HOME    LỜI CHÚA    ĐỨC TIN    LINH ĐẠO    THẦN HỌC    ĐỜI SỐNG     IN ENGLISH    VỀ TÁC GI

Sách Linh Thao     T Thuật Của Thánh Inhaxiô     Phân Định Thiêng Liêng     Đồng Hành Thiêng Liêng     Như Thấy Đấng Vô H́nh      Hiện Tại Mới Quan Trọng     Để T Do  Hạnh Phúc Hơn     Bạn Đường Của Người Làm Linh Thao      Linh Thao Mười Ngày     Linh Thao Trong Cuộc Sống      Đặc Sủng Ḍng Tên

 

 

 

Linh Thao Trong Cuộc Sống      bản PDF

 

LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG


MỤC LỤC

 

MỤC LỤC

CHỮ VIẾT TẮT & GHI CHÚ

LỜI NÓI ĐẦU

BẠN ĐỒNG HÀNH

DẪN NHẬP

1. Linh Thao là ǵ?

2. Mục đích Linh Thao

3. Thái độ cần thiết để làm Linh Thao

ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO

1. Khao khát nên thánh

a. Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn, không thể làm Linh Thao

b. Ao ước khao khát nên trọn lành hơn nữa

2. Ḷng quảng đại

a. Dâng trót con người ḿnh cho Chúa

b. Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn

c. Ḷng quảng đại được cụ thể hóa

i. Giữ thinh lặng bên ngoài qua việc kiềm chế ngũ quan

ii. Giữ thinh lặng nội tâm

iii. Ư thức ḿnh sống trước nhan Chúa

VỀ CẦU NGUYỆN

1. Nhiều cách cầu nguyện

a. Cầu nguyện như suy gẫm

b. Cầu nguyện như chiêm niệm

i. Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi

ii. Để nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu hơn

c. Các bước cầu nguyện

i. Ư thức Chúa hiện diện và chào Chúa

ii. Xin Chúa ban Thánh Thần

iii. Hội nhập khung cảnh

iv. Ơn xin của bài cầu nguyện

v. Điểm cầu nguyện

vi. Tâm sự

2. Cầu nguyện

a. Ư thức Thiên Chúa hiện diện

b. Ở với Chúa: lắng nghe, tâm sự, và yên lặng bên Chúa

i. Lắng nghe Thiên Chúa

ii. Thân thưa với Chúa

iii. Ở lặng bên Chúa

3. Cầu nguyện để trở nên một với Thiên Chúa

a. Khao khát ước mong kết hiệp với Thiên Chúa

b. Hy sinh từ bỏ chính ḿnh

c. Đồng h́nh đồng dạng với Ngài trong tư tưởng lời nói và hành động

4. Cầu nguyện chính yếu là tâm sự

a. Cầu nguyện và suy nghĩ

b. Cảm nghiệm (LT 2)

c. Tâm sự

5. Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện

XÉT GẪM NHƯ PHÂN ĐỊNH THIÊNG LIÊNG

1. Nguyên tắc chính yếu

a. Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc

b. Các thần lành giúp tôi sống như Thiên Chúa muốn

c. Thần dữ không muốn tôi sống hạnh phúc với Thiên Chúa

2. An ủi hay sầu khổ

a. An ủi

b. Sầu khổ

c. Cách thức chống trả

d. Ghi chú

i. Người thường sống trong t́nh trạng tội

ii. Người đang tiến trên đường thiêng liêng

iii. An ủi không qua trung gian

3. Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm

a. Tôi được ǵ trong giờ cầu nguyện này?

b. Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện này không?

c. Nếu tôi không hài ḷng lắm th́ đâu là nguyên do?

d. Thân thưa nói chuyện với Chúa về t́nh trạng tâm hồn ḿnh

4. Cầu nguyện không được tốt hay bị sa sút

a. Do thiếu quảng đại

b. Do c̣n bám víu vào tạo vật (t́nh cảm lệch lạc)

c. Nhận thức sai lầm

d. Để tôi luyện ḿnh

e. Trúng bẫy thần dữ giả dạng thần lành

5. Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về điều này

a. Đây là điểm yếu của tôi

b. Tôi chưa dứt khoát chống trả

c. Cũng là dịp để lập công, để nên thánh hơn

d. T́nh yêu với Chúa đă bị suy giảm

i. Khao khát nên thánh

ii. Quảng đại trong từng chọn lựa thường ngày

HỒI TÂM XÉT M̀NH

1. Các bước gợi ư giúp hồi tâm xét ḿnh

2. Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu

3. Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn

4. Cầu nguyện ngắn dựa vào chính đời sống

LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG

VIỆC CẦN LÀM KHI LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG

a. Trong một ngày

b. Một tuần

Về cầu nguyện

Về cuộc sống

c. Hết một chủ đề

NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

1. Mục đích và yêu cầu

a. Trí (biết đúng để sống đúng)

b. Tâm (b́nh tâm)

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Các bài cầu nguyện dẫn nhập

a. Tv 139 (138)

b. Hăy cởi dép khỏi chân (Xh 3:1-12)

c. Ḷng người như thửa đất (Mt 13:1-8.18-23)

d. Đến mà xem (Ga 1:35-51)

e. Muốn sao th́ được vậy (Mt 15:21-28)

4. Bài cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tảng:

a. Con người, h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a)

b. Con người được Chúa chăm nom (Tv 8)

c. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 3:16; 1Ga 4:9-16)

d. Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)

e. Trong Đức Giêsu Kitô (Ep 1:3-14)

f. Thiên Chúa pḥ tôi (Rm 8:28-39)

g. Thái độ đối với của cải (Lc 12:13-15.16-21.22-34)

h. Nguyên lư và Nền Tảng (LT 23)

i. Chỉ một điều cần (Lc 10:38-42)

j. Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34)

k. Yêu người (Lc 10:29-37)

Ghi chú

TỘI

1. Mục đích và yêu cầu

a. Trí

Nhận biết ḿnh là tội nhân

Nhận biết sự xấu xa và ác hại của tội

b. Tâm

Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha thứ

Khao khát trở về với Thiên Chúa

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Các bài gợi ư cầu nguyện

a. Tội Ađam và Evà (St 3)

b. Tội Cain (St 4:1-16)

c. Con cái ác quỷ (Ga 8:31-51)

d. Ba tội (LT 45-54).

e. Tội tôi (LT 55-61).

f. Tái gẫm (LT 62-63):

g. Do thái thờ ḅ vàng (Xh 32)

h. Vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7)

i. Lời nguyện thống hối (Br 1:15-3:8)

j. Nh́n lại suốt tuần

k. Bất công (Am 8:4-10)

l. Israel bất trung (Gr 3:1-4:4)

m. Tội dân ngoại (Rm 1:18-32)

n. Dửng dưng trước nỗi khổ (Mt 25:31-46)

o. Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)

p. Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30)

q. Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11)

r. Lời nguyện thống hối (Tv 51/50)

s. Thiên Chúa- người cha nhân từ (Lc 15:11-24)

t. Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11)

u. Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50)

Ghi chú:

LỜI MỜI GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG

1. Mục đích và yêu cầu

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Bài cầu nguyện về Tiếng Gọi Vua Hằng Sống

a. Từ nay ngươi sẽ là kẻ lưới người (Lc 5:1-11)

b. Sứ mạng (Ga 20:21)

c. Ơn gọi Abraham (St 12:1-9)

d. Đáp trả trong vâng phục đức tin (St 22:1-10)

e. Ơn gọi Isaia (Is 6:1-13)

f. Ơn gọi tiền định (Is 42:1-9)

g. Người tôi tớ Yavê (Is 49.50.52)

h. Ơn gọi tiên tri Giêrêmia (Gr 1:4-10.17-19)

i. Ơn gọi Kitô hữu (Mc 8:34-9:1)

j. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)

k. Tiếng gọi Vua Hằng Sống (LT 91-98)

Ghi chú:

LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ

1. Mục đích và yêu cầu

a. Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn

b. Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn

2. Bản văn Kinh Thánh

a. Mầu nhiệm nhập thể

b. Đời b́nh thường “phi thường”

c. Con đường Đức Giêsu đi

3. Sứ mạng đ̣i tự hủy

a. Nhập Thể (Lc 1:26-38)

b. Lời đă thành xác thịt (Ga 1:14; 1:1-18)

c. Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11)

d. Sinh bởi ngươi nữ (Gl 4:4-6)

e. Giáng sinh (LT 101-109)

f. Ngôi Lời nhập thể để thi hành Ư Thiên Chúa

g. Giáng Sinh (Lc 2:1-20)

h. Cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21)

i. Được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40)

j. Trốn sang Aicập (Mt 2:13-23)

k. Con phải lo việc Cha con (Lc 2:41-50)

l. Đức Giêsu sống rất lâu ở Nadarét (Lc 2:51-52)

Ghi chú:

4. Đức Giêsu thuộc trọn về Cha

a. Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13)

b. Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11)

c. Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39)

d. Của ăn của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta (Ga 4:34)

e. Cách sống được chúc phúc (Mt 5:1-12)

f. Sống phó thác tất cả nơi Thiên Chúa (Mt 6:25-34)

g. Hăy nên thánh v́ Ta là thánh (Lv 19:1-2)

Ghi chú

5. Đức Maria thuộc trọn về Thiên Chúa

a. Lời vâng tuyệt hảo (Lc 1:26-38)

b. Mẹ âm thầm thuộc về Thiên Chúa

c. Mẹ t́m lại được hài nhi Giêsu (Lc 2:41-52)

d. Niềm tin của Mẹ vào Con (Ga 2:1-11)

e. Ai là mẹ tôi và ai là anh em tôi (Mt 12:46-50)

f. Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27)

Ghi chú

6. Con đường Đức Giêsu đi

a. Thái độ của dân chúng (Mc 1-3)

b. Thái độ của người thân và kư lục, biệt phái

c. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)

d. Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4)

e. Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29)

f. Quyền trên thiên nhiên (Mc 4:35-41)

g. Loan báo Tin Mừng bằng trừ quỷ (Mc 5-6)

h. Không hiểu đường lối của Đức Giêsu (Mc 4;6)

i. Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30)

j. Con đường thập giá (Mc 8:31-33)

k. Phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1)

l. Cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29)

m. Con đường Đức Giêsu đi: Phục vụ (Mc 9:33-37)

n. Ngăn cản nhân danh Đức Giêsu (Mc 9:38-41)

o. Vẫn không hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45)

p. Thương cảm người mù (Mc 10:46-52)

q. Không chấp nhận con đường Đức Giêsu

r. Giới răn yêu thương (Mc 12:38-34)

s. Đức Giêsu- con người tự do

t. Đời sống trinh khiết của Đức Mẹ và thánh cả Giuse

Ghi chú

NGÀY INHĂ

1. Mục đích yêu cầu

a. Nhận thức, chọn và được chọn

b. Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Những gợi ư cầu nguyện về ngày Inhă

a. Hai con đường (Tv 1)

b. Anh nhà giàu (Mc 10:17-22)

c. Giá trị của tiền bạc (Mc 10:23-31)

d. Sự Sống và Sự Chết (LT 136-147)

e. Ba mẫu người (LT 149-157)

f. Ba bậc khiêm nhường (LT 165-168)

g. Số phận của Đức Giêsu (Mc 10:32-34)

h. Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25)

i. Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28)

Lượng giá "ngày Inhă"

a. B́nh Tâm

b. Thái độ của tôi đối với nghèo và sỉ nhục

c. Dứt khoát với quyến luyến lệch lạc

d. Mức độ t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa

CHỌN LỰA

1. Lựa chọn theo thánh Inhaxiô

2. Điều kiện để làm việc lựa chọn tốt

a. Nhận thức đúng đắn về mục đích đời người

b. B́nh Tâm

3. Về lựa chọn

a. Nhận ra ư Chúa về đời ḿnh

b. Dứt khoát chọn

4. Dấu chỉ việc lựa chọn được làm đúng

5. Chọn lựa

6. Sau chọn lựa

a. Tâm t́nh tạ ơn (Lc 17:11-19)

b. Chúa vẫn trung thành măi

ĐƯỜNG T̀NH YÊU

1. Mục đích yêu cầu

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Gợi ư cầu nguyện về t́nh yêu Thiên Chúa

a. Làm sao Ta có thể quên được ngươi (Hs 11:1-9)

b. Yêu đến độ đă ban Con Một Người (Ga 3:16-21)

c. Thánh Thần- bằng chứng t́nh yêu (1Ga 4:8-16)

d. Tự hiến mạng sống (Ga 10:17-31)

e. Bí tích T́nh Yêu (Lc 22:14-20)

f. Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17)

g. Điều tốt nhất cho người yêu (Ga 17:1tt)

h. T́nh yêu qua phục vụ (Ga 13:1-17)

i. Hăy yêu nhau như Thầy yêu (Ga 13:31-35)

j. Hăy tin vào tôi, hăy yêu tôi (Ga 14:1tt)

k. Hăy kết hiệp làm một với Thầy (Ga 15:1-8)

l. Ta đă thắng thế gian (Ga 16:16-33)

Ghi chú

4. Đức Giêsu chấp nhận thập giá v́ yêu

a. Âm mưu giết Đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11)

b. Báo biến cố Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31)

c. Đức Giêsu ở vườn dầu (Mc 14:32-42)

d. LT 200 tt.

e. Yuđa nộp thầy bằng nụ hôn (Mc 14:43-52)

f. Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72)

g. Đức Giêsu trước ṭa Do thái (Mc 14:53-65)

h. Đức Giêsu trước ṭa Philatô (Lc 23:1-7)

i. Đức Giêsu trước ṭa Hêrôdê (Lc 23:8-12)

j. Trước ṭa Philatô lần II (Lc 23:13-25; Ga 18:33-19:16)

k. Đức Giêsu bị đánh đ̣n (Mc 15:15)

l. Đức Giêsu đội măo gai (Mc 15:16-20)

m. Đức Giêsu vác thập giá (Mc 15:21)

n. Đức Giêsu bị đóng đinh (Mc 15:22-32)

o. Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41)

p. Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47)

q. Tâm t́nh của người yêu thương Chúa

o. Tv 22 (21)

p. Người tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12)

q. Chu toàn sứ mạng dù phải chết (Pl 2:6-11)

r. Dân Ta ơi, Ta đă làm ǵ cho ngươi

s. Đức Maria dưới chân thập tự (Ga 19:25-27)

t. Chứng nhân thinh lặng: Chúa Cha

u. Chiêm ngắm toàn bộ cuộc khổ nạn (LT 208 tt)

Ghi chú

Phục Sinh

1. Mục đích yêu cầu

2. Bản văn Kinh Thánh

3. Thiên Chúa phục sinh Đức Giêsu Nadarét

a. Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ (LT 218-225)

b. Niềm vui của chị Maria Magdala (Ga 20:11-18)

c. Hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35)

d. Chúa Phục Sinh trao sứ mạng (Ga 20:19-23)

e. Củng cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29)

f. Chăm sóc các tông đồ (Ga 21:1-14)

g. Cứng ḷng trước biến cố Phục Sinh (Mt 28:11-15)

h. Chúa Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20)

i. Chúa Phục Sinh được siêu thăng (Cv 1:6-11)

4. Ghi chú

THÁNH THẦN LUÔN HOẠT ĐỘNG TRONG HỘI THÁNH

a. Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26)

c. Thánh Thần làm chứng về Đức Giêsu (Ga 15:26-16:15)

c. Thánh Thần tỏ hiện dịp lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-17)

d. Đức tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh (Cv 2:14-41)

e. Nhân danh Đức Giêsu Nadaret (Cv 3:1-26)

f. Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh trước chính quyền (Cv 4:1-22)

g. Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tất cả như phân bón (Pl 3:1-16)

CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU

1. Mục đích yêu cầu

2. Xin Chúa làm cho con yêu Chúa

3. Bài cầu nguyện

a. Chiêm niệm để được t́nh yêu (LT 230-237)

b. Thiên Chúa là T́nh yêu (1Ga)

ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO

1. Luôn sống đời sống thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh

2. Vui nhận Ư Chúa làm ư ḿnh

3. Hy sinh hăm ḿnh liên lỉ

SÁCH LINH THAO CỦA THÁNH INHAXIÔ

LỜI DẪN

GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH SÁCH LINH THAO

CÁC CHÚ DẪN

23. NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

24. VIỆC XÉT M̀NH RIÊNG HÀNG NGÀY

32. XÉT M̀NH CHUNG

44. XƯNG TỘI CHUNG VÀ RƯỚC LỄ

TUẦN THỨ NHẤT

45. Cuộc Linh Thao Thứ Nhất

55. Cuộc Linh Thao Thứ Hai Suy Gẫm Về Các Tội

62. Cuộc Linh Thao Thứ Ba

64. Cuộc Linh Thao thứ bốn

65. Cuộc Linh Thao Thứ Năm

73. NHỮNG ĐIỀU PHỤ THÊM

TUẦN THỨ HAI

91. Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống.

101. Ngày Thứ Nhất

Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất Về Mầu Nhiệm Nhập Thể

110. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Chúa Sinh Ra Đời

118. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Ba

120. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Tư

121. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Năm

135. Lời Phi Lộ Về Sự Suy Xét Các Bậc Sống

136. Ngày Thứ Bốn Suy Gẫm Về Hai Cờ Hiệu

149. Cũng Ngày Thứ Bốn Suy Ngắm Về Ba Mẫu Người

Ba Bậc Khiêm Nhường

169. Lời Phi Lộ Để Làm Việc Lựa Chọn

175. Về Ba Thời Kỳ

Cách Thứ Nhất Để Làm Việc Lựa Chọn Tốt Lành

184. Cách Thứ Hai Để Làm Việc Lựa Chọn Tốt Lành

189. Để Tu Chỉnh Và Cải Thiện Đời Sống Và Bậc Ḿnh

TUẦN THỨ BA

190. Ngày Thứ Nhất

200. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Vào Buổi Sáng, Từ Bữa Tiệc Ly

208. Ngày Thứ Hai

Ngày Thứ Ba

Ngày Thứ Bảy

210. Quy Tắc Để Tự Chỉnh Đốn Trong Việc Ăn Uống Từ Này Về Sau

TUẦN THỨ BỐN

218. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất Đức Kitô Chúa Chúng Ta Hiện Ra Cùng Đức Bà [299]

230. Chiêm Niệm Để Được T́nh Yêu

238. BA CÁCH CẦU NGUYỆN

Cách Cầu Nguyện Thứ Nhất

249. Cách Cầu Nguyện Thứ Hai

258. Cách Cầu Nguyện Thứ Ba: Theo Nhịp.

261 CÁC MẦU NHIỆM TRONG CUỘC ĐỜI ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA.

313. QUY TẮC ĐỂ CẢM BIẾT VÀ NHẬN RA PHẦN NÀO NHỮNG THÚC ĐẨY KHÁC NHAU TRONG LINH HỒN

328. QUY TẮC VỀ CÙNG MỘT VẤN ĐỀ ĐỂ PHÂN BIỆT CÁC THẦN RƠ HƠN

337. QUY TẮC PHẢI THEO KHI CÓ NHIỆM VỤ BỐ THÍ CỦA CẢI

345. NHỮNG GHI CHÚ GIÚP NHẬN THẤY VÀ PHÁN ĐOÁN

352. QUY TẮC PHẢI THEO ĐỂ ĐƯỢC CẢM NGHĨ CHÂN CHÍNH TRONG GIÁO HỘI CHIẾN ĐẤU

ANIMA CHRISTI

 


 


CHỮ VIẾT TẮT & GHI CHÚ

Tên sách Kinh Thánh được viết tắt theo bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

Tên văn kiện Công Đồng Vaticanô II được viết tắt theo bản gốc tiếng Latin.

LT      Sách Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola.

TT      Tự Thuật của thánh Inhă.

Một số trích đoạn Kinh Thánh khi th́ được lấy từ bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ khi th́ được lấy từ bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.



LỜI NÓI ĐẦU

Từ 23.10.1984 tôi đă giúp một bạn làm linh thao trong cuộc sống. V́ bạn đó dạy học cách chỗ tôi sống gần 100 cây số, nên tôi đă ghi nhanh một số điểm gợi ư giúp bạn đó cầu nguyện. Tôi không nhớ đă đưa cho bạn linh thao trong cuộc sống đó tờ soạn điểm cuối cùng vào ngày nào, nhưng dựa vào ngày bạn đó ghi ở tờ cuối cùng là 25.06.85, tôi nghĩ bạn ấy đă linh thao trong cuộc sống ít là tám tháng trời.

Tôi đă khuyên bạn đó, mỗi ngày cầu nguyện ít là một tiếng đồng hồ, và nếu ngày nào được nghỉ dạy th́ nên dùng cả ngày để tĩnh tâm cầu nguyện. Mỗi đề tài được đề nghị phải được cầu nguyện ít là một lần. Gặp người hướng dẫn là điều cần thiết, nhằm giúp người làm linh thao có thể vượt qua những khó khăn và gặp Chúa dễ dàng hơn. Người hướng dẫn tuy dầu vẫn yếu đuối tầm thường như thao viên, nhưng vẫn là dụng cụ Thiên Chúa dùng để giúp đỡ người đang linh thao với họ.

Những năm từ 1992-1999 tôi cũng giúp một số tu sĩ thuộc những ḍng khác nhau làm Linh Thao Trong Cuộc Sống (LTTCS). Làm LTTCS được rất nhiều ích lợi, v́ giúp người làm Linh Thao đối diện với những vấn đề hay xảy tới với họ trong bầu khí Linh Thao, và người đó có kinh nghiệm giải quyết hay sống điều đó trong bầu khí cầu nguyện, theo thánh ư Thiên Chúa.

Việc làm LTTCS, dưới một khía cạnh nào đó, khó hơn làm Linh Thao tập trung v́ thời gian dài hơn, và đ̣i người làm LTTCS quảng đại và trung thành hơn.

Thời gian vừa qua, tôi được hân hạnh giúp một số bạn Linh Thao. Sau khi kết khóa, có không ít người hỏi liệu có thể dùng những bài đă gợi ư trong khoá linh thao để tiếp tục cầu nguyện được không? Đó là nguyên do tại sao các điểm giúp linh thao trong cuộc sống hằng ngày được in dịp này. Hy vọng điều này có thể giúp một số bạn có đề tài cầu nguyện trong cuộc sống thường ngày theo tiến tŕnh linh thao, và nếu nó có thể giúp ai đó muốn linh thao trong cuộc sống hằng ngày th́ càng tốt. Riêng với những người này, tôi buộc phải nói thêm: người hướng dẫn rất là cần thiết ngay cả khi có đầy đủ tài liệu.

Quy luật "Để có cùng cảm nghĩ với Giáo Hội" (LT 352-370) rất quan trọng đối với linh đạo Inhă. Chúng ta có thể đọc và suy nghĩ những quy luật này trong tuần thứ ba Linh thao.

"Ta sẽ ở với ngươi,” đó là một bảo chứng để Môsê can đảm thi hành sứ vụ nơi Pharaô. Trong cùng tâm t́nh này, cầu mong "Thiên Chúa ở với bạn,” để đời bạn được biến đổi khi tiếp xúc gần gũi với Thiên Chúa.

Để quyển LTTCS này có thể được dùng dễ dàng, tôi cũng xin in Bạn Đồng Hành và sách Linh Thao của thánh Inhaxiô ở đây.

Chúc bạn đọc luôn được b́nh an, tươi vui, triển nở, hạnh phúc trong t́nh yêu Thiên Chúa và con người.

Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ



BẠN ĐỒNG HÀNH

DẪN NHẬP

Trước khi bắt đầu khóa Linh thao, chúng ta cũng nên biết sơ qua Linh thao là ǵ, và thái độ cần thiết để thu lượm được nhiều kết quả trong khóa Linh thao.

1. Linh Thao là ǵ?

Nói theo ngôn từ của Thánh Inhaxiô Loyola: "Linh thao là mọi cách xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm, cầu nguyện bằng miệng lưỡi hay bằng tâm trí, và các việc thiêng liêng khác ... Gọi là Linh thao, tất cả những cách dọn và chuẩn bị linh hồn nhằm xa bỏ những quyến luyến lệch lạc, và rồi t́m kiếm Ư Chúa trong cách xếp đặt đời ḿnh nhằm mưu ích cho linh hồn " (LT 1).

Linh thao đúng nghĩa và trọn vẹn theo phương pháp của Thánh Inhaxiô gồm bốn tuần kéo dài khoảng 30 ngày. Tuần thứ nhất suy gẫm và chiêm niệm về tội, tuần thứ hai về cuộc đời Chúa Giêsu Kitô cho đến biến cố vào thành Giêrusalem long trọng, tuần thứ ba về cuộc khổ nạn của Chúa, và tuần thứ tư về mầu nhiệm Phục Sinh và Lên Trời của Chúa" (LT 4).

2. Mục đích Linh Thao

Linh thao là thời gian đặc biệt giúp con người sống với Thiên Chúa, và sống thân thiết với Ngài! Linh thao không nhằm cung cấp những kiến thức mới lạ. Linh thao là phương tiện của ân sủng nhằm giúp đổi mới con tim, đổi mới cơi ḷng, đổi mới tinh thần, đổi mới con người. Nói theo ngôn từ của Thánh Inhaxiô “Linh Thao để chiến thắng chính ḿnh và xếp đặt đời ḿnh (cách đúng dắn chứ) không theo những t́nh cảm lệch lạc” (LT 21). Cũng có thể nói: Linh Thao giúp con người được b́nh tâm, nghĩa là “chỉ ước muốn và lựa chọn cái ǵ dẫn đưa chúng ta tới cứu cánh của ḿnh hơn cả” (LT 23).

Để đạt được điều trên, mỗi tuần trong Linh Thao đều có đích nhắm mà thao viên phải thành khẩn xin Thiên Chúa ban cho trong những bài suy ngắm hay chiêm niệm, chẳng hạn trong tuần thứ nhất, người làm linh thao xin Thiên Chúa ban cho ḿnh ḷng thống hối chân thành, c̣n trong tuần thứ hai thao viên xin Chúa ban cho ơn được “hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để được yêu mến và theo Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104); c̣n ở tuần thứ ba và thứ tư, người làm Linh Thao xin Chúa ban cho ơn được chia sẻ đau khổ và hân hoan với Ngài. Những điều người làm linh thao xin Chúa ban, đó không là điều hoàn toàn nằm trong tầm tay của con người, đó là một ơn, là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người.

Linh Thao không nhằm thêm cho người ta những kiến thức mới, nhưng nhằm giúp con người cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người qua Đức Giêsu Kitô; Chỉ khi nào con người hiểu biết thâm sâu và yêu mến Đức Giêsu, con người mới được tự do nội tâm, và quyết định về cuộc đời ḿnh theo Ư Chúa.

3. Thái độ cần thiết để làm Linh Thao

Người làm Linh Thao cần phải có ḷng khao khát ao ước muốn trở nên tốt hơn, muốn thành người hoàn toàn hơn, thuộc trọn về Chúa hơn. Nếu không có ao ước này, không thể làm Linh Thao được.

Nói theo ngôn từ của Thánh Inhaxiô, “người luyện tập Linh Thao sẽ được nhiều ích lợi nếu bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, bằng việc dâng trót cả ư muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi sự ḿnh có theo thánh ư Ngài” (LT 5).

Ḷng quảng đại trên được biểu lộ cách cụ thể qua việc giữ những điều phụ thêm (LT 73-82), cầu nguyện trọn một giờ (LT 12), không ṭ ṃ gây chia trí (LT 11.127), cởi mở với người hướng dẫn (LT 17.22) v.v.

Ở một mức độ nào đó chúng ta có thể khẳng định: kết quả của cuộc Linh Thao tùy thuộc và tỷ lệ thuận với ḷng quảng đại của người làm Linh Thao. Thiếu ḷng quảng đại, Linh Thao không mang lại kết quả mong muốn.

Trong những trang tiếp theo, sẽ dựa vào cơ cấu Linh Thao để gợi lên những chủ đề cầu nguyện, như Nguyên Lư Nền Tảng, tuần I (tôi là tội nhân), tuần II (Tiếng gọi Vua Hằng Sống, Nhập thể đ̣i tự hủy, Đức Giêsu thuộc trọn về Cha, Đức Maria thuộc trọn về Thiên Chúa, Con đường Đức Giêsu đi, Ngày Inhă, chọn lựa), tuần III và tuần IV.


ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO

Không phải tất cả mọi người đều có thể làm Linh Thao được.

1. Khao khát nên thánh

a. Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn, không thể làm Linh Thao

Không phải ai cũng làm Linh Thao được. Có những người chỉ có thể làm được tuần thứ nhất của Linh Thao: "Phải đề ra cho mỗi người việc ǵ có thể giúp họ và làm ích cho họ hơn, tùy theo mức độ họ sẵn sàng đón nhận. Bởi vậy đối với một người muốn cố gắng học hỏi và thỏa măn linh hồn tới một mức độ nào đó, th́ có thể đề nghị cho họ việc xét ḿnh ... không nên dẫn đưa họ vào việc chọn bậc sống và những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ tuần thứ nhất" (LT 18).

b. Ao ước khao khát nên trọn lành hơn nữa

Để có thể làm trọn vẹn Linh Thao, cần phải có thái độ nội tâm cần thiết: ḷng khao khát thuộc trọn về Chúa, ao ước nên trọn lành, ước mong nên thánh.

2. Ḷng quảng đại

Ḷng quảng đại là thái độ duy nhất cần thiết để chuẩn bị và làm Linh Thao.

a. Dâng trót con người ḿnh cho Chúa

Thánh Inhaxiô nói: "Người luyện tập Linh Thao sẽ được nhiều ích lợi nếu bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cho Ngài cả ư muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi sự ḿnh có theo Thánh Ư Ngài" (LT 5).

b. Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn

Quảng đại, theo ngôn từ của thánh Inhaxiô, là thái độ sẵn sàng để Chúa làm bất cứ điều ǵ Ngài muốn về ḿnh; Ḿnh sẵn sàng mở ḷng ra trước tác động của Thánh Thần, để tùy Chúa lôi kéo ḿnh, và ḿnh sẵn sàng đáp trả mọi đ̣i hỏi của thánh ư Chúa. Quảng đại, hàm chứa tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa để Ngài định đoạt về đời ḿnh, để Ngài làm cho ḿnh những ǵ Ngài muốn; và chắc chắn đó là điều tốt nhất đối với ḿnh.

Khao khát nên thánh, ḷng quảng đại sẵn sàng thực hành tất cả những ǵ Chúa muốn về ḿnh, là yếu tố cần thiết để làm Linh Thao.

c. Ḷng quảng đại được cụ thể hóa

Quảng đại, chính là t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa. Ḷng quảng đại được biểu lộ một cách cụ thể trong chính cuộc sống, trong từng hành vi cụ thể của chúng ta, và trong trọn cả ngày sống.

i. Giữ thinh lặng bên ngoài qua việc kiềm chế ngũ quan

Linh Thao là thời gian đặc biệt mà người làm Linh Thao muốn dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Thế nên, người làm Linh Thao sẽ cầm giữ ngũ quan để không bị những tác động bên ngoài chi phối: giữ con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi. Để nếu cần, nghe như không nghe, nh́n nhưng như không nh́n, không nói khi không thực sự cần phải nói.

ii. Giữ thinh lặng nội tâm

Người làm Linh Thao gạt bỏ mọi bận tâm thường ngày cũng như những ǵ không phải suy nghĩ, để dành tất cả thời gian và con người ḿnh cho Thiên Chúa trong những ngày này.

Người làm Linh Thao gạt bỏ những tư tưởng "chia trí" và "không hợp" không chỉ trong giờ cầu nguyện, mà c̣n cả trong suốt ngày sống nữa. Tuy vậy, trong lúc xét gẫm và xét ḿnh, người làm Linh Thao phải t́m hiểu nguyên do tại sao ḿnh lại hay bị chia trí và thường bị bận tâm về những điều đó, để có thể nhận biết về ḿnh hơn.

iii. Ư thức ḿnh sống trước nhan Chúa

Trong thời gian Linh Thao, người tĩnh tâm luôn sống dưới con mắt Chúa, luôn ư thức Chúa đang hiện diện với ḿnh và đang yêu thương ḿnh, và luôn sống trong tâm t́nh của mầu nhiệm ḿnh đang cầu nguyện suốt cả ngày.


VỀ CẦU NGUYỆN

Để con người được cứu độ, Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm chứng cho t́nh yêu, hầu con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để rồi yêu lại Thiên Chúa.

Con người khi tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ nhận ra t́nh yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với ḿnh. Rồi khi con người tin nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, con người có thể phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa T́nh Yêu.

1. Nhiều cách cầu nguyện

Cầu nguyện là ư thức Chúa đang hiện diện, lắng nghe Chúa mời gọi, nói với Chúa (dâng lên Chúa lời cảm tạ tri ân, lời khẩn cầu khi ư thức ḿnh bất lực, lời tán dương), và ở lặng bên Chúa.

Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm; nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.

a. Cầu nguyện như suy gẫm

Đứng trước một biến cố hay một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.

Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh, để suy gẫm như cầu nguyện:

·       Trước hết, xem Thiên Chúa hay Đức Giêsu, qua tác giả Kinh Thánh, muốn dạy ǵ trong đoạn Kinh Thánh đó;

·       Sau đó, xem chúng ta đă sống điều được dạy đó như thế nào;

·       Và cuối cùng chúng ta tâm sự thân thưa với Thiên Chúa.

b. Cầu nguyện như chiêm niệm

Trong những bài cầu nguyện về mầu nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều chỉ cách chiêm niệm.

i. Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi

Nh́n Đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Nghe Đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Quan sát cung cách hành xử của Đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu nguyện "chiêm niệm.”

Có những đề tài cầu nguyện không thể chiêm niệm được, nhưng nếu đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́ có thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.

ii. Để nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu hơn

Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong những trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống Đức Giêsu hơn.

Trở nên giống Đức Giêsu hơn, nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện thiêng liêng: có con tim "nhân từ, bao dung, thương yêu" như Chúa, có ánh mắt "nhân từ, trong sáng, cảm thông" như Chúa, có cung cách hành xử "độ lượng, kiên nhẫn, cương quyết dứt khoát" như Chúa.

Chúa Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và bắt chước: quan điểm lập trường của Ngài, cách sống của Ngài. "Để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục đích của những bài cầu nguyện tuần thứ hai này.

c. Các bước cầu nguyện

Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói chuyện thân thưa với Ngài như một người bạn với một người bạn, như tṛ đối với thầy, như tôi tớ đối với chủ, như người con đối với cha ḿnh, và như một tạo vật đối với Thiên Chúa.

Những bước cầu nguyện[1] được tŕnh bày dưới đây, nhằm giúp người ta dễ dàng cầu nguyện hơn; nhưng một khi gặp gỡ được Thiên Chúa rồi, th́ những bước cầu nguyện không c̣n cần thiết nữa.

i. Ư thức Chúa hiện diện và chào Chúa

Để nói chuyện với ai, cần họ hiện diện với ḿnh một cách nào đó; cũng vậy, để nói chuyện với Thiên Chúa, cần ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.

Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n xem, yêu thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện diện với chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy về phương diện con người, chúng ta vẫn cần ư thức Ngài hiện diện để có thể nói chuyện với Ngài.

ii. Xin Chúa ban Thánh Thần

thanh tẩy tâm hồn ḿnh

Khó có thể nói chuyện thân t́nh với ai, nếu người đó đang thù hận với họ. Cũng tương tự như vậy, chúng ta không thể gặp gỡ nói chuyện với Thiên Chúa, nếu chúng ta đang ở trong t́nh trạng thù nghịch với Ngài.

Trước khi cầu nguyện, chúng ta hăy xin Thánh Thần tẩy luyện thánh hóa con người chúng ta, để chúng ta có thể gặp gỡ thân t́nh với Ngài.

giúp ḿnh khao khát Chúa

Đôi khi chúng ta thấy ḷng ḿnh dửng dưng trước Chúa. Thiếu t́nh yêu, thiếu ḷng khao khát Chúa. Xin Chúa Thánh Thần đốt nóng ḷng ḿnh.

giúp ḿnh chọn Thiên Chúa trên tất cả

Nếu chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư tới lời nói của người đang nói chuyện với ḿnh, th́ không thể nói chuyện thân mật với người đó được. Cũng tương tự như vậy, nếu chúng ta không đặt Thiên Chúa lên trên hết, nếu chúng ta không gạt bỏ mọi vướng bận, th́ chúng ta cũng không thể nói chuyện thân mật với Ngài được.

Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi chia trí đến trong đầu chúng ta, và để hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.

giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa

Để gặp một nhân vật quan trọng, chúng ta phải xin gặp, và nếu được ưng thuận chúng ta sẽ được hẹn giờ. Không phải bất cứ lúc nào ḿnh muốn, đều có thể gặp được họ.

Cũng tương tự như vậy, gặp gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà chúng ta cần ư thức để trân trọng. Chỉ có điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ ḿnh v́ Ngài yêu thương ḿnh; tuy vậy, được gặp gỡ Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một hồng ân đặc biệt.

iii. Hội nhập khung cảnh

Trí tưởng tượng rất quan trọng đối với con người. Phần lớn hành vi phạm tội của chúng ta đều có sự đóng góp của trí tưởng tượng. Tương tự như vậy, để nên thánh, chúng ta cũng dùng trí tưởng tượng. Thân xác cũng góp phần giúp chúng ta nên thánh, như nó đă góp phần trong hành vi tội của chúng ta.

H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và đặt ḿnh trong bối cảnh và trường hợp đó, giúp chúng ta dễ cầu nguyện hơn.

iv. Ơn xin của bài cầu nguyện

Mỗi bài cầu nguyện đều có một yêu cầu cần đạt được, đó thường là "ơn xin" của bài cầu nguyện.

Ở tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta hiểu biết sâu xa về tội và những tác hại của tội, cho chúng ta nhận biết ḿnh là tội nhân và ơn được trở về với Người.

Ở tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được hiểu Ngôi Lời Nhập Thể hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.

Ở tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được đồng h́nh đồng dạng với Ngài; cụ thể trong tuần ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được chia sẻ với Ngài trong đau khổ và sỉ nhục, được thông phần với Ngài trong cuộc thống khổ; và trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho được chia sẻ niềm vui và hân hoan của Chúa Phục Sinh.

v. Điểm cầu nguyện

Mỗi bài cầu nguyện có một hay nhiều điểm cầu nguyện. Điểm cầu nguyện là những gợi ư, nhằm giúp ḿnh có chất liệu để suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Tuy mỗi bài có thể có nhiều điểm cầu nguyện, nhưng mỗi người chỉ dùng một số điểm ḿnh thấy ích lợi, trừ phi người hướng dẫn nói khác trong trường hợp cụ thể.

vi. Tâm sự

Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa, khi đối diện với Thiên Chúa và biết rơ về ḿnh hơn.

Tâm sự là phần chính của bài cầu nguyện, dù người hướng dẫn chỉ nhắc một vài câu về điều này.

2. Cầu nguyện

Cầu nguyện là một cách để thông hiệp với Thiên Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống thường ngày của con người, để con người sống hạnh phúc với Thiên Chúa.

a. Ư thức Thiên Chúa hiện diện

Thiên Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và có ư thức về điều đó hay không. Thiên Chúa luôn nh́n xem tôi và can thiệp vào đời tôi một cách kịp thời, v́ Ngài luôn yêu thương tôi. "Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau... bàn tay của Ngài đặt trên tôi" (Tv 139:5).

Khi cầu nguyện người ta cần ư thức Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương ḿnh. Như vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà vẫn luôn ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́ tôi cũng đang cầu nguyện và đang kết hiệp với Thiên Chúa một cách nào đó.

Ư thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong đời sống thường ngày, không đ̣i chúng ta phải ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày, chúng ta vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng "Thiên Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh.”

b. Ở với Chúa: lắng nghe, tâm sự, và yên lặng bên Chúa

i. Lắng nghe Thiên Chúa

Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta qua lương tâm mỗi người, qua những biến cố xảy tới với ḿnh trong đời, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh, v.v.

Chúa nói với tôi, tôi có lắng nghe?

Thái độ đáp trả của tôi với Lời Ngài như thế nào? Tôi vâng phục, hay từ chối, hay lẩn tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa nói với tôi không?

ii. Thân thưa với Chúa

Khi tôi thấy con người của tôi dưới ánh sáng Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những ǵ Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu tôi có những bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với Chúa, để Lời Chúa như gươm hai lưỡi phân tách (Hr 4:12), để tôi được tinh sạch hơn (Ga 17:17) và tự do hơn (Ga 8:32).

iii. Ở lặng bên Chúa

Như hai người bạn thân, chỉ cần ở bên nhau; cũng vậy, chỉ cần ư thức ḿnh đang ở với Chúa.

3. Cầu nguyện để trở nên một với Thiên Chúa

Có nhiều người mong ước kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện. Đây là ao ước chính đáng và tốt lành thánh thiện. Nhưng làm sao có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện?

a. Khao khát ước mong kết hiệp với Thiên Chúa

Để hiệp nhất với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, đ̣i người đó luôn khao khát mong ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng khao khát ước mong, sẽ giúp người đó luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa ngay cả khi điều đó trái ư ḿnh, và nếu được như vậy, sẽ giúp người đó kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện.

b. Hy sinh từ bỏ chính ḿnh

Có người cho rằng họ đă đạt đến mức kết hiệp với Thiên Chúa cách rất đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng trong cuộc sống thực tế cho thấy người đó rất khó sống với người khác, và họ thường "khá kiêu ngạo!” Thánh Inhaxiô lưu ư một số anh em Ḍng Tên: "cầu nguyện lâu giờ mà không có tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho người ta thêm cứng đầu.”

Để có thể kết hợp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, người ta cần phải liên lỉ kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Họ phải luôn từ bỏ ư riêng để vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa, để yêu thương và chấp nhận anh em, để thông cảm với những giới hạn của anh em và những trái ư từ bên ngoài đưa tới. Một người cho rằng ḿnh đă có thể kết hiệp dễ dàng với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có đời sống từ bỏ và yêu thương, e rằng đó là người "ảo tưởng,” và chưa biết ḿnh cách sâu xa và đích thực.

c. Đồng h́nh đồng dạng với Ngài trong tư tưởng lời nói và hành động

Để kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, cần kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Sống đời sống "từ bỏ" qua yêu mến đức khó nghèo và sẵn sàng chịu sỉ nhục và khinh chê v́ Chúa Giêsu Kitô, chấp nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách khác, cuộc sống "đồng h́nh đồng dạng" với Đức Giêsu trong tư tưởng, lời nói và hành động, sẽ giúp người đó kết hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ cầu nguyện.

4. Cầu nguyện chính yếu là tâm sự

Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là tâm sự. Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng quan trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là phần quan trọng nhất.

a. Cầu nguyện và suy nghĩ

Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những sự thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu nguyện.

Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa hoặc tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ giúp ḿnh tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ đó cũng thuộc về cầu nguyện; chẳng hạn, sau một suy nghĩ, một người có thể thấy một ánh sáng nào đó, và điều này giúp họ tạ ơn Thiên Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài xin Thiên Chúa điều ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng là cầu nguyện.

Điểm chính yếu của cầu nguyện không là có nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái độ của ḿnh đối với Thiên Chúa.

b. Cảm nghiệm (LT 2)

Để hướng dẫn người giúp Linh Thao, thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện ngắn gọn và trung thực, để giúp người tập Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ "không phải sự hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh hồn, nhưng chính sự cảm nếm bên trong mới làm thỏa măn linh hồn" (LT 2).

Trong cầu nguyện và đặc biệt trong tâm sự, chúng ta có thời gian để sống với Thiên Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta. Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói cầu nguyện là giờ phút cảm nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.

c. Tâm sự

Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa như một người bạn với một người bạn, như một người tôi tớ với chủ ḿnh.

Được coi là tâm sự,
khi thân thưa với Thiên Chúa về chính con người và nhu cầu của ḿnh,
khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa,
khi xin một ơn,
khi xin tha thứ lỗi lầm,
khi phó thác công việc hay trọn cả con người cho Thiên Chúa,
khi xin dạy bảo hay hướng dẫn (LT 54.61.109.199.224).

Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng giờ để tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.

Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa bằng cả con người với tất cả tâm t́nh, là ở lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.

Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy nghĩ và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện. Những gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư để giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và về Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự với Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă thấy hoặc được soi sáng.

5. Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện

Những điểm gợi ư cầu nguyện, chỉ là những gợi ư, là phương tiện giúp chúng ta cầu nguyện; nó chỉ có giá trị tương đối và "rất là tương đối.” Chính v́ thế, chúng ta chỉ dùng những điểm gợi ư trong mức độ nó giúp chúng ta cầu nguyện, và chỉ dùng số điểm nào đó như chúng ta thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả mọi điểm đă được gợi ư (LT 2.76.228).[2] Về tư thế khi cầu nguyện, tư thế nào (ngồi, đứng, qùy, phủ phục, v.v.) giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́ ḿnh dùng tư thế đó; Và một khi dùng tư thế đó mà gặp được Chúa, th́ không nên thay đổi (LT 76).


XÉT GẪM NHƯ PHÂN ĐỊNH THIÊNG LIÊNG

Mười lăm phút xét gẫm, là 15 phút phân định thiêng liêng và cầu nguyện, là những phút phản tỉnh để biết ḿnh hơn và biết Thiên Chúa hơn. Việc xét gẫm rất quan trọng để giúp ḿnh tiến bộ hơn, chính v́ thế phải làm rất nghiêm túc.

1. Nguyên tắc chính yếu

a. Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc

Thiên Chúa tạo dựng con người để con người được sống hạnh phúc với Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con người, Ngài không bao giờ muốn con người phạm tội[3] dù Ngài ban cho con người được tự do. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc không chỉ ở đời sau nhưng ngay cả ở đời này nữa; Ngài không chỉ muốn con người hạnh phúc trong cầu nguyện mà c̣n cả trong cuộc sống thường ngày nữa.

Thiên Chúa muốn con người cảm nghiệm hạnh phúc khi sống đặc biệt với Ngài. Cụ thể trong cầu nguyện, Ngài muốn con người được b́nh an thư thái, được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.

b. Các thần lành giúp tôi sống như Thiên Chúa muốn

Các thần lành là các vị sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa, các ngài sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các ngài cũng muốn con người sống trong t́nh yêu và hạnh phúc như các ngài.

c. Thần dữ không muốn tôi sống hạnh phúc với Thiên Chúa

Thần dữ là các thiên thần kiêu ngạo chống đối Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa, thần dữ c̣n t́m mọi cách để tôi xa ĺa và chống đối Thiên Chúa.

2. An ủi hay sầu khổ

Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc, trong cuộc sống thường ngày và đặc biệt trong giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi được b́nh an thư thái trong cuộc sống và trong giờ cầu nguyện.

a. An ủi

An ủi là t́nh trạng b́nh thường trong giờ cầu nguyện nếu chúng ta sống tương quan tốt với Thiên Chúa.

Thánh Inhaxiô viết: "Gọi là an ủi khi trong tâm hồn có một thúc đẩy nội tâm, làm linh hồn cảm thấy bùng cháy lửa yêu mến Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy không c̣n có thể yêu mến bất cứ tạo vật nào trên mặt đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong Đấng Tạo Hóa mà thôi.

Tương tự, khi linh hồn chảy nước mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm nghiệm tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm cuộc thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm những sự khác hướng về việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa.

Sau cùng, gọi là an ủi khi linh hồn cảm nghiệm sự gia tăng đức cậy đức tin và đức mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời gọi và lôi kéo đến những sự trên trời và phần rỗi của linh hồn, làm linh hồn cảm thấy thư thái và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 316).

Phần lớn khi được an ủi là do thần lành hướng dẫn[4] (LT 318), và nếu khi xét gẫm ḿnh đă nhận ra đó là ơn Chúa th́ hăy tạ ơn Chúa.

b. Sầu khổ

Sầu khổ là do tác động của thần dữ (LT 318).

Thánh Inhaxiô viết:

"Gọi là sầu khổ tất cả những ǵ trái ngược với quy tắc thứ ba. Chẳng hạn, sự tối tăm trong tâm hồn, xao xuyến bên trong, thúc đẩy về những ǵ thấp hèn và phàm tục, bất an trước những xáo động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy lười biếng, khô nhạt, buồn rầu và như bị ĺa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 317).

c. Cách thức chống trả

V́ sầu khổ là do tác động của thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó th́ không thể đến với Thiên Chúa được; thế nên "chúng ta luôn luôn làm ngược lại điều thần dữ hay thần dữ muốn" (LT 351).

Nếu thần dữ muốn chúng ta bỏ cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi quyết định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm ngược lại điều thần dữ muốn, nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi mở lương tâm với những người đạo đức (LT 326).

Nếu nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không được tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về những vướng bận hay lệch lạc nào đó, hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải lo thống hối và hoán cải (LT 321bc).

d. Ghi chú

Một vài ghi chú để dễ dàng giúp nhận định

i. Người thường sống trong t́nh trạng tội

Thiên Chúa muốn người đang ở trong t́nh trạng tội trở về với Ngài, Ngài luôn hành động trong thâm sâu tâm hồn mỗi người để làm họ trở về với Ngài, qua tiếng nói của lương tâm và qua những dấu chỉ hữu h́nh.

Thần dữ hành động ngược lại. Nó t́m mọi cách để người đó ở lại trong tội, chẳng hạn bằng gợi lên những h́nh ảnh gây vui thú giác quan...

ii. Người đang tiến trên đường thiêng liêng

Thiên Chúa vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi người, để họ tiến tới hơn trên đường phụng sự Chúa. Các thần lành cũng trợ giúp, để con người cảm nhận b́nh an và hạnh phúc, để họ vui tiến trên đường thiêng liêng.

Thần dữ t́m mọi cách và mọi lư do "ngụy biện" để ngăn cản con người tiến tới, gây bất an và xáo động nơi tâm hồn con người.

iii. An ủi không qua trung gian

Thiên Chúa muốn con người được sống trong t́nh yêu và hạnh phúc với Ngài; các thần lành cũng muốn chúng ta sống trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các ngài; c̣n các thần dữ th́ luôn chống đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để làm con người sống xa Thiên Chúa.

Khi có nguyên do, cả thần lành lẫn thần dữ đều có thể "an ủi,” nhưng nhằm mục đích trái ngược (LT 331). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tác động trực tiếp trên con người không cần trung gian; Điểm đặc biệt của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người đến với Ngài không qua trung gian, mà con người hoàn toàn tự do (LT 330).

Chỉ có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do con người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một người, xin cho người nào đó trở lại. Làm một người trở lại, đó là khả năng chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự do).

Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến đổi một người, và Ngài cũng có thể biến đổi một người không cần dùng trung gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do.[5]

3. Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm

Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu nguyện được tiến bộ, chúng ta cần lượng giá giờ cầu nguyện; việc lượng giá này được gọi là xét gẫm (LT 77).

a. Tôi được ǵ trong giờ cầu nguyện này?

Tôi có được b́nh an thư thái không?

Tôi có được thêm ḷng tin cậy yêu mến Thiên Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần gũi với ḿnh không?

Tôi có nhận được "ơn xin" của bài cầu nguyện không?[6]

Tôi có được đánh động hay được một ánh sáng ǵ đặc biệt không?

b. Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện này không?

Câu hỏi này giúp tôi có nhận định tổng quát về giờ cầu nguyện. Nếu không được hài ḷng lắm, th́ phải t́m nguyên do và cải thiện, để giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt hơn.

c. Nếu tôi không hài ḷng lắm th́ đâu là nguyên do?

Tại tôi thiếu cố gắng tập trung cầm trí cầu nguyện?

Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí ngay khi tôi ư thức?

Phải chăng tại tôi chưa cố gắng giữ ngũ quan và tâm trí, và tôi chưa luôn sống với ư thức Thiên Chúa đang hiện diện với tôi và yêu thương tôi trong suốt cả ngày sống?

Tôi c̣n một vướng bận hay bất ḥa nào đó với tha nhân mà chưa được giải quyết không?

Có một quyến luyến lệch lạc nào đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ không?

Hay tại tôi chưa thật sự mong ước khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?

Hay tại tôi không sẵn sàng làm tất cả những ǵ Thiên Chúa muốn?

d. Thân thưa nói chuyện với Chúa về t́nh trạng tâm hồn ḿnh

Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân thưa với Chúa về thái độ cầu nguyện của ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong giờ cầu nguyện, và về những trễ nải thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong suốt ngày sống.

4. Cầu nguyện không được tốt hay bị sa sút

Sau khi cầu nguyện, người cầu nguyện dùng một thời gian ngắn để xét gẫm, xem giờ cầu nguyện của ḿnh thế nào! Nếu không tốt[7] hoặc không tốt lắm, th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă nhận ra th́ cố gắng sửa đổi (chính ḿnh), để giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt đẹp hơn.

Nếu t́m đúng nguyên do và được chỉnh đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau sẽ tốt đẹp hơn. Có thể nhờ người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng nhận định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh t́m được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện không được, cách chính xác và chắc chắn hơn.

a. Do thiếu quảng đại

Có thể do ḿnh thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày sống, mà ḿnh cầu nguyện không được tốt.

Nếu ḿnh không cố gắng tập trung để cầu nguyện, hoặc nếu không xua đuổi ngay các chia trí đến trong giờ cầu nguyện, không đặt Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng khó cầu nguyện "tốt.”

Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện. Để dễ dàng cầu nguyện, con người cần luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống.

b. Do c̣n bám víu vào tạo vật (t́nh cảm lệch lạc)

Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào đó, mà ḿnh cầu nguyện không được "tốt.”

Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên hoặc bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́ cũng khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh cầu nguyện không được, hăy xem ḿnh có cố gắng quảng đại hết sức để cầu nguyện chưa; nếu đă cố gắng "hết sức" rồi mà vẫn cầu nguyện không được, th́ xem ḿnh c̣n quyến luyến điều ǵ cách lệch lạc không, và khi nhận ra th́ hăy quảng đại để chỉnh đốn lại.

c. Nhận thức sai lầm

Một người có thể không cầu nguyện được, v́ họ nhận thức sai lầm: họ tưởng rằng cầu nguyện được hay không là do sức con người. V́ vậy, Thiên Chúa có thể để họ cầu nguyện không được, nhằm giúp họ nhận ra một sự thật: "cầu nguyện được, là một ơn Thiên Chúa ban cho con người.”

d. Để tôi luyện ḿnh

Một người có thể bị sầu khổ thiêng liêng mà không phải do lỗi của họ (LT 322b).

Nếu ḿnh cầu nguyện không được, bị sầu khổ thiêng liêng, mà không tại lỗi ḿnh, th́ hăy kiên tŕ và quảng đại. Lúc đó chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được tốt lắm, nhưng khách quan th́ vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên Chúa đang tôi luyện ḿnh, Ngài tập cho ḿnh đến với Ngài v́ chính Ngài chứ không phải v́ ḿnh được an ủi; tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được sốt mến, nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng thành hơn về đức tin đức cậy và đức mến.

e. Trúng bẫy thần dữ giả dạng thần lành

Đối với một người đang tiến tới trên đàng thiêng liêng, nếu người đó biết điều ǵ đó là do thần dữ th́ chắc chắn người đó sẽ không theo; như vậy, để làm con người đi theo đường lối tà vạy của ḿnh, thần dữ thường hay giả dạng thần lành để dẫn đưa người đó theo lối đồi tệ của nó (LT 332).

Nếu một ư tưởng hay một điều nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh thiện, nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu nguyện không được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút, chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư tưởng hay điều đó là do thần dữ (LT 333); chúng ta hăy duyệt xét lại để rút kinh nghiệm cho lần tới, để không trúng bẫy thần dữ nữa (LT 334).

5. Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về điều này

Có thể có những lúc trong đời, chúng ta cảm thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều, và cảm thấy bị cám dỗ nhiều về điều này hơn điều kia. Tại sao vậy?

a. Đây là điểm yếu của tôi

Có thể đó là điểm yếu của tôi.

Thánh Inhaxiô viết: "Thần dữ xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những ǵ nó muốn. Bởi v́, một vị chỉ huy hoặc thủ lănh của một đạo quân, sau khi đặt doanh trại và quan sát lực lượng hay cách bố trí của một thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất.

Cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người cũng lượn quanh để quan sát các nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và luân lư, và nơi nào nó nhận thấy ta yếu nhất và dễ nguy hiểm nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó để cố hạ ta" (LT 327).

Nếu tôi bị tấn công nhiều ở điểm nào, có thể đó là điểm yếu (nhược điểm) nhất của tôi chăng?

b. Tôi chưa dứt khoát chống trả

Nếu tôi bị tấn công hay bị cám dỗ dữ dội ở điểm nào đó, có thể tại v́ tôi chưa dứt khoát thái độ ở điểm này, tại tôi chưa dứt khoát chống trả thần dữ và những chước cám dỗ của nó chăng?

Thánh Inhaxiô viết: " Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ nó yếu khi ta chống trả, và nó mạnh khi ta buông xuôi. Thực vậy, đặc điểm của đàn bà khi gây gỗ với đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi đàn ông thẳng tay chống trả. C̣n ngược lại nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, th́ cơn giận sự trả thù và sự hung dữ của đàn bà thật lớn và không sao lường được.

Cũng vậy, đặc điểm của kẻ thù là yếu nhược và mất can đảm cùng chạy trốn với những cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đường thiêng liêng thẳng tay chống trả các chước cám dỗ của kẻ thù và làm ngược lại với các cám dỗ. Nhưng trái lại nếu kẻ bắt đầu tập tành trên đường nhân đức lại sợ hăi và mất can đảm trước cuộc tấn công của cám dỗ, th́ trên mặt đất này không có con vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người nhằm theo đuổi ư hướng xấu xa và vô cùng đồi tệ của nó" (LT 325).

Có thể bởi v́ ḿnh thiếu dứt khoát trong việc chống trả với chước cám dỗ, và như vậy t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa đă bị giảm sút.

Trong trường hợp này hăy xin lỗi Chúa, và bắt đầu sống quảng đại hơn với Chúa trong từng giây phút sống.

c. Cũng là dịp để lập công, để nên thánh hơn

Khi c̣n sống trong thân xác, chúng ta c̣n bị cám dỗ và thử thách; những cám dỗ đó có thể là những dịp để chúng ta diễn tả t́nh yêu của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ thể hơn.

Không ai được miễn trừ khỏi bị cám dỗ và thử thách:

Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài c̣n bị thách thức để làm những phép lạ từ trời, bị cám dỗ và thử thách trong vườn dầu (Mc 14:32tt), bị thử thách cả về đức tin ngay trên thập giá (Mc 15:34);

Đức Maria không chỉ thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền tin (Lc 1:26tt), nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong biến cố Mẹ đứng dưới chân thập giá;

Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt Ngài, nhưng Ngài được trả lời "ơn Ta đủ cho con" (2Cr 12:7-9).

Thử thách và cám dỗ trong cuộc sống tại thế, là thuộc thân phận làm người của chúng ta; chúng ta hăy chấp nhận, và can đảm đương đầu để vượt qua. Chúa không miễn trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ, nhưng Chúa bảo đảm rằng nếu chúng ta tin tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ chiến thắng: "Các con hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian" (Ga 16:33).

d. T́nh yêu với Chúa đă bị suy giảm

Khi tôi bị cám dỗ nhiều hoặc mạnh, cũng có thể Thiên Chúa để tôi bị cám dỗ nhiều, để tôi có nhiều dịp lập công và trưởng thành cùng cứng cáp hơn chăng (LT 33-34.322b); nhưng có thể đó là dấu chỉ cho thấy ḷng mến của tôi đối với Thiên Chúa đă bị giảm sút chăng?

T́nh yêu được biểu lộ qua khát vọng nên thánh và những hành động cụ thể.

i. Khao khát nên thánh

Yêu là hành vi tự do. Sống theo bản năng, không được lư trí hướng dẫn, th́ không phải là hành vi tự do, và như vậy không là yêu thương.

Khao khát nên thánh,[8] ao ước thuộc trọn về Thiên Chúa, là hành vi t́nh yêu.

Cứ xem chúng ta khao khát thuộc về Chúa, khao khát nên thánh đến mức độ nào, để chúng ta biết chúng ta yêu Chúa như thế nào. Nếu khi xét gẫm mà chúng ta nhận thấy chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa hay thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.

Xin được yêu Chúa, đó là điều chúng ta cần khiêm tốn nài xin liên lỉ (Xem LT 234).

ii. Quảng đại trong từng chọn lựa thường ngày

Từ ngữ "t́nh yêu" là từ ngữ trừu tượng. Dù là từ ngữ trừu tượng, nó vẫn diễn tả một thực tại vô cùng phong phú được biểu lộ bằng nhiều hành vi cụ thể.

Yêu Thiên Chúa, là sẵn sàng để tùy Ngài muốn xếp đặt như thế nào về con người và cuộc đời của ḿnh cũng được. Sẵn sàng dâng tất cả cho Chúa, để Chúa hoàn toàn tự do quyết định.

Yêu Thiên Chúa, là chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Thiên Chúa trên hết. Chẳng hạn trong thời gian Linh Thao, dành tất cả thời giờ cho Thiên Chúa và cụ thể là cầu nguyện; luôn sống với ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, luôn sống trong tâm t́nh của chủ đề ḿnh đang cầu nguyện; luôn giữ ǵn ngũ quan để dễ dàng tập trung cầu nguyện và không làm người khác bị phân tâm chia trí; hy sinh hăm ḿnh như dấu chỉ muốn thuộc về Thiên Chúa hơn nữa.


HỒI TÂM XÉT M̀NH

Xét ḿnh để nhận ra những hồng ân Thiên Chúa đă ban cho ḿnh, cũng như những lỗi lầm ḿnh đă phạm, để tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa, để sống tốt hơn.

Xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng, nếu muốn tiến bộ không ngừng trong đời sống thiêng liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày hơn.

1. Các bước gợi ư giúp hồi tâm xét ḿnh

i. Ư thức ḿnh hiện diện trước nhan Chúa và kính cẩn chào Chúa

ii. Xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để Ngài giúp ḿnh ...

iii. Ơn lành

·       Xin ơn nhận ra những ơn lành ḿnh đă nhận lănh từ lần xét ḿnh lần trước cho tới bây giờ

·       Xét ḿnh để nhận ra những ơn lành đă lănh nhận

·       Tạ ơn Chúa

iv. Lỗi lầm

·       Xin ơn để nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm

·       Xét ḿnh để nhận ra lỗi lầm của ḿnh từ lần xét ḿnh lần trước cho tới bây giờ

·       Ăn năn thống hối xin lỗi Chúa

v. Tâm sự thân thưa với Chúa dựa vào những ơn lành ḿnh đă nhận và những lỗi lầm khuyết điểm ḿnh đă phạm.

2. Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu

Theo thói quen người ta vẫn cho rằng hồi tâm xét ḿnh chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh để ăn năn sám hối; tuy nhiên việc nhận ra những ơn lành Thiên Chúa ban cho ḿnh trong đời sống thường ngày rất quan trọng, để luôn sống trong ư thức và tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với ḿnh.

Nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh, là dấu chỉ của một đời sống thiết thân với Thiên Chúa. Càng nhận biết hồng ân Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên Chúa hơn.

3. Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn

Nhận ra những lỗi lầm của ḿnh để sửa đổi, là điều chính yếu của việc hồi tâm xét ḿnh.

Trong hồi tâm xét ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh, nhưng c̣n nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn của ḿnh, để có thể tránh được những lỗi phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi làm điều này chứ không phải điều kia, ngay cả khi điều tôi làm chưa phải là tội? Cái tàng ẩn hay khuynh chiều đằng sau hành động đó là ǵ?

Tại sao tôi hay bị cám dỗ về điều này? Tại sao tôi bị cám dỗ về điều này dai dẳng và mănh liệt như vậy? Phải chăng v́ tôi chưa có thái độ hay lập trường dứt khoát với điều này (với khuynh chiều này, với tội này)? Hay tại v́ t́nh yêu của tôi với Thiên Chúa đă bị phai lạt và giảm sút? Tôi cần nhận ra những điều đó, để có quyết định và thái độ cụ thể nhằm tiến bộ hơn nữa trong đời sống thiêng liêng.

4. Cầu nguyện ngắn dựa vào chính đời sống

Nếu có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́ sau khi đă nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban và những lỗi lầm ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên Chúa, chúng ta nên dùng thời gian c̣n lại để nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa dựa vào những hồng ân và những lỗi lầm của ḿnh. Đây là những phút cầu nguyện dựa vào đời sống ngày qua của ḿnh.


LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG

         

Theo thánh Inhaxiô, Linh Thao gồm bốn tuần. Tuần thứ nhất cầu nguyện về tội, tuần thứ hai về cuộc đời Chúa Giêsu cho tới ngày Ngài được rước vào Giêrusalem, tuần thứ ba về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, và tuần thứ tư về Chúa Giêsu Phục Sinh. Tuy vậy, vẫn c̣n một số bài cầu nguyện khác, như:

·       Lời mời của Vua Hằng Sống;

·       Các bài cầu nguyện, tạm gọi là ngày Inhă;

·       Chiêm niệm để được t́nh yêu;

·       Ngoài ra c̣n có những điểm phải suy nghĩ được gọi là “Nguyên Lư và Nền Tảng” ở khởi đầu của Linh Thao, và các chỉ dẫn để làm việc lựa chọn ở cuối tuần thứ hai.

Tiến tŕnh Linh Thao được tŕnh bày dưới đây theo thứ tự sau:
nếu không tính Nguyên Lư và Nền Tảng,
các bài cầu nguyện về tội và ḷng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa, thuộc tuần nhất;
các bài cầu nguyện về Lời Mời của Vua Hằng Sống, về cuộc đời ẩn dật, về cuộc đời công khai của Chúa, các bài cầu nguyện của ngày Inhă, việc lựa chọn, được coi thuộc tuần hai;
các bài cầu nguyện về cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu, thuộc tuần ba và bốn;
bài “Chiêm niệm để được t́nh yêu” thường là bài cầu nguyện cuối cùng của Linh Thao.

VIỆC CẦN LÀM KHI LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG

a. Trong một ngày

Dùng khoảng 15 phút dọn điểm cầu nguyện;

Cố gắng cầu nguyện 60 phút liên tục;

Xét gẫm 15 phút (nên ghi lại các bước 1, 2 và 3);

Cố gắng hồi tâm xét ḿnh hai lần một ngày:

Ban trưa (nếu có giờ: 15’; nếu không có giờ: tùy);

Ban tối 15’

Ghi lại nhận định ngày sống;

Quảng đại với Chúa hết sức ḿnh. Suốt cả ngày cố gắng sống với ư thức Chúa hiện diện, đồng hành với ḿnh. Ngài luôn luôn bao bọc, thương yêu cưng chiều ḿnh.

b. Một tuần

Nên hồi niệm sau mỗi hai ngày;

Mỗi tuần dùng 60’ lượng giá tuần và cầu nguyện dựa vào lượng giá đó, cố gắng t́m ra nguyên do để cải thiện và tiến bộ hơn:

Về cầu nguyện

Tôi có sống thân thiết với Chúa hơn không?

Tôi cầu nguyện tốt hơn hay dở hơn so với tuần trước?

Đâu là nguyên do chính làm tôi cầu nguyện tốt hơn hoặc dở hơn?

Về cuộc sống

Tôi sống tốt hơn hoặc tệ hơn tuần trước? Nguyên do?

Về đời sống cộng đoàn

Về đời sống tông đồ

c. Hết một chủ đề

Hết một chủ đề, phải lượng giá toàn chủ đề. Nếu thấy đạt yêu cầu th́ sang chủ đề tiếp; nếu thấy chưa đạt th́ nên cầu nguyện lại chủ đề đó. Nên trao đổi với người hướng dẫn trước khi qua chủ đề khác.

Nếu là chủ đề về tội, nên xưng tội chung cả đời trước khi qua chủ đề khác.


NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

Theo nhận định của các nhà nghiên cứu về Linh Thao, “Nguyên Lư và Nền Tảng” không có nguồn gốc tại Manresa, nó h́nh thành sau, khi thánh Inhaxiô học tại Paris. Tuy vậy “Nguyên Lư và Nền Tảng” vẫn thuộc Linh Thao, v́ nó là cái nh́n tổng quát về vũ trụ, con người và Thiên Chúa, và v́ nó là cái nh́n nền tảng để làm Linh Thao.

1. Mục đích và yêu cầu

Mỗi tuần của Linh Thao, và cụ thể là mỗi bài cầu nguyện trong Linh Thao đều có mục đích và yêu cầu cần đạt được. Chính v́ vậy, một người khi làm Linh Thao, cần cố gắng cầu nguyện hết sức để “đạt yêu cầu của từng bài,” như thể không hy vọng đạt được ǵ khác ở những bài tiếp sau (LT 11).

Vậy đâu là mục đích và yêu cầu khi suy nghĩ và cầu nguyện về “Nguyên Lư và Nền Tảng?”

a. Trí (biết đúng để sống đúng)

Những bài cầu nguyện trong phần này nhằm giúp cho thao viên có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, con người và vũ trụ.

Thiên Chúa là nguyên lư và nền tảng của tất cả, Ngài yêu thương con người, Ngài tạo dựng vũ trụ vật chất để phục vụ con người, để con người dùng chúng như phương tiện đến với Thiên Chúa.

b. Tâm (b́nh tâm)

Làm sao để sau những bài cầu nguyện này, thao viên cảm thấy b́nh tâm trước mọi tạo vật.

B́nh tâm không đơn thuần là dửng dưng trước mọi sự, nhưng chủ yếu là chọn Thiên Chúa trên tất cảBất cứ điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh chọn; c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh không ham muốn điều này hơn điều kia; chẳng hạn, nếu làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không chọn giầu có hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ nhục, sống lâu hơn chết yểu, v.v.

Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chọn làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là điểm chính yếu của b́nh tâm. Làm sao sau khi cầu nguyện những bài về Nguyên Lư và Nền Tảng, thao viên cảm thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ khác trong cuộc sống của ḿnh.

2. Bản văn Kinh Thánh

Con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a);

Con người là ai (Tv 8);

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);

Các ngươi t́m ǵ (Ga 1:35-51);

Này Ta đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);

Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 17:23.20; 3:16; Ga 13:1; 15:9.13; Ga 14:16; 15:26; Ga 14:23);

Chương tŕnh “Giêsu Kitô” (Ep 1:3-14);

Thiên Chúa phù trợ tôi (Rm 8:31-39);

Thiên Chúa Quan Pḥng (Mt 6:25-34);

Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34);

B́nh Tâm (LT 23).

3. Các bài cầu nguyện dẫn nhập

Để làm Linh Thao tốt, chúng ta phải đến với Thiên Chúa bằng cả con người với tâm t́nh kính mến, tin tưởng và phó thác tất cả con người hiện tại và tương lai của chúng ta trong tay Thiên Chúa là Đấng yêu thương chúng ta. Những bài cầu nguyện sau nhằm mục đích đó.

a. Tv 139 (138)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa với tất cả triều đ́nh thần thánh trên trời.

Ơn xin: Cảm nghiệm được t́nh yêu Chúa đối với ḿnh, Ngài luôn nh́n ḿnh bằng con mắt yêu thương, luôn luôn can thiệp, bao bọc và dẫn dắt ḿnh trên mọi nẻo đường.

Điểm gợi ư: Đọc chậm chậm bản văn và dừng lại suy nghĩ, cầu nguyện với tâm t́nh ḿnh có. Cũng có thể xem các Điểm gợi ư:

i. Bàn tay Chúa đặt trên con

Ngài chặn con trước, Ngài ngừa con sau (bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn)

ii. Đi đâu cho thoát thần trí Ngài

Tác giả thánh vịnh muốn trốn Chúa.

Nhiều lúc trong cuộc sống tôi cũng muốn trốn Chúa.

iii. Dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con

Chúa là Thiên Chúa của con. Chúa tạo dựng nên con. Chúa yêu thương con.

Tâm sự: Nói chuyện với Đấng yêu thương ḿnh vô cùng.

b. Hăy cởi dép khỏi chân (Xh 3:1-12)

Khung cảnh: Môsê[9] đứng trước bụi gai bốc cháy nhưng không tàn.

Ơn xin: Cởi bỏ tất cả và đến với Thiên Chúa trong tâm t́nh thành kính.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa siêu vượt: bụi gai bốc cháy nhưng không tàn!

ii. Cởi dép để đến với Thiên Chúa.

Nếu không cởi bỏ chính ḿnh, không thể đến với Thiên Chúa.

iii. Thiên Chúa luôn nghe và lưu tâm đến những nỗi khổ và lời kêu cầu của dân Ngài

Chúa biết hoàn cảnh Dân Chúa. Chúa thương Dân Chúa, v.v.

Tâm sự: Thân thưa với Thiên Chúa là Đấng luôn luôn yêu thương và can thiệp vào đời sống chúng ta.

c. Ḷng người như thửa đất (Mt 13:1-8.18-23)

Khung cảnh: Đức Giêsu rong ruổi khắp đất nước Do Thái để rao giảng nước Thiên Chúa.

Ơn xin: Quảng đại lắng nghe và sống Lời Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Hiện tại ḿnh khao khát ǵ?

Quá khứ tôi khao khát ǵ?

Hiện tại tôi mong ước ǵ?

ii. Xét xem ḿnh thuộc loại người nào?

Hạt rơi dọc đường,

Hạt rơi trên đất đá,

Hạt rơi vào bụi gai,

Hạt rơi vào đất tốt.

Tâm sự: Xin Chúa làm ḿnh thành mảnh đất màu mỡ để có thể đón nhận Lời Chúa.

d. Đến mà xem (Ga 1:35-51)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện nơi Đức Giêsu gặp gỡ hai môn đệ: trong một hốc đá dưới một ṿm cây, tùy mỗi người.

Ơn xin: Xin cho ḿnh khao khát gặp gỡ Chúa, và xin Chúa biến đổi con người ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Hai môn đệ này t́m kiếm và khao khát ǵ?

Họ t́m và thấy ǵ nơi Gioan tẩy giả?

ii. Họ t́m và gặp được ǵ nơi Đức Giêsu?

iii. Gặp gỡ Thiên Chúa th́ được biến đổi

Abraham, Isaac, Giacóp, Môsê, các tiên tri, đă gặp Chúa và được biến đổi.

Anrê, Simon, Nathanael, đă gặp Chúa và được biến đổi.

iv. Trong suốt đời tôi, tôi đă t́m ǵ và đang t́m ǵ?

Thiên Chúa có là Đấng tôi t́m kiếm không?

Tâm sự: Với Đức Giêsu, Đấng vẫn luôn mời gọi tôi gặp gỡ Ngài: “đến mà xem.”

e. Muốn sao th́ được vậy (Mt 15:21-28)

Khung cảnh: Đức Giêsu muốn sống biệt riêng với các tông đồ nên Ngài dẫn các tông đồ tới vùng Tia và Xiđôn.

Ơn xin: Tin tưởng, hy vọng, phó thác vào Chúa như chị phụ nữ Canaan.

Điểm gợi ư:

i. Thái độ của các chị phụ nữ

Cái ǵ đă làm chị phụ nữ không bỏ cuộc?

ii. Thái độ của các tông đồ

Không biết có phải v́ thương chị phụ nữ không mà các tông đồ xin Đức Giêsu “bảo chị đó về đi.” Có bảo chị ta cũng không về nếu chị ta không được điều chị ta ao ước và xin. Hay các tông đồ cảm thấy bị phiền nhiều v́ chị ta cứ đi theo?

iii. Thái độ của Đức Giêsu

Không được vứt bánh của con cho chó! Nhưng chó con cũng được ăn miếng bánh vụn rơi từ bàn của chủ.

Đức tin của chị rất mạnh.

Đức Giêsu có vẻ thua chị phụ nữ trong việc này. Không phải vậy. Việc để thấy t́nh yêu của Thiên Chúa cho dân ngoại.

T́nh yêu của người mẹ có thể cứu con ḿnh. T́nh yêu của chúng ta cũng có thể cứu người khác.

Tâm sự: Với Đức Giêsu, Đấng sẵn sàng bỏ ư ḿnh để theo ư Chúa Cha, khi Ngài nhận ra Thiên Chúa đă can thiệp ban đức tin cho chị phụ nữ.

4. Bài cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tảng:

Thiên Chúa là ai?

Con người là ai? Con người được sinh ra để làm ǵ?

Vũ trụ là ǵ? Đâu là giá trị của thực tại trần gian?

Đâu là tương quan giữa Thiên Chúa, con người và vũ trụ?

Những bài cầu nguyện trong chủ đề này giúp chúng ta có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, vũ trụ và con người.

a. Con người, h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a)

Khung cảnh: Đức Giêsu ở Nadarét.

Ơn xin: Nhận biết con người là tạo vật, được Thiên Chúa yêu thương. Nhận biết giá trị đích thực của con người. Tâm t́nh tùy thuộc Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Chúa tạo dựng tất cả bằng Lời Ngài

Tŕnh thuật văn chương tư tế diễn tả Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ qua lời (Ngài phán). Tŕnh thuật văn chương b́nh dân diễn tả Thiên Chúa tạo dựng bằng nắn, v.v.

ii. Thiên Chúa tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa, và là chóp đỉnh công tŕnh sáng tạo

Chúa tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp; sau khi tạo dựng con người Ngài thấy rất tốt đẹp.

H́nh ảnh Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng không có thân xác như con người; Ngài là Đấng khôn ngoan, yêu thương, thống trị tất cả, v.v.

iii. Chúa trao tất cả vào tay con người

Bá chủ cá biển chim tṛi.

Tâm sự: Với Cha, với Thánh Thần sáng tạo, và với Chúa Con như Lời Thiên Chúa.

b. Con người được Chúa chăm nom (Tv 8)

Khung cảnh: H́nh dung con người chỉ là một tạo vật bé nhỏ giữa một vũ trụ bao la.

Ơn xin: Cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người, đặt con người trên tất cả.

Điểm gợi ư:

i. Con người là ai, tôi là ai khi tôi nh́n bầu trời trong một đêm đầy tinh tú?

Con người thật bé nhỏ trong vũ trụ nhưng là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương hết mực.

ii. Thiên Chúa tạo dựng con người giống h́nh ảnh Ngài

Giống h́nh ảnh Thiên Chúa nghĩa là ǵ?

Tại sao Ngài yêu thương con người như vậy?

Tâm sự: Ca tụng Thiên Chúa như tác giả Thánh vịnh. Tâm t́nh tạ ơn.

c. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 3:16; 1Ga 4:9-16)

Khung cảnh: Đức Giêsu chết thê thảm trên thập giá.

Ơn xin: Cảm nghiệm thẳm sâu t́nh Chúa yêu tôi.

Điểm gợi ư:

i. Điều tôi cho là quan trọng nhất trong đời là ǵ?

Được kính trọng, hay tiền bạc lợi lộc?

Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 3:16), đó là điều vô cùng quan trọng mà tôi cần biết!

ii. Bằng chứng t́nh yêu?

Ngài ban Con Một Ngài cho tôi.

Ngài ban Thánh Thần cho tôi.

Chúa Giêsu chết cho tôi, Ngài thành lương thực nuôi sống tôi.

Tâm sự: Với Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng yêu thương tôi vô cùng.

d. Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)

Khung cảnh: Đức Giêsu giảng dạy các tông đồ và dân chúng; như tôi đang hiện diện ở đó giữa các tông đồ.

Ơn xin: Cảm nghiệm t́nh Chúa yêu tôi qua việc Ngài luôn can thiệp, quan pḥng chăm sóc tôi.

Điểm gợi ư:

i. Chớ quá lo ăn ǵ mặc ǵ

Trong cuộc sống, tôi đă bận tâm về điều ǵ?

Điều ǵ làm tôi lo lắng nhất? Tại sao vậy?

ii. Tiên vàn hăy t́m kiếm Nước trước đă

T́m kiếm Nước Thiên Chúa, là ǵ?

Tôi có mong ước t́m kiếm nên thánh, cho tôi và cho những người tôi yêu thương?

iii. Tôi có tin rằng Thiên Chúa yêu tôi không? Và tôi có dám phó thác đời tôi cho Ngài không?

Tôi có chấp nhận cha mẹ, anh chị em, họ hàng của tôi không?

Tôi có chấp nhận hoàn cảnh hiện tại của tôi không?

Tôi có cằm ràm oán trách Thiên Chúa bao giờ không?

Tôi có chấp nhận những ǵ xảy đến cho tôi trong quá khứ không?

Thiên Chúa là ai đối với tôi? Người tôi yêu nhất, năng nhớ đến nhất, luôn cần Ngài nhất (tỏ hiện bằng việc cầu xin với Ngài), đặt Ngài trên mọi chuyện và trên mọi ưu tiên khác?

Nếu tôi không dám phó thác đời tôi cho Chúa, e rằng tôi chưa tin Chúa yêu tôi vô cùng. Nếu tôi chưa chấp nhận những người thân yêu, hoàn cảnh, v.v., th́ e rằng tôi chưa tin Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng.

Tâm sự: với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu tôi, Ngài luôn nh́n xem, để ư và chăm sóc tôi!

e. Trong Đức Giêsu Kitô (Ep 1:3-14)

Khung cảnh: Đức Giêsu trên thập giá.

Ơn xin: Thấy và cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa đối với tôi.

Điểm gợi ư:

Có thể đọc chậm chậm thánh thi, suy nghĩ, và cầu nguyện.

i. Thiên Chúa yêu thương tạo dựng tôi trong Đức Kitô

Tôi không t́nh cờ hiện hữu, nhưng có trong chương tŕnh của Thiên Chúa.

ii. Thiên Chúa yêu thương cứu chuộc tôi trong và nhờ Đức Giêsu Kitô

Nhờ Đức Giêsu Kitô tôi được cứu: được tha tội và sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa.

iii. Thiên Chúa ban tất cả cho tôi trong và nhờ Đức Kitô

Tôi được tất cả, triển nở và hạnh phúc, nhờ và trong Đức Kitô.

Tâm sự: với Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần.

f. Thiên Chúa pḥ tôi (Rm 8:28-39)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh một người con được cha mẹ thương yêu nhiều.

Ơn xin: Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài sẵn sàng làm tất cả để ḿnh thuộc về Ngài.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ (1Tm 2:4)

Con người vẫn tự do, có thể làm trái thánh ư Thiên Chúa! Thiên Chúa biết con người phạm tội chống lại Ngài, dù Ngài không muốn điều đó.

ii. Nếu Thiên Chúa pḥ ta, ai có thể chống lại được ta?

iii. Không ai, không ǵ có thể tách tôi khỏi tay Thiên Chúa

Không phải v́ tôi yêu Chúa đến độ đó, nhưng bởi v́ Thiên Chúa giữ tôi.

Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n sợ ǵ? Không ai có thể làm được ǵ tôi, kể cả thiên thần thiên phủ, hiện tại tương lai. Chấp hết.

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng đại đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh.

g. Thái độ đối với của cải (Lc 12:13-15.16-21.22-34)

Khung cảnh: hiện diện trong biến cố người ta xin Đức Giêsu can thiệp để chia tài sản.

Ơn xin: thấy rơ giá trị của thực tại trần thế và ơn chọn Thiên Chúa trên hết.

Điểm gợi ư:

i. Của cải đối với người đ̣i chia gia tài

Thái độ của nhiều người đối với của cải: ngay cả người thân trong gia đ́nh cũng kiện tụng nhau, thậm chí từ bỏ nhau, đánh nhau, giết nhau!

ii. Thái độ của người phú hộ đối với của cải?

Cái chết phá hủy mọi toan tính suy nghĩ của người phú hộ.

Cái chết giúp người ta biết suy nghĩ toan tính của ḿnh có đúng không!

Tôi lo lắng toan tính nhiều điều, nhưng đêm nay tôi chết, th́ những toan tính bận tâm có ích ǵ?

iii. Phản ứng của Đức Giêsu hàm chứa ǵ?

Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Đây mới là điều quan trọng. Tôi có biết điều đó không?

iv. Tôi đă coi tiền của như thế nào?

Tâm sự: với Chúa Giêsu, với Chúa Cha, và với Chúa Thánh Thần.

h. Nguyên lư và Nền Tảng (LT 23)

Khung cảnh: Đức Giêsu chết thê thảm trên thập giá.

Ơn xin: chọn Thiên Chúa trên tất cả, và b́nh tâm với mọi tạo vật: “sao cũng được.”

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa là cứu cánh của tôi

Con người được sinh ra để làm ǵ? Con người đi về đâu? Đâu là ư nghĩa của đời người?

ii. Vũ trụ là phương tiện cho tôi đến với Thiên Chúa

Đâu là chỗ đứng của vũ trụ vạn vật trong chương tŕnh của Thiên Chúa?

Trong cách sống của tôi, vũ trụ vạn vật là điểm đến hay là phương tiện?

Thái độ của tôi đối với tiền bạc, danh vọng, địa vị?

iii. Thái độ của con người phải có đối với Thiên Chúa và tạo vật: b́nh tâm

Tôi có t́m Chúa trong đời sống của tôi không?

Thiên Chúa có là nhất? Ư Thiên Chúa có là nhất đối với tôi không? Tôi có chọn Thiên Chúa và thánh ư Ngài trên tất cả không?

Tâm sự: với Đức Giêsu, Đấng đặt Thiên Chúa trên tất cả dù rằng Ngài phải chết.

i. Chỉ một điều cần (Lc 10:38-42)

Khung cảnh: Chị Maria ngồi dưới chân Chúa nghe Chúa giảng dạy.

Ơn xin: Chọn Thiên Chúa: chọn sống với Ngài và gặp gỡ Ngài trên tất cả.

Điểm gợi ư:

Cách cầu nguyện là nh́n nghe quan sát, suy nghĩ rút ích lợi.

i. Chọn lựa và cách sống của chị Maria.

Thiên Chúa, Đức Giêsu, và lắng nghe lời Ngài.

ii. Cách sống phản ánh quan điểm của chị Martha

Chị muốn phục vụ Chúa và các môn đệ Ngài một cách cụ thể qua việc chuẩn bị đồ ăn cho các ngài.

Chị có giới hạn: đ̣i Maria phải chọn lựa và làm giống chị.

iii. Quan điểm chọn lựa nào được phản ảnh qua cách sống của tôi?

Tôi có chọn Chúa và thánh ư Ngài cho tôi không?

Tôi có đ̣i người khác phải theo ư riêng của tôi không?

Chúa mời gọi tôi điều ǵ?

Tâm sự: với Chúa, Đấng phê chuẩn chọn lựa của chị Maria.

j. Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34)

Khung cảnh: hiện diện trong cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Đức Giêsu và người biệt phái.

Ơn xin: Sống yêu thương chân thực như Chúa yêu thương chúng ta.

Điểm gợi ư:

i. Yêu Chúa hết trái tim, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực

Thiên Chúa là nhất, là trên hết.

ii. Yêu anh em như yêu ḿnh, như Chúa yêu thương con người

Ai nói yêu Chúa mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga 4:20).

Yêu mến tha nhân, là dấu chỉ cho biết ḿnh yêu mến Thiên Chúa.

Tâm sự: với Đấng chết v́ yêu.

k. Yêu người (Lc 10:29-37)

Khung cảnh: Như hiện diện trong biến cố người bị nạn được cứu vớt.

Ơn xin: cho ḿnh biết thương cảm người khác, và tận tâm giúp đỡ người ta.

Điểm gợi ư:

i. Thái độ của tư tế và biệt phái

Có khi nào tôi có thái độ giống như người biệt phái đối với anh chị em sống xung quanh tôi?

ii. Thái độ của người ngoại Samaritanô nhân hậu

Động ḷng thương, là thái độ của người Samaritanô nhân hậu.

Tôi có động ḷng thương những người khốn khổ xung quanh tôi?

iii. Trong đời thường tôi đă sống như thế nào?

Tôi có hay giúp đỡ tha nhân, hoặc những người trong gia đ́nh tôi không?

Tôi có nhận ra nỗi khổ của những người sống xung quanh không?

Tâm sự: với Thiên Chúa, Đấng luôn thương cảm chúng ta khi chúng ta xúc phạm đến Ngài.

Ghi chú

Những ghi chú này được nhắc cho thao viên ngay từ ngày đầu làm Linh thao, sau những lần cho điểm cầu nguyện, nhưng sẽ nhắc làm nhiều lần, để mỗi lần cho điểm không quá 30 phút, nhằm bảo đảm giờ cầu nguyện.

Mỗi lần cầu nguyện kéo dài một tiếng đồng hồ (LT 12.13), và sau đó xét ngắm 15 phút (LT 77).

Trong ngày luôn nhớ đến Chúa và tâm t́nh cầu nguyện (LT 78.130.206.229).

Nhớ xét ḿnh riêng (LT 90.24-31) về ḷng quảng đại đối với Chúa trong thời gian Linh thao (LT 5), dựa vào các điều phụ thêm (LT 73-82).

Nên cho người hướng dẫn biết những dao động thao viên cảm thấy (LT 17), để có thể được giúp đỡ hiệu qủa hơn.

Xét gẫm để biết ḿnh cầu nguyện có tốt không! Cầu nguyện được hay không, không chỉ là do chúng ta cố gắng, nhưng chính yếu là nhờ ơn của Chúa.

Cứ b́nh thường th́ Chúa cho cầu nguyện được (nghĩa là được an ủi thiêng liêng), nhưng nhiều ít khác nhau, chẳng hạn thấy yêu Chúa hơn, không thể yêu tạo vật nào v́ chính nó nhưng chỉ yêu nó trong Chúa, hoặc thấy ḿnh thêm ḷng tin cậy b́nh an và hạnh phúc, v.v. Nếu thấy được điều này (LT 316) th́ hăy tạ ơn Chúa, c̣n nếu cầu nguyện không được (LT 317), hăy xét xem có phải tại ḿnh mà cầu nguyện không được không, hay tại Chúa muốn tôi luyện ḿnh, hoặc muốn dạy ḿnh một bài học nào đó (LT 322)? Nếu thấy tại lỗi ḿnh mà cầu nguyện không được, th́ hăy xin lỗi Chúa, và cố gắng quảng đại hơn nữa với Chúa qua việc giữ các điều phụ thêm.

Về việc đọc sách nên thận trọng để tránh chia trí, ngay cả những sách đạo đức không hợp với ơn xin của bài linh thao (LT 11.127). Những sách, hoặc đúng hơn, những đoạn sách hợp với chủ đề cầu nguyện có thể được dùng (LT 100).


TỘI

Những bài cầu nguyện được chỉ dẫn kỹ lưỡng đầu tiên trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô, là những bài về tội: về ba tội, về tội tôi, và về hỏa ngục.

Vào thời gian khởi đầu giúp đỡ các linh hồn, thánh Inhaxiô giúp Linh Thao cho riêng từng người một, và tùy người tập Linh Thao đạt yêu cầu của tuần thứ nhất mau hay chậm mà người đó sẽ qua tuần thứ hai.

1. Mục đích và yêu cầu

Tôi là ai? Tôi là ai đối với Thiên Chúa và tha nhân? Mục đích và yêu cầu của những bài cầu nguyện về tội là ǵ? Như thế nào th́ được coi là đạt yêu cầu của tuần thứ nhất này?

Tôi là một tội nhân nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng! Chúng ta sẽ xét về hai phương diện: trí và tâm.

a. Trí

Làm sao để mỗi người thấy sự xấu xa ác hại của tội và nhận biết thực sự rằng ḿnh là tội nhân.

Nhận biết ḿnh là tội nhân

Nhận biết rơ về chính ḿnh và thân phận hèn yếu của ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có người cho rằng ḿnh không có tội, ḿnh chẳng phạm tội ǵ! Có người cũng cho rằng ḿnh là một tội nhân, nhưng ai mà không phạm tội, bản tính[10] con người mà?!

Nếu người nào suy nghĩ như vậy, th́ họ sai lầm! Tội là hành vi tự do của con người, tôi cố t́nh làm điều tôi thấy tôi không nên làm và không được phép làm.

Nhận biết sự xấu xa và ác hại của tội

Chính hành vi tự do “cố t́nh làm điều tôi không được phép làm,” đă làm biến dạng con người tôi, khiến tôi không c̣n đẹp như trước nữa, khiến tôi không c̣n dễ thương và đáng yêu như trước nữa. Do phạm tội, tôi đă làm mất phẩm giá con người ḿnh, và làm tôi “xấu như qủy.”

Tội không phải là thực tại ngoài ḿnh, nhưng do ḿnh mà ra, là chọn lựa tự do của ḿnh. T́nh trạng tội là hậu qủa chọn lựa cố t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm thành.

Thiên Chúa muốn con người luôn sống yêu thương, để mỗi ngày một đẹp hơn, dễ thương hơn và tự do hạnh phúc hơn. Không làm theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những ǵ lương tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không làm theo ư Thiên Chúa.

Tội là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ là không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc phạm đến Thiên Chúa, không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh và muốn làm những điều tốt lành cho ḿnh.

b. Tâm

Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là tội nhân (Rm 5:8). Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh và ao ước trở về với Ngài, là yêu cầu mà mỗi người làm Linh Thao phải đạt được trong tuần thứ nhất.

Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha thứ

Tội là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu thương thuận phục Thiên Chúa nữa.

Hai người yêu nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau, họ không muốn làm trái ư nhau; chỉ một hành vi làm người kia buồn, là họ đă lo lắng và muốn chuộc lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ là xúc phạm nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ cảm thấy tội ḿnh thực nặng nề và muốn trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu thương nên Ngài luôn trông chờ chúng ta trở lại với Người, và Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta thống hối.

Những bài cầu nguyện về tội không nhằm làm chúng ta bị tê liệt hay bị dằn vặt hoặc mặc cảm, nhưng để giúp chúng ta thấy được t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa khi Ngài tha thứ tội lỗi cho chúng ta.

Khao khát trở về với Thiên Chúa

Đứng trước t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa và thấy ḿnh tội lỗi thấp hèn như vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ?

Thái độ của chúng ta là sám hối xin Thiên Chúa thứ tha, và ao ước khao khát bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa.

Khao khát yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, ao ước bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của một người thống hối thật sự.

Cảm nhận ḿnh là tội nhân, thấy ḿnh được Thiên Chúa yêu thương vô cùng dù ḿnh tội lỗi nặng nề, khao khát ao ước trở về bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa, là đạt yêu cầu của tuần thứ nhất.

2. Bản văn Kinh Thánh

Có nhiều đoạn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện trong tuần thứ nhất này, ở đây chỉ xin liệt kê một vài bản văn:

Tội Adam và Eva (St 3:1tt);

Tội Cain (St 4:1-16);

Dân Do Thái thờ ḅ vàng (Xh 32);

Dân Do Thái vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);

Bất công (Am 8:4-10);

Israel bất trung (Gr 3:1-4:4);

Tội dân Do Thái (Br 1:15-3:8);

Tội dân ngoại (Rm 1:18-32);

Dửng dưng trước người nghèo khổ (Mt 25:31-46);

Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt);

Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);

Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11);

Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);

Chị phụ nữ thống hối (Lời Chúa.7:36-50);

Lời nguyện thống hối (Tv 51/50);

Thiên Chúa là cha nhân từ (Lc 15:11-24).

3. Các bài gợi ư cầu nguyện

Thiên Chúa đă tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa, và Ngài thấy rất là tốt đẹp! Thế nhưng con người đă dùng tự do Thiên Chúa ban cho con người để phạm tội phản lại Thiên Chúa.

Con người không là tội nhân theo bản tính, thế nhưng thực tế con người là tội nhân. Mục đích của tuần thứ nhất Linh Thao nhằm giúp chúng ta nhận rơ thực sự chúng ta là một tội nhân, và nhận rơ hậu quả thê thảm đáng lẽ chúng ta phải gánh chịu do tội gây nên là cái chết vĩnh cửu, sự bất hạnh đời đời (nếu không được Thiên Chúa nhập thể chết thế cho).

Mục đích của tuần thứ nhất Linh thao được diễn tả trong ơn xin “cho ḿnh nhận biết rơ về thực trạng con người của ḿnh (tội nhân), và ơn sám hối trở về với Thiên Chúa.” Mục đích của tuần thứ nhất Linh Thao không chỉ là biết ḿnh là tội nhân, nhưng chính yếu làm sao có ḷng ao ước khao khát trở lại với Thiên Chúa, và cảm nghiệm được t́nh yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với ḿnh.

a. Tội Ađam và Evà (St 3)

Khung cảnh: Đức Giêsu bị hành hạ bởi những người ác.

Ơn xin: Hiểu biết tội và sự ác hại của tội (muốn độc lập với Thiên Chúa, nghĩ không tốt về Thiên Chúa, không tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa).

Điểm gợi ư:

i. Nguyên tổ trước khi phạm tội

Tương quan tốt đẹp với nhau và với Thiên Chúa.

ii. Tội

Không tin vào Thiên Chúa, tin vào ma quỷ, muốn độc lập với Thiên Chúa.

Không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh.

iii. Hậu quả

Không tin vào nhau, đổ lỗi cho nhau.

Lời hứa cứu độ.

Tâm sự với Chúa trên thập giá.

b. Tội Cain (St 4:1-16)

Khung cảnh: hiện diện khi Đức Giêsu bị hành hạ và chết thê thảm.

Ơn xin: cảm nhận rơ giận hờn, thù oán và giết anh em ḿnh là sống như thần dữ và chống lại Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Cung cách sống của Cain và Abel

Abel dâng những điều tốt nhất như lễ vật dâng lên Thiên Chúa.

Cain cũng dâng lễ vật nhưng không phải những điều tốt nhất.

ii. Cain giết Abel

Âm mưu và thi hành chương tŕnh giết em Abel.

Tại sao Cain giết em? Phải chăng v́ không muốn ai hơn ḿnh? Muốn ḿnh phải là nhất?

Có toan tính xếp đặt!

iii. Em ngươi đâu?

Cain nói dối khi Thiên Chúa tra vấn.

Như một người vô trách nhiệm: tôi đâu phải là người canh giữ em tôi.

iv. Hậu quả tội

Tội làm con người phải chết và làm con người đau khổ.

Tâm sự: với Đức Giêsu, Đấng chết thế cho tôi.

c. Con cái ác quỷ (Ga 8:31-51)

Khung cảnh: người Do Thái chống đối Đức Giêsu.

Ơn xin: nhận biết rơ phạm tội là hành xử như ma quỷ, phạm tội chống lại Thiên Chúa là đứng về phe ma quỷ và làm nô lệ ma quỷ.

Điểm gợi ư:

i. Người Do thái t́m giết Đức Giêsu

Câu 40 và 59! Tại sao?

Cung cách hành xử của người Do Thái phản ảnh họ giống ai: “Các ngươi bởi cha tức là quỷ mà ra” (c. 44).

ii. Thái độ của Đức Giêsu

Nói sự thật: Ngài đến từ Thiên Chúa (c. 40).

Ngài mặc khải chân tướng của Ngài nhưng chẳng ai tin.

Tâm sự với Chúa Giêsu chết treo thập giá.

d. Ba tội (LT 45-54).

e. Tội tôi (LT 55-61).

f. Tái gẫm (LT 62-63):

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện trước biến cố Đức Giêsu bị hành hạ.

Ơn xin: Cảm nhận ḿnh là tội nhân; ghê tởm tội lỗi ḿnh; thấy rơ những lệch lạc trong tư tưởng, lời nói, hành động của ḿnh; thấy rơ sự phù phiếm của thế gian và những cám dỗ của nó.

Điểm gợi ư:

Xem lại suy nghĩ của ḿnh, tiêu chuẩn b́nh thường dựa vào để đánh giá.

Lời nói: ư hướng khi nói ...

Hành động: động lực thúc đẩy hành xử ...

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Đức Giêsu chịu khổ h́nh v́ tội tôi.

g. Do thái thờ ḅ vàng (Xh 32)

Khung cảnh: H́nh ảnh dân Do Thái ăn tiệc và “đú đởn” sau khi lễ tế thờ ḅ vàng.

Ơn xin: tội là muốn điều khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Con người muốn làm Thiên Chúa theo ư ḿnh!

Đồng nhất Thiên Chúa và tạo vật là tội, muốn tạo h́nh Thiên Chúa để điều khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh cũng là tội.

Xem trong đời tôi, tôi có muốn điều khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh không?

ii. Thiên Chúa nhân từ tha thứ

Thiên Chúa làm cho Môsê yêu dân, cầu khẩn cho dân, để Thiên Chúa tha thứ cho dân.

Tâm sự:

Thân thưa với Thiên Chúa nhân từ và hay tha thứ.

h. Vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7)

Khung cảnh: H́nh dung quang cảnh dân Do Thái phản kháng Môsê.

Ơn xin: Nhận biết ḿnh là tội nhân, đă có những lần ḿnh có thái độ vô ơn đối với Thiên Chúa dù Thiên Chúa rất mực yêu thương ḿnh, đă có nhiều lần ḿnh muốn làm áp lực với Thiên Chúa, muốn bắt Thiên Chúa làm theo ư ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Nước đắng ở Mara

Không có nước: thay v́ van xin Thiên Chúa thương ban nước th́ càm ràm than trách Thiên Chúa.

ii. Manna và chim cút

Không có bánh ăn, thay v́ xin Thiên Chúa th́ than trách, đ̣i ném đá Môsê …

Chúa vẫn nhân từ ban Manna cho dân ăn.

iii. Nước từ tảng đá.

Cũng tương tự vậy khi không có nước uống …

Tâm sự:

Xin ơn ban cho ḿnh ơn hoán cải đổi đời, biết luôn khiêm tốn nài xin, và ḷng biết ơn.

i. Lời nguyện thống hối (Br 1:15-3:8)

Khung cảnh: H́nh dung đời sống vất vả lam lũ cực khổ của những người lưu đày.

Ơn xin: Xin cho ḿnh ơn khiêm tốn, nhận biết những lỗi lầm trong đời ḿnh như dân Do Thái đă nhận ra lỗi lầm của họ khi lưu đày.

Điểm và Tâm sự: đọc chậm chậm và dừng lại cầu nguyện như được thúc đẩy.

j. Nh́n lại suốt tuần

Nh́n lại những hồng ân và lầm lỗi, ghi lại những điều này;

Cầu nguyện dựa trên hồng ân và những lỗi lầm này.

k. Bất công (Am 8:4-10)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện khi người giầu hà hiếp bóc lột người nghèo.

Ơn xin: Xin cho ḿnh được nhận biết: bất công, làm hại người nghèo là chống lại Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Người giàu đặt của cải trên Thiên Chúa và anh em

Chỗ đứng của Thiên Chúa và con người đối với người giầu? Tiền bạc là quan trọng đối với họ

Tôi có coi điều ǵ quan trọng hơn con người, anh chị em, sống xung quanh tôi?

ii. H́nh phạt xảy tới cho con người, đặc biệt cho người giầu

H́nh phạt không là điều ác thực. Không phải Thiên Chúa phạt cho bằng nó giúp con người nhận biết sự thật về chính ḿnh và trở lại với Thiên Chúa và anh em.

Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh biết thương cảm người nghèo, và trở nên người nghèo của Thiên Chúa, nghĩa là chỉ đặt niềm cậy trông hy vọng nơi Thiên Chúa chứ không nơi người đời hoặc tiền của.

l. Israel bất trung (Gr 3:1-4:4)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong bầu khí dân Do Thái thờ thần ngoại.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được nhận ra ḿnh đă nhiều lần trong đời từ chối và phản bội t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, cho ḿnh cảm nghiệm Thiên Chúa là Đấng trung thành.

Điểm gợi ư:

i. Bỏ chồng làm đĩ, liệu c̣n có thể trở về với chồng không?

Thờ thần ngoại, cũng giống như một người làm đĩ. Dân Israel đă thờ thần ngoại.

ii. Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn mời gọi và chờ mong Israel trở về với Người

Thái độ của tôi đối với Thiên Chúa như thế nào? Tôi có coi điều ǵ quan trọng hơn Thiên Chúa không? Nếu có, th́ chẳng khác nào tôi thờ thần ngoại.

Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết Thiên Chúa t́nh yêu hơn, Đấng đă yêu thương dân Israel và tôi với một t́nh yêu "điên.” Xin cho ḿnh ơn trở lại với Thiên Chúa t́nh yêu.

m. Tội dân ngoại (Rm 1:18-32)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh con người tội lỗi chiều theo dục vọng của ḿnh, làm trái với những ǵ tự nhiên Thiên Chúa tạo dựng.

Ơn xin: Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu biết tội là phản lại chống lại ơn gọi làm người (tốt, thánh thiện).

Điểm gợi ư:

i. Cố t́nh không muốn biết Thiên Chúa, không t́m kiếm Thiên Chúa, tự kiêu tự măn cho ḿnh là đủ

Ngoan cố, dừng lại nơi khoái lạc xác thịt, không vươn lên như được mời gọi.

Chiều theo xác thịt, thỏa măn dục tính thú tính nơi ḿnh, không vươn lên.

ii. Đi ngược với ơn gọi con người

Không yêu thương, không động ḷng trước nỗi khổ nỗi khốn cùng của anh chị em đồng loại.

Không vâng lời Thiên Chúa qua các giới răn … Đặt ḿnh là nhất.

iii. Độc dữ, bất công

Hăm hại người khác. Dùng người khác thỏa măn dục vọng của ḿnh, v.v.

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh thấy rơ tội là hành vi làm mất phẩm giá con người.

n. Dửng dưng trước nỗi khổ (Mt 25:31-46)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong ngày Chúa đến trong vinh quang.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm nhận rơ: không yêu thương th́ không thể là con Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa là T́nh Yêu, ai ở trong T́nh Yêu th́ ở trong Thiên Chúa (1Ga 4:8.16)

Thiên Chúa là ai? Đấng yêu thương.

Thiên Chúa yêu thương nên ban cho chúng ta hết điều này đến điều khác: sự sống, được làm người, biết Thiên Chúa, biết Đức Giêsu, v.v.

ii. Saolô Saolô, sao người bắt bớ ta (Cv 9:4)

Bắt bớ Kitô hữu là bắt bớ Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô đồng hóa ḿnh với các Kitô hữu.

iii. Khi các ngươi làm cho một trong những người bị bắt bớ tù đầy, là các ngươi làm cho chính Ta

Không làm cho những người nghèo hèn, là không làm cho Chúa (c. 45). Đức Giêsu Kitô đồng hóa ḿnh với người nghèo hèn, bất kể là Kitô hữu hay không.

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh có con tim của Chúa, chỉ biết yêu mà thôi.

o. Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện khi Giêsu chữa lành người mù từ thuở mới sinh này.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận ra ḿnh cũng là những người mù, và xin Chúa mở mắt và giải phóng ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Biến cố Chúa chữa lành người mù

Nhổ nước miếng, làm bùn, trét vào mắt người mù. Anh ta để cho Đức Giêsu làm; ở vào trường hợp tôi, tôi có để Chúa làm như vậy không?

Đức Giêsu nói anh ta đi rửa ở hồ Siloác, anh ta đă đi. Ở vào trường hợp tôi, tôi có sẵn sàng làm không?

ii. Thái độ cha mẹ người mù: "khôn ngoan"

Cha mẹ người mù bị hỏi tại sao con của họ sáng mắt, họ nói hăy hỏi nó; Cha mẹ người mù tránh trả lời v́ sợ bị trục xuất khỏi hội đường. Cha mẹ người mù khôn.

Tôi có hay “khôn” như cha mẹ người mù không? Không dám nói sự thật.

iii. Thái độ người biệt phái

Ác ư, muốn kết tội Đức Giêsu v́ không giữ ngày sabbát.

Họ nô lệ việc giữ ngày sabbát, họ không biết ngày sabbát được lập ra v́ con người.

iv. Thái độ của người mù

Ngoan ngoăn, can đảm: để cho Đức Giêsu làm điều Ngài muốn làm, làm điều Đức Giêsu dạy, dám nói nói lên sự thật chứ không sợ hăi, v.v.

Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh nhận ra những tật mù của ḿnh, và xin Ngài chữa lành ḿnh.

p. Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi dân Do Thái ngoan cố trước những hành động Đức Giêsu làm.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận rơ: ngoan cố và thành kiến, là không vâng phục Thánh Thần.

Điểm gợi ư:

i. Vi phạm thập giới

Lỗi thập giới, là làm tổn thương tha nhân và chính ḿnh.

ii. Không nghe tiếng lương tâm, không vâng phục Thánh Thần Thiên Chúa nói với ḿnh trong tâm hồn

Ngoan cố, thành kiến, ác tâm.

Đặt ḿnh là nhất, đặt ḿnh trên Thiên Chúa, tha nhân chỉ là phương tiện.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa Giêsu chết treo trên thập giá, xin cho ḿnh ơn trở lại với Chúa, để ngoan ngoăn dễ dạy với Thánh Thần.

q. Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong tâm t́nh một tử tù chờ ngày hành quyết.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm nghiệm (chứ không phải chỉ biết bằng lư trí) ḿnh là tội nhân, và được ơn sám hối cách trọn.

Điểm gợi ư:

i. Không yêu

Không động ḷng trước nỗi khổ của tha nhân, không giúp đỡ, không tha thứ, v.v.

ii. Không yêu hết ḿnh, không sống tất cả cho t́nh yêu

Không tự hủy để yêu thương giúp đỡ tha nhân như Đức Giêsu mời gọi.

Tâm sự: Nói chuyện với Chúa Giêsu trên thập giá, xin Chúa cho ḿnh nên giống Chúa, sống cho T́nh Yêu và chết cho T́nh Yêu!

r. Lời nguyện thống hối (Tv 51/50)

Khung cảnh: Như thấy vua David mặc áo thô ngồi trên tro ăn năn sám hối tội lỗi ḿnh.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ḷng thống hối chân thành như Đavid xưa.

Điểm gợi ư:

i. Đọc II Sam.11-12 để thấy tội của David

Đoạt vợ của bề tôi; không dám nhận tội cướp vợ người ta nên xếp đặt để Urigia về ngủ với vợ; âm mưu không thành nên quyết định giết Urigia; để làm được điều này bao quân sĩ phải chết theo, v.v.

ii. Tội tôi

Nhớ lại tội ḿnh đă phạm trong suốt đời (mà ḿnh đă cầu nguyện trong bài tội tôi).

iii. Đọc chậm chậm Thánh Vịnh 50, và dừng lại cầu nguyện như ḿnh muốn hoặc được thúc đẩy.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh đổi đời, trở về với Chúa thực sự.

s. Thiên Chúa- người cha nhân từ (Lc 15:11-24)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh người cha tựa cửa chờ mong người con trở về.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận biết ḿnh là tội nhân tận xương tủy cơi ḷng, và xin ơn trở về với Chúa thực sự.

Điểm gợi ư:

i. Tội của người con thứ

Dứt nghĩa đoạn t́nh ra đi không thèm để ư đến nỗi khổ của người cha; hoang phí tiền của với mồ hôi vất vả của người cha; hoang đàng, v.v.

ii. Thái độ của người con trưởng

Như người làm thuê; không triển nở hạnh phúc; đặt tiền bạc trên người em ḿnh; không coi t́nh cha và người em là quan trọng, v.v.

iii. Tâm t́nh của người cha

Luôn luôn chờ mong con quay đầu trở về (người con phung phá, đói, khổ, hối hận, quyết định trở về, trở về, v.v.). Người cha tiếp đón, không để ư đến quá khứ và lỗi lầm của người con. Người cha chạy tới với người con hoang đàng, không chờ nó nói lời sám hối và xin tha thứ.

Năn nỉ người con trưởng, v.v.

Con là quan trọng, người con thứ lẫn người con trưởng. Không nghĩ tới địa vị của ḿnh, không cần giữ sĩ diện, v.v.

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh tin tưởng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, xin cho ḿnh ơn trở lại thực sự.

t. Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi người ta dẫn chị phụ nữ ngoại t́nh đến với Đức Giêsu.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa qua Đức Giêsu.

Điểm gợi ư:

i. Thái độ của chị phụ nữ ngoại t́nh

Sợ sệt, hổ thẹn, tuyệt vọng …

Đi vào ḷng chị, chị có hối hận không, chị nói ǵ với Thiên Chúa?

ii. Thái độ của biệt phái và kư lục

Nghiêm khắc, tàn nhẫn không thương xót, và đắc thắng.

Âm mưu gài bẫy hăm hại Đức Giêsu!

iii. Cung cách cư xử của Đức Giêsu

Kiên nhẫn và nhân hậu! Ai trong các ông vô tội ...

Tôi không kết án chị, hăy đi và đừng phạm tội nữa.

Đi vào ḷng Đức Giêsu, để hiểu Ngài hơn.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh cảm biết t́nh yêu của Ngài qua những lần Ngài tha thứ cho ḿnh.

u. Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện trong bữa tiệc khi chị phụ nữ thống hối khóc dưới chân Đức Giêsu khi Ngài đang dùng bữa.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận biết ḿnh là tội nhân, ơn thống hối chân thành v́ Thiên Chúa yêu ḿnh vô cùng.

Điểm gợi ư:

i. Thái độ và tâm t́nh của chị phụ nữ

Dám vào nhà người biệt phái (có thể bị đuổi, v.v.)

Thống hối tột cùng nên không ngại điều ǵ nữa, muốn trở lại, cần được xác chuẩn.

ii. Thái độ của người biệt phái đối với chị phụ nữ “nổi tiếng thành phố” này

Khinh thường.

Xét đoán dựa vào quá khứ của chị

iii. Thái độ và cung cách hành xử của Đức Giêsu

Để cho chị làm những ǵ chị muốn làm để diễn tả ḷng sám hối; Biết từng hành vi cử chỉ của chị, và thông cảm cùng hiểu được từng cử chỉ hành vi của chị; nói lời tha thứ như chị cần, v.v

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh có ḷng thống hối như chị phụ nữ này.

Ghi chú:

Ao ước nên thánh, khát mong trở nên trọn lành như Thiên Chúa là Đấng trọn lành (Lv 19:2 Mt 5:48), là một ơn rất lớn, là chính sức sống Thiên Chúa đặt vào ḷng ta, là chính T́nh Yêu và lửa Thánh Thần hiện diện tác động nơi tâm hồn chúng ta.

Hăy thành khẩn xin Chúa ơn khao khát nên thánh và thuộc trọn về Chúa. Ḷng khao khát này sẽ giúp chúng ta sống quảng đại với Chúa trong suốt thời gian Linh Thao và cụ thể trong ngày sống hôm nay.

Ḷng quảng đại với Chúa, ao ước thuộc trọn về Chúa được thể hiện trong suốt ngày: ngay từ khi thức dậy đă nhớ đến tâm t́nh và điểm cầu nguyện (LT 74), cố gắng cầu nguyện hết sức, và cả khi không là giờ cầu nguyện th́ cũng luôn nhớ đến Chúa, và xua đuổi những ǵ không hợp với đề tài đang cầu nguyện ra khỏi tâm trí. Nói cách khác, như thể chúng ta chỉ có một bài cầu nguyện, và lần cầu nguyện này kéo dài suốt ngày, từ khi thức dậy cho tới khi lên giường ngủ.

Phải kiểm điểm giờ cầu nguyện rất cẩn thận, xem ḿnh có đặt tương quan sống động giữa ḿnh và Chúa hơn là kiến thức không (LT 2), xem ḿnh có cung kính với Chúa đủ không (LT 3), xem ḿnh có cố gắng để gặp gỡ Thiên Chúa trong cung cách thái độ khi cầu nguyện không (LT 76), xem ḿnh có quảng đại với Chúa trọn vẹn không (LT 78), xem ḿnh có hy sinh tất cả cho Chúa không (LT 79-82)? Nếu ḿnh đă chưa cố gắng sống quảng đại với Chúa (LT 90), th́ ḿnh phải cố gắng hơn.

Có thể đọc sách Gương Phúc (Gương Chúa Giêsu), quyển I, chương XXI-XXV, hoặc đọc bản dịch tác phẩm của Jean Laplace "Một kinh nghiệm sống trong Chúa Thánh Thần" từ trang 49-69.

Đọc LT 313-327 để nhận ra đường lối và mưu mô của ma quỷ. Cũng có thể đọc Jean Laplace về cùng chủ đề trong những trang 65-69.

Nếu là linh thao trong cuộc sống hằng ngày, th́ nên so sánh tuần này với tuần trước xem ḿnh tiến bộ hay thụt lùi? Nếu thấy ḿnh không tiến bộ, hăy thành khẩn xin lỗi Chúa và cố gắng quảng đại với Ngài hơn nữa trong việc xét ḿnh, dọn điểm, cầu nguyện, xét ngắm, cùng giữ các điều phụ thêm, v.v.


LỜI MỜI GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG

“Tiếng gọi Vua Đời Tạm giúp chiêm ngắm đời sống Vua Vĩnh Cửu,” là bài cầu nguyện nằm giữa tuần nhất và tuần hai. Bài cầu nguyện này xác định thái độ cần thiết để có thể cầu nguyện tốt những bài cầu nguyện tiếp theo sau.

1. Mục đích và yêu cầu

Ơn xin của bài cầu nguyện này: “xin ơn đừng giả điếc trước lời mời gọi của Chúa nhưng mau mắn thi thành thánh ư Ngài.”

Dù chúng ta tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu thương tha thứ tội lỗi và mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài để chinh phục thế gian, để làm cho con người nhận biết t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta có sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa không?

Chọn Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên tất cả, kết hiệp với thánh ư Thiên Chúa,[11] sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài dù thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ nhục, là yêu cầu của bài cầu nguyện này.[12]

2. Bản văn Kinh Thánh

Yêu cầu của bài Tiếng Gọi Vua Hằng Sống, được hàm chứa trong nhiều đoạn Kinh Thánh. Có thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau để cầu nguyện:

Lời mời (Lc 5:1-11);

Hăy là thánh (Lv 19:2);

Sứ mạng (Ga 20:21);

Ơn gọi Abraham (St 12:1-9);

Đáp trả trong vâng phục đức tin (St 22:1-10);

Ơn gọi Môsê (Xh 3:1-12);

Ơn gọi Samuel (1Sm 3:1-21);

Ơn gọi Isaia (Is 6:1-13);

Ơn gọi Giêrêmia (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);

Người tôi tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49;50;52);

Ơn gọi Phaolô (Cv 9:1-30); v.v.

3. Bài cầu nguyện về Tiếng Gọi Vua Hằng Sống

Sám hối để sống ơn gọi trọn vẹn hơn, đó là nỗ lực của tất cả Kitô hữu, cả một đời người cũng như từng ngày.

Bài linh thao này sẽ chi phối tất cả những bài sau, nên chúng ta hăy cố gắng để đạt được mục tiêu của bài linh thao này với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

Ơn xin của bài cầu nguyện này là: xin cho chúng ta đừng giả điếc làm ngơ trước lời mời gọi của Đức Giêsu, nhưng mau mắn và quảng đại thi hành ư định của Ngài. Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở nên con Thiên Chúa. Đức Giêsu mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài làm cho nhiều người nhận biết t́nh yêu của Thiên Chúa Cha đối với con người, để mọi người được hạnh phúc nhờ sống tin yêu phó thác cho Thiên Chúa là Đấng yêu ḿnh.

Được coi như đạt yêu cầu bài cầu nguyện, nếu chúng ta có tâm t́nh của người muốn trổi vượt trong việc phục vụ Vua Hằng Sống (LT 97-98). Nếu không hoàn toàn có tâm t́nh của lời tâm sự trên, th́ hăy thành khẩn cầu xin Chúa ban cho ḿnh có tâm t́nh đó, ít nữa là ḷng ao ước được có ḷng ao ước đó.

a. Từ nay ngươi sẽ là kẻ lưới người (Lc 5:1-11)[13]

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu giảng dạy ven bờ hồ Galilê.

Ơn xin: Xin Chúa cho được ơn nhận ra tiếng Chúa gọi ḿnh lúc này, và ơn mau mắn thi hành Ư Ngài.

Điểm gợi ư:

i. Đức Giêsu rao giảng, dân chúng lắng nghe

Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu sáng sớm ra bờ hồ Galilê và có đám đông tới để nghe Ngài rao giảng.

Đi vào ḷng của đám đông để hiểu ao ước của dân Chúa.

ii. Đức Giêsu dùng con thuyền của Phêrô làm phương tiện

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu: Ngài lên thuyền của Phêrô, nhờ Phêrô, Phêrô quảng đại dù ông có đủ lư do để từ chối (mệt v́ đă lao động cả đêm, cần ngủ để tối đi lưới tiếp, v.v.

Mẻ lưới lạ. Nh́n nghe quan sát Phêrô và các bạn, v.v.

iii. Ơn nhận biết chính ḿnh và lời mời gọi

Lạy Thầy xin xa tôi ra v́ tôi là kẻ tội lỗi. Đừng sợ, từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới bắt người.

Chính khi Phêrô nhận biết ḿnh là tội nhân th́ được Chúa gọi cộng tác với Ngài! Ơn gọi là một ơn nhưng không, chứ không phải v́ chúng ta tốt lành hoặc đáng được kêu gọi hơn những người khác!

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng đại đáp trả lời mời gọi của Ngài như Phêrô.

b. Sứ mạng (Ga 20:21)

Khung cảnh: Như ḿnh tháp từng Đức Giêsu rong ruổi khắp các làng mạc đất nước Do Thái để rao giảng Tin Mừng cứu độ.

Ơn xin:  Xin Chúa cho ḿnh đừng giả điếc làm ngơ nhưng mau mắn thi hành thánh ư Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Sứ mạng Đức Giêsu

Làm chứng cho t́nh yêu, làm cho con người biết và cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

Khi con người biết Ngài là Thiên Chúa, th́ con người biết rằng Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng: “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến độ ban Con Một Ngài cho thế gian ....” (Ga 3:16).

ii. Cách thế Đức Giêsu thực hiện sứ mạng

Yêu thương tự hủy, nhập thể để cứu độ con người.

Chấp nhận thân phận con người, đến độ chết trên thập giá.

iii. Sứ mạng của chúng ta và cách thế chúng ta thực hiện sứ mạng

Ga 20:21: Như Cha đă sai thầy, thầy cũng sai anh em.

Sứ mạng của chúng ta cũng là làm chứng cho t́nh yêu, qua việc hiểu, thông cảm, giúp đỡ, v.v.

iv. Con đường thập giá là con đường tuyệt vời minh chứng t́nh yêu

Đức Giêsu đă đi con đường thập giá; cũng vậy với cac Kitô hữu.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh yêu Chúa đến độ muốn nên giống Ngài trong mọi sự. Dùng lời nguyện của kẻ muốn trổi trang việc phụng sự Chúa (LT 97-98).

c. Ơn gọi Abraham (St 12:1-9)[14]

Khung cảnh: H́nh dung ḿnh hiện diện khi Abraham được Thiên Chúa mời gọi bỏ quê cha đất tổ để đi tới một nơi mà ḿnh chưa biết.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được cảm nhận lời mời gọi của Chúa, và ơn can đảm từ bỏ tất cả, kể cả chính ḿnh, để đáp trả tiếng Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa mời gọi và hứa cho Abraham...

Lời hứa, nghĩa là điều được hứa chưa xảy ra, đ̣i người được hứa phải tin vào Người hứa.

Chúa mời gọi tôi điều ǵ?

ii. Abraham đă đáp trả bằng tin

Abraham đă bỏ quê cha đất tổ, bỏ họ hàng và những ǵ thân yêu, để dấn bước đi theo Đấng đă hứa mà không có bảo đảm ǵ ngoài ḷng tin vào Đấng đó.

Tôi đă đáp trả tiếng Chúa mời gọi như thế nào? Tôi có dám bỏ tất cả để ra đi không?

Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, Đấng đă gọi Abraham, và xin Chúa ban cho ḿnh có ḷng tin như Abraham, cũng như có thái độ dũng cảm từ bỏ như Abraham.

d. Đáp trả trong vâng phục đức tin (St 22:1-10)

Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện khi Abraham ra đi theo như lời Chúa mời gọi hiến tế Isaac.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh ơn dám hy sinh tất cả, ngay cả cái ḿnh quư nhất, để đáp trả tiếng Chúa gọi.

Điểm gợi ư:

i. Chúa tôi luyện[15] đức tin của Abraham bằng cách ra lệnh hiến tế Isaac

Chúa hiện ra và mời gọi Abraham hiến tế Isaac.

Abraham vâng phục thánh ư Thiên Chúa, không nói điều này cho Sara, cho Isaac.

Điều ǵ khó nhất đối với tôi mà Thiên Chúa mời gọi?

ii. Nh́n nghe quan sát Abraham thi hành lệnh Chúa

Dù trong ḷng dậy sóng nhưng Abraham vẫn dậy sớm, chẻ củi, đường xa, lời con trẻ, v.v.

Trong đời tôi, có điều ǵ mà tôi nghĩ rằng Chúa đ̣i hỏi quá đáng không?

Thái độ của tôi đối với Thiên Chúa như thế nào?

iii. Lời Thiên Chúa can thiệp

Chỉ là thử thách. Thiên Chúa không đ̣i chúng ta phải giết người.

Tôi có dám tin tưởng phó thác tất cả và tuyệt đối cho Thiên Chúa?

Tâm sự: Thân thưa với Thiên Chúa, Đấng luôn trôi luyện những người Chúa yêu.

e. Ơn gọi Isaia (Is 6:1-13)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Chúa gọi Isaia.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận biết ḿnh tội lỗi bất xứng trước lời mời gọi của Chúa, và xin cho ḿnh ơn quảng đại đáp trả tiếng Chúa mời gọi.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh

Thánh, chí thánh, ngàn trùng chí thánh.

ii. Tôi là ai?

Tội nhân, môi nhơ uế không đáng nói lời Chúa.

Chúa thánh hóa qua than hồng mà sứ thần gắp đụng vào môi. Chúa làm chúng ta nên thánh, tinh sạch, v.v.

iii. Sai ai?

Này tôi đây, xin hăy sai tôi!

Tôi có sẵn sàng thưa tiếng xin vâng với Thiên Chúa?

Tâm sự: Thân thưa với Thiên Chúa là Đấng Thánh, và xin Ngài thánh hóa ḿnh.

f. Ơn gọi tiền định (Is 42:1-9)

Khung cảnh: Như thể Thánh Thần bao phủ ḿnh như bao phủ trên Mẹ dịp truyền tin.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh, khi Ngài gọi và chọn ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Cung cách cư xử của người tôi tớ Yavê

Trung tín, âm thầm, hiền lành, v.v.; Thiên Chúa gọi, cầm tay, v.v.

ii. Sứ mạng của người tôi tớ Thiên Chúa

Làm sáng tỏ công lư: không dập tắt tim đèn c̣n khói, cho người mù được thấy, giải phóng con người khỏi nô lệ tù tội, v.v.

Tâm sự: xin Chúa cho ḿnh nhận biết Chúa yêu ḿnh đến mức nào, và ơn đáp trả tiếng Chúa kêu mời.

g. Người tôi tớ Yavê (Is 49.50.52)

Khung cảnh: H́nh ảnh người mẹ yêu thương ấp ủ con ḿnh.

Ơn xin: Xin ơn cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu ḿnh ngay từ hồi ḿnh c̣n trong bụng mẹ, Ngài bảo vệ ḿnh trong mọi hoàn cảnh, ẩn dấu ḿnh trong cánh tay người, làm cho ḿnh như mũi tên sắc bén, và bảo vệ ḿnh như con ngươi mắt Chúa.

Điểm gợi ư:

i. T́nh yêu và ơn gọi (Is 49:1-6)

Thiên Chúa yêu tôi ngay từ khi tôi c̣n trong dạ mẹ.

Người yêu tôi nên Ngài trao sứ mạng: “đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cơi đất” (Is 49:6).

Tôi có thấy Thiên Chúa yêu tôi qua lịch sử đời tôi không? Chúa trao sứ mạng ǵ cho tôi?

ii. Cung cách hành xử của người tôi tớ Yavê:

Thất bại, hy sinh từ bỏ, chết, là "phần số" của người tôi

tớ Thiên Chúa.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh ơn can đảm đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, và ơn nên giống Chúa Giêsu vác thập giá.

h. Ơn gọi tiên tri Giêrêmia (Gr 1:4-10.17-19)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Chúa gọi Giêrêmia.

Ơn xin: Xin ơn nhận biết t́nh yêu Chúa đối với ḿnh, và ơn mau mắn đáp trả lời mời gọi, chứ đừng t́m cách thoái thác.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa yêu và chọn Giêrêmia làm ngôn sứ ngay từ khi c̣n trong dạ mẹ

Chúa cũng có chương tŕnh về tôi, Ngài cũng yêu và chọn tôi ngay từ khi tôi c̣n trong dạ mẹ.

ii. Lời thoái thác của Yeremia, lời trấn an của Thiên Chúa!

Con không biết ăn nói!

Đừng sợ. Ta sẽ ở với ngươi.

iii. Sứ mạng nặng nề!

Sứ mạng nặng nề nhưng Chúa cần, Chúa sẽ giúp.

Tôi có sẵn sàng và cậy dựa vào Thiên Chúa không? Chúa sẽ ở với và giúp tôi.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng đại và can đảm nhận lănh sứ mạng Chúa trao phó.

i. Ơn gọi Kitô hữu (Mc 8:34-9:1)

Khung cảnh: H́nh dung Đức Giêsu vác thập giá lên đồi Canvê.

Ơn xin: Xin ơn nhận ra giá trị ơn gọi Kitô, và ơn đáp trả bằng hành vi từ bỏ ḿnh liên lỉ.

Điểm gợi ư:

i. Thập giá luôn luôn là điều trái ư

Thập giá của Chúa Giêsu không chỉ là cây thập giá, nhưng c̣n là những trái ư trong cuộc sống thường ngày, những cản trở Ngài thực thi thánh ư Thiên Chúa Cha.

Thái độ của Đức Giêsu đối với thập giá của Ngài như thế nào?

ii. Thập giá của tôi, hôm qua và hôm nay

Đâu là thập giá của tôi? Đâu là thập giá lớn nhất đối với tôi, hôm qua và hôm nay?

Thái độ của tôi đối với thập giá của tôi như thế nào trong quá khứ?

iii. Từ bỏ ḿnh và vác thập giá ḿnh mà theo Ta

Chúa mời gọi tôi bỏ ḿnh và vác thập giá ḿnh mà theo Chúa. Tôi làm ǵ bây giờ? Tôi có sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi không?

Tâm sự: Thân thưa với Chúa Giêsu vác thập giá. Nói với Chúa về thập giá của ḿnh, và xin Chúa giúp ḿnh sống điều Chúa mời gọi.

j. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu gọi các tông đồ sau một đêm cầu nguyện.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được hạnh phúc của những người được Thiên Chúa tuyển chọn.

Điểm gợi ư:

i. Để họ ở với Ngài

Chúa gọi các tông đồ để họ ở với Ngài. Không ở với Chúa, không thể được sai đi.

Mỗi ngày, tôi có thời gian để ở với Chúa không?

ii. Để được Ngài sai đi rao giảng

Sứ mạng của các tông đồ là rao giảng và trừ quỷ.

Nói về Chúa, những điều kỳ diệu Chúa làm, và giúp người ta tin vào Chúa (đó là trừ quỷ rồi).

iii. Chúa gọi tên từng người một!

Chúa không gọi chung chung, nhưng gọi tên từng người một. Cũng vậy, Chúa gọi tên tôi, và mời gọi tôi đáp trả.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, Đấng yêu thương ḿnh.

k. Tiếng gọi Vua Hằng Sống (LT 91-98)

Khung cảnh: Chúa gọi tôi, mời tôi cộng tác với Ngài trong sứ mạng chinh phục thế gian, giúp thế gian nhận biết t́nh yêu của Thiên Chúa đối với họ.

Ơn xin: Xin ơn được khao khát, ao ước nên giống Chúa Giêsu trong khó nghèo khổ nhục!

Điểm gợi ư và tâm sự như thánh Inhaxiô hướng dẫn trong sách Linh Thao.

Ghi chú:

Khi cầu nguyện xong một chủ đề, như Nguyên Lư Nền Tảng, Tội, Tiếng Gọi, th́ sẽ dùng một giờ để kiểm điểm tổng quát. Cố gắng nhận ra những ơn Thiên Chúa ban cho ḿnh, cũng như những lỗi lầm khuyết điểm ḿnh c̣n mắc phải, và nỗ lực sửa đổi để được kết hiệp với Thiên Chúa hơn nữa.

Xin lưu ư một lần nữa: b́nh thường chúng ta cầu nguyện được, nghĩa là được an ủi, ít là hiểu như thêm ḷng tin cậy kính mến Thiên Chúa (LT 316). Nếu xét gẫm thấy ḿnh cầu nguyện không được, th́ cố t́m nguyên do, và phải t́m được mới thôi!

B́nh thường th́ tại ḿnh ươn lười hoặc không quảng đại với Chúa nên không cầu nguyện tốt, chẳng hạn tại ḿnh cầu nguyện không đủ giờ, không cố gắng cầm trí cầu nguyện, không dứt khoát đuổi các chia trí và cám dỗ liền, không đặt Thiên Chúa lên trên hết, không đặt tương quan với Thiên Chúa trên mọi tương quan khác, không xét gẫm nghiêm chỉnh, không luôn nhớ đến Chúa và đuổi những tư tưởng chia trí ngay cả lúc không phải là giờ cầu nguyện chính thức, không giữ con mắt, không giữ thinh lặng và bầu khí thinh lặng, làm chia trí người khác bằng nụ cười, không giữ thinh lặng nội tâm, v.v.

Nếu không có khát vọng muốn tốt hơn nữa, không muốn được thuộc về Chúa hơn nữa, th́ những điều chỉ dẫn trên không có giá trị ǵ!

Nhớ xét ḿnh riêng (LT 24-31) về việc giữ các điều phụ thêm (LT 90). Đây là xét ḿnh để giúp ḿnh quảng đại với Chúa hơn nữa.

Các quy luật giúp phân biệt các thần của tuần nhất rất quan trọng, giúp người tập linh thao biết ḿnh hơn (LT 325-327), biết đường lối của thần lành thần dữ (LT 314.315), và như vậy dễ tiến bước trên đường thiêng liêng hơn.

Nếu có quá nhiều dự phóng để phụng sự Chúa, và nếu bị chia trí bởi những dự phóng "tốt đẹp" này, th́ những quy tắc của tuần II (LT 328-336) sẽ giúp thao viên tránh sa bẫy của ma quỷ.

Với những bài cầu nguyện có Đức Giêsu, th́ có thể áp dụng cách thức cầu nguyện chiêm niệm, tức là: nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Cảm nghiệm an ủi (LT 316), cảm nếm (LT 2), nghỉ ngơi (LT 76), là những từ ngữ đáng lưu ư khi làm Linh Thao.



LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ

Chúng ta đang ở trong tuần thứ hai của Linh Thao: cầu nguyện về Ngôi Lời nhập thể, từ mầu nhiệm nhập thể cho đến ngày Đức Giêsu được rước vào thành Giêrusalem cách long trọng.

1. Mục đích và yêu cầu

“Xin hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104).

a. Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn

Vô tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́ sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết ở đây không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng chủ yếu là cái biết thâm sâu do được cảm nghiệm.

Thiên Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến độ nhập thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp trả được t́nh yêu.

T́nh yêu được diễn tả cách cụ thể, chính Thiên Chúa đă nhập thể để phục vụ con người: “con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45); c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.

b. Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn

Hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó là cách nói khác của cùng nội dung “để trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người, nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng thống trị với Người” (2Tm 2:11-12; Rm 6:8), “tôi sống nhưng không c̣n phải tôi sống, nhưng là chính Đức Kitô Ngài sống trong tôi” (Gl 2:20).

Nên giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là người mẫu của chúng ta, Ngài là thần tượng, là Đấng mà chúng ta phải bắt chước và quy chiếu về. Yêu thương là trở nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn.

2. Bản văn Kinh Thánh

a. Mầu nhiệm nhập thể

·       Lời đă thành xác phàm (Ga 1:1-18);

·       Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11);

·       Sinh bởi người nữ (Gl 4:4-6);

·       LT 101-109

b. Đời b́nh thường “phi thường”

·       Lời nhập thể được giáng sinh (Lc 2:1-20);

·       Cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);

·       Đức Giêsu được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40);

·       Trốn sang Ai-cập (Mt 2:13-23);

·       Đức Giêsu thời thơ ấu (Lc 2:39-40);

·       Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41-50);

·       Đức Giêsu sống một thời gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).

c. Con đường Đức Giêsu đi

·       Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13);

·       Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11);

·       Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39);

·       Đức Giêsu luôn t́m và thực hiện Thánh Ư Cha (Ga 4:34);

·       Mối phúc thật (Mt 5:1-12);

·       Thái độ của dân chúng đối với Đức Giêsu (Mc 1:32-3:12);

·       Thái độ của người thân, kư lục và biệt phái đối với Đức Giêsu (Mc3:20-30);

·       Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4);

·       Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29);

·       Loan báo tin mừng bằng trừ qủy (Mc 5-6);

·       Các tông đồ không hiểu đường lối của Đức Giêsu (Mc 4;6);

·       Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30);

·       Con đường Đức Giêsu đi là con đường thập giá (Mc 8:31-33);

·       Ai muốn theo tôi phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);

·       Con đường Đức Giêsu đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);

·       Con đường Đức Giêsu đi: phục vụ (Mc 9:33-37);

·       Con đường Đức Giêsu đi: yêu thương (Mc 12:28-34);

·       Tinh thần của Đức Giêsu (Mc 9:38-41);

·       Không muốn hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45);

·       Người mù được sáng (Mc 10:46-52);

·       Những người không chấp nhận con đường Đức Giêsu đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);

·       Đức Giêsu, con người tự do (với bạc tiền, danh vọng, t́nh duyên).


3. Sứ mạng đ̣i tự hủy

Yêu ai, đ̣i phải hiểu người đó. Trong ư hướng này Thiên Chúa đă mặc khải cho con người biết Thiên Chúa đă yêu con người vô cùng trong suốt ḍng lịch sử. Đây là một điều chúng ta phải xin, v́ hiểu biết Thiên Chúa không là chuyện chỉ nằm trong khả năng con người!

Xin ơn yêu Chúa hơn! V́ t́nh yêu không đơn thuần là biết hoặc là muốn, nhưng c̣n là cái ǵ khác nữa, là chính sự sống của con người. T́nh yêu, và t́nh yêu Thiên chúa là một ơn vô cùng lớn mà ḿnh phải thành khẩn nài xin.

Cách cầu nguyện của tuần II này thường là chiêm niệm: nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu đă sống như thế nào, nói năng suy nghĩ cư xử như thế nào, để ḿnh nên giống Chúa hơn.

a. Nhập Thể (Lc 1:26-38)

Khung cảnh: H́nh dung thế giới ở trong t́nh trạng tội lỗi cần được cứu độ, và thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn thấy rơ Chúa yêu tôi nên nhập thể v́ tôi, xin Chúa giúp tôi cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài đối với tôi.

Điểm gợi ư:

i. Con người ở trong t́nh trạng tội lỗi

Con người đặt ḿnh trên tất cả, làm tất cả v́ lợi ích của họ, họ có thể hăm hại giết người, v.v. Bị đe dọa, lo lắng, sợ hăi, v.v. Bất hạnh.

ii. Thiên Chúa muốn và quyết định cứu độ con người

Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an, tươi vui, hạnh phúc. Ngài quyết định cứu độ con người.

iii. Thiên Chúa hỏi ư kiến con người để thực hiện chương tŕnh cứu độ con người

Lời xin vâng của mẹ Maria đă thay đổi vận mạng của tạo thành.

Để thưa tiếng xin vâng, mẹ đă đặt Thiên Chúa và thánh ư Ngài trên t́nh yêu riêng của mẹ với Giuse, trên mạng sống ḿnh (nếu Giuse nói thai đó không do ḿnh th́ mẹ sẽ bị xử tội ngoại t́nh), trên danh dự của gia đ́nh, v.v.

Tâm sự: Thân thưa với Ba Ngôi Thiên Chúa và với cả mẹ Maria nữa về những điều kỳ diệu các Ngài đă thực hiện để cứu độ con người.

b. Lời đă thành xác thịt (Ga 1:14; 1:1-18)

Khung cảnh: H́nh dung thai nhi “Lời nhập thể” nằm trong dạ mẹ.

Ơn xin: Xin ơn được hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Lời thành xác thịt (Ga 1:14)

Lời Thiên Chúa đă thành thịt, đă thành người.

ii. Vô hạn thành hữu hạn, tuyệt đối thành tương đối

Không thể hiểu mầu nhiệm nhập thể. Điều vô cùng kỳ diệu, vượt quá sức hiểu biết của con người.

iii. Ân sủng và sự thật được ban nhờ Đức Giêsu

Chúng ta được tất cả nhờ Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể.

Tâm sự: Thân thưa với Lời Nhập Thể về điều kỳ diệu Ngài đă làm v́ yêu, để cứu độ con người.

c. Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11)

Khung cảnh: H́nh dung thai nhi “Lời nhập thể” trong dạ mẹ.

Ơn xin: Xin được ơn hiểu biết t́nh yêu của Thiên Chúa qua hành vi nhập thể, tự hủy, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Phận Thiên Chúa, đồng hàng cùng Thiên Chúa

Ngôi Lời là Thiên Chúa.

ii. Hủy ḿnh ra không, vâng phục đến bằng ḷng chịu chết, và là cái chết thập giá

Ngài không chỉ làm người, mà c̣n đi đến tận thân phận con người: chết, và chết ô nhục trên thập giá (trở nên người thấp hèn nhất).

iii. T́nh yêu được thấy qua mầu nhiệm tự hủy, thập giá

Từ tận cùng của mầu nhiệm nhập thể, chúng ta biết Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào.

Tâm sự: Thân thưa với Lời nhập thể, và Thiên Chúa Cha, Đấng là Nguồn của mọi sáng kiến và chương tŕnh.

d. Sinh bởi ngươi nữ (Gl 4:4-6)

Khung cảnh: H́nh dung em bé mong manh mỏng ḍn được sinh hạ trong hang chiên cừu.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài. Tại sao Ngài lại chấp nhận trở nên mong manh như vậy? Tại sao Ngài phải chấp nhận nhờ con người Ngài mới có thể sống?

Điểm gợi ư:

i. Tại sao Thiên Chúa “phải”[16] làm người?

Không ǵ bó buộc Ngài, không ǵ bó buộc được Ngài. Ngài tự ư v́ … yêu.

ii. Tại sao phải sinh ra (nằm trong dạ) một người nữ?

Để nên giống con người trong mọi sự, để giúp con người, v.v.

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh hiểu t́nh yêu của Ngài đối với con người đến độ như thế nào!

e. Giáng sinh (LT 101-109)

Theo như sách Linh Thao chỉ, cố gắng để thấy Ba Ngôi thực hiện chương tŕnh cứu độ nhân loại, và cố gắng để thấy t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với con người.

f. Ngôi Lời nhập thể để thi hành Ư Thiên Chúa

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện và thấy Lời nhập thể được sinh hạ trong chuồng chiên cừu.

Ơn xin: Xin cho ḿnh ơn hiểu biết T́nh Yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Tại sao lại phải sinh trong chuồng chiên cừu, tại sao phải sinh trong cảnh cơ hàn như vậy?

Điểm gợi ư:

i. Suy nghĩ lại để hiểu thêm Nhập Thể

Làm người, phải đói phải khát, có thể bị hành hạ, và có thể bị giết, v.v.

ii. Đo lường cân nhắc để biết và cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa đối với tôi qua việc Ngài vĩnh viễn làm người

Người nghèo nhất cũng được an ủi khi nh́n Lời nhập thể sinh trong chuồng chiên cừu. Ngài nghèo như người nghèo nhất.

Ai mặc cảm v́ nghèo, hăy nh́n em bé mong manh trong máng cỏ nơi chuồng chiên cừu.

iii. T́nh yêu của từng ngôi vị đối với tôi qua hành vi Ngôi Lời nhập thể

Tại sao Thiên Chúa phải nhập thể? T́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người thật vô cùng, không thể diễn tả!

Tâm sự: Thân thưa với Chúa Cha, Lời Nhập Thể, và Thánh Thần.

g. Giáng Sinh (Lc 2:1-20)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện, nh́n Lời Thiên Chúa được sinh hạ trong chuồng chiên cừu.

Ơn xin: Xin ơn hiểu biết Chúa hơn, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Cuộc hành tŕnh từ Nadarét tới Bêlem

Nh́n nghe quan sát mẹ Maria, thánh Giuse, lên đường đi Bêlem. Tại sao vào thời điểm này phải đi Bêlem? Tại sao không sáu tháng trước? Tại sao không một năm sau? Mẹ vẫn xin vâng.

ii. Không ai cho trọ qua đêm v́ họ là những người nghèo

Cặp vợ chồng nghèo. Có thể mang xui xẻo tới nhà th́ sao!

Không có chỗ cho ba Đấng!

iii. Lời nhập thể được sinh ra trong cảnh nghèo hèn nhất

Nghèo hơn cả người nghèo: trong hang súc vật.

Không được đón tiếp, bị coi thường, v.v. Thái độ của Mẹ và của thánh Giuse?

Khi bị coi thường, tôi thường hành xử như thế nào?

iv. Niềm vui của thiên thần và của mục đồng

Thiên Chúa giáng sinh như một quà tặng cho con người.

Tâm sự: Nói chuyện với Hài Nhi mới được sinh ra, với Chúa Cha, với Thánh Thần.

h. Cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21)

Khung cảnh: H́nh dung cảnh hài nhi được cắt b́, đau đớn dẫy dụa.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được hiểu tại sao Thiên Chúa lại nhập thể để rồi phải đau đớn như vậy, để ḿnh hiểu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Thân phận con người của Đức Giêsu được biểu lộ qua việc được đặt tên, cũng như qua việc được cắt b́

Chu toàn lề luật cắt b́. Ngài không đ̣i sống luật trừ, ưu tiên.

Khiêm nhường để như bao người khác, giống con người trong tất cả.

ii. Đặt tên cho ai là có quyền trên người đó

Đức Giêsu, theo ư định của Thiên Chúa, vâng phục Mẹ và thánh cả Giuse. Giêsu là tên do Thiên Chúa, nhưng Đức Maria và thánh Giuse là những người gọi tên đó đầu tiên.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh chấp nhận thân phận con người, v́ chính Ngài cũng chấp nhận thân phận con người.

i. Được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu được bồng ẵm và dâng cho Thiên Chúa trong đền thờ.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư: nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

i. Cuộc hành tŕnh tới đền thờ

Đức Giêsu được Đức Mẹ hay thánh Giuse bồng ẵm tới Đền Thờ Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa theo luật Môsê.

Các ngài chu toàn lề luật.

ii. Đức Maria và thánh Giuse đại diện con người xin Thiên Chúa ở với con người

Mọi con vật đực phải dâng cho Chúa, riêng con người th́ phải được chuộc lại.

Mẹ và thánh Giuse đại diện con người xin Thiên Chúa cho Đức Giêsu được ở với con người.

iii. Cuộc hạnh kiến của Simeon và Anna với Đức Giêsu

Tiên tri Simeon gặp gỡ hài nhi …

Bà Anna bồng ẵm hài nhi …

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh được thuộc trọn về Thiên Chúa, bằng việc vâng phục những ǵ Thiên Chúa muốn qua lề luật.

j. Trốn sang Aicập (Mt 2:13-23)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh thánh Giuse đưa hai mẹ con hài nhi trốn sang Ai-cập.

Xin ơn được hiểu Chúa hơn, yêu Ngài hơn và theo Ngài.

Điểm gợi ư:

i. Vất vả trốn sang Ai-cập

Hài nhi Giêsu bị Hêrôđê truy sát. Mới nhỏ đă bị ghen ghét hăm hại!

Tại sao Thiên Chúa phải khổ cực như vậy? Và tại sao Đức Mẹ và thánh Giuse cũng phải khổ cực như vậy?

ii. Thiên Chúa nhập thể bị đe dọa đến tính mạng!

Hài nhi Giêsu bị bách hại!

Ai bị bách hại khi c̣n trẻ, hăy nh́n hài nhi Giêsu và cha mẹ Ngài.

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh sống khiêm tốn như Chúa nhập thể.

k. Con phải lo việc Cha con (Lc 2:41-50)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu ngồi giữa các thầy thông luật ...

Xin ơn hiểu biết tại sao Đức Giêsu cư xử như vậy, để bắt chước và sống như Chúa vậy.

Điểm gợi ư:

i. Những chuẩn bị và cuộc hành tŕnh đi Giêrusalem

Tâm t́nh thái độ của thánh Giuse, Đức Mẹ và Đức Giêsu.

Lời nói với nhau và với Thiên Chúa.

ii. Quang cảnh măn lễ, người người tấp nập ra về

Đức Giêsu ở lại chứ không bị lạc như vẫn thường được nói. Đức Mẹ và thánh Giuse cực khổ t́m Chúa. Lời đáp của Đức Giêsu.

Tại sao Đức Giêsu lại hành xử như vậy? Đức Giêsu có bất hiếu không? Đức Giêsu cũng như mẹ: thấy ư Thiên Chúa th́ thi hành.

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh hiểu tại sao Ngài làm như vậy, để rồi cho ḿnh được chọn lựa giống Ngài: đặt Thiên Chúa trên hết mọi sự, trên hết mọi tương quan.

l. Đức Giêsu sống rất lâu ở Nadarét (Lc 2:51-52)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh gia đ́nh thánh tại Nadarét, với những công việc b́nh thường.

Xin ơn hiểu những suy nghĩ, lời nói, thái độ, cách sống của Đức Giêsu trong suốt thời gian này, để yêu Ngài hơn và nên giống Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Những ǵ Đức Giêsu đă làm trong suốt thời gian trước khi đi rao giảng?

Ngài sống vâng phục cha mẹ. Ngài làm được ǵ? Giúp ǵ cho Mẹ và thánh Giuse?

Ngài có được đi học không? Ăn mặc như thế nào?

ii. Hăy nh́n nghe quan sát Đức Giêsu: thái độ sống, cung cách cư xử, tư tưởng, lời nói và hành động của Ngài

Với người nhỏ tuổi hơn; với người bằng tuổi; với người lớn tuổi hơn; với người già cả.

Nh́n Đức Giêsu khi Ngài 15 tuổi, khi 18 tuổi, khi 21 tuổi, khi 25 tuổi, khi 29 tuổi, v.v.

Tâm sự với Chúa, Đấng đă sống hơn 30 năm âm thầm v́ yêu tôi.

Ghi chú:

Những ghi chú này có mục đích để giúp làm linh thao trong cuộc sống hằng ngày, nên không tránh khỏi những lập đi lập lại!

Nếu cầu nguyện không được hoặc cầu nguyện không đạt yêu cầu, th́ phải xem có ǵ trục trặc cần sửa đổi nơi ḿnh không?

Hoặc ḿnh c̣n có quyến luyến lệch lạc nào đó?

Hoặc c̣n thiếu quảng đại với Chúa?

Ḿnh có luôn nhớ đến Chúa và những tâm t́nh cầu nguyện trong suốt ngày, cũng như có xua đuổi ngay những ǵ không hợp với tâm t́nh cầu nguyện đến trong đầu không? Có luôn giữ ngũ quan không?

Nếu cầu nguyện không đạt yêu cầu - chúng ta biết ḿnh cầu nguyện có đạt hay không là nhờ ở xét gẫm dựa vào các ơn xin- th́ phải cầu nguyện thêm hoặc cầu nguyện lại bài đó.

Nhớ xét ḿnh riêng về ḷng quảng đại đối với Chúa, trong việc giữ các điều phụ thêm (LT 130).



4. Đức Giêsu thuộc trọn về Cha

Tuần thứ hai được tiếp tục với những bài cầu nguyện chiêm niệm Đức Giêsu trong cuộc sống công khai rao giảng.

Cách thức cầu nguyện của tuần hai là nh́n-nghe-quan sát để nên giống Ngài hơn, để được đồng h́nh đồng dạng với Ngài trong mọi sự (Xem LT 106-108).

Khao khát nên trọn lành, khao khát được ở sâu trong t́nh yêu của Chúa, khao khát thuộc trọn về Chúa, khao khát được nên giống Chúa, là thái độ tâm t́nh nền tảng để tiến bộ trong đời sống thiêng liêng. Nếu chúng ta có khao khát ước vọng này, đó đă là ơn của Thánh Thần; chúng ta tiếp tục xin ơn này, để ḷng khao khát được mănh liệt hơn nữa nơi chúng ta.

a. Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu xếp hàng chờ tới lượt ḿnh được thanh tẩy.

Xin ơn được hiểu nguyên nhân, cung cách hành xử và suy nghĩ của Đức Giêsu khi Ngài đến chịu phép rửa ở sông Jordan với Gioan, để yêu Ngài hơn và theo Ngài.

i. Gioan tẩy giả xuất hiện rao giảng và làm phép rửa thống hối

Thái độ của dân chúng, và thái độ của biệt phái kư lục thượng tế trước lời rao giảng này?

Tin về Gioan rao giảng và làm phép rửa tới Nadarét, tới tai Đức Giêsu.

ii. Đức Giêsu bỏ mẹ Ngài ở lại Nadarét để ra đi

Đức Giêsu nói ǵ với Đức Mẹ? (Có lẽ thánh Giuse đă qua đời)

Thái độ và tâm t́nh của mỗi người (của Mẹ và của Giêsu)?

iii. Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu trong biến cố Ngài chịu phép rửa

Thiên Chúa xác chuẩn hành vi khiêm tốn tự hạ của Đức Giêsu. Ngài ở giữa những người tội lỗi. Ngài không giả h́nh, Ngài đại diện con người tội lỗi sám hối trước Thiên Chúa Cha.

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng là chiên gánh tội chúng ta.

b. Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11)

Khung cảnh bầu khí: Đức Giêsu ở nơi cô tịch[17] ăn chay cầu nguyện, có thể trong một hốc đá dưới ṿm cây nào đó.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu suy nghĩ, cung cách hành xử của Đức Giêsu, để nên giống Ngài hơn.

i. Cám dỗ thỏa măn xác thịt và nhu cầu thể xác (đói ăn khát uống).

Những h́nh thức của cám dỗ này trong thời đại ngày nay, và với tôi?

ii. Cám dỗ thứ hai: danh vọng, được kính trọng.

Những biểu lộ của cám dỗ này trong giai đoạn hiện tại đối với tôi? Cách Đức Giêsu đáp trả. Tôi đáp trả trước cám dỗ này như thế nào?

iii. Cám dỗ có quyền lực, độc lập với tất cả kể cả Thiên Chúa.

Độc lập hay nô lệ, khi muốn không tùy thuộc Thiên Chúa?

Đâu là những h́nh thức hiện đại của cám dỗ này? Thái độ đặc biệt của Đức Giêsu? Tôi đă hành xử như thế nào trước những cám dỗ này?

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh ơn chọn Chúa trên hết qua việc dứt khoát đối với cám dỗ của ma quỷ, và cho ḿnh nhận ra những cám dỗ của ma quỷ dưới mọi h́nh thức.

c. Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh thôn làng Capharnaum bên bờ biển hồ.

Xin ơn hiểu tâm t́nh, ư hướng, suy nghĩ và hành động của Đức Giêsu, để được yêu và nên giống Ngài hơn.

i. Giảng dạy

Giảng dạy là sứ vụ chính yếu của Đức Giêsu.

Ngài giảng về điều ǵ? Về Thiên Chúa yêu thương, về cách sống giúp người ta hạnh phúc, v.v.

ii. Chữa bệnh như những dấu chứng cho thấy Nước Thiên Chúa đă đến gần

Đức Giêsu chữa nhiều bệnh tật: cảm sốt, bại tay, bại liệt, câm nói được, điếc nghe được, mù thấy được, kẻ chết sống lại, v.v.

iv. Trừ quỷ

Giải thoát con người khỏi ách ràng buộc của tội, của ma quỷ. Tội con đă được tha, v.v.

v. Ngài đến nơi thanh vắng cầu nguyện với Cha dù suốt ngày Ngài đă làm việc vất vả.

Phải chăng việc cầu nguyện với Cha của Đức Giêsu là quan trọng và không thể thiếu?

Tâm sự với Đức Giêsu, xin Ngài ban cho ḿnh được nên giống Ngài trong mọi sự, nhất là trung thành với Thiên Chúa trong cầu nguyện.

d. Của ăn của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta (Ga 4:34)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh ở với Đức Giêsu bên giếng Giacóp tại Samaria, và thái độ của người Do Thái đối với người Samaria.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu và cảm nghiệm Đức Giêsu khao khát làm theo ư Thiên Chúa đến độ nào, và xin cho ḿnh cũng có khao khát đó.

i. Đức Giêsu mệt v́ đường xa, đói, khát ...

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu “ngồi phệt xuống bờ giếng …”

ii. Đức Giêsu xin nước

Phản ứng của chị phụ nữ. Cách Đức Giêsu nói chuyện với chị phụ nữ.

Đây cũng là dịp để Ngài nói về Thiên Chúa và t́nh yêu của Thiên Chúa đối với chị phụ nữ.

iii. Ngài quên "đói và khát”

Cuộc nói chuyện với chị phụ nữ làm cho Ngài như không c̣n mệt nữa. Làm theo Ư Cha, cứu độ con người, làm cho Đức Giêsu có sức sống mới.

Phản ứng và thái độ của chị phụ nữ?

Thái độ của các tông đồ?

Tâm sự với Chúa Giêsu, người đă sống nghèo và rao giảng đến quên ăn quên uống. Cố gắng đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu và trở nên giống Ngài hơn.

e. Cách sống được chúc phúc (Mt 5:1-12)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu sống nghèo tại Nadarét.

Xin ơn hiểu và cảm nghiệm rơ Chúa Giêsu đă sống các mối phúc như thế nào, và ơn để sống các mối phúc đó.

Điểm gợi ư:

Mỗi mối phúc[18] là một điểm cầu nguyện.

Trong mỗi điểm gợi ư:

·       xem ư nghĩa của mối phúc đó?

·       xem Đức Giêsu sống mối phúc này như thế nào?

·       xem tôi có chấp nhận quan diểm của Đức Giêsu không, tôi đă sống mối phúc này thế nào?

·       và cuối là tâm sự với Chúa khi biết Chúa và biết ḿnh!

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng đă dạy và sống các mối phúc này, xin cho ḿnh nên giống Chúa: biết đặt niềm cậy trông duy chỉ vào Thiên Chúa mà thôi, không đặt hy vọng ǵ nơi tạo vật.

f. Sống phó thác tất cả nơi Thiên Chúa (Mt 6:25-34)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh người nghèo của thời đại Đức Giêsu sống, họ lo lắng t́m kiếm cơm ăn áo mặc.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được sống phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa như Đức Giêsu đă sống “xin đừng theo ư con, nhưng là ư Cha.”

Điểm[19]:

i. Chớ lo cho mạng sống ḿnh

Lấy ǵ ăn, lấy ǵ mặc?

Lo cho ḿnh? Lo cho những người thân yêu ḿnh?

Tôi có những lo lắng này không?

ii. Hăy t́m kiếm Nước trước đă!

Chúa mời gọi tôi lo t́m kiếm Nước Chúa, t́m kiếm nên thánh cho ḿnh và cho những người thân yêu của ḿnh. Tôi có lo t́m điều này không?

iii. Tôi đă sống phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa t́nh yêu chưa?

Khi tôi c̣n càm ràm Thiên Chúa, chưa chấp nhận những người thân yêu, hoàn cảnh của ḿnh, th́ e rằng tôi chưa tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, và e rằng tôi chưa dám phó thác tất cả cho Thiên Chúa.

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng đă sống phó thác tất cả cho Thiên Chúa.

g. Hăy nên thánh v́ Ta là thánh (Lv 19:1-2)

Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu -với-những-ao-ước-và-thao-thức đối với con người thời đại.

Xin ơn ao ước khao khát nên thánh, thuộc trọn về Chúa.

i. Hăy là thánh v́ Ta là thánh

Thánh là vượt lên trên tạo thành.

Nên thánh, là lời mời và cũng là một mệnh lệnh.

ii. Thân phận con người.

C̣n là người-tại-thế, th́ c̣n bị cám dỗ và c̣n phải chiến đấu. Đức Giêsu và Đức Mẹ cũng không được miễn trừ khỏi cám dỗ.

iii. Giới răn yêu thương, yêu kẻ thù!

Không chỉ là không thù oán, không dửng dưng, nhưng chính yếu là quan tâm săn sóc giúp đỡ. Đức Giêsu đă sống giới răn yêu thương cách tuyệt vời ...

Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh được ơn thuộc trọn về Chúa trong ư hướng, suy nghĩ, hành động.

Ghi chú

Đọc lại các ghi chú nơi những trang trước.

Quảng đại là một yếu tố rất quan trọng để dễ dàng cầu nguyện, tạo điều kiện giúp con người gặp gỡ Thiên Chúa, và rồi cảm nghiệm hạnh phúc ngay trong giờ cầu nguyện. Ḷng quảng đại đối với Chúa được biểu lộ cách cụ thể qua việc giữ các điều phụ thêm, đặc biệt sống tâm t́nh Chúa luôn hiện diện và đồng hành với ḿnh trong mọi giây phút của cuộc đời. Năng nhớ những điểm và tâm t́nh của bài cầu nguyện trong ngày. Để làm được điều này, phải hy sinh và giữ ngũ quan.


 


5. Đức Maria thuộc trọn về Thiên Chúa

Nhờ con của Ngài là Đức Giêsu, mà Đức Maria được như hiện tại: Mẹ là Đấng vô nhiễm nguyên tội, là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác.

Đức Maria là người thuộc trọn về Chúa trong tất cả: trong ư hướng, trong tư tưởng suy nghĩ, trong lời nói, hành động. Trong những bài cầu nguyện sau, chúng ta chiêm ngắm Mẹ, xem Mẹ đă phản ứng và xử sự ra sao trong từng biến cố của cuộc sống, để chúng ta được nên giống Mẹ hơn, nghĩa là, yêu Chúa Giêsu như Mẹ đă yêu, hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu như Mẹ, bước theo Chúa Giêsu như Mẹ đă bước theo.

a. Lời vâng tuyệt hảo (Lc 1:26-38)

Như thể ḿnh đang hiện diện trong khung cảnh thiên thần gặp gỡ và hỏi ư kiến xem cô Maria có đồng ư để Thiên Chúa can thiệp vào đời ḿnh ...

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được nên giống Mẹ trong việc t́m hiểu và vâng phục thánh ư Thiên Chúa trong mọi trường hợp, được sống phó thác

như Mẹ đă phó thác tương lai Mẹ trong tay Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Cuộc sống của cô thôn nữ Maria

Thôn làng Mẹ sống. Cung cách cư xử của Mẹ với những người lối xóm. Đời sống đạo đức của Mẹ ....

Trước biến cố truyền tin, Đức Maria cũng đă thuộc trọn về Thiên Chúa v́ Ngài yêu thương Mẹ cách đặc biệt, và đă dành riêng Mẹ cho Ngài.

ii. Thiên Chúa hỏi ư kiến Đức Mẹ trong biến cố truyền tin "để cứu độ con người”

Maria đă đính hôn với Giuse (Lc 1:27) trước khi sứ thần tới, nghĩa là Mẹ đă có ư định lập gia đ́nh, đă muốn lập gia đ́nh với Giuse. Giuse là người tốt.

Maria có yêu Giuse không? Nếu có, không dễ dàng thưa tiếng xin vâng.

iii. Mẹ thưa tiếng xin vâng: “Xin hăy xảy ra cho tôi theo lời Ngài!”

Khi thưa tiếng xin vâng, hàm chứa Mẹ chọn Thiên Chúa trên hết, trên t́nh yêu riêng với Giuse, trên danh dự gia đ́nh, và trên cả mạng sống ḿnh.

Tâm sự với Mẹ, và với Đấng yêu Mẹ, cũng như với Đấng nhờ Ngài mà Mẹ được yêu cách đặc biệt!

b. Mẹ âm thầm thuộc về Thiên Chúa

Như thể ḿnh đang hiện diện trong khung cảnh Đức Maria sống âm thầm khiêm hạ giữa bao thiếu nữ khác ở Nadarét.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh nên giống Mẹ trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa dù không thấy rơ những ǵ sẽ xảy ra.

Điểm gợi ư:

i. Phúc cho em là kẻ đă tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện (Lc 1:45)

Sẽ được thực hiện, nghĩa là, chưa được thực hiện. Mẹ tin rằng những ǵ sứ thần nói, Thiên Chúa sẽ thực hiện. Mẹ có phúc v́ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.

ii. Mẹ tạ ơn khi được người ta tôn trọng, khi được người ta yêu (Lc 1:46-56)

Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa … muôn đời sẽ khen rằng tôi diễm phúc.

Mẹ hạnh phúc ngay cả khi điều đó chưa xảy ra v́ Mẹ tin vào Thiên Chúa.

iii. Mẹ vâng phục mọi điều lề luật dạy (tẩy uế sau khi sinh con).

Mẹ được tẩy uế dù vô tội vô t́ uế, Mẹ dâng Chúa trong đền thờ dù Chúa luôn thuộc về Cha, v.v.

iii. Giữ kỹ những điều tiên tri nói khi dâng hài nhi Giêsu vào đền thờ

Mẹ luôn suy đi nghĩ lại trong ḷng những ǵ sứ thần nói, các tiên tri Simeon và Anna nói.

Tâm sự với Mẹ và với Đấng Mẹ đă bồng ẵm trên tay và dạy dỗ, cũng như với Đấng là Thiên Chúa của Mẹ.

c. Mẹ t́m lại được hài nhi Giêsu (Lc 2:41-52)

Như thể ḿnh đang hiện diện trong cảnh Mẹ tất bật lo lắng t́m con "bị lạc.”

Xin ơn được như Mẹ, chấp nhận những "đêm tối" lo âu và đau buồn trong cuộc sống nhưng vẫn luôn tin tưởng vào Thiên Chúa và yêu mến Đức Giêsu.

Điểm gợi ư:

i. Đức Giêsu cố t́nh ở lại đền thờ, chứ không bị lạc

Tại sao Ngài làm như vậy?

Sau một ngày đàng, Đức Maria và thánh Giuse nhận ra không có hài nhi Giêsu đi theo, và hài nhi cũng không có trong đoàn lữ hành.

Đi vào tâm trạng của các ngài lúc này!

ii. Niềm vui của Đức Mẹ khi gặp lại Đức Giêsu

Câu trách nhẹ nhàng! Lời nói khó hiểu của Đức Giêsu như thể "bất hiếu" (Lc 2:49).

Tâm sự với Đức Mẹ, thánh Giuse, và Đức Giêsu. Xin cho ḿnh hiểu những điều Chúa muốn dạy ḿnh khi Ngài cư xử với Mẹ như vậy.

d. Niềm tin của Mẹ vào Con (Ga 2:1-11)

Khung cảnh: H́nh dung Đức Maria, Đức Giêsu, và các tông đồ đều được mời dự tiệc cưới.

Ơn xin: Được như Mẹ, yêu Đức Giêsu nên nhờ cậy Đức Giêsu và tin Người sẽ làm theo ư ḿnh xin.

Điểm gợi ư:

i. Sự thông cảm và tế nhị của Đức mẹ với chủ nhà cưới

Hết rượu, và hậu quả có thể xảy ra: mang tiếng, danh dự, xích mích giữa hai họ.

Mẹ hiểu con của Mẹ. Mẹ không phiền với lời của Đức Giêsu: chuyện liên quan ǵ đến bà và tôi.

ii. Đức Maria vẫn bảo đầy tớ “Ngài nói sao cứ làm như vậy”

Điều này cho thấy Đức Maria tin và biết Đức Giêsu sẽ làm.

iii. Đức Giêsu tỏ ḿnh cho các tông đồ để họ tin vào Ngài hơn

Đức Giêsu có ư mặc khải chính Ngài qua biến cố dấu lạ này.

Tâm sự với Đức mẹ để Ngài dạy chúng ta yêu mến cậy dựa vào Đức Giêsu như Mẹ, hiểu biết Ngài và biết tŕnh bày những ao ước của ḿnh cho Ngài với tất cả niềm tin tưởng như Mẹ đă làm.

e. Ai là mẹ tôi và ai là anh em tôi (Mt 12:46-50)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện khi Đức Giêsu đang giảng dạy đám đông dân chúng, và Đức Mẹ cùng anh em họ hàng đến muốn gặp Đức Giêsu.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh biết đặt Thiên Chúa và tương quan với Ngài trên mọi tương quan nhân loại.

Điểm gợi ư:

i. Đức Giêsu đang rao giảng

Đức Mẹ và anh em Ngài đến t́m Ngài. Tại sao đến t́m Đức Giêsu? V́ Ngài đi lâu quá không về? Hay nghe tin ǵ khác về Đức Giêsu?

Tương quan của tôi đối với gia đ́nh như thế nào?

ii. Mẹ và anh em tôi là những người nghe và giữ lời Thiên Chúa

Tương quan với Thiên Chúa phải chi phối tất cả, và là động lực chính của tất cả. Đây không phải là lời coi thường tương quan xác thịt. Hơn nữa, Mẹ Maria đă đang và sẽ luôn luôn lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa trong suốt đời Ngài.

Cách cư xử của tôi với gia đ́nh, với những người thân yêu có giống Đức Giêsu không?

Tâm sự, nói chuyện thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được sống chết với Lời Chúa, cho ḿnh được như Mẹ: cưu mang Chúa trong ḷng cách thiêng liêng và ban Chúa cho những người ḿnh tiếp xúc.

f. Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện cùng với Mẹ đứng dưới chân thập giá.

Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa như Mẹ, dù ở trong những giây phút tăm tối nhất.

i. Đức Maria luôn dơi bước theo Con Ngài, cả những lúc vinh quang hay tăm tối u ám của Con Ngài. Mẹ đi theo Con trên đường vác thập giá, hiện diện dưới chân thập giá khi tất cả hầu như đă bỏ Ngài.

ii. Cố gắng đi vào tâm t́nh của Đức Mẹ, đi vào nỗi đau của Mẹ khi thấy Con bị khổ h́nh như vậy. Đi vào ḷng Mẹ để thấy đức tin của Mẹ đối với Thiên Chúa khi Đức Giêsu sinh ra nghèo hèn, và nhất là khi Con Mẹ bị treo trên thập giá.

Tâm sự với Mẹ, xin Mẹ xin Chúa cho ḿnh được trở nên giống Mẹ và giống Con Mẹ hơn: phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa dù bất cứ trong hoàn cảnh nào.

Ghi chú

Nếu muốn cầu nguyện về chủ đề này nhiều hơn nữa, th́ có thể dùng J. Laplace, sđđ, bản dịch trang 118-135.

Chú ư xem thần dữ có giả dạng thần lành để làm ḿnh chia trí không, xem LT 332-234.

Nhớ xét ḿnh riêng về ḷng quảng đại đối với Chúa qua việc giữ các điều phụ thêm, đặc biệt cầu nguyện trọn một giờ, xét ngắm, giữ tâm t́nh cầu nguyện cả ngày, giữ ngũ quan và nhất là giữ thinh lặng nội tâm.



6. Con đường Đức Giêsu đi

Ơn xin của chủ đề này vẫn là xin được hiểu biết về Đức Giêsu hơn, được yêu mến Đức Giêsu hơn, và theo Ngài hơn.

T́nh yêu không có giới hạn, không bao giờ chúng ta có thể nói chúng ta đă đạt tới cùng điểm của t́nh yêu. Như hai người nam nữ yêu nhau, họ muốn t́m hiểu nhau để yêu và tin cậy nhau hơn, th́ cũng tương tự như vậy giữa chúng ta và Thiên Chúa.

Sứ mạng Đức Giêsu là làm chứng cho t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người. Làm sao để con người biết và chấp nhận t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người? Làm sao để con người rung cảm và rồi đáp lại t́nh Chúa đối với con người?

a. Thái độ của dân chúng (Mc 1-3)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu rao giảng trong các hội đường.

Ơn xin: Hiểu biết về Đức Giêsu hơn, để yêu và theo Ngài hơn. Ngài kiên nhẫn chịu đựng con người, Ngài yêu thương con người nên phải nói sự thật, và ngay cả khi t́nh yêu bị từ chối Ngài vẫn yêu thương con người.

Điểm gợi ư:

i. Người ta nô nức đón nghe Đức Giêsu

Sau khi Đức Giêsu làm phép lạ (Mc 1:21-22.27-28.32-33.37-45); chữa người bại liệt (Mc 2:12); trừ quỷ (Mc 3:7-12).

ii. Người ta bắt đầu x́ xầm chống đối Ngài

Đặc biệt là các kư lục, biệt phái khi Đức Giêsu ăn uống với người tội lỗi (Mc 2:16-18); khi Đức Giêsu đánh đuổi người buôn bán khỏi đền thờ (Mc 11:15-18.27-33); khi Đức Giêsu chữa bệnh ngày sabbat (Mc 3:2-4).

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng đă sống mầu nhiệm tự hủy Thiên-Chúa-làm-người, nghĩa là chấp nhận bị người ta chống đối. Tại sao Chúa lại nói cho người ta điều mà người ta không muốn tiếp nhận, tại sao Ngài lại nói điều mà v́ điều đó Ngài bị người ta từ chối và ghét bỏ?

b. Thái độ của người thân và kư lục, biệt phái

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu giảng dạy trong các hội đường.

Ơn xin: Hiểu biết thâm sâu về Đức Giêsu hơn, để yêu và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Người thân nói Đức Giêsu bị điên (Mc 3:20-21)

ii. Kư lục, biệt phái và dân chúng

Nói Đức Giêsu nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ (Mc 3:22-26).

Nói Đức Giêsu bị quỷ ám, phạm thượng và ném đá Đức Giêsu (Ga 8:48-59).

Tâm sự: Thân thưa với Đức Giêsu, Người "thất bại" trong "sự nghiệp.”

c. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)

Như ḿnh hiện diện trong khung cảnh Chúa lên núi và cầu nguyện suốt đêm, sau đó chọn mười hai người đặc biệt, gọi là tông đồ.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu biết thâm sâu về Chúa, về ư định cứu độ của Ngài, về việc “dùng con người” trong chương tŕnh cứu độ, và xin cho ḿnh được mau mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa.

i. Ngài lên núi, cầu nguyện, gọi những kẻ Ngài muốn, và họ đến với Ngài

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu cầu nguyện suốt đêm (Lc 6:12). Điều này cho thấy việc tuyển chọn nhóm 12 quan trọng như thế nào!

ii. Ngài chọn nhóm 12 để họ ở với Ngài, và để Ngài sai đi rao giảng

Ngài tuyển chọn, gọi tên từng người!

Sứ mạng của nhóm 12: ở với Ngài, để Ngài sai đi rao giảng với quyền trừ quỷ.

Tâm sự, nói chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa chọn ḿnh, cho ḿnh sống đặc biệt thân thiết với Chúa, cho ḿnh quảng đại đáp trả lời mời gọi của chúa.

d. Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4)

Như ḿnh hiện diện với Đức Giêsu rong ruổi giảng dạy trong các hội đường Do Thái ngày này qua ngày nọ, nơi này tới nơi kia.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết Chúa hơn, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm gợi ư:

i. Các tông đồ và các môn đồ thắc mắc tại sao dần dần người ta lại bỏ Đức Giêsu, không nghe Ngài giảng dạy nữa, thậm chí cả những môn đồ cũng bỏ đi (Ga 6:60-65)!

ii. Đức Giêsu giải thích trả lời bằng dụ ngôn gieo giống (Mc 4:1-20)

Đón nhận Lời Ngài hay không, là tự do của mỗi người.

V́ Đức Giêsu mặc khải điều vượt sức hiểu biết của con người: Ngài có quyền tha tội (Mc 2:5-7), có trước Abraham (Ga 8:57-58), là một với Thiên Chúa (Ga 10:30).

iii. Không được che dấu ánh sáng, v́ sứ mạng của chúng ta là thành men và ánh sáng để làm chứng cho Chúa Giêsu (Mc 4:21-25).

Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Đức Giêsu "thất bại.”

e. Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện trong vườn ươm cây, cây non phát triển mỗi ngày.

Xin ơn hiểu biết Đức Giêsu, thái độ lập trường của Ngài, ḷng nhân ái của Ngài đối với con người dù t́nh yêu của Ngài bị từ chối.

i. Lời Chúa một khi được con người tiếp nhận, cũng tương tự như hạt giống âm thầm mọc dù người gieo biết hay không biết. Lời Chúa có sức mạnh không ǵ có thể ngăn cản nổi, miễn là người ta đón nhận.

ii. Khi được tiếp nhận và phát triển, tương tự như hạt cải trước bé nhưng sau thành cây lớn, Lời Chúa sẽ thành tiêu chuẩn sống và thành cột trụ nâng đỡ cuộc sống của chúng ta.

iii. Một người sống theo Lời Chúa, sẽ thành nơi nương tựa của nhiều người.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa Giêsu, xin cho ḿnh mềm mại và dễ dạy đối với Lời Chúa.

f. Quyền trên thiên nhiên (Mc 4:35-41)

Như thể ḿnh đang hiện diện cùng Đức Giêsu trên thuyền ở giữa biển hồ Galilê.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu Chúa hơn để yêu và theo Ngài hơn.

i. Đức Giêsu ngủ v́ mệt phía đằng sau lái thuyền.

Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu ngủ v́ mệt.

ii. Biển động thuyền ḥng ch́m

Các tông đồ sợ. Đánh thức Đức Giêsu.

iii. Đức Giêsu can thiệp, và quở mắng làm biển yên

“Sao hèn tin thế?” Phản ứng của các tông đồ.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được tín thác hoàn toàn vào Chúa.

g. Loan báo Tin Mừng bằng trừ quỷ (Mc 5-6)

Như ḿnh đang hiện diện với Chúa và các tông đồ, khi Đức Giêsu làm phép lạ để chữa lành dân chúng.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu biết Đức Giêsu hơn, để yêu Ngài hơn và yêu Ngài hơn.

Điểm cầu nguyện: Mỗi điểm có thể là một bài cầu nguyện. Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

i. Chữa người quỷ ám (Mc 5:1-20).

ii. Chị phụ nữ băng huyết và con gái ông Giai-rô (Mc 5:21-43).

iii. Chữa những người ở Ghennêsaret (Mc 6:53-56).

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được “khỏi mọi sự dữ” và mang Tin Mừng giải phóng đến cho nhiều người.

h. Không hiểu đường lối của Đức Giêsu (Mc 4;6)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu và các tông đồ trong những giây phút khủng hoảng “người ta bỏ Chúa, không chấp nhận Ngài khá nhiều.”

Xin ơn hiểu biết về Chúa hơn, đừng quá u mê như các tông đồ, để yêu và theo Chúa hơn.

Điểm gợi ư:

i. Tại sao nhát đảm thế? Các ông không có ḷng tin ư (Mc 4:40-41)?

Biển động, Chúa ngủ, các tông đồ sợ hăi.

ii. Dân chúng cũng chẳng hiểu Ngài và chẳng tin (Mc 6:1-6)

Đức Giêsu về làng Nadarét, người ta cứng ḷng không tin, v.v.

iii. Lấy đâu ra bánh cho bấy nhiêu người ăn (Mc 6:35-37)

Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi dân.

iv. Cứ yên ḷng tôi đây, đừng sợ (Mc 6:42-52.50)

Chúa đi trên biển để tới với các tông đồ đang ở trên thuyền.

v. Các ông chưa hiểu chưa nhận ra sao? Các ông giữ ḷng trí đần độn măi thế sao? Các ông có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe sao (Mc 8:14-21).

Tâm sự: Xin Chúa mở ḷng trí con để con hiểu Chúa hơn, tin Chúa hơn, yêu Chúa hơn và dâng hiến mạng sống để theo Ngài hơn.

i. Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30)

Khung cảnh: Đức Giêsu đưa các tông đồ riêng ra một nơi phía bắc Cêsarê Philip.

Ơn xin: Hiểu thực sự về Đức Giêsu. Ngài là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Người ta bảo con người là ai?

Sau thời gian dài Đức Giêsu rao giảng, người ta nói Đức Giêsu là ai?

Người ta bảo thầy là tiên tri. Người của Thiên Chúa, được sai tới để nói với dân đại diện Thiên Chúa. Tiên tri là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa yêu thương và quan tâm tới dân Ngài.

ii. C̣n các anh, các anh nói tôi là ai?

Thầy là Đức Kitô. Kitô, Christos, Massiah, được xức dầu. Được xức dầu, được Thiên Chúa sai phái, được trao sứ mạng. Được xức dầu để làm tư tế, hay làm vua, hay làm tiên tri.

iii. Đức Giêsu là ai đối với tôi?

Chỗ đứng của Đức Giêsu trong đời tôi như thế nào?

Tâm sự với Đức Giêsu Kitô, Đấng đă đến để giao ḥa con người và Thiên Chúa.

j. Con đường thập giá (Mc 8:31-33)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với Đức Giêsu và các tông đồ, khi Ngài muốn ở riêng với các tông đồ để dạy dỗ họ.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă chấp nhận thập giá để cứu độ con người, và xin cho ḿnh nên giống Ngài hơn.

i. Thế nào là thập giá?

Cây thập giá trên vai Chúa Giêsu. Những trái ư trong đời Ngài. Những đối xử gian ác đối với Đức Giêsu: vu khống, muốn giết Ngài, v.v.

iii. Đức Giêsu chấp nhận thập giá

Xem thái độ của Đức Giêsu đối với thập giá như thế nào?

Thái độ của tôi đối với thập giá của tôi như thế nào?

Tâm sự với Đấng đă đi tới cùng mầu nhiệm nhập thể, tự hủy.

k. Phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1)

Như ḿnh đang hiện diện cùng đám đông và các tông đồ nghe Đức Giêsu rao giảng.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết giá trị của thập giá, hiểu biết t́nh Ngài đối với tôi, và cho ḿnh yêu Ngài hơn và theo Ngài.

i. Con đường thập giá là con đường cứu độ

Thiên Chúa muốn Đức Giêsu đi, chấp nhận thân phận con người, để cứu độ con người.

Giới hạn của mỗi người, cũng có thể là thập giá đối với người đó.

ii. Thập giá cũng là con đường mỗi người chúng ta phải đi qua

Đâu là thập giá của tôi?

So thập giá của tôi với thập giá (trái ư, điều ác người ta gây nên) của Đức Giêsu?

Thái độ của tôi với thập giá của tôi như thế nào?

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng đă tự hủy ḿnh v́ t́nh yêu và cho t́nh yêu.

l. Cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29)

Như ḿnh đang hiện diện cùng Đức Giêsu và các tông đồ trước sự kiện em bé bị bệnh và lời thỉnh cầu của cha em bé.

Xin ơn hiểu biết về Chúa hơn để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn.

i. Các tông đồ không thể trừ qủy

Các tông đồ đă thử trừ quỷ nhưng không thành công. Tại sao?

ii. "Nếu Thầy có thể làm ǵ, xin Thầy thương xót chúng tôi”

Lời thỉnh cầu thành khẩn của cha em bé. T́nh yêu của người cha đối với con bệnh tật của ḿnh.

Không ǵ là không thể với một kẻ tin. Xin thầy cứu giúp niềm tin yếu kém của tôi.

iii. Giống qủy này không thể trừ nếu không cầu nguyện và ăn chay

Ăn chay hy sinh hăm ḿnh, diễn tả thái độ khiêm tốn bất lực. Cầu nguyện, diễn tả thái độ tin cậy nơi Thiên Chúa.

Tâm sự với Chúa, xin cho con được tin vào Chúa, đừng cứng ḷng tin như dân chúng và ngay cả như các tông đồ, môn đệ.

m. Con đường Đức Giêsu đi: Phục vụ (Mc 9:33-37)

Như ḿnh đang hiện diện cùng Đức Giêsu và các tông đồ với em bé đứng giữa họ.

Xin ơn hiểu Chúa hơn, để yêu và nên giống Ngài hơn.

i. Tranh luận giữa các tông đồ khi đi đường xem ai là người làm lớn giữa họ

Tại sao các tông đồ tranh luận? Các tông đồ ước mong ǵ?

ii. Dọc đường các anh tranh luận ǵ thế?

Các ngài im lặng v́ biết ḿnh có lỗi, đă không sống theo gương thầy, theo điều thầy dạy.

iii. Em bé đứng giữa các tông đồ

H́nh ảnh một em bé nói lên điều ǵ? Thái độ đơn sơ của em bé.

Chúa dạy bài học phục vụ. Ai muốn làm lớn phải là người phục vụ.

Tâm sự: Xin Chúa tha lỗi v́ nhiều lần và nhiều lúc trong cuộc đời ḿnh cũng không muốn hiểu điều Chúa dạy, và không làm theo điều Chúa dạy.

n. Ngăn cản nhân danh Đức Giêsu (Mc 9:38-41)

Như ḿnh đang hiện diện khi Đức Giêsu dạy bảo Gioan.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu về Đức Giêsu, hiểu thái độ khoan dung của Chúa, để nên giống Ngài hơn.

i. Lư do khiến Gioan ngăn cản?

Phe phái? Độc quyền?

ii. Những người làm điều tốt đều thuộc về Thiên Chúa

Làm điều tốt cho người khác, ai làm cũng tốt cả. Không phe phái, không độc quyền.

Càng nhiều người làm điều tốt, giúp đỡ người khác, càng tốt.

Tâm sự với Chúa, xin cho con có tinh thần quảng đại, bao dung, yêu mến, và nghĩ tốt cho mọi người.

o. Vẫn không hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45)

Như ḿnh đang hiện diện khi Đức Giêsu cho các tông đồ biết rằng Ngài sẽ bị bắt bị giết. Báo lần thứ ba.

Ơn xin: Xin hiểu Chúa không chỉ bằng trí óc, nhưng bằng chính cuộc sống.

i. Hai con ông Giêbêđê xin được ngồi bên tả và bên hữu Chúa

Các tông đồ hiểu Đức Giêsu là Kitô Vua, nên tranh căi với nhau nếu Chúa chết th́ ai sẽ làm lớn. Hai tông đồ Gioan và Giacôbê xin được ngồi bên tả bên hữu, là hai chỗ tốt nhất, làm lớn nhất.

ii. Các tông đồ khác phẫn uất tức giận (c.41)

Người nào trong các tông đồ cũng đều muốn làm lớn cả, nên tức giận khi thấy hai ông Gioan và Giacôbê khôn quá! Các tông đồ cũng đều giống nhau.

iii. Đức Giêsu dạy lần nữa: hăy làm tôi tớ mọi người

Ai muốn làm lớn, phải là người phục vụ mọi người.

Thái độ của tôi như thế nào đối với việc phục vụ anh em ḿnh?

Tâm sự với Chúa, xin được hiểu với con tim, con đường Đức Giêsu đi là con đường tự hủy, con đường thập giá, con đường phục vụ v́ t́nh yêu.

p. Thương cảm người mù (Mc 10:46-52)

Như ḿnh đang hiện diện khi Đức Giêsu và các tông đồ gặp người mù ngồi ăn xin bên đường.

Xin ơn hiểu rằng Chúa đến cứu chúng ta khỏi mù, để chúng ta được biết Ngài và sống hạnh phúc.

i. Anh mù

Người mù ao ước ǵ nhất? Lời cầu xin với tất cả niềm hy vọng: "Lạy Con Vua Đavid, xin thương xót tôi.”

Bị ngăn cản nhưng anh ta vẫn kiên tŕ.

ii. Niềm vui của anh ta khi Đức Giêsu gọi anh

Anh quăng áo, bỏ tất cả, nhẩy chồm lên. Tràn đầy hy vọng.

iii. Ḷng tin của anh đă cứu anh

Không ǵ là không thể với kẻ tin.

Tôi có ao ước ǵ không? Tôi có cần Chúa giúp điều ǵ không?

Tâm sự: Xin cho con tin tưởng và trông cậy vào Chúa hơn, như anh mù này đă tin tưởng và trông cậy Chúa.

q. Không chấp nhận con đường Đức Giêsu

Như ḿnh đang hiện diện trước đám đông chống đối Đức Giêsu.

Ơn xin: Xin cho con đi theo con đường Chúa đi.

i. Những người đặt lợi trên Thiên Chúa (Mc 11:15-19)

Những người dùng cả đền thờ để trục lợi: người buôn bán lẫn người cho phép.

Tiền bạc với những người này là quan trọng nhất.

ii. Những kẻ vô ơn và giết người (Mc 12:1-12)

Những tá điền giết con ông chủ, người thừa kế để chiếm đoạt tài sản.

iii. Những kẻ không thực ḷng với Thiên Chúa (Mc 12:13tt)

Muốn thử Chúa, muốn gài bẫy Chúa để hại Ngài.

Tôi có ở trong ba loại người này không?

Tâm sự: Xin cho con yêu mến Chúa với trọn cả tấm ḷng, và theo Chúa với trọn cả con người.

r. Giới răn yêu thương (Mc 12:38-34)

Như ḿnh đang hiện diện khi Chúa trả lời câu hỏi của biệt phái và thông luật.

Ơn xin: Hiểu biết về Đức Giêsu hơn, Đấng đă sống tất cả cho t́nh yêu và v́ t́nh yêu. Xin cho con nên giống Ngài.

i. Yêu Chúa hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực

Thiên Chúa là nhất. Không ǵ trên Thiên Chúa. Chọn Thiên Chúa trên tất cả.

ii. Yêu tha nhân như chính ḿnh

Ai nói ḿnh yêu Chúa mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga 4:20).

Yêu nhau như Thầy đă yêu thương anh em (Ga 13:34-35).

Tâm sự: Xin cho con biết sống yêu thương trong mọi nơi mọi lúc, với ánh mắt, tư tưởng, lời nói và hành động.

s. Đức Giêsu- con người tự do

Như ḿnh đang hiện diện nh́n ngắm Đức Giêsu thanh thản tự do với tất cả.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết thâm sâu bằng con tim về Chúa, để yêu Ngài hơn, và theo Ngài hơn.

i. Đức Giêsu tự do với những t́nh cảm và cuộc t́nh

Ngài thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa, và như vậy không thuộc riêng về bất cứ ai khác, nhưng thuộc về tất cả mọi người.

ii. Đức Giêsu tự do với bạc tiền

Ngài sinh ra nghèo, sống hơn 30 năm trong cảnh nghèo, đi rao giảng trong nghèo "chồn cáo có hang, chim trời có tổ, con người không có chỗ tựa đầu.”

iii. Đức Giêsu tự do với danh vọng quyền thế

Ngài suy nghĩ, nói và sống không dựa vào dư luận hay ư kiến của người ta, nhưng chỉ dựa vào thánh ư Thiên Chúa mà thôi.

Tâm sự: Xin cho con được tự do như Chúa, tự do với bạc tiền, danh vọng, t́nh duyên.

t. Đời sống trinh khiết của Đức Mẹ và thánh cả Giuse

Như ḿnh đang hiện diện trong gia đ́nh thánh tại Nadarét.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được nên giống Mẹ và thánh Giuse, thuộc trọn về Thiên Chúa, tôn trọng những ǵ thuộc về Thiên Chúa.

i. Đức Maria thuộc trọn về Thiên Chúa ngay từ khi được sinh ra, và Mẹ không ngừng thuộc về Thiên Chúa trong suốt đời.

Từ khi thụ thai ngôi Lời nhập thể, Đức Maria thuộc về Thiên Chúa hơn nữa.

ii. Thánh Giuse thuộc trọn về Thiên Chúa, đặc biệt trong tương quan với Mẹ

Thánh Giuse nhận biết Đức Maria thuộc về Thiên Chúa, nên ngài luôn luôn tôn trọng Mẹ, bởi Mẹ là của Thiên Chúa.

Tâm sự: Xin Mẹ và thánh cả giúp ḿnh cũng được thuộc trọn về Chúa trong mọi sự: trong ư hướng, trong tư tưởng, lời nói và hành động.

Ghi chú

Trường hợp linh thao trong cuộc sống thường ngày, nếu thấy ḿnh cầu nguyện bài nào không đạt, th́ cầu nguyện lại bài đó.

Cứ b́nh thường th́ cầu nguyện “được,” nếu cầu nguyện không được ắt phải có nguyên nhân, cố gắng t́m ra cho được nguyên do làm ḿnh cầu nguyện không được để sửa, có vậy mới tiến bộ trong cầu nguyện.

Cố gắng rước lễ mỗi ngày, nếu được.

Nếu có lầm lỡ, hăy thống hối và bắt đầu lại. Hăy xét kỹ ư hướng của ḿnh, xem ḿnh đă quyết chí đủ chưa, ḿnh có đồng lơa với ma quỷ trong điều ǵ đó không?

Đọc lại ghi chú của những chủ đề trước.

Nhớ xét ḿnh chung, và xét ḿnh riêng (LT 44.24-31).



NGÀY INHĂ

Trong “ngày thứ tư của tuần thứ hai” (LT 136) thánh Inhaxiô đề nghị một số bài cầu nguyện (Hai Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người, Ba Bậc Khiêm Nhường) và việc “chọn lựa bậc sống.” Tuy không phải tất cả những điều trên được làm trong một ngày, nhưng chúng ta cứ quy ước gọi tạm là “ngày Inhă.”

1. Mục đích yêu cầu

Thánh Inhaxiô muốn ǵ khi gợi ư những bài cầu nguyện nêu trên?

Trong tất cả các bài cầu nguyện này, thánh Inhaxiô đều dạy chúng ta làm ba cuộc tâm sự: một với Đức Mẹ, một với Chúa Con và một với Chúa Cha, nài xin cho ḿnh được đứng vào dưới cờ của Chúa Giêsu bằng:

·       ơn được nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả được ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa được tôn vinh hơn;

·       ơn chịu sỉ nhục và khinh chê để bắt chước Chúa hơn nếu điều này không gây dịp tội cho ai và không làm mất ḷng Chúa.

a. Nhận thức, chọn và được chọn

Trong bài cầu nguyện về Hai Cờ, thánh Inhaxiô dạy chúng ta xin ơn nhận biết mưu mô của kẻ thù và ơn trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để bắt chước (LT 139). Trong bài Ba Mẫu Người, chúng ta xin ơn chọn điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152). Trong suy gẫm về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh để ḿnh bắt chước và phục vụ Chúa hơn (LT 168).

Như vậy chúng ta thấy, tiến tŕnh ơn xin của các bài cầu nguyện Inhaxiô đi từ xin cho ḿnh nhận thức, đến xin cho ḿnh chọn, và sau đó xin Chúa chọn ḿnh vào đời sống nghèo và sỉ nhục khinh chê.

b. Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh

Các bài cầu nguyện Inhă cho chúng ta hiểu biết hơn về con người của chúng ta: xem chúng ta đă nhận thức về con đường của Đức Giêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn theo Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục không, xem chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Giêsu đă sống không?

2. Bản văn Kinh Thánh

Hai con đường (Tv 1);

Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31);

Định mạng Đức Giêsu (Mc 10:32-34);

Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);

Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28).

3. Những gợi ư cầu nguyện về ngày Inhă

Sau các bài linh thao về hai cờ hiệu, ba mẫu người và ba bậc khiêm nhường, thao viên sẽ làm chọn lựa bậc sống. Nếu không b́nh tâm th́ không thể làm chọn lựa được. Những bài cầu nguyện trong ngày Inhă giúp chúng ta tự đánh giá xem ḿnh đă đạt được b́nh tâm chưa, và đạt được đến mức độ nào.

a. Hai con đường (Tv 1)

Như ḿnh đang đứng trước ngă ba đường, và phải chọn theo con đường nào đó.

Xin ơn cảm nghiệm được hạnh phúc khi theo Chúa ngay cả những lúc có vẻ "khổ.”

i. Cuộc sống của kẻ dữ: những dự định, mưu mô, hành động.

Họ t́m ǵ? Họ dùng phương tiện ǵ để đạt điều đó? Họ có từ bỏ phương tiện nào mà họ nghĩ rằng họ sẽ đạt được điều họ muốn không?

ii. Cuộc sống của người lành

Thiên Chúa làm tiêu chuẩn sống của người lành.

T́m Chúa, nghĩ rằng, được Chúa là được tất cả.

Tâm sự với Chúa, Đấng sống nghèo hèn và khổ nhục v́ yêu tôi. Xin cho ḿnh ơn b́nh tâm: Thiên Chúa là nhất, c̣n những điều khác th́ sao cũng được.

b. Anh nhà giàu (Mc 10:17-22)

Khung cảnh: Đức Giêsu đang chuẩn bị lên đường cùng với các tông đồ th́ anh giầu có này tới, bái lạy Ngài.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh quảng đại và mau mắn đáp lại tiếng Chúa mời gọi.

i. Cuộc sống người thanh niên trước khi gặp gỡ Đức Giêsu

Anh ta là người tốt, đă giữ tất cả các giới răn.

Anh có khao khat mong ước điều cao quư hơn: sư sống đời đời.

ii. Gặp gỡ và đối thoại giữa Đức Giêsu và anh nhà giầu có muốn được sống đời đời cách chắc chắn

Chúa nh́n anh ta đem ḷng yêu mến.

iii. Thái độ của anh thanh niên sau cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu

Buồn rầu bỏ đi. Gặp gỡ Chúa mà không đáp trả, th́ c̣n tệ hơn trước.

iv. Ngày nay Chúa mời gọi ḿnh từ bỏ ǵ để theo Ngài?

Tâm sự với Chúa Giêsu, xin Chúa gọi con, và làm con mau mắn đáp trả lời mời gọi của Ngài.

c. Giá trị của tiền bạc (Mc 10:23-31)

Khung cảnh: Đức Giêsu và các tông đồ sau biến cố anh thanh niên giầu có bỏ đi không đáp lại lời mời của Chúa.

Ơn xin: Xin ơn hiểu giá trị của đồng tiền và những ràng buộc của đồng tiền, xin ơn quảng đại đáp trả tiếng Chúa và dứt bỏ quyến luyến đối với tiền bạc.

i. Người giầu khó vào được nước trời!

Tiền bạc trói buộc con người.

ii. Lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giầu vào được nước Thiên Chúa

Giầu có mà vào Nước Thiên Chúa, thật là khó.

iii. Không ǵ là không thể đối với Thiên Chúa

Những người giầu có mà quảng đại, khiêm nhường, quả là công tŕnh kỳ diệu của Thiên Chúa.

iv. Này chúng con đă bỏ tất cả mà theo Thầy

Tuy các tông đồ không giầu có tiền bạc, nhưng các ngài đă bỏ tất cả để theo Chúa: gia đ́nh, cha mẹ, những người thân yêu, v.v.

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng mời gọi các tông đồ và tôi, xin cho tôi biết bỏ tất cả để đi theo Chúa Giêsu.

d. Sự Sống và Sự Chết (LT 136-147)

Làm như thánh Inhaxiô chỉ trong sách linh thao!

e. Ba mẫu người (LT 149-157)

Như ḿnh đang hiện diện trước Thiên Chúa và triều đ́nh thiên quốc.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được quảng đại sẵn sàng bỏ tất cả để được Chúa mà thôi.

i. Tôi quyến luyến lệch lạc ǵ nhất?

Trong quá khứ?

Trong hiện tại?

ii. Trước đây tôi thuộc mẫu người thứ mấy?

Mẫu người thứ nhất: muốn được b́nh tâm làm theo ư Chúa nhưng không làm ǵ cả cho tới lúc chết, không từ bỏ những lệch lạc của ḿnh.

Mẫu người thứ hai: muốn b́nh tâm làm theo ư Chúa nhưng muốn giữ lại cái lệch lạc của ḿnh, muốn được cả hai. Họ cũng không làm ǵ cả.

Mẫu người thứ ba: sẵn sàng bỏ tất cả để được b́nh tâm làm theo ư Chúa, trong khi chờ đợi để biết ư Thiên Chúa về điều lệch lạc th́ coi như bỏ cái lệch lạc đó.

iii. Hiện tại tôi có thuộc mẫu người thứ ba không?

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được quảng đại, bỏ tất cả để theo Chúa, và chỉ theo Chúa mà thôi.

f. Ba bậc khiêm nhường (LT 165-168)

Như ḿnh đang hiện diện trước ngai ṭa Thiên Chúa và thần thánh trên trời.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được yêu Chúa đến độ ao ước nên giống Chúa, được đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

i. Trong quá khứ, tôi yêu Chúa ở mức độ nào?

Mức độ thứ nhất: thà chết không phạm tội trọng!

Mức độ thứ hai: điều nào làm vinh danh Chúa hơn th́ ḿnh làm, c̣n nếu tất cả đều làm vinh danh Chúa ngang nhau th́ b́nh tâm, nghĩa là sao cũng được.

Mức độ thứ ba: điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh làm, c̣n nếu tất cả làm vinh danh Chúa ngang nhau th́ v́ t́nh yêu đối với Đức Giêsu, điều nào làm ḿnh nên giống Chúa Giêsu hơn th́ ḿnh ao ước được điều đó; nghĩa là nếu phải chọn giữa giầu và nghèo, th́ ḿnh chọn nghèo với Chúa nghèo, nếu phải chọn được danh giá và bị sỉ nhục khinh chê, th́ ḿnh chọn bị sỉ nhục với Đức Giêsu chịu sỉ nhục hơn là được trọng vọng danh giá.

ii. Tôi có ao ước được yêu Chúa ở mức độ thứ ba không?

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh ơn yêu Chúa ở mức độ thứ ba, yêu Chúa đến độ muốn ḿnh đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu: nghèo và bị sỉ nhục khinh chê với Chúa sống nghèo và bị sỉ nhục khinh chê hơn là giầu có và được trọng vọng.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống Chúa trong nghèo khó và sỉ nhục khinh chê.

g. Số phận của Đức Giêsu (Mc 10:32-34)

Khung cảnh: Đức Giêsu trên đường lên Giêrusalem cùng với các tông đồ.

Xin ơn hiểu biết nguyên động lực chi phối đời sống Đức Giêsu, và ơn ao ước được nên giống Ngài.

i. Đức Giêsu, cuộc đời “nghèo” ở quá khứ và hiện tại

Nh́n ngắm, nghe, quan sát Đức Giêsu suốt đời sống tại thế. Ngài đă sống nghèo như thế nào?

ii. Đức Giêsu cảm thấy những ǵ sẽ xảy đến cho ḿnh!

Không bận tâm về chuyện giầu nghèo. Điều Ngài bận tâm là thánh ư Thiên Chúa, là làm sao cứu độ con người, v.v.

iii. Thái độ đón nhận những ǵ sẽ xảy ra cho ḿnh như đến từ Thiên Chúa và như dấu chỉ t́nh yêu đối với con người

Trong cuộc sống của Đức Giêsu: Thiên Chúa là quan trọng, con người là quan trọng.

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng sống cho t́nh yêu và chết cho t́nh yêu.

h. Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly cùng với Đức Giêsu và các tông đồ, và Đức Giêsu nói những lời quan trọng.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn theo Chúa dù có bị thế gian ghét bỏ.

i. Thế gian thù ghét Đức Giêsu

Người đến nhà người, nhưng người nhà không đón tiếp Ngài (Ga 1:14).

Họ lượm đá ném Ngài khi Ngài mặc khải chân tướng của Ngài (Ga 8:59).

Nếu họ đă bắt bớ Ta, ắt họ cũng bắt bớ các ngươi (Ga 15:20).

ii. Những h́nh thức thế gian bắt bớ môn đệ Đức Giêsu

Vu oan giá họ, vu khống, hành hạ, giết.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống Chúa, Đấng bị thế gian thù ghét và hăm hại.

i. Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu và các tông đồ sau biến cố Phêrô tuyên tín.

Ơn xin: Nên giống Đức Giêsu, đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu v́ yêu Ngài.

i. Đức Giêsu bị người ta bắt, bêu nhục, bị đánh đ̣n, và bị giết ô nhục

Nh́n Đức Giêsu trong suốt cuộc sống tại thế của Ngài.

ii. Muốn theo Chúa, phải vác thập giá ḿnh

Chấp nhận những giới hạn của ḿnh!

Hiến mạng sống cho Chúa, sống cho t́nh yêu và chết cho t́nh yêu.

Tâm sự như trong bài hai cờ, xin cho con được ơn sống nghèo như Chúa và chịu sỉ nhục với Chúa, v́ t́nh yêu với Chúa.

Lượng giá "ngày Inhă"

Xét gẫm cũng giúp chúng ta biết ḿnh hơn, biết tương quan của ḿnh với Chúa đang như thế nào, để ḿnh không ảo tưởng về ḿnh, và để ḿnh cải thiện t́nh trạng hiện tại.

a. B́nh Tâm

Khi cầu nguyện về Nguyên Lư và Nền Tảng trong ngày đầu tiên, chúng ta đă xin ơn B́nh Tâm: chọn Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết, c̣n những sự khác th́ sao cũng được, dù là giữa nghèo và giầu, danh vọng hay sỉ nhục, ...! Hôm nay khi cầu nguyện về "ngày Inhă,” chúng ta đă biết giầu có, danh vọng và kiêu ngạo là những cạm bẫy của thần dữ; và nghèo khổ, sỉ nhục là con đường đích thực mà Chúa Giêsu dạy chúng ta.

Chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được yêu Chúa Giêsu đến độ xin chọn nghèo và sỉ nhục với Ngài chưa?

b. Thái độ của tôi đối với nghèo và sỉ nhục

Tinh thần nghèo khó, là không bám víu vào tạo vật, dù là tiền bạc hay ai đó; Xin ơn nghèo tinh thần, tức là xin Chúa ơn không bám víu vào tiền bạc hay bất cứ một tạo vật nào.

Con người có bản năng được tôn trọng. Xin ơn được sỉ nhục,[20] là tự hủy, là từ bỏ chính ḿnh với ư riêng và tất cả con người của ḿnh.

Chúa Giêsu nói: "phúc cho các ngươi là kẻ nghèo ... khốn cho các ngươi là kẻ giầu" (Lc 6:20.24), "phúc cho các ngươi khi người ta sỉ mạ, nói xấu các người đủ điều v́ cớ Ta và v́ Tin Mừng, hăy hân hoan v́ phần thưởng của các ngươi lớn thật ở trên trời" (Mt 5:11-12; Lc 6:22).

Chúng ta có tin lời Đức Giêsu là chân lư, và chúng ta có muốn sống theo Lời Ngài không? Nếu chúng ta tin thật, ắt chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được ơn sỉ nhục và ơn nghèo thực sự! Nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều th́ chắc chúng ta đă dám xin cho được đồng h́nh đồng dạng với Ngài, ngay cả trong nghèo và sỉ nhục khinh chê.

c. Dứt khoát với quyến luyến lệch lạc

Cái ǵ là mười ngàn ducats của tôi?

Mười ngàn ducats của tôi có thể không là tiền bạc, nhưng có thể là tương quan với ai đó, hay một địa sở, một nghề nghiệp, một công việc, một tặng vật nào đó, v.v.

Trong qúa khứ tôi ở mẫu người thứ mấy?

Và hiện tại tôi ở mẫu người thứ ba không?

d. Mức độ t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa

Không phạm tội trọng, không muốn làm mất ḷng Chúa và b́nh tâm, yêu Chúa đến độ muốn trở nên giống Chúa trong khó nghèo khổ nhục: đó là ba cấp độ của t́nh yêu (LT 165-167). Tôi có muốn được liệt vào số những người muốn trổi trang trong việc phụng sự Chúa, tức những người yêu Chúa trong cấp độ khiêm nhường thứ ba không? Tôi có chọn nên giống Chúa Giêsu hơn không, nghĩa là chọn nghèo với Chúa nghèo hơn là được giầu sang, chọn bị sỉ nhục và khinh chê với Đức Giêsu bị sỉ nhục và khinh chê hơn là được tôn trọng, chọn bị coi là ngu dại với Chúa Kitô bị coi là ngu dại hơn là được coi là khôn ngoan thông thái ở đời không?


CHỌN LỰA

Chọn lựa bậc sống là việc rất quan trọng, nên cần có nhiều giờ cầu nguyện và cần nhiều giờ thinh lặng hơn trước; thế nên hăy thu xếp để có những ngày tĩnh tâm trọn vẹn nếu bạn đang làm linh thao trong cuộc sống thường ngày.

Từ muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài c̣n để ư lưu tâm đến từng cử chỉ hành vi biến cố của tôi (Tv 139 Lc 12:6-7); chính v́ thế trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi "Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?”

Nếu ngay cả việc "đi đứng nghỉ ngơi" Chúa đều biết, th́ huống hồ về bậc sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa đă có chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn gọi và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă tạo dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.

Lời mời gọi "sống đời sống nào đó" có thể được biểu lộ nơi ḷng ao ước sống đời sống đó, hoặc có những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa muốn. Nếu một người khao khát sống bậc sống dâng hiến với ư hướng ngay lành[21], ḷng khao khát đó có thể là dấu chỉ cho thấy Chúa gọi người đó. Nếu khát vọng này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́ càng cho thấy "người đó được Chúa gọi" cách chắc chắn hơn. Nếu trong đời người đó có những biến cố khách quan mà người đó xác tín rằng đó chính là Chúa bảo vệ để gọi họ, th́ càng chắc chắn hơn nữa rằng "Chúa gọi họ.”

Để làm việc lựa chọn được đúng đắn và chính xác, nghĩa là quyết định theo điều Chúa muốn chứ không phải theo ư riêng xác thịt của ḿnh, th́ ta phải b́nh tâm thực sự. Nếu không b́nh tâm th́ không thể chọn lựa đúng được. Như vậy không phải ai cũng làm việc lựa chọn được, mà chỉ những người đă đạt được sự b́nh tâm thực sự, tức là những người chỉ muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài thôi, chứ không t́m hoặc muốn làm theo ư ḿnh. Những người làm việc lựa chọn mà không b́nh tâm, th́ cuộc chọn lựa ấy không được coi là cuộc chọn lựa có giá trị!

Nếu chúng ta biết rơ ư định Chúa cho chúng ta, chúng ta không được làm việc lựa chọn nữa, đây là trường hợp đă xảy ra cho thánh Phêrô hoặc Phaolô. C̣n nếu chúng ta không thấy rơ ràng đâu là ư định của Thiên Chúa về bậc sống chúng ta phải theo, th́ chúng ta sẽ dùng trí khôn Chúa ban để suy xét và cân nhắc lợi và hại của từng bậc sống mà chúng ta phải chọn lựa, theo khả năng Chúa ban cho chúng ta. Nếu lư trí của chúng ta thấy và nghiêng chiều về bậc sống nào, th́ ḿnh sẽ chọn bậc sống đó để làm vinh danh Chúa hơn.

1. Lựa chọn theo thánh Inhaxiô

Lựa chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là quyết định theo ư thích của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên Chúa về ḿnh.

Lựa chọn bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó,[22] nhưng Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó.

2. Điều kiện để làm việc lựa chọn tốt

Trong sách Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập đến ba thời để làm việc lựa chọn; trong thời thứ ba, thánh Inhaxiô nói tới hai cách làm việc lựa chọn. Tuy vậy chúng ta nên cẩn thận, không phải ai cũng làm việc lựa chọn "đúng đắn" được, nhưng chỉ những người có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người và vũ trụ, cũng như họ phải b́nh tâm thực sự, th́ họ mới có thể lựa chọn "đúng đắn" được.[23]

a. Nhận thức đúng đắn về mục đích đời người

Để làm việc lựa chọn tốt, cần ư thức rơ mục đích đời người: Thiên Chúa tạo dựng con người để con người sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn sự được tạo dựng như phương tiện để giúp con người đi tới với Thiên Chúa.

b. B́nh Tâm

B́nh tâm là một điều kiện cần thiết để làm việc lựa chọn đúng đắn và chính xác: chọn lựa theo điều Chúa muốn chứ không phải theo ư riêng ḿnh thích.

Nếu không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa đúng đắn được. Như vậy, chỉ nên cho những người "b́nh tâm" được làm chọn lựa, tức là những người chỉ muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc muốn làm theo ư ḿnh.[24]

3. Về lựa chọn[25]

Đă là người, sống th́ phải lựa chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư chí.

a. Nhận ra ư Chúa về đời ḿnh

Con người có lư trí.

Để sống hạnh phúc, đối với chính ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong tương quan với Thiên Chúa con người cần thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.

Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu thương và luôn muốn con người sống hạnh phúc.

Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi thấy bậc sống này giúp tôi sống triển nở và hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu xa con người tôi mà bậc sống khác không thể đáp ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa gọi tôi.

b. Dứt khoát chọn

Biết và làm, đôi khi không trùng khít với nhau nơi nhiều người. "Tri hành bất nhất,” làm cho con người không được hạnh phúc.

Thiên Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả năng thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa muốn ai thực hiện điều ǵ đó, th́ người đó không thể nói "lực bất ṭng tâm.” Như vậy, nếu một người thấy rơ ḿnh không thể làm điều ǵ đó, hoặc không thể tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có khả năng làm điều đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn điều đó cho họ.

Khả năng sống điều ḿnh xác tín, cho thấy điều xác tín có thể là Ư Chúa đối với họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay thấy rằng) họ được Thiên Chúa gọi sống đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc sống cụ thể họ phải cảm thấy sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống dâng hiến. Không có khả năng sống đời sống dâng hiến "một cách triển nở và hạnh phúc,”[26] là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn người đó sống đời dâng hiến.

4. Dấu chỉ việc lựa chọn được làm đúng

Nếu chúng ta làm việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu chúng ta chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản ánh tương quan tốt với Thiên Chúa.

Một cách cụ thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt, chúng ta sẽ:

cầu nguyện tốt, ít nhất là bằng thời gian trước khi chọn lựa;[27]

vui hơn;

b́nh an, thư thái, hạnh phúc hơn.

5. Chọn lựa

Dựa vào LT 175-188 để làm cuộc lựa chọn.

 

Lưu ư:

Không giới hạn thời gian dành cho việc chọn lựa.

Hiện đang ở bậc sống nào th́ giữ nguyên bậc sống đó, nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống trong bậc sống khác. Nói cách khác, không thấy rơ th́ không quyết định.

Ở một nghĩa nào đó, không quyết định cũng là một cách quyết định!

Thời gian sau chọn lựa: phải chú ư xét ngắm cẩn thận xem trong những lần cầu nguyện sau khi làm việc lựa chọn, ḿnh cầu nguyện có tốt không? Nếu thấy tốt bằng hoặc tốt hơn, th́ đó là dấu chỉ ḿnh đă làm cuộc lựa chọn đúng đắn, tốt lành. C̣n nếu không, hoặc cảm thấy bất an, th́ e rằng ḿnh làm cuộc lựa chọn không tốt chăng? (Xem LT 176). Dĩ nhiên nếu cầu nguyện không được v́ một lư do nào khác, th́ không thể khẳng định như trên.

6. Sau chọn lựa

a. Tâm t́nh tạ ơn (Lc 17:11-19)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu khi những người phong cùi được Chúa sai gởi đi tŕnh diện thượng tế.

Ơn xin: Nhận biết những hồng ân Chúa ban cho trong suốt đời ḿnh, đặc biệt trong những ngày này và trong cuộc lựa chọn này.

i. Thảm trạng xă hội của người phong cùi: không tương quan, đau khổ, v.v. Đức Giêsu sai họ đi tŕnh diện, và họ đă vâng nghe (lúc này họ chưa thấy họ được khỏi).

ii. Một người thấy ḿnh được khỏi, lập tức trở lại tạ ơn Đức Giêsu, tuyên xưng kỳ công Chúa làm cho anh

Qua điều này, anh ta c̣n được điều khác quư hơn cả việc được khỏi bệnh: được tin vào Đức Giêsu.

iii. Những người khác không được khỏi ư?

Sau khi tŕnh diện tư tế, 9 người kia có trở lại gặp gỡ Đức Giêsu và tạ ơn Ngài không?

Nếu họ trở lại, gặp gỡ Đức Giêsu, họ sẽ c̣n được nhiều hơn họ đă được.

Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin cho con đừng vô ơn, hoặc giả mù không nhận biết bao hồng ân Chúa đă ban cho con, và những ơn này c̣n lớn hơn cả những ơn "chữa lành bệnh cùi" nữa.

b. Chúa vẫn trung thành măi

Như ḿnh đang hiện diện trước ngai ṭa Thiên Chúa và triều đ́nh thần thánh: Thiên Chúa yêu thương tôi, Ngài luôn lưu tâm để ư đến tôi.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm Thiên Chúa là ai? Là Đấng vô cùng trung tín, Ngài luôn bảo vệ những người Ngài yêu thương, Ngài luôn chăm sóc và ban nhiều ân sủng.

i. Hoặc dựa vào bài hát “T́nh Chúa trung kiên” hoặc dựa vào lịch sử dân Israel và lịch sử đời ḿnh, để nhận ra t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh.

ii. Người mẹ nào đành bỏ con ḿnh, cạn t́nh cùng kẻ ḿnh đă sinh, nhưng dù có ai giết chết t́nh yêu của mẹ đối với con, th́ Ta vẫn ngàn đời trung tín, không bao giờ quên kẻ Ta xót thương.

Tâm sự với Thiên Chúa, Đấng đă yêu ḿnh nơi Đức Giêsu Kitô vác thập giá. Xin cho con được b́nh an, hạnh phúc.

 



ĐƯỜNG T̀NH YÊU

Tuần thứ ba của Linh Thao cầu nguyện về Đức Giêsu chịu khổ h́nh. Đức Giêsu đối diện biến cố khổ nạn với tất cả sự run en sợ sệt như chúng ta mọi đàng, nhưng Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu thương Cha và yêu thương con người.

Cố gắng đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời tại thế này. Ngài tê tái ḷng biết bao khi thấy một người thân yêu sẽ phản bội và nộp Ngài: t́nh yêu của Ngài bị từ khước, bị phản bội. Ngài đă ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt trong vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho đến chết mà không một lời oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu, và ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà Đức Giêsu đă chấp nhận tất cả những sự ấy.

T́nh yêu không hoàn toàn được diễn tả bằng lời nói nhưng chủ yếu bằng việc làm. Trong cuộc sống tại thế này, dường như thập giá gắn liền với t́nh yêu: thập giá là cách thế tuyệt diệu diễn tả t́nh yêu. Không thể hiểu được thập giá nếu không nh́n trong nhăn quan t́nh yêu.

1. Mục đích yêu cầu

Hiểu Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn. Chúa đă chết v́ yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái độ nào đối với Người yêu tôi dường ấy?

Xin cho ḿnh hiểu nỗi đau buồn của Chúa (Ga 13; Mc 14); tại sao Chúa phải chịu đau khổ cô đơn[28] như vậy? Phải chăng Chúa chịu tất cả những điều đó v́ yêu thương tôi vô cùng?

Xin cho ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa đối với ḿnh; xin cho ḿnh yêu lại Chúa đến độ ao ước được chia sẻ nỗi đau buồn của Chúa, muốn được đồng h́nh đồng dạng với Đấng yêu thương ḿnh vô cùng như vậy.

Thánh Inhaxiô dạy: “xin cho ḿnh được đau đớn, hối hận và xấu hổ, v́ chính bởi tội tôi mà Chúa phải bị khổ h́nh như vậy” (LT 193); “xin cho ḿnh được đau đớn với Chúa Kitô thống khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô tan nát tâm hồn, được ơn khóc lóc và đau đớn trong ḷng v́ bao đau đớn mà Chúa Kitô đă chịu v́ tôi” (LT 203).

2. Bản văn Kinh Thánh

Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau, hoặc dùng những đoạn nào theo như ḿnh thấy thích hợp:

·       Âm mưu giết Đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);

·       Làm sao Ta có thể quên ngươi (Hs 11:1-9);

·       Ta tự ḿnh hiến mạng sống Ta (Ga 10:17-31);

·       Yêu thương là phục vụ (Ga 13:1-17);

·       Yêu thương là hiến dâng (Lc 22:14-20);

·       Hăy tin Thầy, hăy yêu Thầy (Ga 14:1; 15:9);

·       Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17);

·       Báo trước Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31);

·       Đức Giêsu chiến đấu với chính ḿnh ở vườn dầu (Mc 14:32tt);

·       Yuđa nộp Thầy bằng “dấu chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);

·       Đức Giêsu bị xử trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);

·       Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72);

·       Đức Giêsu bị xử trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);

·       Đức Giêsu trước ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);

·       Con đường t́nh yêu (Mc 15:15-32);

·       Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41);

·       Đức Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27);

·       Chứng nhân thinh lặng;

·       Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47);

·       Tâm t́nh của những người yêu thương Đức Giêsu trong những ngày khổ nạn;

·       Tv 22;

·       Đức Giêsu, người tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12);

·       Đức Giêsu chu toàn sứ mạng dù phải chết thập giá (Pl 2:6-11).

3. Gợi ư cầu nguyện về t́nh yêu Thiên Chúa

Yêu ai th́ quan tâm đến người đó, săn sóc họ, có ǵ th́ chia sẻ với người đó, có thể chia sẻ những ǵ là vật chất, và cũng có thể chia sẻ cả những ǵ là tinh thần.

Yêu là cho đi, là ban tặng, là hiến dâng. Có thể tặng một bông hoa, cũng có thể tặng một kỷ vật đắt giá, và cao đỉnh có thể trao tặng chính bản thân ḿnh, mạng sống của ḿnh, để người ḿnh yêu được sống và sống hạnh phúc.

Yêu ai, th́ muốn ở gần người đó, muốn chia sẻ tâm tư t́nh cảm để trở nên một với người đó. T́nh yêu hướng tới duy nhất!

Thiên Chúa yêu tôi vô cùng, Ngài đă ban Con Một Ngài cho tôi qua mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Đức Giêsu yêu tôi đến mức độ hiến mạng sống để tôi được sống. Chúa Cha và Chúa Giêsu Phục Sinh yêu tôi nên đă ban Thánh Thần cho tôi, và hiện tại Ba Ngôi Thiên Chúa đang ở với tôi!

Những bản văn trong Tin Mừng theo thánh Gioan mà chúng ta dựa vào đó để cầu nguyện, được xem như những lời trối trăn của Đức Giêsu đối với những người Ngài yêu thương nhất. Như vậy, chúng ta phải đọc những đoạn văn đó trong tâm t́nh "lời cuối" của người yêu.

Hăy cố gắng hiểu, đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu, hiểu t́nh yêu của Ngài đối với các tông đồ đến thế nào. Tâm t́nh của Đức Giêsu đối với các tông đồ, cũng chính là tâm t́nh của Ngài đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta phải có thái độ tâm t́nh thế nào để đáp ứng lại t́nh yêu đó?

a. Làm sao Ta có thể quên được ngươi (Hs 11:1-9)

Như ḿnh đang hiện diện trước Thiên Chúa đang yêu thương và bao bọc ḿnh.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm bằng con tim t́nh yêu của Thiên Chúa Yavê đối với dân Israel, và cũng cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu tôi như yêu dân Israel vậy.

i. Hoặc đọc chậm chậm đoạn Kinh Thánh và dừng lại suy nghĩ những câu nào thấy muốn hoặc được đánh động, chẳng hạn: làm sao Ta có thể quên được ngươi (c.8), ruột gan Ta bồi hồi (c.8);

ii. Hoặc lược lại lịch sử dân Israel: biến cố Chúa gọi Abraham, Môsê, Xuất hành, đi trong sa mạc, ban các tiên tri, lưu đày, trở về, v.v.

Tâm sự với Thiên Chúa, Đấng yêu tôi vô cùng.

b. Yêu đến độ đă ban Con Một Người (Ga 3:16-21)

Như ḿnh đang hiện diện trên đồi Calvê, nh́n Chúa Cha ở bên Đức Giêsu bị treo thảm thương trên thập gía.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu của Thiên Chúa đối với thế gian và cách riêng đối với tôi, đến độ Đức Giêsu là quà tặng Thiên Chúa ban cho tôi, và Ngài chết v́ tôi.

i. Làm sao để biết ḿnh được yêu?

Người yêu cho người được yêu những ǵ họ có, cho tất cả.

ii. Thiên Chúa đă ban chính Ngài cho tôi: Con Một. Thiên Chúa đă đánh đổi tất cả để được tôi, để tôi nhận biết t́nh yêu của Ngài đối với tôi, và để tôi đáp trả t́nh Ngài.

Tâm sự với người vô cùng "si t́nh" là Thiên Chúa.

c. Thánh Thần- bằng chứng t́nh yêu (1Ga 4:8-16)

Như ḿnh đang hiện diện trong biến cố Thánh Thần tỏ hiện quyền năng trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm t́nh Chúa với ḿnh.

i. Chúa Giêsu là bằng chứng t́nh yêu

Thiên Chúa ban Con của Ngài cho con người, cho tôi.

Chúa Giêsu ban chính ḿnh Ngài cho tôi qua bí tích Thánh Thể.

ii. Thánh Thần là bằng chứng t́nh yêu (1Ga 4:13)

Chúa Cha ban Thánh Thần cho tôi.

iii. Thiên Chúa Ba Ngôi ở nơi tôi (Ga 14:23.16; 1Cr 3:16)

Thiên Chúa Cha ở với tôi. Cả Ba Ngôi luôn ở với tôi, ở trong tôi, v.v.

Tâm sự với Thiên Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng.

d. Tự hiến mạng sống (Ga 10:17-31)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu khi Ngài rao giảng cho dân chúng và các môn đệ trong tuần lễ cuối cùng của đời tại thế.

Xin ơn cảm nghiệm t́nh yêu của Đức Giêsu đối với tôi đến độ Ngài sẵn sàng hiến mạng sống v́ tôi.

i. Không ai có quyền trên mạng sống của Đức Giêsu (Ga 10:18)

ii. Đức Giêsu yêu tôi vô cùng

Tôi có chỗ trong tim Ngài, Ngài muốn hy sinh mạng sống để tôi được sống măi.

Cha yêu thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Hăy ở lại trong t́nh yêu của thầy (Ga 15:9)

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng muốn hiến mạng sống Ngài cho tôi, để tôi được sống.

e. Bí tích T́nh Yêu (Lc 22:14-20)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm được T́nh Yêu Đức Giêsu đối với tôi qua bí tích ThánhThể.

i. Yêu là cho tất cả, ngay cả chính bản thân và mạng sống ḿnh

Ḿnh Ta là thật của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi th́ được sống đời đời.

ii. Thân xác Đức Giêsu trở nên của ăn, của uống, để ta được sống, được lớn lên, được sống hạnh phúc

Này là ḿnh thầy, này là máu thầy!

Sáng kiến t́nh yêu, sáng kiến tuyệt vời.

iii. Đức Giêsu làm tất cả v́ t́nh yêu

T́nh yêu của Giêsu đối với Cha và đối với từng người chúng ta: vô cùng.

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng đă yêu chúng ta vô cùng, đến độ ban chính ḿnh người cho ta.

f. Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với các tông đồ trong bữa tiệc ly.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nhận t́nh yêu của Đức Giêsu đối với tôi.

i. Như cha đă yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu anh em (Ga 15:9)

Cố gắng hiểu và đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu khi Ngài nói như vậy. Đức Giêsu nói những lời này trước ngày chết.

T́nh yêu được diễn tả qua chính cuộc sống, thái độ sống, v.v.

ii. Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy

Chúa yêu tôi đến chết thay cho tôi. Ngài yêu tôi vô cùng. Ngài muốn tôi yêu mến Ngài. Ngài năn nỉ tôi yêu Ngài.

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng đă yêu tôi và chết v́ tôi, chết để tôi được sống.

g. Điều tốt nhất cho người yêu (Ga 17:1tt)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly, khi Chúa nói những lời cuối cùng.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu tâm t́nh và t́nh yêu của Đức Giêsu đối với các tông đồ được thể hiện qua lời Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha.

Điểm gợi ư:

Đọc chậm chậm bản văn, dừng lại suy nghĩ và tâm sự với Chúa Giêsu và Chúa Cha. Tất cả được xoáy quanh người ḿnh yêu "các tông đồ.” Đức Giêsu luôn muốn điều tốt cho các tông đồ, và muốn cho các ngài tất cả. Ngài ở đâu, họ cũng được ở đó. Điều Đức Giêsu muốn cho các tông đồ, cũng chính là điều Ngài muốn cho tôi.

Cố gắng đi vào tâm t́nh của Chúa Giêsu.

Tâm sự, thân thưa với Chúa Chúa Giêsu, Đấng đă yêu mến các tông đồ và tôi vô cùng.

h. T́nh yêu qua phục vụ (Ga 13:1-17)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với các tông đồ và Đức Giêsu trong bữa tiệc ly.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh sống t́nh yêu qua hành vi phục vụ người yêu.

i. Đức Giêsu biết đă đến giờ Ngài phải qua khỏi thế gian mà về cùng Cha... Ngài đă yêu thương họ đến cùng (Ga 13:1-2)

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu. Đi vào ḷng Ngài.

ii. Ngài rửa chân cho các tông đồ

Con người đến để phục vụ và thí mạng làm giá chuộc cho nhiều người, chứ không phải để được phục vụ.

Tất cả để người yêu được hạnh phúc.

Cả đời Đức Giêsu là phục vụ.

Tâm sự với Chúa, Đấng đă hủy ḿnh ra không v́ t́nh yêu và phục vụ con.

i. Hăy yêu nhau như Thầy yêu (Ga 13:31-35)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe những lời trăn trối của Đức Giêsu.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh biết yêu anh em như Chúa dạy.

i. Đă yêu những kẻ thuộc về Người c̣n trong thế gian th́ Ngài yêu thương họ đến cùng ... (Ga 13:1)

Cố gắng hiểu tâm t́nh Đức Giêsu lúc này.

ii. Hăy yêu thương nhau

Những lời cuối cùng, là những lời trối trăn, là những lời vô cùng quan trọng.

iii. Như Thầy đă yêu thương anh em

Đức Giêsu là tiêu chuẩn, là mẫu. Không phải là yêu thương anh em như chính ḿnh.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được yêu Chúa yêu người như Chúa muốn.

j. Hăy tin vào tôi, hăy yêu tôi (Ga 14:1tt)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe những lời trăn trối của Đức Giêsu.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh yêu Chúa hết linh hồn hết trí khôn.

i. Hăy tin vào tôi (Ga 14:1tt)

Chúa xin ḿnh tin vào Chúa. Tin vào Chúa mới được sống, mới hạnh phúc được.

ii. Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy (Ga 15:9)

Chúa xin ḿnh yêu Chúa, và ở lại trong t́nh yêu của Ngài. Hăy để cho Ngài yêu tôi.

Thiên Chúa cần con người tin và yêu Ngài! Thiên Chúa cần tôi yêu Ngài! Ngài yêu tôi vô cùng nên mới nói những lời như vậy.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được tin và yêu Chúa với tất cả con người.

k. Hăy kết hiệp làm một với Thầy (Ga 15:1-8)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe những lời trăn trối của Đức Giêsu.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh được đồng h́nh đồng dạng với Ngài, kết hiệp làm một với Ngài.

i. Đồng tâm nhất trí, một ḷng một ư .... là dấu chỉ t́nh yêu

Là một với Đức Giêsu. Như cành kết hợp với thân. Tách khỏi thân th́ không thể sinh trái, và sẽ chết.

ii. Không có Thầy anh em không làm ǵ được

Không thể làm ǵ nếu không có Chúa, nếu không làm trong Chúa.

iii. Hăy ở lại trong Thầy ... muốn ǵ cứ xin, và sẽ thấy thành sự

Đức Giêsu muốn cho chúng ta tất cả, tất cả những ǵ chúng ta muốn, tất cả những ǵ tốt nhất đối với Thiên Chúa.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được kết hiệp là một với Chúa trong mọi sự.

l. Ta đă thắng thế gian (Ga 16:16-33)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ.

Xin ơn tin yêu phó thác tuyệt đối nơi Đức Giêsu và Thiên Chúa.

i. Bây giờ các ngươi phải ưu phiền

Đức Giêsu lo cho những kẻ Ngài yêu. Ngài chặn trước Ngài ngừa sau, Ngài lo để những người Ngài yêu không tuyệt vọng.

ii. Điều ǵ các ngươi xin cùng Cha, sẽ được ban nhân danh Ta

Muốn ǵ cũng được. Ngài sẽ ban cho. Ngài không giữ lại ǵ cả.

iii. Hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian

Đừng sợ. Ngài đă thắng thế gian.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được tin tưởng phó thác tuyệt đốt vào Thiên Chúa, để được b́nh an trong mọi biến cố.

Ghi chú

Cố gắng xét ngắm sau mỗi lần cầu nguyện thật cẩn thận, v́ chỉ khi nhận ra những thiếu sót sai lầm th́ ḿnh mới có thể sửa đổi, và như vậy mới có thể cầu nguyện tốt hơn trong những lần cầu nguyện kế tiếp.

Xét ngắm không chỉ là t́m xem ḿnh đă có những lỗi nào khi cầu nguyện, nhưng chính yếu là t́m nguyên do tại sao ḿnh cầu nguyện không được?! Và sau đó để sửa.

Nên viết lại kinh nghiệm cầu nguyện, và điều này sẽ giúp thấy rơ ḿnh hơn, cũng như thấy rơ những hồng ân Chúa ban cho ḿnh.

Mỗi một giai đoạn, khi đă kết thúc, phải được lượng giá. Và kết mỗi ngày, cũng nên lượng giá, để nhận ra những hồng ân và lầm lỗi của ḿnh, để tạ ơn và xin lỗi Chúa.


4. Đức Giêsu chấp nhận thập giá v́ yêu

Thập giá là điều trái ư, cái mà ta không muốn.

Trong cuộc sống tại thế này, dường như thập giá "gắn liền" với t́nh yêu. Chúng ta không thể hiểu, không thể chấp nhận tại sao Đức Giêsu phải chịu đau khổ và chịu chết, nếu chúng ta không nh́n thập giá trên quan điểm t́nh yêu. Chính v́ yêu chúng ta vô cùng, mà Chúa Giêsu đă hiến mạng sống ḿnh cho chúng ta. Cầu nguyện không được, phần lớn là do tại ta, nhưng cũng có thể đó là thập giá Chúa muốn chúng ta chấp nhận như dấu chứng t́nh yêu đối với Thiên Chúa: chúng ta cầu nguyện v́ yêu Ngài, chứ không phải để được "an ủi" mà chúng ta cầu nguyện.

Cố gắng đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời tại thế của Ngài. Ngài tê tái cả ḷng khi biết một kẻ thân yêu sẽ phản bội và nộp Ngài, Ngài buồn v́ t́nh yêu bị từ khước, Ngài ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt trong vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho đến chết mà không một lời oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu, và tâm niệm rằng chính v́ tôi và cho tôi mà Ngài đă chịu tất cả những sự ấy.

Chúng ta phải có thái độ như thế nào đối với Người đă yêu ta và chết v́ ta như vậy? Hăy có cùng tâm t́nh với Đức Giêsu, Đấng đă yêu ta vô cùng và làm tất cả cho ta và v́ ta?!

Giữ các điều phụ thêm là cách biểu lộ ḷng quảng đại đối với Chúa. Có thể nhận biết ḿnh đă yêu Chúa thực sự chưa, qua việc ḿnh có giữ các điều phụ thêm trong Linh Thao không?

a. Âm mưu giết Đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11)

Như ḿnh đang hiện diện thấy những người có quyền hành trong dân Do thái khi họ âm mưu giết Đức Giêsu trong dịp lễ Vượt Qua.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nhận tội là nguyên nhân của sự dữ. Ngay từ khi Lời nhập thể giáng sinh, Ngài đă phải gánh chịu hậu quả tội con người.

i. Mưu giết Đức Giêsu! Tại sao?

Ghen ghét, thấy Đức Giêsu hơn họ.

Họ thấy Đức Giêsu phạm thượng, nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa, là Thiên Chúa (tha tội, có trước Abraham, là một với Cha, ngự bên hữu Thiên Chúa).

ii. Đức Giêsu, tâm t́nh thái độ và cung cách hành xử, trước âm mưu này!

Con người tự do làm thiện hay làm ác. Đức Giêsu đâu thể làm khác được! Phải chịu, chấp nhận cách tự do.

Ngài vẫn yêu thương tất cả, và từng người, kể cả người muốn giết Ngài.

Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng yêu con người vô cùng, nhưng bị con người từ chối.

b. Báo biến cố Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31)

Như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly, sau khi lập bí tích Thánh Thể, gần tàn tiệc.

Xin ơn chia sẻ nỗi buồn đau của Đức Giêsu khi biết ḿnh sẽ bị chối, bị phản bội.

Điểm gợi ư:

Nh́n, nghe, quan sát những hành vi, lời nói và cung cách hành xử của Phêrô và của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly, để suy nghĩ và rút ích lợi.

Dù những kẻ này bỏ Thầy, nhưng con nhất định là không.

Dù phải chết con cũng không chối Thầy …!

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng bị từ chối.

c. Đức Giêsu ở vườn dầu (Mc 14:32-42)

Như ḿnh đang hiện diện ở vườn dầu, với Đức Giêsu và các tông đồ.

Xin ơn được chia sẻ nỗi buồn sợ với Chúa, xin cho ḿnh được nghèo và chịu sỉ nhục v́ t́nh yêu đối với Chúa Giêsu.

i. Ngài kinh hoảng và âu sầu

Tâm hồn thầy buồn phiền qúa đỗi muốn chết được (c.34).

Mồ hôi như máu nhỏ xuống đất (Lc 22:44).

ii. Đức Giêsu cầu nguyện, các tông đồ ngủ vùi

Anh không thức với thầy được một giờ sao? Tinh thần th́ nhanh nhẹn nhưng xác thịt th́ yếu nhược.

Tâm sự với Đức Giêsu, xin cho con cũng biết chiến đấu như Ngài, cam chịu thập giá và những thất bại trong cuộc đời.

d. LT 200 tt.

Cầu nguyện như trong sách Linh Thao hướng dẫn.

e. Yuđa nộp thầy bằng nụ hôn (Mc 14:43-52)

Như ḿnh đang hiện diện trong vườn dầu cùng với Đức Giêsu.

Xin ơn được hiểu, yêu, và theo Đức Giêsu hơn; xin ơn nên giống Ngài trước phản bội của những người ḿnh yêu.

Điểm gợi ư:

Tự bây giờ trở đi không ghi điểm, nhưng phải hiểu là sẽ cầu nguyện với cùng cách thức như đă chỉ trong LT 194-197.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống Ngài mỗi ngày một hơn, cụ thể chấp nhận thập giá trong đời ḿnh.

f. Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72)

Như ḿnh đang hiện diện với Chúa, khi Ngài bị trói ở sân dinh Anna.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh biết tha thứ và bao dung như Đức Giêsu đối xử với Phêrô qua ánh mắt cái nh́n.

Điểm gợi ư:

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

“Tôi không biết người đó.” Phêrô, đă chối, đă nói như vậy ba lần.

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng dù trong hoàn cảnh như vậy, vẫn yêu thương và c̣n thời gian và tâm t́nh để nh́n tha thứ cho Phêrô.

g. Đức Giêsu trước ṭa Do thái (Mc 14:53-65)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu bị xét xử tại công nghị Do Thái.

Xin ơn cảm nghiệm được sự nhục nhă theo nghĩa loài người mà Đức Giêsu phải chịu, và xin có cùng thái độ và tâm t́nh như Đức Giêsu trước mọi biến cố trong cuộc đời ḿnh.

Điểm gợi ư:

i. Tội mà Đức Giêsu phải chết đối với người Do Thái

Ông có phải là Đấng Kitô không? Rồi các ông sẽ thấy con người đến trên đám mây ngự bên hữu Đấng tối cao!

Với công nghị Do Thái, đây là tội vô cùng lớn, phải xử tử v́ nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa.

ii. Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự với Chúa bị xét xử, xin cho con được chia sẻ với Chúa trong mọi sự.

h. Đức Giêsu trước ṭa Philatô (Lc 23:1-7)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu trước ṭa Philatô (lần thứ nhất).

Xin ơn được nên giống Chúa, b́nh tĩnh và tự do nội tâm trước mọi nghịch cảnh.

Điểm gợi ư:

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu trước ṭa Philatô, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng bị sỉ nhục v́ yêu tôi.

i. Đức Giêsu trước ṭa Hêrôdê (Lc 23:8-12)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu trước ṭa Herode, người muốn bêu nhục Đức Giêsu.

Xin ơn chấp nhận nhục nhă trong cuộc đời như Đức Giêsu là Thiên Chúa mà đă bị con người hạ nhục như vậy.

i. Herode ṭ ṃ muốn biết về Đức Giêsu

Hêrôđê muốn Đức Giêsu làm phép lạ như đă từng nghe. Đức Giêsu lặng yên trước những câu hỏi của Herode. Tại sao?

ii. Hêrôđê chê Thiên Chúa nhập thể là dại dột!

Đức Giêsu không cần lấy ḷng ai để được lợi ích cho ḿnh. Điều Ngài bận tâm là cứu độ con người, mặc khải chân tướng của Ngài cho con người.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống Chúa trong khó nghèo sỉ nhục v́ t́nh yêu đối với Chúa.

j. Trước ṭa Philatô lần II (Lc 23:13-25; Ga 18:33-19:16)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu trước ṭa Philatô.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được nên giống Chúa trước những thử thách, nhục nhă và vu oan.

Điểm gợi ư:

i. Những vu cáo của tư tế, biệt phái và kư lục để kết tội Đức Giêsu

Ở ṭa công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị kết án tội phạm thượng (đ̣i ngang bằng Thiên Chúa). Trước ṭa Philatô, người Do Thái tố Đức Giêsu tội muốn làm vua (nổi loạn chống hoàng đế Roma), v́ với tội này Đức Giêsu sẽ bị xử tử.

ii. Tội thực của Đức Giêsu?

Đối với người Do Thái, Đức Giêsu phạm tội vô cùng nặng, đó là nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đây là sự thật: Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người. Đây là mặc khải vô cùng lớn. Qua mặc khải này, người ta mới biết Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào. Có như vậy, con người mới được b́nh an, và chắc ḿnh được cứu độ.

Tâm sự với Chúa, Đấng đang ở điển tận cùng của mầu nhiệm tự hủy.

k. Đức Giêsu bị đánh đ̣n (Mc 15:15)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu bị cột trói và bị đánh đ̣n.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh chấp nhận đau khổ v́ yêu Chúa, xin cho ḿnh được đồng h́nh đồng dạng với Chúa.

Điểm gợi ư:

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được yêu Chúa đến mức độ muốn chia sẻ nỗi buồn đau ô nhục của Chúa, để Chúa bớt đau khổ hơn.

l. Đức Giêsu đội măo gai (Mc 15:16-20)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu bị đội ṿng gai và bị chế giễu.

Xin ơn được chia sẻ nỗi buồn đau với Chúa, được đồng h́nh đồng dạng với Chúa.

Điểm gợi ư:

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được yêu Chúa và chia sẻ nỗi buồn đau với Chúa.

m. Đức Giêsu vác thập giá (Mc 15:21)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với Đức Giêsu vác thập giá trên con đường dẫn ra g̣ sọ.

Xin ơn được được hiểu Chúa hơn và yêu Chúa hơn, để theo Ngài hơn. Hiểu nỗi đau và mệt nhọc cùng sỉ nhục Chúa chịu, để được đánh động bởi t́nh yêu Ngài đối với tôi.

Điểm gợi ư:

Có thể dựa vào Mc 15:21tt để cầu nguyện, hoặc dựa theo các chặng đàng thánh giá để cầu nguyện.

Những lần ngă v́ kiệt sức. Gặp Đức Mẹ. An ủi dân thành Giêrusalem, v.v.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được chia sẻ nỗi buồn đau và sỉ nhục với Chúa v́ t́nh yêu Chúa dành cho tôi và cho mọi người.

n. Đức Giêsu bị đóng đinh (Mc 15:22-32)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá trên đồi Calvê.

Xin ơn được chia sẻ nổi đau buồn, tan nát cơi ḷng với Chúa tan nát tâm hồn.

Điểm gợi ư:

Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích lợi.

Lột quần áo Chúa. Đóng đinh. Dựng thánh giá lên, v.v.

Tâm sự với chúa, Đấng bị khổ h́nh tan nát thịt da v́ tôi.

o. Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41)

Khung cảnh: Hiện diện cùng với Đức Giêsu trên thập giá ở g̣ Sọ vào buổi chiều thứ sáu hôm ấy.

Xin ơn yêu như Chúa, và có suy nghĩ thái độ cùng lời nói như Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Nh́n Đức Giêsu trên thập giá, và nghe từng lời của Ngài: Lạy Cha, xin tha cho chúng v́ chúng lầm chẳng biết.

ii. Hôm nay Ta sẽ cho ngươi ở trên thiên đàng với Ta.

iii. Này là con bà, này là Mẹ con.

iv. Ta khát.

v. Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ Con.

vi. Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha.

vii. Đă hoàn tất.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được đồng h́nh đồng dạng với Chúa, được có suy nghĩ tâm tư t́nh cảm thái độ như Chúa trên thập giá.

p. Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47)

Như ḿnh đang hiện diện khi Mẹ bồng ẵm xác con.

Xin ơn biết bằng con tim mầu nhiệm tự hủy khi Thiên Chúa nhập thể làm người, để được đánh động trước t́nh yêu Thiên Chúa đối với tôi.

Điểm gợi ư:

i. Những người đang ở với Chúa giây phút cuối cùng trên đồi Golgotha

Tâm t́nh của họ! Họ có bị khủng hoảng không?

Họ có bị thử thách về đức tin không? Thiên Chúa ở đâu? Tại sao người công chính, người tốt như vậy lại bị cư xử bất công tàn nhẫn như vậy?

ii. Đức Giêsu tắt thở! Mai táng.

Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục trên thập giá, như người bị Thiên Chúa nguyền rủa nhưng Ngài là Đấng thánh. Qua việc này, những người chết ô nhục không có nghĩa rằng bị Thiên Chúa nguyền rủa, bỏ rơi.

Tâm sự với Chúa, Đấng chết v́ tôi.

q. Tâm t́nh của người yêu thương Chúa

Khung cảnh: Chúa đă chết và đă được chôn cất.

Ơn xin: Hiểu được tâm trạng, nỗi buồn của các vị. Hiểu được t́nh yêu của các vị với Đức Giêsu và với Thiên Chúa.

Điểm gợi ư:

i. Các tông đồ gần như tuyệt vọng

Trèo cao ngă đau. Hy vọng nơi Đức Giêsu càng lớn, thất vọng càng ê chề, như thể tuyệt vọng.

ii. Các chị phụ nữ

Đức Giêsu là người vô cùng tốt, người công chính, người của Thiên Chúa. Thế mà sự việc đă xảy ra như vậy! Thiên Chúa ở đâu?

iii. Đức Mẹ vẫn xin vâng

Đức Mẹ không hiểu chương tŕnh của Thiên Chúa, nhưng vẫn tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Mẹ vẫn tin rằng lời Chúa nói cùng Mẹ sẽ được thực hiện, dù lúc này Mẹ chưa thấy.

Tâm sự với các vị, xin các vị cầu nguyện cùng Chúa giúp. Xin cho ḿnh đừng bao giờ mất tin tưởng vào Thiên Chúa.

o. Tv 22 (21)

Như ḿnh đang hiện diện trên đồi Golgotha cùng với Đức Giêsu bị treo thập giá.

Ơn xin: Cảm nghiệm cùng một tâm t́nh với Đức Giêsu trên thập giá với những đau khổ, đắng cay.

Điểm gợi ư:

Đọc chậm chậm Thánh vịnh và cầu nguyện với Đức Giêsu và với Thiên Chúa Cha.

Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được rung động trước t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, để ḿnh có thể yêu anh em theo mẫu Chúa đă dạy và đă yêu.

p. Người tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12)

Như ḿnh đang hiện diện với Chúa trên thấp giá.

Ơn xin: Cảm nghiệm được t́nh yêu của Ngài đối với tôi được biểu lộ qua việc Ngài sẵn sàng chịu tất cả v́ tôi, để giao ḥa tôi với Thiên Chúa. Xin ơn sống tất cả cho t́nh yêu và sẵn sàng chịu đau khổ trên đời v́ t́nh yêu đối với Ngài và đối với anh em tha nhân v́ Ngài.

Điểm gợi ư:

i. Cực h́nh đă làm người ta không c̣n nhận ra dung mạo của Ngài nữa

Như kẻ phong cùi. Đức Giêsu bị đánh, bị hành hạ, dung mạo Ngài bị biến dạng!

ii. Ngài bị đối xử như kẻ bị phong cùi, mọi người đều khinh bỉ Ngài

Khi làm phép lạ chữa bệnh th́ Ngài được tung hô. Giờ đây, ai muốn nhận là bạn hữu của Ngài?

iii. Ngài gánh tội cho nhiều người, chứ thực sự Ngài vô tội

Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian. Ngài là chiên vô tội. Ngài gánh tội trần gian, gánh tội tôi, Ngài chết thế cho tôi.

Tâm sự với Đức Giêsu treo trên thập giá, và nói với Ngài những ǵ đến trong tâm hồn ḿnh.

q. Chu toàn sứ mạng dù phải chết (Pl 2:6-11)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu chết treo thập giá.

Ơn xin: Cảm nghiệm t́nh Chúa đối với tôi, và xin ơn được chia sẻ với Ngài, nên giống Ngài.

Điểm gợi ư:

i. Nguồn gốc đức Giêsu: phận Thiên Chúa.

Ngài không đ̣i được cư xử như là Thiên Chúa nhưng đă nhập thể làm người.

ii. Tự hủy ra không

Nhập thể làm người là tự hủy; sinh nơi chuồng chiên cừu, sống nghèo ở Nadarét là tự hủy; và đến tận cùng như người nghèo hèn bị sỉ nhục nhất: chết trần truồng trên thập giá.

iii. Chấp nhận tất cả v́ yêu

Đức Giêsu chấp nhận cái chết, dù là cái chết nhục nhă trên thập giá, v́ yêu con người, v́ yêu Thiên Chúa. Chính v́ yêu mà Ngài nhập thể, mà đi đến tận cùng kiếp người, là chết ô nhục trên thập giá. Ai cùng khốn đến mức nào, cũng không bằng Đức Giêsu. Đức Giêsu trên thập giá, là an ủi cho những kẻ khốn cùng nhất.

Tâm sự với Chúa trên thập giá, xin cho con biết vâng phục thánh ư Thiên Chúa theo gương Đức Giêsu, trong cuộc sống thường ngày của con.

r. Dân Ta ơi, Ta đă làm ǵ cho ngươi

(câu than hôm thứ sáu tuần thánh)

Như ḿnh đang hiện diện với Chúa bị treo thập tự.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ḷng thống hối đau buồn v́ do ḿnh phạm tội mà Chúa đă phải chịu khổ h́nh dường ấy.

Điểm gợi ư:

i. Sao ngươi dọn thập giá cho Đấng đă cứu ngươi?

Nh́n lịch sử dân Israel trong toàn bộ: ơn gọi Abraham, Xuất hành, định cư, ban tiên tri, các vua, lưu đày trở về, v.v.

Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, tại sao con người đối xử với Thiên Chúa nhập thể như vậy?

ii. Thái độ vô ơn của dân Do thái và cũng là thái độ của tôi

Dân Do Thái đối xử tệ bạc với Thiên Chúa, tôi cũng đối xử với Thiên Chúa tệ bạc như vậy.

Tâm sự với Chúa trên thập giá, xin cho con được dứt khoát với tội, để không bao giờ làm buồn ḷng Chúa nữa.

s. Đức Maria dưới chân thập tự (Ga 19:25-27)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với Mẹ Maria dưới chân thập tự.

Xin ơn đổi đời, chỉ sống và chết cho t́nh yêu.

Điểm gợi ư:

Nh́n, nghe (tiếng ḷng của Mẹ, tiếng đức tin), quan sát Mẹ, để hiểu Mẹ và nên giống Mẹ hơn.

Lời sứ thần truyền tin có đúng không? Lời Chúa phán cùng Mẹ ở biến cố truyền tin có được thực hiện không?

Đau khổ v́ Con Mẹ chết khổ nhục. Bị cám dỗ cả về đức tin.

Tâm sự với Mẹ, với Chúa treo trên thập tự. Xin cho con được trở nên giống Mẹ trong mọi thử thách của cuộc đời.

t. Chứng nhân thinh lặng: Chúa Cha

Khung cảnh: Đồi sọ, một buổi chiều buồn thứ sáu hôm đó.

Ơn xin: Cảm nhận t́nh yêu của Cha đối với con người khi Ngài để Đức Giêsu phải chết trên thập giá như vậy.

Điểm gợi ư:

i. Thiên Chúa Cha đă theo dơi những biến cố này ngay từ đầu (nói theo kiểu nhân loại); đi vào tâm t́nh của Thiên Chúa Cha.

ii. Thiên Chúa chịu đựng, nhẫn nại đối với con người, khi con người đối với Đức Giêsu như vậy!

Con người quá hỗn láo, quá phạm thượng!

Tội con người thật lớn vô cùng.

Tâm sự với Thiên Chúa Cha, xin cho ḿnh hiểu t́nh yêu của Ngài đối với con người, và đặc biệt đối với tôi qua biến cố Đức Giêsu bị giết treo thập giá này.

u. Chiêm ngắm toàn bộ cuộc khổ nạn (LT 208 tt)

Ghi chú

Nếu có giờ, có thể đọc các tŕnh thuật về khổ nạn trong cả bốn Tin Mừng.

Nếu có thể được, nên làm những hành vi hy sinh hăm ḿnh, trong thời gian cầu nguyện về cuộc khổ nạn của Chúa. Có nhiều cách hy sinh, nhưng ít là giữ điều độ trong bữa ăn (LT 210-217).

Giữ tâm t́nh cầu nguyện trong suốt ngày: Chúa chịu bao đau khổ và sĩ nhục v́ tôi, v́ yêu tôi, v́ bao lần tôi đă phản bội Chúa! Cố gắng quảng đại với Chúa trong việc giữ các điều phụ thêm như dấu chứng t́nh yêu đối với Chúa, Đấng đă chết v́ yêu tôi.

Làm lượng giá sau mỗi chủ đề, sau mỗi giai đoạn. Nhớ ghi lại những kinh nghiệm này: ghi lại những hồng ân đă nhận được cũng như những lầm lỗi khuyết điểm ḿnh đă phạm, để tiến bộ hơn trong những ngày tới.



Phục Sinh

Chúng ta bước sang tuần thứ tư của Linh Thao: cầu nguyện về Đức Giêsu Phục Sinh.

Khi Đức Giêsu c̣n tại thế và trước cuộc khổ nạn, chưa có ai biết rơ Đức Giêsu là Thiên Chúa. Dù Ngài đă ba lần loan báo rằng Ngài sẽ bị bắt, bị đánh đ̣n, bị giết và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại; nhưng khi Ngài bị bắt và chết, không có ai tin Ngài sẽ sống lại; thậm chí khi Ngài đă sống lại và hiện ra cho các phụ nữ, và họ đi báo tin cho các tông đồ, thế mà các tông đồ cũng không tin (Mc 16:9-11).

Để tin Đức Giêsu đă sống lại, có lẽ không tuyệt đối cần các tông đồ;[29] nhưng để tin Đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc chắn cần lời chứng của các tông đồ.[30]

Chính nhờ tin vào Đức Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa: nhờ Thánh Thần Đức Giêsu trao ban khi Ngài hiện ra cho các tông đồ (Ga 20:22) mà các tông đồ nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, và cũng nhờ Đức Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa.

1. Mục đích yêu cầu

Thánh Inhaxiô viết trong LT 221: “Xin điều tôi ao ước. Ở đây xin ơn để cảm nghiệm sâu xa và mănh liệt niềm hân hoan và vui mừng v́ vinh quang và vui mừng của Đức Kitô Chúa chúng ta.”

Niềm vui mừng và hân hoan ở đây là niềm vui mừng và hân hoan tận thâm sâu trong tâm hồn, do cảm nghiệm Chúa đă phục sinh, nhờ đó niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng Trung Tín được củng cố; và một khi tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa, con người chúng ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và như vậy chúng ta hân hoan và vui mừng.

Niềm hân hoan và vui mừng này không ai có thể lấy mất được, v́ “dù thiên thần thiên phủ, dù hiện tại tương lai, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, không có ǵ có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Rm 8:38-39).

2. Bản văn Kinh Thánh

Dù Kinh Thánh không nói Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ Maria, nhưng thánh Inhaxiô đề nghị chiêm niệm “Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ” (LT 218-225). Nếu ai chấp nhận quan điểm của thánh Inhaxiô, th́ có thể cầu nguyện dựa vào bài chiêm niệm trên và những đoạn Kinh Thánh sau, c̣n nếu không chấp nhận th́ có thể chỉ dùng những bản văn Kinh Thánh để cầu nguyện mà thôi.

Các bản văn Kinh Thánh được đề nghị:

·       Chúa Phục Sinh hiện ra với chị Maria Magdala (Ga 20:11-18);

·       Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ và trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);

·       Chúa Phục Sinh đổi đời hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);

·       Chúa Phục Sinh củng cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);

·       Chúa Phục Sinh chăm sóc các tông đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);

·       Cứng ḷng và ngoan cố trước biến cố Đức Giêsu Phục Sinh (Mt 28:11-15);

·       Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:6-11);

·       Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20);

·       Chúa Phục Sinh hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);

·       Thánh Thần sẽ làm chứng về Đức Giêsu (Ga 15:26-16:15);

·       Thánh Thần tỏ hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);

·       Nhân danh Đức Giêsu Nadarét, anh hăy đứng dậy mà đi (Cv 3:1-26);

·       Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh trước chính quyền (Cv 1-22);

·       Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tôi coi tất cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).

3. Thiên Chúa phục sinh Đức Giêsu Nadarét

Chúng ta bắt đầu bước vào tuần thứ tư của Linh Thao, chiêm niệm biến cố Đức Giêsu Phục Sinh. Ơn xin trong những bài cầu nguyện này, là xác tín Thiên Chúa đă phục sinh Đức Giêsu Nadaret từ cơi chết và ơn sống niềm tin này. Điều này được biểu lộ qua thái độ lạc quan và vui mừng hân hoan. Đây là ơn mà chúng ta phải thành khẩn nài xin trong mỗi lần cầu nguyện.

a. Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ (LT 218-225)

Cho đến lúc đứng dưới chân thập giá, Mẹ vẫn chưa thấy Lời Chúa phán với Mẹ qua sứ thần được thực hiện, tuy vậy Mẹ vẫn tin rằng Lời Chúa sẽ được thực hiện (Lc 1:45). Khi thấy Chúa phục sinh, Mẹ mới thấy rơ lời Chúa phán cùng Mẹ được thực hiện. Trong tâm t́nh này chúng ta mới hiểu tại sao thánh Inhaxiô khẳng định Chúa Phục Sinh đă hiện ra cho Mẹ.

Dùng những điểm như thánh Inhaxiô gợi ư trong sách Linh Thao.

b. Niềm vui của chị Maria Magdala (Ga 20:11-18)

Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện với chị thánh vào sáng ngày thứ nhất trong tuần tại nơi chôn táng Đức Giêsu.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hân hoan vui mừng như chị thánh, v́ Chúa đă phục sinh. Xin cho ḿnh yêu Chúa như chị.

Điểm gợi ư:

i. Nỗi buồn khi Chúa bị khổ nạn, và khi không thấy xác Chúa trong mồ (Ga 20:1-10).

Chị yêu Chúa nên viếng xác từ sáng sớm. Không thấy xác, chị buồn như thế nào? Báo tin cho các tông đồ. Đứng ngoài mồ khóc. Đi vào ḷng chị: chết ô nhục, và bây giờ xác cũng không c̣n!

ii. Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra cho chị

Maria! Xem chị mừng như thế nào!

Hăy đi báo tin cho các anh em Thầy, v.v. Sứ mạng được trao cho chị.

Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng an ủi những tâm hồn buồn rầu chán nản.

c. Hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35)

Khung cảnh: Buổi chiều ảm đạm vào ngày thứ nhất trên đường Emmau.

Ơn xin: xin cho con có cái nh́n mới về Đức Giêsu v́ Ngài đă phục sinh, và cho con đổi mới cuộc đời như hai môn đệ Emmau.

Điểm gợi ư:

i. Trên đường Emmau, hai môn đồ buồn chán và thất vọng

Hai môn đệ đă nghe các chị phụ nữ nói Đức Giêsu phục sinh. Làm sao tin được Đức Giêsu đă phục sinh! Bao hy vọng, giờ tan sụp cả. Về quê.

ii. Niềm tin, hy vọng, hân hoan vui mừng Đức Giêsu phục Sinh đă mang lại cho hai ông

Chúa tới gần, bắt chuyện, giảng dạy, bẻ bánh.

Ḷng chúng ta chẳng nóng lên khi Ngài giảng dạy sao?

iii. Hai ông trở về Giêrusalem loan báo tin mừng phục sinh

Trời tối nhưng không cản được các ông trở về Giêrusalem ngay, niềm vui cần loan báo không thể chờ được. Xem các ông được biến đổi như thế nào?

Tâm sự với Chúa phục sinh. Xin Chúa biến đổi con, cho con thành một con người mới, mới cả tinh thần lẫn thân xác.

d. Chúa Phục Sinh trao sứ mạng (Ga 20:19-23)

Khung cảnh: Hiện diện với các tông đồ vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần.

Ơn xin: Có được niềm vui như các tông đồ đă có khi nhận thấy Chúa đă sống lại, xin cho con ơn b́nh an thật sự và sâu thẳm trong tâm hồn, xin cho con nhiệt thành với sứ mạng được trao.

i. Các tông đồ sợ hăi người Do thái, tâm hồn dao động như thế nào?

Chiều tối ngày thứ sáu. Ngày thứ bảy (sabbát).

Các chị phụ nữ báo tin. Làm sao tin được chuyện kẻ chết sống lại. Nếu thầy sống lại th́ thầy ở đâu? Ladarô sống lại, và vẫn ở đó, ai muốn gặp th́ có thể gặp.

ii. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các ông, niềm vui của các tông đồ lớn như thế nào?

Nghi ngờ. Niềm vui và hân hoan tột cùng.

iii. Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em

Sứ mạng của Đức Giêsu giờ đây cũng là sứ mạng của các tông đồ. Cũng là sứ mạng của tôi.

iv. Các tông đồ lănh nhận Thánh Thần (c.22)

Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần (Ga 20:22). Thánh Thần sẽ giúp các tông đồ nhớ lại những ǵ Chúa Giêsu đă nói với các ông khi Ngài sống tại thế, Thánh Thần sẽ giúp các ông nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, v.v.

Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng yêu thương các tông đồ dường bao! Xin cho con thuộc trọn về Chúa, để hoàn toàn sống cuộc đời phục vụ.

e. Củng cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29)

Như ḿnh đang hiện diện với 11 tông đồ vào ngày thứ nhất trong tuần tám ngày sau! Tâm trạng của Thomas vẫn hoài nghi do dự băn khoăn.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh tin thật Chúa đă phục sinh, và sống niềm tin này trong cuộc sống cụ thể thường ngày.

i. Thomas không tin Đức Giêsu có thể sống lại

Đức Giêsu đă phục sinh kẻ chết, nhưng Ngài đă chết rồi, ai có thể phục sinh kẻ chết, phục sinh Ngài? Nếu thầy phục sinh, th́ ḿnh có thể gặp, thầy ở đâu? Không ai có thể trả lời, vậy làm sao tin được?

ii. Chúa Phục Sinh kiên nhẫn, chấp nhận lời thách đố của Thomas

Đem ngón tay đặt vào lỗ đanh nơi tay Thầy, tra bàn tay vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng ḷng nữa nhưng hăy tin. Những ǵ Thomas đ̣i hỏi, Chúa sẵn sàng thỏa măn.

Thomas được biến đổi, niềm hân hoan và hạnh phúc Thomas có khi được gặp Đức Giêsu và tin Ngài đă sống lại.

iii. Phúc cho chúng ta là những kẻ không thấy mà tin

Tin Đức Giêsu phục sinh, tin Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa vẫn là một ơn, và là một ơn vô cùng lớn. Tạ ơn Chúa v́ các Kitô hữu chúng ta được ơn này.

Tâm sự với Chúa Phục Sinh, v́ nhiều lần trong cuộc sống ḿnh cũng cứng tin như Thomas trước bao dấu chỉ t́nh yêu Chúa dành cho tôi.

f. Chăm sóc các tông đồ (Ga 21:1-14)

Như ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu bên bờ hồ sáng sớm hôm đó.

Xin ơn cảm nghiệm t́nh yêu của Chúa đối với con qua từng biến cố trong ngày.

i. Các tông đồ trở về Galilê, Phêrô và các bạn đi đánh cá

Các ông vất vả suốt đêm mà không được ǵ!

Chúa hỏi. Các ông trả lời. Nhận ra Chúa. Thái độ kính trọng của Phêrô đối với Chúa, qua việc mặc đồ trước khi nhảy xuống nước bơi vào bờ.

ii. T́nh yêu thể hiện qua việc Chúa dọn bữa cho các tông đồ

Ngài cầm bánh trao cho các ông. H́nh ảnh chăm sóc rất dễ thương.

iii. Trao sứ mạng

Con có yêu Thầy hơn các anh em này không?

Thầy biết con yêu mến Thầy. Hăy chăm sóc chiên của Thầy, v.v.

Chỉ cần điều kiện “yêu Chúa” để Chúa trao sứ mạng.

Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng yêu thương và săn sóc các tông đồ.

g. Cứng ḷng trước biến cố Phục Sinh (Mt 28:11-15)

Như ḿnh đang hiện diện để nghe được âm mưu của những người lănh đạo dân Do Thái vào sáng ngày thứ nhất trong tuần, đối phó với biến cố Chúa phục sinh!

Xin ơn đừng cứng ḷng, nhưng biết luôn sẵn sàng chấp nhận sự thật, dù sự thật có là điều ḿnh không muốn. Xin ơn tin vào Chúa Phục Sinh và sống niềm tin trong cuộc sống hằng ngày.

i. Thái độ của binh lính

Sợ sệt. Báo tin cho các thượng tế, v.v.

ii. Thái độ của thượng tế, kư lục, biệt phái

Không mở ḷng. Cứng ḷng trước biến cố Chúa Phục Sinh. Muốn dập tắt Tin Mừng này. Dàn xếp với quân linh, với những người có chức quyền, để quân linh không bị khó dễ, có vậy mới mong dập tắt Tin Mừng Phục Sinh.

iii. Thái độ của dân chúng trước lời chứng của các tông đồ và của những người cầm đầu người Do thái

Dân chúng có thể một số tin các người lănh đạo, một số được nghe các tông đồ rao giảng và sám hối.

Tâm sự, xin Chúa biến đổi ḷng con, đừng để con cứng đầu như những người lănh đạo dân Do thái xưa.

h. Chúa Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20)

Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện trên một ngọn núi cùng với một số người tin vào Đức Giêsu.

Ơn xin: Xin ơn xác tín Chúa vẫn ở bên ḿnh trong mọi hoàn cảnh và trong mọi lúc. Xin ơn tin tưởng và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa.

i. Cuộc hẹn ḥ

Giây phút cuối cùng c̣n nh́n thấy mặt nhau. Tâm t́nh và thái độ.

ii. Sứ mạng Chúa trao cho các tông đồ

Anh em hăy đi làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ, dạy họ tuân giữ những ǵ thầy đă truyền cho các con.

iii. Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế

Ngài luôn ở với tôi. Ngài không lên trời sao? Lên trời, là cách nói Đức Giêsu được siêu tôn, Ngài là Thiên Chúa.

Tâm sự với Chúa, Đấng yêu tôi và có quyền trên vạn sự vạn vật, Ngài sẽ làm những điều tốt đẹp cho tôi.

i. Chúa Phục Sinh được siêu thăng (Cv 1:6-11)

Như ḿnh đang hiện diện ở núi cây dầu gần Giêrusalem cùng với các tông đồ.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được vui và hạnh phúc tràn đầy v́ Chúa Phục Sinh được vinh thăng và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha.

i. Lời hứa ban Thánh Thần

Anh em sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần (c.5)

ii. Lên trời, nghĩa là siêu thăng, để ở măi với chúng ta

Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, là ngang hàng với Thiên Chúa. Đó là niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa.

Đức Giêsu phục sinh là Thiên Chúa, Ngài đang ở với tôi, không bao giờ Ngài xa tôi.

Tâm sự với Chúa Phục Sinh được siêu tôn.

4. Ghi chú

Cách cầu nguyện của tuần thứ hai, thứ ba, và thứ tư, là chiêm niệm. Nghĩa là, nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, để nên giống Ngài hơn. Thế nên, trong những điểm, dù không nói nhưng chúng ta vẫn áp dụng phương pháp chiêm niệm cho mỗi bài cầu nguyện.

Nhớ đặt ḿnh hiện diện trước mặt Chúa trước khi cầu nguyện; và chỉ khi nào ư thức rơ ḿnh đang hiện diện trước Chúa mới bắt đầu cầu nguyện thôi.

Đọc các điều phụ thêm trong LT 226-229; cố gắng giữ các điều phụ thêm để cầu nguyện dễ dàng hơn. Một trong những lư do làm ta cầu nguyện không được là v́ ta không cố gắng kết hiệp với Chúa trong suốt ngày (từ lúc thức dậy cho tới khi lên giường ngủ), hay tại ta không giữ ngũ quan như con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi.

Nhớ xét ḿnh riêng về các điều phụ thêm. Không giữ các điều phụ thêm, thường là dấu chỉ biểu lộ ta thiếu quảng đại với Chúa.

Lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa, là những cách nói khác nhau để chỉ việc Đức Giêsu Phục Sinh được tôn vinh. Có thể hiểu "lên trời" là cách nói để chỉ t́nh trạng chúng ta không thể thấy Chúa Phục Sinh bằng mắt trần nữa, dù Ngài vẫn ở bên chúng ta như Ngài đă nói trong Mt 28:20: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.”



THÁNH THẦN LUÔN HOẠT ĐỘNG TRONG HỘI THÁNH

Chính nhờ tin Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, và v́ thế tin những ǵ Ngài nói là sự thật, nên Kitô hữu chúng ta nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa, là Ngôi Ba Thiên Chúa.

Thánh Thần được Chúa Cha gởi đến cho các tông đồ nhờ lời cầu xin của Đức Giêsu (Ga 14:16). Thánh Thần cũng là quà tặng của Chúa Giêsu ban cho các tông đồ (Ga 15:26). Thánh Thần được ban cho con người, để ở măi với con người (Ga 14:16).

Ngày nay, tất cả những ǵ tốt đẹp thiện hảo chúng ta làm, chúng ta đều làm dưới tác động của Thánh Thần.

a. Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26)

Khung cảnh: như ḿnh hiện diện trong bữa tiệc ly, và Đức Giêsu nói những lời tâm huyết.

Ơn xin: tin nhận Thánh Thần, và ơn tùy thuộc và vâng phục Thánh Thần.

i. Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta (Ga 14:26)

Để chuẩn bị cho việc Ngài ra đi, Đức Giêsu nói về Thánh Thần.

ii. Ngài ở với các ngươi luôn măi (Ga 14:16)

Một nét đặc biệt của Chúa Thánh Thần: ở với chúng ta luôn măi.

iii. Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự (Ga 14:26)

Thánh Thần là Thầy, Ngài dạy chúng ta mọi điều.

Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh và Chúa Thánh Thần, Đấng làm mọi sự tốt đẹp nơi tôi và cho tôi.

c. Thánh Thần làm chứng về Đức Giêsu (Ga 15:26-16:15)

Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện trong bữa tiệc ly cùng với Đức Giêsu và các tông đồ.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh luôn được sống dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần trong mọi nơi mọi lúc.

i. Đấng Bầu Chữa, Ta sẽ gởi đến từ nơi Cha (Ga 15:26)

Thánh Thần là Đấng bầu chữa. Ngài là Thiên Chúa v́ Ngài từ Thiên Chúa mà đến. Đấng được Chúa Giêsu sai gởi, để ở với, dạy dỗ và hướng dẫn các tín hữu trong mọi việc.

ii. Ngài sẽ làm chứng về Ta, và các ngươi cũng làm chứng (Ga 15:26.27)

Thánh Thần cũng là Đấng làm chứng cho Đức Giêsu. Thánh Thần dùng các tông đồ, chúng ta, làm chứng cho Đức Giêsu.

iii. V́ là Thần Khí Sự Thật, Ngài sẽ đưa các ngươi vào tất cả sự thật (Ga 16:13)

Thánh Thần làm tất cả cho chúng ta.

Tâm sự với Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần.

c. Thánh Thần tỏ hiện dịp lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-17)

Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện cùng với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Ơn xin: xin ơn được Thánh Thần biến đổi để trở thành con người mới, can đảm và khôn ngoan làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

i. Chúa Giêsu Phục Sinh ban Thánh Thần (Ga 20:22)

Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần.

ii. Các tông đồ hiệp cùng Đức Mẹ cầu nguyện (Cv 1:12-14)

Sau khi Chúa Phục Sinh lên trời, Đức Mẹ cùng các tông đồ cầu nguyện. Tất cả dưới tác động của Thánh Thần.

iii. Lễ Ngũ Tuần, quyền lực Thánh Thần tỏ hiện

Thánh Thần được nhận biết qua h́nh lưỡi lửa, tiếng gió, tiếng lạ, v.v.

Phêrô được biến đổi rơ nét: nhát đảm thành dũng cảm, b́nh thường thành khôn ngoan sáng suốt.

Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Chúa ban Thánh Thần cho tôi, để tôi cũng được biến đổi, thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh.

d. Đức tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh (Cv 2:14-41)

Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện cùng với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh sống niềm tin mănh liệt vào Chúa Giêsu Phục Sinh như các tông đồ xưa.

i. Thiên Chúa ban Thánh Thần

không chỉ cho các tông đồ, nhưng c̣n cho mọi xác phàm vào thời điểm cánh chung (Cv 2:17).

ii. Nhờ Thánh Thần, người ta có thể tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh (cc.22-28)

Đức Giêsu mà anh em đă đóng đinh, Thiên Chúa đă siêu tôn Ngài làm Chúa (cc.29-36). Khi Đức Giêsu rao giảng, bao nhiêu kẻ đă tin vào lời Ngài? Hôm nay, Thánh Thần làm người ta tin vào Đức Giêsu qua lời giảng của các tông đồ.

iii. Dân chúng tràn đầy ơn Thánh Thần

Thánh Thần quy tụ dân chúng, giúp các tông đồ rao giảng, làm dân chúng tin vào các tông đồ, và sám hối.

Ba ngàn người nhận phép rửa. Chỉ có Thánh Thần mới làm được những điều kỳ diệu này.

Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh và đặc biệt với Thánh Thần, xin Ngài củng cố đức tin của tôi.

e. Nhân danh Đức Giêsu Nadaret (Cv 3:1-26)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với Gioan và Phêrô khi hai vị vào đền thờ và chữa lành người bại.

Ơn xin: xin cho ḿnh ơn có được đức tin mănh liệt và kiên cường như thánh Phêrô.

i. Phêrô và Gioan chỉ có Đức Giêsu Phục Sinh làm gia nghiệp

Phêrô và Gioan chỉ có Đức Giêsu phục sinh; và hai ông sẵn sàng tặng ban, rao giảng Đức Giêsu Phục Sinh cho bất cứ ai.

Nhân danh Đức Giêsu, anh hăy đứng dậy mà đi.

ii. Bài giảng của Phêrô (cc.11-26)

Đi đâu Ngài cũng chỉ nói về Giêsu Phục Sinh mà thôi.

Đức Giêsu là tất cả đối với Phêrô và các tông đồ.

Tâm sự với Thánh Thần của Đức Giêsu Phục Sinh. Xin cho con biết nhận rơ rằng: đức tin là hồng ân vô cùng lớn Thiên Chúa ban cho những người tin.

f. Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh trước chính quyền (Cv 4:1-22)

Như ḿnh đang hiện diện cùng với thánh Phêrô trước những người cầm quyền muốn ngăn cản sự thật.

Ơn xin: xin cho ḿnh có ḷng tin mănh liệt vào Chúa Giêsu Phục Sinh, và ơn can đảm làm chứng cho Ngài với bất cứ ai vào bất cứ hoàn cảnh nào.

i. Phêrô can đảm nói trước nhà cầm quyền nhờ Thánh Thần (cc.8tt)

Với ơn Thánh Thần, Phêrô không sợ bắt bớ (như khi Ngài chối Chúa).

ii. Không có một danh nào khác được ban cho con người, để nhờ danh đó con người được cứu độ (c.12)

Tất cả mọi người được cứu độ, là được cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô.

iii. Phải vâng lời các ông hay vâng lời Thiên Chúa (cc.19-20)?

Chúng tôi không thể không nói những ǵ chúng tôi đă thấy và đă nghe!

Tâm sự, thân thưa với Chúa. Xin Thánh Thần cho con ḷng dũng cảm và khôn ngoan để làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh.

g. Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tất cả như phân bón (Pl 3:1-16)

Như ḿnh đang hiện diện trong biến cố Saul té ngựa trên đường đi Damas.

Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh chọn lựa dứt khoát và sống Đức Giêsu là tất cả đối với ḿnh; nghĩa là, có Đức Giêsu là có tất cả, và thiếu Ngài là thiếu tất cả.

i. Tôi có thể tự hào về điều ǵ?

Ngày xưa, và bây giờ?

ii. Đức Giêsu Kitô có chỗ đứng nào trong đời tôi?

Ngày xưa và bây giờ?

Bây giờ, tôi có coi tất cả là không giá trị so với Đức Kitô? Tôi có coi Đức Giêsu là mối lợi tuyệt vời không?

iii. Quên phía sau và lao ḿnh tới trước: phó thác tất cả cho Thiên Chúa

Chỉ cần có Đức Giêsu, những điều khác không quan trọng. Chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa.

Tâm sự, thân thưa với Chúa. Xin Thánh Thần Chúa Giêsu Phục Sinh cho con biết chọn Chúa là tất cả của con.


CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU

Đây là bài cầu nguyện cuối cùng trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô.

1. Mục đích yêu cầu

“Xin ơn nhận biết thâm sâu về tất cả ơn lành ḿnh đă lănh nhận, để rồi một khi đă nhận ra th́ ḿnh có thể yêu mến và phụng sự Chúa Chí Tôn trong mọi sự” (LT 233).

Làm sao để cảm nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh trong từng giây phút của cuộc sống, để rồi ḿnh yêu lại Chúa và phục vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc, đó là mục đích của bài cầu nguyện này.

2. Xin Chúa làm cho con yêu Chúa

Yêu là trao tặng người yêu những ǵ ḿnh có (LT 231). Nếu Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất cả, ngay cả những ǵ quư nhất với Ngài là Chúa Con và Chúa Thánh Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?

Với “kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta dâng tất cả cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một điều duy nhất “XIN LÀM CHO CON YÊU CHÚA, và ơn đó là đủ cho con” (LT 234).

3. Bài cầu nguyện

a. Chiêm niệm để được t́nh yêu (LT 230-237)

Đọc kỹ điểm trong sách Linh Thao. Mỗi điểm có thể cầu nguyện một ngày nếu là tĩnh tâm trong cuộc sống hằng ngày.

b. Thiên Chúa là T́nh yêu (1Ga)

Thiên Chúa, T́nh yêu, Sự thật, và Hạnh Phúc, là một. Có Thiên Chúa là có tất cả.

Với thư Gioan, chúng ta có thể cầu nguyện bao nhiêu lâu chúng ta muốn. Đây cũng là bài “chiêm niệm để được t́nh yêu” nối dài.

 


ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO

Một bận tâm của người làm Linh Thao "đạt kết quả" là, làm sao để duy tŕ và phát triển ơn Linh Thao?

Đây là một bận tâm chính đáng!

Linh Thao không là kết thúc hay điểm cực đại của đời sống thiêng liêng, nhưng nó là khởi đầu của một giai đoạn sống mới thân thiết hơn với Chúa và quảng đại hơn với anh chị em.

Nguyên tắc tổng quát: mỗi ngày tiếp tục làm điều đă tập trong thời gian Linh Thao. Một cách cụ thể, luôn sống với ư thức Chúa đang hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, chấp nhận mọi biến cố xảy tới với ḿnh trong niềm tin "Thiên Chúa có thể làm nó thành tốt đối với ḿnh,” hy sinh liên lỉ nhất là giữ ǵn ngũ quan để luôn kết hiệp với Chúa.

1. Luôn sống đời sống thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh

Tâm t́nh của Thánh Vịnh 139 (138): Thiên Chúa luôn yêu thương và nh́n xem săn sóc ḿnh. Chúa Giêsu dạy: "Chúa Cha và Ngài luôn ở với chúng ta" và "Thánh Thần luôn ở với chúng ta" (Ga 14:23.16). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta v́ Ngài yêu thương ta. Chúng ta cần ư thức rơ điều này, để luôn sống với tâm t́nh Thiên Chúa luôn hiện diện với ḿnh.

Nếu Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, chúng ta đâu c̣n cô đơn nữa; cho dù tất cả có bỏ chúng ta th́ Thiên Chúa vẫn không bao giờ bỏ chúng ta: Người luôn yêu thương chúng ta.

Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta c̣n sợ ǵ nữa? Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta không cảm thấy yên tâm và hạnh phúc sao?

Sống tâm t́nh Chúa luôn hiện diện, là đă khởi đầu giờ cầu nguyện liên lỉ.

2. Vui nhận Ư Chúa làm ư ḿnh

Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta mỗi ngày bằng nhiều h́nh thức khác nhau: qua lương tâm, những ǵ lư trí nhận thấy qua những biến cố, ngay cả những biến cố trái ư ḿnh, lời nói của người này người kia, trang sách này tập vở kia. Như vậy, chúng ta phải lắng nghe Chúa qua mọi dấu chỉ trong cuộc sống, trong từng biến cố của cuộc sống thường ngày.

Lắng nghe và thực hiện Ư Chúa, chấp nhận và lấy Ư Chúa làm ư ḿnh, đó là kết hiệp với Thiên Chúa trong hành động.

Giờ cầu nguyện chính thức là cao điểm của giờ cầu nguyện liên lỉ suốt này; kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện là cao điểm của tiến tŕnh kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày.

3. Hy sinh hăm ḿnh liên lỉ

Từ bỏ ḿnh liên lỉ, quảng đại với Chúa, sẽ giúp ḿnh dễ dàng cầu nguyện hơn, dễ dàng gặp Thiên Chúa hơn.

Từ bỏ ḿnh, chấp nhận trái ư v́ ích lợi của tha nhân, giữ ǵn ngũ quan để luôn sống thân thiết với Thiên Chúa, luôn vâng phục thánh ư Chúa trong từng biến cố nhỏ, chọn Thiên Chúa trên hết, là dấu chỉ cho thấy ḿnh đang thuộc về Thiên Chúa.

Linh Thao chỉ là khởi đầu của một giai đoạn mới trong đời sống thiêng liêng. Xin Chúa giúp chúng ta quảng đại với Chúa, để chúng ta tăng trưởng mỗi ngày một hơn về đời sống thiết thân với Chúa, bằng:

·       ư thức liên lỉ Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với chúng ta,

·       sẵn sàng vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa,

·       từ bỏ ḿnh,

·       xét ḿnh và xét gẫm mỗi ngày.


THÁNH INHAXIÔ LOYOLA

 

 

LINH THAO

 

NHÀ TẬP D̉NG TÊN


SÁCH LINH THAO CỦA THÁNH INHAXIÔ

LỜI DẪN

"Linh Thao" là tựa đề một tập sách nhỏ do Thánh I-nhă biên soạn. Mặc dù mang tên sách, nhưng "linh thao" không phải là một sách để đọc theo nghĩa một biên khảo thần học hay một giáo huấn về đời sống thiêng liêng, nhưng là một chỉ nam hướng dẫn thực hành.

          Từ trong nguồn gốc, "Linh Thao" là một tập bút kư, nơi đó Thánh I-nhă ghi lại những kinh nghiệm thiêng liêng quan trọng của riêng ḿnh, bắt đầu từ năm 1522, trong thời gian ẩn dật, khổ hạnh và chuyên tâm cầu nguyện tại Manresa, tức là một năm sau cuộc hoán cải đổi đời. Theo sách Tự thuật, "Khi nhận thấy kinh nghiệm thiêng liêng này có thể giúp ích cho kẻ khác, ngài đă viết thành sách." Nhưng ngài không nhắm đến việc khai triển thành một quyển sách có hệ thống và mạch lạc. Ngài chỉ muốn thu thập những yếu tố quan trọng của kinh nghiệm làm thành một cẩm nang thực hành hay một phương pháp t́m Chúa. Cách chính xác, đó là cách t́m kiếm ư muốn Thiên Chúa trên cuộc đời ḿnh.

          "Linh Thao" theo ư định của thánh I-nhă không nhắm đến việc phổ biến rộng răi, nhưng được ưu tiên dành cho người hướng dẫn như thủ bản của một kinh nghiệm thiêng liêng nhất định. Người hướng dẫn-giống như các huấn luyện viên trong các môn thể thao hay tập luyện khác-là người đă có kinh nghiệm t́m Chúa qua Linh Thao và có thể giúp kẻ khác đi lại con đường t́m kiếm ư muốn Thiên Chúa trong khuôn khổ của một tiến tŕnh cầu nguyện trong thinh lặng và cô tịch.

          Thủ bản "Linh Thao" bao gồm những thực tập hay thao luyện thiêng liêng (gọi tắt là: Linh Thao) chủ yếu là những bài suy niệm hay chiêm niệm, vốn được sắp xếp theo một tŕnh tự chặt chẽ và năng động, nhằm mục đích chuẩn bị tâm hồn đi vào một tiến tŕnh hoán cải sâu xa, trở về với Thiên Chúa, mục đích cuối cùng.

          Để cho kinh nghiệm được thành tựu cách mỹ măn, Thánh I-nhă không bỏ qua một yếu tố nào, dù là những chi tiết xem ra rất nhỏ, nhưng đối với ngài là cần thiết cho hoạt động của ân sủng trong linh hồn. V́ thế, thủ bản "Linh Thao" cung cấp rất nhiều loại chỉ dẫn, chú thích và quy tắc liên quan đến những điều kiện và hoàn cảnh cầu nguyện hoặc những dẫn giải về cách xét ḿnh xưng tội và thanh tẩy linh hồn hay các thao luyện khác.

          Trong số những quy tắc của Linh Thao, nổi bật nhất là các quy luật: "Biện phân thần loại" và chọn lựa bậc sống. Các quy tắc này rất cần thiết để giúp thao viên (người thực hành linh thao) nhận ra hoạt động của các loại thần trong linh hồn, hầu tránh khỏi những ảo tưởng và sai lầm, khi chọn lựa và bước theo Chúa.

          "Linh Thao" là một con đường t́m Chúa theo phương pháp của thánh I-nhă. Phương pháp này giả thiết một sự quảng đại của tâm hồn, không từ chối điều ǵ Chúa muốn, nhưng đồng thời sự quảng đại này cũng được bộc lộ bên ngoài bằng việc trung thành tuân giữ những quy định của phương pháp. Trong Linh Thao, có những quy tắc dành riêng cho người hướng dẫn, nhưng cũng có những lời khuyên và huấn dụ dành riêng cho người thực tập.

          Một điều xem ra nghịch lư, nhưng đồng thời biểu thị tính cách mới mẻ của Linh Thao, đó là thánh I-nhă khuyến cáo người hướng dẫn không được can thiệp quá mức vào sự tự do thiêng liêng của thao viên. Nghĩa là người hướng dẫn phải để cho mỗi thao viên trực tiếp gặp gỡ Thiên Chúa không qua trung gian. "Hăy để Đấng Tạo Hóa hành động trực tiếp với thụ tạo của ḿnh và để thụ tạo tiếp xúc trực tiếp với Đấng Tạo Hóa và Chúa của ḿnh" (LT 15).

          Người hướng dẫn Linh Thao chỉ tŕnh bày những nét chính của tiến tŕnh; vạch ra con đường và đề nghị và những chỉ dẫn cần thiết, luôn hiện diện để hỗ trợ. Và nhất là giúp thao viên nhận định các loại thần, để có những chọn lựa thiêng liêng phù hợp với tiêu chuẩn của giáo lư đức tin tức là trong sự tuân phục ư muốn Thiên Chúa.

          Người hướng dẫn c̣n phải sử dụng phương pháp trong tinh thần cởi mở, và thích nghi tối đa. Phương pháp Linh Thao thoạt tiên xem ra khô khan và có phần khắc khổ, nhưng khi được thấu hiểu và được áp dụng cách nhẹ nhàng, uyển chuyển th́ trở thành một khí cụ hữu hiệu để canh tân và củng cố đời sống thiêng liêng. Dĩ nhiên, Linh Thao cũng như mọi phương pháp huấn luyện, đ̣i hỏi kỷ luật, nhưng sư phạm của Linh Thao, phối hợp hài ḥa sự cương quyết, mạnh mẽ về phương diện nguyên tắc với sự dịu dàng tế nhị của con tim. Không có ǵ đi ngược lại với tinh thần Linh Thao hơn là việc áp dụng cách máy móc và quá khắt khe, những chỉ thị được ấn định cách đây bốn thế kỷ.

          Linh Thao là môt quyển sách nhỏ bé về kích thước nhưng mang một tầm vóc vĩ đại về hiệu quả thiêng liêng, nếu người đọc khám phá được động lực sâu xa tiềm ẩn trong đó. Nghĩa là, cần phải biết vượt lên trên cái nh́n chi tiết, tỉ mỉ, với lối giải thích mặt chữ, theo nghĩa đen và nắm bắt được cái tinh thần mạnh mẽ đă thúc đẩy thánh I-nhă hoàn toàn dâng hiến cuộc đời để t́m kiếm vinh quang Thiên Chúa chính là tinh thần bàng bạc trong quyển Tự thuật, và được bộc lộ cách sắc nét trong Hiến Pháp Ḍng Chúa Giêsu. Lúc đó người đọc công nhận Linh Thao quả thực chứa đựng một kho tàng vô giá về việc cầu nguyện cách riêng và đời sống thiêng liêng cách chung. Từng câu, từng chữ của Linh Thao có thể được coi như những hạt trai quư giá, với điều kiện là ta phải chịu khó lặn xuống sâu cả trăm ngàn lần để t́m thấy nó. Hay nói cách khác, nếu muốn thấy giá trị sung măn của Linh Thao, ta không nên chỉ cầm đọc một lần. Nhưng phải đọc nhiều lần và nhất là phải biết thử nghiệm, tức là thực hành và áp dụng vào đời sống. Và rồi c̣n phải liên tục t́m hiểu qua các chú giải và chỉ nam đủ loại từ bốn thế kỷ nay. Đồng thời, không ngừng đối chiếu bản Linh Thao với quyển Tự thuật và Hiến Pháp của Ḍng Tên Chúa Giêsu. Lúc đó, ta mới hiểu tại sao Linh Thao được nhiều người ca tụng-nhưng cũng không thiếu những sự đề kháng, chối từ.

          Kinh nghiệm Linh Thao mà những trục chính được ghi lại trong Linh Thao là kinh nghiệm của Thánh I-nhă Loyola, nhưng cũng là kinh n ghiệm của vô số những linh hồn quảng đại đă bước theo sau ngài để, "trong tất cả mọi sự, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa uy linh" (LT 233).

          Chọn con đường t́m Chúa theo phương pháp Linh Thao là biết rằng: "mỗi ngườii chỉ tiến bộ trong đời sống thiêng liêng, bao lâu họ thoát ra khỏi tự ái, ư riêng và tư lợi" (LT 189, 10) để bước theo Chúa Giêsu vác thập giá. Và cùng với Chúa Giêsu khó nghèo, khiêm hạ, và chịu sỉ nhục họ dấn bước trên con đường tử nạn để cùng Người vui hưởng vinh quang trong Nước Chúa.

          Linh Thao là một phương pháp đào luyện canh tân linh hồn, dưới tác động của ân sủng. Nhưng nếu chỉ có thế th́ chưa nói hết được tính cơ bản của nó. Nếu phải tóm lược Linh Thao cách chính xác hơn, chúng ta chỉ có thể khẳng định: Linh thao là một tổng hợp các thao luyện thiêng liêng nhằm biến đổi một người trở nên giống Chúa Kitô, hầu bước theo Người mà t́m vinh quang lớn măi cho Cha. Chính v́ thế, Linh Thao đ̣i hỏi sự dấn thân trọn vẹn của con người: trí tuệ, cảm xúc và ư chí, với một ước nguyện dâng hiến quảng đại và toàn diện. Phải chăng điều này làm cho nhiều người ái ngại và thoái lui?

          Sẽ là một thiếu sót nếu chúng ta không ghi nhận những chứng từ và phán quyết từ quyền bính tối cao trong Hội Thánh trên Linh Thao.

          Đ.G.H Phaolô III ban đoản sắc Pastoralis Officii (ngày 31.07.1548) phê chuẩn và khen ngợi sách "Linh Thao, vốn được tuyển chọn từ kinh Thánh và được rút ra từ kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng." Rồi từ đó, các vị Giáo Hoàng kế tiếp không ngừng đề cao và khuyến khích kinh nghiêm thiêng liêng này như một phương pháp vững chắc để tạo nên cho Giáo Hội những vị thánh qua mỗi thời đại. Các Đức Giáo Hoàng khẩn thiết mời gọi các tín hữu thực tập Linh Thao, đồng thời nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tuyệt đối trung thành với phương pháp của thánh I-nhă, dù là người hướng dẫn hay là người thực tập Linh Thao.

          Gần chúng ta hơn, vào giữa thế kỷ XX, phải kể đến Đức Piô XI. Từ khi c̣n là giám chức tại Giáo Triều và quản thủ Thư Viện Vaticanô, ngài đă nghiên cứu Linh Thao cách tường tận. Ngài nói: "Linh Thao của thánh I-nhă không phải là một giáo thuyết mà là một phương pháp" (x. S. Carlo e gli Eser. sp. di. S. Ign. Milano, 1908-10). Trong Tông hiến Summorum Pontificum (ngày 25.07.1922) ngài đă đặt thánh I-nhă Loyola làm quan thầy mọi công việc Linh Thao. Không ai đă hiểu biết và thực hành Linh Thao cách sâu sắc như Đức Piô XI.

          Nhân dịp kỷ niệm kim khánh linh mục, Đức Piô XI gửi đến các Giám mục và Linh mục thông điệp "Mens Nostra" (20.12.1929) khuyến khích việc thực tập Linh Thao và nhu cầu phải đẩy mạnh sự phát triển Linh Thao, như quà tặng kim khánh của ngài cho hàng giáo phẩm trên toàn thế giới.

          Đức Piô XII ân cần giới thiệu Linh Thao ngay trong Thông điệp Mediator Dei về phụng vụ (x. AAS. 1947, tr.586). Và trong sắc phong chân phước cho nữ tu Marie-Thèrése Couderc, ngài nói đến "cuốn Linh Thao nhỏ bé mà bao la của thánh I-nhă" ("Le minuscule mais immense livre des Exercices de St. Ignace" x. AAS. 1592, tr.29)

          Trong bức thư do chính tay Ngài viết cho cha Tổng quyền Ḍng Tên: Magna cum jucunditate, 31.07.1955 Đức Piô XII ghi nhận: "không có điều ǵ quư giá hơn, hữu ích hơn, trường tồn hơn quyển sách vàng nhỏ bé mà thánh I-nhă đă trao lại cho con cái như di sản. Cũng như Ngài đă đạt thấu đời sống mới, th́ ngài cũng muốn cho con cái được nuôi dưỡng bởi tinh thần ngài cống hiến cho Ḍng Tên: một ḷng nhiệt thành thánh thiện và đáng phục của tâm hồn, được thúc đẩy bởi ân sủng đang hoạt động trong các linh thao, vốn làm cho họ không chỉ khao khát mà c̣n sẵn sàng và hăng hái phụng sự cho vinh quang Thiên Chúa"

Đức Gioan XXIII từ khi làm linh mục, hầu như năm nào cũng tĩnh tâm theo phương pháp Linh Thao. Năm 1958, sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, ngài dự khóa tĩnh tâm hàng năm do cha C. Messori Roncaglia, S.J. giảng trong điện Vaticanô, theo phương pháp thánh I-nhă. Khi bế mạc, Đức Giáo Hoàng nhắc lại lợi ích của Linh Thao và khen ngợi vị giảng Linh Thao đă trung thành với phương pháp của thánh I-nhă, phương pháp đă được các Đức Giáo Hoàng tiền nhiệm ân cần khuyến khích. (x. Osservatore Romano, edit. hebdomadaire, 19 déc. 1958)

Đức Phaolô VI, trong thư gởi ĐHY Cushing (Boston), nhân một cuộc hội thảo về tĩnh tâm của giáo dân tại Hoa Kỳ “National Catholic Laymen’s Retreat Conference” viết: "Trong nhiều phương pháp đáng ca ngợi giúp giáo dân tĩnh tâm, phương pháp dựa trên Linh Thao của thánh I-nhă vẫn là phương pháp được yêu thích hơn cả từ khi được Đức Phaolô III phê chuẩn năm 1548. Các vị hướng dẫn tĩnh tâm phải không ngừng đào sâu những nguồn mạch phong phú về giáo lư và linh đạo trong bản văn của thánh I-nhă" (x. Documentation Catholique, LXIII, n.1482, col.1956-58).

Phương pháp đào luyện tâm hồn dưới tác động của ân sủng mà Linh Thao đề nghị dẫn đưa nhiều người đến t́nh yêu đích thực của Thiên Chúa. Không chỉ linh mục tu sĩ mà chính nếp sống tạo ra một hoàn cảnh thuận lợi cho việc nên thánh, mà cả những giáo dân muốn làm chứng cho Tin Mừng Chúa Kitô cách hữu hiệu trong những hoàn cảnh cụ thể giữa trần đời.

Mọi người đều có thể sử dụng phương pháp Linh Thao, với điều kiện duy nhất là phải có tấm ḷng tha thiết và quảng đại, không từ chối điều ǵ trước lời mời gọi của ân sủng Thiên Chúa. Lúc đó ân sủng sẽ làm nên những việc lạ lùng nơi tâm hồn con người.

"Người luyện tập Linh Thao, sẽ được nhiều ích lợi, nếu bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp với Đấng tạo Hóa và Chúa ḿnh." (LT 5)

Antôn Ngô Văn Vững, S.J.

GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH SÁCH LINH THAO

Bản dịch này đă được linh mục Mariano Mai Sơn, S.J., khởi sự năm 1965, và hoàn tất với sự cộng tác của linh mục Nguyễn Công Đoan, S.J., năm 1968, tại nhà tập Ḍng Tên ở Thủ Đức, dựa trên nguyên bản tiếng Tây Ban Nha do nhà xuất bản B.A.C.[31] tŕnh bày, đồng thời so sánh với bản dịch La ngữ phổ thông có từ thời thánh I-nhă[32], và bản dịch La ngữ do cha J. Roothaan[33], S.J., thực hiện, cùng bản dịch Pháp ngữ của cha François Courel[34], S.J.. Bản dịch lúc ấy chưa bao gồm các bài tóm tắt “những mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Kitô Chúa chúng ta.”

Năm 2004, linh mục Nguyễn Công Đoan sửa chữa và bổ sung bản dịch tại Roma, tham khảo bản chép tay do chính thánh I-nhă sửa chữa (lưu tại văn khố của Ḍng Tên), và bản in dựa trên bản chép tay này, do nhà xuất bản Sal Terrae tŕnh bày (1977), bản dịch tiếng Anh của cha Michael Ivans, S.J. (1977).

Những điểm thêm vào để giúp câu văn tiếng Việt rơ ràng hơn hoặc để chỉ dẫn sự phân chia, đều đặt trong […]. Ngoài ra chúng tôi cũng có thêm một vài ghi chú ở cuối trang để giải thích một vài chi tiết khó hiểu.


CÁC CHÚ DẪN

ĐỂ HIỂU BIẾT MỘT CHÚT CÁC BÀI LINH THAO SAU ĐÂY NHẰM GIÚP NGƯỜI HƯỚNG DẪN CŨNG NHƯ NGƯỜI TẬP LUYỆN.

1. CHÚ DẪN THỨ NHẤT: Hai tiếng "Linh Thao" ở đây có nghĩa là mọi cách xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm, cầu nguyện bằng miệng lưỡi hay bằng tâm trí, và các việc thiêng liêng khác như sẽ nói sau. V́ như đi dạo, đi bộ, chạy, là những việc thể thao th́ cũng thế, gọi là "Linh Thao" tất cả những cách dọn và chuẩn bị linh hồn để xa bỏ những quyến luyến lệch lạc và sau đó t́m kiếm ư Chúa trong cách xếp đặt cuộc sống để mưu ích cho linh hồn ḿnh.

2. CHÚ DẪN THỨ HAI: Người tŕnh bày cho người khác một cách thức hay một dàn bài để suy gẫm hay chiêm niệm, phải kể một cách trung thành sự kiện để chiêm niệm hay suy gẫm, chỉ giải thích sơ lược và vắn tắt từng điểm. V́ nếu khởi từ một căn bản lịch sử xác thực, người chiêm niệm tự ḿnh suy nghĩ và lư luận mà gặp được điều ǵ giải thích hay giúp "cảm" sự kiện lịch sử ấy, họăc nhờ tư duy hay nhờ ơn Chúa soi sáng tâm trí, họ sẽ thấy ư vị hơn và thu đạt kết qủa thiêng liêng nhiều hơn là được người hướng dẫn diễn giải nhiều về nội dung sự kiện. Bởi v́ không phải sự biết nhiều, nhưng chính sự cảm nếm bề trong mới làm thỏa măn linh hồn.

3. CHÚ DẪN THỨ BA: V́ khi thực hành những việc Linh Thao sau đây, chúng ta dùng trí khôn để suy nghĩ và ư muốn để yêu mến, nên phải chú ư điểm này là khi dùng ư muốn để tâm sự ngoài miệng hay trong ḷng, với Chúa hay với các thánh, ta phải có thái độ cung kính hơn khi chỉ dùng trí khôn để hiểu biết.

4. CHÚ DẪN THỨ BỐN: Những bài Linh Thao sau đây được phân chia thành bốn tuần, tương ứng với bốn phần của sách Linh Thao:

tuần thứ nhất: suy xét và chiêm niệm về các tội lỗi;

tuần thứ hai: về cuộc đời Đức Kitô Chúa chúng ta cho đến hết ngày rước lá;

tuần thứ ba: về cuộc thương khó của Đức Kitô Chúa chúng ta;

tuần thứ bốn: về sự sống lại và lên trời, thêm bản chỉ dẫn ba cách cầu nguyện.

          Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là mỗi tuần phải kéo dài bảy hay tám ngày. V́ có thể trong tuần thứ nhất, có người chậm gặp được điều ḿnh kiếm, tức ḷng thống hối, sự đau đớn, nước mắt chảy ra v́ tội lỗi ḿnh. Lại cũng có những người chăm chỉ hơn kẻ khác, và tâm hồn bị xáo động hoặc bị thử thách nhiều hơn bởi các "thần" khác nhau, bởi vậy có khi phải rút ngắn, có khi phải kéo dài tuần ấy. Về các tuần sau cũng làm như vậy, trong khi luôn t́m đạt những điều tương ứng với chất liệu được đề nghị. Tuy nhiên sẽ kết thúc trong khoảng hơn kém 30 ngày.

5. CHÚ DẪN THỨ NĂM: Người luyện tập Linh Thao sẽ được nhiều ích lợi, nếu bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp đối với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cả ư muốn và tự do ḿnh cho Chúa chí tôn, để mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi sự ḿnh có theo Thánh ư Ngài.

6. CHÚ DẪN THỨ SÁU: Nếu vị hướng dẫn thấy người luyện tập Linh Thao không gặp biến chuyển thiêng liêng nào trong tâm hồn, như sự an ủi hay sầu khổ, cũng như không bị lay động bởi các "thần" khác nhau, th́ phải hỏi họ nhiều:

về các bài Linh Thao: họ có làm đúng thời giờ đă được chỉ định không và làm thế nào?

về các điều phụ thêm cũng vậy: họ có thi hành cẩn thận không? Phải hỏi cách riêng về từng điều một.

Về an ủi và sầu khổ, xin coi số 316 và 317. Về các điều phụ thêm, xin coi số 73- 90.

7. CHÚ DẪN THỨ BẢY: Nếu thấy người luyện tập bị buồn chán và cám dỗ, vị hướng dẫn không nên tỏ ra cứng cỏi cay nghiệt với họ, nhưng phải tỏ ra hiền lành dịu dàng, cùng khuyến khích cho họ can đảm và mạnh mẽ trong tương lai; ngoài ra vị ấy cũng phải vạch cho họ biết những mưu mô của kẻ thù của bản tính loài người và giúp họ dọn ḿnh sẵn sàng đón nhận an ủi sắp tới.

8. CHÚ DẪN THỨ TÁM: Tùy theo nhu cầu nhận thấy nơi người luyện tập, liên quan đến những sầu khổ và mưu mô của kẻ thù cũng như an ủi, vị hướng dẫn có thể tŕnh bày cho họ những "quy tắc" thuộc tuần thứ nhất và thứ hai nhằm phân biệt các "thần" khác nhau, (số 316- 324; 328- 336).

9. CHÚ DẪN THỨ CHÍN: Phải lưu ư trong tuần Linh Thao thứ nhất, nếu người luyện tập không phải là người thành thạo trong đàng thiêng liêng và gặp những cám dỗ thô thiển, rơ ràng, chẳng hạn chước cám dỗ bày cho họ thấy những cản trở đối với sự tiến tới trong đàng phụng sự Chúa, như những gian khổ, hổ thẹn và sợ sệt bởi hư danh phàm tục xúi bẩy. Vị hướng dẫn không nên nói với họ về những quy tắc "phân biệt thần lọai" thuộc tuần thứ hai. V́ những quy tắc thuộc tuần thứ nhất làm ích cho họ bao nhiêu th́ những quy tắc thuộc tuần thứ hai sẽ làm hại cho họ bấy nhiêu, bởi đây là vấn đề quá tế nhị và quá cao siêu đối với tầm hiểu biết của họ.

10. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI: Khi người hướng dẫn thấy người luyện tập bị quấy nhiễu và cám dỗ dưới h́nh thức sự lành, đó là chính lúc phải tŕnh bày cho họ những quy tắc thuộc tuần thứ hai như đă nhắc tới ở trên. V́ thông thường kẻ thù của loài người hay cám dỗ dưới dạng sự lành khi người luyện tập đang ở trong chặng "khải minh" (vita illuminativa) tương ứng với tuần Linh Thao thứ hai, hơn là trong chặng "thanh luyện" (vita purgativa) tương ứng với tuần thứ nhất.

11. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI MỘT: Khi làm tuần thứ nhất, người luyện tập sẽ được nhiều ích lợi nếu không biết ǵ về việc phải làm trong tuần thứ hai. Trái lại, họ phải chú tâm thao luyện tuần thứ nhất để đạt kết quả ḿnh t́m kiếm, như thể không hy vọng t́m được điều ǵ tốt trong tuần thứ hai.

12. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI HAI: Vị hướng dẫn phải cẩn thận nhắc bảo người luyện tập để họ dành đủ một giờ đồng hồ cho mỗi cuộc nguyện ngắm hay chiêm niệm, năm lần mỗi ngày; họ phải luôn cố gắng để hài ḷng với ư tưởng đă ở suốt một giờ trong việc thao luyện, và thà quá một giờ hơn là kém. V́ kẻ thù thường hay làm mọi cách để rút ngắn giờ chiêm niệm, suy gẫm hay cầu nguyện.

13. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI BA: Cũng phải chú ư rằng khi được an ủi th́ chiêm niệm đủ một giờ là việc dễ dàng và nhẹ nhàng, c̣n lúc gặp sầu khổ th́ chiêm niệm cho đến hết giờ thật là khó. Bởi thế để chống lại sầu khổ và thắng được cơn cám dỗ, người luyện tập Linh Thao phải luôn luôn làm quá một giờ đồng hồ chút ít, để không những tập cho quen chống trả mà c̣n chà đạp được kẻ thù.

14. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI BỐN: Nếu vị hướng dẫn thấy người luyện tập Linh Thao được an ủi và đầy ḷng sốt sắng, phải khuyên can họ đừng khấn hứa hay thề nguyền cách thiếu suy xét và vội vàng, và nếu biết rơ người đó có tính nhẹ dạ th́ càng phải khuyến cáo họ.

          V́ mặc dù khuyên người nọ người kia vào đời tu có khấn vâng phục và khiết tịnh là việc tốt; lại dù việc lành làm bởi lời khấn có giá trị hơn khi thường, nhưng phải rất cẩn thận để nhận biết rơ ràng tính t́nh và khả năng của người luyện tập và xem họ có thể được ích hay gặp cản trở trong sự chu toàn điều họ muốn khấn hứa.

15. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI LĂM: Vị hướng dẫn không nên thúc đẩy người luyện tập Linh Thao đến sự khó nghèo hay một lời hứa nào hơn là những điều ngược lại, hoặc đến bậc sống này hơn bậc sống khác.

          V́ dầu ngoài cuộc luyện tập Linh Thao th́ việc khuyến khích những người tỏ ra thích hợp với đời sống trinh khiết, tu tŕ hay một bậc sống trọn hảo nào khác theo Tin Mừng, lựa chọn con đường đó, là việc được phép và đáng khen, nhưng đang khi luyện tập Linh Thao, điều ích lợi và tốt đẹp hơn trong việc t́m hiểu Thánh ư Thiên Chúa, là để cho chính Đấng Tạo Hóa và Chúa tự thông truyền cho linh hồn trung tín, ấp ủ nó trong t́nh yêu mến và sự ngợi khen Ngài, và đặt nó vào con đường thích hợp hơn cả để phụng sự Ngài sau này. Như thế, người hướng dẫn không phải xoay hướng hoặc nghiêng về đàng này hay đàng kia, nhưng phải đứng ở giữa như cái cân, để cho Đấng Tạo Hóa trực tiếp hành động với thọ tạo và thọ tạo với Đấng Tạo Hóa là Chúa ḿnh.

16. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI SÁU: Muốn được vậy, nghĩa là muốn để Đấng Tạo Hóa và Chúa hành động cách chắc chắn hơn trong linh hồn người luyện tập, nếu gặp trường hợp linh hồn đó tha thiết hướng chiều về một điều ǵ đó cách lệch lạc, họ sẽ được nhiều ích lợi nếu phản ứng lại và đem hết sức hướng về điều ngược lại với điều ḿnh tha thiết.

          Chẳng hạn trường hợp một linh hồn hướng chiều về một chức vụ hay một bổng lộc, không phải để làm vinh danh Thiên Chúa Chúa chúng ta và mưu ích cho các linh hồn, nhưng để t́m ích riêng và lợi lộc đời tạm: linh hồn đó phải đem ḷng hướng chiều về điều ngược lại bằng cách nài van Thiên Chúa trong khi cầu nguyện và trong các việc đạo đức khác, xin Ngài ban cho ḿnh điều ngược lại, nghĩa là không ước muốn chức vụ, bổng lộc ấy, hoặc bất cứ sự ǵ khác, trừ khi Chúa chí tôn thay đổi chiều hướng ḷng tha thiết trước kia bằng cách chỉnh đốn lại những ước muốn của ḿnh, khiến cho nguyên do độc nhất làm ta ước muốn, hoặc giữ lấy điều này hay điều khác chỉ là việc phụng sự, tôn vinh và làm hiển danh Chúa Chí Tôn mà thôi.

17. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI BẢY: Thật rất hữu ích nếu vị hướng dẫn, mặc dầu không muốn hỏi hay biết các tư tưởng riêng hoặc tội lỗi của người luyện tập, nhưng được biết đầy đủ về những giao động và tư tưởng do các thần khác nhau đưa tới cho họ, v́ tùy vào sự tiến bộ mau hay chậm của họ mà người hướng dẫn có thể cho họ những việc Linh Thao thích ứng với nhu cầu của linh hồn bị xao động như vậy.

18. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI TÁM: Các việc Linh Thao phải thích hợp với khả năng của những người muốn tập luyện nghĩa là thích hợp với tuổi tác, văn hóa và trí khôn của họ. V́ thế không nên đề ra cho người quê mùa, yếu ớt những điều họ không thể làm mà không mệt nhọc lại chẳng được ích lợi ǵ. Cũng vậy, phải đề ra cho mỗi người việc ǵ có thể giúp đỡ họ và làm ích cho họ hơn, tùy theo khả năng đón nhận của họ.

          Bởi vậy, đối với một người chỉ muốn cố gắng học hỏi và thỏa măn linh hồn tới một mức độ nào đó mà thôi, th́ có thể đề nghị cho họ việc xét ḿnh riêng (số 24-32), rồi việc xét ḿnh chung (số 32-43) và cách thức cầu nguyện mỗi sáng độ nửa giờ theo các giới răn cùng bảy mối tội đầu v.v... (số 238-248); lại cũng khuyên họ nên xưng tội tám ngày một lần, và có thể rước lễ hai tuần một lần, và nếu họ khao khát hơn th́ tám ngày một lần. Đó là một cách thức thích hợp hơn đối với những người quê mùa hoặc ít chữ nghĩa. Sẽ cắt nghĩa cho họ từng giới răn một, rồi các mối tội đầu, các giới luật Hội Thánh, ngũ quan (số 238-248) và các việc từ thịện.

          Cũng thế, nếu vị hướng dẫn thấy người luyện tập Linh Thao không đủ sức khỏe hoặc khả năng tự nhiên và không có hy vọng được nhiều kết quả th́ việc ích lợi hơn là đề nghị cho họ làm ít nhiều việc nhẹ nhàng cho đến khi họ xưng tội. Sau đó khuyên họ xét ḿnh về một vài điểm và đề nghị một chương tŕnh năng xưng tội hơn trước, để giữ ḿnh bền vững trong những ǵ đă thu hoạch được. Không nên dẫn đưa họ vào việc chọn bậc sống hay những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ tuần thứ nhất, nhất là khi ta có thể thu được nhiều ích lợi hơn với những người khác và khi không đủ thời giờ để hướng dẫn tất cả mọi người.

19. CHÚ DẪN THỨ MƯỜI CHÍN: Đối với những người mắc việc công hay những việc hữu ích, nhưng là người học thức hoặc thông minh, và có thể dành một giờ rưỡi vào việc tập Linh Thao, sẽ giảng cho họ về Nguyên Lư- Nền Tảng (số 23). Cũng có thể giảng cho họ trong nửa giờ về việc xét ḿnh riêng (LT.24-31), rồi việc xét ḿnh chung (LT.32-43), và cách thức xưng tội và rước lễ. Trong ba ngày, mỗi sáng họ dành một giờ để suy ngắm về tội thứ nhất, thứ hai và thứ ba (LT.45-54); rồi trong ba ngày khác nữa, cũng vào giờ đó, suy về các tội đă phạm (55-61), rồi trong ba ngày khác nữa cũng vào giờ đó, suy về những h́nh phạt tương ứng với tội (65-71).

          Trong ba đợt suy gẫm đó, cũng đề nghị cho họ "mười điều phụ thêm" (73-90); c̣n về những mầu nhiệm của Đức Kitô Chúa chúng ta, cũng theo cùng một thể thức ấy, như sẽ được quảng diễn chi tiết trong các bài Linh Thao.

20. CHÚ DẪN THỨ HAI MƯƠI: Với một người rảnh rỗi và muốn được tấn tới thật nhiều, có thể giảng hết mọi việc Linh Thao theo thứ tự tŕnh bày sau đây; tuy nhiên khi làm Linh Thao, nếu người ấy càng xa lánh hết thảy bạn bè, những người quen biết và mọi sự lo lắng thế gian, th́ càng dễ tấn tới hơn. Như thế, họ có thể bỏ nơi đang ở, đến ở một nhà khác hay một pḥng khác để sống kín đáo hết sức, hầu mỗi ngày có thể đi xem lễ và dự kinh chiều mà khỏi sợ những người quen biết làm ngăn trở.

          Sự xa lánh ấy đem lại ba lợi ích chính trong nhiều lợi ích khác:

·       thứ nhất: Khi xa lánh bạn bè, những người quen biết và những bận rộn thế tục để phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa Chúa chúng ta, họ được công phúc không ít trước mặt Thiên Chúa.

·       thứ hai: Khi xa lánh như thế, th́ trí khôn không bị phân chia nhiều đàng, nhưng tập trung hết nỗ lực vào một việc là phụng sự Đấng Tạo Hóa và làm cho linh hồn ḿnh tấn tới, nên họ sử dụng những tài năng tự nhiên của ḿnh cách tự do hơn để chăm chú t́m kiếm điều họ hằng mong ước.

·       thứ ba: Linh hồn ta càng ở xa vắng một ḿnh càng dễ gần và tới được với Đấng Tạo Hóa và Chúa của ḿnh, và càng gần Ngài càng được sẵn sàng để đón nhận ân sủng và ân huệ từ ḷng nhân hậu vô cùng của Ngài hơn.

21.LINH THAO

ĐỂ TỰ THẮNG M̀NH VÀ XẾP ĐẶT CUỘC SỐNG CHO CÓ TRẬT TỰ MÀ KHÔNG QUYẾT ĐỊNH V̀ MỘT T̀NH CẢM LỆCH LẠC NÀO.

[ĐIỀU GIẢ THIẾT]

22. Muốn cho vị hướng dẫn và người luyện tập Linh Thao được nhiều ích lợi hơn, cần giả thiết rằng mọi giáo hữu phải mau mắn giải nghĩa tốt ư kiến của người khác hơn là lên án nó. Nếu không giải nghĩa tốt được, phải hỏi xem người ta hiểu ư kiến ấy thế nào; và nếu người ấỵ hiểu sai th́ phải sửa chữa với t́nh thương yêu; nếu làm thế không đủ, phải t́m mọi phương thế thích hợp để người ấỵ hiểu đúng và khỏi sai lầm.

23. NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

          Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn ḿnh. Mọi loài khác dưới đất cũng được tạo dựng cho con người, để giúp họ đạt tới cùng đích Đấng Tạo Hóa đặt cho họ. Bởi thế người ta chỉ được sử dụng thọ tạo theo mức độ chúng giúp đạt tới cứu cánh và phải gạt bỏ khi chúng làm cản trở. Do đó, cần phải giữ cho ḿnh được b́nh tâm[35] đối với mọi thọ tạo trong tất cả những ǵ nằm trong sự tự do của ta và không bị cấm, đến nỗi chúng ta không ước muốn sức khỏe hơn bệnh tật, giàu sang hơn nghèo khổ, danh vọng hơn nhục nhă, sống lâu hơn chết yểu và tương tự thế đối với mọi sự khác, nhưng chỉ ước muốn và lựa chọn cái ǵ dẫn đưa chúng ta tới cứu cánh của ḿnh hơn cả.

24. VIỆC XÉT M̀NH RIÊNG HÀNG NGÀY

gồm ba "th́" và hai lần xét ḿnh.

Th́ thứ nhất: Ban sáng khi thức dậy phải dốc ḷng giữ ḿnh cẩn thận không sa ngă vào một tội hay một nết xấu riêng nào đó, mà ta muốn sửa chữa và cải thiện.

25. Th́ thứ hai: Sau bữa ăn, xin Thiên Chúa ban cho điều ḿnh muốn, nghĩa là ơn được nhớ lại bao nhiêu lần đă sa ngă vào tội hay nết xấu riêng ấy và sửa ḿnh về sau. Rồi xét ḿnh lần thứ nhất: hỏi ḿnh về điểm riêng mà ḿnh đă dốc ḷng và muốn sửa ḿnh; như thế phải xét lại từng giờ từng lúc, bắt đầu từ khi thức dậy cho đến giờ xét ḿnh hiện tại. Ghi trên hàng thứ nhất sau chữ "g" một số chấm tương ứng với số lần sa ngă vào tội hay nết xấu riêng ấy. Sau đó lại dốc ḷng sửa ḿnh từ lúc đó cho đến lần xét ḿnh thứ hai.

26. Th́ thứ ba: Sau bữa tối, xét ḿnh lần thứ hai theo cùng một cách thức như trước, xét từng giờ từ lúc xét ḿnh lần thứ nhất cho đến bây giờ, và ghi trên hàng thứ hai sau chữ "g" số chấm tương ứng với số lần sa ngă vào tội hay tính xấu ấy.

27. Sau đây là bốn việc phụ thêm để trừ bỏ một tội hay một tính xấu riêng nào mau chóng hơn.

Việc phụ thêm thứ nhất: Mỗi lần sa ngă vào tội hay nết xấu riêng ấy, hăy để tay lên ngực, hối tiếc v́ đă sa ngă. Điều này có thể làm trước mặt nhiều người mà không ai chú ư đến.

28. Việc phụ thêm thứ hai: V́ hàng thứ nhất sau chữ "g" ứng với lần xét ḿnh thứ nhất, hàng thứ hai ứng với lần thứ hai, buổi tối hăy xem lại coi có sự cải thiện nào từ hàng thứ nhất sang hàng thứ hai, nghĩa là từ lần xét ḿnh thứ nhất đến lần xét ḿnh thứ hai không?

29. Việc phụ thêm thứ ba: So sánh ngày thứ hai với ngày thứ nhất, nghĩa là hai lần xét ḿnh trong ngày với hai lần xét ḿnh hôm trước, và xem từ ngày nọ sang ngày kia có sự cải thiện không?

30. Việc phụ thêm thứ bốn: So sánh tuần nọ với tuần kia, xem trong tuần này đối với tuần trước có sự cải thiện không?

31. Ghi chú: Phải chú ư, chữ "G" lớn thứ nhất sau đây ứng với ngày Chúa nhật, chữ "g" thứ hai nhỏ hơn ứng với ngày thứ hai, chữ thứ ba ứng với ngày thứ ba v.v.

          _________________________________________

G        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

          _________________________________________

g        _________________________________________

32. XÉT M̀NH CHUNG

Để thanh tẩy ḿnh và xưng tội cách tốt đẹp hơn. Tôi giả thiết rằng trong người tôi có ba thứ tư tưởng: một thứ là của riêng tôi hoàn toàn bởi tự do và ư muốn của tôi phát sinh, c̣n hai thứ kia tự bên ngoài đến, một thứ do thần tốt, và một thứ do thần xấu.

33. VỀ TƯ TƯỞNG

Có hai cách lập công khi một tư tưởng xấu từ bên ngoài đến; thí dụ một tư tưởng xúi phạm tội nặng chợt đến, tôi chống lại tức th́ và nó chịu thua.

34. Cách lập công thứ hai là khi cùng một tư tưởng xấu ấy đến, tôi chống trả, nó cứ trở lại nhiều lần và tôi cứ chống trả măi cho đến khi nó chịu thua và biến đi. Cách thứ hai này có công phúc hơn cách thứ nhất.

35. Người ta phạm một tội nhẹ khi cùng một tư tưởng xui phạm tội nặng ấy đến và người ta để tai nghe nó bằng cách ngưng lại ở đó một chút, hoặc chấp nhận một chút vui khoái giác quan, hay là trễ nải một chút trong việc xua đuổi nó.

36. Có hai cách phạm tội nặng: cách thứ nhất là ưng thuận một tư tưởng xấu để thực hành ngay theo sự ưng thuận ấy, hoặc để chuyển thành hành động khi có dịp.

37. Cách phạm tội nặng thứ hai là phạm tội ấy bằng việc làm. Và như thế tội nặng thêm v́ ba lư do: thứ nhất, v́ thời gian lâu hơn; thứ hai, v́ chủ ư bề trong mănh liệt hơn; thứ ba, v́ thiệt hại lớn hơn cho cả hai người.

38. VỀ LỜI NÓI

Đừng lấy Đấng Tạo Hóa hay thọ tạo vật mà thề trừ khi làm theo sự thật, sự cần thiết và cách kính cẩn. "Cần" hiểu là không dùng lời thề để quả quyết bất cứ sự thật nào, nhưng chỉ sự thật quan trọng đối với ích lợi phần hồn hay phần xác hoặc về của cải đời này. "Kính cẩn" hiểu là khi nói đến Danh Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, phải để ư giữ sự tôn trọng và kính cẩn xứng hợp.

39. Phải chú ư điều này: là cho dù khi thề vô cớ, nếu người ta nại đến Đấng Tạo Hóa, th́ tội nặng hơn là lấy thọ tạo mà thề; nhưng nếu lấy thọ tạo mà thề, lại khó mà thề theo đúng sự thật, sự cần thiết và kính cẩn, hơn là khi nại đến Đấng Tạo Hóa, v́ các lư do sau:

a. Lư do thứ nhất: Khi chúng ta muốn lấy một thọ tạo mà thề, th́ chính sự muốn lấy tên một thọ tạo không làm chúng ta chú ư và sáng suốt để nói sự thật hay để quả quyết theo sự cần thiết cho bằng sự muốn nại đến Danh Đấng Tạo Hóa và Chúa tể mọi loài.

b. Lư do thứ hai: Khi lấy thọ tạo mà thề, th́ không dễ giữ sự kính trọng đối với Đấng Tạo Hóa bằng khi thề mà xưng Danh Đấng Tạo Hóa và Chúa tể. V́ chính sự muốn nại đến danh Thiên Chúa Chúa chúng ta thúc đẩy chúng ta tỏ ḷng kính trọng hơn sự muốn lấy tên thọ tạo. Bởi vậy, người hoàn thiện được phép lấy thọ tạo mà thề hơn người thường. V́ nhờ sự chiêm niệm liên lỉ và ơn soi sáng trí khôn, họ suy xét, nguyện ngắm và chiêm niệm nhiều hơn về sự Thiên Chúa Chúa ở trong mọi thọ tạo theo yếu tính và quyền phép của Ngài. Như thế, khi lấy thọ tạo mà thề, họ đủ năng lực và sẵn sàng hơn người thường để tỏ ḷng tôn trọng và kính cẩn đối với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh.

c. Lư do thứ ba: Nếu người ta cứ lấy thọ tạo mà thề luôn măi, th́ người thường có nguy cơ sa vào việc tôn thờ ngẫu tượng hơn người hoàn thiện.

40. ĐỪNG NÓI LỜI VÔ ÍCH: Lời vô ích hiểu là những lời không mang lại lợi ích ǵ cho tôi, hay cho người khác và cũng chẳng qui hướng vào ư đó. Bởi vậy khi nói bất cứ điều ǵ tự nó ích lợi hay là có ư làm ích cho linh hồn ḿnh hay cho người khác hoặc cho thân xác hay về của cải đời này không bao giờ là lời vô ích, cả khi nói những điều không thuộc bậc sống của ḿnh, như một tu sĩ nói về chiến tranh hay thương mại. Nhưng trong mọi trường hợp trên, người ta được công khi nhằm mục đích tốt và phạm tội khi nhằm mục đích xấu hay nói cách vô ích.

41. KHÔNG NÓI HÀNH NÓI XẤU: V́ nếu tôi tiết lộ một tội trọng kín, tôi phạm tội nặng, nếu đó là một tội nhẹ, tôi phạm tội nhẹ, và nếu là một khuyết điểm, tôi tỏ chính khuyết điểm của tôi. Nhưng với một ư ngay lành, tôi có thể nói về tội hay lỗi người khác theo hai cách:

a. Cách thứ nhất: Khi một tội là công khai, chẳng hạn một người đàn bà xấu nết công khai, hay một bản án của ṭa, hoặc một sai lầm công khai đầu độc các linh hồn nó lan tới.

b. Cách thứ hai: Khi tiết lộ một tội kín cho một người nào để họ giúp tội nhân hối cải, với điều kiện phải có hy vọng hoặc lư do khá đủ để nghĩ rằng người ấy có thể giúp tội nhân.

42. VỀ VIÊC PHẢI LÀM: Xét theo mười điều răn của Chúa và sáu điều răn của Hội Thánh và các huấn lệnh của bề trên. Mọi hành động ngược với bất cứ điều nào trong ba thứ trên đều là một tội, nặng nhẹ tùy theo tính cách quan trọng nhiều ít. Chỉ thị của bề trên hiểu là "sắc lệnh về binh Thánh Giá" hay về các ân xá mà có xưng tội và rước lễ như "cầu cho ḥa b́nh" chẳng hạn. V́ không phải là nhẹ tội khi xui người khác hay tự ḿnh hành động ngược với những huấn dụ đạo đức như thế và các chỉ thị của bề trên chúng ta.

43. PHƯƠNG PHÁP XÉT M̀NH CHUNG

gồm năm Điểm gợi ư:

1. Điểm thứ nhất: Tạ ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta v́ những ân huệ đă được.

2. Điểm thứ hai: Xin ơn nhận biết và từ bỏ tội lỗi.

3. Điểm thứ ba: Xét hỏi linh hồn ḿnh, từ khi thức dậy cho tới lúc xét ḿnh hiện tại, từng giờ, từng lúc, trước hết về tư tưởng, rồi về lời nói, sau đến hành động, theo cùng thứ tự trong việc xét ḿnh riêng.

4. Điểm thứ bốn: Xin Thiên Chúa Chúa chúng ta tha thứ tội lỗi.

5. Điểm thứ năm: Dốc ḷng nhờ ơn Chúa sửa ḿnh.

Đọc kinh Lạy Cha.

44. XƯNG TỘI CHUNG VÀ RƯỚC LỄ

          Người tự ư xưng tội chung, sẽ được nhiều ích lợi, sau đây xin kể ba điều:

1. Ích lợi thứ nhất: Người nào xưng tội hằng năm, dĩ nhiên không buộc phải xưng tội chung, nhưng nếu làm được th́ có ích lợi và công phúc lớn hơn, v́ có ḷng thống hối hiện tại mănh liệt hơn về tất cả các tội lỗi và mọi sự xấu xa trong đời ḿnh.

2. Ích lợi thứ hai: Khi tập Linh Thao người ta có được sự hiểu biết bề trong về tội lỗi và sự xấu xa của nó hơn khi không để ư ǵ đến những điều nội tâm. Nhờ có sự hiểu biết và ḷng ăn năn đau đớn hơn về tội lỗi như thế, người ta được ích lợi và công phúc nhiều hơn có thể được trước đấy.

3. Ích lợi thứ ba: Bởi đó, khi đă xưng tội cách tốt đẹp hơn và được chuẩn bị đầy đủ hơn, người ta cảm thấy ḿnh được thêm xứng đáng và sẵn sàng hơn để lănh bí tích Thánh Thể, là bí tích mà khi chịu, không những giúp ta khỏi sa ngă phạm tội, mà c̣n giúp cho ơn thánh trong ta lớn mạnh thêm luôn. Việc xưng tội chung này nên làm ngay sau các việc Linh Thao tuần thứ nhất.

TUẦN THỨ NHẤT

45. Cuộc Linh Thao Thứ Nhất

SUY GẪM BẰNG BA TÀI NĂNG CỦA LINH HỒN

VỀ TỘI THỨ NHẤT, THỨ HAI VÀ THỨ BA.

CUỘC LINH THAO NÀY GỒM: TRƯỚC HẾT LÀ KINH DỌN L̉NG VÀ HAI TIỀN NGUYỆN, RỒI ĐẾN BA ĐIỂM CHÍNH VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.

46. KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng cốt xin ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta cho tất cả ư hướng, hành vi và hoạt động của tôi hoàn toàn hướng về việc phụng sự và ca tụng Chúa chí tôn.

47. TIỀN NGUYỆN I: Tiền nguyện thứ nhất là đặt ḿnh vào khung cảnh bằng cách nh́n xem nơi chốn.

Ở đây nên chú ư rằng khi chiêm niệm hay suy gẫm những ǵ hữu h́nh, thí dụ chiêm niệm Đức Kitô Chúa chúng ta, là Đấng hữu h́nh, đặt ḿnh vào khung cảnh là lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem nơi chốn cụ thể mà điều tôi muốn chiêm ngắm diễn ra. Tôi nói nơi chốn cụ thể, chẳng hạn một đền thờ hay một trái núi mà Chúa Kitô hay Đức Bà ở đó, tùy theo điều tôi muốn chiêm ngắm. Đối với những sự vô h́nh, chẳng hạn ở đây, về tội lỗi, th́ đặt ḿnh vào khung cảnh là lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem và xét linh hồn tôi bị giam cầm trong thân xác hay hư nát này và cả hồn lẫn xác bị đầy ải trong thung lũng thế gian này giữa các loài dă thú

48. TIỀN NGUYỆN II: Tiền nguyện thứ hai là xin Thiên Chúa Chúa chúng ta điều tôi muốn và ước ao.

Điều cầu xin phải hợp với đề tài đang suy ngắm. Chẳng hạn khi chiêm niệm về mầu nhiệm Phục Sinh, th́ xin đựơc vui mừng với Chúa Kitô vui mừng, nếu chiêm niệm về sự Thương Khó th́ phải xin ơn buồn phiền, khóc lóc và đau khổ với Chúa Kitô đau khổ.

Ở đây phải cầu xin được ḷng tự hổ thẹn và ngượng ngùng khi thấy bao nhiêu người đă bị luận phạt chỉ v́ một tội trọng, c̣n chính tôi đă bao lần đáng bị luận phạt đời đời v́ bấy nhiêu tội tôi đă phạm.

49. Ghi chú: Trước mỗi lần chiêm niệm hay suy gẫm, bao giờ cũng phải đọc kinh dọn ḷng và làm hai tiền nguyện nói trên. Kinh dọn ḷng th́ không đổi, c̣n hai tiền nguyện đôi khi thay đổi tùy theo đề tài suy gẫm hay chiêm niệm.

50. ĐIỂM NHẤT: Dùng trí nhớ để nhớ lại tội đầu tiên, tội của các thiên thần, kế đó dùng trí khôn để suy xét tội ấy, rồi dùng đến ư muốn, muốn nhớ và hiểu tất cả điều ấy để được ḷng hổ thẹn và ngượng ngùng hơn, khi đem so sánh tội độc nhất của các thiên thần với bấy nhiêu tội của tôi. Bởi đâu các thiên thần đă bị phạt sa hỏa ngục chỉ v́ một tội, c̣n chính tôi, biết bao lần đă đáng bị phạt như thế v́ bấy nhiêu tội tôi.

          Tôi nói: nhớ lại tội của các thiên thần, nghĩa là nhớ lại các thiên thần đă được dựng nên trong ân sủng và đă không muốn dùng tự do của ḿnh để tôn thờ và phục tùng Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, lại sinh kiêu ngạo, nên đă đổi từ ân sủng sang sự ác và đă bị xua đuổi từ thiên đàng xuống hỏa ngục như thế nào. Đoạn dùng trí khôn để suy xét vấn đề một cách chi tiết hơn, rồi dùng ư muốn để đánh động ḷng ḿnh hơn.

51. ĐIỂM HAI: Cũng làm như thế, nghĩa là vận dụng ba tài năng (của linh hồn) vào tội Adam và Eva; nhớ lại rằng chỉ v́ một tội ấy, hai ông bà đă phải làm việc đền tội lâu dài thế nào, và loài người đă bị hư hỏng ra sao, cũng như biết bao nhiêu người đang đi lần xuống hỏa ngục.

          Tôi nói: nhớ lại tội thứ hai, tức là tội của tổ tông chúng ta: sau khi ông Adam đă được dựng nên trong đồng "Damas" và được đặt trong vườn địa đàng, và sau khi Eva được dựng nên bởi xương sườn của ông, hai ông bà đă nhận lệnh cấm không được ăn trái cây biết lành biết dữ, nhưng ông bà đă ăn và như thế đă phạm tội. Bấy giờ ḿnh mặc áo da thú, và bị đuổi ra khỏi địa đàng, hai ông bà sống không c̣n nguyên sủng v́ đă làm mất, suốt đời đầy gian khổ và đền tội nặng nề. Sau đó lấy trí khôn để suy xét vấn đề tỉ mỉ hơn, và dùng đến ư muốn như đă nói trên.

52. ĐIỂM BA: Cũng làm như thế về tội thứ ba, tội riêng của một người đă phải sa hỏa ngục v́ một tội trọng thôi, và của nhiều người khác kể chẳng xiết, cũng đă sa hỏa ngục v́ những tội c̣n ít hơn tội tôi đă phạm.

          Tôi nói: cũng làm như thế về tội riêng thứ ba, tức là nhớ lại trong trí sự nặng nề xấu xa của tội phạm đến Chúa là Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh; lấy trí khôn suy tưởng kẻ đă phạm tội và hành động phản lại Đấng tốt lành vô cùng đă bị phạt đời đời cách chính đáng như thế nào, và cuối cùng dùng đến ư muốn như đă nói trên.

53. TÂM SỰ: Tưởng tượng đang ở trước mặt Đức Kitô Chúa chúng ta nằm trên Thánh Giá, tâm sự cùng Ngài: v́ đâu Chúa là Đấng Tạo Hóa, Chúa đă xuống thế làm người, và v́ đâu Chúa là Đấng hằng sống, Chúa đă chịu chết và chết như thế này v́ tội lỗi tôi. Cũng nh́n vào chính ḿnh tôi mà tự hỏi: tôi đă làm ǵ cho Đức Kitô? tôi đang làm ǵ cho Đức Kitô? và tôi phải làm ǵ cho Đức Kitô. Cuối cùng nh́n Chúa treo trên Thánh Giá như thế và cân nhắc theo những điều hiện đến trong trí tôi.

54. TÂM SỰ chính là như một người bạn nói với bạn ḿnh hay như một người đầy tớ nói với chủ ḿnh, khi xin một ơn, khi thú một lỗi đă phạm, khi tỏ bày việc ḿnh và xin chỉ bảo. Đọc kinh Lạy Cha.

55. Cuộc Linh Thao Thứ Hai Suy Gẫm Về Các Tội

GỒM KINH DỌN L̉NG VỚI HAI TIỀN NGUYỆN RỒI NĂM ĐIỂM VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như trước.

TIỀN NGUYỆN I: Đặt ḿnh vào khung cảnh như trước.

TIỀN NGUYỆN II: Xin điều tôi ao ước. Ở đây là xin được ḷng ăn năn đau đớn thảm thiết và chảy nước mắt ra v́ tội lỗi tôi.

56. ĐIỂM NHẤT: Về toàn thể các tội tôi đă phạm, nghĩa là nhớ lại mọi tội đă phạm trong đời tôi bằng cách nh́n lại từng năm hay từng thời kỳ một. Có ba điều giúp ích cho việc đó:

thứ nhất là nh́n lại những nơi và nhà đă ở;

thứ hai: là xét lại những tiếp xúc giao dịch với người khác;

thứ ba: xét lại nghề nghiệp đă làm.

57. ĐIỂM HAI: Cân nhắc tội: nh́n vào sự xấu xa và độc hại của mỗi tội trọng đă phạm, cho dù không bị cấm.

58. ĐIỂM BA: Nh́n xem tôi là ai và so sánh để càng thấy ḿnh nhỏ bé hơn:

thứ nhất: tôi là ai sánh với mọi người;

thứ hai: loài người là ǵ sánh với các Thiên Thần và các Thánh trên thiên đàng;

thứ ba: cả thọ tạo là ǵ sánh với Thiên Chúa; vậy th́ một ḿnh tôi, tôi có thể là ǵ?

thứ bốn: nh́n xem tất cả sự thối rữa và xấu xa của thân xác tôi;

thứ năm: coi tôi như một thứ ung nhọt, từ đó tuôn ra bao nhiêu tội lỗi cùng những sự hung ác và chất độc rất ghê tởm dường ấy.

59. ĐIỂM BỐN: Xét xem Thiên Chúa mà tôi phạm đến là ai, xét theo từng ưu phẩm của Ngài để so sánh với những điểm trái ngược nơi tôi: sự khôn ngoan của Ngài với sự dốt nát của tôi, sự toàn năng của Ngài với sự yếu đuối của tôi, sự công chính của Ngài với sự bất chính của tôi, sự tốt lành của Ngài với sự độc ác của tôi.

60. ĐIỂM NĂM: Tiếng kêu thán phục với một ḷng xúc động mạnh mẽ, tưởng nghĩ đến mọi thọ tạo, làm sao mà chúng đă để tôi sống và ǵn giữ tôi cho sống, các thiên thần là lưỡi gươm của phép công thẳng Thiên Chúa làm sao mà các Đấng ấy đă chịu đựng được tôi, che chở và cầu xin cho tôi, rồi các vị thánh, làm sao mà các ngài đă bầu cử và cầu xin cho tôi; lại các tầng trời, hai vầng nhật nguyệt, các v́ tinh tú cùng các nguyên tố và mọi loài trong vũ trụ, hoa trái, chim chóc, tôm cá và các giống thú vật, (làm sao chúng c̣n để tôi sống đến lúc này); trái đất sao không nứt ra để chôn vùi tôi, tạo nên những địa ngục mới để tôi chịu khổ đời đời trong đó.

61. TÂM SỰ: Kết thúc bằng một cuộc tâm sự về ḷng thương xót, thân thưa và tạ ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta, v́ Ngài đă cho tôi sống đến bây giờ, và dốc ḷng nhờ ơn Chúa chừa cải từ này về sau. Đọc kinh Lạy Cha.

62. Cuộc Linh Thao Thứ Ba

LÀ LẶP LẠI CUỘC LINH THAO THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI VỚI BA CUỘC TÂM SỰ.

Sau kinh dọn ḷng và hai tiền nguyện, lặp lại cuộc Linh Thao thứ nhất và thứ hai, chú ư và ngừng lại ở những điểm tôi đă cảm thấy được an ủi hơn hoặc phải sầu khổ hơn hay được một t́nh cảm thiêng liêng lớn hơn, sau đó tôi làm ba cuộc tâm sự theo cách sau đây:

63. CUỘC TÂM SỰ THỨ NHẤT: tâm sự với Đức Mẹ xin Người cầu cùng Con, cũng là Chúa của Người, ban ơn cho tôi về ba điều:

·       một là cho tôi cảm nghiệm được sự thấu hiểu bên trong về tội lỗi tôi, cùng gớm ghét nó;

·       hai là cho tôi cảm nghiệm được sự lệch lạc trong hành động của tôi để gớm ghét nó và nhờ đó sửa ḿnh cùng tự chỉnh đốn lại;

·       ba là xin được thấu hiểu thế gian hầu gớm ghét nó và tránh xa những sự thế gian phù phiếm.

Đoạn đọc một Kinh Kính Mừng.

CUỘC TÂM SỰ THỨ HAI: cầu xin như thế với Đức Chúa Con để Ngài xin cùng Đức Chúa Cha ban cho tôi ơn ấy.

Đoạn đọc kinh "Anima Christi" (Lạy Linh Hồn Chúa Kitô)

CUỘC TÂM SỰ THỨ BA: cầu xin như thế với Đức Chúa Cha, để chính Chúa Hằng Sống ban ơn ấy cho tôi.

Đoạn đọc một Kinh Lạy Cha.

64. Cuộc Linh Thao thứ bốn

LÀ TÓM LƯỢC LẠI CHÍNH CUỘC LINH THAO THỨ BA.

Tôi nói tóm lược lại, v́ trí khôn chăm chú suy tưởng bằng cách hồi niệm những điều đă chiêm niệm trong các cuộc Linh Thao trước. Rồi cũng làm lại ba cuộc tâm sự như trên.

65. Cuộc Linh Thao Thứ Năm

SUY GẪM VỀ HỎA NGỤC, GỒM KINH DỌN L̉NG VỚI HAI TIỀN NGUYỆN, NĂM ĐIỂM VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như thường lệ.

TIỀN NGUYỆN I: Đặt ḿnh vào khung cảnh. Ở đây, lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem chiều dài, chiều rộng và chiều sâu của hỏa ngục.

TIỀN NGUYỆN II: Xin điều tôi ao ước. Ở đây, xin cho được cảm biết trong ḷng cực h́nh những kẻ bị phạt trong hỏa ngục phải chịu, để nếu tôi có quên t́nh yêu Chúa Hằng Sống, th́ ít ra sự sợ hăi những cực h́nh ấy giúp tôi đừng sa ngă phạm tội.

66. ĐIỂM NHẤT: Lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem những khói lửa bao la và các linh hồn như ở trong những thân xác cháy đỏ.

67. ĐIỂM HAI: Lấy tai nghe những tiếng than khóc, gào thét kêu la, những lời phạm thượng đến Đức Kitô, Chúa chúng ta và tất cả các thánh.

68. ĐIỂM BA: Lấy mũi ngửi khói, diêm sinh, nơi ô uế và những sự thối tha.

69. ĐIỂM BỐN: Lấy lưỡi nếm những sự cay đắng như nước mắt, sự buồn phiền và ḍi bọ rúc riả lương tâm.

70. ĐIỂM NĂM: Lấy tay sờ xem lửa bén và thiêu đốt các linh hồn như thế nào.

71. TÂM SỰ: Tâm sự với Đức Kitô Chúa chúng ta, đem trí nhớ lại các linh hồn trong hỏa ngục, có những linh hồn v́ không tin Chúa đến, có những linh hồn khác đă tin nhưng không ăn ở theo các giới răn Chúa. Chia các linh hồn ấy thành ba nhóm:

·       thứ nhất: các linh hồn trước khi Chúa đến thế gian;

·       thứ hai: các linh hồn thời Chúa sống ở thế gian;

·       thứ ba: các linh hồn sau thời Chúa sống ở thế gian này.

Rồi tạ ơn Chúa v́ đă không để tôi rơi vào một trong ba nhóm ấy bằng cách chấm dứt đời sống tôi. Cũng tạ ơn Chúa v́ cho đến nay, Chúa luôn tỏ ḷng nhân từ và thương xót đối với tôi như vậy.

Kết thúc bằng Kinh Lạy Cha.

72. Ghi chú: Cuộc Linh Thao thứ nhất sẽ làm vào nửa đêm, cuộc thứ hai sẽ làm vào buổi sáng, cuộc thứ ba trước hoặc sau Thánh Lễ nhưng phải là trước bữa trưa, cuộc thứ bốn sẽ làm vào giờ hát kinh chiều, cuộc thứ năm một giờ trước bữa ăn tối.

Thời dụng biểu này - có thể xê xích ít nhiều- tôi đề nghị cho cả bốn tuần; tùy theo tuổi tác, thể trạng và tâm trạng cho phép người luyện tập làm cả năm cuộc Linh Thao hay ít hơn.

73. NHỮNG ĐIỀU PHỤ THÊM

ĐỂ TẬP LINH THAO TỐT ĐẸP HƠN VÀ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG SỰ M̀NH AO ƯỚC CÁCH DỄ DÀNG HƠN.

ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ NHẤT: Khi đă nằm xuống và sắp sửa ngủ, trong khoảng thời gian bằng đọc một kinh Kính Mừng, tưởng nghĩ đến giờ tôi phải thức dậy và để làm ǵ, cùng lược tóm lại cuộc Linh Thao mà tôi phải làm.

74. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ HAI: Khi thức dậy không nghĩ đến ǵ khác, nhưng để tâm vào ngay điều tôi sắp suy ngắm trong cuộc Linh Thao thứ nhất vào nửa đêm; giục ḷng hổ thẹn v́ bấy nhiêu tội lỗi tôi đă phạm, bằng cách mượn h́nh ảnh chẳng hạn một hiệp sĩ đang đứng trước mặt vua ḿnh và cả triều đ́nh, đầy hổ thẹn và bối rối v́ đă xúc phạm nhiều đến người trước đây đă ban cho ḿnh nhiều ân huệ.

Cũng vậy, trong cuộc Linh Thao thứ hai, coi ḿnh như một người tội lỗi nặng nề mang gông cùm, nghĩa là coi ḿnh như đang tiến lên để ra trước Đấng xét xử đời đời, tay chân bị xiềng xích; lấy thí dụ những tù phạm bị xiềng xích và đă đáng chết, đang ra trước quan ṭa đời này. Vừa mặc áo vừa nghĩ về những điều ấy hay những điều khác, tùy theo đề tài cuộc Linh Thao.

75. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ BA: Đứng cách chỗ tôi phải chiêm niệm hay suy gẫm một hai bước, trong khoảng thời gian bằng đọc một kinh Lạy Cha, nâng trí lên nghĩ đến Thiên Chúa, Chúa chúng ta đang nh́n xem tôi v.v., và làm một cử chỉ tỏ ḷng cung kính hay khiêm nhường.

76. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ BỐN: Bắt đầu chiêm niệm, khi qùy gối, khi sấp ḿnh xuống đất, lúc nằm ngửa mặt lên trời, khi ngồi, khi đứng, luôn nhằm t́m kiếm điều tôi ao ước. Hai điểm phải chú ư:

·       thứ nhất, nếu đang qùy gối mà t́m được điều ḿnh ao ước th́ đừng thay đổi, và nếu đang sấp ḿnh cũng vậy v.v.

·       thứ hai, ở điểm tôi gặp thấy điều tôi ao ước, tôi sẽ nghỉ tại đó, không bận tâm đi xa hơn, cho đến khi thấy ḿnh no thỏa.

77. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ NĂM: Khi xong cuộc Linh Thao, trong khoảng 15 phút, hoặc ngồi hoặc đi đi lại lại, tôi sẽ kiểm điểm xem việc chiêm niệm hay suy gẫm đă diễn ra thế nào; nếu không tốt đẹp, tôi xét xem nguyên cớ bởi đâu, và khi thấy, tôi ăn năn để sửa ḿnh về sau; nếu tốt đẹp, tôi tạ ơn Thiên Chúa, và lần khác sẽ làm như vậy.

78. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ SÁU: Không nghĩ đến những điều vui thú hay mừng rỡ, như sự vinh hiển sự phục sinh v.v., v́ mọi tư tưởng về vui sướng hay hoan hỉ đều ngăn trở ta cảm thấy được sự buồn phiền đau đớn và nước mắt v́ tội lỗi ta; nhưng trái lại, giữ ḷng muốn chịu và cảm thấy đau đớn, đem trí nhớ đến sự chết, sự phán xét nhiều hơn.

79. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ BẢY: V́ cùng một mục đích ấy, kiêng lánh mọi ánh sáng. Khi ở trong pḥng, đóng hết các cửa, trừ lúc đọc kinh, đọc sách hay ăn cơm.

80. ĐIỀU PHỤ THÊM THƯ TÁM: Đừng cười và đừng nói ǵ cho gây cười.

81. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ CHÍN: Cầm hăm con mắt, trừ khi tiếp đón hay từ gĩa người đến gặp.

82. ĐIỀU PHỤ THÊM THỨ MƯỜI: Việc đền tội, sự ăn năn đền tội chia ra hai thứ, bề trong và bề ngoài. Bề trong là đau đớn về tội lỗi ḿnh cùng quyết tâm không bao giờ tái phạm tội này hay tội khác nữa. Sự đền tội bề ngoài là kết quả của sự thống hối bề trong, tức là sửa phạt về tội lỗi đă phạm. Việc này thực hiện bằng ba cách.

83. CÁCH THỨ NHẤT: Cách thứ nhất về việc ăn uống. Nên biết, bỏ bớt sự ǵ dư thừa, chưa phải là hăm ḿnh đền tội, nhưng mới là tiết độ. Chỉ gọi là hăm ḿnh đền tội khi ta bỏ bớt sự cần thiết b́nh thường, và càng bỏ bớt nhiều, việc hăm ḿnh đền tội càng lớn lao tốt đẹp, miễn là không làm tổn hại sức khỏe và không gây bệnh tật trầm trọng.

84. CÁCH THỨ HAI: Cách thứ hai về giấc ngủ. Ở đây cũng thế, bỏ những ǵ là đài các, tiện nghi dư thừa, chưa phải là hăm ḿnh đền tội, nhưng có sự hăm ḿnh đền tội khi bớt cái ǵ b́nh thường. Và càng bớt nhiều càng có giá trị, miễn không làm tổn hại sức khỏe và không gây bệnh tật trầm trọng. Và cũng không nên bớt giấc ngủ b́nh thường, trừ khi có thói xấu ngủ nhiều quá mà muốn đạt mức trung dung.

85. CÁCH THỨ BA: Cách thứ ba là phạt xác, nghĩa là bắt thân xác chịu sự đau đớn cảm thấy được như mang trên ḿnh những đai có mũi nhọn hoặc dây thừng hay xích sắt làm cho ḿnh đau đớn, hoặc dùng những cách hành xác khác.

86. Ghi chú: Trong việc hăm ḿnh đền tội, thích hợp hơn và an toàn hơn nếu chỉ làm đau đớn da thịt nhưng không phạm đến xương cốt, làm sao để cảm thấy đau đớn nhưng không sinh bệnh tật, v́ thế nên đánh ḿnh bằng những dây nhỏ chỉ làm đau đớn ngoài da, hơn là dùng những cách khác có thể gây nội thương nguy hiểm.

87. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Những việc đền tội bề ngoài nhằm ba mục đích chính:

·       thứ nhất: đền bù những tội đă phạm;

·       thứ hai: thắng ḿnh, nghĩa là để bắt t́nh cảm vâng theo lư trí và mọi phần hạ phục tùng các phần thượng;

·       thứ ba: để t́m cho được một ân sủng hay ân huệ mà người ta muốn và ước ao, chẳng hạn ước ao được ḷng ăn năn về tội lỗi ḿnh, hoặc khóc lóc nhiều về tội lỗi hay về những buồn phiền đau đớn Chúa Kitô đă chịu trong cuộc thương khó, hoặc để giải quyết một nghi nan người ta đang mắc.

88. GHI CHÚ THỨ HAI: Nên chú ư là các điều phụ thêm thứ nhất và thứ hai phải thực hiện đối với các cuộc Linh Thao nửa đêm hay rạng sáng chứ không phải cho các cuộc Linh Thao khác. C̣n điều phụ thêm thứ tư không bao giờ làm ở nhà thờ hay trước công chúng mà chỉ làm riêng, thí dụ trong nhà ḿnh v. v.

89. GHI CHÚ THỨ BA: Khi người tập Linh Thao không t́m được điều ḿnh ao ước như nước mắt, sự an ủi v.v., nhiều khi nên thay đổi ít nhiều trong việc ăn uống, trong giấc ngủ và những cách hăm ḿnh đền tội khác. Chẳng hạn làm việc hăm ḿnh đền tội hai họăc ba ngày, rồi ngừng hai hay ba ngày; v́ có những người nên làm việc hăm ḿnh nhiều hơn, có những người khác lại nên làm ít hơn. Cũng vậy, nhiều khi ta bỏ việc hăm ḿnh đền tội bởi tính dung dưỡng thân xác và phán đoán sai lầm cho rằng sức ḿnh không chịu nỗi mà sẽ sinh ra bệnh tật trầm trọng, trái lại đôi khi ta lại làm quá, tưởng thân xác có thể chịu được, nên nhiều khi Thiên Chúa là Chúa chúng ta, thông biết bản tính chúng ta hơn chúng ta vô cùng, cho mỗi người nhận ra điều thích hợp với ḿnh qua những sự thay đổi ấy.

90. GHI CHÚ THỨ BỐN: Xét ḿnh riêng để trừ bỏ những khuyết điểm và những trễ nải trong việc Linh Thao và các việc phụ thêm; cả các tuần thứ hai, thứ ba và thứ bốn cũng làm như vậy.

 

TUẦN THỨ HAI

91. Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

TIỀN NGUYỆN I: Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn. Ở đây là lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem các hội đường, các xóm làng nơi Đức Kitô Chúa chúng ta giảng dạy.

TIỀN NGUYỆN II: Xin điều tôi ao ước. Ở đây là xin ơn Chúa chúng ta để khỏi điếc lác với tiếng Ngài kêu gọi, nhưng được mau mắn và chăm chỉ chu toàn Ư cực thánh của Ngài.

92. PHẦN THỨ NHẤT

ĐIỂM NHẤT: Là h́nh dung ra một vị vua trần gian, được tay Thiên Chúa, Chúa chúng ta tuyển chọn, mà tất cả các lănh tụ và giáo hữu đều kính trọng và vâng phục.

93. ĐIỂM HAI: Nh́n coi vị vua này ngỏ lời phán bảo thần dân ḿnh thế nào: "Ta muốn chinh phục cả lănh thổ của lương dân; bởi vậy, ai muốn theo ta phải bằng ḷng ăn uống và mặc như ta v.v., người ấy cũng phải lao nhọc cùng ta ban ngày và tỉnh thức với ta ban đêm v.v., để sau này được dự phần cùng ta trong chiến thắng như đă dự phần với ta trong lao nhọc.”

94. ĐIỂM BA: Xét xem những tôi trung phải trả lời thế nào với vị vua quảng đại và nhân hậu dường ấy; và do đó, nếu kẻ nào không nhận lời yêu cầu của vị vua như thế, đáng mọi người trách mắng và bị coi là một hiệp sĩ hèn nhát biết bao.

95. PHẦN THỨ HAI

Phần thứ hai của cuộc Linh Thao này là áp dụng thí dụ về vua đời tạm trên đây vào Chúa Kitô, theo như ba điểm nói trên.

ĐIỂM NHẤT: Trong điểm nhất, nếu tiếng gọi của vua đời tạm đối với thần dân mà c̣n phải để ư tới, th́ điều này c̣n đáng để ư hơn biết bao: đó là nh́n ngắm Chúa Kitô, Vua Hằng Sống, và trước mặt Ngài, cả thế giới; Ngài kêu gọi hết thảy và từng người một; Ngài phán: "Ư Ta là muốn chinh phục cả thế gian và mọi kẻ thù địch, và nhờ thế mà vào trong vinh quang của Cha Ta; bởi vậy, ai muốn theo Ta, phải lao nhọc cùng Ta, để khi đă theo Ta trong gian khổ, cũng được theo Ta trong vinh quang.”

96. ĐIỂM HAI: Suy xét rằng tất cả những ai có lương tri đều sẽ dâng trót ḿnh để chịu lao nhọc.

97. ĐIỂM BA: Những kẻ muốn yêu mến và trổi vượt hơn trong việc phụng sự Vua Hằng Sống và Chúa muôn loài, không những hiến thân chịu lao nhọc mà c̣n hành động chống lại t́nh cảm tự nhiên và chống lại ḷng yêu chuộng xác thịt, thế gian; họ dâng lễ vật qúi giá hơn và quan trọng hơn. Họ thân thưa:

98. Lạy Chúa Hằng Sống của muôn loài, nhờ ơn và sự trợ giúp của Chúa, trước ḷng nhân từ vô biên Chúa và trước mặt Mẹ vinh hiển Chúa cùng tất cả các thánh nam nữ của triều đ́nh thiên quốc, con xin tiến dâng chính ḿnh con. Con mong muốn và ước ao, và sau khi suy xét, con quyết tâm noi gương Chúa chịu mọi sự sỉ nhục và khinh chê, mọi h́nh thức nghèo khó, thực sự cũng như trong ḷng, miễn là điều ấy phụng sự và làm vinh danh Chúa hơn, nếu Chúa muốn chọn và nhận con vào đời sống và bậc ấy.

99. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Cuộc Linh Thao này sẽ làm hai lần trong ngày: ban sáng khi thức dậy và một giờ trước bữa trưa hay bữa tối.

100. GHI CHÚ THỨ HAI: Về tuần thứ hai cũng như các tuần sau, thỉnh thoảng đọc một chút trong sách Gương Chúa Giêsu hay Phúc âm, và hạnh các thánh là điều rất có ích.

101. Ngày Thứ Nhất

Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất Về Mầu Nhiệm Nhập Thể

gồm kinh dọn ḷng, ba tiền nguyện, ba điểm và một cuộc tâm sự.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

102. TIỀN NGUYỆN I: Nhớ lại lịch sử điều tôi sắp chiêm niệm. Ở đây là Ba Ngôi Thiên Chúa đang nh́n xem khắp mặt địa cầu đầy người; vi thấy mọi người đang sa xuống hỏa ngục, Ba Ngôi quyết định trong sự vĩnh hằng của ḿnh rằng Ngôi Hai sẽ làm Người để cứu chuộc nhân loại; và như thế khi đă đến thời viên măn, Ba Ngôi sai thiên thần Gabriel đến cùng Đức Mẹ [ 262].

103. TIỀN NGUYỆN II: Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở đây là nh́n xem mặt địa cầu mênh mông, trên đó có biết bao dân tộc rất khác biệt nhau; rồi nh́n riêng ngôi nhà và căn pḥng của Đức Bà trong thành Nazareth, xứ Galilêa.

104. TIỀN NGUYỆN III: Xin điều tôi muốn. Ở đây là xin được sự hiểu biết bên trong về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.

105. Ghi chú: Ở đây nên chú ư là trong tuần này và các tuần sau, phải thực hành cùng một kinh dọn ḷng như đă nói từ đầu, không thay đổi; c̣n ba tiền nguyện có thể thay đổi h́nh thức tùy theo đề tài chiêm niệm.

106. ĐIỂM THÚ NHẤT:

1. Lần lượt nh́n xem các nhân vật; trước tiên là những người trên mặt đất, với bao sự khác biệt, trong y phục và cử chỉ, kẻ trắng người đen, người ḥa b́nh kẻ chiến tranh, kẻ khóc người cười, kẻ khỏe mạnh người ốm yếu, người sinh ra kẻ chết đi v.v.

2. Hai là nh́n xem và chiêm ngưỡng Ba Ngôi Thiên Chúa, như ngự trên ngai ṭa uy nghi, đang nh́n xem khắp mặt địa cầu và mọi dân tộc đang mù quáng dường ấy, đang chết và sa hỏa ngục như thế nào.

3. Ba là nh́n xem Đức Bà và thiên thần đang kính chào Người. Suy nghĩ để rút ích lợi từ những ǵ đă nh́n ngắm như vậy.

107. ĐIỂM THỨ HAI: Nghe những điều người ta nói trên mặt đất, tức là nghe người ta nói với nhau, chửi rủa và nói phạm thượng v.v., như thế nào. Cũng vậy nghe Ba Ngôi Thiên Chúa phán: "chúng ta hăy cứu chuộc nhân loại....” Rồi những lời của thiên thần và Đức Bà; cuối cùng suy nghĩ để rút ích lợi từ những lời ấy.

108. ĐIỂM THỨ BA: Sau đó nh́n xem những việc người ta làm trên mặt đất, như đánh, giết, sa hỏa ngục v.v.; cũng thế, nh́n xem việc Ba Ngôi Thiên Chúa làm tức là đang thực hiện công cuộc Nhập Thể cực thánh ...; cũng thế, nh́n xem thiên thần và Đức Bà làm ǵ, tức là thiên thần đang thi hành chức vụ sứ giả và Đức Bà hạ ḿnh khiêm nhường và tạ ơn Thiên Chúa. Đoạn suy nghĩ để rút ích lợi bởi mỗi sự việc ấy.

109. TÂM SỰ: Sau hết, tâm sự bằng cách nghĩ về điều tôi phải thưa với Ba Ngôi Thiên Chúa hoặc với Ngôi Lời Hằng Sống đă nhập thể, hoặc với Đức Mẹ cũng là Đức Bà của chúng ta; cầu xin theo điều ḿnh cảm thấy trong ḷng, để được theo và noi gương Chúa chúng ta vừa mới nhập thể như vậy hơn.

Đọc một kinh Lạy Cha.

110. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Chúa Sinh Ra Đời

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như thường lệ.

111. TIỀN NGUYỆN I: Tiền nguyện thứ nhất là lịch sử. Ở đây là cuộc hành tŕnh từ Nazareth đi Belem: Đức Mẹ có thai được gần chín tháng, như ta có thể lấy ḷng đạo đức mà suy gẫm như thế, ngồi trên lưng một con lừa, và Thánh Giuse với một nữ tỳ dắt một con ḅ, cùng rời Nazareth đi Belem để trả thuế mà vua Xê-da đă buộc các vùng ấy phải nộp [264].

112. TIỀN NGUYỆN II: Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn; ở đây là lấy con mắt tưởng tượng mà nh́n xem con đường từ Nazareth đến Belem, coi chiều dài chiều rộng, xem con đường ấy đi trên đồng bằng hay qua thung lũng và đồi núi. Cũng nh́n xem chỗ hay hang đá Chúa sinh ra, xem chỗ ấy lớn, nhỏ, cao, thấp cỡ nào và được dọn dẹp thế nào.

113. TIỀN NGUYỆN III: Cùng một tiền nguyện và cùng một h́nh thức như trong cuộc chiêm niệm trước.

114. ĐIỂM NHẤT: Là nh́n xem các nhân vật, tức là Đức Bà, thánh Giuse, người nữ tỳ và Hài Nhi Giêsu sau khi sinh ra; tự coi ḿnh như một kẻ hèn mọn và một tôi tớ bé nhỏ bất xứng, nh́n ngắm, chiêm ngưỡng và hầu hạ các Ngài trong những công việc cần thiết, như thể tôi đang có mặt, với tất cả ḷng tôn trọng và cung kính có thể được; đoạn suy nghĩ trong ḷng để rút phần nào ích lợi.

115. ĐIỂM HAI: Nh́n xem, chú ư và suy niệm điều các Ngài nói, và suy nghĩ trong ḷng để rút ích lợi.

116. ĐIỂM BA: Nh́n xem và suy niệm việc các Ngài làm, như cuộc hành tŕnh và sự vất vả để Chúa sinh ra trong cảnh nghèo khó tột cùng, và để chết trên Thập Giá sau bao nhiêu lao nhọc, đói, khát, nóng, lạnh, bất công nhục nhă, và tất cả những sự ấy là v́ tôi. Rồi suy nghĩ để rút phần nào ích lợi thiêng liêng.

117. TÂM SỰ: Kết thúc bằng một cuộc tâm sự như trong cuộc chiêm niệm trước và bằng một kinh Lạy Cha.

118. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Ba

LẶP LẠI CUỘC LINH THAO THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI.

Sau kinh dọn ḷng và ba tiền nguyện, sẽ lặp lại cuộc Linh Thao thứ nhất và thứ hai; chú ư hơn những chỗ quan trọng mà trước đă cảm thấy chút hiểu biết, an ủi hay sầu khổ. Cuối cùng cũng tâm sự và đọc một kinh Lạy Cha.

119. Trong cuộc "chiêm niệm lại" này cũng như các lần khác sau này, sẽ theo cùng một trật tự tiến hành như trong các cuộc "gẫm lại" ở tuần thứ nhất, chỉ đổi đề tài c̣n giữ nguyên cách thức.

120. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Tư

lặp lại cuộc chiêm niệm thứ nhất và thứ hai, theo cùng một cách thức như trong cuộc chiêm niệm lại trên đây.

121. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Năm

ÁP DỤNG NGŨ QUAN VÀO CUỘC CHIÊM NIỆM THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI.

KINH NGUYỆN: Sau kinh dọn ḷng và tiền nguyện, sẽ được ích lợi nhiều nếu đem sử dụng năm giác quan tưởng tượng vào bài chiêm niệm thứ nhất và thứ hai theo cách sau đây:

122. ĐIỂM NHẤT: Lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem các nhân vật. Suy gẫm và chiêm niệm từng hoàn cảnh liên quan tới các Ngài và rút phần nào ích lợi từ những điều ḿnh thấy.

123. ĐIỂM HAI: Lấy thính giác nghe những điều các Ngài nói hoặc có thể nói, và suy nghĩ trong ḷng để rút lấy phần nào ích lợi từ đó.

124. ĐIỂM BA: Dùng khứu giác và vị giác, ngửi và nếm mùi vị thơm tho và dịu ngọt vô cùng của Thiên Chúa, của linh hồn và các nhân đức của linh hồn cùng moi sự khác, tùy theo nhân vật ta chiêm ngắm; suy nghĩ trong ḷng và rút phần nào ích lợi từ đó.

125. ĐIỂM BỐN: Lấy xúc giác sờ mó, thí dụ ôm và hôn những nơi các nhân vật ấy đặt chân lên và đă ngồi, luôn cố gắng rút phần nào ích lợi từ đó.

126. TÂM SỰ: Kết thúc bằng một cuộc tâm sự như trong các cuộc chiêm niệm thứ nhất và thứ hai, và bằng một kinh Lạy Cha.

127. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Nên chú ư rằng trong suốt tuần này và các tuần sau, tôi chỉ được đọc về mầu nhiệm của cuộc chiêm niệm mà tôi phải làm ngay, nghĩa là hiện tại tôi sẽ không đọc về một mầu nhiệm nào khác mà tôi không phải chiêm niệm hôm nay hay ngay bây giờ, để việc suy ngắm mầu nhiệm này không làm xáo trộn việc suy ngắm mầu nhiệm khác.

128. GHI CHÚ THỨ HAI: Cuộc linh thao thứ nhất về mầu nhiệm nhập thể sẽ thực hiện vào nửa đêm; cuộc thứ hai lúc rạng đông; cuộc thứ ba sau giờ Thánh Lễ; cuộc thứ bốn vào giờ hát kinh chiều và cuộc thứ năm trước giờ ăn tối; mỗi lần làm một giờ. Sẽ giữ cùng một trật tự ấy cho mọi cuộc sau này.

129. GHI CHÚ THỨ BA: Nên chú ư là nếu người tập Linh Thao đă có tuổi hay yếu sức, hoặc dù mạnh khỏe nhưng trong tuần thứ nhất đă sút đi một chút th́ điều tốt hơn đối với họ trong tuần thứ hai này ít nhất đôi ba lần bỏ đừng dậy trong giờ nửa đêm; họ sẽ làm một cuộc chiêm niệm buổi sáng, một sau giờ lễ và một trước bữa ăn và một cuộc ôn lại tất cả những cuộc ấy vào giờ hát kinh chiều rồi áp dụng ngũ quan trước bữa tối.

130. GHI CHÚ THỨ BỐN

          Đối với tuần thứ hai này, trong tất cả mười điều phụ thêm đă nói ở tuần thứ nhất, phải sửa đổi lại các điều thứ hai, thứ sáu, thứ bảy và một phần điều thứ mười.

·       Về điều thứ hai sửa đổi như sau: thọat khi thức dậy, đặt ngay trước mặt cuộc chiêm niệm mà tôi phải làm, với ư muốn được biết Ngôi Lời Hằng Sống nhập thể hơn, để phụng sự và theo chân Ngài hơn.

·       Về điều thứ sáu: Năng nhớ lại cuộc đời và các mầu nhiệm của Đức Kitô, Chúa chúng ta, bắt đầu từ mầu nhiệm nhập thể cho đến nơi hoặc mầu nhiệm mà tôi đang chiêm niệm.

·       Về điều thứ bảy: Phải dùng bóng tối hay ánh sáng, trời đẹp hay trời xấu, tùy theo người tập Linh Thao thấy có thể sinh ích cho ḿnh và giúp t́m kiếm được điều ḿnh ao ước.

·       Về điều thứ mười: Người tập Linh Thao phải thích ứng với những mầu nhiệm mà họ chiêm niệm, v́ có những mầu nhiệm đ̣i phải hăm ḿnh đền tội, có những mầu nhiệm không.

Như vậy phải giữ rất cẩn thận mười điều phụ thêm ấy.

131. GHI CHÚ THỨ NĂM: Trong tất cả các cuộc Linh Thao, trừ lần nửa đêm và ban sáng, sẽ làm một điều tương đương với điều phụ thêm thứ hai, theo cách thức sau đây: ngay khi thấy đến giờ phải tập Linh Thao, trước khi đi làm việc ấy, tôi sẽ đặt trước mặt: tôi đi đâu và đến trước mặt ai, rồi lược tóm bài Linh Thao sắp làm và sau khi làm điều phụ thêm thứ ba, tôi vào bài linh thao.

132. NGÀY THỨ HAI: Để làm cuộc chiêm niệm thứ nhất và thứ hai, lấy mầu nhiệm Dâng Chúa trong đền thánh [268] và việc chạy trốn như bị lưu đầy sang Ai cập [269]. Về hai bài chiêm niệm này, cũng làm hai cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan theo cùng một cách thức như hôm trước.

133. Ghi chú: Mặc dù người tập Linh Thao dai sức và luôn sẵn sàng, đôi khi cũng nên thay đổi, bắt đầu từ ngày thứ hai này cho đến hết ngày thứ bốn, để dễ t́m thấy điều người ta ước muốn hơn; nghĩa là chỉ làm một cuộc chiêm niệm lúc rạng đông, một vào giờ lễ, chiêm niệm lại vào giờ kinh chiều và áp dụng ngũ quan trước bữa ăn tối.

134. NGÀY THỨ BA: Chiêm niệm về trẻ Giêsu vâng lời cha mẹ ở Nazareth như thế nào [271], đoạn về việc các Ngài t́m thấy con trẻ ở trong đền thờ ra sao [272], và sau đó cũng làm hai cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan.

135. Lời Phi Lộ Về Sự Suy Xét Các Bậc Sống

          Chúng ta đă suy gẫm gương Đức Kitô, Chúa chúng ta, nêu cho chúng ta về bậc sống thứ nhất, tức là sự tuân giữ các điều răn, khi Ngài sống trong sự vâng lời cha mẹ, cũng như về bậc sống thứ hai tức là sự trọn lành theo Phúc Âm, khi Ngài bỏ Cha nuôi và người Mẹ trần gian của Ngài mà ở lại trong đền thờ để hiến ḿnh vào việc thuần túy phụng sự Cha Hằng Sống của Ngài. Cùng một trật với việc chiêm niệm về cuộc đời Ngài, chúng ta cũng sẽ bắt đầu t́m hiểu và xin được biết Chúa Chí Tôn muốn chúng ta sống cách nào, hay ở bậc nào để phụng sự Ngài. Bởi vậy, như để dẫn nhập, ngay trong cuộc Linh Thao sau đây, chúng ta sẽ xem xét ư hướng của Đức Kitô, Chúa chúng ta và ngược lại ư hướng của kẻ thù địch của bản tính loài người, cũng như về cách thức phải tự chỉnh đốn hầu đạt tới sự trọn lành trong bất cứ bậc hay nếp sống nào mà Thiên Chúa, Chúa chúng ta sẽ cho chúng ta chọn lựa.

136. Ngày Thứ Bốn Suy Gẫm Về Hai Cờ Hiệu

MỘT BÊN LÀ CỜ CỦA ĐỨC KITÔ, VỊ CHỈ HUY TỐI CAO VÀ CHÚA CHÚNG TA,

BÊN KIA LÀ CỜ CỦA LUXIPHE, KẺ TỬ THÙ CỦA BẢN TÍNH LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

137. TIỀN NGUYỆN I: Lịch sử. Ở đây là Chúa Kitô kêu gọi và muốn cho mọi người ở dưới cờ của Ngài, và ngược lại, Luxiphe cũng gọi và muốn cho mọi người ở dưới cờ của nó.

138. TIỀN NGUYỆN II: Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở đây là nh́n xem một doanh trại vĩ đại bao hết miền Giêrusalem, nơi có vị chỉ huy tối cao của những người lành là Đức Kitô, Chúa chúng ta; một doanh trại khác ở miền Babylon, nơi có tên cầm đầu các kẻ thù là Luxiphe.

139. TIỀN NGUYỆN III: Xin điều tôi ao ước, ở đây là xin cho được hiểu biết những sự lừa dối của tên cầm đầu xấu xa và ơn trợ giúp để giữ ḿnh khỏi những sự ấy; và được hiểu biết sự sống chân thật mà vị lănh đạo tối cao và chân thật chỉ cho chúng ta, cùng ơn để bắt chước Ngài.

PHẦN I

140. ĐIỂM THỨ NHẤT: Tưởng tượng ra tên cầm đầu hết mọi kẻ thù địch ở trong một doanh trại vĩ đại miền Babylon, như đang ngồi trên một ngai lớn bằng lửa và khói, với h́nh dáng ghê sợ và khủng khiếp.

141. ĐIỂM THỨ HAI: Suy nghĩ về việc hắn kêu gọi vô số qủy và sai chúng đi khắp thế giới thể nào; bọn này thành nọ, lũ kia thành khác, không bỏ sót một thành một miền, một bậc người hay một cá nhân nào.

142. ĐIỂM THỨ BA: Suy nghĩ về những điều hắn nói với lũ qủy, và về sự hắn khuyến khích chúng quăng lưới và xiềng xích như thế nào; rằng trước hết chúng phải cám dỗ về sự ham muốn của cải, như phần nhiều trường hợp thường xảy ra, để người ta dễ đi đến hư danh thế gian hơn, và sau đó đến kiêu ngạo cả thể; như thế, bậc thang thứ nhất là của cải, bậc thứ hai là danh vọng, bậc thứ ba là kiêu ngạo, và từ ba bậc thang này hắn đưa vào mọi nết xấu khác.

PHẦN II

143. Phải tưởng tượng trái ngược lại về vị chỉ huy tối cao và chân thật là Đức Kitô, Chúa chúng ta.

144. ĐIỂM THỨ NHẤT: Nh́n xem Đức Kitô Chúa chúng ta đang đứng trong doanh trại rộng lớn miền Giêrusalem, ở một chỗ khiêm tốn, đẹp đẽ và phúc hậu như thế nào.

145. ĐIỂM THỨ HAI: Suy nghĩ về việc Chúa cả thế giới chọn lựa biết bao nhiêu người, tông đồ, môn đệ v.v., và sai họ đi khắp thế gian rao truyền đạo thánh Ngài cho mọi bậc và mọi hạng người như thế nào.

146. ĐIỂM THỨ BA: Suy xét về những lời Đức Kitô Chúa chúng ta phán dạy các tôi tớ và bạn hữu Ngài, mà Ngài sai đi trong cuộc viễn chinh đó, Ngài căn dặn họ t́m cách giúp đỡ mọi người bằng cách lôi kéo họ, thứ nhất đến sự khó nghèo trong ḷng tột bực, và đến cả sự khó nghèo thực, nếu bởi đó Thiên Chúa được phụng sự và nếu Ngài muốn chọn họ; thứ hai đến ḷng ao ước chịu sỉ nhục và khinh chê, v́ bởi hai điều ấy mà có đức khiêm nhường. Như thế có ba bậc thang, bậc thứ nhất là sự khó nghèo đối lại với sự giàu sang, bậc thứ hai là những sự sỉ nhục hoặc khinh chê đối lại với danh vọng thế gian, bậc thứ ba là khiêm nhường đối lại với kiêu ngạo và từ ba bậc thang ấy họ dẫn tới mọi nhân đức khác.

147. TÂM SỰ:

CUỘC TÂM SỰ THỨ NHẤT: Tâm sự với Đức Bà để Người xin cùng Con và Chúa của Người, cho tôi ơn được nhận vào dưới cờ Ngài, thứ nhất bằng sự khó nghèo trong ḷng tột bực và cả khó nghèo thực sự, nếu bởi đó Chúa Chí Tôn được phụng sự và nếu Ngài muốn chọn và nhận tôi; thứ hai bằng sự chịu sỉ nhục và bất công, để nhờ đó noi gương Ngài hơn, miễn là tôi có thể chịu những sự ấy mà không ai mắc tội và cũng không có chi mất ḷng Chúa Chí Tôn. Đoạn đọc một kinh Kính Mừng.

CUỘC TÂM SỰ THỨ HAI: Xin với Đức Chúa Con để Ngài cầu xin Đức Chúa Cha cho tôi cùng một điều ấy, rồi đọc kinh "Anima Christi" (Lạy hồn Chúa Kitô).

CUỘC TÂM SỰ THỨ BA: Xin cùng một điều ấy với Đức Chúa Cha để Ngài ban cho tôi, rồi đọc kinh Lạy Cha.

148. Ghi chú: Cuộc Linh Thao sẽ làm vào nửa đêm và sau đó làm một lần nữa vào ban sáng. Cũng làm hai cuộc chiêm niệm lại về cùng một bài ấy vào giờ lễ và giờ kinh chiều, lần nào cũng kết thúc bằng ba cuộc tâm sự với Đức Bà, với Đức Chúa Con và với Đức Chúa Cha. Cuộc Linh Thao tiếp sau đây về các mẫu người, sẽ làm trước bữa tối.

149. Cũng Ngày Thứ Bốn Suy Ngắm Về Ba Mẫu Người

ĐỂ THEO MẪU TỐT HƠN HẾT.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như thường lệ.

150. TIỀN NGUYỆN I: câu chuyện. Đây là câu chuyện ba mẫu người, mỗi người đều kiếm được mười ngàn "đu-ca[36].” Nhưng không phải với ḷng trong sạch ngay thẳng v́ kính mến Chúa. Cả ba đều muốn cứu thoát ḿnh và t́m thấy Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong b́nh an, bằng cách gỡ ḿnh khỏi gánh nặng và sự cản trở vấp phải do ḷng quyến luyến những của đă kiếm được.

151. TIỀN NGUYỆN II: Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở đây là nh́n xem chính ḿnh tôi, như đang ở trước mặt Thiên Chúa, Chúa chúng ta và tất cả các Thánh của Ngài, để ước muốn và nhận biết điều ǵ có thể làm đẹp ḷng Chúa nhân lành hơn cả.

152. TIỀN NGUYỆN III: Xin điều tôi ao ước. Ở đây là xin ơn để chọn điều ǵ có thể làm vinh danh Chúa Chí Tôn và cứu rỗi linh hồn tôi hơn.

153. MẪU NGƯỜI THỨ NHẤT: Mẫu người thứ nhất cũng muốn diệt trừ ḷng quyến luyến ḿnh có đối với của cải đă kiếm được, để t́m thấy Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong b́nh an và để có thể cứu rỗi chính ḿnh, nhưng cho đến giờ chết họ vẫn chưa dùng các phương thế để làm điều đó.

154. MẪU NGƯỜI THỨ HAI: Mẫu người thứ hai muốn diệt trừ ḷng quyến luyến ấy, nhưng họ muốn vừa diệt bỏ nó, vừa giữ lại của cải đă kiếm được, làm như Thiên Chúa phải theo ư họ muốn, chứ họ không quyết tâm từ bỏ của ấy để đi tới Thiên Chúa, mặc dù đó phải là bậc tốt hơn hết cho họ.

155 MẪU NGƯỜI THỨ BA. Mẫu người thứ ba muốn diệt trừ ḷng quyến luyến ấy, mà họ muốn đến nỗi, chẳng c̣n tha thiết tới việc giữ hay không giữ của đă kiếm được, nhưng chỉ muốn là sẽ muốn hay không muốn của ấy theo như Thiên Chúa, Chúa chúng ta sẽ thúc đẩy ư muốn của họ, và chính họ thấy tốt hơn cho việc phụng sự và ngợi khen Chúa Chí Tôn. Trong khi chờ đợi, họ muốn coi ḿnh như đă từ bỏ hết mọi sự trong tâm hồn và cố sức không muốn sự này hay sự khác nếu họ không được thúc đẩy bởi nguyên một việc phụng sự Thiên Chúa Chúa chúng ta mà thôi. Như thế, chính ư muốn được phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn, thúc đẩy họ giữ hoặc bỏ của ấy.

156. BA CUỘC TÂM SỰ: Làm ba cuộc tâm sự như trong cuộc chiêm niệm trước về hai cờ hiệu.

157. Ghi chú: Nên ghi chú rằng khi ta cảm thấy một tâm t́nh ngược lại hoặc ḷng ghê sợ đối với sự khó nghèo thực sự, khi ta không b́nh tâm đối với sự khó nghèo hoặc giàu có, th́ điều giúp ích nhiều để diệt trừ ḷng quyến luyến lệch lạc ấy, là trong các cuộc tâm sự, nài xin Chúa chọn ḿnh vào sự khó nghèo thực sự (mặc dù nghịch ư xác thịt) và giục ḷng ước muốn, cầu xin, van nài cho được điều ấy, miễn là để phụng sự và ngợi khen Chúa nhân lành.

158. NGÀY THỨ NĂM: Chiêm niệm việc Đức Kitô, Chúa chúng ta khởi hành từ Nazareth để đến sông Giordano và việc Ngài chịu phép rửa thế nào [273].

159. GHI CHÚ I: Cuộc chiêm niệm này sẽ làm một lần vào nửa đêm và một lần nữa vào ban sáng, rồi hai lần chiêm niệm lại vào giờ lễ và giờ kinh chiều, và trước bữa ăn tối sẽ áp dụng ngũ quan. Mỗi lần trong năm cuộc Linh Thao ấy đều bắt đầu bằng kinh dọn ḷng thường lệ và ba tiền nguyện như đă giải thích trong cuộc chiêm niệm về mầu nhiệm nhập thể và giáng sinh, và kết thúc bằng ba cuộc tâm sự, như khi gẫm về ba mẫu người hoặc theo lời ghi chú sau bài ấy.

160. GHI CHÚ II: Việc xét ḿnh riêng sau bữa trưa và bữa tối sẽ làm về các khuyết điểm và trễ nải trong các cuộc Linh Thao và các điều phụ thêm thuộc ngày đó. Những ngày sau cũng làm như vậy.

161. NGÀY THỨ SÁU: Chiêm niệm Đức Kitô Chúa chúng ta từ sông Giordano vào sa mạc và ở đó thế nào. Mọi sự theo cùng thể thức như ngày thứ năm.

NGÀY THỨ BẢY: Thánh Andrê và các vị khác theo Đức Kitô, Chúa chúng ta thế nào [275].

NGÀY THỨ TÁM: Bài giảng trên núi về tám mối phúc thật [278].

NGÀY THỨ CHÍN: Về Đức Kitô Chúa chúng ta hiện ra cùng các môn đệ trên sóng biển như thế nào [280].

NGÀY THỨ MƯỜI: Chúa giảng trong đền thờ như thế nào [288].

NGÀY THỨ MƯỜI MỘT: Về việc ông Lazarô sống lại [285].

NGÀY THỨ MƯỜI HAI: Về ngày rước lá [287].

162. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Trong tuần thứ hai này, có thể kéo dài hay rút ngắn số bài chiêm niệm tùy theo thời giờ mỗi người muốn dành ra hoặc theo những tiến bộ họ đạt được. Nếu muốn kéo dài, hăy suy gẫm về những mầu nhiệm Đức Bà đi viếng bà thánh Elisabeth, các mục đồng, Hài Nhi Giêsu chịu cắt b́, Ba Vua, hoặc về những mầu nhiệm khác nữa. Nếu muốn rút ngắn cũng có thể bỏ bớt trong những điều đă đề nghị; v́ những điều đó chỉ nhằm cung cấp một dẫn nhập và phương pháp hầu sau này có thể chiêm niệm cách hoàn hảo và trọn vẹn hơn.

163. GHI CHÚ THỨ HAI: Sẽ đề cập vấn đề lựa chọn bắt đầu từ cuộc chiêm niệm về những việc xảy ra từ khi Chúa rời Nazareth đến hết sự việc ở sông Gio-đan; nghĩa là ngày thứ năm, theo những điều giải thích ở sau.

164. GHI CHÚ THỨ BA: Trước khi bước vào việc lựa chọn, điều rất ích lợi để được gắn bó với giáo lư chân chính của Đức Kitô, Chúa chúng ta, là để tâm suy xét về ba bậc khiêm nhường sau đây; trong ngày, nên có những lúc để suy đi nghĩ lại về ba bậc khiêm nhường ấy và cũng làm các cuộc tâm sự, theo cách thức sẽ chỉ ở phần sau.

Ba Bậc Khiêm Nhường

165. BẬC KHIÊM NHƯỜNG THỨ NHẤT. Bậc khiêm nhường thứ nhất cần thiết cho phần rỗi đời đời, tức là tôi hạ ḿnh khiêm nhường hết sức, để vâng theo lề luật Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong mọi sự, đến nỗi dù người ta có đặt tôi làm Chúa mọi thọ tạo trên thế gian này, hay phải đổi lấy mạng sống tạm bợ này đi nữa, tôi cũng không nghĩ đến vi phạm một điều răn nào của Thiên Chúa hay của loài người mà buộc thành tội trọng.

166. BẬC KHIÊM NHƯỜNG THỨ HAI. Bậc khiêm nhường thứ hai hoàn hảo hơn bậc thứ nhất, tức là tôi đạt tới mức độ không c̣n t́m kiếm mà cũng chẳng tha thiết được giàu sang hơn là nghèo hèn, danh dự hơn là sỉ nhục, ao ước đời sống lâu dài hơn là ngắn ngủi, khi việc phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta và ích lợi cho linh hồn tôi ngang nhau trong những trường hợp ấy; vả nữa, dù để được cả thọ tạo hay phải mất mạng sống đi nữa, tôi cũng không nghĩ đến phạm một tội nhẹ.

167. BẬC KHIÊM NHƯỜNG THỨ BA. Bậc khiêm nhường thứ ba hoàn hảo nhất, bao gồm cả bậc thứ nhất và thứ hai, ấy là giả thiết sự ngợi khen và vinh danh Chúa ngang nhau trong mọi trường hợp, th́ để noi gương và nên giống Đức Kitô, Chúa chúng ta cách thiết thực hơn, tôi muốn và tôi chọn sự nghèo khó với Chúa Kitô khó nghèo hơn là sự giàu sang, sự sỉ nhục với Chúa Kitô bị sỉ nhục hơn là danh vọng, và ao ước được coi là vô tích sự và điên dại v́ Chúa Kitô, Đấng đă bị coi như thế trước, hơn là được coi như người thông thái, khôn ngoan ở thế gian này.

168. GHI CHÚ: Như thế, đối với ai muốn được ḷng khiêm nhường theo bậc thứ ba, th́ điều rất có ích là làm ba cuộc tâm sự như trong bài về các mẫu người đă nói trước đây, xin Chúa chúng ta đoái chọn họ vào bậc khiêm nhường thứ ba, cao hơn và tốt hơn, để noi gương và phụng sự Chúa hơn, nếu việc phụng sự và ngợi khen Chúa chí tôn cũng bằng hoặc lớn hơn (ở các bậc khác).

169. Lời Phi Lộ Để Làm Việc Lựa Chọn

ĐIỂM NHẤT: Trong mọi việc lựa chọn tốt, về phía chúng ta, con mắt ư hướng chúng ta phải đơn sơ, chỉ nhằm cái [mục đích] v́ đó tôi đă được dựng nên, ấy là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và để cứu rỗi linh hồn tôi; như thế dù tôi lựa chọn điều ǵ, th́ cũng phải nhằm giúp tôi đạt tới cứu cánh v́ đó tôi được tạo dựng, nên không được xếp đặt và khuôn cứu cánh theo phương tiện, nhưng phải xếp đặt và khuôn phương tiện theo cứu cánh.

          Chẳng hạn trong thực tế, có nhiều người chọn hôn nhân trước, đó là phương tiện, thứ đến mới chọn việc phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong hôn nhân, việc phụng sự Chúa mới là cứu cánh. Cũng thế có những người khác trước hết muốn được bổng lộc[37] rồi sau mới muốn phụng sự Thiên Chúa qua đó.

          Như vậy, những người ấy không đi thẳng tới Thiên Chúa, nhưng muốn Thiên Chúa đến với những quyến luyến lệch lạc của họ, và do đó họ lấy phương tiện làm cứu cánh và cứu cánh làm phương tiện. Như thế cái mà họ phải đặt lên hàng đầu th́ họ lại để xuống hàng cuối, v́ trước nhất chúng ta phải lấy ư muốn phụng sự Thiên Chúa, tức là cứu cánh, làm mục tiêu, thứ đến mới là việc nhận bổng lộc hay kết hôn là phương tiện để tới mục đích, nếu thấy việc đó thích hợp hơn. Như vậy không ǵ có thể thúc đẩy tôi lấy hay bỏ những phương thế nào đó, ngoại trừ việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và phần rỗi đời đời của linh hồn tôi.

170. LỜI CHỈ DẪN ĐỂ BIẾT PHẢI LỰA CHỌN NHỮNG G̀, GỒM BỐN ĐIỂM VÀ MỘT GHI CHÚ.

ĐIỂM THỨ NHẤT: Tất cả những điều làm đối tượng cho việc lựa chọn của chúng ta nhất thiết phải là những điều, tự chúng không tốt không xấu, hoặc tốt và phù hợp với ư của Mẹ Thánh là Giáo Hội Phẩm Trật, chứ không phải là những điều xấu hay những điều đi ngược với Giáo Hội.

171. ĐIỂM THỨ HAI: Có những điều mà khi việc lựa chọn đă dứt khoát, th́ không thể thay đổi, chẳng hạn như đă chịu chức linh mục hay đă kết hôn v.v.; c̣n những điều khác th́ có thể thay đổi, chẳng hạn như nhận lănh hay khước từ bổng lộc, nhận lănh hay từ bỏ những của cải đời này.

172. ĐIỂM THỨ BA: Với việc lựa chọn không thể đổi, một khi đă làm không được chọn lại nữa v́ không thể cởi bỏ được, chẳng hạn như phép hôn phối, chức linh mục v.v.; chỉ c̣n một điều, nếu ḿnh đă lựa chọn không phải phép và không đúng trật tự nhưng theo những quyến luyến lệch lạc, th́ ăn năn hối hận và cố gắng sống một đời tốt lành trong điều ḿnh đă lựa chọn. Một việc lựa chọn như vậy không cho thấy đó là ơn thiên triệu, v́ đó là một cuộc lựa chọn lệch lạc và sai trái, như có nhiều người lầm lẫn trong việc ấy, lấy sự lựa chọn sai trái hay xấu xa làm ơn thiên trịêu, v́ mọi ơn thiên triệu bao giờ cũng trong sáng và rơ ràng, không pha ư xác thịt hay một quyến luyến lệch lạc nào khác.

173. ĐIỂM THỨ BỐN: Về những điều lựa chọn có thể thay đổi, nếu người nào đă lựa chọn phải phép và đúng trật tự, không theo xác thịt hay thế gian, th́ không phải lựa chọn lần nữa, nhưng chỉ phải hoàn thiện trong sự lựa chọn ấy tùy sức có thể.

174. GHI CHÚ: Nên ghi chú rằng, nếu một việc lựa chọn có thể đổi mà đă không làm cho thành thật và đúng trật tự, th́ làm lại cho đúng phép vào lúc này là điều có ích lợi cho những ai ao ước sinh hoa trái đáng kể và rất đẹp ḷng Thiên Chúa, Chúa chúng ta.

175. Về Ba Thời Kỳ

MÀ MỖI THỜI KỲ ĐỀU THÍCH HỢP ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN TỐT LÀNH

THỜI KỲ THỨ NHẤT: Là khi Thiên Chúa, Chúa chúng ta đánh động và lôi kéo ư muốn đến nỗi linh hồn trung tín tuân theo điều đă được chỉ vạch không hồ nghi mà cũng không thể hồ nghi; thánh Phaolô và thánh Matthêu đă làm như thế khi các Ngài theo Đức Kitô Chúa chúng ta.

176. THỜI KỲ THỨ HAI: Khi nhận được đủ ánh sáng và sự hiểu biết bởi kinh nghịêm những an ủi và sầu khổ, cũng như bởi kinh nghịêm phân biệt các thần khác nhau.

177. THỜI KỲ THỨ BA: Thời kỳ thứ ba th́ trầm lặng; trước hết suy xét con người sinh ra để làm ǵ, tức là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để cứu linh hồn ḿnh. Và với ḷng ước ao sự ấy, chọn một cuộc sống hay một bậc trong phạm vi Giáo Hội chấp nhận, làm phương thế để giúp cho việc phụng sự Chúa và cứu rỗi linh hồn ḿnh.

Tôi nói, thời kỳ trầm lặng, nghĩa là khi linh hồn không bị xao động bởi các thần khác nhau, và sử dụng những khả năng tự nhiên của ḿnh cách tự do và yên tĩnh.

178. Nếu cuộc lựa chọn không làm được trong thời kỳ thứ nhất hay thứ hai, th́ sau đây là hai cách để lựa chọn theo thời kỳ thứ ba.

Cách Thứ Nhất Để Làm Việc Lựa Chọn Tốt Lành

GỒM SÁU ĐIỂM:

ĐIỂM THỨ NHẤT: Là đặt ḿnh trước những điều tôi toan lựa chọn, chẳng hạn một chức vụ hay bổng lộc để nhận hay bỏ, hoặc bất cứ điều ǵ khác mà sự lựa chọn có thể thay đổi được.

179. ĐIỂM THỨ HAI: Tôi phải nhằm đến cứu cánh v́ đó tôi đă được dựng nên, là ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi; lại nữa tôi phải giữ b́nh tâm, không có một quyến luyến lệch lạc nào, đến nỗi không hướng chiều và cũng không tha thiết để nhận điều đă được đề nghị hơn là từ chối hoặc từ chối hơn là nhận; nhưng tôi phải giữ ḿnh ở vị thế cân bằng như ở giữa một bàn cân; chỉ nghiêng theo đàng nào tôi cảm thấy hợp hơn cho vinh quang và sự ca ngợi Chúa cùng việc cứu rỗi linh hồn tôi.

180. ĐIỂM THỨ BA: Xin Thiên Chúa, Chúa chúng ta đoái thương đánh động ư muốn tôi và đặt vào linh hồn tôi điều tôi phải làm đối với việc đă được đề ra, để ngợi khen và làm vinh danh Chúa hơn, trong khi tôi dùng trí khôn suy xét đúng đắn và trung thành, và lựa chọn cho hợp với ư cực thánh và nhân lành của Người.

181. ĐIỂM THỨ BỐN: Suy xét xem việc được chức vụ hay bổng lộc nói đây sẽ sinh thuận tiện và ích lợi cho tôi bao nhiêu, duy để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi; và ngược lại cũng theo cách thức ấy, suy xét những bất tiện và nguy hiểm nếu được điều ấy. Trong phần thứ hai cũng làm như vậy, nghĩa là xét những thuận tiện và ích lợi bởi việc không được điều ấy, và ngược lại cũng xét những bất tiện và nguy hiểm nếu không được điều ấy.

182. ĐIỂM THỨ NĂM: Sau khi đă suy nghĩ và cân nhắc vấn đề dưới mọi khia cạnh như thế, coi xem lư trí nghiêng về phia nào, và phải quyết định theo sự thúc đẩy mạnh nhất của lư trí chứ không theo sự thúc đẩy nào của t́nh cảm tự nhiên.

183. ĐIỂM THỨ SÁU: Khi đă làm xong việc lựa chọn hay quyết định ấy, người đă lựa chọn phải mau mắn đi cầu nguyện trước mặt Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và dâng cho Ngài sự lựa chọn đó, để Chúa Chí Tôn đoái nhận và xác chuẩn cho, nếu điều ấy giúp phụng sự và ngợi khen Ngài hơn.

184. Cách Thứ Hai Để Làm Việc Lựa Chọn Tốt Lành

GỒM BỐN QUY TẮC VÀ MỘT GHI CHÚ.

QUY TẮC I: Ḷng yêu mến đánh động và làm tôi lựa chọn điều nào đó, phải từ trên mà xuống, từ ḷng kính mến Thiên Chúa, như thế người lựa chọn trước hết phải cảm thấy trong ḷng rằng t́nh yêu mến nhiều hay ít đối với điều họ chọn, hoàn toàn hướng về Đấng Tạo Hóa và Chúa họ.

185. QUY TẮC II: Nh́n vào một người mà tôi chưa bao giờ gặp và cũng chẳng quen biết, với ḷng ước ao cho họ được hoàn thiện trọn vẹn, suy xét điều tôi sẽ khuyên họ làm và lựa chọn để sáng danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn cả và làm cho linh hồn họ nên trọn lành hơn; và chính tôi cũng làm như vậy, tuân theo quy tắc tôi đặt cho người khác.

186. QUY TẮC III: Xét coi, ví như tôi đang ở vào giờ chết, th́ thể thức và quy tắc mà lúc ấy tôi muốn ḿnh đă tuân theo trong việc lựa chọn hiện bây giờ như thế nào, và tôi hoàn toàn tuân theo quy tắc đó mà thực hiện việc quyết định này.

187. QUY TẮC IV: Nh́n xem và suy xét t́nh trạng của tôi trong ngày phán xét. Nghĩ xem lúc ấy tôi muốn ḿnh đă định đoạt về công việc hiện tại như thế nào; quy tắc mà lúc ấy tôi muốn ḿnh đă tuân theo, tôi nhận lấy ngay bây giờ, để lúc ấy tôi được hạnh phúc và mừng vui trọn vẹn.

188. GHI CHÚ: Một khi đă nhận lấy những quy tắc trên đây để được cứu rỗi và an nghỉ đời đời, tôi sẽ làm việc lựa chọn và dâng cho Thiên Chúa, Chúa chúng ta, theo như điểm thứ sáu trong cách lựa chọn thứ nhất [183].

189. Để Tu Chỉnh Và Cải Thiện Đời Sống Và Bậc Ḿnh

          Nên lưu ư rằng đối với những người đă vào bậc cai quản trong Giáo Hội hay ở bậc hôn nhân, (dù có dư dật của cải đời này hay không), khi họ không cần hay không hoàn toàn sẵn sàng để lựa chọn về những điều có thể đổi, điều rất ích lợi là, thay v́ một cuộc lựa chọn, đề nghị cho họ một khuôn khổ và một cách thức nhằm tu chỉnh và cải thiện đời sống và bậc ḿnh; nghĩa là đưa hữu thể thụ tạo, đời sống và bậc ḿnh vào việc làm vinh danh và ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn ḿnh.

          Để hướng về và đạt tới cùng đích ấy, phải suy xét và nghiền ngẫm nhiều bằng các cuộc Linh Thao và các cách lựa chọn, như đă giải thích, xem ḿnh phải có nhà cửa và gia nhân thế nào, phải điều khiển và cai quản trong nhà thế nào, phải dạy dỗ gia đ́nh bằng lời nói và gương sáng ra sao; cũng thế, suy xét xem phải trích của cải bao nhiêu cho người nhà và người giúp việc, và bao nhiêu để cho người nghèo và các việc thiện. Không muốn cũng không t́m sự ǵ khác ngoài việc ngợi khen và làm vinh danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn trong mọi sự và qua mọi sự.

          V́ mỗi người phải nghĩ rằng ḿnh càng thoát ra khỏi ḷng yêu ḿnh, ḷng ham muốn và tư lợi bao nhiêu, th́ càng tiến tới trong mọi việc thiêng liêng bấy nhiêu.

TUẦN THỨ BA

190. Ngày Thứ Nhất

CUỘC CHIÊM NIỆM THỨ NHẤT VÀO NỬA ĐÊM

VỀ CÁC VIỆC TỪ KHI ĐỨC KITÔ, CHÚA CHÚNG TA, RỜI BETANIA ĐỂ LÊN GIÊRUSALEM

ĐẾN HẾT BỮA TIÊC LY [289],

GỒM KINH DỌN L̉NG, BA TIỀN NGUYỆN, SÁU ĐIỂM VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như thường lệ.

191. TIỀN NGUYỆN I: Nhớ lại lịch sử. Ở đây là Đức Kitô, Chúa chúng ta từ Betania sai hai môn đệ lên Giêrusalem để dọn bữa tiệc ly, rồi sau chính Chúa lên đó cùng với các môn đệ khác; sau khi ăn chiên vượt qua, và đă xong bữa tối, Chúa rửa chân cho các môn đệ và ban Ḿnh cùng Máu Cực Thánh cho các ông, rồi khi Giuđa đă ra đi để bán Chúa ḿnh, th́ Người giảng cho các môn đệ một bài.

192. TIỀN NGUYỆN II: Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn: ở đây là xem con đường đi từ Betania lên Giêrusalem, nó rộng răi hay chật hẹp, bằng phẳng v.v.; cũng xem xét nhà tiệc ly: nó to hay nhỏ, h́nh dáng thế nào.

193. TIỀN NGUYỆN III: xin điều tôi ao ước: ở đây là sự đau đớn, hối hận và hổ thẹn, v́ chính bởi tội tôi mà Chúa đi chịu nạn.

194. ĐIỂM THỨ NHẤT: nh́n xem các nhân vật trong bữa tiệc ly, và suy nghĩ trong ḷng, cố rút phần nào ích lợi từ các nhân vật ấy.

ĐIỂM THỨ HAI: nghe điều các Ngài nói và cũng rút lấy phần nào ích lợi như thế.

ĐIỂM THỨ BA: nh́n xem việc các Ngài làm và rút lấy phần nào ích lợi.

195. ĐIỂM THỨ BỐN: Suy xét về sự đau khổ Đức Kitô, Chúa chúng ta, chịu hoặc muốn chịu trong nhân tính Ngài, tùy theo cảnh đang chiêm niệm. Ở đây bắt đầu đem hết sức lực và cố gắng để được đau đớn, buồn sầu và khóc lóc. Cũng làm như thế trong các điểm tiếp sau.

196. ĐIỂM THỨ NĂM: suy xét xem thiên tính ẩn ḿnh như thế nào; nghĩa là bản tính ấy có thể hủy diệt kẻ thù ḿnh, mà không làm, nhưng để mặc cho nhân tính chí thánh chịu cực khổ dữ dội như thế nào.

197. ĐIỂM THỨ SÁU: suy xét Chúa Giêsu chịu tất cả những sự ấy v́ tội lỗi tôi như thế nào v.v., và tôi, tôi phải làm ǵ và chịu những sự ǵ cho Chúa.

198. TÂM SỰ: Kết thúc bằng một cuộc tâm sự với Đức Kitô, Chúa chúng ta, và sau cùng đọc một kinh Lạy Cha.

199. Ghi chú: Trong các cuộc tâm sự, như trước đă giải thích một phần, cần chú ư rằng, chúng ta phải thân thưa và cầu xin theo đề tài suy gẫm, nghĩa là tùy theo tôi đang bị cám dỗ hay được an ủi, tùy theo tôi ao ước được nhân đức này hay nhân đức khác, tùy theo tôi muốn chọn đàng này hay đàng kia, tùy theo tôi muốn đau khổ hay vui mừng về điều tôi chiêm niệm, sau cùng cầu xin điều tôi ao ước hơn cả về ít nhiều điểm riêng. Như vậy có thể chỉ tâm sự với Đức Kitô, Chúa chúng ta, hay nếu đề tài hoặc ḷng sốt sắng thúc đẩy, có thể làm ba cuộc tâm sự: một với Đức Mẹ, một với Chúa Con, và một với Chúa Cha, theo cùng một h́nh thức như đă chỉ ở tuần thứ hai trong bài gẫm về hai cờ hiệu, cùng với lời ghi chú liền sau bài ba mẫu người.

200. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Vào Buổi Sáng, Từ Bữa Tiệc Ly

ĐẾN HẾT NHỮNG VIỆC XẢY RA Ở VƯỜN DẦU.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

201. TIỀN NGUYỆN I: Là lịch sử. Ở đây là việc Đức Kitô, Chúa chúng ta, cùng mười một môn đệ rời núi Sion, nơi đă ăn bữa tiệc ly, xuống thung lũng Giosaphat. Người để tám môn đệ ở một nơi trong thung lũng và ba môn đệ khác ở một nơi trong vườn, và bắt đầu cầu nguyện. Người đổ một thứ mồ hôi giống như những giọt máu. Sau khi đă cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha ba lần, Người đánh thức ba môn đệ. Sau đó, khi nghe tiếng Người, các kẻ thù địch ngă xuống đất; Giuđa hôn Người cái hôn b́nh an; thánh Phêrô chém đứt cái tai của Malcô, và Chúa Kitô gắn cái tai lại cho nó. Bấy giờ Người bị bắt như kẻ gian phi, chúng lôi Người xuống đáy thung lũng rồi lại kéo lên dốc núi để đến nhà Anna.

202. TIỀN NGUYỆN II: Nh́n xem nơi chốn. Ở đây là nh́n con đường từ núi Sion xuống thung lũng Giosaphat và cả cái vườn nữa; nó có rộng không, có dài không, và h́nh dạng thế nào v.v.

203. TIỀN NGUYỆN III: Xin điều tôi ao ước. Đang khi suy về sự thương khó phải xin được thống khổ với Đức Kitô thống khổ, tan nát tâm hồn với Đức Kitô tan nát tâm hồn, được khóc lóc và đau đớn trong ḷng về sự đau đớn dường ấy mà Đức Kitô đă chịu v́ tôi.

204. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Trong cuộc chiêm niệm thứ hai này, sau kinh dọn ḷng và ba tiền nguyện đă nói, sẽ theo cùng một cách thức về các điểm và cuộc tâm sự như trong cuộc chiêm niệm thứ nhất về bữa Tiệc Ly. Vào giờ Thánh Lễ và giờ kinh chiều sẽ làm hai cuộc chiêm niệm lại về bài chiêm niệm thứ nhất và thứ hai. Rồi trước bữa tối áp dụng ngũ quan về hai bài chiêm niệm nói trên. Bao giờ cũng bắt đầu bằng kinh dọn ḷng và ba tiền nguyện, tùy theo đề tài đang gẫm, cùng một cách thức như đă nói và giải thích trong tuần thứ hai.

205. GHI CHÚ THỨ HAI: Tùy theo tuổi tác, thể trạng và tâm trạng[38], người luyện tập sẽ làm năm cuộc Linh Thao mỗi ngày hoặc ít hơn.

206. GHI CHÚ THỨ BA: Trong tuần thứ ba này sẽ sửa đổi một phần điều phụ thêm thứ hai và thứ sáu:

·       VỀ ĐIỀU THỨ HAI: Ngay khi thức dậy, đặt trước mắt: tôi đi đâu, và để làm ǵ, ôn lại vắn tắt cuộc chiêm niệm tôi muốn làm, theo mầu nhiệm đang đề cập. Đang khi dậy và mặc áo, tôi cố gắng giục ḷng buồn sầu đau đớn v́ nỗi thống khổ và đau đớn dường ấy của Đức Kitô Chúa chúng ta.

·       VỀ ĐIỀU THỨ SÁU: Phải sửa đổi thế này: cố gắng đừng làm nảy sinh những tư tưởng vui mừng dù tốt lành thánh thiện như sự phục sinh và vinh quang; nhưng trái lại, giục ḷng thống khổ, đau đớn năo nề, năng nhớ đến những nỗi gian khổ, nhọc nhằn và đau đớn mà Đức Kitô Chúa chúng ta đă chịu từ khi sinh ra cho đến mầu nhiệm mà tôi đang chiêm niệm trong cuộc thương khó.

207. GHI CHÚ THỨ BỐN: Việc xét ḿnh riêng về các cuộc Linh Thao và các điều phụ thêm ở đây, cũng sẽ làm cùng một cách như trong tuần trước.

208. Ngày Thứ Hai

·       vào nửa đêm chiêm niệm từ Vườn Cây Dầu cho đến hết các việc xảy ra tại nhà Kha-nan [291]

·       và buổi sáng từ nhà Kha-nan đến hết các việc ở nhà Caipha [292].

·       Rồi làm hai cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă chỉ.

Ngày Thứ Ba

·       vào nửa đêm chiêm niệm từ nhà Caipha đến hết các việc xảy ra tại dinh Philatô [293].

·       Buổi sáng, từ dinh Philatô đến hết các việc xảy ra tại dinh Hêrođê [294].

·       Rồi làm hai cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă nói.

NGÀY THỨ BỐN

·       Nửa đêm, từ Hêrođê về Philatô [295], chiêm niệm một nửa các mầu nhiệm xảy ra tại dinh Philatô.

·       Rồi trong cuộc linh thao vào buổi sáng: các mầu nhiệm khác xảy ra cũng tại dinh ấy.

·       Rồi làm các cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă nói.

NGÀY THỨ NĂM

·       Nửa đêm từ dinh Philatô đến khi [Chúa chiu] đóng đinh trên Thánh Giá [296].

·       Buổi sáng, từ lúc Chúa chịu treo trên Thánh Giá đến khi Chúa tắt thở [297].

·       Rồi làm hai cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan.

NGÀY THỨ SÁU

·       Nửa đêm, từ khi hạ xác Chúa khỏi Thánh Giá cho đến khi tới mồ [298].

·       Buổi sáng, từ các việc ở mồ đến ngôi nhà Đức Bà về, sau khi đă táng xác Con.

Ngày Thứ Bảy

Chiêm niệm chung về tất cả cuộc thương khó trong các cuộc Linh Thao nửa đêm và buổi sáng. Thay v́ hai cuộc chiêm niệm lại, th́ suốt ngày, nhiều lần chừng nào có thể, suy về sự xác cực thánh của Đức Kitô, Chúa chúng ta, ở trong t́nh trạng tách rời và xa ĺa linh hồn thế nào, được mai táng ở đâu và thế nào. Cũng theo cách ấy, suy về nỗi cô đơn của Đức Bà với biết bao đau đớn mỏi ṃn, rồi đàng khác, nỗi cô đơn của các môn đệ.

209. Ghi chú: Nên chú ư rằng, nếu muốn kéo dài việc chiêm niệm về sự Thương Khó th́ trong mỗi cuộc chiêm niệm phải suy gẫm ít mầu nhiệm hơn, chẳng hạn trong cuộc thứ nhất, nguyên về bữa Tiệc Ly thôi, trong cuộc thứ hai, về việc Rửa Chân, trong cuộc thứ ba, về việc Chúa ban bí tích Thánh Thể cho các môn đệ, trong cuộc thứ bốn, về bài Chúa giảng cho họ và cũng làm như vậy trong các cuộc chiêm niệm và các mầu nhiệm khác. Cũng thế, khi đă chiêm niệm hết cuộc Thương Khó, hăy dành trọn một ngày để chiêm niệm lại phân nửa cuộc thương khó, và ngày nữa về nửa kia, rồi ngày thứ ba chung cả cuộc thương khó.

Trái lại nếu muốn rút ngắn việc chiêm niệm về cuộc Thương Khó, th́ lúc nửa đêm chiêm niệm bữa Tiệc ly; buổi sáng: Vườn Cây Dầu; giờ lễ: nhà Kha-nan; giờ kinh chiều: nhà Caipha; và giờ trước bữa tối: dinh Philatô. Như vậy trong khi bỏ các cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan, mỗi ngày làm năm cuộc Linh Thao khác nhau, và mỗi cuộc về một mầu nhiệm khác của Đức Kitô, Chúa chúng ta. Rồi khi đă chiêm niệm hết tất cả cuộc Thương Khó như thế, có thể lấy một ngày khác làm chung về trọn cuộc Thương Khó trong một hay nhiều cuộc Linh Thao khác nhau, tùy theo đàng nào thấy có ích lợi hơn.

210. Quy Tắc Để Tự Chỉnh Đốn Trong Việc Ăn Uống Từ Này Về Sau

QUY TẮC I: Về bánh ḿ[39], việc kiêng bớt ít thích hợp, v́ nó không phải là món ăn gây thèm thuồng thái quá, hoặc tạo cám dỗ thúc bách như các món ăn khác.

211. QUY TẮC II: Về đồ uống, việc kiêng bớt h́nh như thích hợp hơn so với bánh ḿ, nên phải xét kỹ xem cái ǵ có ích để giữ, và cái ǵ có hại để bỏ.

212. QUY TẮC THỨ III: Về các món ăn ngon, việc kiêng bớt phải nghiêm ngặt và trọn vẹn hơn, v́ trong địạ hạt đó sự thèm khát dễ trở nên lệch lạc, cũng như sự cám dỗ trở nên thúc bách hơn; bởi đó việc kiêng bớt các loại thức ăn này, nhằm tránh sự hỗn loạn, có thể giữ theo hai cách: một là tập quen ăn những món b́nh thường, hai là tập quen ăn ít, nếu là những món mỹ vị.

213. QUY TẮC IV: Tuy luôn phải giữ ḿnh cho khỏi đau yếu, nhưng càng bỏ bớt những nhu cầu thuộc mức b́nh thường, th́ càng mau tới được mức trung dung phải giữ trong việc ăn uống; v́ hai lẽ: thứ nhất là trong khi cố gắng và tự chuẩn bị như vậy, thường cảm thấy được những hiểu biết bên trong, những an ủi và những sự soi sáng thiêng liêng dồi dào hơn để t́m ra mức trung dung thích đáng; thứ hai, nếu trong lúc kiêng bớt như vậy mà thấy thiếu sức mạnh phần xác và kém sẵn sàng để tập Linh Thao, th́ sẽ dễ phán đoán được điều ǵ phù hợp hơn để nâng đỡ thể xác.

214. QUY TẮC V: Trong khi ăn, h́nh dung như thấy Đức Kitô, Chúa chúng ta đang ăn với các tông đồ: Chúa uống, Chúa nh́n, Chúa nói thể nào và cố gắng bắt chước; như vậy, phần thượng của trí khôn sẽ lo chiêm ngắm Chúa chúng ta, c̣n phần hạ lo cho thân xác được dưỡng nuôi; và nhờ thế người ta sẽ đạt được một sự ḥa hợp và một trật tự hoàn hảo hơn trong cách xử sự và tu thân.

215. QUY TẮC VI: Trong khi ăn c̣n có thể chiêm ngắm các sự khác, hoặc về hạnh các thánh, hay một điều đạo đức nào khác hoặc một việc thiêng liêng nào mà người ta phải làm: v́ khi mắc chú ư đến những sự ấy th́ sẽ bớt cảm khoái và thỏa măn đối với các đồ ăn của phần xác.

216. QUY TẮC VII: Trên hết, đừng dồn hết tâm trí vào cái ḿnh ăn, và đừng ăn vội vàng theo tính háu ăn, nhưng phải tự chủ trong cách ăn cũng như trong lượng đồ ăn.

217. QUY TẮC VIII: Để trừ bỏ những hỗn loạn, điều rất có ích là sau bữa trưa hoặc bữa tối hay lúc nào khác không thấy đói, tự xác định số lượng đồ ăn thích hợp cho ḿnh trong bữa trưa hoặc bữa tối sau đó, và cứ làm như thế mỗi ngày. Không được vượt quá số lượng ấy cho dù thấy ngon miệng hay bị cám dỗ. Trái lại, để dễ thắng sự thèm thuồng hỗn loạn và mọi chước cám dỗ của kẻ thù hơn, nếu bị cám dỗ ăn nhiều hơn, th́ hăy ăn bớt đi.

TUẦN THỨ BỐN

218. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất Đức Kitô Chúa Chúng Ta Hiện Ra Cùng Đức Bà [299]

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

219. TIỀN NGUYỆN I: Lịch sử. Ở đây là sau khi Chúa Kitô tắt thở trên thập giá, xác Ngài ở trong t́nh trạng tách rời khỏi linh hồn, nhưng vẫn luôn kết hợp cùng bản tính Thiên Chúa, linh hồn đầy hạnh phúc Người xuống ngục tổ tông, vẫn luôn kết hiệp cùng thiên tính. Người đưa linh hồn các thánh ra khỏi ngục, đoạn trở lại mồ, và khi đă sống lại, Người hiện ra cùng Mẹ diễm phúc của Người, bằng cả xác và hồn.

220. TIỀN NGUYỆN II: Đặt khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở đây là xem xét sự xếp đặt của mồ thánh, và nơi nhà Đức Bà; nh́n riêng từng phần một, pḥng ngủ, nhà nguyện v.v.

221. TIỀN NGUYỆN III: Cầu xin điều tôi ao ước. Ở đây là cầu xin ơn được vui mừng mănh liệt v́ sự vinh quang và vui mừng dường ấy của Đức Kitô Chúa chúng ta.

222. ĐIỂM THỨ NHẤT, HAI, BA: Điểm 1: 2, 3 cũng là những điểm mà chúng ta đă quen làm trong cuộc chiêm niệm về Tiệc Ly của Đức Kitô, Chúa chúng ta [190].

223. ĐIỂM THỨ BỐN: Suy gẫm về việc bản tính Thiên Chúa đă có vẻ như ẩn ḿnh trong cuộc Thương Khó, bây giờ tỏ hiện cách lạ lùng biết bao trong việc Phục Sinh cực thánh, bởi những hiệu lực đích thật và cực thánh của bản tính ấy.

224. ĐIỂM THỨ NĂM: Xét về nhiệm vụ an ủi mà Đức Kitô, Chúa chúng ta, hiện đang thi hành. So sánh việc ấy với cách thức mà các bạn hữu quen an ủi nhau.

225. TÂM SỰ: Kết thúc bằng một hay nhiều cuộc tâm sự, tùy theo đề tài, và đọc một kinh Lạy Cha.

226. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Trong các cuộc chiệm niệm sau, tiến hành theo cách thức sẽ chỉ dưới đây, về tất cả các mầu nhiệm từ việc Chúa phục sinh cho đến hết việc Chúa lên trời; về các điều khác, trong suốt tuần về sự phục sinh, sẽ theo cùng một h́nh thức và cách thế như trong tuần về sự thương khó. Vậy trong các cuộc chiêm niệm sau, phần tiền nguyện cứ theo mẫu bài chiêm niệm thứ nhất này về sự phục sinh, nhưng thay đổi theo đề tài chiêm niệm; năm điểm cũng thế; các điều phụ thêm nói dưới đây cũng vậy. C̣n những điều khác, có thể theo phương pháp đă cho để dùng trong tuần về sự thương khó, chẳng hạn về các cuộc chiêm niệm lại, áp dụng ngũ quan, rút ngắn hay kéo dài các mầu nhiệm v.v.

227. GHI CHÚ THỨ HAI: Cách chung, trong tuần thứ tư này, làm bốn cuộc Linh Thao thay v́ năm, th́ hợp hơn so với ba tuần trước: cuộc thứ nhất ngay khi thức dậy buổi sáng; cuộc thứ hai vào giờ lễ họăc trước bữa trưa, thay v́ cuộc chiêm niệm lại thứ nhất; cuộc thứ ba vào giờ kinh chiều thay v́ cuộc chiêm niệm lại thứ hai; cuộc thứ bốn trước bữa tối bằng cách áp dụng ngũ quan vào ba bài Linh Thao trong ngày; nên để ư và ngừng lại ở những điểm chủ yếu hơn và những điểm đă được đánh động và nhiều hương vị thiêng liêng hơn.

228. GHI CHÚ THỨ BA: Mặc dù trong mỗi cuộc chiêm niệm đă đề nghị một số điểm nhất định, chẳng hạn ba, năm v.v., nhưng người chiêm niệm có thể tăng hay bớt số điểm như họ thấy đàng nào dễ chịu hơn; v́ thế điều rất có ích là trước khi vào cuộc chiêm niệm, dự trù và xác định rơ số điểm sẽ làm.

229. GHI CHÚ THỨ BỐN: Trong tuần thứ tư này, về cả thảy 10 điều phụ thêm, phải sửa đổi điều thứ hai, sáu, bảy và mười.

·       Điều hai: ngay khi thức dậy, đặt ḿnh trước cuộc chiêm niệm mà tôi phải làm, giục ḷng hân hoan v́ sự vui mừng hoan lạc dường ấy của Đức Kitô Chúa chúng ta.

·       Điều sáu: hướng trí nhớ và tư tưởng vào những điều có thể gây sung sướng, hoan lạc và vui mừng thiêng liêng, như sự vinh quang.

·       Điều bảy: Tận dụng ánh sáng và những sự dễ chịu với từng mùa, chẳng hạn sự mát mẻ trong mùa hạ, họăc mặt trời và sự ấm áp trong mùa đông, tùy theo mức độ mà linh hồn tưởng có thể giúp ḿnh vui mừng trong Đấng tạo dựng và cứu chuộc ḿnh.

·       Điều mười: Thay v́ sự hăm ḿnh đền tội, hăy nhắm đến sự tiết độ và trung dung trong mọi sự, khi không phải là những thời điểm mà luật Giáo Hội buộc ăn chay hay kiêng thịt, v́ những luật ấy phải luôn luôn được giữ chu đáo, trừ trường hợp ngăn trở chính đáng.

230. Chiêm Niệm Để Được T́nh Yêu

Ghi chú: Trước hết nên nhận xét hai điều:

Thứ nhất: T́nh yêu phải diễn tả bằng việc làm hơn là bằng lời nói.

231. Thứ hai: T́nh yêu cốt ở sự trao đổi giữa hai bên, nghĩa là người yêu trao tặng và truyền thông cho người được yêu cái ǵ ḿnh có, hay một phần những ǵ ḿnh có hoặc có thể cho, và người được yêu đối lại với người yêu cũng vậy. Như thế, nếu người này có được kiến thức, sẽ truyền dạy cho người kia; cả danh vọng hay tiền của cũng thế; và người kia cũng đối lại với người này như vậy.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng thường lệ.

232. TIỀN NGUYỆN I: Đặt ḿnh vào khung cảnh. Ở đây là nh́n xem tôi đang ở trước thánh nhan Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trước các thiên thần và các thánh đang cầu bầu cho tôi.

233. TIỀN NGUYỆN II: Cầu xin điều tôi muốn. Ở đây là xin được sự hiểu biết bên trong về bấy nhiêu ơn lành đă lănh nhận; để với ḷng biết ơn sâu xa, tôi có thể yêu mến và phụng sự Chúa chí tôn trong mọi sự.

234. ĐIỂM THỨ NHẤT:

Nhớ lại trong trí những ơn lành đă lănh nhận: ơn tạo dựng, ơn cứu chuộc và các ơn riêng. Cân nhắc với thật nhiều cảm mến xem Thiên Chúa, Chúa chúng ta, đă làm cho tôi biết bao nhiêu điều, đă ban cho tôi biết bao nhiêu từ những ǵ Ngài có; sau nữa, Chúa lại c̣n ước muốn ban chính ḿnh Ngài cho tôi bao nhiêu có thể, theo kế hoạch của Ngài.

Tôi nghiền ngẫm trong ḷng, suy xét theo đúng lẽ phải và sự công bằng về điều tôi phải dâng hiến Ngài, về phần tôi, nghĩa là, tất cả những ǵ tôi có cùng với chính bản thân tôi nữa, như một người dâng hiến với t́nh yêu tha thiết[40]:

"LẠY CHÚA, XIN NHẬN LẤY TRỌN CẢ TỰ DO, TRÍ NHỚ, TRÍ HIỂU VÀ TRỌN CẢ Ư MUỐN CỦA CON, CÙNG HẾT THẢY NHỮNG G̀ CON CÓ VÀ NHỮNG G̀ THUỘC VỀ CON.

MỌI SỰ ẤY CHÚA ĐĂ BAN CHO CON;

LẠY CHÚA, CON XIN DÂNG LẠI CHÚA HẾT THẢY.

TẤT CẢ LÀ CỦA CHÚA, XIN CHÚA SỬ DỤNG HOÀN TOÀN THEO Ư CHÚA.

CHỈ XIN BAN CHO CON

L̉NG MẾN CHÚA VÀ ÂN SỦNG CHÚA,

V̀ ĐƯỢC NHƯ THẾ LÀ ĐỦ CHO CON.”

235. ĐIỂM THỨ HAI: Nh́n xem Thiên Chúa ngự trong thọ tạo như thế nào, trong các nguyên tố bằng cách ban cho hiện hữu, trong thảo mộc bằng cách ban cho sức tăng trưởng, trong thú vật bằng cách ban cho cảm giác, trong loài người bằng cách ban cho trí khôn; và như vậy trong tôi bằng cách ban cho hiện hữu, làm cho tôi sống, làm cho tôi có cảm giác và làm cho tôi hiểu biết. Cũng vậy, xét xem Chúa đă làm tôi nên đền thờ của Ngài như thế nào, v́ Ngài đă tạo dựng tôi nên giống h́nh ảnh Tôn Nhan Ngài. Cũng suy nghĩ trong ḷng theo cách đă chỉ ở điểm thứ nhất hay cách nào khác tôi thấy tốt hơn. Về mỗi điểm dưới đây cũng làm như vậy.

236. ĐIỂM THỨ BA: Suy xét xem Thiên Chúa làm việc và hành động cho tôi như thế nào trong mọi thọ tạo trên mặt đất, nghĩa là Ngài xử sự theo cách một người đang làm việc như thế nào, chẳng hạn trên các tầng trời, trong các nguyên tố, thảo mộc, hoa, thú vật v.v., bằng cách ban cho chúng hiện hữu, giữ cho tồn tại, làm cho tăng trưởng, và làm cho cảm giác v.v.. Đoạn suy nghĩ trong ḷng.

237. ĐIỂM THỨ BỐN: Xét xem mọi điều tốt lành và mọi ơn riêng đều từ trên ban xuống như thế nào, chẳng hạn quyền lực hữu hạn của tôi, bởi quyền lực tối cao và vô hạn từ trên và cả sự công bằng, ḷng nhân từ, hiền hậu, thương xót v.v., như những tia sáng từ mặt trời chiếu xuống, như nước trong nguồn chảy ra v.v.. Rồi kết thúc bằng cách suy nghĩ trong ḷng như đă nói. Kết thúc bằng một cuộc tâm sự và một kinh Lạy Cha.


 

238. BA CÁCH CẦU NGUYỆN

Cách Cầu Nguyện Thứ Nhất

I. VỀ CÁC ĐIỀU RĂN

          Cách cầu nguyện thứ nhất về mười điều răn, bảy mối tội đầu, ba tài năng của linh hồn, và năm giác quan của thể xác. Cách cầu nguyện này nhằm cho một khuôn khổ, một phương pháp và những bài tập giúp linh hồn dọn ḿnh và tiến tới trong các cuộc luyện tập và để việc cầu nguyện được chấp nhận, hơn là cho một thể thức hay một phương pháp cầu nguyện.

239. [ĐIỀU PHỤ THÊM]

          Trước hết làm một điều tương đương với điều phụ thêm thứ hai của tuần thứ hai, nghĩa là trước khi bước vào cầu nguyện, để cho tinh thần được nghỉ ngơi một chút, như ngồi hay đi tản bộ tùy thấy đàng nào tốt hơn, rồi xét xem ḿnh đi đâu và để làm ǵ. Trong cách cầu nguyện nào ta cũng phải làm điều phụ thêm này lúc bắt đầu.

240. KINH NGUYỆN: Một kinh dọn ḷng, chẳng hạn xin ơn Thiên Chúa, Chúa chúng ta, để có thể nhận biết tôi đă lỗi ǵ về mười điều răn, và cũng xin ơn và sự trợ giúp để sửa ḿnh từ này về sau; xin được hiểu biết tường tận các điều răn, hầu tuân giữ kỹ hơn để làm vinh danh và ca tụng Chúa chí tôn hơn.

241. CÁCH CẦU NGUYỆN THỨ NHẤT

          Theo cách thứ nhất, nên đem trí suy xét về điều răn thứ nhất, xem tôi đă tuân giữ điều răn ấy thế nào, và đă lỗi phạm điều ǵ. Lấy nguyên tắc là ngừng ở việc suy xét này một thời gian bằng đọc ba kinh Lạy Cha và ba kinh Kính Mừng, và nếu trong thời gian ấy tôi xét thấy những lỗi đă phạm, tôi xin ơn miễn xá và tha thứ về những lỗi đó, rồi đọc một kinh Lạy Cha. Cứ làm như vậy về mỗi điều trong mười điều răn.

242. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Nên chú ư rằng khi ai suy nghĩ về một điều răn mà thấy ḿnh không hề có thói quen lỗi phạm bao giờ, th́ không cần ngừng lại đó lâu như thế. Nhưng tùy như thấy ḿnh vấp phạm nhiều hay ít về một điều răn nào, th́ phải ngừng lại lâu hay chóng để suy nghĩ và xét kỹ về điều ấy. Đối với các mối tội đầu cũng làm như vậy.

243. GHI CHÚ THỨ HAI: Sau khi đă suy xét như vậy về các điều răn, cáo ḿnh về những điều lỗi phạm và xin ơn cùng sự trợ giúp để sửa ḿnh từ này về sau, rồi kết thúc bằng một cuộc tâm sự với Thiên Chúa, Chúa chúng ta, theo đề tài suy niệm.

244. II. VỀ BẢY MỐI TỘI ĐẦU

          Về bảy mối tội đầu, sau điều phụ thêm, đọc kinh dọn ḷng theo cách đă nói, chỉ khác điều này: ở đây là về tội phải tránh, c̣n trước kia là về các điều răn phải giữ. Cũng theo cùng trật tự và những qui tắc đă chỉ, rồi làm cuộc tâm sự.

245. Để biết rơ hơn những lỗi phạm về bảy mối tội đầu, ta nh́n vào những nhân đức trái ngược với chúng; cũng vậy để dễ tránh các tội đó hơn, ta quyết tâm và cố gắng đạt được và nắm giữ bảy nhân đức trái ngược với chúng bằng những việc tập luyện thánh thiện.

246. III. VỀ CÁC TÀI NĂNG CỦA LINH HỒN

PHƯƠNG PHÁP: Về ba tài năng linh hồn, cũng giữ cùng trật tự và quy tắc như về các điều răn: làm điều phụ thêm, kinh dọn ḷng và cuộc tâm sự.

247. IV. VỀ NGŨ QUAN PHẦN XÁC

PHƯƠNG PHÁP: Về ngũ quan phần xác, cũng vẫn theo trật tự như trên, trong khi thay đổi đề tài.

248. GHI CHÚ: Ai muốn bắt chước Đức Kitô, Chúa chúng ta, trong việc dùng ngũ quan, th́ trong kinh dọn ḷng, hăy phó thác ḿnh cho Chúa Chí Tôn. Sau khi suy xét về mỗi giác quan, đọc một kinh Kính Mừng hay một kinh Lạy Cha.

Ai muốn bắt chước Đức Mẹ trong việc dùng ngũ quan, th́ trong kinh dọn ḷng, hăy phó thác ḿnh cho Người để Người xin ơn đó nơi Con và Chúa Người cho. Sau khi suy xét về mỗi giác quan, đọc một kinh Kính Mừng.

249. Cách Cầu Nguyện Thứ Hai

CHIÊM NIỆM Ư NGHĨA TỪNG LỜI CỦA MỘT KINH

250. ĐIỀU PHỤ THÊM: Trong cách cầu nguyện thứ hai này, cũng giữ điều phụ thêm như trong cách cầu nguyện thứ nhất.

251. KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng được thích ứng cho phù hợp với Đấng mà ta cầu nguyện.

252. CÁCH CẦU NGUYỆN THỨ HAI

          Qùy hay ngồi, tùy tư thế nào hợp với ta hơn và giúp sốt sắng hơn, nhắm mắt lại hay nh́n chăm chú vào một điểm nào, không để mắt liếc nh́n chỗ này hay chỗ nọ, rồi đọc "Lạy Cha,” và ngừng lại suy xét lời đó bao lâu ta c̣n thấy những ư nghĩa, những sự so sánh, ư vị và an ủi khi suy xét về lời đó. Làm tương tự với từng lời trong kinh Lạy Cha hay kinh nào khác mà ta muốn nguyện theo thể thức đó.

253. QUY TẮC I: Theo thể thức đă nói, sẽ lưu lại một giờ trong toàn thể kinh Lạy Cha; xong kinh này, ta đọc kinh Kính Mừng, kinh Tin Kính, kinh Lạy Hồn Chúa Kitô, kinh Lạy Nữ Vương, đọc ra tiếng hay thầm trong trí theo cách quen làm.

254. QUY TẮC II: Khi chiêm niệm về Kinh Lạy Cha, nếu trong một hay hai lời mà thấy đủ đề tài để suy tưởng cùng ư vị và sự an ủi, th́ đừng lo tiến xa hơn, dù có để hết cả một giờ vào điều ta gặp thấy đó cũng được. Khi hết giờ, đọc hết phần c̣n lại của Kinh Lạy Cha theo cách quen làm.

255. QUY TẮC III: Nếu ta đă lưu lại cả một giờ ở một hay hai lời trong Kinh Lạy Cha, rồi ngày khác muốn trở lại kinh đó, th́ đọc một hay hai lời đó như thường, rồi tới lời tiếp theo, ta bắt đầu chiêm niệm như đă nói ở quy tắc thứ hai.

256. GHI CHÚ THỨ NHẤT: Nên để ư rằng, khi đă chiêm niệm xong Kinh Lạy Cha trong một hay nhiều ngày, ta sẽ làm theo cùng một cách thức như vậy với kinh Kính Mừng, rồi với các kinh khác. Như thế trong suốt một khoảng thời gian nào đó, ta luôn tập luyện theo một trong các kinh đó.

257. GHI CHÚ THỨ HAI: Cầu nguyện như vậy xong, ta hướng về Đấng mà ta đă cầu nguyện, và bằng một vài lời vắn tắt, xin những nhân đức hay những ơn ta cảm thấy cần đến nhiều hơn.

258. Cách Cầu Nguyện Thứ Ba: Theo Nhịp.

ĐIỀU PHỤ THÊM: Điều phụ thêm cũng như trong cách cầu nguyện thứ nhất và thứ hai.

KINH NGUYỆN: Kinh dọn ḷng như trong cách cầu nguyện thứ hai.

CÁCH CẦU NGUYỆN THỨ BA: Trong mỗi hơi thở, ta nguyện thầm trong trí bằng cách đọc một lời trong Kinh Lạy Cha hay một kinh nào khác mà ta đọc; làm sao để giữa hai hơi thở chỉ đọc có một lời, và trong khoảng từ hơi thở này đến hơi thở khác, tập trung vào nh́n ngắm ư nghĩa của lời đó hay Đấng mà ta cầu xin, sự thấp hèn của chính ḿnh hay sự khác biệt giữa sự cao cả của Đấng ấy với sự thấp hèn của ḿnh. Cứ theo cùng cách thức và quy tắc ấy về các lời khác của kinh Lạy Cha. Rồi đọc các kinh khác, như kinh Kính Mừng, Lạy hồn Chúa Kitô, Tin Kính và Lạy Nữ Vương như đă quen.

259. QUY TẮC I: Ngày hôm sau hay vào một giờ cầu nguyện khác, đọc kinh Kính Mừng theo nhịp thở, rồi đọc các kinh khác như đă quen, rồi sau cứ làm như thế về các kinh khác.

260. QUY TẮC II: Ai muốn cầu nguyện theo nhịp lâu hơn nữa, có thể đọc tất cả các kinh kể trên hay một phần các kinh đó bằng cách đọc theo nhịp thở như đă chỉ dẫn.

261 CÁC MẦU NHIỆM TRONG CUỘC ĐỜI ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA.

Ghi chú. Nên biết rằng trong tất cả các mầu nhiệm sau đây, những lời để trong ngoặc ( ) là chính lời trong sách Phúc Âm, c̣n những lời ở ngoài th́ không phải; trong mỗi mầu nhiệm phần lớn sẽ gặp thấy ba điểm để giúp suy niệm và chiêm ngắm dễ hơn.

262. VỀ VIỆC BÁO TIN CHO ĐỨC BÀ, THÁNH LUCA VIẾT Ở CHƯƠNG THỨ NHẤT, c.26-38

1.    Điểm thứ nhất là thánh thiên thần Gabriel, khi chào Đức Bà th́ cho Đức Bà biết việc thụ thai Đức Kitô Chúa chúng ta: (thiên thần vào nơi Đức Maria đang ở, chào rằng: kính chào bà, bà đầy ân phúc; bà sẽ thụ thai và sẽ sinh ra một người con trai).

2.    Điểm thứ hai: thiên thần dẫn việc bà Elisabeth mang thai thánh Gioan Baotixita để củng cố lời đă nói với Đức Bà, thiên thần nói: (Ḱa xem, bà Elisabeth, họ hàng của bà, tuy già rồi mà cũng đă có thai một đứa con trai).

3.    Điểm thứ ba: Đức Bà trả lời thiên thần: (Này tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin cứ thể hiện nơi tôi như lời Ngài đă nói).

263. VỀ VIỆC ĐỨC BÀ ĐI VIẾNG BÀ ELISABETH, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG THỨ NHẤT, c.39-56.

1.    Điểm thứ nhất: khi Đức Bà thăm viếng bà Elisabeth, thánh Gioan Baotixita, tuy c̣n trong ḷng mẹ, đă nhận ra Đức Bà đến viếng thăm: (Và khi bà Elisabeth nghe tiếng Đức Bà chào th́ thai nhi trong ḷng bà đă nhảy mừng, c̣n bà Elisabeth được đầy Thánh Thần, lớn tiếng kêu lên rằng: bà có phúc hơn mọi người nữ, và phúc thay người con trong ḷng bà).

2.    Điểm thứ hai: Đức Bà hát bài ca rằng: (Linh hồn tôi ngợi khen Chúa).

3.    Điểm thứ ba: (Bà Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, rồi trở về nhà ḿnh).

264. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA SINH RA, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG THỨ HAI, c.1-14.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Bà cùng với bạn của ngài là thánh Giuse đi từ Nazareth đến Belem: (Ông Giuse từ Galilê đi lên Belem, để tỏ sự tuân phục hoàng đế, cùng với Maria là bạn và vợ của ông đang mang thai).

2.    Điểm thứ hai: (Đức Bà sinh Con Trai đầu ḷng, lấy tă bọc con và đặt nằm trong máng cỏ).

3.    (Đạo binh trên trời đông đúc xuất hiện và nói rằng: vinh danh Thiên Chúa trên trời).

265. VỀ CÁC NGƯỜI CHĂN CHIÊN, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG THỨ HAI, c. 8-20

1.    Điểm thứ nhất: việc Đức Kitô Chúa chúng ta sinh ra được thiên thần tỏ cho các người chăn chiên: (Tôi báo cho anh em một tin rất vui mừng, v́ hôm nay Đấng Cứu Thế dă sinh ra).

2.    Điểm thứ hai: các người chăn chiên đi sang Belem: (Họ vội vă tới nơi, họ thấy Đức Maria với ông Giuse và hài nhi đặt nằm trong máng cỏ).

3.    Điểm thứ ba: (các người chăn chiên trở về, vừa đi vừa tôn vinh và ngợi khen Chúa).

266. VỀ VIỆC CẮT B̀, THÁNH LUCA VIẾT Ở CHƯƠNG HAI, c.21

1.    Điểm thứ nhất: họ cắt b́ cho Hài Nhi Giêsu.

2.    Điểm thứ hai: (họ đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu, tên mà thiên thần đă gọi trước khi Người thành thai trong bụng mẹ).

3.    Họ trao Hài Nhi lại cho Mẹ Người, Mẹ cảm thương v́ thấy máu con ḿnh chảy ra.

267. VỀ BA VUA CHIÊM TINH, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHUƠNG THỨ HAI, c.1-12.

1.    Điểm thứ nhất: ba vua được ngôi sao dẫn đường, đến thờ lạy Chúa Giêsu, họ nói: (chúng tôi đă thấy ngôi sao của Người bên phương đông và chúng tôi đến thờ lạy Người).

2.    Điểm thứ hai: họ thờ lạy và dâng lễ vật: (Họ sấp ḿnh thờ lạy và dâng lễ vật, vàng, hương và mộc dược).

3.    (Trong giấc ngủ họ được trả lời cho biết đừng trở lại gặp Hêrođê, và họ đi đường khác mà về xứ ḿnh).

268. VỀ VIỆC THANH TẨY CỦA ĐỨC BÀ VÀ VIỆC DÂNG HÀI NHI GIÊSU, THÁNH LUCA VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.22-39.

1.    Điểm thứ nhất: các ngài đem Hài Nhi Giêsu lên đền thờ để Hài Nhi được dâng cho Chúa như con đầu ḷng, và các ngài dâng thay cho Hài Nhi (một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non).

2.    Điểm thứ hai: ông Simêon vào đền thờ (ẵm Hài Nhi trong tay), ông nói: (Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi tớ Chúa ra đi b́nh an).

3.    Điểm thứ ba: bà Anna (tới sau, bà tuyên xưng Chúa và nói về Người với tất cả những ai đang trông đợi ơn cứu độ của Israel).

269. VỀ VIỆC TRỐN SANG AI-CẬP, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.13-18.

1.    Điểm thứ nhất: Hêrođê muốn giết Hài Nhi Giêsu nên đă giết các trẻ vô tội, và trước khi các trẻ bị giết th́ thiên thần đă báo tin cho ông Giuse để trốn sang Ai-Cập: (Hăy trỗi day, đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai-cập).

2.    Điểm thứ hai: người lên đường sang Ai-cập (Đang đêm Ông Giuse trỗi dạy lên đường sang Ai-cập).

3.    Điểm thứ ba: (người ở lại đó cho tới khi Hêrođê qua đời).

270. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA TỪ AI CẬP TRỞ VỀ, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.19-23.

1.    Điểm thứ nhất: thiên thần báo cho ông Giuse biết để trở về Israel: (Hăy trỗi dậy, đem Hài Nhi và Mẹ người đi về Israel).

2.    Điểm thứ hai: (Người trỗi dậy đi về Israel).

3.    Điểm thứ ba: v́ Ac-khê-lao, con của Hêrođê cai trị xứ Giuđa, nên người lui về Nazareth.

271. VỀ ĐỜI SỐNG CỦA ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA TỪ NĂM MƯỜI HAI TUỔI TỚI NĂM BA MƯƠI TUỔI, THÁNH LUCA VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.51-52.

1.    Điểm thứ nhất: người đă vâng phục cha mẹ.

2.    Điểm thứ hai: (Người thêm khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng).

3.    Điểm thứ ba: H́nh như Người tập nghề thợ mộc, như thánh Marcô diễn tả trong chương thứ sáu: (Ông ta chẳng phải là chú thợ mộc đó sao?)

272. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA LÊN ĐỀN THỜ NĂM MUỜI HAI TUỔI, THÁNH LUCA VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.41-50.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta, mười hai tuổi, từ Nazareth lên Giêrusalem.

2.    Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta ở lại Giêrusalem mà cha mẹ không biết.

3.    Điểm thứ ba: hết ba ngày, cha mẹ t́m thấy Người đang tranh luận ở trong đền thờ, ngồi giữa các bậc thầy, và khi cha mẹ hỏi Người đă ở đâu th́ Người trả lời: (cha mẹ không biết rằng con phải lo việc của cha con sao?).

273. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA CHỊU PHÉP RỬA NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ BA, c.13-17.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta, sau khi từ giă người mẹ diễm phúc của ḿnh, đến sông Giođan, nơi thánh Gioan Baotixita đang ở.

2.    Điểm thứ hai: Thánh Gioan Baotixita làm phép rửa cho Đức Kitô Chúa chúng ta, và khi ông muốn từ chối v́ nghĩ ḿnh không xứng đáng để làm phép rửa cho Người, th́ Đức Kitô bảo ông rằng: (Bây giờ cứ làm việc này đi, v́ chúng ta phải hoàn thành tất cả sự công chính).

3.    Điểm thứ ba: (Thánh Thần đến và tiếng Chúa Cha từ trời quả quyết: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta rất hài ḷng về Người).

274. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA CHỊU CÁM DỖ NHƯ THẾ NÀO, THÁNH LUCA VIẾT Ở CHƯƠNG THỨ TƯ, c.1-13 VÀ THÁNH MATTHÊU, CHƯƠNG THỨ TƯ, c. 1-11.

1.    Điểm thứ nhất: sau khi chịu phép rửa, Người vào hoang địa, ở đó Người ăn chay bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.

2.    Điểm thứ hai: Người chịu kẻ thù cám dỗ ba lần: (Tên cám dỗ đến gần Người mà nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa, hăy bảo những cục đá này trở thành bánh ḿ đi; hăy đứng đây mà lao xuống đi; tất cả những ǵ ông thấy đó, tôi sẽ cho ông, nếu ông sấp ḿnh thờ lạy tôi).

3.    Điểm thứ ba: (các thiên thần đến hầu hạ Người).

275. VIỆC KÊU GỌI CÁC TÔNG ĐỒ.

1.    Điểm thứ nhất: có vẻ như thánh Phêrô và thánh Anđrê được gọi ba lần: lần thứ nhất để biết một chút; điều này thấy rơ trong thánh Gioan, chương thứ nhất; lần thứ hai để theo Đức Kitô một cách nào đó với ư định trở lại sở hữu những ǵ đă bỏ, như thánh Luca nói ở chương thứ năm; lần thứ ba để theo Đức Kitô Chúa chúng ta một cách vĩnh viễn, thánh Matthêu [viết] trong chương thứ tư, và thánh Marcô, trong chương thứ nhất.

2.    Điểm thứ hai: Người gọi Philipphê, như trong chương thứ nhất của thánh Gioan, và Matthêu, như chính Matthêu nói trong chương thứ chin.

3.    Điểm thứ ba, Người gọi các tông đồ khác mà Phúc Âm không kể riêng việc Chúa gọi mỗi vị.

Cũng nên suy xét ba điều nữa: điều thứ nhất, các tông đồ là những người thuộc tầng lớp quê mùa và thấp hèn; điều thứ hai, chức vị mà các ngài được gọi lănh nhận một cách ngot ngào như thế; điều thứ ba, những ân huệ và ân sủng nhờ đó các ngài được nâng lên trên tất cả các tổ phụ trong tân ước và cựu ước.

276. VỀ PHÉP LẠ THỨ NHẤT CHÚA LÀM TRONG TIỆC CƯỚI Ở CANA (GALILÊ), THÁNH GIOAN VIẾT, CHƯƠNG THỨ HAI, c.1-11.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta được mời dự tiệc cưới cùng với các môn đệ của Người.

2.    Điểm thứ hai: Đức Mẹ bảo cho Con biết việc thiếu rượu, người nói: (họ không c̣n rượu); và người truyền cho các kẻ giúp việc: (Người bảo làm ǵ th́ cứ làm nhé).

3.    Điểm thứ ba: (Người biến nước lă thành rượu, và người tỏ vinh quang của người, và các môn đệ của người tin vào người).

277. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ ĐUỔI NHỮNG NGƯỜI BUÔN BÁN RA KHỎI ĐỀN THỜ, THÁNH GIOAN VIẾT, CHƯƠNG HAI, c.13-22.

1.    Điểm thứ nhất: Người đuổi tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ với một cái roi kết bằng dây.

2.    Điểm thứ hai: Người lật đổ bàn và tiền bạc của những kẻ đổi tiền giàu có đang ở trong đền thờ.

3.    Điểm thứ ba: với những người nghèo đang bán bồ câu th́ Người dịu dàng bảo: (Hăy đem những thứ này ra khỏi đây và đừng muốn biến nhà ta thành nhà bán hàng).

278. VỀ BÀI ĐỨC KITÔ GIẢNG TRÊN NÚI, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ NĂM.

1.    Điểm thứ nhất: Người nói riêng với các môn đệ yêu dấu của Người về các mối phúc: (phúc thay những người có tinh thần nghèo khó, những người hiền lành, những người có ḷng thương xót, những người khóc lóc, những người đói khát sự công chính, những người có ḷng thanh sạch, những người xây dựng ḥa b́nh và những người chịu bách hại).

2.    Điểm thứ hai: Người khuyên bảo họ sử dụng các tài năng của ḿnh cho đúng: (Như thế ánh sáng của anh em sẽ tỏa ra trước mặt người ta, để họ thấy các việc lành của anh em và tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời).

3.    Điểm thứ ba: Người tỏ ra Người không phải là kẻ vi phạm lụật, nhưng là Đấng hoàn tất, khi tuyên bố điều răn chớ giết người, chớ gian dâm, chớ thề gian và hăy yêu mến kẻ thù: (Tôi bảo anh em rằng hăy yêu mến kẻ thù và làm ơn lành cho những người ghét anh em).

279. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA DẸP YÊN BĂO TỐ TRÊN BIỂN NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ TÁM, c.23-27.

1.    Điểm thứ nhất, Đức Kitô Chúa chúng ta đang ngủ ở trên biển th́ một cơn băo lớn nổi lên.

2.    Điểm thứ hai: các môn đệ của Người hoảng sợ, đánh thức Người day, Người quở trách họ v́ họ kém ḷng tin, Người bảo họ: (Hỡi những kẻ kém long tin, sao lại sợ hăi?).

3.    Điểm thứ ba: Người truyền cho gió và biển phải ngưng, và thế là gió ngưng, biển lặng, người ta ngạc nhiên về việc đó, họ nói: (Người này là ai mà gió và biển cũng vâng phục?).

280.    VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ ĐI TRÊN BIỂN NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN, c.22-33.

1.    Điểm thứ nhất:Đức Kitô Chúa chúng ta đứng trên núi, Người bảo các môn đệ xuống thuyền, rồi sau khi từ bịêt đám đông, Người bắt đầu cầu nguyện một ḿnh.

2.    Điểm thứ hai: con thuyền nhỏ bị sóng đánh, Đức Kitô đi trên biển mà đến gần thuyền, và các môn đệ tưởng là ma.

3.    Điểm thứ ba: Đức Kitô bảo họ: (Thầy đây mà, đừng có sợ). Thánh Phêrô, theo lệnh của Người, đi trên mặt nước mà đến với Người, ông nghi ngờ nên bắt đầu ch́m, nhưng Đức Kitô Chúa chúng ta cứu ông, và quở trách ông v́ kém ḷng tin, rồi Người bước lên thuyền và gió liền ngưng.

281. VỀ VIỆC CÁC TÔNG ĐỒ ĐƯỢC SAI ĐI RAO GIẢNG NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI, c.1-16.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta gọi các môn đệ yêu dấu của Người, và trao cho họ quyền xua đuổi quỉ ra khỏi thân xác người ta và chữa lành mọi bệnh tật.

2.    Điểm thứ hai: Người dạy họ về sự khôn ngoan và sự kiên nhẫn: (Này đây Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa sói rừng; v́ thế, hăy khôn ngoan như con rắn, và đơn sơ như bồ câu).

3.    Điểm thứ ba: Người bảo họ cách thức đi rao giảng: (Đừng muốn có vàng hay bạc; cái ǵ anh em nhận được nhưng không, th́ hăy cho đi nhưng không); Người cho họ chất liệu để rao giảng: (Đang khi đi hăy giảng rằng: nước trời đă tới gần).

282. VỀ SỰ HOÁN CẢI CỦA BÀ MADALENA, THÁNH LUCA VIẾT, CHƯƠNG THỨ BẢY, c.36-50.

1.    Điểm thứ nhất: bà Mađalena vào nơi Đức Kitô Chúa chúng ta đang ngồi dự tiệc trong nhà người Pharisêu, bà mang theo một b́nh bạch ngọc đầy dầu thơm.

2.    Điểm thứ hai: bà ở phía sau lưng, bên chân Chúa, bà bắt đầu lấy nước mắt tưới ướt chân Người, lấy tóc mà lau, bà hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên chân Người.

3.    Điểm thứ ba: khi người pharisêu cáo tội bà Mađalena, Đức Kitô lên tiếng bênh vực bà, Người nói: (chị ấy được tha nhiều tội v́ đă yêu mến nhiều; và Người nói với người đàn bà: ḷng tin của chị đă cứu chị, hăy đi b́nh an).

283. ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA CHO NĂM NGÀN NGƯỜI ĂN NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN, c. 13-21.

1.    Điểm thứ nhất: v́ trời đă muộn, các môn đệ xin Đức Kitô giải tán đám đông đang ở với Người.

2.    Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta truyền đem bánh đến cho Người, Người truyền cho người ta ngồi để ăn, rồi Người chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ của Người, và các môn đệ trao cho đám đông.

3.    Điểm thứ ba: (Họ đă ăn và được no nê, rồi c̣n dư mười hai thúng).

284. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ BIẾN H̀NH, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY, c.1-9.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta đem theo các môn đệ yêu dấu của Người là Phêrô, Giacôbê và Gioan, Người biến h́nh, mặt Người sáng như mặt trời và áo người như tuyết.

2.    Điểm thứ hai: Người nói với Môsê và Êlia.

3.    Khi thánh Phêrô nói xin làm 3 cái lều, th́ tiếng từ trời vọng xuống rằng: (Đây là con yêu dấu của Ta, hăy nghe lời Người); khi nghe tiếng ấy, các môn đệ sợ hăi sấp mặt xuống, Đức Kitô Chúa chúng ta chạm tới họ và bảo họ: (Trỗi dây và đừng sợ; đừng nói với ai thị kiến này cho tới khi Con Người sống lại).

285. VỀ VIỆC LAZARÔ SỐNG LẠI, THÁNH GIOAN, CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT, c.1-45.

1.    Điểm thứ nhất: Marta và Maria báo cho Đức Kitô Chúa chúng ta biết cơn bệnh của Lazarô, khi đă biết việc này Người c̣n nán lại hai ngày để phép lạ hiển nhiên hơn.

2.    Điểm thứ hai: trước khi cho Lazarô sống lại, Người đ̣i cả hai chị em phải tin, Người nói: (Thầy là sự sống lại và là sự sống; ai tin vào Thầy, dù đă chết, cũng sẽ sống).

3.    Điểm thứ ba: sau khi đă khóc và cầu nguyện, Người cho ông ấy sống lại, và cách thức cho ông ấy sống lại là truyền lệnh: (Lazarô, ra ngoài này).

286. VỀ BỮA TIỆC TẠI BÊTANIA, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT, c.6-10

1.    Điểm thứ nhất: Chúa ăn tiệc ở nhà ông Simon cùi, cùng với Lazarô.

2.    Điểm thứ hai: Maria đổ dầu thơm lên đầu Đức Kitô.

3.    Điểm thứ ba: Giuđa lẩm bẩm rằng: (Sao lại phí dầu thơm như thế?); nhưng Người bênh vực Madalena một lần nữa rằng: Sao lại gây sự với người phụ nữ này, v́ chị ấy đă làm một việc nghĩa cho tôi?).

287. CHÚA NHẬT RƯỚC LÁ, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT, c.1-17.

1.    Điểm thứ nhất: Chúa sai đi dắt con lừa mẹ và lừa con, Người nói: (hăy cởi dây cho chúng và dắt về đây cho Thầy; nếu có ai nói ǵ với anh em th́ cứ bảo rằng Chúa cần, và lập tức họ sẽ để cho dắt).

2.    Điểm thứ hai: Người ngồi lên lưng con lừa đă được phủ bằng áo của các tông đồ.

3.    Điểm thứ ba: người ta ra đón Người, lấy áo và cành lá trải lên đường và hô rằng: Lạy Con Vua Đavit, xin cứu chúng tôi; chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, xin cứu chúng tôi từ trời cao).

288. VỀ VIỆC RAO GIẢNG TRONG ĐỀN THỜ, LUCA, CHƯƠNG MƯỜI CHÍN, c. 47-48

1.    Điểm thứ nhất: hàng ngày Người giảng dạy trong đền thờ.

2.    Điểm thứ hai: khi giảng xong, v́ không có ai đón tiếp Người tại Giêrusalem, Người trở về Bêtania.

289. VỀ BỮA TIỆC LY, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU, c. 20-30; GIOAN, CHƯƠNG MƯỜI BA, c.1-30.

1.    Điểm thứ nhất: Người ăn thịt chiên vượt qua cùng với các tông đồ, Người báo trước cho các ông biết cuộc khổ nạn của Người: (Thầy bảo thật anh em rằng một người trong anh em phải bán Thầy).

2.    Điểm thứ hai: người rửa chân cho các môn đệ, kể cả Giuđa, bắt đầu từ Thánh Phêrô, ông này nghĩ đến sự uy nghi của Chúa và sự thấp hèn của ḿnh, th́ không muốn chấp nhận, ông nói: (Lạy Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?); nhưng Thánh Phêrô không biết rằng qua việc này Chúa làm gương khiêm nhường, và v́ thế Người nói: (Thầy làm gương cho anh em để anh em làm như Thầy đă làm).

3.    Điểm thứ ba: Người lập hy lễ tạ ơn cực thánh, làm dấu hiệu lớn nhất của t́nh yêu, Người nói: (Hăy cầm lấy và ăn). Sau bữa tiệc, Giuđa đi ra để bán Đức Kitô Chúa chúng ta.

290.    VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TỪ BỮA TIỆC LY ĐẾN HẾT VƯỜN CÂY DẦU, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU, c.30-46; VÀ MARCÔ, CHƯƠNG MƯỜI BỐN, c.26-42.

1.    Điểm thứ nhất: sau khi ăn tiệc và hát thánh vịnh xong, Chúa đi ra núi Cây Dầu cùng với các môn đệ đang đầy sợ hăi: và Người để tám người lại trong vườn Giethsemani, Người nói: (Hăy ngồi đây chờ Thầy đi tới đàng kia cầu nguyện).

2.    Điểm thứ hai: có thánh Phêrô, Thánh Giacobê và Thánh Gioan đi theo, Người cầu nguyện ba lần với Thiên Chúa, Người nói: (Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con; tuy nhiên, không phải ư con mà ư Cha phải thể hiện; và lâm cơn hấp hối, Người cầu nguyện khẩn thiết hơn).

3.    Người cảm thấy kinh hăi đến nỗi thốt lên: (Tâm hồn Thầy buồn đến chết được); và Người đổ mồ hôi máu đầm đ́a đến nỗi Thánh Luca nói: (Mồ hôi Người như những giọt máu chảy xuống đất), điều ấy giả thiết là áo sống Người đă đẫm máu.

291. VỀ NHỮNG MÀU NHIỆM XẢY RA TỪ VƯỜN CÂY DẦU CHO TỚI HẾT CHUYỆN XẢY RA Ở NHÀ ÔNG KHA-NAN, MATTHÊU, XXVI, c. 47-58; LUCA, XXII, 47-57; MARCÔ, CHƯƠNG XIV, 43-68.

1.    Điểm thứ nhất: Chúa để cho Giuđa hôn, và để cho người ta bắt như bắt một tên trộm cướp đang khi Người nói với họ: (các anh đem gậy gộc và gươm giáo ra bắt tôi, làm như thể tôi một tên trộm cướp, hàng ngày tôi vẫn ở trong đền thờ với các anh để dạy dỗ th́ các anh không bắt); và khi Người nói: (Các anh t́m ai?), những kẻ thù ngă xuống đất.

2.    Điểm thứ hai: Thánh Phêrô đánh bị thương một tên đầy tớ của thượng tế, Chúa nhân hiền nói với ông: (Hăy để gươm lại vào chỗ của nó), và Người chữa vết thương của tên đầy tớ.

3.    Bị các môn đệ bỏ rơi, Người bị điệu đến cho ông Kha-nan, ở đó Thánh Phêrô, kẻ đă theo Người xa xa, chối Người một lần, và Đức Kitô bị một cái tát đang khi người ta nói với Người: (Ngươi trả lời Thượng Tế như vậy đó hả?).

292.VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TỪ NHÀ ÔNG KHA-NAN ĐẾN HẾT CHUYỆN Ở NHÀ ÔNG CAIPHA, MATTHÊU XXVI; MARCÔ XIV; LUCA, XXII; GIOAN, CHƯƠNG XVIII.

1.    Điểm thứ nhất: họ cứ để Người bị trói mà điệu từ nhà ông Kha-nan qua nhà ông Caipha, tại đó ông Phêrô chối Người hai lần; và ông được Chúa nh́n (Ông ra ngoài khóc lóc đau đớn).

2.    Điểm thứ hai: Đức Giêsu bị trói suốt đêm ấy.

3.    Điểm thứ ba: thêm vào đó, những kẻ canh giữ Người chế diễu Người, chúng đánh Người, chúng che mặt Người rồi tát Người; và chúng hỏi Người: (Nói tiên tri cho chúng tôi biết ai vừa đánh ông thế; và chúng xúc phạm đến Người bằng những điều tương tự như thế).

292.VỀ NHỮNG MẦU NHIỆM XẢY RA Ở NHÀ ÔNG CAIPHA CHO TỚI HẾT CHUYỆN Ở DINH PHILATÔ, MATTHÊU, XXVII; LUCA,XXIII; MARCÔ, XV.

1.    Điểm thứ nhất: tất cả đám đông người do thái điệu Người tới cho Philatô, và trước mặt ông, họ cáo tội Người rằng: (Chúng tôi đă bắt gặp người này xúi giục dân chúng tôi và cấm nộp thuế cho Xê-da).

2.    Điểm thứ hai: sau khi Philatô đă xét hỏi Người lần thứ nhất rồi lần thứ hai, Philatô tuyên bố: (Ta không thấy người này có lỗi ǵ cả).

3.    Điểm thứ ba: Baraba, tên trộm cướp, được coi trọng hơn Người: (Tất cả lên tiếng: đừng tha người này, nhưng tha Baraba).

294. VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TỪ DINH PHILATÔ CHO TỚI HÉT CHUYỆN Ở DINH HÊROĐÊ, LUCA, XIII, c. 6-11.

1.    Điểm thứ nhất: Philatô gởi Đức Giêsu người Galilê cho Hêrođê, thủ hiến xứ Galilê.

2.    Điểm thứ hai: Hêrođê, ṭ ṃ, hỏi Người nhiều điều; nhưng Người không trả lời ǵ hết, dù những luật sĩ và tư tế khăng khăng tố cáo Người.

3.    Điểm thứ ba: Hêrođê cùng với lính tráng khinh dể Người, mặc cho Người chiếc áo trắng.

295. VỀ CÁC MẦUNHIỆM XẢY RA TỪ DINH HEROĐÊ CHO TỚI HẾT CHUYỆN Ở DINH PHILATÔ, MATTHÊU XXVII; LUCA, XXII; MARCÔ, XV, VÀ GIOAN, XIX

1.    Điểm thứ nhất: Hêrođê gởi trả Người lại cho Philatô, nhờ thế hai người trước vẫn là kẻ thù của nhau đă trở thành bạn hữu.

2.    Điểm thứ hai: Philatô đem Đức Giêsu đi và cho đánh đ̣n, và lính làm một măo gai, đội lên đầu Người, mặc cho Người chiếc áo đỏ rồi đến gần Người mà nói: (Tâu vua người Do Thái); và chúng tát vào mặt Người.

3.    Điểm thứ ba: (Philatô) đem Người ra trước mặt mọi người: (Rồi Đức Giêsu đi ra, đầu đội măo gai, ḿnh mặc áo điều; và Philatô nói với họ: Người đây); va khi thấy Người, các thượng tế cất tiếng kêu lên rằng: (đóng đinh thập giá, đóng đinh nó vào thập giá đi).

296. VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TỪ DINH PHILATÔ CHO ĐẾN THẬP GIÁ, GIOAN XIX, c. 13-22.

1.    Điểm thứ nhất: Philatô ngồi làm quan ṭa, trao Đức Giêsu cho họ để họ đóng đinh vào thập giá, sau khi người Do Thái chối bỏ không nhận Người là vua, họ nói: (Chúng tôi không có vua nào ngoài Xê-da).

2.    Điểm thứ hai: Người khom lưng vác thập giá, và khi Người không thể vác nổi th́ ông Simon người Kyrênê bị cưỡng bức vác thập giá đi đàng sau Đức Giêsu.

3.    Điểm thứ ba: họ đóng đinh Người vào thập giá giữa hai kẻ trộm cướp, và treo bản án này: (Giêsu Nadaret, vua người Do Thái).

297. VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TRÊN THẬP GIÁ, GIOAN XIX, c. 23-37.

1.    Điểm thứ nhất: Người nói bảy lời trên thập giá: cầu xin cho những kẻ đă đóng đinh Người; tha thứ cho kẻ trộm cướp; trao Thánh Gioan cho Mẹ Người, và trao Đức Mẹ cho Thánh Gioan; Người nói lớn tiếng: (Tôi khát); và họ cho Người mật đắng và dấm chua; Người nói rằng Người bị bỏ rơi; Người nói (Đă hoàn tất); Người nói: (Cha ơi, con phó linh hồn con trong tay Cha)

2.    Điểm thứ hai: mặt trời ra tối tăm; đá vỡ ra; mồ mả mở tung; màn trong đền thờ xé làm đôi từ trên xuống dưới.

3.    Điểm thứ ba: họ nói phạm đến Người rằng: (Mi là kẻ toan phá đền thờ Thiên Chúa; xuống khỏi thập giá đi); áo của Người bị đem chia phần; khi bị đâm bằng lưỡi đ̣ng; cạnh sườn Người chảy nước và máu.

298. VỀ CÁC MẦU NHIỆM XẢY RA TỪ THẬP GIÁ CHO TỚI HẾT CÁC VIỆC Ở MỘ, CÙNG NƠI SÁCH ĐĂ DẪN.

1.    Điểm thứ nhất: Người được ông Giuse và ông Nicôđemô đưa xuống khỏi thập giá, trước mặt người mẹ đau khổ của Người.

2.    Điểm thứ hai: xác Người được đưa tới mộ, được xức dầu thơm và được mai táng.

3.    Điểm thứ ba: họ đặt lính canh gác.

299. VỀ SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA; VỀ VIỆC NGƯỜI HIỆN RA LẦN THỨ NHẤT.

1.    Điểm thứ nhất: Người hiện ra với Đức Trinh Nữ Maria, điều này tuy không có nói trong Sách Thánh, vẫn coi như có nói, khi nói rằng Người hiện ra với bao nhiêu người khác; v́ Sách Thánh giả thiết chúng ta có sự hiểu biết, như có viết: (Cả anh em cũng không có sự hiểu bịết à?).

300. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ HAI, MARCÔ, CHƯƠNG XVI, c.1-11.

1.    Điểm thứ nhất: tờ mờ sáng, bà Maria Madalena, bà Maria mẹ ông Giacôbê và bà Salomê đi ra mộ, các bà nói; (Ai sẽ lật tảng đá ở cửa mộ cho chúng ta?).

2.    Điểm thứ hai: Các bà thấy tảng đá đă lật ra và thấy thiên thần nói: (Các bà t́m Đức Giêsu Nadaret chứ ǵ; Người đă sống lại rồi, Người không c̣n ở đây).

3.    Điểm thứ ba: Người hiện ra với bà Maria, bà này ở lại bên mộ, sau khi các bà kia đă về.

301. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ BA, THÁNH MATTHÊU, CHƯƠNG CUỐI CÙNG.

1.    Điểm thứ nhất: các bà Maria này ra khỏi mộ với nỗi khiếp sợ và niềm vui lớn, muốn báo tin cho các môn đệ về việc Chúa phục sinh.

2.    Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta hiện ra với các bà trên đường, Người nói với các bà: (Chào các bà); và các bà tới phục xuống dưới chân Người và thờ lạy Người.

3.    Đức Giêsu nói với các bà: (Đừng sợ, hăy đi nói với anh em của Thầy rằng họ hăy đi về Galilê, v́ ở đó họ sẽ được thấy Thầy).

302. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ BỐN, CHƯƠNG CUỐI CÙNG CỦA THÁNH LUCA, c.9-12; 33-34.

1.    Điểm thứ nhất: nghe các phụ nữ nói Đức Kitô đă phục sinh, Thánh Phêrô lập tức đi ra mộ.

2.    Điểm thứ hai: khi vào trong mộ, ông chỉ thấy những tấm vải đă dùng để liệm xác Đức Kitô Chúa chúng ta chứ không thấy ǵ khác.

3.    Điểm thứ ba: Thánh Phêrô đang suy nghĩ về những điều này th́ Đức Kitô hiện ra với ông và v́ thế các tông đồ nói: (Quả thật Chúa đă sống lại và đă hiện ra với ông Simon).

303. VỀ LẦN HIỆN RA THỨ NĂM TRONG CHƯƠNG CUỐI CÙNG CỦA THÁNH LUCA.

1.    Điểm thứ nhất: Người hiện ra với các môn đệ đi về Emmau đang nóivề Đức Kitô.

2.    Điểm thứ hai: Người quở trách họ bằng cách lấy Sách Thánh mà chỉ cho họ thấy rằng Đức Kitô phải chết và phục sinh: (Ôi, những kẻ ḷng trí ngu muội và chậm tin tất cả những ǵ các ngôn sứ đă nói! Chẳng phải là Đức Kitô cần phải chịu đau khổ và nhờ thế mà vào trong vinh quang của Người sao?).

3.    Điểm thứ ba: v́ họ nài xin, Người ở lại đó với họ cho tới khi Người biến đi đang lúc Người cho họ rước lễ; và khi họ trở về, họ nói với các môn đệ về việc họ đă nhận biết Người như thế nào khi rước lễ.

304. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ SÁU, GIOAN, CHƯƠNG XX, c.19-23.

1.    Điểm thứ nhất: các môn đệ đă tụ họp với nhau (v́ sợ người Do Thái), trừ thánh Tôma.

2.    Điểm thứ hai: Đức Giêsu hiện ra với họ đang khi cửa đóng then cài, và Người đứng giữa họ mà nói: (B́nh an ở với anh em).

3.    Điểm thứ ba: Người ban Thánh Thần cho họ mà rằng: (Hăy nhận lấy Thánh Thần; anh em tha tội cho những ai, th́ tội sẽ được tha cho họ).

305. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ BẢY, GIOAN, XX, c.24-29.

1.    Điểm thứ nhất: Thánh Tôma, người cứng ḷng tin, v́ vắng mặt khi Người hiện ra lần trước, nói: (Nếu tôi không thấy việc đó th́ tôi sẽ không tin).

2.    Cách đó tám ngày, Đức Giêsu hiện ra với họ, đang khi cửa đóng then cài, và Người nói với Thánh Tôma: (Hăy đặt ngón tay anh vào đây, và hăy thấy sự thật, và đừng cứng ḷng nữa nhưng hăy có ḷng tin).

3.    Thánh Tôma tin mà rằng: (Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi); Đức Kitô nói với ông: (Phúc cho những người không thấy mà tin).

306. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ TÁM, GIOAN, CHƯƠNG CUỐI CÙNG, c.1-17.

1.    Điểm thứ nhất: Đức Giêsu hiện ra với bảy môn đệ đang đánh cá, suốt đêm họ đă chẳng bắt được ǵ, và khi giăng lưới theo lệnh của Người (họ không thể kéo lên, v́ bắt được nhiều cá).

2.    Điểm thứ hai: v́ phép lạ này, Thánh Gioan nhận biết Người và nói với Thánh Phêrô: (Chúa đấy), ông này nhảy xuống biển và đến với Đức Kitô.

3.    Điểm thứ ba: Người chia cho họ ăn một con cá nướng và một tảng mật ong; rồi Người trao các con chiên cho Thánh Phêrô, sau khi đă khảo sát ông ba lần về đức ái, Người bảo ông: (Hăy chăn các con chiên của Thầy).

307. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ CHÍN, MATTHÊU, CHƯƠNG CUỐI CÙNG, c.16-20.

1.    Điểm thứ nhất: các môn đệ đi lên núi Tabor theo lệnh Chúa truyền.

2.    Điểm thứ hai: Đức Kitô hiện ra với họ và nói: (Mọi quyền trên trời dưới đất đă được trao cho Thầy).

3.    Điểm thứ ba: Người sai họ đi rao giảng khắp thế gian mà rằng: (Hăy đi dạy dỗ muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần).

308. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI, TRONG THƯ THỨ NHẤT GỞI TÍN HỮU CORINTÔ, CHƯƠNG XV, c.6

(Sau đó Người cho hơn 500 anh em được thấy Người).

309. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI MỘT, TRONG THƯ THỨ NHẤT GỞI TÍN HỮU CORINTÔ CHƯƠNG XV, c. 7.

(Sau đó Người hiện ra với Thánh Giacôbê).

310. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI HAI.

Người hiện ra với ông Giuse Arimathia, như ta có thể lấy ḷng đạo đức mà suy niệm và đọc trong hạnh các Thánh.

311. VỀ CUỘC HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI BA, THƯ THỨ NHẤT CORINTÔ, CHƯƠNG XV, c.8.

Sau khi lên trời, Người hiện ra với Thánh Phaolô (cuối cùng Người hiện ra với tôi, như với một kẻ sinh non).

Người cũng hiện ra với các tổ phụ trong ngục tổ tông bằng linh hồn của Người, rồi sau khi Người đă đưa họ ra và trở về lấy lại thân xác ḿnh, Người hiện ra nhiều lần với các môn đệ và nói chuyện với họ.

312. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA LÊN TRỜI, SÁCH TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ, I, c.1-12.

1.    Điểm thứ nhất: sau khoảng thời gian bốn mươi ngày Người đă hiện ra với các môn đê, làm nhiều băng chứng và dấu hiệu, và nói với họ về nước Thiên Chúa, truyền cho họ ở Giêrusalem chờ đợi Thánh Thần [Thiên Chúa] đă hứa.

2.    Điểm thứ hai: Người đưa họ lên núi Cây Dầu (và trước mặt họ Người được đưa lên trời và một đám mây che người khuất mắt họ).

3.    Điểm thứ ba: họ đang nh́n lên trời th́ các thiên thần nói với họ: (Hỡi những người xứ Galilê, sao cứ mải nh́n lên trời? Đức Giêsu này, Đấng đă được đưa lên trời khuất mắt các ông, Người sẽ đến cùng một cách như các ông đă thấy Người lên trời).

313. QUY TẮC ĐỂ CẢM BIẾT VÀ NHẬN RA PHẦN NÀO NHỮNG THÚC ĐẨY KHÁC NHAU TRONG LINH HỒN

ĐIỀU TỐT ĐỂ ĐÓN NHẬN VÀ ĐIỀU XẤU ĐỂ LOẠI BỎ

CÁC QUY TẮC NÀY THÍCH HỢP HƠN CHO TUẦN THỨ NHẤT

314. QUY TẮC I: Đối với những người sa ngă hết tội trọng này đến tội trọng khác, kẻ thù thường quen bày cho họ những vui thú bề ngoài, xui họ tưởng đến những khoái lạc và vui thú giác quan để dễ cầm giữ và thúc đẩy họ tiến sâu vào thói hư và tội lỗi. Với những người như thế, thần lành dùng phương pháp ngược lại, bằng cách thôi thúc cho lương tâm cắn rứt họ bằng luật tự nhiên của lẽ phải.

315. QUY TẮC II: Nơi những người tiến mạnh trong việc diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn măi trên đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, th́ lại có phương pháp ngược lại với quy tắc thứ nhất. V́ khi đó, đường lối riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn phiền và đặt chướng ngại bằng cách gây băn khoăn lo lắng với những lư lẽ giả tạo để người ta khỏi tiến tới, c̣n cách thức riêng của thần lành là làm cho can đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt, ơn soi giục và an nghỉ, giảm bớt và hủy diệt các trở ngại để cho người ta tiến lên trong đàng lành.

316. QUY TẮC III: Về an ủi thiêng liêng. Gọi là an ủi khi trong linh hồn phát khởi một thúc đẩy nội tâm, khiến linh hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và do đó, không có thể yêu một thọ tạo nào trên mặt đất v́ chính thọ tạo ấy, nhưng chỉ yêu trong Đấng tạo dựng mọi sự. Đó cũng là trường hợp linh hồn chảy nước mắt giục ḷng mến Chúa, hoặc bởi đau đớn v́ tội lỗi ḿnh, hay v́ sự thương khó của Đức Kitô, Chúa chúng ta, hay v́ những điều khác trực tiếp hướng về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, c̣n gọi là an ủi mọi gia tăng của ḷng tin- cậy- mền, cùng mọi niềm vui bề trong mời gọi và lôi kéo (tâm hồn) đến những sự trên trời và phần rỗi riêng của linh hồn ḿnh, làm cho linh hồn được nghỉ ngơi và an b́nh trong Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh.

317. QUY TẮC IV: Sự sầu khổ thiêng liêng. Gọi là sầu khổ tất cả những ǵ trái ngược với quy tắc thứ ba, như sự tối tăm trong linh hồn, xao xuyến bề trong, thúc đẩy về những ǵ thấp hèn và phàm tục, lo lắng về những xao động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy, ḷng mến; [linh hồn] cảm thấy lười biếng, khô khan, buồn sầu và như bị ĺa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh. Bởi lẽ như an ủi trái ngược với sầu khổ thế nào, th́ các tư tưởng do an ủi sinh ra cũng trái ngược với các tư tưởng do sầu khổ sinh ra như vậy.

318. QUY TẮC V: Trong thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hăy cương quyết bền vững trong những quyết định và dốc ḷng có trước khi bị sầu khổ, hoặc những quyết định đă có khi được an ủi trước đấy. Bởi lẽ cũng như trong khi được an ủi, phần nhiều là thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào, th́ trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng (làm) như vậy, mà theo lời khuyên của nó, ta chẳng thể gặp được con đường đưa tới đích.

319. QUY TẮC VI: Trong cơn sầu khổ, nếu như không nên thay đổi những điều đă quyết định, th́ lại rất nên cương quyết thay đổi chính ḿnh để chống lại với cơn sầu khổ ấy, chẳng hạn bằng cách chăm chú cầu nguyện, suy gẫm hơn, xét ḿnh nhiều hơn và gia tăng sự hăm ḿnh theo cách nào thích hợp.

320. QUY TẮC VII: Đang gặp sầu khổ, ta hăy nghĩ rằng, để thử luyện ta, Chúa đă để ta với sức tự nhiên chống trả các xao động và cám dỗ của kẻ thù; như vậy ta vẫn có thể chống trả được, nhờ ơn Chúa vẫn giúp đỡ dù ta không cảm thấy rơ ràng. V́ Chúa rút bớt ḷng sốt sắng nồng nàn, ḷng mến bao la và ân sủng mạnh mẽ nhưng vẫn để lại ân sủng đủ cho sự cứu rỗi đời đời.

321. QUY TẮC VIII: Đang cơn sầu khổ hăy gắng giữ sự nhẫn nại, là sự trái ngược với những xáo trộn xảy đến, và nghĩ rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ được an ủi, nếu hết sức chiến đấu với cơn sầu khổ ấy, như đă nói ở quy tắc thứ sáu.

322. QUY TẮC IX: Có ba nguyên do chính khiến ta gặp sầu khổ:

·       thứ nhất: v́ ta không sốt mến đủ, lười biếng hay chểnh mảng trong các việc thiêng liêng; vậy là v́ lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng ĺa bỏ ta;

·       thứ hai: để thử coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa, khi không được thưởng công bằng bấy nhiêu an ủi và ân sủng bao la;

·       thứ ba: để ta học biết và nhận thức tận thâm tâm rằng, không phải tự ta làm phát sinh hay duy tŕ được ḷng sốt sắng vô ngần, ḷng mến mạnh mẽ, nước mắt hoặc ơn an ủi thiêng liêng, mà mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để ta đừng "làm tổ ở nhà người khác,” và đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang, tự gán cho ḿnh ḷng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an ủi thiêng liêng.

323. QUY TẮC X: Khi được ơn an ủi, phải nghĩ tới cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến, đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.

324. QUY TẮC XI: Ai được an ủi, phải gắng tự khiêm và tự hạ chừng nào có thể, bằng cách nghĩ ḿnh nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ, khi không có ân sủng này. Trái lại, người lâm cơn sầu khổ phải nghĩ ḿnh có thể làm được nhiều nhờ ơn đủ của Chúa trợ giúp, để chống trả mọi kẻ thù, nhờ lấy sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh.

325. QUY TẮC XII: Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ khi ta chống trả th́ nó yếu, và khi ta để mặc th́ nó mạnh. Quả vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gỗ với người đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi người đàn ông thẳng tay chống trả. Trái lại, nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, th́ cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của người đàn bà thật không sao lường được.

Cũng vậy, đặc tính của kẻ thù là yếu nhược, khiếp đảm và bỏ chạy với những chước cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đàng thiêng liêng thẳng tay chống trả các cám dỗ của nó bằng cách làm điều ngược hẳn lại. Trái lại, nếu người ấy bắt đầu sợ hăi và mất can đảm trước cơn cám dỗ, th́ trên mặt đất này, không có vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người trong việc theo đuổi ư định xấu xa của nó cách dữ dằn chừng ấy.

326. QUY TẮC XIII: Kẻ thù cũng c̣n sử xự như kẻ si t́nh lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, th́ muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất măn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ư xấu xa của hắn, v́ hắn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đă bắt đầu.

Cũng vậy khi kẻ thù của bản tính loài người đưa những sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay lành, th́ mong muốn những điều đó được tiếp nhận và giữ kín. Nhưng khi linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay một người đạo đức nào khác am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, th́ nó rất bất măn, v́ nó kết luận rằng không thể đạt tới điều xấu xa mà nó đă bắt đầu, v́ sự dối trá rơ rệt của nó đă bị phanh phui.

327. QUY TẮC XIV: Kẻ thù lại c̣n xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những ǵ nó muốn. Ví như một vị chỉ huy cầm đầu đội quân, sau khi đặt doanh trại và xem xét lực lượng hoặc cách bố trí của một thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất; th́ cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người lượn quanh để ḍ xét những nhân đức đối thần, các nhân đức trụ[41] và các nhân đức luân lư khác của ta, và điểm nào nó thấy ta yếu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.


 

328. QUY TẮC VỀ CÙNG MỘT VẤN ĐỀ ĐỂ PHÂN BIỆT CÁC THẦN RƠ HƠN

Các quy tắc này thích hợp hơn cho tuần thứ hai.

329. QUY TẮC I: Đặc điểm của Chúa và các thiên thần khi soi giục là ban sự sảng khoái và vui vẻ thiêng liêng liêng thật, xóa bỏ mọi buồn sầu và xao xuyến do kẻ thù đưa vào. C̣n đặc điểm của kẻ thù là chống lại sự sảng khoái và niềm an ủi thiêng liêng ấy bằng cách đưa ra những lư do giả tạo, cầu kỳ và ngụy biện không cùng.

330. QUY TẮC II: Chỉ có Thiên Chúa, Chúa chúng ta, mới ban ơn an ủi cho linh hồn mà không cần có nguyên do trước; v́ quyền riêng của Đấng Tạo Hóa là vào, ra, đánh động linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh hồn vào ḷng yêu mến Ngài. Tôi nói không có nguyên do, nghĩa là, không có một t́nh cảm hay một nhận thức về một đối tượng nào trước, nhờ đó sự an ủi phát sinh do tác động của trí tuệ và ư chí.

331. QUI TẮC III: Khi có nguyên do, thần lành cũng như thần dữ đều có thể an ủi linh hồn, nhưng nhằm mục đích trái ngược nhau: thần lành nhằm mưu ích cho linh hồn, để nó lớn lên và ngày càng tốt lành hơn, c̣n thần dữ nhằm điều ngược lại, để rồi lôi cuốn linh hồn theo ư xấu xa đồi tệ của nó.

332. QUI TẮC IV: Đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành đi vào theo chiều hướng của linh hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn ra theo những mưu mô ẩn kín và những ư đồi tệ của nó.

333. QUI TẮC V: Cần chú ư nhiều về diễn biến của tư tưởng. Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, là dấu hiệu của thần lành. Nhưng nếu diễn biến của tư tưởng đưa ta tới điều xấu hoặc lo ra, hay không được tốt như điều trước đó linh hồn đă định làm, hoặc làm giảm sút, khiến ta lo lắng, bối rối, mất sự b́nh an, yên tĩnh đă có từ trước, đó là dấu hiệu rơ ràng điều ấy bởi thần dữ, kẻ thù của sự tiến tới và phần rỗi ta.

334. QUI TẮC VI: Khi đă cảm thấy và nhận ra kẻ thù của bản tính loài người bởi cái đuôi rắn của nó và mục đích xấu xa nó muốn đưa tới, th́ điều có ích cho người bị cám dỗ là sau đó duyệt lại diễn biến của những tư tưởng tốt nó bày ra và khởi đầu của những tư tưởng ấy, và xem nó đă lần lần t́m cách khiến ta rời sự dịu ngọt và niềm vui siêu nhiên vốn có trước, cho đến chỗ đưa ta tới ư định đồi tệ của nó như thế nào; để nhờ nhận biết và ghi lại những kinh nghiệm đó, ta sẽ giữ ḿnh cho khỏi những dối trá thường lệ của nó sau này.

335. QUY TẮC VII: Đối với những người đang tiến tới, thần lành soi dẫn linh hồn cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt, như giọt nước thấm vào miếng bọt biển; c̣n thần dữ th́ thúc đẩy cách chát chúa, ồn ào và sôi động, như giọt nước rơi trên đá. Với những người sa sút, th́ các thần nói trên hành động ngược lại. Lư do là tùy theo t́nh trạng của linh hồn trái ngược hay ḥa hợp với các thần nói trên, v́ khi trái ngược, th́ các thần xâm nhập cách ồn ào, dễ cảm thấy và nhận ra, c̣n khi ḥa hợp th́ các thần ấy xâm nhập lặng lẽ như vào nhà ḿnh, cửa mở.

336. QUY TẮC VIII: Khi an ủi không có nguyên do, th́ không có cạm bẫy, v́ như đă nói trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Song người sống thiêng liêng được Chúa ban ơn yên ủi phải tỉnh thức, và chú ư xem xét và phân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp sau, khi linh hồn c̣n nóng nảy và sung sướng v́ ơn an ủi vừa qua và dư hưởng của ơn ấy. Qủa vậy, trong thời gian tiếp sau ấy, nhiều khi tự ḿnh suy nghĩ theo tư tưởng và suy luận riêng, hoặc do ảnh hưởng của thần lành hay thần dữ, ta hoạch ra những dự định và ư kiến mà không phải do Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trực tiếp ban cho, và v́ thế, cần xét xem thật kỹ trước khi hoàn toàn tin tưởng ở những điều ấy và đem ra thực hành.

337. QUY TẮC PHẢI THEO KHI CÓ NHIỆM VỤ BỐ THÍ CỦA CẢI

338. QUY TẮC I: Nếu tôi phân phát cho bà con hoặc bạn bè hay những người tôi qúy mến, tôi phải chú ư đến bốn điều, đă được nói tới trong phần lựa chọn ở cuối tuần hai.

Thứ nhất: T́nh yêu khiến tôi bố thí phải do từ trên xuống, do ḷng mến Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Vậy trước hết tôi phải cảm thấy trong ḷng rằng, ḷng yêu mến nhiều ít của tôi đối với những người ấy là v́ Chúa, và có Chúa tỏa sáng trong lư do khiến tôi yêu mến họ hơn.

339. QUY TẮC II: Tưởng tượng một người tôi chưa hề gặp và cũng chẳng quen biết, mà tôi ước ao cho người ấy được hoàn hảo trọn vẹn trong chức vụ và đấng bậc của họ. Tôi muốn người đó giữ mức trung dung nào trong cách phân phát để làm vinh danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta, hơn, và để linh hồn họ được hoàn thiện hơn, th́ tôi cũng làm như vậy, không hơn không kém. Tôi tuân giữ quy tắc và mức độ mà tôi mong muốn và coi là tốt hơn cho người đó.

340. QUY TẮC III: Tưởng tượng như tôi đang ở vào giờ chết, xét xem thái độ và mức độ lúc ấy tôi muốn ḿnh đă giữ trong việc quản trị của tôi; và tôi khuôn theo thái độ và mức ấy, tuân giữ như vậy trong việc phân phát của tôi.

341. QUY TẮC IV: Nh́n xem t́nh trạng của tôi trong ngày phán xét, và suy nghĩ kỹ xem lúc đó tôi muốn ḿnh đă thi hành chức vụ và bổn phận như thế nào. Quy tắc mà lúc đó tôi muốn ḿnh đă tuân theo, tôi giữ ngay bây giờ.

342. QUY TẮC V: Khi người nào tự cảm thấy nghiêng chiều và quyến luyến với người ḿnh muốn phân phát cho, hăy dừng lại và suy gẫm kỹ bốn quy tắc trên, để xét xem và thẩm định lại cảm t́nh của ḿnh đối với người đó; và không phân phát của bố thí trước khi theo đúng những quy tắc trên đây nhằm gạt bỏ hoàn toàn t́nh cảm lệch lạc ấy.

343. QUY TẮC VI: Không có lỗi ǵ khi lấy của Thiên Chúa mà đem phân phát nếu đă được Chúa gọi vào chức vụ ấy, nhưng về tỷ lệ và số lượng lấy ra từ những của dành để cho người khác mà chi dụng cho chính ḿnh, th́ có thể có lỗi phạm và lạm dụng. Vậy có thể sửa đổi lại trong đời sống và đấng bậc nhờ những quy tắc nói trên.

344. QUY TẮC VII: V́ các lư do trên và nhiều lư do khác, về những ǵ liên quan tới bản thân và những ǵ thụôc về ta, bao giờ điều tốt hơn và chắc chắn hơn vẫn là hạn chế và giảm bớt càng nhiều càng hay, và gắng tiến tới gần vị Thượng Tế, khuôn mẫu và quy tắc của chúng ta, Đức Kitô, Chúa chúng ta. Theo ư đó, Đệ Tam Công Đồng Carthago (có Thánh Augustinô dự) đă quyết định và chỉ thị rằng, đồ đạc trong nhà của giám mục phải tầm thường và khó nghèo. Ư tưởng đó hợp với mọi cuộc sống, nếu để ư đến và thích ứng với hoàn cảnh và đấng bậc từng người; như trong bậc hôn nhân, có gương thánh Gioakim và Anna, các ngài đă chia gia sản làm ba phần, một cho người nghèo, một cho các viên chức và việc phụng tự ở đền thờ, và một cho cuộc sống của chính ḿnh và gia đ́nh.

345. NHỮNG GHI CHÚ GIÚP NHẬN THẤY VÀ PHÁN ĐOÁN

VỀ NHỮNG BỐI RỐI CÙNG NHỮNG XÚI BẪY CỦA KẺ THÙ CHÚNG TA

346. GHI CHÚ I: Ta thường gọi là bối rối điều ǵ do sự phán đoán và tự do của ta mà ra, nghĩa là khi ta tự ư cho là có tội một điều không phải là tội. Chẳng hạn một người t́nh cờ dẫm lên một h́nh thánh giá do những cọng rơm làm thành, rồi do phán đoán riêng cho rằng ḿnh đă phạm tội. Nhưng đúng ra đó chỉ là phán đoán sai lầm chứ không phải bối rối thật.

347. GHI CHÚ II: Khi đă dẫm lên h́nh thánh giá, hoặc sau một tư tưởng, lời nói hay hành động nào đó, từ bên ngoài đưa tới một ư tưởng là tôi đă phạm tội; và đàng khác, tôi lại thấy h́nh như tôi không phạm tội; nhưng tôi vẫn cảm thấy phân vân về điều đó, nghĩa là nửa tin, nửa ngờ; chính đó mới là bối rối và chước cám dỗ kẻ thù bày ra.

348. GHI CHÚ III: Loại bối rối thứ nhất, nói ở ghi chú I, đáng khinh chê hẳn, v́ hoàn toàn sai lầm. C̣n loại thứ hai, nói ở ghi chú II, trong một thời gian nào đó, giúp tiến tới không ít cho linh hồn chăm lo tập tành đàng thiêng liêng, v́ điều ấy tẩy rửa linh hồn rất nhiều, giúp xa lánh tất cả những ǵ có vẻ là tội, theo lời thánh Grêgôriô: đặc điểm của các linh hồn lành thánh là nh́n thấy lỗi nơi không có lỗi.

349. GHI CHÚ IV: Kẻ thù thường xem xét kỹ coi linh hồn thô thiển hay tế nhị. Nếu tế nhị, nó làm cho tế nhị hơn nữa, tới mức thái quá, để dễ làm cho bối rối băn khoăn. Thí dụ thấy một linh hồn không chịu chiều theo tội trọng cũng như tội nhẹ, và cả đến những ǵ có vẻ là tội khi đă kịp suy nghĩ; lúc ấy v́ không thể làm cho linh hồn sa ngă vào điều ǵ có vẻ là tội, kẻ thù cố xúi linh hồn tưởng là có tội khi không có, như trong lời nói hay tư tưởng rất nhỏ nhặt. Nếu linh hồn thô thiển, kẻ thù gắng làm cho thô thiển hơn, thí dụ nếu trước linh hồn không coi sao về các tội mọn, nó cố xui cho coi thường cả tội trọng, và nếu trước linh hồn có kiêng nể chút ít, th́ nó cố xui cho coi thường hơn hoặc chẳng kể là ǵ nữa.

350. GHI CHÚ V: Linh hồn muốn tiến tới trong đàng thiêng liêng bao giờ cũng phải xử sự ngược lại với cách chước của kẻ thù, nghĩa là nếu kẻ thù muốn làm cho linh hồn ra thô thiển hơn, th́ phải gắng trở nên tế nhị hơn. Cũng vậy, nếu kẻ thù muốn làm cho linh hồn tế nhị đi tới thái quá, th́ linh hồn phải gắng giữ trong mức trung dung để được b́nh an hoàn toàn.

351. GHI CHÚ VI: Đôi khi linh hồn ngay lành muốn nói hay làm điều ǵ đúng ư Giáo Hội, đúng ư các Bề Trên cho sáng danh Chúa, nhưng từ bên ngoài đưa tới ư tưởng hay cám dỗ xui đừng nói hoặc làm điều ấy, nại những lư do giả tạo như hư danh hay sự ǵ khác v.v.. Khi ấy phải hướng ḷng trí lên Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và nếu thấy đó là việc phụng sự Chúa đúng lư, hay ít là không trái với điều đó, th́ phải hành động ngược hẳn với chước cám dỗ, trả lời nó như thánh Bênađô: "không phải v́ mày mà tao bắt đầu, cũng chẳng v́ mày mà tao chấm dứt.”

352. QUY TẮC PHẢI THEO ĐỂ ĐƯỢC CẢM NGHĨ CHÂN CHÍNH TRONG GIÁO HỘI CHIẾN ĐẤU

353. QUY TẮC I: Gạt bỏ mọi phán đoán riêng, ta phải giữ tâm hồn quy hướng và sẵn sàng vâng phục Bạn Thật của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, là Giáo Hội có phẩm Trật, Mẹ Thánh của chúng ta.

354. QUY TẮC II: Ca ngợi việc xưng tội với linh mục và việc rước Ḿnh Thánh Chúa mỗi năm một lần, và hơn nữa mỗi tháng một lần, và tốt hơn nữa mỗi tuần một lần, với các điều kiện cần thiết phải có.

355. QUY TẮC III: Ca ngợi việc năng dự lễ cũng như việc đọc các ca vịnh, thánh vịnh và các kinh dài ở nhà thờ hoặc ở ngoài, và cả các giờ đă quy định cho kinh nhật tụng, và các kinh nguyện khác.

356. QUY TẮC IV: Ca ngợi đời sống tu tŕ, đức trinh khiết và tiết hạnh, và cả hôn nhân, nhưng không bằng một bậc nào nói trên.

357. QUY TẮC V: Ca ngợi lời khấn ḍng, vâng lời, khó nghèo, khiết tịnh và các lời khấn trọn lành t́nh nguyện khác. Nên lưu ư là v́ các lời khấn nhằm đưa tới bậc trọn lành theo Phúc Âm, nên về những điều dẫn xa bậc trọn lành th́ không được khấn: chẳng hạn đi buôn hay lập gia đ́nh...

358: QUY TẮC VI: Ca ngợi các di tích của các thánh, tôn kính các di tích ấy và cầu xin các thánh. Ca ngợi các nơi chặng kính, các cuộc hành hương, các ân xá, các năm toàn xá, các đoàn nghĩa binh thánh giá, và các đèn nến đốt trong nhà thờ.

359. QUY TẮC VII: Ca ngợi các luật giữ chay, kiêng thịt, chẳng hạn trong mùa chay, các ngày bốn mùa, các ngày áp lễ, các ngày thứ sáu và thứ bẩy, cũng như các việc đền tội, không những bề trong và cả bề ngoài nữa.

360. QUY TẮC VIII: Ca ngợi việc trang hoàng và kiến trúc các nhà thờ, cũng như các ảnh tượng, và tôn kính các ảnh tượng ấy theo ư nghĩa được biểu dương.

361. QUY TẮC IX: Sau hết, ca ngợi mọi giới luật của Giáo Hội, sẵn sàng t́m lư lẽ để bênh vực và không bao giờ công kích.

362. QUY TẮC X: Chúng ta phải sẵn sàng công nhận và ca ngợi các quyết định, các mệnh lệnh cũng như cách cư xử của các Bề Trên. V́ dẫu có khi có thể các ngài ăn ở không xứng đáng, hoặc trước đă có như vậy, nhưng công kích các ngài hoặc trong khi giảng hoặc khi nói chuyện trước mặt người b́nh dân, có thể gây bàn tán và gương xấu hơn là làm ích; và như vậy quần chúng có thể bất b́nh với các Bề Trên phần đời hay phần đạo.

Vậy nếu như nói xấu các Bề Trên vắng mặt trước những người b́nh dân là điều có hại, th́ việc nói những hành vi xấu ấy với chính những người có thể sửa chữa, lại là điều có lợi.

363. QUY TẮC XI: Ca ngợi cả thần học dựa trên Kinh Thánh và các Giáo Phụ (doctrina positiva) lẫn thần học kinh viện. V́ cũng như đặc điểm của những vị Giáo Phụ (như thánh Giêrônimô, thánh Augustinô và thánh Grêgôriô v.v.), là thúc đẩy tâm hồn kính mến và phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trong mọi sự, th́ đặc điểm của các bậc thầy thuộc kinh viện (như thánh Bônaventura và vị tôn sư các châm ngôn v.v.), là định nghĩa và giải thích cho thời đại chúng ta những điều cần thiết cho phần rỗi đời đời và để dễ chiến đấu cùng tố giác mọi điều sai lạc và ngụy biện. Quả thật các bậc thầy kinh viện, v́ mới mẻ hơn, nên không những tận dụng được những hiểu biết chân xác về Kinh Thánh và về các giáo phụ và các thánh tiến sĩ, mà cũng c̣n - nhờ được ơn Chúa soi sáng và hướng dẫn - có thể dựa vào các Công Đồng, luật lệ và quy chế của Giáo Hội, Mẹ thánh của chúng ta nữa.

364. QUY TẮC XII: Phải tránh so sánh chúng ta, những kẻ c̣n đang sống, với các thánh đời trước, v́ ta sẽ sai lầm không ít trong điểm này; thí dụ khi nói: người này biết hơn thánh Augustinô, người kia là một thánh Phanxicô khác hoặc hơn thánh Phanxicô, người ấy là một thánh Phaolô khác xét về nhân đức, thánh thiện, v.v..

365. QUY TẮC XIII: Để chắc chắn đúng trong mọi sự, phải luôn luôn sẵn sàng, trước một vật mà tôi thấy là trắng, nếu Giáo Hội có phẩm trật thấy là đen, th́ tin là đen. V́ ta tin rằng cả nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta, lẫn Bạn Ngài là Giáo Hội, vẫn cùng một Thánh Thần cai quản và hướng dẫn, để cứu rỗi linh hồn chúng ta. Thực vậy, cũng một Chúa Thánh Thần, Đấng đă ban mười điều răn, hiện đang hướng dẫn cùng cai quản Giáo Hội, Mẹ thánh của chúng ta.

366. QUY TẮC XIV: Điều rất thật là không ai có thể tự cứu rỗi nếu không được ơn tiền định, không có đức tin và ân sủng, nhưng phải rất cẩn thận trong cách nói và diễn tả về các điểm này.

367. QUY TẮC XV: Thường ta không nên nói nhiều về ơn tiền định; nhưng nếu đôi khi có dịp phải nói tới, th́ phải nói sao cho người b́nh dân khỏi sai lầm. Chẳng hạn khi nói nếu tôi sẽ được cứu rỗi hay sẽ bị luận phạt th́ đă được định trước rồi, nên tôi có làm lành hoặc dữ cũng không thể ra khác được, sẽ dễ làm người ta mất nhuệ khí và coi thường các việc lành đưa đến phần rỗi cùng giúp linh hồn tấn tới trên đàng thiêng liêng.

368. QUY TẮC XVI: Cũng vậy, phải coi chừng việc nói nhiều và nhấn mạnh quá đáng về đức tin mà thiếu phân biệt và giải thích, kẻo làm dịp cho dân chúng ra nguội lạnh và lơ là trong việc lành, dù trước hoặc sau khi đức tin được thấm nhuần bằng đức mến.

369. QUY TẮC XVII: Cũng vậy, không nên nói nhiều và nhấn mạnh quá về ân sủng đến nỗi đưa tới nguy cơ tiêu diệt tự do. Vậy có thể nói về đức tin và ân sủng chừng nào, theo ơn Chúa giúp, để ca ngợi Chúa chí tôn, nhưng không được nói làm thiệt hại cho các việc lành và sự tự do, hoặc khiến người ta không coi (việc lành và tự do) ra ǵ nữa, nhất là trong thời buổi ngày nay.

370. QUY TẮC XVIII: Dẫu việc phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, v́ yêu mến, phải được qúy trọng hơn hết, nhưng cũng phải ca ngợi sự kính sợ quyền uy Chúa. V́ việc kính sợ Thiên Chúa như con thảo là việc tốt và rất thánh, nhưng ngay cả sự kính sợ như tôi tớ, khi không thể làm cách tốt hơn và có ích hơn, cũng giúp nhiều cho ta ra khỏi tội trọng; và một khi ra khỏi tội trọng, dễ tiến tới ḷng kính sợ như con thảo, là điều đẹp ḷng Thiên Chúa, Chúa chúng ta, v́ điều ấy cũng chỉ là một với ḷng mến Chúa.

AMDG

AD MAIOREM DEI GLORIAM

TẤT CẢ CHO VINH DANH CHÚA HƠN

ANIMA CHRISTI

Anima Christi, sanctifica me

Corpus Christi, salva me

Sanguis Christi, inebria me

Aqua lateris Christi, lava me

Passio Christi, conforta me.

O Bone Jesu, exaudi me

Intra tua vulnera absconde me

Ne permittas me separari a Te

Ab hoste maligno defende me.

In hora mortis meae voca me

Et jube me venire ad Te

Ut cum sanctis tuis laudem Te

In saecula saeculorum. Amen

Lạy Chúa Kitô, xin linh hồn Chúa thánh hóa con.

Lạy Chúa Kitô, xin Ḿnh thánh Chúa cứu độ con.

Lạy Chúa Kitô, xin Máu Thánh Chúa làm cho con say mến.

Lạy Chúa Kitô, xin nước bởi cạnh sừơn Chúa rửa con cho sạch.

Lạy Chúa Kitô, xin sự thương khó của Chúa thêm sức cho con.

Lạy Chúa Giêsu nhân ái, xin nhận lời con.

Xin cất giấu con trong các vết thương Chúa.

Xin đừng bao giờ để cho con ĺa xa Chúa.

Xin bảo vệ con khỏi kẻ thù tinh quái.

Đến giờ lâm tử, xin Chúa gọi con,

và truyền cho con đến cùng Chúa,

để cùng với các thánh của Chúa

con được ca tụng Chúa muôn đời. AMEN.


 



[1] Các bước gợi ư cho một lần cầu nguyện:

Bước 1: Sau khi đă chọn địa điểm tốt nhất để cầu nguyện như ḿnh thấy, đến chỗ đó, và ư thức ḿnh hiện diện trước Thiên Chúa Ba Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).

Bước 2: Xin Chúa Cha ban Thánh Thần của Chúa Giêsu Phục Sinh cho ḿnh, để Ngài thanh tẩy ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ những vướng bận đặc biệt trong giờ cầu nguyện này, và xin Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa.

Bước 3: Đặt khung cảnh (v́ thân phận con người, chúng ta đến với Thiên Chúa qua những ǵ hữu h́nh).

Bước 4: Ơn xin (Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn xin; Thao viên cần khao khát điều này trước khi xin).

Bước 5: Điểm gợi ư cầu nguyện

Bước 6: Tâm sự với Chúa (Sau mỗi điểm, chúng ta nên tâm sự với Chúa, chứ không nhất thiết phải chờ đến cuối giờ cầu nguyện, v́ các điểm gợi ư chỉ là phương tiện giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự cùng sống hạnh phúc với Chúa).

[2] Tuy vậy cần lưu ư về t́nh trạng biếng lười của ḿnh; có người không muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ cầu nguyện.

Cũng có bài cầu nguyện cần dùng tất cả số điểm được cho, như trường hợp bài cầu nguyện về "Tội tôi" (LT 55 tt).

[3] "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống" (Ed 33:11).

"Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư" (1Tm.2:4).

[4] Cũng xảy ra trường hợp có vẻ được an ủi, nhưng không phải là an ủi thực; trường hợp này là do thần dữ giả dạng thần lành để đánh lừa người ta (2Cr 11:14), làm người ta đi theo đường của nó, nhưng nếu theo nó, người ta sẽ cảm thấy bất an bối rối, v́ không đi trên con đường Thiên Chúa muốn (LT 332-333).

[5] Với tác động của Thiên Chúa, tự do của con người luôn được bảo toàn.

"Xin thánh ... làm cho người em con trở lại.” Thánh... không thể làm được điều này nếu "em con" không đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm được mà người "em con" vẫn hoàn toàn tự do.

[6] Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn xin, có thể coi như yêu cầu của bài cầu nguyện.

[7] Giờ cầu nguyện không tốt, tốt, hay tốt lắm, là đánh giá chủ quan hay khách quan của người cầu nguyện hay của người hướng dẫn.

[8] Khao khát nên thánh, là hành vi đă được lư trí tự do hướng dẫn.

[9] Môsê: "được vớt" (Xh.2:10) nghĩa là được cứu, được yêu (tiểu sử đời Môsê).

[10] Thực ra, tội không thuộc bản tính con người. Con người có thể không phạm tội. Phạm tội hay không là tùy tự do mỗi người.

[11] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.

[12] Xem ghi chú của FranVois Courel, sj, trong SAINT IGNACE DE LOYOLA, Exercices Spirituels, DESCLÉE DE BROUWER 1960, p.65 note 2.

[13] Phương pháp cầu nguyện là chiêm niệm, nghĩa là nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi.

[14] Có thể đọc thêm Rm.4:18-25 trước khi cầu nguyện.

[15] Để đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, tất cả chúng ta dù là ai chăng nữa, và dù ở bất cứ thời điểm nào và hoàn cảnh nào, cũng phải từ bỏ chính ḿnh!

[16] Chữ “phải” ở đây không có nghĩa là bị bó buộc, nó vẫn là hành vi tự do của Thiên Chúa, nhưng nó được hiểu là do t́nh yêu thúc đẩy.

[17] Sa mạc vật lư cũng là điều kiện cho sa mạc tinh thần. V́ là người, nên thời gian cô tịch với Đức Giêsu cũng cần thiết để chuẩn bị cho sứ mạng trọng đại. Đức Giêsu giống chúng ta mọi đàng nên thấy đói, khát, ao ước, v.v.

[18] Tám phúc hay chỉ có một phúc duy nhất? Phải chăng mối phúc duy nhất là được nên giống Đức Giêsu Kitô?

[19] Ư nghĩa theo bản văn? Tác giả muốn nói ǵ khi viết những điều này? Thiên Chúa muốn nói ǵ với tôi qua bản văn này?

Đức Giêsu đă sống điều này như thế nào?

Tôi đă sống điều này như thế nào?

[20] Xin nghèo là từ bỏ những ǵ ngoài ḿnh; xin sỉ nhục khinh chê là từ bỏ chính ḿnh. Nhiều người có thể xin được nghèo nhưng không dám xin được sỉ nhục với Chúa.

[21] Không vị lợi, có cái nh́n trưởng thành về đời sống gia đ́nh và dâng hiến, không bị quyến luyến lệch lạc chi phối.

[22] Lấy con người cảm tính của ḿnh làm tiêu chuẩn chọn lựa.

[23] Như vậy không nên lạm dụng cách chọn lựa theo thánh Inhaxiô, như thể cứ làm theo cách thức đó, th́ đă là làm việc lựa chọn đúng đắn!

[24] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm lựa chọn, th́ cuộc chọn lựa đó không được coi là cuộc chọn lựa có giá trị.

[25] Ở một nghĩa nào đó, không quyết định cũng là quyết định, không chọn lựa cũng là chọn lựa.

Nếu không thấy rơ th́ đừng quyết định. Cụ thể, trong trường hợp lựa chọn bậc sống, nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc sống khác, th́ cứ sống trong bậc sống ḿnh đang sống.

[26] Điều này không muốn nói rằng người đó không bị đau khổ hoặc thập giá trong cuộc sống.

[27] Đương nhiên phải hiểu là nếu chúng ta vẫn quảng đại với Chúa: vẫn luôn kết hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống, vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.

Nếu sau chọn lựa mà chúng ta cầu nguyện dở hơn trước dù chúng ta vẫn quảng đại với Chúa như trước, th́ phải t́m nguyên do, cũng có thể tại ḿnh chọn điều Chúa không muốn.

[28] Như thể Chúa Cha cũng bỏ Ngài (Mc 15:34).

[29] Nếu ai đó tin lời chị Maria Magdala (Ga 20:18), th́ biết Đức Giêsu đă sống lại, mà không cần nhờ lời chứng của các tông đồ.

[30] Chính v́ thế, Hội Thánh Công Giáo tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Hội Thánh được xây trên nền tảng các tông đồ, dĩ nhiên khi nói như vậy, vẫn phải hiểu: Hội Thánh có nền tảng là chính Thiên Chúa.

[31] Obras completas de San Ignacio, I. IPARRAGUIRE, SJ, B.A.C. 1963

[32] Monumenta Historica Societatis Iesu, "Exercitia,” pp. 222- 563

[33] Exercitia Spiritualia, S. P. Ignatii de Loyola vers. Ioannes ROOTHAAN, SJ., V. Goupy et Soc., PARIS 1865

[34] Exercices Spirituels, trd. FR. COUREL, SJ., coll. Christus, n. 5., Textes, DDB. 1960

[35] B́nh tâm (indifferentia) là giữ ḷng không nghiêng chiều, cũng không ác cảm đối với điều này hơn điều kia, nhưng hoàn toàn sẵn sàng theo ư Chúa.

[36] Lương của thánh Phanxicô Borgia khi làm phó vương xứ Catalonia là 5 ngàn "đu-ca" một năm. Chỉ cần 50 "đu-ca"một sinh viên ở Paris có thể sống được một năm.

[37] Bổng lộc: (bénéfice ecclésiastique) là những lợi tức vật chất đi kèm với một chức vụ nào trong Giáo Hội.

[38] Thánh Inhaxiô dùng chữ "temperatura" (thời tiết), nhưng các bản dịch hiểu theo chữ "temperamento" (tính khí, tâm trạng).

[39] "bánh ḿ" ở tây phương tương tự như cơm ở Á đông.

[40] Bản La-tinh phổ thông có hơi khác. Bản dịch này theo bản gốc Tây-ban-nha và đă được anh em Ḍng Tên tại Việt Nam nhất trí dùng để đọc cho có sự thống nhất từ năm 2003.

[41] đối nghịch với bảy mối tội đầu.

 

HOME    LỜI CHÚA    ĐỨC TIN    LINH ĐẠO    THẦN HỌC    ĐỜI SỐNG     IN ENGLISH    VỀ TÁC GI

Sách Linh Thao     T Thuật Của Thánh Inhaxiô     Phân Định Thiêng Liêng     Đồng Hành Thiêng Liêng     Như Thấy Đấng Vô H́nh      Hiện Tại Mới Quan Trọng     Để T Do  Hạnh Phúc Hơn     Bạn Đường Của Người Làm Linh Thao      Linh Thao Mười Ngày     Linh Thao Trong Cuộc Sống      Đặc Sủng Ḍng Tên