bài cầu nguyện trong phần này nhằm giúp cho thao viên
có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, con người
và vũ trụ.
Thiên Chúa
là nguyên lư và nền tảng của tất cả, Ngài yêu
thương con người, Ngài tạo dựng vũ
trụ vật chất để phục vụ con
người, để con người dùng chúng như
phương tiện đến với Thiên Chúa.
Làm sao
để sau những bài cầu nguyện này, thao viên
cảm thấy b́nh tâm trước mọi tạo vật.
B́nh tâm
không đơn thuần là dửng dưng trước
mọi sự, nhưng chủ yếu là chọn Thiên Chúa trên tất cả. Bất cứ điều nào làm vinh danh Thiên Chúa
hơn th́ ḿnh chọn; c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang
nhau, th́ ḿnh không ham muốn điều này hơn
điều kia; chẳng hạn, nếu làm vinh danh Chúa ngang
nhau, th́ tôi không chọn giầu có hơn nghèo hèn, danh
vọng hơn sỉ nhục, sống lâu hơn chết
yểu.
Chọn Thiên Chúa trên tất cả,
chọn làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là
điểm chính yếu của b́nh tâm. Làm sao sau khi cầu nguyện
những bài về Nguyên Lư và Nền Tảng, thao viên cảm
thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và những ǵ
thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ khác trong cuộc
sống của ḿnh.
Con
người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a);
Con
người là ai (Tv 8);
Thiên Chúa
thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);
Các
bạn t́m ǵ (Ga 1:35-51);
Này Ta
đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);
Thiên Chúa
yêu tôi vô cùng (Ga 17:23.20;3:16; Ga 13:1;15:9.13; Ga 14:16;15:26; Ga 14:23);
Chương
tŕnh “Giêsu Kitô” (Ep 1:3-14);
Nếu
Thiên Chúa yêu tôi (Rm 8:31-39);
Thiên Chúa
Quan Pḥng (Mt 6:25-34);
Yêu Chúa
yêu người (Mc 12:28-34);
B́nh Tâm (LT
23).
Cầu nguyện là gặp gỡ, nói chuyện, thân
thưa, than thở tâm sự với Thiên Chúa.
Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn
như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm;
nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta
gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.
Đứng trước một biến cố hay
một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và
nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.
Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh,
để suy gẫm như cầu nguyện:
·
Trước hết,
chúng ta xem Thiên Chúa hay đức Giêsu, qua tác giả Kinh Thánh,
muốn dạy ǵ trong đoạn Kinh Thánh đó;
·
Sau đó, xem chúng ta
đă sống điều được dạy đó
như thế nào;
·
Và cuối cùng chúng ta tâm
sự thân thưa với Thiên Chúa.
Theo thánh Inhaxiô,
để việc cầu nguyện được tiến
bộ, chúng ta cần lượng giá giờ cầu
nguyện; việc lượng giá này được
gọi là xét gẫm (LT 77).
·
Tôi có được
b́nh an thư thái không?
·
Tôi có được
thêm ḷng tin cậy yêu mến Thiên Chúa không? Có cảm
nghiệm Thiên Chúa gần gũi với ḿnh không?
·
Tôi có nhận
được “ơn xin” của bài cầu nguyện không?[14]
·
Tôi có được
đánh động hay được một ánh sáng ǵ
đặc biệt không?
Câu hỏi này giúp tôi có nhận định tổng quát
về giờ cầu nguyện. Nếu không được
hài ḷng lắm, th́ phải
t́m nguyên do và cải thiện, để giờ cầu
nguyện tiếp sau được tốt hơn.
·
Tại tôi thiếu
cố gắng tập trung cầm trí cầu nguyện?
·
Tôi không mau mắn xua
đuổi chia trí ngay khi tôi ư thức?
·
Phải chăng tại
tôi chưa cố gắng giữ ngũ quan và tâm trí, và tôi
chưa luôn sống với ư thức Thiên Chúa đang
hiện diện với tôi và yêu thương tôi trong
suốt cả ngày sống?
·
Tôi c̣n một
vướng bận hay bất ḥa nào đó với tha nhân mà
chưa được giải quyết không?
·
Có một quyến
luyến lệch lạc nào đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ
không?
Hay tại tôi chưa thật
sự mong ước khao khát t́m gặp Chúa, và sống
với Ngài?
Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân thưa
với Chúa về thái độ cầu nguyện của
ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong giờ
cầu nguyện, và về những trễ nải thiếu
quảng đại với Chúa trong giờ cầu
nguyện hay trong suốt ngày sống.
Trong chủ đề này,
cố gắng để được ơn b́nh tâm.
Ơn này chỉ có, khi chúng ta nhận thức đúng
đắn về Thiên Chúa và tạo vật, cũng như
xác định rơ chỗ đứng tuyệt đối
của Thiên Chúa trong đời ḿnh, và tạo vật
chỉ là phương tiện để ḿnh đến
với Thiên Chúa.
Nếu thấy ḿnh chưa
được ơn b́nh tâm, cần cầu nguyện
tiếp tục về chủ đề này trước khi
qua chủ đề tiếp sau.
Khi cầu nguyện một
đề tài, hăy làm những bước cần thiết,
rồi để tùy Thánh Thần hướng dẫn chúng
ta. Chúa Thánh Thần hoàn toàn tự do dẫn chúng ta đi
đâu tùy ư Ngài. Chỉ cần chúng ta luôn vâng phục Ngài và
sẵn sàng làm những ǵ Ngài muốn, và như vậy chúng
ta có thể được những ơn mà chúng ta không
ngờ. Phải luôn luôn ư thức rằng Thánh Thần là
vị Hướng Dẫn và người Thầy duy
nhất và tuyệt vời của chúng ta.
Người
ta có thể được an ủi (LT 316), hay sầu
khổ (LT 317), hay cảm thấy dửng dưng trong
giờ cầu nguyện (LT 11).
Nếu
người tập Linh Thao không cảm thấy ǵ (dửng
dưng), th́ người hướng dẫn phải
hỏi xem họ đă làm giờ cầu nguyện thế
nào, họ có giữ các điều phụ thêm không?
Thường thường, đó là nguyên do làm họ không
cảm thấy ǵ trong giờ cầu nguyện.
Trong
giờ cầu nguyện, b́nh
thường chúng ta được an ủi, nghĩa là
được b́nh an thư thái, cảm thấy thêm ḷng tin
cậy phó thác hơn nơi Thiên Chúa, hoặc cảm
thấy yêu mến Thiên Chúa hơn (LT 316), và cũng có
thể được thêm ơn mà ḿnh đă xin trong giờ
cầu nguyện. Nếu chúng ta nhận thấy ḿnh
được an ủi, hăy tạ ơn Thiên Chúa.
Cũng
có thể chúng ta thấy ḿnh bị sầu khổ thiêng
liêng, nghĩa là ḿnh cảm thấy chán nản lười
biếng trong việc thiêng liêng và cầu nguyện, bị
cám dỗ về những ǵ thấp hèn và phàm tục (LT 317).
Trong trường hợp này, chúng ta phải t́m nguyên do xem
tại sao lại như vậy (LT 322); cần cố
gắng t́m cho ra mà sửa chữa, để hy vọng
giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt
hơn.
Những
nguyên nhân thường ở tại nơi chính ḿnh, do ḿnh
thiếu quảng đại trong việc tập trung
để cầu nguyện hay chưa cố gắng
giữ ngũ quan và xua đuổi những tư
tưởng ngoại lai để luôn kết hợp
với Thiên Chúa liên lỉ, hay tại ḿnh chưa dứt
khoát với một lệch lạc nào đó nơi ḿnh.
Cũng cần so sánh các
lần cầu nguyện để biết ḿnh tiến
bộ hay thụt lùi, và nguyên do tại sao, ngơ hầu ḿnh
sửa đổi hay phát huy, để mỗi ngày một
tiến bộ hơn.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện
diện tại nơi đức Giêsu ở, khi Ngài mời
hai môn đồ tới xem, có lẽ dưới một lùm
cây hay trong một hốc đá.
Ơn xin
Xin khao khát và t́m gặp Chúa; xin
cảm nghiệm được Chúa đặc biệt
trong cuộc Linh Thao này.
Điểm
Hai môn đệ này ao ước
và khao khát ǵ, mà đă bỏ công việc ḿnh đang làm,
bỏ người thân yêu tại nhà, để tới làm
môn đệ của Gioan Tẩy Giả?
Hai môn đệ này khao khát và t́m
kiếm ǵ, mà đă bỏ thầy cũ của ḿnh là Gioan
Tẩy Giả, để đi theo Đức Giêsu, một
khi nghe Gioan giới thiệu Đức Giêsu: “Đây Chiên
Thiên Chúa, đây là Đấng gánh tội trần gian?”
Hai môn đệ này t́m kiếm ǵ,
mà Gioan Tẩy Giả không đáp ứng được mong
ước của họ?
Có những cuộc gặp
gỡ, dù mới lần đầu tiên cũng đă gây
ấn tượng, đến độ người ta
không quên:
“Oâi cái phút ban
đầu lưu luyến ấy,
ngàn năm hầu dễ mấy ai quên!.”
Hai môn đồ đă đi theo
đức Giêsu, và họ đă nhớ “như in” cuộc
gặp gỡ này: “lúc đó vào khoảng giờ thứ
mười.”
Sau cuộc gặp gỡ này
với đức Giêsu, Anrê đă giới thiệu em ḿnh là
Simon với đức Giêsu, và đức Giêsu đă
đổi tên cho Simon thành Kêpha. Đổi tên là đổi
vận mạng, đổi đời một người.
Đức Giêsu đă gặp
Philip, và Philip đă được biến đổi.
Philip gặp Nathanael, và thuyết
phục Nathanael tới gặp đức Giêsu dù Nathanael có
thành kiến về Nazaret; rồi khi Nathanael gặp
đức Giêsu, th́ ông cũng được biến
đổi.
Gặp gỡ đức Giêsu, mà
không cố t́nh chống lại tác động của Thánh
Thần, th́ sẽ được biến đổi.
Trong đời sống đă qua,
tôi đă miệt mài t́m kiếm điều ǵ, cái ǵ?[15]
Hiện tại tôi mong ước
khao khát và t́m kiếm điều ǵ?
Tôi mong ước
khao khát điều ǵ trong cuộc Linh Thao này?
Tôi có mong ước khao khát được gặp Thiên Chúa
không?
hay tôi đi t́m kiếm tư tưởng mới về
Thiên Chúa, hay t́m biết một cách thức cầu
nguyện, hay t́m xem có cái ǵ “trong đó” mà nhiều
người muốn làm Linh Thao như vậy?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa về
những khát vọng ao ước của ḿnh, xin Ngài
chỉnh đốn nếu những khát vọng đó
chưa trong sáng lắm, và xin Ngài làm bùng cháy nơi ḿnh khát
vọng ao ước khao khát Ngài.
Khung cảnh
Như thể tôi đang ở
trước ngai ṭa Thiên Chúa, cùng đức Maria và toàn
thể triều đ́nh thiên quốc.
Ơn xin
Xin cho tôi không
chỉ biết nhưng c̣n cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu
thương tôi trong từng biến cố của
đời tôi:
tôi có trong chương tŕnh của Ngài từ đời
đời,
Ngài luôn can thiệp vào đời tôi để tôi được
như hôm nay.
Điểm
Trong bài cầu nguyện này, chúng
ta cứ đọc chậm chậm Thánh Vịnh, rồi
thấy chỗ nào ḿnh thích th́ dừng lại suy nghĩ, và
nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa như ḷng ḿnh
muốn.
Thiên Chúa ḍ xét con và Ngài biết,
biết cả khi con đứng con ngồi, con nghĩ
tưởng ǵ, Ngài thấu suốt từ xa.
Thiên Chúa không
chỉ thấy ḿnh, nhưng Ngài ḍ xét ḿnh, Ngài biết:
từng tư thế, cử chỉ, thái độ của
ḿnh;
từng lời nói của ḿnh;
tư tưởng thâm sâu và những toan tính của ḿnh.
“Bàn tay của Ngài, Ngài đặt
trên tôi,” “Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau,”
“Ngài bao bọc tôi cả sau lẫn trước.” Thiên Chúa
luôn can thiệp vào đời tôi để ǵn giữ tôi
trong t́nh yêu Ngài cho đến hôm nay, v́ Ngài rất yêu tôi.
Đi măi đâu cho thoát thần
trí Ngài,
Lẩn nơi nào cho khuất
được Thánh Nhan?
Tác giả thánh vịnh
dường như đă có một lúc nào đó muốn
trốn Thiên Chúa, nhưng rồi trốn không
được! Dù lên trời cũng có Chúa, xuống âm ti
ḷng đất cũng lại gặp Ngài, sang đông
cũng gặp sang tây cũng gặp, và ngay cả trong
đêm tối âm u Thiên Chúa cũng biết hết, không ǵ che
dấu được Ngài.
Không ǵ trong đời ḿnh có
thể che dấu được Thiên Chúa, không ǵ về ḿnh
mà Thiên Chúa lại không biết.
Rồi một lúc nào đó tác
giả thánh vịnh chợt ngộ ra:
Tạng phủ con, chính Ngài đă
cấu tạo,
Dệt tấm h́nh hài trong dạ
mẫu thân con.
Tác giả thánh vịnh nhận ra
ḿnh là tạo vật của Thiên Chúa, là công tŕnh tay Ngài sáng
tạo. Cha mẹ sinh ra ḿnh nhưng chính Thiên Chúa mới là
Đấng tạo thành ḿnh, mới là Cha đích thực
của ḿnh. Bởi v́ ḿnh được sinh ra, đâu
phải hoàn toàn do ư cha mẹ ḿnh muốn? Có thể cha
mẹ ḿnh muốn sinh ra một cô con gái nhưng lại sinh
ra một cậu con trai, có thể cha mẹ tôi muốn sinh
ra một cậu con trai nhưng lại sinh ra một cô con
gái; có bao cặp vợ chồng không muốn sinh con nữa
nhưng lại vẫn có con, c̣n có bao cặp vợ
chồng chỉ ao ước có một mụn con nhưng
không thể có!
Thiên Chúa tạo dựng nên ḿnh,
nên Ngài yêu thương ḿnh, Ngài để ư tới ḿnh
từng chút xíu, không ǵ thâm sâu kín ẩn nơi ḿnh mà Thiên Chúa
không biết. Hơn nữa, Ngài c̣n có cả một
chương tŕnh tuyệt diệu về tôi, để yêu
thương tôi. Tại sao tôi lại sợ Chúa và muốn
trốn Chúa?
Khi đă nhận chân ra sự
thật, tác giả thánh vịnh không c̣n muốn trốn Chúa
nữa; Lúc này thay v́ muốn trốn, tác giả lại
muốn và xin Thiên Chúa ḍ xét ḿnh, để ǵn giữ ḿnh! Bây
giờ, thay v́ sợ và muốn xa Chúa, tác giả lại
muốn được ở gần Chúa:
Lạy Chúa, xin ḍ
xét để biết rơ ḷng con,
Xin thử con để biết những điều con
nghĩ.
Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác,
th́ dẫn con trở lại chính lộ ngàn đời.
Tâm sự
Hăy nói chuyện với Thiên Chúa
như ḿnh cảm nhận nơi ḷng ḿnh về Thiên Chúa; Ngài
là Đấng luôn yêu thương và chăm sóc ḿnh, từ
chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, từ lúc
ḿnh c̣n là bào thai nằm trong dạ mẹ cho đến lúc
ḿnh da mồi tóc bạc, và từ khi được sinh ra
cho tới lúc xuống mồ.
Xin Chúa hăy làm những ǵ Chúa
muốn làm nơi con, v́ những ǵ Chúa làm cho con đều
rất tốt đẹp. Con tin điều đó, và con
biết đó là sự thật.
Khung cảnh
Như ḿnh đang hiện
diện trên đồi Canvê buổi chiều năm
ấy,nh́n Chúa Giêsu chết thê thảm trên thập giá:
người rũ xuống, trần trụi, thân thể
không chỗ nào lành, gương mặt biến dạng v́
bị đánh, đầy vết máu.
Ơn xin
Xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa
yêu thương tôi vô cùng, yêu tôi đến độ ban
tặng tôi điều qúy nhất với Thiên Chúa là Con
Một của Ngài, đến độ Ngài luôn ở
với tôi.
Điểm
Có t́nh yêu nào diễn tả và so
sánh được t́nh yêu của Thiên Chúa, cụ thể là
t́nh yêu giữa Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu? Chúa Cha yêu Chúa Giêsu vô
cùng!
Nhờ Lời Chúa Giêsu, tôi
biết Thiên Chúa Cha yêu tôi vô cùng, Ngài yêu tôi như yêu Chúa Giêsu.
“Cha yêu chúng như Cha yêu Con” (Ga 17:23). “Chúng” ở đây là
các tông đồ, và cũng là những người nhờ
các tông đồ mà tin vào Chúa Giêsu (Ga 17:20).
Chúa Cha yêu thế gian, và cụ
thể là yêu tôi đến độ ban Con của
Người cho thế gian: “Thiên Chúa đă yêu thế gian
đến độ ban Con của Người cho thế
gian...” (Ga 3:16). Tại sao Thiên Chúa lại tin con người
đến độ trao Con Cưng của Người cho
con người? Và họ đă giết Ngài! Tại sao Thiên
Chúa tin con người như vậy? Phải chăng v́
Người yêu con người?
Trong bữa tiệc vượt
qua cuối cùng với các tông đồ, thánh sử nói:
“Đức Giêsu, đă đến giờ Ngài qua khỏi
thế gian mà đến cùng Cha, đă yêu những kẻ
thuộc về Người c̣n trong thế gian, th́ Ngài yêu
thương họ đến cùng” (Ga 13:1).
Chúa Giêsu yêu tôi vô cùng, yêu
đến độ hiến mạng sống cho tôi: “Không
có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người hiến
mạng sống v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15:13).
Chúa Giêsu yêu tôi như Chúa Cha yêu
Chúa Giêsu, và không những thế, Ngài xin tôi hăy yêu Ngài, hăy
ở lại trong t́nh yêu của Ngài: “Như Cha đă yêu
mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hăy
ở lại trong t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:9).
Yêu ai, th́ cho tặng phẩm qúy
nhất.
Qúy nhất với Chúa Cha và Chúa Giêsu
là Thánh Thần. Thế mà Chúa Cha và Chúa Giêsu yêu con
người đến độ ban Thánh Thần cho con
người (Ga 14:16; 15:26).
Yêu ai, th́ muốn luôn sống bên
người đó. Thánh Thần yêu con người, nên Ngài
ở lại măi với con người (Ga 14:16).
Và không chỉ Thánh Thần
muốn ở măi với con người, cả Chúa Cha và
Chúa Giêsu cũng muốn ở măi với con người (Ga 14:23).
Điều đó cho thấy cả Ba Ngôi Thiên Chúa yêu
thương con người vô cùng.
Tâm sự
Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm
rơ Thiên Chúa yêu chúng ta vô cùng, để một khi cảm
nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa, chúng ta sống b́nh an và hạnh
phúc hơn. Thân thưa với Chúa v́ chúng ta đă không yêu Chúa
như Chúa đáng được yêu.
Khung cảnh
Như thể ḿnh ngồi chung hoà
lẫn với dân chúng và các môn đồ trên một
ngọn đồi, lắng nghe Chúa giảng dạy.
Ơn xin
Khao khát xin ơn xác tín và cảm
nhận Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để ḿnh dám
quảng đại phó thác đời ḿnh cho Thiên Chúa.
Điểm
Đức Giêsu nói với
người thời đó: “chớ lo cho mạng sống
ḿnh, ăn ǵ mặc ǵ ....” Chim trời Thiên Chúa c̣n nuôi, hoa
ngoài đồng Thiên Chúa c̣n mặc đẹp cho, huống
hồ là con người, không lẽ Thiên Chúa không nuôi và không
cho mặc sao? Quân yếu tin? (Mt 6:30).
Lo lắng ăn ǵ mặc ǵ,
đó là chuyện b́nh thường, người ngoại
cũng lo như vậy, và Thiên Chúa cũng biết chúng ta
cần những điều đó (Mt 6:32).
Nếu chúng ta lo quá về cơm ăn áo mặc, nghĩa là, hàm
chứa chúng ta muốn định đoạt tất
cả, và như vậy phải chăng chúng ta không tin
tưởng rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh?
Thiên Chúa là cùng đích và ư nghĩa
của con người. Chỉ có một điều
cần tuyệt đối đối với con
người, đó là Thiên Chúa và tương quan với Ngài.
Chúng ta có khao khát Thiên Chúa không?
Chúng ta có mong ước và cố gắng để nên thánh
không? Một ngày chúng ta dùng bao nhiêu giờ để t́m
kiếm Thiên Chúa và những chuyện thuộc về Chúa?
Khi chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, tham dự
hoặc cử hành thánh lễ, chúng ta có tham dự và cử
hành với trọn cả con người không, hay chúng ta
chỉ hiện diện ở đó với thân xác c̣n tâm trí
tinh thần th́ ở chỗ khác?
Nếu một người là tu
sĩ, nếu họ không phải lo về cơm ăn áo
mặc, mà họ cũng không lo t́m kiếm Thiên Chúa và
những sự thuộc về Thiên Chúa, th́ cuộc
đời họ có ư nghĩa ǵ? th́ họ đi tu, sống
đời dâng hiến để làm ǵ? nếu như
vậy th́ c̣n tệ hơn cả một người ngoài
đời!
Chúa Giêsu trách người ta không
tin tưởng vào Thiên Chúa khi họ qúa lo về thân xác, khi
họ không chú ư và t́m kiếm điều quan trọng và
cần thiết. Tôi, ngày hôm nay, có phạm vào lỗi lầm
mà Chúa đă trách người xưa không?
Tôi thực sự đă không tin
tưởng vào Thiên Chúa nếu tôi đă không chấp
nhận:
·
con người của
tôi như hồng ân Chúa ban, với thân xác h́nh dáng dung
mạo, cũng như giới hạn về khả năng
thể lư hay tinh thần;
·
nguồn gốc của
tôi, thành phần gia đ́nh của tôi: ông bà cha mẹ anh
chị em và ngay cả họ hàng;
·
môi trường
sống như cộng đoàn ḍng tu, cộng đoàn giáo
xứ, địa phận, đất nước;
·
tôi là người,
với những thử thách và cám dỗ trong cuộc
sống.
Tâm sự
Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm
t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, để một khi
cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh, chúng ta có
thể phó thác tương lai đời ḿnh cho Thiên Chúa, và
như vậy chúng ta sẽ sống trong b́nh an hạnh phúc,
v́ được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.
Khung cảnh
Như thể ḿnh hiện
diện trong buổi chiều đó trên đồi Canvê, nh́n
Chúa chết thê thảm.
Ơn xin
Xin cho ḿnh ơn nhận rơ đâu
là giá trị đích thực của con người và
của đời người, ơn chọn Thiên Chúa trên
tất cả và có thái độ thanh thoát với tạo
vật.
Điểm
Con người được
sinh ra để làm ǵ? Đâu là cứu cánh của con
người? Tại sao con người phải đau
khổ nhiều như vậy?
Có những luận thuyết cho
rằng:
·
con người t́nh
cờ hiện hữu, đời sống con người
chẳng có ư nghĩa ǵ;
·
con người chỉ
là vật chất tiến hóa, chết là hết;
·
con người là tṛ
chơi của Tạo Hóa “Con Tạo đành hanh,” nếu làm
hài ḷng Ngài th́ hạnh phúc c̣n nếu làm mất ḷng Ngài th́
đau khổ.
Mặc khải Kitô giáo cho chúng ta
biết: Thiên Chúa tạo dựng con người để
con người được sống và sống hạnh
phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa. Thiên Chúa không hề
muốn con người đau khổ, đau khổ là do
con người mà ra!
Tôi có tin điều đă
được mặc khải không?
Con người được
tạo dựng cuối cùng. Thiên Chúa đă tạo dựng
vạn sự vạn vật để phục vụ con
người, nhằm giúp con người đến với
Thiên Chúa. Tiền bạc
danh vọng chức quyền, không làm con người
hạnh phúc! “Dù ai giầu ruộng sâu trái núi, đụn lúa
kho tiền, bất qúa cũng thủ tài chi lỗ.”
Thái độ của con
người phải như thế nào trong tương quan
với Thiên Chúa và tạo vật?
Nếu Thiên Chúa là cứu cánh và
cùng đích của con người, th́ con người
phải đặt Thiên Chúa lên trên hết, và phải
chọn những ǵ thuộc về Thiên Chúa ưu tiên trên
những sự khác: lấy Thiên Chúa và tương quan
với Ngài là ưu tiên một, luôn t́m kiếm và lấy ư
Thiên Chúa làm ư ḿnh.
Nếu tạo vật chỉ là
phương tiện, th́ ta chỉ được dùng
tạo vật trong mức độ nó giúp ta đến
với Thiên Chúa, và phải bỏ nó khi nó ngăn
đường cản lối. Như vậy, nếu
điều ǵ giúp tôi làm vinh danh Chúa hơn th́ tôi làm, c̣n
nếu điều ǵ “làm vinh danh Chúa” ngang nhau th́ sao cũng
được dù đó là nghèo khó hay giầu sang, bị sỉ
nhục khinh chê hay được trọng vọng vinh
dự, sống lâu hay chết yểu, thông minh hay ngu
dốt, v.v.!
B́nh tâm, không chỉ là không
muốn điều này hơn điều kia khi chúng làm vinh
danh Chúa ngang nhau, nhưng chủ
yếu là chọn Thiên Chúa và ư định của Ngài trên tất
cả ngay cả trong trường hợp những
điều đó trái ư ḿnh.
Tâm sự
Sau mỗi điểm, hăy nói
chuyện thân thưa với Chúa dựa theo hiện
trạng của ḿnh, xin Chúa cho ḿnh thấy rơ Chúa mới
đáng là tất cả của ḿnh, và tạo vật chỉ
là phương tiện, để ḿnh không qúa quyến
luyến nó và không bị lầm lẫn trong từng hành vi
chọn lựa của ḿnh trong cuộc sống mỗi ngày.
Khung cảnh
Như trong bài 21.
Ơn xin
Xin được ơn cảm
nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, nhờ
đó ḿnh b́nh tâm và tin tưởng phó thác đời ḿnh cho
Thiên Chúa, hầu được b́nh an thư thái hạnh
phúc.
Điểm
·
Dừng lại
những chỗ trong những bài trước ḿnh đă
cảm nghiệm được ít nhiều an ủi, t́nh
cảm thiêng liêng, hay hiểu biết, để cảm nghiệm
sâu hơn nữa;
·
Dừng lại
những chỗ trong những bài trước ḿnh đă
bị sầu khổ, để hiểu ḿnh hơn
Tâm sự
Nói với Chúa như ḿnh thấy
về ḿnh và những ơn ḿnh nhận được.
Những
bài cầu nguyện được chỉ dẫn kỹ
lưỡng đầu tiên trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô,
là những bài về tội: về ba tội, về
tội tôi, và về hỏa ngục.
Vào
thời gian khởi đầu giúp đỡ các linh
hồn, thánh Inhaxiô giúp Linh Thao cho riêng từng người
một, và tùy người tập Linh Thao đạt yêu
cầu của tuần thứ nhất mau hay chậm mà
người đó sẽ qua tuần thứ hai.
Tôi là ai?
Tôi là ai đối với Thiên Chúa và tha nhân? Mục đích
và yêu cầu của những bài cầu nguyện về
tội là ǵ? Như thế nào th́ được coi là
đạt yêu cầu của tuần thứ nhất này?
Tôi là
một tội nhân nhưng được Thiên Chúa yêu
thương vô cùng! Chúng ta sẽ xét về hai phương
diện: trí và tâm.
Làm sao
để mỗi người thấy sự xấu xa ác
hại của tội và nhận biết thực sự
rằng ḿnh là tội nhân.
Nhận
biết rơ về chính ḿnh và thân phận hèn yếu của
ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có người cho
rằng ḿnh không có tội, ḿnh chẳng phạm tội ǵ!
Có người cũng cho rằng ḿnh là một tội nhân,
nhưng ai mà không phạm tội, bản tính[16] con người mà?!
Nếu
người nào suy nghĩ như vậy, th́ họ sai
lầm! Tội là hành vi tự do của con người, tôi
cố t́nh làm điều tôi
thấy tôi không nên làm và không được phép làm.
Chính hành
vi tự do “cố t́nh làm điều tôi không
được phép làm,” đă làm biến dạng con
người tôi, khiến tôi không c̣n đẹp như
trước nữa, khiến tôi không c̣n dễ thương
và đáng yêu như trước nữa. Do phạm tội,
tôi đă làm mất phẩm giá con người ḿnh, và làm tôi
“xấu như qủy.”
Tội
không phải là thực tại ngoài ḿnh, nhưng do ḿnh mà ra,
là chọn lựa tự do của ḿnh. T́nh trạng tội
là hậu qủa chọn lựa cố
t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm thành.
Thiên Chúa
muốn con người luôn sống yêu thương,
để mỗi ngày một đẹp hơn, dễ
thương hơn và tự do hạnh phúc hơn. Không làm
theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những ǵ lương
tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không làm theo ư Thiên
Chúa.
Tội
là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ là
không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc phạm đến Thiên
Chúa, không tin rằng Thiên Chúa
yêu thương ḿnh và muốn làm những điều
tốt lành cho ḿnh.
Thiên Chúa
yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là tội nhân (Rm 5:8).
Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh và ao
ước trở về với Ngài, là yêu cầu mà mỗi
người làm Linh Thao phải đạt được
trong tuần thứ nhất.
Tội
là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu thương
thuận phục Thiên Chúa nữa.
Hai
người yêu nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau, họ không
muốn làm trái ư nhau; chỉ một hành vi làm người
kia buồn, là họ đă lo lắng và muốn chuộc
lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ là xúc phạm
nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ cảm
thấy tội ḿnh thực nặng nề và muốn
trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng.
Thiên Chúa
yêu thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu thương nên Ngài
luôn trông chờ chúng ta trở lại với Người,
và Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta
thống hối.
Những
bài cầu nguyện về tội không nhằm làm chúng ta
bị tê liệt hay bị dằn vặt hoặc mặc
cảm, nhưng để giúp chúng ta thấy
được t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa khi Ngài tha
thứ tội lỗi cho chúng ta.
Đứng
trước t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa và thấy ḿnh
tội lỗi thấp hèn như vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ?
Thái
độ của chúng ta là sám hối xin Thiên Chúa thứ tha,
và ao ước khao khát bắt đầu một
đời sống mới với Thiên Chúa.
Khao khát
yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, ao
ước bắt đầu một đời sống
mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của một
người thống hối thật sự.
Có nhiều
đoạn Kinh Thánh có thể dùng để cầu
nguyện trong tuần thứ nhất này, ở đây
chỉ xin liệt kê một vài bản văn:
Tội
Adam và Eva (St 3:1tt);
Tội
Cain (St 4:1-16);
Dân Do-thái
thờ ḅ vàng (Xh 32);
Dân Do-thái
vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);
Bất công
(Am 8:4-10);
Israel
bất trung (Gr 3:1-4:4);
Tội
dân Do-thái (Br 1:15-3:8);
Tội
dân ngoại (Rm 1:18-32);
Không yêu
thương là tội (Mt 25:31-46);
Những
người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt);
Phạm
đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);
Tôi là
tội nhân (I Ga 1:8-2:11);
Chị
phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);
Chị
phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50);
Lời
nguyện thống hối (Tv 51/50);
Thiên Chúa
là cha nhân từ (Lc 15:11-24).
Cầu nguyện là gặp gỡ
Thiên Chúa, là nói chuyện thân thưa với Ngài như
một người bạn với một người
bạn, như tṛ đối với thầy, như tôi
tớ đối với chủ, như người con
đối với cha ḿnh, và như một tạo vật đối
với Thiên Chúa.
Những bước cầu
nguyện được tŕnh bày dưới đây,
nhằm giúp người ta dễ dàng cầu nguyện
hơn; nhưng một khi gặp gỡ được
Thiên Chúa rồi, th́ những bước cầu nguyện
không c̣n cần thiết nữa.
Để nói chuyện với ai,
cần họ hiện diện với ḿnh một cách nào
đó; cũng vậy, để nói chuyện với Thiên
Chúa, cần ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.
Thiên Chúa ở khắp mọi
nơi, Ngài luôn nh́n xem, yêu thương và chăm sóc chúng ta,
Ngài luôn hiện diện với chúng ta dù chúng ta ư thức hay
không; tuy vậy về phương diện con người,
chúng ta vẫn cần ư thức Ngài hiện diện
để có thể nói chuyện với Ngài.
Khó có thể nói chuyện thân t́nh
với ai, nếu người đó đang thù hận
với họ. Cũng tương tự như vậy,
chúng ta không thể gặp gỡ nói chuyện với Thiên
Chúa, nếu chúng ta đang ở trong t́nh trạng thù
nghịch với Ngài.
Trước khi cầu nguyện,
chúng ta hăy xin Thánh Thần tẩy luyện thánh hóa con
người chúng ta, để chúng ta có thể gặp
gỡ thân t́nh với Ngài.
Nếu chúng ta c̣n nhiều bận
tâm, và không chú ư tới lời nói của người
đang nói chuyện với ḿnh, th́ không thể nói chuyện
thân mật với người đó được.
Cũng tương tự như vậy, nếu chúng ta không
đặt Thiên Chúa lên trên hết, nếu chúng ta không
gạt bỏ mọi vướng bận, th́ chúng ta cũng
không thể nói chuyện thân mật với Ngài
được.
Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt
bỏ mọi chia trí đến trong đầu chúng ta, và
để hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.
Để gặp một nhân
vật quan trọng, chúng ta phải xin gặp, và nếu
được ưng thuận chúng ta sẽ
được hẹn giờ. Không phải bất cứ lúc
nào ḿnh muốn, đều có thể gặp được
họ.
Cũng tương tự như
vậy, gặp gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn
lao mà chúng ta cần ư thức để trân trọng.
Chỉ có điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ
ḿnh v́ Ngài yêu thương ḿnh; tuy vậy, được
gặp gỡ Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một hồng ân
đặc biệt.
Trí tưởng tượng rất
quan trọng đối với con người. Phần
lớn hành vi phạm tội của chúng ta đều có
sự đóng góp của trí tưởng tượng.
Tương tự như vậy, để nên thánh, chúng ta
cũng dùng trí tưởng tượng. Thân xác cũng góp
phần giúp chúng ta nên thánh, như nó đă góp phần trong
hành vi tội của chúng ta.
H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và
đặt ḿnh trong bối cảnh và trường hợp
đó, giúp chúng ta dễ cầu nguyện hơn.
Mỗi bài cầu nguyện
đều có một yêu cầu cần đạt
được, đó thường là “ơn xin” của bài
cầu nguyện.
Ở tuần thứ nhất, chúng
ta xin Thiên Chúa cho chúng ta hiểu biết sâu xa về tội
và những tác hại của tội, cho chúng ta nhận
biết ḿnh là tội nhân và ơn được trở
về với Người.
Ở tuần thứ hai, chúng ta xin
Thiên Chúa cho chúng ta được hiểu Ngôi Lời
Nhập Thể hơn, để yêu mến Ngài hơn và
theo Ngài hơn.
Ở tuần thứ ba và thứ
tư, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được
đồng h́nh đồng dạng với Ngài; cụ
thể trong tuần ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được
chia sẻ với Ngài trong đau khổ và sỉ nhục,
được thông phần với Ngài trong cuộc
thống khổ; và trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho
được chia sẻ niềm vui và hân hoan của Chúa
Phục Sinh.
Mỗi bài cầu nguyện có
một hay nhiều điểm cầu nguyện.
Điểm cầu nguyện là những gợi ư, nhằm
giúp ḿnh có chất liệu để suy nghĩ và cầu
nguyện với Thiên Chúa. Tuy mỗi bài có thể có
nhiều điểm cầu nguyện, nhưng mỗi
người chỉ dùng một số điểm ḿnh
thấy ích lợi, trừ phi người hướng
dẫn nói khác trong trường hợp cụ thể.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa
với Thiên Chúa, khi đối diện với Thiên Chúa và
biết rơ về ḿnh hơn.
Tâm sự là phần chính của bài
cầu nguyện, dù người hướng dẫn
chỉ nhắc một vài câu về điều này.
Nhận
định thiêng liêng rất cần thiết để
tiến bộ trong đời sống tinh thần. Gần
cuối sách Linh Thao, thánh Inhaxiô viết hai bộ quy luật
nhận định các thần, một dành cho tuần
thứ nhất và một cho tuần thứ hai.
Thiên Chúa
tạo dựng con người để con người
được sống hạnh phúc với Thiên Chúa. Thiên
Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con người,
Ngài không bao giờ muốn con người phạm tội[17] dù Ngài ban cho con
người được tự do.
Thiên Chúa
muốn con người hạnh phúc không chỉ ở
đời sau nhưng ngay cả ở đời này
nữa; Ngài không chỉ muốn con người hạnh phúc
trong cầu nguyện mà c̣n cả trong cuộc sống thường
ngày nữa.
Thiên Chúa
muốn con người cảm nghiệm hạnh phúc khi
sống đặc biệt với Ngài. Cụ thể trong
cầu nguyện, Ngài muốn con người
được b́nh an thư thái, được thêm ḷng tin
cậy yêu mến Ngài.
Các
thần lành là các vị sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa,
các ngài sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các ngài cũng
muốn con người sống trong t́nh yêu và hạnh phúc
như các ngài.
Thần
dữ là các thiên thần kiêu ngạo chống đối
Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống hạnh phúc trong t́nh
yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa, thần dữ c̣n t́m
mọi cách để tôi xa ĺa và chống đối Thiên
Chúa.
Thiên Chúa
muốn tôi sống hạnh phúc, trong cuộc sống
thường ngày và đặc biệt trong giờ cầu
nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi được b́nh
an thư thái trong cuộc sống và trong giờ cầu
nguyện.
An ủi
là t́nh trạng b́nh
thường trong giờ cầu nguyện nếu chúng ta
sống tương quan tốt với Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô
viết: “Gọi là an ủi khi trong tâm hồn có một thúc
đẩy nội tâm, làm linh hồn cảm thấy bùng cháy
lửa yêu mến Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn
cảm thấy không c̣n có thể yêu mến bất cứ
tạo vật nào trên mặt đất này v́ chính nó,
nhưng chỉ yêu trong Đấng Tạo Hóa mà thôi.
Tương
tự, khi linh hồn chảy nước mắt
trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm nghiệm tội
lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm cuộc
thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm những
sự khác hướng về việc phụng sự và
ngợi khen Thiên Chúa.
Sau cùng,
gọi là an ủi khi linh hồn cảm nghiệm sự gia
tăng đức cậy đức tin và đức
mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời gọi và lôi
kéo đến những sự trên trời và phần rỗi
của linh hồn, làm linh hồn cảm thấy thư thái
và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 316).
Phần
lớn khi được an ủi là do thần lành
hướng dẫn[18] (LT 318), và nếu khi xét gẫm ḿnh
đă nhận ra đó là ơn Chúa th́ hăy tạ ơn Chúa.
Sầu
khổ là do tác động của thần dữ (LT 318).
Thánh Inhaxiô
viết: “Gọi là sầu khổ tất cả những ǵ
trái ngược với quy tắc thứ ba. Chẳng
hạn, sự tối tăm trong tâm hồn, xao xuyến bên
trong, thúc đẩy về những ǵ thấp hèn và phàm
tục, bất an trước những xáo động và cám
dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy và t́nh yêu;
linh hồn cảm thấy lười biếng, khô
nhạt, buồn rầu và như bị ĺa xa Đấng
Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 317).
V́
sầu khổ là do tác động của thần dữ, mà
nếu chúng ta theo nó th́ không thể đến với Thiên
Chúa được; thế nên “chúng ta luôn luôn làm ngược lại
điều ác quỷ hay thần dữ muốn” (LT 351).
Nếu thần dữ muốn chúng
ta bỏ cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi
quyết định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm
ngược lại điều thần dữ muốn,
nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện
hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái
độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ
bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi
mở lương tâm với những người
đạo đức (LT 326).
Nếu
nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không được
tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về những
vướng bận hay lệch lạc nào đó, hay bởi
chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó với Thiên Chúa
và với con người, th́ ḿnh phải lo thống hối
và hoán cải (LT 321bc).
Khung cảnh
Như thể thấy Đức
Giêsu bị đánh đ̣n, Ngài cảm thấy rất
đau. Người ta đă hành hạ và cố t́nh làm Ngài
đau khổ ...
Ơn xin
Xin cho ḿnh ơn nhận biết
bản chất của tội, và ơn xấu hổ
ngượng ngùng v́ bao nhiêu tội ḿnh đă phạm.
Điểm
Thiên thần được
tạo dựng trong ân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng có
một số thiên thần không tùng phục Thiên Chúa, họ
muốn độc lập với Thiên Chúa, họ muốn
thành tuyệt đối và tự do tuyệt đối,
họ muốn bằng Thiên Chúa, họ coi Thiên Chúa là
đối thủ của họ: đó là kiêu ngạo và
phản loạn, và như thế là tội.
Các thiên thần ư thức việc
họ làm, một cách tự do và không hối tiếc về
việc họ làm, họ chọn điều họ đă
chọn một cách dứt khoát. Ngay “bây giờ,” ác quỷ
cũng không hối hận việc họ đă làm, và
họ vẫn đang tiếp tục chọn điều
họ đă chọn “ngày xưa.”
Ngày nay, ác quỷ vẫn thù ghét và
chống đối Thiên Chúa như ngày xưa, và hậu
qủa là hỏa ngục. Tội và hỏa ngục[19]
liên hệ với nhau, đi liền với nhau như
thể bóng với h́nh, không thể tách khỏi nhau
được.
Tội, không chỉ là không vâng
lời khi ăn trái bị cấm, mà chủ yếu là không
tin vào Thiên Chúa nữa, tin vào ác quỷ hơn tin vào Thiên Chúa
(St 3:4-5), không tin Thiên Chúa yêu ḿnh và muốn điều
tốt cho ḿnh.
Không tin vào Thiên Chúa, không trông
cậy và chờ đợi ǵ nơi Thiên Chúa, từ
chối t́nh yêu Thiên Chúa dành cho ḿnh, đó là tội.
Khi con người không tin vào Thiên
Chúa, th́ con người cũng không thể tin vào nhau, và nh́n
nhau với cặp mắt nghi kỵ (St 3:12-13). “Không
Trời ai sống được với ai!” Adam trách Evà,
Evà đổ tội cho con rắn.
Sau khi phạm tội, con
người muốn trốn Thiên Chúa; không muốn nhận
sự thật về chính ḿnh, đổ tội cho
người khác; t́m lư do biện minh.
Nếu ai đó chỉ phạm
một tội thôi, một cách ư thức tự do và dứt
khoát, không hối hận cho đến giờ chết, th́
người đó phải sa hỏa ngục, và đáng sa
hỏa ngục.
Thực ra khi phạm tội
như vậy, dù người đó chưa sa “hỏa
ngục,” nhưng họ cũng đang ở hỏa
ngục rồi, nghĩa là, người đó đang
bất hạnh và không muốn thoát khỏi t́nh trạng
đó, dù Thiên Chúa đă bao lần đề nghị, thúc
đẩy người đó trở lại với Ngài.
Thiên Chúa không muốn con
người đau khổ, Ngài muốn con người
hạnh phúc. Chính con người tạo hỏa ngục cho
ḿnh, cho dù Thánh Thần Thiên Chúa đă bao lần thúc
đẩy mời gọi họ trở lại với Thiên
Chúa.
Tâm sự
Nh́n Chúa Giêsu chết trên thập
giá, t́m hỏi tại sao Ngài đă nhập thể, sinh ra
nghèo hèn, sống đơn sơ đạm bạc, rao
giảng trong cảnh nghèo, và cuối cùng chết ô nhục
trên thập giá như vậy, rồi xem tôi đă làm ǵ cho
Chúa, tôi đang làm ǵ cho Chúa và tôi sẽ làm ǵ cho Chúa?
Hăy nói với Chúa những ǵ ḿnh
phải thân thưa với Chúa.
Khung cảnh
“Tinh thần th́ lanh lẹ
nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Nh́n vào
chính con người ḿnh và ư thức rơ: tôi là tinh thần
với thể xác, xác thịt có những đ̣i hỏi
của xác thịt, và có nhiều lúc tôi phải rất
vất vả để vượt qua.
Ơn xin
Khao khát xin ơn cảm nhận rơ
ḿnh là tội nhân, và ơn cảm nghiệm Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng, để ḿnh trở lại với
Chúa và thuộc trọn về Chúa.
Điểm
Theo sát chỉ dẫn của thánh
Inhaxiô để cầu nguyện bài này, và đây là bài
cầu nguyện phải cầu nguyện đủ năm
điểm như thánh Inhaxiô chỉ, đặc biệt là
điểm thứ năm.
Tâm sự
Thân thưa với Thiên Chúa T́nh
Yêu, Đấng yêu thương tha thứ mọi lỗi
lầm cho chúng ta.
Khung cảnh
Như thể hiện diện
trên đồi Calvê buổi chiều hôm đó, nh́n Chúa
chết thảm khốc cho tôi v́ yêu tôi.
Ơn xin
Khao khát xin ơn nhận rơ về
con người thực của ḿnh, ơn cảm nghiệm
Thiên Chúa yêu thương ḿnh, ơn trở lại và khao khát
thuộc trọn về Thiên Chúa.
Điểm và Tâm sự
Như thánh Inhaxiô chỉ trong LT 62-63.
Lưu ư về quyến luyến
lệch lạc:
Quyến luyến lệch lạc
là gắn bó với một tạo vật nào đó không
như Thiên Chúa muốn, nó có thể dẫn chúng ta tới
tội nếu chúng ta dứt khoát từ bỏ nó, chẳng
hạn ḿnh gắn bó qúa với ai đó, vật ǵ đó,
địa sở, chức vị hay nghề nghiệp nào
đó, v.v.
Khung cảnh
Như thể hiện diện
trong ngày Chúa quang lâm cùng các thiên thần, thấy Chúa phân tách
kẻ dữ người lành như thể người ta
phân tách dê khỏi chiên.
Ơn xin
Khiêm tốn nhận thực
rằng ḿnh là tội nhân, đă không sống giống Thiên
Chúa, không sống như Thiên Chúa muốn. Xin cho ḿnh ḷng
thống hối, khao khát bắt đầu một
đời sống mới, sống như Thiên Chúa muốn,
sống như những người con giống Cha của
ḿnh là Thiên Chúa.
Điểm
Thánh Gioan tông đồ diễn
tả “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Thiên Chúa là Đấng
chỉ biết yêu, hay đúng hơn: Ngài làm tất cả
v́ t́nh yêu. Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người,
Ngài muốn mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn
tất cả mọi người được hạnh
phúc, ở đời sau và ngay cả ở đời này
nữa.
Vậy giải thích làm sao “Thiên
Chúa là t́nh yêu,” khi Ngài tạo hỏa ngục để
phạt các thần dữ và con người không phục
tùng Người? Không loại trừ hỏa ngục là
nơi để các thần dữ và bè lũ của nó
phải đau khổ ở trong đó; nhưng nếu
chỉ hiểu hỏa ngục là một ngục
đầy lửa để phạt các thiên thần
dữ, th́ hiểu làm sao khi “đối thủ của anh em
là ác quỷ như sư tử rống, nó lượn ŕnh
t́m sao nuốt được một ai” (1Pr 5:8). Nếu ác
quỷ là thiêng liêng, th́ lửa hữu h́nh đâu có tác
động ǵ? Hơn nữa, nếu Thiên Chúa ở khắp
mọi nơi, th́ trong hỏa ngục Thiên Chúa cũng
hiện diện, phải chăng hỏa ngục cũng
đốt Thiên Chúa?
Hỏa ngục c̣n được hiểu như một
t́nh trạng đau khổ bất hạnh cho một ngôi
vị, dù đó là thiên thần hay con người chống
đối Thiên Chúa hay phủ nhận t́nh yêu của Ngài.
Cũng tương tự hai người thù ghét nhau th́
bất hạnh và đau khổ khi họ ở gần nhau,
những người thù ghét Thiên Chúa cảm thấy đau
khổ bất hạnh v́ Thiên Chúa luôn luôn hiện diện
ở khắp nơi. Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục
để phạt các thiên thần dữ và con người
phản bội, chính họ tạo ra hỏa ngục cho
chính họ.
Khi Phaolô trên đường
đi Đama t́m bắt các kitô-hữu để đem
về Giêrusalem, dọc đường ông bị té
ngựa, và có tiếng từ trời “Sa-ul, Sa-ul, sao
ngươi bắt bớ Ta?” Sa-ul hỏi: “Thưa Ngài, Ngài
là ai?;” Tiếng đáp rằng: “Ta là Giêsu, ngươi
đang t́m bắt” (Cv 9:5). Phaolô lúc đó đâu có t́m bắt
đức Giêsu, ông đang t́m bắt các kitô-hữu, tức
những người tin vào đức Giêsu thôi; nhưng
ở câu trả lời, đức Giêsu đă đồng
hóa ḿnh với các kitô-hữu đang bị bắt bớ.
C̣n trong tŕnh thuật của Mt 25:31-46
này, đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những
kẻ khốn nạn nghèo hèn nhất, những
người cần chúng ta giúp đỡ nhất (Mt 25:40.45).
Ai làm cho một trong những kẻ nghèo hèn này, là làm cho chính
Chúa Giêsu.
Thiên Chúa không phán xét dựa vào công
việc người đó làm, hay chức vụ
người đó giữ, hay nơi chốn người
đó ở, hay địa vị người đó có;
nhưng Ngài phán xét con người dựa vào ḷng yêu
thương người đó có đối với Thiên
Chúa và tha nhân.
Thiên Chúa phán xét, xem tôi có yêu
thương tha nhân, những người khốn cùng
cần đến sự giúp đỡ của tôi không?
Những người cần
đến tôi là ai?
·
Trong dụ ngôn
người Samaritanô nhân hậu, là kẻ bị đánh
nằm dọc đường;
·
Trong cộng đoàn
của tôi, là những người cảm thấy bị cô
độc bỏ rơi, là những người có ác
cảm với tôi mà họ không vượt thắng được
chính họ, là những người đang bị khủng
hoảng;
·
Trong môi trường
của tôi, là những kẻ cần tới sự giúp
đỡ của tôi để phát triển, để
trưởng thành hơn, để hạnh phúc hơn.
Đức Giêsu, trong buổi
tối cuối cùng, Ngài đă nói: “các con hăy yêu thương
nhau, như Thầy đă yêu thương các con” (Ga 13:34),
“người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là
môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau” (Ga 13:35).
Mười giới răn của Thiên Chúa tóm lại trong
hai điều “trước kính mến Chúa trên hết
mọi sự, sau là yêu anh em như ḿnh ta vậy,” nói tóm
lại, mười giới răn của Thiên Chúa cũng
chỉ tóm lại trong một giới răn yêu
thương mà thôi.
Ai yêu thương th́ nên giống
Thiên Chúa, ai thù ghét anh em th́ nên giống ác quỷ. Thiên Chúa là
T́nh Yêu, là Đấng chỉ biết yêu thương; và ai
yêu thương, th́ là con cái Thiên Chúa, v́ họ giống Thiên
Chúa. Ai nói ḿnh yêu Thiên Chúa, mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ
nói dối (1Ga 4:20).
Tâm sự
Xin Chúa cho ḿnh nhận ra con
người thực của ḿnh, đă bao phen hành xử
không giống Thiên Chúa là Cha của ḿnh. Xin cho ḿnh ḷng ăn
năn thống hối thật, để từ đây ḿnh
yêu Thiên Chúa hơn và yêu anh em hơn, để ḿnh
được giống Thiên Chúa hơn và hạnh phúc
hơn.
Khung cảnh
Nhớ lại ngày khấn long
trọng nhất của ḿnh, và tâm trạng thái độ
sống đời dâng hiến của ḿnh lúc bấy
giờ.
Ơn xin
Xin cho ḿnh nhận ra con
người thật của ḿnh: một người không
chung thủy giữ lời ḿnh đă khấn hứa
với Thiên Chúa; xin cho ḿnh cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa
đối với ḿnh, Ngài đang mời gọi ḿnh trở
lại với Ngài, và xin cho ḿnh ơn thống hối
trở lại với Ngài để sống một
đời sống mới thuộc trọn về Thiên Chúa
hơn.
Điểm
Khi hai người yêu nhau, họ
cho nhau những ǵ họ có; và tột đỉnh, họ cho
nhau chính con người họ và cuộc đời nhau.
Sống đời dâng hiến,
chúng ta dâng tặng cái ǵ và cho ai? Chúng ta dâng tặng chính con
người của chúng ta, đời sống của chúng
ta cho Thiên Chúa một cách hoàn toàn ư thức và tự do.
Chúng ta dâng hiến đời
chúng ta cho Thiên Chúa bằng khấn ba lời khấn khó
nghèo, trinh khiết và vâng lời; chúng ta tự nguyện
chết cho chính ḿnh và với thế gian khi thề hứa những
lời khấn trên.
Dâng hiến hàm chứa tự
nguyện. Tôi sống đời sống dâng hiến
với thái độ tự do tự hiến hay như một
bắt buộc?
Ai cũng có quyền sở
hữu và sử dụng của cải, v́ đây là
quyền tự nhiên của con người.
Với lời khấn thanh
bần, chúng ta tự nguyện muốn bắt chước
ChúaGiêsu, tự do với tất cả của cải
vật chất.
Chúng ta đă sống điều
chúng ta khấn hứa thế nào? Phải chăng mỗi
năm, chúng ta lại chẳng lấy lại một số
điều chúng ta đă tự nguyện bỏ? Mỗi
dịp về nhà, mỗi khi người thân quen lên thăm,
người này cho người kia cho, tôi đă từ
bỏ hay đă giữ lại để dùng cho chính bản
thân ḿnh? hay đă dùng theo ư riêng ḿnh dù không chỉ cho riêng
ḿnh?
Tại sao tôi lấy lại
một cách không chính đáng điều mà tôi đă tự
nguyện bỏ, mà chính sự lấy lại này làm tôi không
được tự do và trở thành nhỏ nhen ích
kỷ?
Ai cũng có quyền yêu và
được yêu, được có một gia đ́nh
xứng hợp.
Là tu sĩ với lời khấn
trinh khiết, chúng ta tự nguyện từ bỏ quyền
yêu riêng một người và từ bỏ quyền lập
gia đ́nh, trong đó vợ chồng con cái nâng đỡ
nhau để sống triển nở và hạnh phúc hơn.
Không ai bắt chúng ta làm điều đó; sở dĩ chúng
ta làm điều đó, bởi v́ mỗi người chúng
ta cảm nhận một lời mời gọi để
sống riêng với Chúa và thuộc trọn về Ngài, và
chúng ta đă tự nguyện đáp lời.
Và chúng ta đă sống lời
đoan nguyện của chúng ta thế nào? Tại sao
với thời gian, chúng ta đă t́m và lấy lại
điều ḿnh đă tự do từ bỏ? Tại sao tôi
đi t́m t́nh cảm của người này người kia?
Tại sao tôi muốn được người này yêu
người kia thương? Tại sao tôi đi t́m
những điều đó, khi chính tôi đă tự
nguyện từ bỏ lúc tôi hoàn toàn có quyền
được có, và tôi có dư khả năng để
có, bởi v́ lúc đó đă có bao người thương
yêu tôi? Lúc đó, tôi đă quảng đại vượt
lên chính con người của ḿnh và đă thấy ḿnh trưởng
thành hơn, cao thượng hơn; vậy tại sao bây
giờ tôi lại cư xử như vậy, tại sao tôi
lại sống như vậy, khi điều này làm tôi
trở thành kẻ lường gạt, kẻ nói dối,
không trung thực với chính ḿnh và với người
khác?!
Không phải v́ tôi không có khả
năng quyết định về cuộc đời tôi mà
tôi khấn lời khấn vâng phục! Cũng không phải
v́ tôi không có lập trường, không thông minh bằng bề
trên mà tôi khấn vâng phục bề trên. Có thể tôi có
lập trường, và lập trường của tôi c̣n
vững chắc và có lư hơn lập trường của
bề trên, và không chừng một cách tổng quát, tôi c̣n
thông minh hơn cả bề trên nữa, nhưng tôi vẫn
khấn lời khấn vâng phục, bởi v́ tôi muốn
hiến trọn đời tôi cho Chúa, và để Chúa
điều khiển tôi qua bề trên.
Hôm nay tôi đă sống lời
khấn vâng phục thế nào? Tại sao hôm nay tôi lại
muốn bề trên phải theo ư tôi? Tại sao hôm nay tôi “càm
ràm” than trách khi bề trên không làm điều hợp ư ḿnh?
Tại sao tôi c̣n “ngoi ngóp” muốn sống khi chính tôi đă
tự nguyện chết? Tôi đă không nhất quán với
chính tôí! Tại sao tôi nói một đàng qua lời khấn,
rồi tôi lại muốn và làm một điều khác? Quá
tệ!
Chúng ta, những người
sống dâng hiến theo cùng một linh đạo, sống
cộng đoàn để nâng đỡ nhau về mọi
mặt, để giúp nhau thuộc trọn về Chúa và
phục vụ tha nhân hữu hiệu hơn. Trên nguyên
tắc, chúng ta đă từ bỏ tất cả và thậm
chí đến cả con người chúng ta, nên chúng ta
phải thương yêu nhau, và trở thành chứng nhân cho
Thiên Chúa.
Trên thực tế chúng ta đă
sống đời sống cộng đoàn thế nào, chúng
ta đă sống đời sống chứng tá như
thế nào, khi chúng ta dạy người khác phải
sống yêu thương nhau như Chúa dạy?
Đă đành mỗi người
mỗi tính nết và có những người không hợp
tính nết của nhau, nhưng nếu không sống
được với nhau th́ qủa là “qúa dổm” và
phản chứng. Nếu chúng ta không sống thoải mái
được với nhau, đó là dấu chỉ cho
thấy chúng ta chưa từ bỏ ḿnh thực sự.
Người bạn trong cộng đoàn của chúng ta, là
bản thử nghiệm cho thấy chúng ta đă sống
đời sống dâng hiến thế nào!
Tôi có sống được
với người bạn trong cộng đoàn của tôi
không? Tôi có hạnh phúc thoải mái trong đời sống
cộng đoàn không? Nếu không, e rằng tôi chưa
thực sự sống đời sống dâng hiến!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa khi đă
thấy con người thật của ḿnh, xin Chúa cho ḿnh ao
ước bắt đầu một đời sống
mới, thuộc trọn về Chúa hơn, bằng
những hành vi từ bỏ chính ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh hiện
diện với đức Giêsu và các tông đồ trong
biến cố Chúa làm cho anh mù ngồi bên vệ
đường ăn xin, được sáng.
Ơn xin
Khao khát xin ơn nhận biết
ḿnh với những tật mù “thành kiến” và “tiêu chuẩn
là con người và sự khôn ngoan theo con người,” làm
ḿnh không thấy được sự thật và nét
đẹp của Thiên Chúa và anh em. Xin ơn thống
hối và khao khát thuộc trọn về Thiên Chúa.
Điểm
Đức Giêsu đă làm phép
lạ chữa lành người mù trong ngày sabbat; đối
với người biệt phái, đó là điều không
được phép v́ họ cho rằng như thế là vi
phạm ngày sabbat.
Đầu tiên, họ không
muốn tin rằng phép lạ đó đă thực sự
được làm, nên họ đă gọi cha mẹ
người mù tới để kiểm chứng, và sau khi
cha mẹ người mù xác nhận, họ đành chịu
(Ga 9:18-21).
Phải có thái độ và
lập trường nào đối với đức Giêsu
đây? Đức Giêsu là người thuộc về Thiên
Chúa hay là người tội lỗi? Nếu nói đức Giêsu
là người tội lỗi th́ làm sao giải thích
được phép lạ Ngài làm, c̣n nếu nói đức Giêsu
là người của Thiên Chúa th́ làm sao giải thích
việc đức Giêsu không giữ ngày sabbat? (Ga 9:16).
Cuối cùng họ đă thống
nhất với nhau, cho rằng đức Giêsu là
người tội lỗi (Ga 9:24).
Tại sao người biệt
phái không thể nhận ra được rằng
đức Giêsu từ Thiên Chúa mà tới, Ngài là thánh?
Phải chăng v́ họ có thành kiến, v́ họ không khiêm
tốn đủ để nhận ra sự thật,
phải chăng họ bị mù “thiêng liêng?”
Phải chăng cha mẹ
người mù không được anh mù kể lại và
không biết người chữa lành mắt con ḿnh là
đức Giêsu khi họ trả lời biệt phái: “Chúng
tôi xác nhận nó là con của chúng tôi, và nó sinh ra đă mù, c̣n
làm sao nó sáng được th́ xin các ông hỏi nó, nó khôn
lớn rồi và có thể nói năng về ḿnh
được” (Ga 9:20-21)?
Cha mẹ nó nói thế v́ sợ
người biệt phái đuổi họ ra khỏi
hội đường (Ga 9:22-23)!
“Kẻ nào chối Ta trước
mặt người đời, th́ con người cũng
chối nó trước mặt Cha Ta, kẻ nào tuyên xưng
Ta trước mặt người đời th́ Con
Người cũng tuyên xưng kẻ ấy trước
mặt Cha Ta Đấng ở trên trời” (Mt 10:32-33). Trong
cuộc sống thường ngày, tôi có khôn như cha mẹ
người mù không? Tôi có dám nói sự thực dù những
bất lợi có thể xảy tới cho tôi không?
Mới thoạt nh́n, chúng ta
tưởng anh mù là người nhu nhược không có
lập trường khi anh ta để cho đức Giêsu
nhổ nước bọt làm bùn xức vào mắt anh ta, và
đi rửa mắt trong ao Siloam! Nhưng thực tế
không phải vậy.
Khi người biệt phái
buộc anh ta phải tuyên bố đức Giêsu là
người tội lỗi, anh ta đă tỏ thái
độ dứt khoát và thông minh; không những thế, anh
ta c̣n có thể cho những người biệt phái thấy
rằng họ sai lầm (Ga 9:25-34).
Dễ dạy với Thánh
Thần và sẵn sàng làm những ǵ Thiên Chúa thúc đẩy,
sẽ làm một người trở thành người có
lập trường và can đảm trưởng thành. Tôi
có luôn ngoan ngùy với thúc đẩy của Thánh Thần và
thực hiện Ư Thiên Chúa trong đời tôi không?
Tâm sự
Hăy thân thưa với Chúa như
ḿnh thấy về chính ḿnh: xin Chúa cho ḿnh nhận biết rơ
ḿnh có những tật mù “thiêng liêng,” và xin Chúa giải phóng
ḿnh khỏi những tật mù này, xin cho ḿnh ơn trở
về với Chúa thực sự, để ḿnh
được sáng và nhận ra nét đẹp của Thiên
Chúa và của anh em ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện
diện với đức Giêsu và người biệt phái
trong bữa tiệc, và mục kích cung cách cư xử
của chị phụ nữ.
Ơn xin
Ơn cảm nhận ḿnh là
tội nhân, ḷng thống hối mănh liệt trước
Thiên Chúa là Đấng yêu thương ḿnh vô cùng; ơn khao
khát trở về với Chúa thực sự.
Điểm
Nh́n nghe quan sát cung cách hành xử
của chị phụ nữ: khóc lóc nức nở, lấy
tóc lau chân đức Giêsu, hôn chân Ngài.
Tại sao chị phụ nữ
này đă làm như vậy? Hành vi thái độ này diễn
tả điều ǵ trong tâm hồn chị? Nguyên nhân sâu xa
thúc đẩy chị ta hành xử như vậy là ǵ?
Để làm được
điều này, chị đă phải vượt qua
ngưỡng cửa nhà người biệt phái:
điều này đ̣i chị phải rất can đảm,
v́ người biệt phái coi chị là người tội
lỗi, và họ không muốn tiếp xúc với
người tội lỗi; nếu chị bị chặn
lại và đuổi ra th́ sao? Tự ái của ḿnh bị
xúc phạm th́ sao? Thầy Giêsu không thông cảm th́ sao?
Tại sao chị không chờ Thầy Giêsu ra khỏi nhà
người biệt phái đó, rồi chị hăy tỏ ḷng
thống hối? Và hơn nữa, thầy Giêsu hiểu ḷng
chị mà, tại sao phải làm vậy? Có bao nhiêu lư do
để ngăn cản chị ta, nhưng tại sao
chị ta đă hành xử như chị ta đă làm, thâm sâu
và đáng nói trong hành động này là ǵ?
Chính Thiên Chúa đang thúc
đẩy nơi tâm hồn của chị, và chị đă
làm như ḿnh được thúc đẩy.
Người biệt phái không nói
thành lời nhưng nói trong ḷng ông ta: “Ông này, nếu qủa
thực là một tiên tri, ắt phải biết
người đàn bà rờ đến ḿnh kia là ai và
thuộc hạng nào chứ: một đứa tội
lỗi” (Lc 7:39).
Có lẽ vào địa vị ông,
ông sẽ không cho chị phụ nữ được
đụng chạm vào người ông, v́ chị ta không
đáng, v́ chị ta là đứa tội lỗi. Trong câu
nói, cho thấy ông ta coi thường, khinh bỉ chị
phụ nữ này; và v́ đức Giêsu đối xử
với chị phụ nữ này như vậy, nên
dường như ông ta không c̣n coi đức Giêsu là
một tiên tri nữa.
Cái nh́n lệch lạc về con
người, ngay cả đối với người
“tội lỗi,” cũng ngăn cản người ta
hiểu đúng về đức Giêsu và về Thiên Chúa.
Từ đầu, đức Giêsu
có vẻ không bận tâm về sự xuất hiện
của chị phụ nữ, và chúng ta không thấy Ngài
phản ứng sao trước cách đối xử
của chị phụ nữ. Thế nhưng, khi biết ư
nghĩ trong ḷng của người biệt phái, đức
Giêsu đă bênh vực chị phụ nữ, và nhờ đó
chúng ta thấy Ngài đă lưu ư và không bỏ sót một
hành vi cử chỉ nào của chị phụ nữ
thống hối này, và cả những ǵ sâu kín nơi con
người của chị.
Đức Giêsu đă đón
nhận chị, đă chấp nhận con người và
cách hành xử cùng tâm t́nh thái độ của chị.
“Chị yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).
Tâm sự
Chị phụ nữ có thể có
nhiều tội hơn tôi, nhưng kể từ giây phút
đó, chị đă đổi đời, không bao giờ
chị c̣n trở lại đường cũ nữa; c̣n
tôi, tôi thiếu tâm t́nh thống hối như chị, tôi
chưa ư thức được về con người tôi
như chính chị đă ư thức về con người
chị, và v́ vậy tôi cứ ́ ạch như con người
hiện tại; xin Chúa ban cho ḿnh ơn biết rơ ḿnh là con
người tội lỗi, và ơn thống hối
thực sự, để từ đây ḿnh không bao giờ
làm buồn ḷng Chúa nữa.
Khung cảnh
Như thấy David mặc áo
nhặm ăn chay, thống hối tội lỗi, xin Chúa tha
thứ.
Ơn xin
Xin Chúa cho ḿnh ơn nhận
biết ḿnh tội lỗi, và ơn cảm nhận t́nh Chúa
yêu thương, để ḿnh thống hối thật
sự, và khao khát bắt đầu một đời
sống mới với Chúa.
Điểm
và tâm sự
Đọc chậm Thánh Vịnh,
dừng lại suy nghĩ, và cầu nguyện với Chúa
như ḿnh thấy cần.
“Tiếng
gọi Vua Đời Tạm giúp chiêm ngắm đời
sống Vua Vĩnh Cửu,” là bài cầu nguyện nằm
giữa tuần nhất và tuần hai. Bài cầu nguyện
này xác định thái độ cần thiết để
có thể cầu nguyện tốt những bài cầu
nguyện tiếp theo sau.
Ơn xin
của bài cầu nguyện này: “xin ơn đừng
giả điếc trước lời mời gọi
của Chúa nhưng mau mắn thi thành thánh ư Ngài.”
Dù chúng ta
tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu thương tha thứ
tội lỗi và mời gọi chúng ta cộng tác với
Ngài để chinh phục thế gian, để làm cho con
người nhận biết t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa
đối với con người. Chúng ta có sẵn sàng
đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa không?
Chọn
Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên tất cả, kết
hiệp với thánh ư Thiên Chúa,[21] sẵn sàng đáp trả
lời mời gọi của Ngài dù thế nào chăng
nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ nhục, là yêu cầu
của bài cầu nguyện này.[22]
Yêu
cầu của bài Tiếng Gọi Vua Hằng Sống,
được hàm chứa trong nhiều đoạn Kinh
Thánh.
Có
thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau để
cầu nguyện:
Lời
mời (Lc 5:1-11);
Hăy là
thánh (Lv 19:2);
Sứ
mạng (Ga 20:21);
Ơn
gọi Abraham (St 12:1-9);
Đáp
trả trong vâng phục đức tin (St 22:1-10);
Ơn
gọi Môsê (Xh 3:1-12);
Ơn
gọi Samuel (I Sm 3:1-21);
Ơn
gọi Ysaya (Is 6:1-13);
Ơn
gọi Yêrêmya (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);
Người
tôi tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49; 50; 52);
Ơn
gọi Phaolô (Cv 9); v.v.
Cầu nguyện là ư thức sống với Chúa,
cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh, dâng lên Chúa
những tâm t́nh ḿnh có: lời cảm tạ tri ân, lời
tán dương, cảm nghiệm hạnh phúc với Chúa,
lời khẩn cầu khi ư thức ḿnh bất lực, v.v.
Có thể nói, cầu nguyện
chủ yếu là tâm sự. Đă đành trong suy gẫm, suy
nghĩ cũng quan trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm
cũng quan trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là
phần quan trọng nhất.
Để hướng dẫn
người giúp Linh Thao, thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư
cầu nguyện ngắn gọn và trung thực, để
giúp người tập Linh Thao dễ cầu nguyện
hơn, v́ “không phải sự hiểu biết nhiều làm
thỏa măn linh hồn, nhưng chính sự cảm nếm
bên trong mới làm thỏa măn linh hồn” (LT 2).
Trong cầu nguyện và đặc
biệt trong tâm sự, chúng ta có thời gian để
sống với Thiên Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của
Ngài dành cho chúng ta. Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói
cầu nguyện là giờ phút cảm nghiệm hạnh phúc
với Thiên Chúa.
Những điểm gợi ư
cầu nguyện, chỉ là những gợi ư, là
phương tiện giúp chúng ta cầu nguyện; nó chỉ
có giá trị tương đối và “rất là
tương đối.” Chính v́ thế, chúng ta chỉ dùng
những điểm gợi ư trong mức độ nó giúp
chúng ta cầu nguyện, và chỉ dùng số điểm nào
đó như chúng ta thấy cần và có ích, chứ không dùng
tất cả mọi điểm đă được
gợi ư (LT 2.76.228).[23]
Về tư thế khi cầu
nguyện, tư thế nào (ngồi, đứng, qùy,
phủ phục, v.v.) giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́ ḿnh
dùng tư thế đó; Và một khi dùng tư thế đó
mà gặp được Chúa, th́ không nên thay đổi (LT 76).
Tâm sự là nói chuyện thân thưa
với Chúa như một người bạn với
một người bạn, như một người tôi
tớ với chủ ḿnh.
Được coi là tâm sự,
·
khi thân thưa với
Thiên Chúa về chính con người và nhu cầu của ḿnh,
·
khi dâng lời cảm
tạ tôn vinh Thiên Chúa,
·
khi xin một ơn,
·
khi xin tha thứ lỗi
lầm,
·
khi phó thác công việc
hay trọn cả con người cho Thiên Chúa,
·
khi xin dạy bảo hay
hướng dẫn (LT 54.61.109.199.224).
Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy
giờ cầu nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem
xem ḿnh có dùng giờ để tâm sự thân thưa với
Thiên Chúa không.
Tâm sự là lắng nghe và nói
chuyện với Chúa bằng cả con người với
tất cả tâm t́nh, là ở lặng bên Chúa mà cảm
nghiệm hạnh phúc.
Suy nghĩ, chưa phải là
cầu nguyện; suy nghĩ và tâm sự với Chúa, mới
là cầu nguyện. Những gợi ư cầu nguyện, là
những gợi ư để giúp chúng ta hiểu biết
hơn về ḿnh và về Thiên Chúa, để rồi chúng ta
có thể tâm sự với Thiên Chúa dựa vào những
điều chúng ta đă thấy hoặc được soi
sáng.
“Sau khi
cầu nguyện xong, trong khoảng một khắc,
hoặc ngồi hoặc đi đi lại lại, xem
giờ chiêm niệm hoặc suy niệm đă diễn ra
thế nào. Nếu dở, xem đâu là nguyên do, và một khi
đă thấy th́ hối hận và sửa đổi trong
tương lai. Nếu tốt, tạ ơn Thiên Chúa Chúa
chúng ta, và lần khác cứ làm như vậy” (LT 77).
Mười
lăm phút xét gẫm, là 15 phút nhận định thiêng liêng
và cầu nguyện, là những phút phản tỉnh
để biết ḿnh hơn và biết Thiên Chúa hơn.
Việc
xét gẫm rất quan trọng để giúp ḿnh tiến
bộ hơn, chính v́ thế phải làm rất nghiêm túc.
Có
thể có những lúc trong đời, chúng ta cảm
thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều, và cảm thấy
bị cám dỗ nhiều về điều này hơn
điều kia. Tại sao vậy?
Có
thể đó là điểm yếu của tôi.
Thánh Inhaxiô
viết: “Thần dữ xử sự như một
tướng quân để thắng và cướp những
ǵ nó muốn. Bởi v́, một vị chỉ huy hoặc
thủ lănh của một đạo quân, sau khi đặt
doanh trại và quan sát lực lượng hay cách bố trí
của một thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm
yếu nhất.
Cũng
vậy, kẻ thù của bản tính loài người
cũng lượn quanh để quan sát các nhân đức
đối thần, các nhân đức trụ và luân lư, và
nơi nào nó nhận thấy ta yếu nhất và dễ nguy
hiểm nhất cho phần rỗi đời đời
của ta, nó sẽ tấn công vào đó để cố
hạ ta” (LT 327).
Nếu
tôi bị tấn công nhiều ở điểm nào, có
thể đó là điểm yếu (nhược
điểm) nhất của tôi chăng?
Nếu
tôi bị tấn công hay bị cám dỗ dữ dội
ở điểm nào đó, có thể tại v́ tôi chưa
dứt khoát thái độ ở điểm này, tại tôi
chưa dứt khoát chống trả ác quỷ và những
chước cám dỗ của nó chăng?
Thánh Inhaxiô
viết: “Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ nó
yếu khi ta chống trả, và nó mạnh khi ta buông xuôi.
Thực vậy, đặc điểm của đàn bà khi
gây gỗ với đàn ông, là mất can đảm và
chạy trốn khi đàn ông thẳng tay chống trả.
C̣n ngược lại nếu người đàn ông
bắt đầu chạy trốn và mất can đảm,
th́ cơn giận sự trả thù và sự hung dữ của
đàn bà thật lớn và không sao lường
được.
Cũng
vậy, đặc điểm của kẻ thù là yếu
nhược và mất can đảm cùng chạy trốn
với những cám dỗ của nó, khi người tập
tành trong đường thiêng liêng thẳng tay chống
trả các chước cám dỗ của kẻ thù và làm
ngược lại với các cám dỗ. Nhưng trái
lại nếu kẻ bắt đầu tập tành trên
đường nhân đức lại sợ hăi và mất
can đảm trước cuộc tấn công của cám
dỗ, th́ trên mặt đất này không có con vật nào hung
dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài
người nhằm theo đuổi ư hướng xấu
xa và vô cùng đồi tệä của nó” (LT 325).
Khi tôi
bị cám dỗ nhiều hoặc mạnh, cũng có thể
Thiên Chúa để tôi bị cám dỗ nhiều, để
tôi có nhiều dịp lập công và trưởng thành cùng
cứng cáp hơn chăng (LT 33-34.322b); nhưng có thể đó là dấu chỉ
cho thấy ḷng mến của tôi đối với Thiên Chúa
đă bị giảm sút chăng?
Chúng ta hăy xem t́nh yêu của ḿnh
đối với Thiên Chúa như thế nào.
Yêu là hành
vi tự do. Sống theo bản năng, không được
lư trí hướng dẫn, th́ không phải là hành vi tự do,
và như vậy không là yêu thương.
Khao khát
nên thánh,[24] ao ước thuộc trọn
về Thiên Chúa, là hành vi t́nh yêu.
Cứ
xem chúng ta khao khát thuộc về Chúa, khao khát nên thánh
đến mức độ nào, để chúng ta biết
chúng ta yêu Chúa như thế nào. Nếu khi xét gẫm mà chúng
ta nhận thấy chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu đối
với Thiên Chúa hay thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa, th́ hăy khiêm
tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.
Xin được yêu Chúa, đó là điều chúng
ta cần khiêm tốn nài xin liên lỉ (Xem LT 234).
Từ
ngữ “T́nh yêu” là từ ngữ trừu tượng. Dù là
từ ngữ trừu tượng, nó vẫn diễn
tả một thực tại vô cùng phong phú được
biểu lộ bằng nhiều hành vi cụ thể.
Yêu Thiên
Chúa, là sẵn sàng để tùy Ngài muốn xếp
đặt như thế nào về con người và
cuộc đời của ḿnh cũng được.
Sẵn sàng dâng tất cả cho
Chúa, để Chúa hoàn toàn tự do quyết định.
Yêu Thiên
Chúa, là chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Thiên
Chúa trên hết. Chẳng hạn trong thời gian Linh Thao,
dành tất cả thời giờ cho Thiên Chúa và cụ
thể là cầu nguyện; luôn sống với ư thức
Thiên Chúa hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh,
luôn sống trong tâm t́nh của chủ đề ḿnh đang
cầu nguyện; luôn giữ ǵn ngũ quan để dễ
dàng tập trung cầu nguyện và không làm người khác
bị phân tâm chia trí; hy sinh hăm ḿnh như dấu chỉ
muốn thuộc về Thiên Chúa hơn nữa.
Khung
cảnh
Cùng
với dân chúng theo đức Giêsu ra bờ hồ
để nghe Ngài rao giảng.
Ơn
xin
Xin
ơn đừng giả điếc làm ngơ trước
lời mời gọi của Chúa, nhưng mau mắn
lắng nghe và đáp trả tiếng Ngài.
Điểm
Cách
cầu nguyện bây giờ là chiêm niệm, nghĩa là, chúng
ta nh́n rồi suy nghĩ rút ích lợi, nghe rồi suy nghĩ
rút ích lợi, quan sát rồi suy nghĩ rút ích lợi.
Nh́n
nghe quan sát đức Giêsu để rút ích lợi.
Simon
đă nhận lời để đức Giêsu lên
thuyền của ḿnh, và giữ thuyền cho đức Giêsu
giảng dạy. Không chỉ thế, Simon c̣n chăm chú
lắng nghe đức Giêsu.
Sau
khi nghe giảng dạy, Simon đă vâng lời đức Giêsu
ra khơi buông lưới, dù với kinh nghiệm con
người, làm sao đức Giêsu có chuyên môn về chài
lưới bằng Simon!
Tất
cả những điều đó cho thấy thái độ
của Simon lúc này đang mở ra với Thiên Chúa và với
con người, cụ thể là với đức Giêsu.
Mẻ
cá bất ngờ và vượt tất cả mọi kinh
nghiệm trong đời của ḿnh. Và không phải chỉ
được một ơn vật chất là mẻ cá
lớn, Simon c̣n nhận được một ơn
lớn hơn nhiều: nhận ra ḿnh là tội nhân và không
xứng đáng ở gần đức Giêsu: “Lạy
Thầy, xin xa tôi ra, v́ tôi là kẻ tội lỗi” (Lc 5:8).
Và
khi Simon khiêm tốn phủ phục dưới chân
đức Giêsu, th́ ông c̣n nhận được một
ơn khác nữa: đức Giêsu mời gọi ông cộng
tác với Ngài: “từ nay ngươi sẽ là kẻ chài
lưới bắt người” (Lc 5:10).
Không
phải v́ tốt hơn người khác mà Simon
được gọi, nhưng chính khi ư thức ḿnh là
tội nhân và bất xứng với Thiên Chúa th́ Simon
được gọi.
Trước
lời mời của đức Giêsu đối với
Simon và các bạn, họ đă bỏ tất cả
để theo đức Giêsu không một chút luyến
tiếc.
Không
bận tâm giải quyết hai thuyền đầy cá, dù
rằng trước đó không lâu họ đă bận tâm
nhiều để làm sao có được nhiều cá; sẵn
sàng từ bỏ thuyền, chài và lưới, nghề
nghiệp và thói quen; sẵn sàng từ bỏ cha mẹ anh
chị em và cả vợ con để theo đức Giêsu.
Tôi
có thái độ sẵn sàng như các tông đồ tiên
khởi này không? Phải chăng lúc đầu tôi cũng
đă quảng đại sẵn sàng từ bỏ tất
cả, nhưng c̣n những năm tháng sau đó và bây
giờ? Hay tôi đă lấy lại tất cả
điều tôi đă từ bỏ trong những năm tháng
vừa qua?
Hôm
nay và bây giờ, Chúa mời gọi ǵ nơi tôi? Phải
chăng Chúa vẫn tiếp tục mời gọi tôi từ
bỏ tất cả để đi theo Chúa, và từ
bỏ cả những ǵ tôi đă lấy lại trên
đường theo Chúa, như ngày nào thuở ban
đầu Chúa đă mời gọi tôi?
Tâm
sự
Hăy
thân thưa với Chúa như tôi thấy về hiện
trạng của tôi. Xin cho tôi được quảng
đại với Ngài không chỉ như mà c̣n hơn ngày
đầu mới theo Ngài.
Làm
sao để có tâm t́nh thái độ của lời
nguyện xin trong LT 97-98, lời nguyện của những
kẻ muốn trổi trang trong việc phụng sự
Thiên Chúa.
Khung
cảnh
Như
thể ḿnh hiện diện và thấy đức Giêsu
chiến đấu đổ mồ hôi máu trong vườn
dầu.
Ơn
xin
Quảng
đại đáp trả lời mời gọi của Chúa:
nên thánh, thuộc trọn về Chúa, bằng vượt lên
trên những khuynh chiều của thân xác ḿnh, bằng đời
sống yêu thương.
Điểm
“Hăy
là thánh v́ Ta là thánh, Ta, Yavê Thiên Chúa của các ngươi” (Lv
19:2). Thiên Chúa đă truyền lệnh nhân danh chính Ngài, v́
chính Ngài chứ không v́ bất cứ điều ǵ khác;
điều này cho thấy mức độ quan trọng
của lệnh truyền.
Thánh,
nghĩa là sao?
Chỉ
có Thiên Chúa là Đấng Thánh, là Đấng ba lần thánh:
“Thánh, chí thánh, ngàn trùng chí thánh.” Ngoài Thiên Chúa không ai là thánh
cả.
Ở
một nghĩa loại suy, các tạo vật
được gọi là thánh v́ được dành cho Thiên
Chúa, chẳng hạn: bàn thánh, đĩa thánh, khăn thánh, v.v.;
và nơi con người, một người
được gọi là thánh v́ người đó thuộc
về Thiên Chúa.
Với
những sách tu đức xưa, người ta
thường tŕnh bày các thánh nhân như những
người làm phép lạ, như những người khi
cầu nguyện thường được ngất trí.
Tŕnh bày h́nh ảnh của một vị thánh như vậy
dễ làm cho người ta thấy xa lạ và không ao
ước nên thánh. Đúng ra, thánh nhân là người luôn
thuộc về Thiên Chúa, luôn lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh,
sẵn sàng từ bỏ ḿnh để thực hiện ư
định của Thiên Chúa. Thánh nhân, là những
người sống đời b́nh thường một
cách rất phi thường.
Con
người là tinh thần qua thân xác.
Với
thân xác, con người có những khuynh chiều thuộc
thân xác như đói cần ăn khát cần uống, khuynh
chiều thỏa măn sinh lư, khuynh chiều đ̣i
được tôn trọng và muốn thống trị
người khác, v.v.! Nơi con vật, chúng ta cũng
thấy những khuynh chiều này, nhưng dưới
trạng thái thô sơ hơn.
Con
người có khuynh chiều thân xác, nhưng con
người tự do, con người có thể không
thỏa măn những khuynh chiều của thân xác.
Nếu
một người cảm thấy nơi ḿnh có khuynh
chiều thân xác hạ đẳng, th́ chẳng có ǵ đáng
ngạc nhiên và buồn phiền.
Cảm
thấy nơi ḿnh có khuynh chiều hạ đẳng, không
có nghĩa rằng ḿnh xấu xa hèn kém. Chúng ta chỉ hèn kém
khi chúng ta chiều theo những khuynh chiều thấp hèn
đó, c̣n nếu chúng ta chống trả, th́ giá trị con
người chúng ta càng cao.
Nếu
bị cám dỗ mà chống trả, ḿnh có công phúc
trước mặt Thiên Chúa; và nếu càng bị cám dỗ
nhiều mà lại càng chống trả mănh liệt
đến khi nó chịu thua, th́ công phúc của ḿnh lại
càng lớn (LT 33-34).
Nên
thánh, là không dừng lại ở b́nh diện vật
chất, nhưng vượt lên trên vật chất
để vươn tới Thiên Chúa.
Qua
những dấu chỉ là các tạo vật hữu h́nh, con
người trở thành “tinh thần” khi nhận ra Thiên Chúa
hiện hữu. Để trở thành tinh thần trong hành
vi nhận thức, con người phải làm một
bước nhẩy.
Để
trở thành tinh thần trong đời sống
thường ngày, con người được mời
gọi vượt qua chính
ḿnh với những khuynh chiều của ḿnh bằng hành vi
yêu thương, v́ chỉ có con người mới có
thể yêu thương. Yêu thương là làm theo
điều lư trí thấy đúng và tốt, cho ḿnh và cho tha
nhân, dù ḿnh phải từ bỏ, phải hy sinh thời
giờ và sức lực. Yêu thương là sống
vượt lên trên những khuynh chiều hạ đẳng,
vượt lên trên thú tính của ḿnh.
Một
ngày, chúng ta có rất nhiều dịp để nên thánh. Càng
bị thử thách và cám dỗ, chúng ta càng có nhiều
dịp để lập công và nên thánh. Thánh Phaolô đă ba
lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt ngài,
nhưng Thiên Chúa phán: “ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12:8-9).
Khi
bị cám dỗ và thử thách nhiều, đừng chán
nản thất vọng, nhưng hăy tin tưởng vào
đức Giêsu. Đức Giêsu đă bị cám dỗ và
thử thách trăm chiều (Mt 4:1-11; Mc 14:34; 15:34), nhưng
Ngài đă chiến thắng để ta cũng
được chiến thắng với Ngài (Ga 16:33).
Tâm
sự
Hăy
thân thưa với Chúa như ḿnh thấy con người
của ḿnh. Xin cho ḿnh ơn quảng đại với Chúa,
để ḿnh luôn vượt qua chính ḿnh trong mọi giây
phút của cuộc sống thường ngày.
Khung
cảnh
Những
nơi và những con đường tại đất
nước Do Thái nối từ làng này qua làng kia, những
con đường ven biển, trên đó đức Giêsu
đă rong ruổi rao giảng Nước Thiên Chúa.
Ơn
xin
Đừng
làm ngơ giả điếc trước lời mời
gọi của Chúa, nhưng mau mắn lắng nghe và
quảng đại thực thi Ư Chúa trong từng giây phút
của cuộc đời.
Điểm
Sứ
mạng của đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập
thể là ǵ?
Sứ
mạng của Ngôi Lời Nhập Thể là chuộc
tội, là cứu độ, là giải phóng con người
khỏi nô lệ tạo vật (dù là qủy dữ hay
đam mê của xác thịt ḿnh). Câu trả lời này hoàn
toàn đúng, nhưng người ta cũng có thể nói:
sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể là làm chứng cho t́nh yêu.
Làm
sao để con người biết Thiên Chúa yêu
thương họ, và rung động trước t́nh yêu
của Thiên Chúa, để rồi họ đáp trả.
Tội
là không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, là tin vào
qủy dữ hơn tin vào Thiên Chúa, là không trông cậy vào
Thiên Chúa nữa. Nhưng nếu con người rung
động trước t́nh yêu Thiên Chúa, và sẵn sàng phó
thác đời sống ḿnh cho Thiên Chúa để tùy Thiên Chúa
muốn làm ǵ tùy Ngài, th́ con người sẽ b́nh an và
hạnh phúc thực sự.
Làm
sao để con người tin nhận và đáp trả
t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh, đó là
sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể, của
đức Giêsu.
Ngôi
Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người
để thực hiện sứ mạng Cha trao phó.
Nhập
thể, thành xác phàm, nghĩa là phải đói phải khát,
có thể bị sỉ nhục khinh chê, và có thể bị
giết. Ngôi Lời Thiên Chúa đă chấp nhận cái cùng
cực của kiếp người để thực
hiện sứ mạng được trao phó:
·
chấp nhận
nhập thể và ở trong cung ḷng một người
nữ (Gl 4:4-6);
·
chấp nhận ḿnh có
một người cha người mẹ ở giai cấp
thường dân như mọi người khác;
·
sinh ra trong chuồng súc
vật;
·
sống như một
người nghèo và b́nh thường ở Nadarét;
·
hành nghề thợ
mộc, một nghề thường như bao nghề khác;
·
đi rao giảng trong
khó nghèo (Lc 21:37);
·
chết ô nhục và
đau đớn trên thập giá.
Đức
Giêsu đă yêu thương con người đến
chết v́ con người (Ga 15:13), đến ban thịt
máu Ngài làm của ăn của uống cho con người (Mc
14:22-25). Đức Giêsu đă làm mọi sự để
con người nhận biết Ngài yêu mến họ và Thiên
Chúa cũng yêu mến họ. Ngài mong ước con
người đáp trả t́nh yêu của Ngài và cũng là
t́nh yêu của Thiên Chúa (Ga 15:9; 17:23).
Đức
Giêsu đă mặc khải cho con người biết Ngài là
Thiên Chúa dù v́ mặc khải đó Ngài phải chết.
Sở dĩ Ngài phải làm vậy, v́ nếu con
người biết Ngài là Thiên Chúa, th́ con người
cũng biết Thiên Chúa yêu thương con người vô
cùng. Để con người biết Thiên Chúa yêu
thương họ, đức Giêsu đă phải chết.
Ngài chết để làm chứng cho t́nh yêu.
“Như
Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21).
Cùng
một sứ mạng Thiên Chúa Cha đă trao cho đức Giêsu,
đức Giêsu cũng trao cho các tông đồ và qua các tông
đồ Ngài trao cho chúng ta; cùng một cách thế
đức Giêsu thực hiện sứ mạng, th́ chúng ta
cũng thực hiện sứ mạng đó.
Làm
sao chúng ta có thể làm cho người ta nhận biết
Thiên Chúa yêu thương họ, nếu chính chúng ta không
hoặc chưa cảm được t́nh yêu Thiên Chúa
đối với chúng ta?
Làm
sao chúng ta có thể làm cho con người tin và cảm
nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, nếu chính chúng ta
không yêu thương họ?
Con
đường diễn tả t́nh yêu, là con
đường thập giá. Chính khi ḿnh phải gian nan
để yêu thương người ta, người ta
mới dễ nhận ra t́nh yêu của ḿnh đối
với họ; và khi họ nhận ra ḿnh yêu thương
họ, họ dễ tin vào lời ḿnh nói với họ
hơn, và họ dễ tin rằng Thiên Chúa yêu thương
họ hơn.
Tâm
sự
Xin
Chúa cho ḿnh xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương
ḿnh, để ḿnh có thể trở thành chứng nhân t́nh yêu
của Thiên Chúa cho con người ngày hôm nay.
Chúng ta
đang ở trong tuần thứ hai của Linh Thao: cầu
nguyện về Ngôi Lời nhập thể, từ mầu
nhiệm nhập thể cho đến ngày đức Giêsu
được rước vào thành Giêrusalem cách long
trọng.
“Xin
hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm
người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104).
Vô tri
bất mộ. Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́
sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết ở đây
không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng chủ yếu
là cái biết thâm sâu do được cảm nghiệm.
Thiên Chúa
là ai? Là Đấng yêu tôi đến độ nhập
thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như
vậy, tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu
của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp
trả được t́nh yêu.
T́nh yêu
được diễn tả cách cụ thể, chính Thiên
Chúa đă nhập thể để phục vụ con
người: “con người đến không phải
để được phục vụ, nhưng
để phục vụ và hiến mạng sống làm giá
chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45); c̣n tôi, tôi
phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi phải nên
giống Ngài, phải theo Ngài.
Hiểu
Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó
là cách nói khác của cùng nội dung “để trở nên
đồng h́nh đồng dạng với đức Giêsu
Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết với Người, ta
sẽ cùng sống với Người, nếu ta cùng đau
khổ với Người, ta sẽ cùng thống trị
với Người,” “tôi sống nhưng không c̣n phải
tôi sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài sống trong
tôi” (Gl 2:20).
Nên
giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là người mẫu
của chúng ta, Ngài là thần tượng, là Đấng mà
chúng ta phải bắt chước và quy chiếu về. Yêu
thương là trở nên một với nhau, nếu chúng ta
yêu thương Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu
hơn.
·
Lời đă thành xác
phàm (Ga 1:1-18);
·
Nhập thể là
tự hủy (Pl 2:6-11);
·
Sinh bởi người
nữ (Gl 4:4-6);
·
LT 101-109
·
Lời nhập thể
được giáng sinh (Lc 2:1-20);
·
Lời Thiên Chúa Nhập
Thể được cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);
·
Đức Giêsu
được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40);
·
Trốn sang Ai-cập (Mt
2:13-23);
·
Đức Giêsu thời
thơ ấu (Lc 2:39-40);
·
Đức Giêsu ở
lại đền thờ (Lc 2:41-50);
·
Đức Giêsu sống
một thời gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).
·
Đức Giêsu chịu
phép rửa (Mc 1:1-13);
·
Đức Giêsu chịu
cám dỗ (Mt 4:1-11);
·
Trọn ngày sống cho
Thiên Chúa (Mc 1:21-39);
·
Đức Giêsu luôn t́m
và thực hiện Thánh Ư Cha (Ga 4:34);
·
Mối phúc thật (Mt 5:1-12);
·
Thái độ của
dân chúng đối với đức Giêsu (Mc 1:32-3:12);
·
Thái độ của
người thân, kư lục và biệt phái đối với
đức Giêsu (Mc3:20-30);
·
Khủng hoảng
sứ vụ tại Galilê (Mc 4);
·
Hạt giống âm
thầm mọc (Mc 4:26-29);
·
Loan báo tin mừng
bằng trừ qủy (Mc 5-6);
·
Các tông đồ không
hiểu đường lối của đức Giêsu (Mc 4;6);
·
Đức Giêsu là Kitô (Mc
8:27-30);
·
Con đường
đức Giêsu đi là con đường thập giá (Mc 8:31-33);
·
Ai muốn theo tôi
phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);
·
Con đường
đức Giêsu đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);
·
Con đường
đức Giêsu đi: phục vụ (Mc 9:33-37);
·
Con đường
đức Giêsu đi: yêu thương (Mc 12:28-34);
·
Tinh thần của
đức Giêsu (Mc 9:38-41);
·
Không muốn hiểu bài
học thập giá (Mc 10:32-45);
·
Người mù
được sáng (Mc 10:46-52);
·
Những người
không chấp nhận con đường đức Giêsu
đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);
·
Đức Giêsu, con
người tự do (với bạc tiền, danh vọng,
t́nh duyên);
Chúng ta t́m hiểu thêm
về cầu nguyện và nhận định thần
loại. Trước tiên chúng ta t́m hiểu cầu
nguyện như chiêm niệm, sau đó t́m hiểu về các
quy luật nhận định thần loại tuần
thứ hai.
Trong những bài cầu nguyện
về mầu nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô
đều chỉ cách chiêm niệm.
Nh́n đức Giêsu, suy nghĩ
để rút ích lợi; Nghe đức Giêsu, suy nghĩ
để rút ích lợi; Quan sát cung cách hành xử của
đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi: đó là
cách cầu nguyện “chiêm niệm.”
Có những đề tài cầu
nguyện không thể chiêm niệm được, nhưng
nếu đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́
có thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.
Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để
thấy Chúa đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong
những trường hợp và t́nh huống khác nhau,
để ḿnh trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống
đức Giêsu hơn.
Trở nên giống đức Giêsu
hơn, nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài,
không phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh
diện thiêng liêng: có con tim “nhân từ, bao dung, thương
yêu” như Chúa, có ánh mắt “nhân từ, trong sáng, cảm
thông” như Chúa, có cung cách hành xử “độ
lượng, kiên nhẫn, cương quyết dứt khoát”
như Chúa.
Chúa Giêsu luôn là mẫu để
chúng ta noi theo và bắt chước: quan điểm lập
trường của Ngài, cách sống của Ngài.
“Để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục
đích của những bài cầu nguyện tuần thứ
hai này.
Thiên Chúa
muốn con người được sống trong t́nh yêu
và hạnh phúc với Ngài; các thần lành cũng muốn
chúng ta sống trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các
ngài; c̣n các thần dữ th́ luôn chống đối Thiên
Chúa và t́m mọi cách để làm con người sống xa
Thiên Chúa.
Khi có
nguyên do, cả thần lành lẫn thần dữ
đều có thể “an ủi,” nhưng nhằm mục
đích trái ngược (LT 331).
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể
tác động trực tiếp trên con người không
cần trung gian; Điểm đặc biệt của Thiên Chúa là có
thể lôi kéo con người đến với Ngài không qua
trung gian, mà con người hoàn toàn tự do (LT 330).
Chỉ
có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do con
người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu
nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một
người, xin cho người nào đó trở lại. Làm
một người trở lại, đó là khả năng
chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm
được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự
do).
Thiên Chúa
có thể dùng trung gian để biến đổi một
người, và Ngài cũng có thể biến đổi
một người không cần dùng trung gian, mà con
người vẫn hoàn toàn tự do.[25]
Đối
với một người đang tiến tới trên
đàng thiêng liêng, nếu người đó biết
điều ǵ đó là do ác quỷ th́ chắc chắn
người đó sẽ không theo; như vậy, để
làm con người đi theo đường lối tà
vạy của ḿnh, ác quỷ thường hay giả
dạng thần lành để dẫn đưa
người đó theo lối đồi tệ của nó (LT
332).
Nếu
một ư tưởng hay một điều nào đó lúc
đầu có vẻ tốt lành thánh thiện, nhưng sau
đó lại làm chúng ta cầu nguyện không
được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu
nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút,
chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an
như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư
tưởng hay điều đó là do ác quỷ (LT 333); chúng
ta hăy duyệt xét lại để rút kinh nghiệm cho
lần tới, để không trúng bẫy ác quỷ nữa
(LT 334).
Khung
cảnh
Căn
nhà đức Maria sống với thân phụ thân mẫu
tại làng Nadarét.
Ơn
xin
Hiểu
biết thâm sâu về Ngôi Lời Nhập Thể hơn,
để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài.
Điểm
Nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Nh́n
nghe quan sát con người trên khắp thế giới
đang sống trong t́nh trạng tội lỗi, không vâng
phục Thiên Chúa qua lương tâm và luôn thù ghét làm hại
nhau.
Sống
trong tội, con người đặt lợi danh quyền
hành của họ lên hàng đầu, và những sự khác,
ngay cả “nhân vị con người” cũng chỉ là
phương tiện để phục vụ cho con
người ích kỷ với những tham vọng của
họ.
Con
người phạm tội, luôn sống trong t́nh trạng
bất hạnh. Họ sống không b́nh an, và những
người sống với họ cũng luôn cảm
thấy bị đe dọa; v́ không ǵ bảo đảm
họ sẽ không làm hại những người này.
Thiên
Chúa từ thuở đời đời, thấy rơ con
người bất hạnh và khốn cùng khi từ
chối Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài.
Thiên
Chúa muốn cứu độ con người, Ngài đă
quyết định từ thuở đời đời
rằng Ngôi Lời sẽ nhập thể để cứu
độ con người.
Không
phải khi Adam và Evà phạm tội, Thiên Chúa mới
biết và mới quyết định rằng Ngôi Lời
sẽ nhập thể, nhưng Thiên Chúa đă biết từ
thuở đời rằng con người sẽ phản
bội chống đối Ngài.
Tuy
Thiên Chúa biết trước con người sẽ phạm
tội như vậy, nhưng không v́ thế mà con
người mất tự do: con người vẫn luôn
được tự do, cũng tương tự như
trường hợp hai người bạn thân biết
“trước phần nào” cung cách cư xử của nhau và
như người mẹ biết “trước phần nào”
cung cách cư xử và phản ứng của con ḿnh.
Với
kiểu nói nhân h́nh, Thiên Chúa biết con người sẽ
phạm tội nhưng Thiên Chúa không hề muốn con
người phạm tội; Sở dĩ như vậy v́
Thiên Chúa ban cho con người tự do: Thiên Chúa ban cho con
người khả năng làm trái ư Thiên Chúa nếu con
người muốn; Và khi con người làm trái ư Thiên Chúa:
đó là tội.
Khi
tới thời tới buổi (Gl 4:4-6), Thiên Chúa đă sai
sứ thần Gabriel đến truyền tin cho đức
Maria, hỏi xem đức Maria có sẵn sàng vâng phục ư
định Thiên Chúa: thụ thai một con người
rất đặc biệt không?
Đức
Maria đă thưa tiếng “xin vâng” với Thiên Chúa về
chương tŕnh của Ngài nhằm cứu độ con
người.
Để
có thể thưa tiếng xin vâng, đức Maria đă
đặt
·
t́nh yêu Thiên Chúa trên t́nh
yêu riêng (đối với thánh Giuse);
·
ư định Thiên Chúa
trên danh dự gia đ́nh;
·
niềm tin vào Thiên Chúa
hơn là chính con người của ḿnh.
Đức
Maria đă đính hôn với Giuse trước khi thiên
thần truyền tin (Lc 1:27), hàm chứa đức Maria
đă thân quen và yêu thánh Giuse trước. Đứng
trước lời mời gọi của Thiên Chúa,
đức Maria đă chọn Thiên Chúa trên hết, đă
sẵn sàng hy sinh t́nh yêu riêng để làm theo ư định
của Thiên Chúa. Nếu Giuse không hiểu và không thông
cảm, th́ đức Maria cũng sẵn sàng chịu, ư Thiên
Chúa được coi là trên hết đối với
đức Maria.
Nếu
Giuse không chịu hiểu, và nếu chuyện tai tiếng
xảy tới cho gia đ́nh, làm sao thánh Gioan-Kim và thánh Anna có
thể chịu đựng được điều
như vậy? Đức Maria chấp nhận tất
cả điều tệ hại nhất có thể xảy
ra cho gia đ́nh cha mẹ và họ hàng, ư định của
Thiên Chúa phải được coi là trên hết.
Nếu
Giuse không hiểu và không thông cảm, nếu Giuse tố cáo
công khai th́ sao, Maria có thể bị ném đá chết như
một phụ nữ phạm tội ngoại t́nh! Nếu
chuyện xảy ra như vậy, th́ việc nhận
lời thụ thai nào có ích lợi ǵ? Không, đức Maria
vẫn hoàn toàn tin tưởng và phó thác tất cả cho
Thiên Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm tất
cả những ǵ, và Ngài có thể làm cho thành sự
những ǵ Ngài đă khởi đầu. Chỉ khi phó thác
như vậy, đức Maria mới có thể thưa
tiếng xin vâng đối với Thiên Chúa.
Đức
Maria đă thưa tiếng xin vâng với Thiên Chúa, dù Mẹ
chưa thấy rơ hoàn toàn tương lai của ḿnh. Chưa
thấy rơ, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng phó thác tất
cả cho Thiên Chúa: “Phúc cho em là kẻ đaơ tin rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ được
thực hiện” (Lc 1:45). Lúc này, những ǵ Thiên Chúa nói
với Mẹ chưa được thực hiện,
nhưng Mẹ tin chúng sẽ được thực
hiện. Đức tin của Mẹ thật tuyệt
vời.
Kể
từ khi đức Maria thưa tiếng “xin vâng,” Ngôi
Lời Thiên Chúa đă nhập thể trong cung ḷng
đức Maria.
Chúng
ta hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Tâm
sự
Thân
thưa với Thiên Chúa Cha, với Ngôi Lời Nhập
Thể, như chúng ta thấy nơi ḷng ḿnh. Xin cho ḿnh
biết tự hủy trong sứ mạng làm chứng cho
t́nh yêu như Ngôi Lời.
Khung
cảnh
Con
đường từ Nadarét tới Giêrusalem và Bêlem,
chuồng chiên cừu, đền thờ. Như thể ḿnh
đang hiện diện trong chuồng chiên cừu
để chiêm ngắm Ngôi Lời Nhập Thể giáng sinh.
Ơn
xin
Ơn
hiểu biết thâm sâu về Ngôi Lời Nhập Thể
hơn, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.
Điểm
Nh́n
nghe quan sát, cố hiểu phản ứng và tâm t́nh của
từng vị, suy nghĩ và rút ích lợi:
·
đức Maria và thánh Giuse
trên đường từ Nadarét tới Bêlem; lúc này thai nhi
đă hơn chín tháng nên đức Maria rất vất
vả;
·
thánh Giuse vất vả
ngược xuôi t́m nhà trú đêm cho đức Maria;
·
đức Maria sinh con
trong chuồng chiên cừu;
·
hài nhi được
sinh hạ là Ngôi Lời Nhập Thể.
Thiên
thần Chúa đă hiện ra báo tin cho các mục
đồng.
Dấu
chỉ để nhận biết “Đấng Cứu
Thế Chúa được giáng sinh cho các ngươi trong
thành Davit,” là hài nhi ḿnh vấn tă được đặt
nằm trong máng cỏ.
Dấu
chỉ quá tầm thường, tầm thường
đến độ không ai có thể ngờ. Dân ở Bêlem
không thể nhận ra hai vợ chồng trẻ nghèo xin
ngủ nhờ qua đêm lại là những người
“mang” Thiên Chúa đến với họ, nên họ đă không
tiếp nhận, và không được diễm phúc nhận
biết Ngôi Lời Nhập Thể; c̣n những mục
đồng đă tin dù dấu chỉ rất đơn
sơ và tầm thường, nên đă được
diện kiến Ngôi Lời Nhập Thể.
Hăy
nh́n nghe quan sát, suy nghĩ rút ích lợi.
Hài
nhi được cắt b́ và đặt tên. Cắt b́ là
nghi thức tôn giáo, cắt da quy đầu của em bé trai.
Hài
nhi cảm thấy đau đớn, dẫy dụa và khóc
thét trong nghi lễ này. Hăy nh́n nghe quan sát mầu nhiệm, suy
nghĩ và rút ích lợi.
Ngôi
Lời Nhập Thể nên giống chúng ta, là “người”
hoàn toàn, trừ tội (Hr 2:17; 4:15).
Đức
Giêsu được dâng cho Thiên Chúa trong đền thờ.
Đức Maria được tẩy uế theo luật.
Đức
Giêsu là Thiên Chúa, luôn hướng về Cha (Ga 1:1), vậy
tại sao phải “dâng” trong đền thờ? Đức
Maria sinh hạ Thiên Chúa Nhập Thể, đâu có “dơ”
để mà phải tẩy uế?
Đức
Maria và thánh Giuse đă đại diện con người,
xin Thiên Chúa Cha cho Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể,
được ở lại với con người.
Đức
Maria vẫn không hiểu lời hai tiên tri Simêon và Anna;
Mẹ suy nghĩ và giữ kỹ trong ḷng.
Mẹ
Maria cũng luôn đi t́m thánh ư Thiên Chúa trong đức tin.
Nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Đức
Giêsu đă sống thời thơ ấu tại Nadarét
như bao em bé khác. Ngài cũng được bú mớm,
được ấp yêu cưng chiều, tập lẫy
tập ḅ tập đi, học nói học viết học
làm việc. Cũng chơi, và lớn lên với chúng bạn
và nhờ chúng bạn.
Nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
·
đức Giêsu ở
sáu tháng tuổi;
·
ở ba năm tuổi;
·
ở sáu năm
tuổi;
·
ở tám, mười,
và mười một năm tuổi.
Cách
thức người thời đó đối xử
với đức Giêsu, là cách đối xử của
họ với Thiên Chúa Nhập Thể. Cách thức hôm nay tôi
đối xử với các em thơ bé, có thể là cách
thức tôi đối xử với đức Giêsu.
Tâm
sự
Nói
chuyện thân thưa với Chúa Cha, với Ngôi Lời
Nhập Thể, và với Thánh Thần Thiên Chúa, như chúng
ta thấy nơi ḷng; cũng có thể tâm sự với
Mẹ và với thánh Giuse nữa.
Khung
cảnh
Con
đường từ Nadarét tới Giêrusalem, đền
thờ và nơi đức Giêsu ngồi với các thầy
dạy tại Giêrusalem.
Ơn
xin
Ơn
hiểu biết thâm sâu về Chúa, để yêu mến Chúa
hơn và theo Ngài. Hiểu tại sao Ngài ở lại
đền thờ mà không báo cho mẹ Ngài hay, để
mẹ Ngài phải cực khổ t́m Ngài như vậy!
Điểm
Nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
·
Đức Maria, thánh Giuse
và đức Giêsu trước ngày đi lên Giêrusalem dự
lễ Vượt Qua;
·
Dân làng Nadarét tập
trung đi với nhau lên Giêrusalem, họ đi thành từng
nhóm[26] với nhau, và có
thể đàn ông riêng, đàn bà riêng, và trẻ em riêng;
·
Đức Giêsu ở
lại Giêrusalem mà cha mẹ Ngài không hay biết.
Đức
Giêsu ở lại Giêrusalem, v́ có lẽ Ngài được
thúc đẩy đến độ quên không báo hoặc
không c̣n giờ hoặc dịp để báo cho mẹ
hoặc cha Ngài.
Đức
Giêsu luôn đặt Thiên Chúa, ư định cũng như công
việc của Thiên Chúa lên trên tất cả. Đó là
điều chúng ta phải học đức Giêsu trong
biến cố Ngài ở lại Giêrusalem này.
Kể
từ biến cố đó trở đi, đức Giêsu
hằng luôn tùng phục hai ông bà (Lc 2:51-52).
Đức
Giêsu đă sống những năm tháng dài ở Nadarét,
như một em bé đồng trang lứa tuổi bất
kỳ nào đó. Ngài đă sống những năm 13
tuổi, 14 tuổi, 15, 16, 17, 18, 19, 20 tuổi, 21, 21, 23, 24,
25, 26, 27, 28, 29, 30 tuổi; Những tháng năm dài, mà chỉ
kể số năm thôi chúng ta đă thấy lâu và không
đủ kiên nhẫn rồi, huống hồ là sống!
Xem
cách đức Giêsu đối xử với những
người tới đặt đức Giêsu làm việc;
xem cách Ngài đối xử với bạn trai bạn gái;
xem cách Ngài đối xử với kẻ dưới
người trên. Để mỗi người chúng ta
được nên giống Ngài hơn.
Cuộc
đời đức Giêsu có giá trị và ư nghĩa sâu xa.
Hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Tâm
sự
Thân
thưa với Chúa Giêsu như thể Ngài đang trong
đời sống ẩn dật tại Nadarét, xin Ngài
dạy chúng ta cách sống và đối xử với
người khác như Ngài.
Khung
cảnh
Nơi
hài nhi được sinh ra; và căn nhà, nơi đức Giêsu
sống với đức Maria và thánh Giuse tại Nadarét.
Cũng nh́n nơi đức Giêsu đă ở khi Ngài lưu
lại tại Giêrusalem. “Xưởng mộc” của
đức Giêsu.
Ơn
xin
Xin
hiểu thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người
v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài.
Điểm
Dừng
lại ở những chỗ đă được đánh
động hoặc an ủi; cũng dừng lại
những chỗ ḿnh đă bị sầu khổ hoặc ḿnh
muốn trốn tránh.
Tâm sự với Chúa như
ḿnh thấy.
Khung
cảnh
Chỗ
đức Giêsu được thanh tẩy và nơi
đức Giêsu ăn chay cầu nguyện và bị cám
dỗ; có lẽ dưới một ṿm cây hay trong một
hốc đá nào đó.
Ơn
xin
Xin
hiểu Chúa hơn để yêu Chúa và theo Chúa hơn.
Điểm
Đức
Giêsu vô tội, vậy tại sao Ngài phải chịu thanh
tẩy? Đức Giêsu là Thiên Chúa Nhập Thể, vậy
tại sao Ngài lại bị cám dỗ?
Nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
·
đức Giêsu chào
Mẹ để lên đường đi Giêrusalem;
·
đức Giêsu trên
đường tới nơi Gioan rao giảng;
·
đức Giêsu
trước khi được thanh tẩy và sau khi
được thanh tẩy.
Khiêm
tốn không là giả bộ, cũng không là làm điều
ǵ trái sự thực với mục đích chỉ
để làm gương. Ai sống theo sự thật
mới có thể làm gương sáng thực sự.
Đức Giêsu đă không chịu thanh tẩy chỉ
nhằm để làm gương, nếu thực sự
Ngài không thấy Ngài cần phải được thanh
tẩy.
Đức
Giêsu ư thức Ngài “gánh tội trần gian” như Gioan
Tẩy Giả làm chứng (Ga 1:29). Chính v́ gánh tội
của con người, nên đức Giêsu thấy Ngài
cần được thanh tẩy, và Ngài đă chịu
thanh tẩy.
Thiên
Chúa đă chứng thực cho hành vi khiêm tốn của Ngài
bằng tiếng phán từ trời và Thánh Thần như
chim câu đáp xuống trên Ngài.
Thần
Khí Thiên Chúa dẫn Ngài vào hoang địa để chịu
ác quỷ cám dỗ (Mt 4,1).
i.
Biến đá thành bánh
Đức
Giêsu cảm thấy đói, và ác quỷ gợi ư cách
thỏa măn nhu cầu bằng cách biến đá thành bánh.
Đức
Giêsu đă từ chối! Tại sao?
Tự
bản chất ác quỷ không muốn điều ǵ tốt
lành cho con người; điều mà ác quỷ gợi ư
đó, chắc chắn không tốt thực cho tôi.
Một
điều c̣n quan trọng hơn việc ăn uống
đối với con người, đó là lắng nghe
Lời Chúa. Người đời thường cho
rằng “có thực mới vực được
đạo,” nhưng con người c̣n nhu cầu tinh
thần, và nhu cầu này c̣n quan trọng và khẩn thiết
hơn cả nhu cầu về cơm ăn áo mặc.
Ngày
nay, những cám dỗ thuộc loại này c̣n xuất
hiện trong đời của tôi không? và thường
dưới dạng thức nào?
ii.
Nhảy xuống từ đỉnh đền thờ
Nếu
đức Giêsu nhảy từ đỉnh đền
thờ xuống, chắc chắn có nhiều người
kính phục Ngài; và nếu sau đó Ngài giảng dạy dân
chúng, th́ chắc có nhiều người nghe lời Ngài.
Vậy tại sao Ngài không làm?
Điều
ác quỷ muốn, chắc chắn không tốt thực cho
tôi.
Cách
thế của Thiên Chúa là chinh phục con người
bằng t́nh yêu; Ngài luôn để con người tự do
hoàn toàn; Ngài không dùng bất cứ một áp lực nào, dù áp
lực đó không phải là vũ lực. Sự thật và
t́nh yêu, đó là những nét đặc trưng của cách
thế Thiên Chúa dùng.
Ngày
nay, cám dỗ ham danh vọng và mong muốn trổi trang
được ngụy trang dưới h́nh thức nào và
chiêu bài nào đối với tôi?
iii.
Quyền trên tất cả nếu bái lạy ác quỷ
“Tôi
sẽ cho Ngài tất cả nếu Ngài phục ḿnh bái
lạy tôi” (Mt 4:9). Cám dỗ có quyền hành trên kẻ khác,
muốn làm chủ người khác bằng vũ lực,
vẫn là cám dỗ mănh liệt đối với con
người ngày hôm nay. Đức Giêsu cũng không
được miễn trừ khỏi cám dỗ này.
“Chỉ
phải thờ lạy một Thiên Chúa mà thôi.” Không
được chọn lựa hay đánh đổi
điều ǵ với Thiên Chúa cả. Chỉ có Thiên Chúa có
quyền trên con người, c̣n chúng ta, chúng ta phải tôn
trọng con người, tôn trọng Thiên Chúa. Chúng ta không
được điều khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh,
nhưng ngược lại, chúng ta phải thuận theo ư muốn
của Thiên Chúa.
Ngày
này, cám dỗ về quyền hành được thấy qua
những h́nh thức nào?
Đức
Giêsu đă chiến thắng ác quỷ, Ngài đă không sa
chước cám dỗ. Theo niềm tin kitô giáo, đức
Maria cũng không vương tội nguyên tổ và tội
riêng. Như vậy, bản chất con người đâu
có hàm chứa: “con người không thể tránh phạm
tội.”
Con
người có thể không phạm tội; nhưng thực
tế không ai lại không phạm tội[27]. “Hăy tỉnh thức và cầu
nguyện kẻo sa cơn thử thách, tâm thần tuy
sẵn sàng nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38).
Nếu chúng ta cậy dựa vào sức riêng của chúng ta,
chắc chắn chúng ta sẽ sa ngă; nhưng nếu chúng ta
cậy dựa vào Thiên Chúa và vào đức Giêsu, chắc
chắn chúng ta sẽ chiến thắng ác quỷ và con
người hạ đẳng của ḿnh, bởi v́ Chúa
đă phán: “Anh em hăy tin tưởng, Thầy đă thắng
thế gian” (Ga 16:33).
Tâm
sự
Nói
chuyện thân thưa với Chúa Giêsu, Đấng đă
bị cám dỗ khủng khiếp, không chỉ nơi hoang
địa như chúng ta thấy trong bài cầu nguyện
vừa qua, mà c̣n trong suốt đời đức Giêsu,
thậm chí ngay ở giây phút cuối đời Ngài, và ngay
cả về đức tin đối với Thiên Chúa. Hăy
xin Chúa cho ḿnh ḷng quảng đại, để ḿnh có
thể vượt qua cám dỗ trong mỗi ngày sống và
trong suốt đời ḿnh.
Khung
cảnh
Đức
Giêsu lên một ngọn đồi,[28] các môn đệ và dân chúng theo
Ngài. Ngài ngồi xuống, các môn đệ ngồi xung quanh,
và dân chúng bao quanh các vị. Như thể ḿnh đang
hiện diện ở đó để nghe đức Giêsu
rao giảng.
Ơn
xin
Xin
cho ḿnh hiểu biết thâm sâu về Chúa, để ḿnh yêu
Chúa hơn, và theo Ngài hơn. Xin cho ḿnh thấy rơ Chúa
sống điều Chúa dạy như thế nào, để
ḿnh nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Điểm
Trong
mỗi điểm của bài cầu nguyện này, chúng ta
tuần tự làm theo bốn bước nhỏ:
·
Ư nghĩa của
từng mối phúc;
·
Đức Giêsu đă
sống mối phúc đó thế nào?
·
Tôi đă sống
mối phúc đó thế nào?
·
Tâm sự với Chúa
như tôi thấy, để nên giống Chúa hơn.
Ư
nghĩa của mối phúc
Ngày
xưa người ta cũng đă biết hối lộ.
Người giầu thời các tiên tri đă biết dùng
tiền để mua chuộc quan ṭa, để các quan toà
xử cho họ được thắng kiện.
Những
người nghèo là những người không có tiền
của để đút lót cho quan ṭa, họ không thể bám
víu vào của cải mà cũng không thể trông cậy ǵ
nơi con người, v́ các quan toà đă nhận tiền
của người giầu, họ chỉ có thể và
chỉ biết bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.
Những
người nghèo được chúc phúc là những
người không trông cậy ǵ nơi tạo vật,
nhưng chỉ biết trông cậy và bám víu vào Thiên Chúa mà
thôi.
Cũng
có những người giầu, nhưng họ không bám víu
vào của cải, họ chỉ bám víu vào Thiên Chúa, th́
những người này cũng được coi là
những người có tinh thần nghèo khó, và họ
cũng là những người được chúc phúc.
Nhưng cũng có những người nghèo tiền
của, nhưng họ cho rằng với tiền của,
con người có thể làm mọi chuyện; những
người này không có “tinh thần nghèo khó” v́ họ
đặt trông cậy nơi tiền của.
Đức
Giêsu đă sống mối phúc này thế nào?
Ngôi
Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người, đă
chọn cho ḿnh một người cha một người
mẹ nghèo, đă được sinh ra nghèo hèn trong
chuồng chiên cừu, đă sống ở Nadarét như
những người nghèo nhất, đă làm nghề của
những người nghèo (thợ mộc).
Đức
Giêsu đă đi rao giảng trong sự khó nghèo và dạy các
tông đồ sống như Ngài (Mt 10:10); đức Giêsu
thường ngủ ngoài trời (Lc 21:37); chết trần
trụi trên thập giá; chôn nhờ huyệt của
người ta (Mt 27:60).
Tôi
đă sống mối phúc này thế nào?
Tôi
đă sống mối phúc nghèo này thế nào, ở quá
khứ và trong hiện tại?
Hiện
tại, tôi có tin thực rằng nghèo là một mối phúc?
Tôi có ao ước sống nghèo, được trở nên
nghèo?
Nếu
tôi không tin nghèo là phúc thật, nếu tôi không ao ước
trở nên nghèo, th́:
·
phải chăng tôi
đă không tin rằng lời nói của đức Giêsu là
chân lư?
·
phải chăng tôi
đă tin tôi hơn tin đức Giêsu?
·
đức Giêsu có
thực sự là lư tưởng của tôi, Ngài có thực
sự là Thiên Chúa đối với tôi?
Có
thể ngoài môi miệng tôi nói rằng tôi tin đức Giêsu,
tôi tin những lời Ngài nói là chân lư; nhưng trong thực
tế, trong chọn lựa thường ngày của tôi, tôi
đă không coi nghèo khó là một mối phúc lành!
Tâm
sự với Chúa
Thân
thưa với Chúa như ḿnh thấy về chính ḿnh với
những khiếm khuyết đă chưa tin yêu Chúa thực
sự.
Ư
nghĩa của mối phúc
“Phúc
cho những kẻ bị bắt bớ v́ sự công chính
...; phúc cho các ngươi khi người ta sỉ nhục
các ngươi, bắt bớ, đặt điều nói
xấu các ngươi” (Mt 5:10-11).
Đức
Giêsu đă sống mối phúc này thế nào?
Ngay
từ nhỏ, đức Giêsu đă bị Hêrôđê coi
như người muốn tranh dành ngôi vua (Mt 2:1-18); Khi
đi rao giảng, đức Giêsu đă bị những
người thân quen coi như người mất trí (Mc 3:21),
người ta coi Ngài như một người dối trá
(Ga 8:57.59), như một người tội lỗi (Ga 9:24),
như một người phạm thượng đáng
chết (Mc 2:7; Ga 10:33; Mc 14:64).
Đức
Giêsu đă bị đóng đinh thập giá, chết
trần truồng ô nhục, chết giữa những
người tội lỗi, giữa những người
đáng bị nguyền rủa.
Tại
sao đức Giêsu đă bị truy lùng, bắt bớ
như vậy? Hăy nh́n nghe quan sát đức Giêsu để
nên giống Ngài hơn.
Tôi
đă sống mối phúc này thế nào
Tại
sao bị bắt bớ và sỉ nhục lại là mối
phúc cho chúng ta? Phải chăng trong cuộc sống
thường ngày, tôi thường lẩn trốn mối
phúc này, tôi thường coi đó là mối họa hơn là
mối phúc?
Nếu
tôi không coi đây là mối phúc, th́ e rằng tôi chưa tin
đức Giêsu và chưa trân trọng Lời Ngài!
Thập
giá là con đường dẫn chúng ta đến với
Thiên Chúa. Thập giá giúp chúng ta nhận biết con
người thực của ḿnh, giúp chúng ta cậy dựa
và phó thác vào Thiên Chúa.
Tâm
sự với Chúa
Xin
Chúa giúp ḿnh coi sỉ nhục khinh chê là mối phúc thật,
và xin cho ḿnh ao ước mối phúc này. Xin cho ḿnh có cùng
cảm nghĩ với Chúa, và được trở nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Nếu
thời giờ cho phép, chúng ta có thể cầu nguyện
với từng mối phúc theo cách thức đă chỉ
ở trên. Mỗi mối phúc có thể là một
điểm cầu nguyện.
Tâm
sự
Thân
thưa với Chúa và xin Ngài cho chúng ta những ǵ chúng ta c̣n
thiếu sót. Xin cho chúng ta yêu Chúa và ao ước nên giống
Ngài. Có lẽ chỉ có một mối phúc thôi: nên giống
Chúa Giêsu Kitô, đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Trong “ngày
thứ tư của tuần thứ hai” (LT 136) thánh Inhaxiô
đề nghị một số bài cầu nguyện (Hai
Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người, Ba Bậc Khiêm
Nhường) và việc “chọn lựa bậc sống.”
Tuy không phải tất cả những điều trên
được làm trong một ngày, nhưng chúng ta cứ quy
ước gọi tạm là “ngày Inhă.”
Thánh Inhaxiô
muốn ǵ khi gợi ư những bài cầu nguyện nêu trên?
Trong
tất cả các bài cầu nguyện này, thánh Inhaxiô
đều dạy chúng ta làm ba cuộc tâm sự: một
với Đức Mẹ, một với Chúa Con và một
với Chúa Cha, nài xin cho ḿnh được đứng vào
dưới cờ của Chúa Giêsu bằng:
·
ơn được
nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả được
ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa được tôn
vinh hơn;
·
ơn chịu sỉ
nhục và khinh chê để bắt chước Chúa hơn
nếu điều này không gây dịp tội cho ai và không làm
mất ḷng Chúa.
Trong bài
cầu nguyện về Hai Cờ, thánh Inhaxiô dạy chúng ta
xin ơn nhận biết
mưu mô của kẻ thù và ơn
trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời
sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để bắt chước (LT 139). Trong
bài Ba Mẫu Người, chúng ta xin ơn chọn điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152).
Trong suy gẫm về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh để ḿnh bắt chước và phục
vụ Chúa hơn (LT 168).
Như
vậy chúng ta thấy, tiến tŕnh ơn xin của các bài
cầu nguyện Inhaxiô đi từ xin cho ḿnh nhận
thức, đến xin cho ḿnh chọn, và sau đó xin Chúa
chọn ḿnh vào đời sống nghèo và sỉ nhục
khinh chê.
Các bài
cầu nguyện ngày Inhă cho chúng ta hiểu biết hơn
về con người của chúng ta: xem chúng ta đă
nhận thức về con đường của
đức Giêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn
theo đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục không, xem
chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Giêsu đă sống
không?
Hai con
đường (Tv 1);
Tôi
phải làm ǵ (Mc 10:17-31);
Định
mạng đức Giêsu (Mc 10:32-34);
Nếu
thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);
Ai
muốn theo Ta (Mt 16:21-28).
Từ
muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă
tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh
cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ
lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài c̣n
để ư lưu tâm đến từng cử chỉ hành
vi biến cố của tôi (Tv 139; Lc 12:6-7), chính v́ thế
trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi “Thiên
Chúa muốn tôi làm ǵ?”
Nếu
ngay cả việc “đi đứng nghỉ ngơi” Chúa
đều biết, th́ huống hồ về bậc
sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa đă có
chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn gọi
và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă tạo
dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.
Lời
mời gọi “sống đời sống nào đó” có
thể được biểu lộ nơi ḷng ao
ước sống đời sống đó, hoặc có
những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa
muốn. Nếu một người khao khát sống bậc
sống dâng hiến với ư hướng ngay lành,[29] ḷng khao khát đó có thể
là dấu chỉ cho thấy Chúa gọi người đó.
Nếu khát vọng này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho
tới ngày nay, th́ càng cho thấy “người đó
được Chúa gọi” cách chắc chắn hơn.
Nếu trong đời người đó có những
biến cố khách quan mà người đó xác tín rằng
đó chính là Chúa bảo vệ để gọi họ, th́
càng chắc chắn hơn nữa rằng “Chúa gọi
họ.”
Lựa
chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là quyết định
theo ư thích của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên
Chúa về ḿnh.
Lựa
chọn bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc
sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó,[30] nhưng Thiên Chúa muốn
ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc
sống đó.
Trong sách
Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập đến ba thời
để làm việc lựa chọn; trong thời thứ
ba, thánh Ynhă nói tới hai cách làm việc lựa chọn. Tuy
vậy chúng ta nên cẩn thận, không phải ai cũng làm
việc lựa chọn “đúng đắn”
được, nhưng chỉ những người có cái
nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người và
vũ trụ, cũng như họ phải b́nh tâm thực
sự, th́ họ mới có thể lựa chọn “đúng
đắn” được.[31]
Để
làm việc lựa chọn tốt, cần ư thức rơ
mục đích đời người: Thiên Chúa tạo
dựng con người để con người sống
hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn
sự được tạo dựng như phương
tiện để giúp con người đi tới với
Thiên Chúa.
B́nh tâm là
một điều kiện cần thiết để làm
việc lựa chọn đúng đắn và chính xác:
chọn lựa theo điều Chúa muốn chứ không
phải theo ư riêng ḿnh thích.
Nếu
không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa đúng
đắn được. Như vậy, chỉ nên cho
những người “b́nh tâm” được làm chọn
lựa, tức là những người chỉ muốn làm
theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc
muốn làm theo ư ḿnh.[32]
Đă là người, sống th́
phải lựa chọn. Lựa chọn là chính cuộc
sống, là hành vi nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn,
bao hàm con người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí
lẫn ư chí.
Con người có lư trí.
Để sống hạnh phúc,
đối với chính ḿnh con người cần nhận
thấy hành vi, cách sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong tương
quan với Thiên Chúa con người cần thấy việc
ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.
Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và
cảm nhận ḿnh sống triển nở, thường
hay đi đôi với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa
luôn yêu thương và luôn muốn con người sống
hạnh phúc.
Tôi lựa chọn bậc sống
này, v́ tôi thấy bậc sống này giúp tôi sống triển
nở và hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát
vọng sâu xa con người tôi mà bậc sống khác không
thể đáp ứng được, và như vậy tôi
xác tín Chúa gọi tôi.
Biết
và làm, đôi khi không trùng khít với nhau nơi nhiều
người. “Tri hành bất nhất,” làm cho con người
không được hạnh phúc.
Thiên Chúa
muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả
năng thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa
muốn ai thực hiện điều ǵ đó, th́
người đó không thể nói “lực bất ṭng tâm.”
Như vậy, nếu một người thấy rơ ḿnh
không thể làm điều ǵ đó, hoặc không thểå tin
rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có khả năng làm
điều đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy
Thiên Chúa không muốn điều đó cho họ.
Khả
năng sống điều ḿnh xác tín, cho thấy
điều xác tín có thể là Ư Chúa đối với
họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay thấy
rằng) họ được Thiên Chúa gọi sống
đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc sống
cụ thể họ phải cảm thấy sống
thoải mái và hạnh phúc trong đời sống dâng
hiến. Không có khả năng sống đời sống
dâng hiến “một cách triển nở và hạnh phúc,”[34] là dấu chỉ cho
thấy Thiên Chúa không muốn người đó sống
đời dâng hiến.
Nếu
chúng ta làm việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu
chúng ta chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta, th́
chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản
ánh tương quan tốt với Thiên Chúa.
Một
cách cụ thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt,
chúng ta sẽ:
·
cầu nguyện
tốt, ít nhất là bằng thời gian trước khi
chọn lựa;[35]
·
vui hơn;
·
b́nh an, thư thái,
hạnh phúc hơn.
Xét gẫm cũng giúp chúng ta biết ḿnh hơn,
biết tương quan của ḿnh với Chúa đang
như thế nào, để ḿnh không ảo tưởng
về ḿnh, và để ḿnh cải thiện t́nh trạng
hiện tại.
Khi cầu nguyện về Nguyên Lư và Nền Tảng
trong ngày đầu tiên, chúng ta đă xin ơn B́nh Tâm:
chọn Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết,
c̣n những sự khác th́ sao cũng được, dù là
giữa nghèo và giầu, danh vọng hay sỉ nhục! Hôm
nay khi cầu nguyện về “ngày Inhă,” chúng ta đă
biết giầu có, danh vọng và kiêu ngạo là những
cạm bẫy của ác quỷ; và nghèo khổ, sỉ
nhục là con đường đích thực mà Chúa Giêsu
dạy chúng ta.
Chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được yêu Chúa Giêsu
đến độ xin chọn nghèo và sỉ nhục
với Ngài chưa?
Nghèo tinh thần là không bám víu vào tạo vật, dù là
tiền bạc hay ai đó; Xin ơn nghèo tinh thần,
tức là xin Chúa ơn không bám víu vào tiền bạc hay
bất cứ một tạo vật nào.
Con người có bản năng được tôn
trọng. Xin ơn được sỉ nhục,[36] là tự hủy, là từ
bỏ chính ḿnh với ư riêng và tất cả con
người của ḿnh.
Chúa Giêsu nói: “phúc cho các ngươi là kẻ nghèo ...
khốn cho các ngươi là kẻ giầu” (Lc 6:20.24), “phúc
cho các ngươi khi người ta xỉ mạ, nói
xấu các người đủ điều v́ cớ Ta và
v́ Tin Mừng, hăy hân hoan v́ phần thưởng của các
ngươi lớn thật ở trên trời” (Mt 5:11-12; Lc 6:22).
Chúng ta có tin lời đức Giêsu là chân lư, và chúng ta
có muốn sống theo Lời Ngài không? Nếu chúng ta tin
thật, ắt chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta
được ơn sỉ nhục và ơn nghèo thực
sự! Nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều th́ chắc chúng ta
đă dám xin cho được đồng h́nh đồng
dạng với Ngài, ngay cả trong nghèo và sỉ nhục
khinh chê.
Cái ǵ là mười ngàn dollars của tôi?
Mười ngàn dollars của tôi có thể không là
tiền bạc, nhưng có thể là tương quan với
ai đó, hay một địa sở, một nghề
nghiệp, một công việc, một tặng vật nào
đó, v.v.
Trong qúa khứ tôi ở mẫu người thứ
mấy?
Và hiện tại tôi ở mẫu người thứ
ba không?
Không phạm tội trọng, không muốn làm mất
ḷng Chúa và b́nh tâm, yêu Chúa đến độ muốn
trở nên giống Chúa trong khó nghèo khổ nhục: đó là
ba cấp độ của t́nh yêu (LT 165-167). Tôi có muốn
được liệt vào số những người
muốn trổi trang trong việc phụng sự Chúa,
tức những người yêu Chúa trong cấp độ
khiêm nhường thứ ba không? Tôi có chọn nên giống
Chúa Giêsu hơn không, nghĩa là chọn nghèo với Chúa nghèo
hơn là được giầu sang, chọn bị sỉ
nhục và khinh chê với Đức Giêsu bị sỉ
nhục và khinh chê hơn là được tôn trọng,
chọn bị coi là ngu dại với Chúa Kitô bị coi là
ngu dại hơn là được coi là khôn ngoan thông thái
ở đời không?
Như
thánh Inhaxiô đă chỉ trong sách Linh Thao (LT 136-148).
Cần
lưu ư:
·
ác quỷ là thực
tại vô h́nh, không như con người chúng ta;
·
để nói về
những thực tại đó, người ta không thể
không dùng những h́nh ảnh,[37] hoặc những ư
niệm[38] và từ ngữ
để diễn tả;
·
có người cho
rằng những h́nh ảnh thánh Inhaxiô dùng cho bài cầu
nguyện này không c̣n thích hợp với năo trạng con
người ngày nay. Nếu như vậy, họ có thể
dùng những h́nh ảnh khác.
Ma
qủy cám dỗ con người, làm con người tham
muốn của cải vật chất, và sau đó ham
muốn vinh hoa thế gian; và hậu qủa là tính kiêu
ngạo tự măn!
Điều
thánh Inhaxiô nói về mưu chước của ác quỷ
rất chính xác, v́:
·
Người xưa
cũng nói “có tiền mua tiên cũng được,” “kim
ngân phá lề luật;” ngày nay người ta nói
“đồng tiền là tiên là phật, là sức bật
của tuổi trẻ, sức khoẻ của tuổi già,
cái đà của danh vọng, cái lọng để che thân,
cán cân của công lư;”
·
Những người có
tiền thường được tôn trọng,
được kính trọng “qúa mức.” Có tiền
thường dễ có địa vị; người ta có
thể mua công danh chức tước;
·
Với tiền bạc,
người ta làm được nhiều chuyện
đến độ người ta nghĩ rằng họ
có thể làm được mọi chuyện với tiền
bạc; và như vậy người ta dễ đi
đến tự măn kiêu ngạo.
Tôi
có cho rằng “giầu có danh vọng chức quyền” là con
đường ác quỷ dùng để trói buộc con
người không? Trong cuộc sống thường ngày tôi
có đồng lơa và đi theo đường lối
của ác quỷ không?
Đức
Giêsu khuyên bảo các môn đệ của Ngài hăy t́m cách giúp
con người sống nghèo khó trong ḷng tột bực, và
ngay cả chấp nhận nghèo khó cụ thể nếu Chúa
muốn và nếu Chúa được phụng sự
hơn; thứ đến giúp họ ao ước chịu sỉ
nhục và khinh chê; và từ hai điều đó sẽ có
đức khiêm nhường.
Sở
dĩ như vậy, v́ nghèo giúp người ta dễ trông
cậy vào Chúa hơn; và một khi nghèo, con người
dễ bị khinh khi coi thường; và như vậy,
sẽ giúp người ta dễ nhận ra sự thật
về chính ḿnh “không là ǵ cả,” và giúp người ta khiêm
nhường thực sự.
Tôi
có chấp nhận lời huấn dụ và con
đường của Chúa không? Tôi có sẵn sàng sống
theo đường Người chỉ dạy không?
Tâm
sự
Xin
cho ḿnh được nghèo và sỉ nhục, để
được đứng vào dưới cờ thập
giá của đức Giêsu Kitô, để được nên
giống Chúa Kitô hơn.
Khung
cảnh
Như
thể chúng ta hiện diện tại chỗ gặp gỡ
giữa đức Giêsu và người thanh niên giầu có:
“nhằm lúc Ngài ra đi lên đàng” (Mc 10:17).
Ơn
xin
Nhận
ra lời mời gọi của Chúa và mau mắn quảng
đại đáp trả tiếng gọi của Ngài.
Điểm
Cách
cầu nguyện của chúng ta trong bài này là chiêm niệm,
tức là “nh́n nghe quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi.”
Anh
thanh niên này rất tốt, anh đă giữ thập giới
từ thuở bé; không chỉ thế, anh c̣n bận tâm khao
khát sự sống đời đời.
Anh
ta kính trọng đức Giêsu, điều này
được thấy qua cung cách bái chào. Anh ta đặt
hy vọng nhiều nơi đức Giêsu, chính v́ thế anh
ta mới t́m hỏi khao khát của anh ta nơi Ngài. C̣n
đức Giêsu, Ngài thương anh ta cách đặc
biệt “đức Giêsu nh́n người ấy đem ḷng
yêu mến.”
“Ngươi
chỉ thiếu một điều. Đi đi, có ǵ th́
đem bán mà cho kẻ khó, và ngươi sẽ có một kho
tàng trên trời, rồi đến theo Ta” (Mc 10:21). Lời
mời gọi này, cho anh thanh niên giầu có này thấy con
người thực của anh ta hơn. Anh bỏ đi
buồn rầu, v́ anh không thể dứt bỏ
được của cải. Anh không đáp lại
lời mời gọi của đức Giêsu.
Đâu
là kho tàng của tôi mà Chúa mời gọi tôi dứt bỏ?
Tôi có sẵn sàng dứt bỏ để đi theo Ngài không?
Nếu tôi không dứt bỏ, tôi không thể theo Ngài
được!
Như
thể đức Giêsu chữa thẹn mà Ngài nói “những
người có của khó vào được Nước
Thiên Chúa biết bao,” nhưng sự thực là như
lời đức Giêsu nói; các tông đồ phản ứng
bằng thái độ kinh ngạc “ngẩn người ra.”
Đức Giêsu nói lại điều Ngài đă nói một
cách rơ ràng hơn: “Này các con, khó vào được
Nước Thiên Chúa biết bao! Lạc đà qua lỗ kim
c̣n dễ hơn người giầu có vào Nước Thiên
Chúa;” các tông đồ tỏ thái độ bằng lời
nói: “vậy th́ c̣n ai có thể được cứu?” Và
đức Giêsu dứt khoát hơn bằng cả lời nói
lẫn thái độ và cái nh́n: “nơi loài người th́
không thể được, nhưng không thế nơi Thiên
Chúa, v́ mọi sự đều là có thể nơi Thiên Chúa.”
Thái
độ của tôi đối với của cải
như thế nào? Tôi đă thực sự coi giầu có là
một mối họa không, hay tôi đă coi nó là một
mối phúc?
Tuy
dù các tông đồ là những người nghèo, nhưng
những điều các vị bỏ cũng là tất
cả với các ngài: cha mẹ, anh chị em, con cái,v.v.
Để
theo Chúa, các tông đồ đă từ bỏ tất cả.
Tôi có sẵn sàng từ bỏ tất cả để theo
đức Giêsu không? Tôi có sẵn sàng từ bỏ những
ǵ “qúy nhất” đối với tôi, để theo Ngài
không?
Tâm
sự
Thân
thưa với Chúa về kho tàng của tôi, về những
ǵ ngăn cản tôi tới với Chúa, và xin Chúa giúp ḿnh
quảng đại với Chúa hơn.
Khung cảnh và Ơn xin như thánh Inhaxiô chỉ trong sách Linh Thao (LT
149-157).
Điểm
Đâu
là quyến luyến lệch lạc của tôi? Có thể
đó là một kỷ vật, một chỗ ở, một
công việc, một nghề nghiệp, một tương
quan với người đồng phái hay khác phái, v.v.
Nếu
chú ư, chúng ta đă có thể nhận ra quyến luyến
lệch lạc hay “kho tàng” của ḿnh qua những chia trí
trong giờ cầu nguyện.[39]
Trong
quá khứ, tôi đă thuộc mẫu người thứ
mấy? Hiện tại, tôi thuộc mẫu người
thứ mấy? Nếu tôi chưa thuộc mẫu
người thứ ba, tôi có ao ước cho tôi
được thuộc mẫu người thứ ba không?
Mẫu
người thứ nhất mới chỉ muốn bỏ
quyến luyến lệch lạc, chứ họ không
chịu dùng phương thế để bỏ nó.
Mẫu
người thứ hai muốn bỏ ḷng quyến luyến
lệch lạc nhưng lại muốn giữ lại cái mà
họ quyến luyến.
Mẫu
người thứ ba muốn không c̣n quyến luyến
lệch lạc nữa, nên sẵn sàng bỏ cả cái mà
ḿnh quyến luyến; Họ sẵn sàng đến
độ chỉ giữ lại cái đó nếu thấy rơ
rằng Chúa muốn họ giữ lại cái đó; c̣n
nếu không thấy rơ Chúa muốn họ giữ, th́ họ
bỏ; trong khi chờ đợi để biết Chúa
muốn họ thế nào, họ coi như ḿnh đă bỏ.
Tâm
sự
Nói
chuyện thân thưa với Chúa khi nh́n thấy rơ về con
người của ḿnh; xin Chúa giúp ḿnh yêu Chúa bằng hành
động, bằng chính đời sống cụ thể
và từ bỏ của ḿnh.
Khung
cảnh:
Bên
bờ giếng Yacob, đức Giêsu mỏi mệt, đói
và khát. Đức Giêsu khẳng định: “của ăn
của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta” (Ga 4:34).
Ơn
xin:
Xin
cho con hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và theo Chúa hơn. Xin
cho con luôn biết lắng nghe và thực hiện Lời Chúa
trong từng giây phút của đời sống con như
Chúa đă luôn t́m và thực hiện thánh ư Chúa Cha trong
suốt cuộc sống tại thế.
Điểm:
Đức
Giêsu là Ngôi Lời Nhập Thể. Thiên Chúa nhập thể
để thực hiện chương tŕnh cứu
độ con người, làm cho con người nhận
biết Thiên Chúa yêu thương con người, để
con người đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, và như
vậy con người được hạnh phúc.
Ngôi
Lời Thiên Chúa đă chấp nhận người cha
người mẹ thuộc giai cấp b́nh dân nghèo nàn, và
chấp nhận để ḿnh được sinh ra trong
cảnh nghèo hèn cùng cực nơi chuồng chiên cừu.
Thiên
Chúa Nhập Thể đă sống rất b́nh thường
tại Nadarét, tập lẫy tập ḅ tập đứng
tập đi, học ăn học nói học gói học
mở, học đọc học viết, học làm
nghề thợ mộc với thánh Giuse.
Đức
Giêsu đă sống b́nh thường như một em bé
ở Nadarét, được đối xử như
mọi em bé khác cùng tuổi không có ǵ ưu tiên. Có lẽ
về khả năng thông minh, đức Giêsu cũng b́nh
thường như bao người, bởi v́ Ngài giống
chúng ta mọi đàng trừ tội (Hr 2:17; 4:15).
Năm
được 12 tuổi, v́ được Thánh Thần
thúc đẩy nên Ngài đă sẵn sàng ở lại
đền thờ dù không kịp báo cho cha mẹ.
Đức
Giêsu luôn sống dưới tác động của Thánh
Thần. Một khi nhận ra Thánh Ư Thiên Chúa th́ Ngài vâng
phục, dù ư định đó như thế nào đối
với Ngài chăng nữa.
Trong
cuộc đời công khai, đức Giêsu miệt mài rao
giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Khi người ta
muốn giữ Ngài lại, Ngài nói: “Ta phải đi
để rao giảng ở nơi khác nữa, chính v́
thế mà Ta đến thế gian” (Mc 1:38).
Khởi
đầu cuộc sống công khai, “Thần Khí Thiên Chúa
dẫn Ngài vào hoang địa để Ngài ăn chay, và
ở đó Ngài bị ác quỷ cám dỗ” (Mt 4:1).
Đức Giêsu luôn sống dưới tác động
của Thánh Thần.
Trên
đường từ Giuđê về Galilê, mệt mỏi
và đói khát, đức Giêsu và các tông đồ đă
dừng chân bên bờ giếng Yacob; và trong khi chờ
đợi các môn đồ mua thức ăn, đức Giêsu
đă xin nước nơi chị phụ nữ để
uống. Và dịp tới, đức Giêsu đă miệt mài
nói về Thiên Chúa đến quên cả đói: “Của
ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta” (Ga 4:34).
Ngay
cả trong việc làm phép lạ, đức Giêsu cũng
luôn t́m ư Thiên Chúa Cha; và một khi Ngài thấy ư Thiên Chúa Cha, th́
Ngài thực hiện. Chẳng hạn trong cuộc gặp
gỡ với chị phụ nữ người Syri-phênici[40] (Mc 7:24-30).
Trong
cuộc đời rao giảng Nước Thiên Chúa, khi
được thúc đẩy phải nói điều ǵ
đó, th́ Ngài nói dù bị hiểu lầm và chống
đối, thậm chí phải chết:
·
“tội của
ngươi đă được tha” (Mc 2:7);
·
“trước khi có
Abraham, đă có Ta” (Ga 8:57-58);
·
“Ta và Cha Ta là một” (Ga
10:30);
·
“Và các ông sẽ thấy
Con Người ngự bên hữu Quyền Năng và
đến với mây trời” (Mc 14:62).
Đức
Giêsu luôn làm theo Ư Cha.
Trong
vườn dầu, đức Giêsu nói: “xin đừng theo
Ư Con nhưng là Ư Cha” (Mc 14:36). Trên thập giá, dù bị cám
dỗ rằng Thiên Chúa đă bỏ rơi Ngài “Lạy Thiên
Chúa, sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34), nhưng Ngài vẫn
một niềm tin tưởng “Lạy Cha, con phó thác
hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46), và Ngài sẵn sàng chấp
nhận tất cả những ǵ Thiên Chúa cho xảy tới
với Ngài “Đă hoàn tất” (Ga 19:30).
Tâm
sự
Đức
Giêsu là Thiên Chúa mà Ngài luôn t́m kiếm và thực hiện Ư Cha
trong từng biến cố của đời Ngài, xin cho
ḿnh cũng được nên giống Ngài, luôn t́m kiếm
và thực hiện Thánh Ư Thiên Chúa.
Khung
cảnh
Nh́n
đức Giêsu chết thê thảm trên đồi Calvê, và
Ngài bị coi như người tội lỗi.
Ơn
xin
Cảm
nghiệm Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, và xin cho ḿnh yêu Chúa
đến độ ao ước trở nên giống Ngài,
đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Điểm
Trong
quá khứ tôi ở bậc khiêm nhường nào? Và hiện
tại tôi ở mức độ nào?
Mức
độ khiêm nhường thứ nhất: “thà chết hay
được tất cả thế gian, tôi cũng không
phạm một tội trọng.”
Mức
độ khiêm nhường thứ hai: “b́nh tâm, thà chết
cũng không phạm một tội nhẹ;”[41] nghĩa là, điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm,
c̣n trong trường hợp cả hai đều làm vinh danh
Thiên Chúa ngang nhau th́ tôi không nghiêng chiều về
điều này hơn điều kia.[42]
Mức
độ khiêm nhường thứ ba: “yêu Chúa đến
độ muốn nên giống Chúa, muốn được
đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô.”
Ở mức độ t́nh yêu thứ ba này, nếu
điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm; nhưng
nếu trong cả hai trường hợp đều làm
vinh danh Chúa ngang nhau, th́ để
nên giống Chúa Giêsu hơn, để trở nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài hơn,
tôi chọn trở nên nghèo với đức Giêsu nghèo
hơn là giầu, tôi chọn bị coi là sỉ nhục
với đức Giêsu bị sỉ nhục hơn là
được kính trọng, tôi chọn bị coi là điên
dại với đức Giêsu bị coi là điên dại
hơn được coi là khôn ngoan thông thái trên đời.
Tôi
vẫn thường nói rằng tôi yêu mến Chúa! Nếu
tôi yêu mến Chúa thực, chắc tôi đă xin
được đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Nếu
tôi đă không dám xin được yêu Chúa ở mức
độ khiêm nhường thứ ba, đó là dấu
chỉ cho thấy tôi chưa yêu Chúa nhiều lắm, tôi
chưa tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa, tôi
chưa tin rằng Thiên Chúa yêu tôi vô cùng. Nếu như
vậy, hăy khiêm tốn xin Chúa củng cố đức tin
cho ḿnh, xin Chúa làm cho ḿnh yêu Chúa, và xin cho ḿnh yêu Chúa
đến độ ao ước trở nên giống Chúa,
đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Tâm
sự
Làm
ba cuộc tâm sự, một với đức Maria, một
với Chúa Giêsu Phục Sinh đang ngự bên hữu Thiên
Chúa, một với Thiên Chúa Cha. Xin cho ḿnh được
đứng dưới cờ thập giá của
đức Giêsu bằng hành động:
·
ao ước sống
nghèo khó tinh thần tột bậc và thái độ sẵn
sàng nghèo thực sự nếu Chúa muốn;
·
ao ước chịu sỉ
nhục khinh chê với Chúa hơn là được vinh vang
trần thế.
Làm
lựa chọn bậc sống theo chỉ dẫn của
sách Linh Thao (LT 178-183).
Chọn
lựa bậc sống là việc rất quan trọng, nên
hăy làm hết sức cẩn thận. Nếu ta làm việc
chọn lựa bậc sống tốt, ta sẽ sống
hạnh phúc hơn.
Khung
cảnh
Như
ḿnh đang hiện diện trước tôn nhan Chúa và
triều đ́nh thần thánh trên trời. Các thánh và các thiên
thần đang cầu bầu cho tôi.
Ơn
xin
Cảm
nhận Chúa yêu ḿnh nên đă can thiệp vào đời ḿnh,
để ǵn giữ ḿnh, và làm ḿnh thuộc trọn về
Chúa.
Điểm
Ngày
xưa, tại sao tôi đi tu?
Lúc
mới đi tu, tôi có ư
thức Chúa gọi tôi không? Lúc đó, tôi đi tu v́ tôi
muốn, hay tôi thấy Chúa gọi tôi nên tôi đi?
C̣n
bây giờ, tôi có xác tín Chúa
gọi tôi sống đời dâng hiến không?
Có
dấu chỉ khách quan[43] nào trong suốt đời tôi,
cho thấy Chúa đă can thiệp vào đời tôi,
để ǵn giữ tôi cho tới bây giờ, để làm
tôi thuộc về Chúa cho tới ngày hôm nay?
Tâm
sự
Thân
thưa với Chúa, Đấng đă yêu thương tôi vô
cùng. Cảm tạ v́ bao hồng ân Chúa ban cho ḿnh trong
suốt đời.
Tuần
thứ ba của Linh Thao cầu nguyện về đức
Giêsu chịu khổ h́nh. Đức Giêsu đối diện
biến cố khổ nạn với tất cả sự
run en sợ sệt như chúng ta mọi đàng, nhưng
Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu thương Cha và yêu thương
con người.
Cố
gắng đi vào tâm t́nh của đức Giêsu trong
những giờ phút cuối cùng của cuộc đời
tại thế này. Ngài tê tái ḷng biết bao khi thấy
một người thân yêu sẽ phản bội và nộp
Ngài: t́nh yêu của Ngài bị từ khước, bị
phản bội. Ngài đă ghê sợ thập giá và cái
chết, đặc biệt trong vườn dầu,
nhưng Ngài đă vâng lời cho đến chết mà không
một lời oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của đức
Giêsu, và ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà đức Giêsu
đă chấp nhận tất cả những sự ấy.
T́nh yêu
không hoàn toàn được diễn tả bằng lời
nói nhưng chủ yếu bằng việc làm. Trong cuộc
sống tại thế này, dường như thập giá
gắn liền với t́nh yêu: thập giá là cách thế
tuyệt diệu diễn tả t́nh yêu. Không thể hiểu
được thập giá nếu không nh́n trong nhăn quan t́nh
yêu.
Hiểu
Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn. Chúa đă chết v́
yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái độ nào
đối với Người yêu tôi dường ấy?
Xin cho
ḿnh hiểu nỗi đau buồn của Chúa (Ga 13; Mc 14)?
tại sao Chúa phải chịu đau khổ cô đơn[44] như vậy? Phải
chăng Chúa chịu tất cả những điều
đó v́ yêu thương tôi vô cùng?
Xin cho
ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa
đối với ḿnh; xin cho ḿnh yêu lại Chúa đến
độ ao ước được chia sẻ nỗi
đau buồn của Chúa, muốn được
đồng h́nh đồng dạng với Đấng yêu
thương ḿnh vô cùng như vậy.
Thánh Inhaxiô
dạy: “xin cho ḿnh được đau đớn,
hối hận và xấu hổ, v́ chính bởi tội tôi mà
Chúa phải bị khổ h́nh như vậy” (LT 193); “xin cho
ḿnh được đau đớn với Chúa Kitô
thống khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô tan nát tâm
hồn, được ơn khóc lóc và đau đớn
trong ḷng v́ bao đau đớn mà Chúa Kitô đă chịu v́
tôi” (LT 203).
Chúng ta có
thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau, hoặc dùng
những đoạn nào theo như ḿnh thấy thích hợp:
·
Âm mưu giết
đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);
·
Làm sao Ta có thể quên
ngươi (Hs 11:1-9);
·
Ta tự ḿnh hiến
mạng sống Ta (Ga 10:17-31);
·
Yêu thương là
phục vụ (Ga 13:1-17);
·
Yêu thương là
hiến dâng (Lc 22:14-20);
·
Hăy tin Thầy, hăy yêu
Thầy (Ga 14:1-15:8);
·
Hăy ở lại trong
t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17);
·
Báo trước Phêrô
chối Thầy (Mc 14:26-31);
·
Đức Giêsu
chiến đấu với chính ḿnh ở vườn
dầu (Mc 14:32tt);
·
Giuđa nộp Thầy
bằng “dấu chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);
·
Đức Giêsu bị
xử trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);
·
Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72);
·
Đức Giêsu bị
xử trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);
·
Đức Giêsu
trước ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);
·
Con đường t́nh
yêu (Mc 15:15-32);
·
Đức Giêsu trên
thập giá (Mc 15:33-41);
·
Đức Mẹ
dưới chân thập giá (Ga 19:25-27);
·
Chứng nhân thinh
lặng;
·
Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47);
·
Tâm t́nh của những
người yêu thương đức Giêsu trong những
ngày khổ nạn;
·
Tv 22;
·
Đức Giêsu,
người tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12);
·
Đức Giêsu chu toàn
sứ mạng dù phải chết thập giá (Pl 2:6-11).
Khung cảnh
Đức Giêsu và các tông
đồ trong một căn pḥng trên gác, nơi ăn
tiệc Vượt Qua.
Ơn xin
Xin hiểu đức Giêsu
hơn, hiểu tâm t́nh của Ngài lúc này, để yêu Ngài
hơn, và ao ước chia sẻ nỗi buồn sầu
của Ngài, cũng như để theo Ngài, đồng
h́nh đồng dạng với Ngài, bắt chước
sống theo cung cách của Ngài.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ
để rút ích lợi; cố gắng đi vào tâm t́nh
của Ngài, xem Ngài đă phải chịu cực khổ v́
yêu tôi như thế nào, và Ngài c̣n sẵn sàng chịu tất
cả những ǵ có thể xảy đến như
thế nào nữa, v́ yêu tôi?
“Đức Giêsu, biết đă
đến giờ Ngài phải qua khỏi thế gian mà
đến cùng Cha, đă yêu mến những kẻ thuộc
về Ngài c̣n trong thế gian, th́ Ngài yêu thương họ
đến cùng” (Ga 13:1).
Đức Giêsu không chỉ yêu
chúng ta bằng t́nh yêu của một người yêu một
người, nhưng bằng t́nh yêu của Thiên Chúa
đối với Thiên Chúa: “Như
Cha đă yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em;
Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:9).
Tâm t́nh của đức Giêsu
trong bữa tiệc Vượt Qua này, là tâm t́nh của
người yêu phải xa người ḿnh yêu. Chúng ta
phải đọc những hành động và lời nói
của đức Giêsu trong bầu khí và tâm t́nh trên.
Các tông đồ tranh luận xem
ai giữa họ là người đứng đầu, và
đức Giêsu đă dạy: “Ai muốn làm người
đứng đầu, th́ phải làm người rốt
hết, và làm người phục vụ mọi
người” (Mc 9:35). Một lần khác, hai con ông
Giêbêđê, xin Ngài cho họ một người ngồi bên
hữu, một người ngồi bên tả Ngài; các môn
đệ khác bực tức với họ; đức Giêsu
đă dạy: “ai muốn làm lớn giữa anh em th́
phải làm người phục vụ anh em; và ai muốn
làm đầu anh em th́ phải làm đầy tớ mọi
người” (Mc 10:43-44).
Trong bầu khí “tranh nhau làm
đầu” đó mà đức Giêsu đă dạy các tông
đồ bài học khiêm tốn phục vụ bằng hành
động (Ga 13:1-17) chứ không bằng lời như
trước nữa.
Đức Giêsu đă nêu
gương phục vụ cho các tông đồ. Ngài đă
yêu các tông đồ vô cùng, nhưng đă thành người
phục vụ, thành đầy tớ trong hành vi rửa chân
cho các ông. T́nh yêu đ̣i chúng ta phải có tinh thần
phục vụ: “Thầy đă làm gương, để anh
em cũng sống như Thầy.”
Trong t́nh yêu, người ta có
nhiều sáng kiến. Đức Giêsu là người yêu
phải xa người ḿnh yêu “cách nhân loại,” và Ngài đă
có một sáng kiến tuyệt vời để ở
gần măi người ḿnh yêu, đó là “bí tích Thánh Thể.”
Đức Giêsu đă biến bánh
rượu thành ḿnh và máu Ngài, để trở thành
thần lương nuôi sống chúng ta. Ngày xưa Ngài đă
từ chối biến đá thành bánh để phục
vụ Ngài, th́ nay Ngài đă biến bánh rượu thành
thịt máu Ngài để nuôi con người.
Khi yêu, người ta cho nhau
tất cả, và cao điểm là chính bản thân ḿnh.
Đức Giêsu đă yêu chúng ta vô cùng, và Ngài đă hiến
ḿnh Ngài cho Chúa Cha và cho con người chúng ta. Yêu
thương là đời sống của những
người sống đời dâng hiến, và những
người sống đời dâng hiến phải là
những người luôn yêu thương.
Với hành vi tự hiến qua bí
tích Thánh Thể, chúng ta thấy rơ t́nh yêu tự nguyện
hiến thân của đức Giêsu trong ngày thứ sáu hôm
sau.
Tâm sự
Hăy nói chuyện thân thưa
với Chúa như chúng ta thấy. Xin Chúa cho ḿnh yêu Chúa
đến độ muốn chia sẻ niềm đau
nỗi buồn của Ngài.
Khung cảnh
Vườn dầu, nơi
đức Giêsu trải qua cơn chiến đấu
với chính ḿnh.
Ơn xin
Xin hiểu Chúa hơn, hiểu
nỗi lo sợ kinh hoàng và buồn sầu của Ngài; Xin
cho ḿnh yêu Chúa, được chia sẻ nỗi buồn
đau của Ngài, và xin cho ḿnh được sẵn sàng
nên giống Ngài trong khó nghèo khổ nhục.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi. Cố gắng đi vào tâm hồn Ngài, để
yêu và nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Đức Giêsu xưa nay vẫn
được hiểu như người luôn trầm
tĩnh và không bao giờ run sợ trước mọi
biến cố; thế nhưng đoạn Tin Mừng Mc 14:32-42
cho thấy “đức Giêsu hăi hùng xao xuyến” và “buồn
đến chết được,” c̣n thánh Luca cho thấy
“mồ hôi Ngài như những giọt máu nhỏ xuống
đất” (Lc 22:44).
Giờ phút đức Giêsu ở
Vườn Dầu, có lẽ là giờ phút khủng khiếp
nhất đối với đức Giêsu; bởi v́ đây
là cuộc chiến đấu nội tâm, và với chính
ḿnh.
Có lẽ giờ phút này
đức Giêsu cảm thấy “tội của tất
cả loài người” đè nặng trên Ngài, và có lẽ
Ngài cũng thấy trước những ǵ sắp xảy
đến cho Ngài.
Làm sao để bắt
đức Giêsu cách chính xác giữa một nhóm đông 12
người? Giuđa và đồng bọn đă nghĩ ra
được một cách rất chính xác: “ôm hôn!”
Nỗi đau của đức Giêsu
tăng thêm khi thấy Giuđa đă “dùng dấu chỉ t́nh
yêu” để nộp “Người” đă đồng hành
với ḿnh suốt ba năm trời: “Giuđa ơi, anh dùng
cái hôn để nộp con người sao?” (Lc 22:48). Có
lẽ Giuđa đă qúa táng tận lương tâm khi dám hành
xử như vậy.
Đức Giêsu đă thành
“phạm nhân” khi bị bắt, và chắc chắn
người ta đă đối xử với Ngài cách
thậm tệ: Thiên Chúa mà bị người ta trói và
dẫn đi một cách bất kính như vậy sao?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa như chúng
ta thấy nơi ḷng ḿnh. Xin cho ḿnh yêu Chúa đến
độ ao ước được chia sẻ nỗi
đau và sỉ nhục của Ngài, v́ Ngài đă yêu chúng ta mà
Ngài phải chịu những sự đó.
Khung cảnh
Đức Giêsu trước toà
Công Nghị Do Thái và trước toà Roma.
Ơn xin
Xin ơn hiểu và cảm
nhận những đau đớn và sỉ nhục
đức Giêsu đă chịu; và xin được tan nát
cơi ḷng với đức Giêsu tan nát tâm hồn.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi: con người mà dám xét xử Thiên Chúa!
Công nghị được
triệu tập để kết án tử h́nh đức Giêsu
(Mc 14:1.55), nhưng với những lư do được
đưa ra, không đủ để họ kết án
đức Giêsu.
Thượng tế đă hỏi
đức Giêsu về chân tính của Ngài, và câu trả
lời đă làm cho Ngài bị kết án tử: “rồi các
ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu
Quyền Năng mà đến trên mây trời” (Mc 14:62).
Đức Giêsu có biết nếu
Ngài trả lời như vậy, Ngài sẽ phải
chết không? Chắc đức Giêsu biết, v́ Ngài không
phải là người kém thông minh (Lc 2:47). Nếu
đức Giêsu biết nếu Ngài nói như vậy, Ngài
sẽ phải chết, th́ tại sao Ngài lại dại
dột nói lên điều đó?
Câu nói làm đức Giêsu phải
chết, là câu nói vô cùng quan trọng, mặc khải cho chúng
ta thấy chân tính và nguồn gốc của đức Giêsu;
và nhờ đó, chúng ta biết Thiên Chúa yêu con người
vô cùng; và nhờ đó, con người có thể tin
tưởng sống b́nh an hạnh phúc.
Đức Giêsu là chứng nhân t́nh
yêu: Ngài tới để làm chứng cho con người ngày
nay biết là Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.
Nếu đức Giêsu không nói sự thực, và sự
thực đó làm Ngài phải chết, th́ e rằng con
người không thể nhận biết chắc chắn
tuyệt đối rằng Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng.
Đối với người Do
Thái, đức Giêsu đă phạm một tội rất
nặng “phạm thượng,” là người mà dám cho ḿnh
ngang bằng Thiên Chúa; chính v́ thế mà tất cả công
nghị đều nhất trí kết án tử h́nh
đức Giêsu; hơn nữa khi Philatô hỏi dân chúng xem
họ muốn ông phóng thích ai, Barabba hay Giêsu, th́ dân chúng
đă chọn tha Barabba, v́ đối với họ, lúc
đó, đức Giêsu đă phạm một tội quá
nặng “dám cho ḿnh ngang bằng Thiên Chúa,” và tội này
đáng ghê tởm hơn mọi thứ tội, và như
vậy, đức Giêsu ngàn lần đáng chết hơn
Barabba.
Dân Do Thái lúc đó là dân tộc
bị trị, và người Roma đă không cho phép họ
được quyền xử tử h́nh ai cả; một
người chỉ có thể bị xử tử h́nh cách
hợp pháp bởi toà án của người Roma, do tổng
trấn xét xử. Chính v́ thế những người lănh
đạo dân Do Thái đă đưa đức Giêsu sang xin
Philatô xét xử, khi họ thấy phải xử tử h́nh
Ngài(Mc 14:64 Ga 19:7).
Philatô thấy đức Giêsu vô
tội và bị vu cáo, nên ông muốn tha đức Giêsu
nhiều lần (Ga 18:38; 19:4.6.12), nhưng, v́ sợ mất
địa vị chức quyền nên Philatô nhu
nhược, đă nhân nhượng và đồng ư
giết đức Giêsu.
Thiên Chúa phải là Đấng xét
xử con người, thế mà nay lại bị con
người xét xử. Tại sao đức Giêsu lại
phải chịu như vậy, phải chăng v́ yêu tôi? Tôi
phải đối xử với Ngài như thế nào
đây?
Tâm sự
Cố gắng đi vào tâm
hồn của đức Giêsu trong những giờ phút này,
để thấy những nhục nhằn đức Giêsu
phải chịu, đặc biệt nơi toà án của
Herode (Lc 23:8-12), và xin cho ḿnh được yêu Chúa và ao
ước chia sẻ nỗi niềm đau buồn tủi
khổ với Chúa.
Khung cảnh
Con đường đức Giêsu
đă vác thập giá đi qua: con đường từ
nơi đức Giêsu bị đánh đ̣n cho tới
đồi Golgotha.
Ơn xin
Xin ơn hiểu Chúa, hiểu
nỗi tủi nhục đau buồn của Chúa; xin cho ḿnh
ơn được yêu Chúa đến độ khao khát
chia sẻ đau khổ của Ngài, xin cho ḿnh đồng
h́nh đồng dạng với Ngài.
Điểm
Có thể dựa vào
đường thánh giá như chúng ta vẫn có thói quen làm
để cầu nguyện. Cũng có thể dùng những
gợi ư sau đây.
Nh́n nghe quan sát đức Giêsu
bị đánh đ̣n, suy nghĩ và rút ích lợi.
Nh́n đức Giêsu bị lột
trần, bị trói, bị đánh và không được
kiêng chừa chỗ nào khỏi bị đánh; thấy
đức Giêsu quằn quoại đau đớn; thấy
vết roi và những lằn rướm máu.
Nghe tiếng roi. Đức Giêsu
có kêu la không? Nghe xem đức Giêsu nghĩ ǵ trong ḷng lúc
đó?
Quan sát kỹ đức Giêsu. Ngài
có bị xỉu không? Aùnh mắt của Ngài thế nào,
lộ lên sự thù hằn, hay thương hại và tha
thứ những người đă hành hạ Ngài?
Suy nghĩ và rút ích lợi. V́ yêu
tôi mà Chúa đă phải chịu tất cả những
sự ấy.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Đức Giêsu đă đuối
sức lắm rồi, Ngài té ngă. Ngài cảm nhận
giới hạn của thân xác như chúng ta. Lực bất
ṭng tâm, “tinh thần lanh lẹ nhưng xác thịt th́
yếu đuối:” đức Giêsu đă ngă v́ Ngài không
gượng nổi nữa. Đức Giêsu nói ǵ với
Thiên Chúa Cha trong giờ phút này? Tâm t́nh của Ngài đối
với con người thế nào?
Nh́n đức Maria chạy
tới gặp con của Mẹ. Làm sao để gặp
con, khi bao nhiều người hiếu kỳ bu chung quanh?
Có lẽ Mẹ đă phải chạy tới trước
chỗ đức Giêsu sẽ đi ngang qua. Tâm t́nh thái
độ của Mẹ lúc đó ra sao? Mẹ nói ǵ với
Thiên Chúa? Mẹ có bị cám dỗ về đức tin vào
Thiên Chúa không khi nh́n con Mẹ như vậy và nghĩ về
lời Thiên Chúa nói qua thiên thần truyền tin?
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Hăy cảm nghiệm đau
đớn của đức Giêsu, của Mẹ khi
thấy con bị hành xử như vậy: “như dao
sắc thâu qua ḷng” (Lc 2:35).
Tâm sự
Thân thưa với Chúa,
Đấng đă yêu tôi đến chết khốn khổ
như vậy v́ tôi. Tôi phải làm ǵ để đáp
trả lại t́nh yêu của Ngài bây giờ?
Khung cảnh
Đồi Calvê trong buổi
chiều thứ sáu hôm đó: đức Giêsu chết treo
khổ giá giữa những người tội lỗi; và
thực sự Ngài bị coi là người tội lỗi
nặng nề.
Ơn xin
Chia sẻ cảm thông với
Chúa, Đấng đă chết v́ yêu tôi. Xin cho con ao
ước được nghèo khó và sỉ nhục,
để cùng chia phần với Ngài. Xin cho con
được đồng h́nh đồng dạng với
Chúa Giêsu.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Đức Giêsu bị đóng
đinh; Ngài quằn quại không? Tâm hồn Ngài thế nào?
Chúng ta sẽ dựa vào những lời nói của
đức Giêsu để hiểu tâm t́nh của Ngài.
“Xin Cha tha cho chúng, v́ chúng lầm
chẳng biết” (Lc 23:34). Những người giết
Ngài thực sự không biết Ngài là Thiên Chúa! Đức Giêsu
đă hiểu biết điều đó, và đă cầu xin
Thiên Chúa Cha tha thứ lỗi lầm của họ
đối với Ngài.
“Thật, hôm nay ta sẽ cho anh
được ở trên thiên đàng với ta” (Lc 23:43).
Đức Giêsu vẫn c̣n bận tâm tới thao thức và
hạnh phúc của người khác, Ngài không bận tâm cho
chính Ngài.
“Này là con bà, này là Mẹ con” (Ga 19:26-27).
Đức Giêsu vẫn c̣n giờ và tâm huyết để
nhớ và lo cho những người thân, dù Ngài chỉ c̣n ít
thời gian nữa trên cuộc sống dương gian.
“Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ
con?” (Mc 15:34). Khủng khiếp biết bao, đức Giêsu
mà c̣n bị cám dỗ cả về “đức tin vào Thiên
Chúa,” và ngay cả trong giờ phút cuối đời
của Ngài. Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ
trong hoang địa, nhưng trong suốt đời Ngài,
kể cả trên thập giá.
“Lạy Chúa, con xin phó thác hồn
con trong tay Cha” (Lc 23:46). Đức Giêsu bị cám dỗ
như thể Thiên Chúa bỏ rơi Ngài, nhưng thực
tế đức Giêsu không chiều theo, đức Giêsu luôn
tin tưởng phó thác tất cả tương lai
đời ḿnh cho Thiên Chúa, dù hiện tại ra sao chăng
nữa.
“Ta khát” (Ga 19:28). Giây phút này
đức Giêsu không chỉ khát nước, nhưng
thực sự Ngài khao khát t́nh yêu của con người;
Ngài đă để trái tim của Ngài được
mở ra và chảy đến giọt nước và
giọt máu cuối cùng: Ngài đă yêu thương con
người đến cùng t́nh yêu của Ngài (Ga 13:1), Ngài
đă yêu thương con người như Cha đă yêu
thương Ngài.
“Đă hoàn tất” (Ga 19:30).
Thế là xong; Ngài không thể làm ǵ được nữa
và không thể làm ǵ hơn được nữa; Ngài
chấp nhận thân phận con người đến
tận cùng, đó là “không là ǵ cả và không làm
được ǵ cả;” Ngài chấp nhận và Ngài phó thác
tất cả cho Thiên Chúa.
Đức Maria đă theo Con
suốt chặng đường Con Mẹ vác thánh giá; và
trên đồi Calvê, Mẹ đau khổ chứng kiến
cái chết của Con ḿnh mà không thể làm ǵ được
cho Con; lời Thiên Chúa nói với Mẹ năm xưa khi
thiên thần truyền tin, liệu c̣n được Thiên
Chúa giữ lời không? hay Thiên Chúa đă quên lời
hứa? mà nếu Người nhớ th́ làm sao c̣n có thể
thực hiện được nữa nếu đức Giêsu
chết?
Mẹ nghĩ ǵ và nói ǵ trong
những giây phút này? Dù bị thử thách và cám dỗ
trăm chiều, Mẹ vẫn luôn tin tưởng phó thác
tất cả cho Thiên Chúa dù Mẹ không biết Lời Chúa
có thể thực hiện làm sao đây: “phúc cho em là kẻ
đă tin rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ
được thực hiện” (Lc 1:45).
Mẹ đứng đó
dưới chân thập giá, đau khổ, bị khủng
hoảng về đức tin biết bao! Nhưng như Con
của Mẹ, Mẹ hoàn toàn phó thác. Mẹ xứng đáng
là Mẹ những kẻ tin, là Nữ vương các thánh
tử đạo.
Ba ngôi Thiên Chúa yêu thương nhau
vô cùng, vậy tại sao Thiên Chúa Cha nỡ để Con
của Ngài là đức Giêsu phải đau khổ và
thử thách như vậy?
Tại sao Thiên Chúa không tru
diệt ngay kẻ dữ? Tại sao Thiên Chúa lại
để cho họ hành hạ bao người lành như
vậy?
Nếu Thiên Chúa làm theo
điều tôi cầu xin: tru diệt ngay người
dữ để họ đừng làm khổ bao
người lành, th́ cái ǵ xảy ra? Lúc đó, tôi là
người phải bị tru diệt đầu tiên, và sau
đó là tất cả. Nếu Thiên Chúa áp dụng
điều đó, th́ chắc bây giờ chẳng c̣n ai trên dương
thế, v́ có ai đă không phạm tội?[45]
Thiên Chúa đă không phạt
người dữ ngay, là để kẻ dữ c̣n có
thời gian và cơ may mà sám hối. Tạ ơn Thiên Chúa
đă yêu thương con người vô cùng!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu trên
thập giá, với đức Maria dưới chân thập giá,
và với Chúa Cha đang thinh lặng đau đớn[46]
nh́n Con của Ngài. Xin cho chúng ta biết chấp nhận
thập giá trong cuộc đời mỗi người,
để chúng ta mỗi ngày một nên giống Chúa Giêsu
hơn.
Chúng ta
bước sang tuần thứ tư của Linh Thao:
cầu nguyện về đức Giêsu Phục Sinh.
Khi
đức Giêsu c̣n tại thế và trước cuộc
khổ nạn, chưa có ai biết rơ đức Giêsu là
Thiên Chúa. Dù Ngài đă ba lần loan báo rằng Ngài sẽ
bị bắt, bị đánh đ̣n, bị giết và ngày
thứ ba Ngài sẽ sống lại; nhưng khi Ngài bị
bắt và chết, không có ai tin Ngài sẽ sống lại;
thậm chí khi Ngài đă sống lại và hiện ra cho các
phụ nữ, và họ đi báo tin cho các tông đồ,
thế mà các tông đồ cũng không tin (Mc 16:9-11).
Để
tin đức Giêsu đă sống lại, có lẽ không
tuyệt đối cần các tông đồ[47]; nhưng để tin
đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc chắn cần lời
chứng của các tông đồ.[48]
Chính
nhờ tin vào đức Giêsu Phục Sinh mà các tông
đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa: nhờ
Thánh Thần đức Giêsu trao ban khi Ngài hiện ra cho các
tông đồ (Ga 20:22) mà các tông đồ nhận biết
đức Giêsu là Thiên Chúa, và cũng nhờ đức Giêsu
Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh
Thần là Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô
viết trong LT 221: “Xin điều tôi ao ước. Ở
đây xin ơn để cảm nghiệm sâu xa và mănh
liệt niềm hân hoan và vui mừng v́ vinh quang và vui
mừng của đức Kitô Chúa chúng ta.”
Niềm
vui mừng và hân hoan ở đây là niềm vui mừng và hân
hoan tận thâm sâu trong tâm hồn, do cảm nghiệm Chúa
đă phục sinh, nhờ đó niềm tin vào Thiên Chúa là
Đấng Trung Tín được củng cố; và
một khi tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa, con người
chúng ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng,
và như vậy chúng ta hân hoan và vui mừng.
Niềm
hân hoan và vui mừng này không ai có thể lấy mất
được, v́ “dù thiên thần thiên phủ, dù hiện
tại tương lai, dù chiều cao hay chiều sâu, hay
bất cứ tạo vật nào khác, không có ǵ có thể tách
tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Rm 8:38-39).
Dù Kinh Thánh
không nói Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ Maria, nhưng
thánh Inhaxiô đề nghị chiêm niệm “Chúa Phục Sinh
hiện ra cho Mẹ” (LT 218-225). Nếu ai chấp nhận
quan điểm của thánh Inhaxiô, th́ có thể cầu
nguyện dựa vào bài chiêm niệm trên và những
đoạn Kinh Thánh sau, c̣n nếu không chấp nhận th́
có thể chỉ dùng những bản văn Kinh Thánh
để cầu nguyện mà thôi.
Các
bản văn Kinh Thánh được đề nghị:
·
Chúa Phục Sinh hiện
ra với chị Maria Magdala (Ga 20:11-18);
·
Chúa Phục Sinh hiện
ra cho các tông đồ và trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);
·
Chúa Phục Sinh
đổi đời hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);
·
Chúa Phục Sinh củng
cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);
·
Chúa Phục Sinh chăm
sóc các tông đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);
·
Cứng ḷng và ngoan
cố trước biến cố Đức Giêsu Phục
Sinh (Mt 28:11-15);
·
Chúa Giêsu Phục Sinh lên
trời (Cv 1:6-11);
·
Chúa Giêsu Phục Sinh luôn
ở với chúng ta (Mt 28:16-20);
·
Chúa Phục Sinh hứa
ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);
·
Thánh Thần sẽ làm
chứng về Ta (Ga 15:26-16:15);
·
Thánh Thần tỏ
hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);
·
Nhân danh đức Giêsu
Nadarét, anh hăy đứng dậy mà đi (Cv 3:1-26);
·
Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu
Phục Sinh trước chính quyền (Cv 1-22);
·
Từ khi biết
Đức Giêsu Kitô, tôi coi tất cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).
Khung cảnh
Khung cảnh mồ nơi táng xác
đức Giêsu, và nơi đức Maria ở trong
những ngày này.
Ơn xin
Xin tin thật đức Giêsu
đă phục sinh, cũng như niềm hân hoan vui mừng
thực sự, được biểu lộ trong cung cách
thái độ sống và cả trên gương mặt.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi. Xem thiên tính trong biến cố thương khó
đă có vẻ như ẩn, nay tỏ hiện vinh quang
như thế nào!
Tâm t́nh của đức Maria là
ǵ khi thấy đức Giêsu thân h́nh tiều tụy
dưới ách thập tự giá? Mẹ suy nghĩ ǵ khi
đứng dưới chân thập giá, nh́n con ḿnh chết
thê thảm như vậy?
Lời Thiên Chúa phán cùng Mẹ
trong biến cố thiên thần truyền tin, liệu c̣n có
thể được thực hiện không? Phải
chăng Thiên Chúa đă quên lời nói của Ngài? Đức
Maria ngoài nỗi đau khổ và thất vọng khi
thấy Con của ḿnh là người công chính phải
chết, c̣n cảm thấy cám dỗ "về đức
tin" đối với Thiên Chúa! Phải chăng Thiên Chúa
không trung thành?
"Phúc cho em là kẻ đă tin
rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ được thực
hiện" (Lc 1:45). Những ư tưởng và t́nh cảm
đó, chỉ là cám dỗ đối với đức
Maria, Ngài không bao giờ ưng thuận với những
điều đó.
Có lẽ đức Maria luôn
cầu nguyện với Thiên Chúa! Mẹ tin rằng chắc
chắn Lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ được
thực hiện, nhưng Mẹ không biết Lời Chúa phán
cùng Mẹ sẽ được thực hiện bằng
cách nào đây? Cám dỗ liên lỉ về đức tin vào
Thiên Chúa! Chỉ khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ,
Mẹ mới thấy Lời Chúa phán cùng Mẹ nơi
biến cố thiên thần truyền tin mới
được thực hiện hoàn toàn.[49]
Nh́n nghe quan sát Mẹ, thấy
Mẹ âu sầu như thế nào trước khi Chúa
Phục Sinh hiện ra cho Mẹ; và khi Chúa Giêsu Phục Sinh
hiện ra cho Mẹ, Mẹ vui mừng hân hoan như thế
nào!
Nếu ai không tin Chúa Phục Sinh
hiện ra cho Mẹ, th́ có thể chiêm niệm Chúa Phục
Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala.
Nh́n nghe quan sát chị Maria Magdala
trước biến cố Chúa Phục Sinh hiện ra cho
chị. Tại sao chị lại ra mồ sớm như
vậy? Tại sao chị lại buồn đến
độ như vậy? C̣n khi Chúa Phục Sinh hiện ra
cho chị, chị vui mừng hân hoan như thế nào?
T́nh yêu của chị đối
với đức Giêsu Phục Sinh, đă được
đức Giêsu Phục Sinh đáp trả khi hiện ra cho
chị.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu
Phục Sinh, xin Ngài cho chúng ta tin vào Ngài, để chúng ta
cũng được vui mừng và hân hoan, hạnh phúc
trong suốt cuộc sống.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện
diện tại nơi các tông đồ ở trong ngày Chúa Giêsu
được chôn táng; xem nơi chốn đó như
thế nào, và bài trí ra sao.
Ơn xin
Xin ơn có được
niềm vui và hân hoan v́ Chúa đă phục sinh; ước ǵ
niềm hoan lạc này mănh liệt đến độ
được bày tỏ nơi cả thân xác.
Điểm
Kể từ khi đức Giêsu
bị bắt, và đặc biệt sau khi Ngài bị
giết chết, các tông đồ hoang mang, kinh hoàng và
thất vọng tột cùng. Chúng ta hăy nh́n nghe quan sát các tông
đồ:
·
dáng điệu mệt
mỏi chán chường;
·
những tiếng
thở dài ảo năo;
·
chán nản cùng cực,
như thể tuyệt vọng.
Các tông đồ không tin lời
chị Maria Magdala nói với họ rằng, chị đă
được gặp Chúa Phục Sinh (Mc 16:9-13). Tuy đă
ba lần đức Giêsu báo cho các tông đồ hay rằng
Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ, và sẽ bị
giết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại, thế
nhưng khi Ngài phục sinh và hiện ra cho các chị
phụ nữ, và các chị này về loan tin cho các ông,
nhưng các ông cũng chẳng tin.
Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho
các tông đồ, các ngài vui mừng và hân hoan như thế
nào? Tưởng chừng như tuyệt vọng, niềm
hy vọng trông cậy như sống lại! Hăy xem các tông
đồ hân hoan vui mừng như thế nào?
Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho
các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong
tuần, ông Thomas không có mặt. Khi ông trở về, các tông
đồ khác đă "loan tin mừng Chúa Phục Sinh"
cho ông, nhưng ông không tin.
Tại sao Thomas cứng ḷng tin
như vậy?
Làm sao tin được một
người đă chết sống lại? Nếu Thầy
đă sống lại, th́ hiện tại Thầy đang
ở đâu? Các tông đồ, và kể cả các chị
phụ nữ không thể chỉ chỗ ở hiện
tại của đức Giêsu, và đó là lư do Thomas không tin
vào các chị phụ nữ và cả các tông đồ
nữa. Nếu Thầy đă phục sinh, tôi sẽ tới
gặp Thầy! Nhưng Thomas đâu có biết rằng
đức Giêsu bây giờ đâu có như xưa, đâu có
bị các định luật vật lư chi phối!
Nguyên thời gian cả một
tuần, đức Giêsu Phục Sinh ở đâu, mà Thomas
không thấy? Ngài có biết những suy nghĩ và thái
độ của Thomas không?
Thời gian Chúa Phục Sinh
chưa hiện ra cho Thomas, tâm t́nh và thái độ của
Thomas như thế nào? Hoang mang, chán nản! Thái độ
của các tông đồ như thế nào khi Thomas cứng
ḷng không tin những ǵ các ngài nói với ông?
Thái độ của Thomas
phản ánh thái độ của con người tự
nhận là "khoa học" ngày nay: đ̣i kiểm
chứng thực nghiệm mới tin. Nhưng nếu kiểm
chứng được th́ đâu cần phải tin
nữa!? Thái độ cứng tin của Thomas ngày xưa,
giúp con người ngày nay có thể trả lời dễ
dàng lập trường phê b́nh: "các tông đồ hoang
tưởng nên tin rằng Ngài đă phục sinh"
"tin Đức Giêsu phục sinh là hành vi hoang
tưởng tập thể;” bởi v́ như tin mừng cho
thấy thánh Thomas không dễ dàng tin Chúa đă phục sinh.
Tám ngày sau Thomas mới tin Chúa Phục Sinh, và không phải do
nghe nói nhưng là do chính kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu
Phục Sinh của Thomas.
V́ yêu, Thiên Chúa đă thua sự
ngoan cố của con người. Ngài phải cho Thomas có
kinh nghiệm gặp gỡ Ngài, để Thomas có thể
làm chứng cho Chúa Phục Sinh.
Nh́n nghe quan sát xem Thomas
được biến đổi như thế nào khi
được gặp gỡ Chúa Phục Sinh?
Tôi có thực sự tin Chúa Giêsu
Phục Sinh không? Hay tôi mới chỉ nói là tôi tin Ngài đă
phục sinh mà thôi, c̣n tận thâm sâu th́ tôi lại không tin?
Nếu tôi tin Chúa Giêsu thực
sự đă phục sinh, th́ tôi đă thực sự hân hoan
vui mừng trong suốt đời tôi! Nếu tôi tin Chúa
đă phục sinh, và nếu tôi tin Ngài là Thiên Chúa thực,
th́ tôi đă biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng, và
như vậy tôi đă dám phó thác đời tôi cho Thiên Chúa!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Phục
Sinh như tôi thấy nơi ḷng ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện
diện tại núi cây dầu cùng với các tông đồ
trong biến cố đức Giêsu được nhắc
lên trời.
Ơn xin
Xin ơn tin Chúa đă phục sinh
thực sự; tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa; tin Thiên Chúa yêu
thương con người vô cùng.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi mầu nhiệm đức Giêsu Phục Sinh thăng
thiên tại núi cây dầu.
Suốt bốn mươi ngày,
Ngài đă dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các
tông đồ thấy rằng Ngài vẫn sống sau khi
chịu khổ h́nh (Cv 1:3). Và sau đó, Ngài đă dẫn các
tông đồ ra nơi gọi là núi cây dầu, và lên
trời trước mắt các ông.
Để tin đức Giêsu
đă phục sinh, không tuyệt đối cần nhờ
các tông đồ, nếu người đó tin vào "các
chị phụ nữ được Chúa Phục Sinh
hiện ra cho;” thế nhưng để tin đức Giêsu
Phục Sinh là Thiên Chúa, thiết yếu phải nhờ các
tông đồ, v́ các tông đồ là những người
tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa[51]
đầu tiên!
Tại sao các tông đồ là
những người biết đức Giêsu là Thiên Chúa
đầu tiên, chứ không phải ai khác, như
đức Maria chẳng hạn?
Nếu
đức Maria biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa,
chắc Mẹ dễ dàng thưa tiếng “xin vâng"
với Thiên Chúa qua sứ thần, và phải chăng như
vậy, "ai thưa mà chẳng được?.” Nếu đức Maria
biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ có lẽ Mẹ
dễ chấp nhận hài nhi được sinh ra trong hang
chiên cừu hơn, và chắc Mẹ và thánh Giuse đă không
đau khổ nhiều trong biến cố đức Giêsu
ở lại đền thờ (Lc 2:48), và chắc Mẹ
cũng chẳng đau khổ ǵ trong biến cố
đức Giêsu chịu khổ h́nh, và như vậy Mẹ
đâu xứng đáng với tước hiệu
"Nữ Vương các thánh tử đạo.” Và nếu như vậy, Thiên
Chúa Nhập Thể đâu có hoàn toàn giống con
người, v́ Ngài vẫn được đối
xử đặc biệt và không như tôi!
Tại sao các tông đồ
biết đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa?
Trong suốt ba năm theo Thầy,
các tông đồ đă được nghe nhiều
điều mà những người khác, kể cả
đức Maria cũng không được nghe, chẳng
hạn:
·
"Tội của
ngươi đă được tha" (Mc 2:7);
·
"Trước khi có
Abraham, đă có Ta" (Ga 8:56-58);
·
"Ta và Cha Ta là
một" (Ga 10:30);
·
"Rồi các ông sẽ
thấy Con Người ngự bên hữu Quyền Năng
mà đến trên mây trời" (Mc 14:62).
V́ những lời nói trên,
biệt phái và kư lục muốn giết đức Giêsu hay
ném đá Ngài, v́ đó là "lời phạm thượng:”
"là người mà dám cho ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa;”
nhưng sau khi Chúa Phục Sinh, nhờ các lời đó, các
tông đồ nhận ra đức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa, v́ nếu Ngài gian dối, th́ Thiên Chúa đâu có phục
sinh Ngài! Và nếu Thiên Chúa đă phục sinh Ngài từ cơi
chết, hàm chứa những ǵ Ngài nói là chân thực, tức
Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.
Nếu đức Giêsu không là
Thiên Chúa, việc đức Giêsu được phục
sinh có liên quan ǵ đến tôi? Tôi được ǵ khi Ngài
được phục sinh từ cơi chết?
C̣n nếu đức Giêsu
Phục Sinh là Thiên Chúa, th́ tôi biết Thiên Chúa yêu
thương con người, yêu thương tôi vô cùng. V́
nếu Thiên Chúa không yêu thương con người th́
tại sao Thiên Chúa lại nhập thể làm người
như vậy, tại sao Thiên Chúa Nhập Thể phải
nghèo hèn, phải sinh trong hang chiên cừu, phải sống
làm nghề thợ mộc, phải chết thê thảm
như vậy?
Nếu đức Giêsu Phục
Sinh là Thiên Chúa, tôi biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng.
Và nếu Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n
sợ ǵ nữa bây giờ? "Nếu Thiên Chúa pḥ tôi, ai có
thể chống lại tôi?" (Rm 8:31). "Ai có thể
tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa?" (Rm 8:35-39).
Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi có thể sống
b́nh an, tin tưởng ḿnh sẽ được hạnh
phúc vĩnh cửu với Người.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu
Phục Sinh, xin Ngài củng cố đức tin của tôi
vào Chúa Giêsu Phục Sinh và vào Thiên Chúa, để tôi hân hoan
sống b́nh an hạnh phúc trong t́nh yêu của Ngài.
Khung cảnh
Như thể hiện diện
nơi các tông đồ hội họp với nhau ngày lễ
năm mươi, và thấy những lưỡi như
thể là lửa trên đầu các tông đồ.
Ơn xin
Tin thật Thánh Thần là Thiên
Chúa; xin Chúa Thánh Thần biến đổi con người
ḿnh thành con người mới như Ngài đă biến
đổi các tông đồ xưa.
Điểm
Nh́n nghe quan sát các tông đồ
trước và sau biến cố Chúa Phục Sinh,
trước và sau biến cố Thánh Thần tỏ
hiện quyền năng: từ buồn sầu thất vọng
chán nản đến tin tưởng hân hoan vui mừng.
Buổi chiều ngày thứ
nhất trong tuần, Chúa Phục Sinh đă hiện ra cho các
tông đồ. Trong biến cố hiện ra lần
đầu này, Chúa Phục Sinh đă thổi hơi ban Thánh
Thần cho các tông đồ (Ga 20:22). Chính nhờ Chúa Thánh
Thần mà các tông đồ đă nhận biết
đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.
Mười ngày sau biến cố
Chúa Thăng Thiên, Thánh Thần đă tỏ hiện quyền
năng của Ngài trong ngày lễ Ngũ Tuần. Thánh
Thần đă biến đổi các tông đồ, làm cho
các ngài can đảm đứng ra làm chứng cho Chúa Giêsu
Phục Sinh. Cũng chính Thánh Thần làm cho người ta
tuôn đến nghe các tông đồ rao giảng, và cũng
chính Thánh Thần làm cho người ta tin vào Chúa Giêsu
Phục Sinh, và làm cho người ta nhận lănh phép rửa
nhân danh Chúa Giêsu Kitô.
Các tông đồ nhận biết
Thánh Thần là Thiên Chúa khi nào?
Sau khi nhận biết Đức
Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, các tông đồ nhớ lại
rằng, khi c̣n sống tại thế, đức Giêsu
đă có nhiều lần đề cập tới một
vị, được gọi "Đấng Bầu
Chữa" khác. Vị này cũng có nguồn gốc nơi
Thiên Chúa, là Thánh Thần, Đấng được Thiên
Chúa Cha và Chúa Giêsu ban cho các tông đồ (Ga 14:16.26; 15:26);
Thánh Thần sẽ ở luôn với các tông đồ và
sẽ dạy các tông đồ mọi sự (Ga 14:16; 16:13),
sẽ làm chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26).
Nhờ Thánh Thần, các tông
đồ nhận biết đức Giêsu là Thiên Chúa. Và
một khi nhận biết đức Giêsu Phục Sinh là
Thiên Chúa, cùng với ơn trợ giúp của Thánh Thần,
các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa
dựa vào những lời đức Giêsu đă nói với
các tông đồ khi Ngài c̣n sống với các ông.
Thánh Thần được sai
tới để ở măi với các tông đồ và ở
với những kẻ nhờ lời các tông đồ mà
tin vào đức Giêsu (Ga 17:20).
Nhờ Thánh Thần, các tông
đồ tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa; cũng
chính nhờ Thánh Thần mà các tông đồ can đảm
rao giảng tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh. Không
chỉ thế, Chúa Thánh Thần vẫn luôn hoạt
động trong suốt ḍng lịch sử và trong Hội
Thánh, làm con người tin nhận đức Giêsu đă
phục sinh và tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.
"Không ai có thể tuyên xưng đức Giêsu là Chúa mà
không bởi Thánh Thần" (1Cr 12:3). Thánh Thần luôn tác
động trong tâm hồn mỗi người, giúp mỗi
người phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh em,
giúp con người trở về với Thiên Chúa.
Tâm sự
Thân thưa với Thánh Thần,
Đấng luôn bầu chữa và thánh hóa chúng ta, làm chúng ta
luôn thuộc trọn về Thiên Chúa và về anh em; Xin cho
ḿnh luôn sống thân thiết với Ngài và luôn lắng nghe
lời Ngài dạy dỗ chúng ta.
Đây là
bài cầu nguyện cuối cùng trong sách Linh Thao của thánh
Inhaxiô.
“Xin
ơn nhận biết thâm sâu về tất cả ơn lành
ḿnh đă lănh nhận, để rồi một khi đă
nhận ra th́ ḿnh có thể yêu mến và phụng sự Chúa
Chí Tôn trong mọi sự” (LT 233).
Làm sao
để cảm nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu
thương ḿnh trong từng giây phút của cuộc
sống, để rồi ḿnh yêu lại Chúa và phục
vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc, đó là mục
đích của bài cầu nguyện này.
Yêu là trao
tặng người yêu những ǵ ḿnh có (LT 231). Nếu
Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất cả, ngay
cả những ǵ qúy nhất với Ngài là Chúa Con và Chúa Thánh
Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?
Với
“kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta dâng tất
cả cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một điều duy
nhất “XIN LÀM CHO CON YÊU CHÚA, và ơn đó là đủ cho
con” (LT 234).
Dựa vào sách Linh Thao để
cầu nguyện bài chiêm niệm để được
t́nh yêu này (LT 230-237).
1. Nhớ lại những ơn
lành ḿnh đă lănh nhận, và một khi nhận biết sâu
xa về bao ơn lành Chúa đă ban cho tôi, tôi phải làm ǵ
để đáp lại t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với tôi bây giờ? Nếu v́ yêu Thiên Chúa đă cho tôi
tất cả, th́ tôi phải dâng ǵ để đáp trả
t́nh yêu?
Theo lẽ công bằng, tôi
phải dâng tất cả con người tôi cho Chúa, và tôi
chỉ xin Chúa duy một điều: "làm cho con yêu Chúa,
thế là đủ cho con.”
2. Xem Chúa hiện hữu trong các
tạo vật theo mức độ: nơi đất
đá, nơi thực vật, nơi động vật, và
một cách rất đặc biệt nơi con
người. Con người là h́nh ảnh của Thiên Chúa,
là đền thờ của Ngôi Ba và cũng là đền
thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Nếu v́ yêu tôi, Thiên Chúa đă
hiện diện nơi tôi cách đặc biệt như
thế, tôi phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?
3. Thiên Chúa đang quan pḥng ǵn
giữ các tạo vật như quà tặng cho tôi,
để phục vụ tôi. Như thể một
người vun xới một cây để nó nở hoa, và
người đó lấy bông hoa đó làm qùa tặng cho
người yêu, th́ Thiên Chúa cũng làm tương tự
đối với tôi như vậy.
Nếu Thiên Chúa đối xử
với tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp
trả lại t́nh yêu của Ngài đây?
4. Nh́n vào chính con người tôi,
để nhận ra những nét hay nét đẹp nơi
tôi, để rồi nhận ra đó là những qùa
tặng Thiên Chúa ban cho tôi, để rồi tôi dâng lời
cảm tạ Thiên Chúa.
Nếu tất cả những nét
hay nét đẹp mà tôi có đó, là qùa tặng Thiên Chúa ban cho
tôi, th́ tại sao tôi lại vênh vang về điều đó
và coi thường anh chị em tôi khi họ không có
được như tôi?
Xin tạ ơn Chúa. Xin cho con luôn
khiêm tốn để nhận biết con người
thực của con, để con luôn tôn trọng Thiên Chúa và
anh em con, ngơ hầu con được b́nh an và hạnh phúc
hơn.
Một
bận tâm của người làm Linh Thao “đạt
kết qủa” là, làm sao để duy tŕ và phát triển
ơn Linh Thao?
Đây là
một bận tâm rất chính đáng!
Linh Thao
không là kết thúc hay điểm cực đại của
đời sống thiêng liêng, nhưng nó là khởi
đầu của một giai đoạn sống mới thân thiết hơn với Chúa và
quảng đại hơn với anh chị em.
Nguyên
tắc tổng quát: mỗi ngày tiếp tục làm
điều đă tập trong thời gian Linh Thao. Một
cách cụ thể, luôn sống với ư thức Chúa đang
hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, chấp
nhận mọi biến cố xảy tới với ḿnh
trong niềm tin “Thiên Chúa có thể làm nó thành tốt
đối với ḿnh,” hy sinh liên lỉ nhất là giữ
ǵn ngũ quan để luôn kết hiệp với Chúa.
Tâm t́nh
của Thánh Vịnh 139 (138): Thiên Chúa luôn yêu thương và
nh́n xem săn sóc ḿnh. Chúa Giêsu dạy: “Chúa Cha và Ngài luôn
ở với chúng ta” và “Thánh Thần luôn ở với chúng
ta” (Ga 14:23.16). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta v́ Ngài yêu
thương ta. Chúng ta cần ư thức rơ điều này,
để luôn sống với tâm t́nh Thiên Chúa luôn hiện
diện với ḿnh.
Nếu
Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, chúng ta đâu c̣n cô
đơn nữa; cho dù tất cả có bỏ chúng ta th́
Thiên Chúa vẫn không bao giờ bỏ chúng ta: Người
luôn yêu thương chúng ta.
Nếu
Thiên Chúa yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta c̣n
sợ ǵ nữa? Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta
như vậy, chúng ta không cảm thấy yên tâm và hạnh
phúc sao?
Sống
tâm t́nh Chúa luôn hiện diện, là đă khởi đầu
giờ cầu nguyện liên lỉ.
Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta
mỗi ngày bằng nhiều h́nh thức khác nhau: qua
lương tâm, những ǵ lư trí nhận thấy qua
những biến cố, ngay cả những biến cố
trái ư ḿnh, lời nói của người này người kia,
trang sách này tập vở kia. Như vậy, chúng ta phải
lắng nghe Chúa qua mọi dấu chỉ trong cuộc
sống, trong từng biến cố của cuộc
sống thường ngày.
Lắng nghe và thực hiện Ư
Chúa, chấp nhận và lấy Ư Chúa làm ư ḿnh, đó là
kết hiệp với Thiên Chúa trong hành động.
Giờ
cầu nguyện chính thức là cao điểm của
giờ cầu nguyện liên lỉ suốt này; kết
hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện là cao
điểm của tiến tŕnh kết hiệp với Thiên
Chúa trong suốt ngày.
Từ
bỏ ḿnh liên lỉ, quảng đại với Chúa,
sẽ giúp ḿnh dễ dàng cầu nguyện hơn, dễ dàng
gặp Thiên Chúa hơn.
Từ
bỏ ḿnh, chấp nhận trái ư v́ ích lợi của tha
nhân, giữ ǵn ngũ quan để luôn sống thân
thiết với Thiên Chúa, luôn vâng phục thánh ư Chúa trong
từng biến cố nhỏ, chọn Thiên Chúa trên hết,
là dấu chỉ cho thấy ḿnh đang thuộc về Thiên
Chúa.
Linh Thao
chỉ là khởi đầu của một giai đoạn
mới trong đời sống thiêng liêng. Xin Chúa giúp chúng ta
quảng đại với Chúa, để chúng ta tăng
trưởng mỗi ngày một hơn về đời
sống thiết thân với Chúa, bằng:
·
ư thức liên lỉ
Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với chúng
ta,
·
sẵn sàng vâng phục
Thánh Ư Thiên Chúa,
·
từ bỏ ḿnh,
·
xét ḿnh và xét gẫm
mỗi ngày.
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
AMDG
AD MAJOREM DEI GLORIAM
Barry, William A. & Connolly, William J. The Practice of Spiritual Direction. New
York: Seabury, 1982. Bản dịch từ ấn bản lần
hai năm 2009: Thực Hành Linh Hướng.
Dịch giả: Trần Quốc Anh & Giang Trung Kiên. Sài
G̣n: Tủ sách Linh Đạo I-nhă, 2013.
Fleming, David L., S.J. Ed. The Christian Ministry of Spiritual Direction. 2nd Ed.
St Louis, MO: Review for Religious, 1996.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of Spirits. New York: Crossroad books, 2005.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation. New York: Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. A Handbook for Spiritual Directors. New York: Crossroad, 2017
Gioan Phaolô II. Pastores
Dabo Vobis. Vatican: Vatican Press, 1992.
Houdek, Frank J., S.J. Guided
by the Spirit: A Jesuit Perspective on Spiritual Direction. Chicago: Loyola
Press, 1996.
Phạm Thanh Liêm, S.J. Linh Thao Trong Cuộc Sống. Sài G̣n: Lưu hành
nội bộ, 1984
Phạm Thanh Liêm, S.J. Bạn Đồng Hành. Sài G̣n: Lưu hành nội
bộ, 1997
Phạm Thanh Liêm, S.J. Hiện Tại Mới Quan Trọng. Sài G̣n: Lưu
hành nội bộ, 1995
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Thương Xót:
tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh
hướng. Vatican: Vatican Press, 2011. Bản dịch
của Phêrô Đặng Xuân Thành. Hà Nội: Lưu hành
nội bộ, 2012.
Toner, Jules J., S.J. Discernment
of Spirits. St Louis, Missouri: Institute of Jesuit Sources, 1982.
[1] Ḍng Tên
được thánh Inhaxiô Loyola, thánh Phanxicô Xavier, thánh Phêrô
Favre và mấy bạn khác nhận định để
thành lập vào mùa chay năm 1539, và được
đức giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn bằng trọng
sắc Regimini ngày 27.09.1540.
Ḍng này được gọi là Ḍng Tên v́
cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) thuộc Ḍng Tên, và các
bạn thừa sai khác cũng thuộc Ḍng Tên, đă thích
nghi cách gọi Ḍng theo nền văn hóa dân tộc Việt
Nam khi các Ngài tới truyền giáo ở Việt Nam. Sát
nghĩa th́ Ḍng này phải được gọi là Ḍng Giêsu
(Societas Iesu, Society of Jesus, Compagnie de Jésus), nhưng v́
người Việt Nam không có thói quen gọi tên tục
một người đáng kính, nên các cha thừa sai
“Việt Nam hóa” tự giới thiệu họ là những
người thuộc Ḍng Tên.
Các thừa sai Ḍng Tên tới Việt Nam
vào năm 1615, c̣n cha Đắc Lộ tới miền Nam
Việt Nam vào ngày 27.12.1624 (Xem Lm. Nguyễn Hồng, Lịch
sử Truyền Giáo ở Việt Nam, q.1: Các cha thừa sai
Ḍng Tên 1615-1665, HIiện Tại 1959, trang 92.94).
[2]Nếu không
có điều này, th́ đây là cuộc tĩnh tâm hay cấm
pḥng “ít người” chứ không phải là Linh Thao. Linh Thao
là cuộc tĩnh tâm có hướng dẫn theo phương
pháp của thánh Inhaxiô.
Khi nói như vậy, người
viết không hề có ư muốn nói: “cuộc tĩnh tâm
đó không có nhiều ích lợi,” và cũng không hề có
tư tưởng đánh gía thấp các cuộc tĩnh tâm
đó một chút nào. Cuộc tĩnh tâm đó có thể
rất tốt.
[3]Linh
hướng là một nghệ thuật, một nghệ
thuật vượt các nghệ thuật (l’art des arts). Xem
Joseph Stierli, SJ, L’art de la direction spirituelle, trong L’accompagnement
spirituel, tạp chí CHRISTUS số 153 hors série, Paris 1992, trang
39.
[4] Tự ḿnh và do ḿnh: tự do ḿnh.
[5] Quan
niệm dân gian Việt Nam cũng không đồng ư quan
điểm này, v́ “Đức nhân thắng số.” Một
người ăn ở có đức có thể đổi
được “số mạng.” Mà nếu có thể
đổi số mạng, th́ không c̣n là tất định
nữa! Quan niệm “Đức nhân thắng số,” là quan
niệm đúng đắn, bảo vệ tự do của
con người.
[6] Có
người nghĩ rằng nếu Thiên Chúa biết rơ con
người sẽ chống lại Ngài th́ con người
đâu c̣n tự do nữa! Trước vấn nạn này
chúng ta cần xác định rơ: Thiên Chúa muốn, Thiên Chúa
biết, nhưng con người vẫn tự do. “Thiên Chúa
muốn cho tất cả mọi người
được cứu độ và nhận biết chân lư”
(1Tm 2:4): Thiên Chúa không muốn con người phạm
tội nhưng con người vẫn có thể phạm
tội v́ con người tự do. Thiên Chúa toàn năng toàn
tri, nhưng con người vẫn tự do. Hai mệnh
đề trên không mâu thuẫn nhau!
[7] “Lạy
Thiên Chúa, sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34)
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong
tay Cha” (Lc 23:46).
[8] “Thầy
sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng
Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn
măi”( Ga 14:16).
[9] “Yêu là cùng
nh́n về một hướng”
T́nh yêu bao hàm t́nh bạn: vợ chồng
gọi nhau là “bạn đời.”
[10] Các
bước gợi ư cho một lần cầu nguyện:
1. Sau
khi đă chọn địa điểm tốt nhất
để cầu nguyện như ḿnh thấy, đến
chỗ đó, và ư thức ḿnh
hiện diện trước Thiên Chúa Ba Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn
tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).
2. Xin Chúa Cha ban Thánh Thần của Chúa Giêsu
Phục Sinh cho ḿnh, để Ngài thanh tẩy ḿnh,
để Ngài giúp ḿnh bỏ những vướng bận
đặc biệt trong giờ cầu nguyện này, và xin
Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa.
3. Đặt khung cảnh (v́
thân phận con người, chúng ta đến với Thiên
Chúa qua những ǵ hữu h́nh).
4. Ơn xin (Mỗi bài
cầu nguyện đều có ơn xin; Thao viên cần khao
khát điều này trước khi xin).
5. Điểm
6. Tâm sự với Chúa (Sau
mỗi điểm, chúng ta nên tâm sự với Chúa, chứ
không nhất thiết phải chờ đến cuối
giờ cầu nguyện, v́ các điểm gợi ư chỉ
là phương tiện giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự
cùng sống hạnh phúc với Chúa ).
[11] Gợi ư
giúp xét gẫm:
1. Tôi được ǵ trong giờ
cầu nguyện vừa qua?
B́nh an? Thư thái hạnh phúc? Sốt
sắng? Được đánh động ở
điểm ǵ nhất? Được ơn ǵ đặc
biệt?
2. Tôi có hài ḷng với giờ cầu
nguyện không?
3. Nguyên do làm tôi không hài ḷng lắm với giờ cầu
nguyện?
·
Bị chia trí? Chia trí về điều
ǵ? Nó có phản ánh một vướng bận hay quyến
luyến lệch lạc của tôi không?
·
Thiếu quảng đại? Do thiếu
t́nh yêu?
·
Mất b́nh an? Dấu chỉ có trục
trặc cần sửa chính ḿnh?
4. Tâm sự với Chúa dựa vào
những ơn ḿnh nhận được hay do những
lỗi lầm ḿnh mắc phải.
[12] Giờ
cầu nguyện không tốt, tốt, hay tốt lắm, là
đánh giá chủ quan hay khách quan của người
cầu nguyện hay của người hướng
dẫn.
[13] Gợi ư
giúp xét ḿnh:
1. Ư thức ḿnh hiện diện
trước nhan Chúa và kính cẩn chào Chúa
2. Xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để
Ngài giúp ḿnh ...
3. Ơn lành
·
Xin ơn nhận ra những ơn lành
ḿnh đă nhận lănh từ lần xét ḿnh lần
trước cho tới bây giờ
·
Xét ḿnh để nhận ra những
ơn lành đă lănh nhận
·
Tạ ơn Chúa
4. Lỗi lầm
·
Xin ơn để nhận ra những
lỗi lầm khuyết điểm
·
Xét ḿnh để nhận ra lỗi
lầm của ḿnh từ lần xét ḿnh lần trước
cho tới bây giờ
·
Ăn năn thống hối xin lỗi
Chúa
5. Tâm sự thân thưa với Chúa
dựa vào những ơn lành ḿnh đă nhận và những
lỗi lầm khuyết điểm ḿnh đă phạm.
[14] Mỗi bài
cầu nguyện đều có ơn xin, có thể coi như
yêu cầu của bài cầu nguyện.
[15] Nếu tôi là một tu sĩ,
th́ tôi đă t́m kiếm điều ǵ
trước khi tôi đi tu?
khi tôi mới bắt đầu đi tu?
sau khi tôi đi tu một thời gian?
[16] Thực ra,
tội không thuộc bản tính con người. Con
người có thể không phạm tội. Phạm tội
hay không là tùy tự do mỗi người.
[17] “Ta không
muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó
ăn năn sám hối và được sống” (Ed 33:11).
“Thiên Chúa muốn cho mọi người
được cứu độ và nhận biết chân lư”
(1Tm 2:4).
[18] Cũng xảy
ra trường hợp có veû
được an ủi, nhưng không phải là an ủi
thực; trường hợp này là do ác quỷ giả
dạng thần lành để đánh lừa người
ta (2Cr 11:14), làm người ta đi theo đường
của nó, nhưng nếu theo nó, người ta sẽ
cảm thấy bất an bối rối, v́ không đi trên
con đường Thiên Chúa muốn (LT 332-333).
[19] Hỏa ngục ở đây
muốn chỉ t́nh trạng đau khổ bất hạnh
hơn là một cái ngục đầy lửa, v́ thiên
thần th́ thiêng liêng; và nếu muốn hiểu hỏa
ngục là một ngục đầy lửa, th́ cũng
phải hiểu hỏa ngục “thiêng liêng” trong trường
hợp dành cho ác quỷ này.
[20] Nếu không là tu sĩ, th́
bỏ bài này.
[21] Lấy Ư
Thiên Chúa làm ư ḿnh.
[22] Xem ghi chú
của FranVois
Courel, sj, trong Saint Ignace de Loyola, Exercices Spirituels, Desclée de
Brouwer 1960, p.65 note 2.
[23] Tuy vậy
cần lưu ư về t́nh trạng biếng lười
của ḿnh; có người không muốn dùng điểm v́
họ làm biếng suy nghĩ cầu nguyện.
Cũng có bài cầu nguyện cần dùng
tất cả số điểm được cho, như
trường hợp bài cầu nguyện về “Tội tôi”
(LT 55 tt).
[24] Khao khát nên
thánh, là hành vi đă được lư trí tự do
hướng dẫn.
[25] Với tác
động của Thiên Chúa, tự do của con
người luôn được bảo toàn.
“Xin thánh ... làm cho người em con
trở lại.” Thánh... không thể làm được
điều này nếu “em con” không đồng ư; nhưng
Thiên Chúa có thể làm được mà người “em con”
vẫn hoàn toàn tự do.
[26] Có thế, chúng ta mới
hiểu tại sao đức Giêsu ở lại Giêrusalem
từ sáng mà chiều tối đức Maria và thánh Giuse
mới nhận ra.
[27] trừ Chúa và Mẹ.
[28] Có thể gọi là núi so
với mặt biển, nhưng nếu ḿnh đang ở
trên núi, th́ nó lại là đồi.
[29] Không vị
lợi, có cái nh́n trưởng thành về đời
sống gia đ́nh và dâng hiến, không bị quyến
luyến lệch lạc chi phối.
[30] Lấy con
người cảm tính của ḿnh làm tiêu chuẩn chọn
lựa.
[31] Như
vậy không nên lạm dụng cách chọn lựa theo thánh
Inhaxiô, như thể cứ làm theo cách thức đó, th́
đă là làm việc lựa chọn đúng đắn!
[32] Nếu ai
đó không b́nh tâm mà làm lựa chọn, th́ cuộc chọn
lựa đó không được coi là cuộc chọn
lựa có giá trị.
[33] Ở
một nghĩa nào đó, không quyết định cũng
là quyết định, không chọn lựa cũng là
chọn lựa.
Nếu không thấy rơ th́ đừng
quyết định. Cụ thể, trong trường
hợp lựa chọn bậc sống, nếu không thấy
rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc sống khác, th́ cứ
sống trong bậc sống ḿnh đang sống.
[34]
Điều này không muốn nói rằng người đó
không bị đau khổ hoặc thập giá trong cuộc
sống.
[35]
Đương nhiên phải hiểu là nếu chúng ta
vẫn quảng đại với Chúa: vẫn luôn kết
hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống,
vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.
Nếu sau chọn lựa mà chúng ta
cầu nguyện dở hơn trước dù chúng ta vẫn
quảng đại với Chúa như trước, th́
phải t́m nguyên do, cũng có thể tại ḿnh chọn
điều Chúa không muốn.
[36] Xin nghèo là
từ bỏ những ǵ ngoài ḿnh; xin sỉ nhục khinh chê
là từ bỏ chính ḿnh. Nhiều người có thể xin
được nghèo nhưng không dám xin được
sỉ nhục với Chúa.
[37] như trong hội họa và
điêu khắc.
[38] ư niệm, tiếng Hy Lạp
là eidos: h́nh ảnh.
[39] Xem LT 327
[40] Ban đầu đức
Giêsu không muốn làm phép lạ v́ Ngài nghĩ rằng “không
nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó,” nhưng khi
Ngài thấy đức tin của chị ta- mà đức
tin là hồng ân của Thiên Chúa- dấu chỉ cho thấy
Thiên Chúa muốn, th́ Ngài đă cho chị ta được
như chị ta xin.
[41] Ở đây luôn hiểu là
tội cố t́nh.
[42] Có thể nói: “sao cũng
được;” nhưng, người như vậy không có
nghĩa là người “ba phải.”
[43] Ở đây hiểu là
dấu chỉ “khách quan” đối với đương
sự. Dấu chỉ khách quan này có thể rất chủ
quan.
[44] Như
thể Chúa Cha cũng bỏ Ngài (Mc 15:34).
[45] Trừ Mẹ và Chúa.
[46] Chỉ có thể nói như
vậy, khi dùng kiểu nói nhân h́nh và b́nh dân.
[47] Nếu ai
đó tin lời chị Maria Magdala (Yn.20:18), th́ biết
đức Giêsu đă sống lại, mà không cần nhờ
lời chứng của các tông đồ.
[48] Chính v́
thế, Hội Thánh Công Giáo tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “tôi
tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông
truyền.” “Hội Thánh được xây trên nền
tảng các tông đồ,” dĩ nhiên khi nói như vậy,
vẫn phải hiểu: Hội Thánh có nền tảng là
chính Thiên Chúa.
[49] Chính v́ vậy, Mẹ rất
cần được đức Giêsu Phục Sinh hiện
ra cho Mẹ.
[50] Tại sao
đức Giêsu cần ra núi cây dầu để lên
trời? Phải chăng ở trong nhà Ngài không thể lên
trời được? Thiên Chúa ở khắp mọi
nơi, đâu cần lên trời để ngự bên
hữu Thiên Chúa? Hơn nữa, Thiên Chúa đâu có phải có
trái như chúng ta, vậy tại sao lại "lên trời
ngự bên hữu Thiên Chúa?”
Câu
cuối cùng của Tin Mừng theo thánh Matthêu chúng ta
đọc thấy: "này đây Thầy ở cùng các con
mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20), và
trong Mt 18:18: "nơi nào có hai hay ba người họp
nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở giữa họ,” như
vậy phải chăng đức Giêsu không lên trời?
Thực ra chỉ có hai tin mừng Luca và Maccô mới nói Chúa
Giêsu Phục Sinh lên trời, c̣n hai tin mừng Matthêu và Gioan
th́ không thấy nói tới.
Như
vậy phải chăng "lên trời" hay "thăng
thiên" là cách nói, muốn diễn tả sự thực
“đức Giêsu được tôn vinh ngang hàng với Thiên
Chúa, đức Giêsu là Thiên Chúa?”
[51] Chính v́ vậy mà Hội Thánh
tuyên xưng: "tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền.” Trong sách Phụng Vụ
Các Giờ Kinh, ngày lễ các thánh tông đồ, Hội Thánh
dạy: Hội Thánh được xây trên nền móng 12 tông
đồ. Có lẽ, nếu nhờ đức Maria hoặc
các chị phụ nữ mà Hội Thánh tin Chúa Giêsu Phục
Sinh là Thiên Chúa (hiểu như là những người
nhờ đó mà đức tin được loan truyền,
v́ họ biết đầu tiên), th́ Hội Thánh đă
phải tuyên xưng "Hội thánh duy nhất, thánh
thiện, công giáo và 'đức Mẹ truyền' hoặc
'phụ nữ truyền',” chứ không phải là tông
truyền như chúng ta vẫn tuyên xưng.