HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân
Định Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như Thấy Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh Thao Mười Ngày Linh Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng Tên
ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG bản PDF
ĐỒNG
HÀNH THIÊNG LIÊNG
Đồng hành thiêng liêng và các tư
vấn khác
Đồng hành thiêng liêng và phân định
thiêng liêng
I. QUY
CHUẨN VÀ H̀NH MẪU ĐỂ ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
Thiên Chúa muốn tôi sống b́nh an
tươi vui triển nở
2. Lời Chúa cho biết thánh ư Thiên Chúa
3. Đức Giêsu- h́nh mẫu lư
tưởng
4. Thánh Thần- Thầy dạy
người linh hướng lẫn người thụ
hướng
5. Người thụ hướng như
đối tượng quy chiếu
II. DUNG
MẠO NGƯỜI ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
1. Biết Thiên Chúa và thân quen
đường lối của Thiên Chúa
3. Sống dưới tác động
của Thánh Thần
4. Trưởng thành, cẩn mật, yêu
thương bảo vệ người thụ hướng
III.
NỘI DUNG TRAO ĐỔI KHI GẶP GỠ ĐỒNG HÀNH
THIÊNG LIÊNG
2. Về những ǵ liên quan đến
người thụ hướng
3. Về tương quan với Thiên Chúa
Chúa muốn con làm ǵ trong trường
hợp này?
Tôi không b́nh an tươi vui triển nở
hạnh phúc
Không sẵn sàng thực thi ư Thiên Chúa
Bị tổn thương và bị cám
dỗ không tha thứ
Không cầu nguyện được v́ có
quá nhiều lo lắng bận tâm
Nhận thức sai lệch về
đời sống dâng hiến
Khổ muốn chết v́ … không bỏ ḿnh
Tùy tương quan với Thiên Chúa …
Xin nghèo và sỉ nhục khinh chê với Chúa
Chuyện ǵ cũng biết nhưng …
sống dở
|
|
|
|
|
ĐHTL |
|
đồng hành thiêng liêng |
|
GL |
|
Giáo Luật của Giáo Hội Công Giáo Latin, ban hành
năm 1983 |
|
LH |
|
Linh hướng |
|
LT |
|
sách Linh Thao của thánh Inhă Loyola |
|
PC |
|
Perfectae Caritatis, sắc lệnh về Ḍng Tu của
Công Đồng Chung Vatican II |
|
PĐTL |
|
phân định thiêng liêng |
|
|
|
|
Sách Kinh Thánh viết tắt theo bản
dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Các hiến chế, sắc lệnh,
tuyên ngôn của Công Đồng Vaticanô II viết tắt theo
bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà
Lạt.
Linh hướng, hướng dẫn
thiêng liêng, hay đồng hành thiêng liêng, là điều đă
được thực hiện từ lâu trong truyền
thống lịch sử Giáo Hội.[1]
Linh hướng hay đồng hành
thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi
giữa hai người, người thụ hướng và
người hướng dẫn, với thái độ kính
trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi
điều ảnh hưởng tới người thụ
hướng, đặc biệt qua đời sống
cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp
người thụ hướng nhận ra lời mời
gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường
ngày và đáp trả, hầu phát triển mối tương
quan thân thiết với Thiên Chúa, để họ b́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc hơn.
Hai linh mục William A. Barry và William J.
Connolly định nghĩa “linh hướng Kitô giáo là
sự trợ giúp của một tín hữu dành cho
người khác để người đó chú ư
đến sự tương giao giữa cá nhân với Thiên
Chúa, và đáp lại Thiên Chúa trong mối tương giao
này, để lớn lên trong sự thân mật với Thiên
Chúa, và sống những hệ quả của mối quan
hệ ấy.[2]”
Một hướng dẫn
được gọi là thiêng liêng, không được
hiểu đơn thuần là không phải vật chất
nhưng là hướng dẫn theo Thánh Thần.[3] Trong đồng hành thiêng
liêng, cả người hướng dẫn lẫn
người thụ hướng đều có chung một
nền tảng hay tiêu chuẩn sống.
Có người thích dùng từ ngữ
“đồng hành thiêng liêng” chứ không muốn dùng từ
ngữ “linh hướng.” Một số ít người thích
và chọn từ ngữ đồng hành thiêng liêng, cho
rằng, đồng hành thiêng liêng chính yếu là
đồng hành, và như vậy có thể chọn bất
cứ ai để làm người đồng hành thiêng
liêng, ngay cả người trẻ cho dù chưa có kinh nghiệm
thiêng liêng. Có nhiều người cho rằng để là
người đồng hành thiêng liêng hay linh hướng,
người đó cần phải trưởng thành về
thiêng liêng, có kinh nghiệm thiêng liêng, mới có thể giúp
người thụ hướng khi họ gặp khó
khăn khủng hoảng; như vậy, người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng phải là bậc
thầy theo một nghĩa nào đó. Từ ngữ “linh
hướng” nói lên được nét chính là hướng
dẫn, c̣n từ ngữ “đồng hành thiêng liêng”
nhấn mạnh khía cạnh đồng hành, cùng đi,
để nâng đỡ người thụ hướng.
Như vậy, hai từ ngữ này bổ túc cho nhau:
người linh hướng cũng cần là người
đồng hành.
Linh hướng, được
dịch từ chữ spiritual direction/direction spirituelle theo
tiếng Anh và tiếng Pháp; c̣n đồng hành thiêng liêng
được dịch từ chữ tiếng Pháp tiếng
Anh accompagnement spirituel/spiritual accompaniment. Một số
từ ngữ được dùng như sau:
Linh
giám (spiritus director, directeur spirituel, spiritual director).
Phụ
tá giáo sĩ, người tư vấn thiêng liêng (assistens
ecclesiasticus, consiliarius spiritualis, assistant ecclésiastique, conseiller
spirituel, ecclesiastical assistant, spiritual counsellor).
Linh
hướng (conscientiae moderamen, direction de conscience, spiritual
direction).
Thời nay người trẻ thích
dùng từ ngữ “đồng hành thiêng liêng” hơn “linh
hướng” thế nên chúng ta có thể dùng cả hai
từ ngữ với cùng nội dung, tùy ư thích của
mỗi người.
Đồng hành thiêng liêng và các tư vấn khác
Nhà tư vấn, mục vụ hay
thiêng liêng hay tâm lư hay gia đ́nh hay nghề nghiệp,
với những kiến thức uyên bác, nhằm trả
lời những thắc mắc về mục vụ,
về giáo lư, về đạo đức, về tâm lư,
về gia đ́nh, về nghề nghiệp của
người tới tư vấn. Linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng nhắm nhiều hơn
đến giúp người ta phát triển mối
tương quan với Thiên Chúa.
Tư vấn (mục vụ, gia
đ́nh, hướng nghiệp, ...) không cần gặp
nhiều lần, có thể một lần cũng
đủ. Linh hướng hay đồng hành thiêng liêng
đ̣i một tiến tŕnh, cần thời gian và nhiều
lần gặp gỡ.
Thiên Chúa như là quy chuẩn, và là
Đấng thường được nhắc
đến khi linh hướng hay đồng hành thiêng liêng.
Nơi tư vấn, không tuyệt đối cần
phải nhắc đến Thiên Chúa. Một người vô
thần cũng có thể là nhà tư vấn tâm lư hay
nghề nghiệp hay gia đ́nh.
Đồng hành thiêng liêng và phân định thiêng liêng
Linh hướng hay đồng hành
thiêng liêng liên hệ mật thiết với phân định
thiêng liêng. Phân định thiêng liêng là tiến tŕnh gồm
những hành vi của chủ thể dựa trên tác
động của các thần nhằm nhận ra thánh ư Thiên
Chúa hầu thực thi thánh ư Ngài. Phân định thiêng liêng
giúp chính ḿnh, chủ thể phân định, và cũng có
thể giúp người khác, nhận ra thánh ư Thiên Chúa.
Người linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng phải là người có khả
năng phân định thiêng liêng, để có thể
nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh và cho người thụ
hướng.
Theo truyền thống và những tài
liệu mới đây của Giáo Hội, linh hướng
hay đồng hành thiêng liêng là điều cần và đă
được thực hiện trong suốt ḍng lịch
sử Giáo Hội. Ta có thể thấy điều này
nơi sắc lệnh Canh Tân và Thích Nghi trong đời tu
(Perfectae Caritatis) của Công Đồng Chung Vatican II, nơi
Bộ Giáo Luật ban hành năm 1983, nơi tông huấn
Pastores Dabo Vobis[4]…. Tài liệu “Linh Mục, Thừa Tác
Viên của Ḷng Thương Xót[5]” của Thánh Bộ Giáo Sĩ đă có
nguyên phần II để bàn về tác vụ linh
hướng (từ số 64—134).
Nơi các ḍng tu, các bề trên phải
để cho các tu sĩ thuộc quyền được
tự do cần thiết trong việc xưng tội và linh
hướng[6]. Các bề trên cũng có nhiệm
vụ chọn lựa cẩn thận những vị linh
hướng cho các tu sĩ thuộc quyền.[7]
Nơi chủng viện phải có ít là
một vị linh giám. Cũng có thể có thêm các linh mục
khác được chỉ định để các
chủng sinh có thể tự do đến với họ.[8] Giáo Luật Giáo Hội Công Giáo
Latin cũng khuyến khích các chủng sinh nên có cha linh
hướng để tự do bày tỏ lương tâm[9]. “Khi phải quyết định
về việc chấp nhận các ứng sinh tiến
chức hoặc là thải hồi họ ra khỏi
chủng viện, không bao giờ được hỏi ư
kiến của cha Linh Giám và của các cha giải
tội” (GL 240 §2).
Nơi các hiệp hội công và tư,
Giáo Luật cũng nhắc tới việc bổ nhiệm
linh giám/phụ tá giáo sĩ (spiritual director/ecclesiastical
assistant) cho hiệp hội công (GL 317 §1) và cha linh
hướng (spiritual advisor) cho hiệp hội tư (GL 324
§2).
Nơi tu hội đời, Giáo
Luật cũng khẳng định: “Họ cần
được tự do nhận việc linh hướng
cần thiết; nếu họ muốn, họ có thể bàn
hỏi việc thiêng liêng với các vị lănh đạo
của họ” (GL 719 §4).
Giáo tŕnh
“linh hướng hay đồng hành thiêng liêng” này sẽ bàn
về (I) quy chuẩn và h́nh mẫu để người
đồng hành thiêng liêng giúp người thu hướng,
kế đến (II) dung mạo người đồng
hành thiêng liêng hay linh hướng, tiếp theo (III) nội
dung trao đổi trong đồng hành thiêng liêng hay linh
hướng, rồi (IV) những điều thường
gặp khi linh hướng hay đồng hành thiêng liêng, và
cuối cùng (V) vài trường hợp đặc biệt.
I. QUY
CHUẨN VÀ H̀NH MẪU ĐỂ ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
Người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng dựa vào nền
tảng hay tiêu chuẩn nào để hướng dẫn, để đưa ra lời khuyên
cho người thụ hướng?
Tâm lư không là tiêu chuẩn để linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng. Không thể
nhận một người vô thần có bằng tiến
sĩ tâm lư là người đồng hành thiêng liêng cho ḿnh.
Một bề trên trong cộng đoàn ḍng tu cũng không thể
an tâm cho phép bề dưới đến linh hướng
với một người có bằng tiến sĩ tâm lư
nhưng đời sống luân lư của họ không tốt
đẹp[10]. Học vị hay bằng cấp không
luôn tỉ lệ thuận với mức độ
trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của một
người. Tuy nhiên, kiến thức tâm lư sẽ giúp
người đồng hành thiêng liêng biết hơn về
con người, để giúp người thụ
hướng hữu hiệu hơn.
Kiến thức uyên bác của một
học giả có thể giúp người đến với
họ để tư vấn về vấn đề nào
đó, nhưng kiến thức uyên bác của một
người cũng không thể là tiêu chuẩn để
đồng hành hay hướng dẫn thiêng liêng.
Thánh Ư Thiên Chúa, cụ thể thánh ư
Thiên Chúa cho người thụ hướng, tương
quan thân thiết với Thiên Chúa, mới là tiêu chuẩn
nền tảng để linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng.
Lời Chúa, cho biết Thiên Chúa và thánh
ư Ngài trong ḍng lịch sử cứu độ, nên cũng là
nền tảng và tiêu chuẩn giúp đồng hành thiêng
liêng.
Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập
Thể, là h́nh mẫu để người linh
hướng và người thụ hướng noi theo
bắt chước. Đây là điều hàm chứa
mặc nhiên của việc linh hướng hay đồng
hành thiêng liêng. Nếu chưa có điều này, chưa là
đồng hành thiêng liêng đúng nghĩa.
Thánh Thần, Đấng
được sai tới để ở với và dạy
dỗ con người, cần được người
linh hướng và người thụ hướng luôn lắng
nghe để nhận biết thánh ư Thiên Chúa cho họ; và
cũng chính Ngài giúp người thụ hướng
thực thi thánh ư Thiên Chúa.
Việc linh hướng cũng không
được tiếp tục nếu người thụ
hướng thấy người đồng hành thiêng liêng
hay linh hướng không thực sự giúp họ thăng
tiến; như vậy người thụ hướng
cũng là một quy chiếu để việc linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng được
thực hiện.
Thánh ư Thiên Chúa vô cùng quan trọng
đối với Đức Giêsu. Trong cuộc gặp
gỡ với chị phụ nữ bên bờ giếng
Giacóp, mỏi mệt v́ đường xa, trời trưa
oi bức, khát nước … thế nhưng qua cuộc trao
đổi giữa Đức Giêsu và chị phụ nữ,
Đức Giêsu dường như quên cả ăn, Đức
Giêsu như có sức sống khi trao đổi với
chị phụ nữ đến độ các tông
đồ tưởng Ngài đă dùng lương thực ǵ
rồi, để rồi Đức Giêsu nói: “lương
thực của Thầy là làm theo Ư của Đấng đă
sai Thầy” (Ga 4:34). Nơi vườn dầu, Đức
Giêsu cũng đặt ư Thiên Chúa trên hết, trên ư riêng
của Ngài. Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha nếu có
thể được xin cho con khỏi uống chén này, nhưng không phải ư con mà là ư Cha được nên trọn” (Mc 14:36; Mt 26:39; Lc 22:42). Ư
của Thiên Chúa Cha là tuyệt đối với Đức
Giêsu.
Thiên Chúa tạo dựng vạn sự
vạn vật, Ngài tạo dựng con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1-2). Khi con
người phạm tội, chính Thiên Chúa đi t́m con
người (St 3:9), Thiên Chúa muốn cứu độ con
người. Thiên Chúa yêu thương con người,
những ǵ Thiên Chúa muốn cho con người, là tốt
nhất tuyệt nhất cho con người; v́ thế thánh
ư Thiên Chúa là tiêu chuẩn để sống của mỗi
người.
Thiên Chúa và ư định của Thiên
Chúa phải là nền tảng và chuẩn mực mà cả
người thụ hướng lẫn người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng phải muốn
biết và tuân theo.
Kể từ khi Thiên Chúa tạo
dựng tôi, Ngài luôn bận tâm về tôi. Ngài ḍ xét tôi, Ngài
biết mọi nẻo đường tôi đi. Ngài
chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau, bàn tay của
Ngài đặt trên tôi (Tv 139). Thiên Chúa can thiệp vào
đời tôi v́ Ngài thương tôi.
Thiên Chúa có chương tŕnh về tôi.
“Không phải các con đă chọn Thầy nhưng chính
Thầy đă chọn các con” (Ga 15:16). Chúa muốn tôi
sống bậc sống nào? Đi tu hay lập gia đ́nh?
Nếu Chúa muốn tôi lập gia đ́nh, th́ Chúa muốn tôi
lập gia đ́nh với người này hay người
kia? Chúa muốn tôi sống ở đây hay ở kia? Chúa
muốn tôi làm nghề ǵ? Chúa muốn tôi đối xử
với người con có cá tính rất đặc biệt
này như thế nào? Nếu Chúa muốn tôi đi tu, th́ tu
ḍng hay triều? đi tu ḍng này hay ḍng kia? Chúa muốn tôi
học và phục vụ anh chị em tôi theo chuyên nghành nào?
Tôi cần phân định thiêng liêng để nhận ra
thánh ư Thiên Chúa về tôi.
Đức Giêsu đă ăn chay cầu
nguyện 40 đêm ngày trước khi hoạt động
công khai (Mt 4:1-11). Ngài cầu nguyện suốt đêm
trước khi chọn nhóm 12 (Lc 6:12-13). Chúa muốn tôi hành
xử trong trường hợp này thế nào? Chúa muốn
tôi giúp người này người kia, nhưng giúp sao
để ích lợi cho họ? v.v. Phân định thiêng
liêng là điều không thể thiếu trong cuộc
sống hằng ngày để nhận biết thánh ư Thiên
Chúa.
Tương quan của tôi với Chúa
như thế nào? Chúa mời gọi tôi ǵ trong thời
điểm này? Tôi hay bị cám dỗ và sa ngă về
điều này, tôi phải làm ǵ? Tôi hay bị chia trí khi
cầu nguyện, tôi phải làm ǵ? Tôi thấy tôi không yêu
Chúa, tôi phải làm ǵ? Học biết về con người
theo quan điểm thần học (nhân học thiêng liêng)
cũng rất quan trọng.
Tôi hay bị lo lắng, không hạnh
phúc. Tại sao? Tôi phải làm ǵ? Làm sao để b́nh an và
tươi vui? Thiên Chúa yêu thương tôi, Ngài tạo
dựng tôi để tôi hạnh phúc với Thiên Chúa,
vậy làm sao để tôi được như Thiên Chúa
muốn? Xét gẫm và hồi tâm xét ḿnh là những thời
điểm giúp người ta phân định thiêng liêng
để nhận biết lời mời gọi của
Thiên Chúa cho mỗi người.
Những ǵ Thiên Chúa muốn, tôi sẽ
thi hành theo gương Đức Giêsu: xin đừng theo ư
Con nhưng theo ư Cha (Lc 22:42). Chúng ta cũng muốn biết
thánh ư Thiên Chúa để làm theo ư Ngài.
Người đồng hành thiêng liêng
và người thụ hướng không chỉ cần
nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh, nhưng c̣n phải sẵn
sàng thực thi thánh ư Thiên Chúa: “21Không phải bất cứ ai thưa với Thầy:
"Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào
Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành
ư muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên
trời, mới được vào mà thôi.22 Trong
ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với
Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi
đă chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa
mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó
sao? "23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên
bố với họ: Ta không hề biết các ngươi;
xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm
điều gian ác!” (Mt 7:21-23).
Không thực hiện thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh, th́ ḿnh không
thể hạnh phúc được.
Đức Giêsu, khi dạy dỗ con
người, cũng dạy con người phải
biết thực hành mệnh lệnh của Thiên Chúa chứ
không phải ư của con người. Chúng ta thấy rơ
nơi lời giáo huấn thảo kính cha mẹ: “10Ông Mô-sê đă dạy rằng: Ngươi hăy thờ cha
kính mẹ và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, th́
phải bị xử tử!11 C̣n các ông, các ông
lại bảo: "Người nào nói với cha với
mẹ rằng: những ǵ con có để giúp cha mẹ
đều là "co-ban" nghĩa là lễ phẩm đă
dâng cho Chúa rồi,12 và các ông không để cho
người ấy làm ǵ để giúp cha mẹ nữa.13 Thế
là các ông lấy truyền thống các ông đă truyền
lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông c̣n làm
nhiều điều khác giống như vậy nữa!” (Mc 7:10-13).
T́nh yêu thể hiện qua việc làm
hơn là trong lời nói (1Ga 3:18; LT 230). Nếu ta nói ta yêu
Chúa mà không giữ giới răn của Người, e
rằng ta không yêu Chúa thực. “Ai yêu mến Thầy th́
giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu thương
người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến
và ở với người ấy” (Ga 14:23). Chính khi chúng ta
chấp nhận và thực thi thánh ư của Thiên Chúa th́ chúng
ta sẽ được b́nh an, tươi vui, triển
nở, và hạnh phúc. Hạnh phúc là t́nh trạng như hệ
quả. B́nh an tươi vui triển nở là dấu
chỉ cho thấy một người được
cứu độ.
Thiên Chúa muốn tôi sống b́nh an tươi vui
triển nở
Thiên Chúa muốn tôi b́nh an. Khi c̣n
sống tại thế với các tông đồ, Đức
Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy để lại
b́nh an cho anh em, Thầy ban b́nh an của Thầy cho anh em.
Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga
14:27). Ngay khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ,
Ngài nói: “b́nh an cho anh em” (Ga 20:19.21). Khi sai các môn
đệ đi rao giảng, Ngài dặn ḍ các ngài: “Vào nhà
nào, anh em hăy chúc b́nh an cho nhà đó” (Mt 10:12). Thánh Phaolô
cầu nguyện cho các tín hữu: “Xin Thiên Chúa là nguồn
b́nh an, ở cùng tất cả anh em” (Rm 15:33).
Thiên Chúa muốn tôi sống tươi
vui. Niềm vui Chúa ban không ai lấy mất được
(Ga 16:22.24). Thánh Phaolô cũng nói: “Hăy vui luôn trong niềm vui
của Chúa. Tôi nhắc lại lần nữa: vui lên anh em”
(Pl 4:4). “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em
được chan chứa niềm vui và b́nh an” (Rm
15:13). Không b́nh an, không thể tươi vui triển
nở và hạnh phúc.
Thiên Chúa muốn chúng ta phát triển
những nén bạc tài năng Chúa ban cho chúng ta. Chúng ta
phải làm việc để sinh lời những nén
bạc, để phát triển tài năng. Không làm việc,
là chôn những nén bạc Chúa trao cho ḿnh (Mt 25:14-30). Chúa Giêsu
nói: “Ta đến để cho chúng được
sống, và được sống dồi dào” (Ga 10:10). Chính
khi chúng ta làm việc phục vụ anh chị em ḿnh, là chúng
ta làm cho những nén bạc Thiên Chúa trao ban được
sinh lời, và khi đó chúng ta triển nở hạnh phúc.
Thiên Chúa tạo dựng con
người để chia sẻ sự sống hạnh
phúc vĩnh cửu của Ngài cho con người. Sống
b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc, là ơn
gọi của chúng ta. Giúp người khác sống b́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc, là sứ mạng
của chúng ta.
Với hồi tâm xét ḿnh, chúng ta tạ
ơn Thiên Chúa về những ơn Chúa ban cho ḿnh, và nh́n
lại suy nghĩ, tâm tư t́nh cảm của ḿnh, những
chọn lựa, cung cách hành xử của ḿnh trong ngày, xem
ḿnh có xúc phạm ai không, có làm tổn thương ai không, và
ḿnh có bị tổn thương không, ḿnh có b́nh an không… Thiên
Chúa nói ǵ với tôi qua những điều đó? Thiên Chúa
mời gọi tôi làm ǵ? Một khi nhận ra điều
Thiên Chúa mời gọi, tôi sẽ thực thi và qua đó
chỉnh sửa chính ḿnh theo thánh ư Thiên Chúa.
2. Lời Chúa cho biết thánh ư Thiên Chúa
Lời Chúa cho người ta biết
về Thiên Chúa, con người, và vũ trụ. Lời Chúa
cho chúng ta biết thánh ư Thiên Chúa. Thập giới là lời
Chúa cho con người. Không tuân giữ thập giới là
không vâng lời Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng sáng tạo
vạn sự vạn vật (St 1:1-2:4a). Ngài tạo dựng
con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:26-28). Ngài
muốn con người bá chủ cá biển chim trời.
Vũ trụ vạn vật được tạo dựng
cho con người. Con người được tạo
dựng cho Thiên Chúa (1Cor 3:21-23). Đích đến của
con người là Thiên Chúa. Vũ trụ vạn vật
được tạo dựng để giúp con
người đến với Thiên Chúa (LT 23).
Con người là tạo vật
tuyệt vời, là đỉnh cao của công tŕnh tạo
dựng. Tuy nhiên một sự thật cần phải
nhận: tôi là tội nhân. Thiên Chúa là Đấng yêu
thương, Ngài tạo dựng con người để
chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài cho con
người. Khi con người phạm tội, Thiên Chúa t́m
mọi cách để cứu độ con người.
Thiên Chúa muốn cứu độ tất cả mọi
người (1Tm 2:4; LG 16), để họ được
hưởng sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Con người phạm tội, Thiên
Chúa mời gọi con người trở lại và tha
thứ (Lc 15:11-32; Ga 8:1-11; Lc 7: 36-50). Khi tội nhân trở
lại, cả trời vui mừng (Lc 15:1-10). Tôi là tội
nhân nhưng được Thiên Chúa yêu thương tha
thứ. Chính kinh nghiệm này giúp chúng ta sống b́nh an
hạnh phúc, và giúp chúng ta đối xử với tha nhân
như Thiên Chúa đă đối xử với chúng ta.
Thiên Chúa là Đấng tạo dựng,
yêu thương, quan pḥng (Mt 6:25-34). Qua cha mẹ yêu
thương con cái, vợ chồng yêu thương nhau,
người ta có thể nhận biết Thiên Chúa là
Đấng yêu thương. Tuy nhiên, chỉ với
Đức Giêsu, người ta mới nhận biết Thiên
Chúa yêu thương con người vô cùng. Nếu Thiên Chúa
yêu thương tôi như vậy, Ngài c̣n tiếc ǵ với
chúng ta. Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên
Chúa! Nếu Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n
sợ hăi ǵ? Thánh Phaolô là người biết rơ điều
này hơn ai hết (Rm 8: 28-39).
Thiên Chúa là t́nh yêu. Ngài yêu thương.
Ngài muốn con người yêu thương như Ngài. Yêu
người: không làm tổn thương người khác.
Yêu ḿnh: không để ḿnh bị tổn thương. Tôi làm
tổn thương người ta khi tôi vi phạm thập
giới, đặc biệt điều răn 5-10: giết
người, dâm dục, lấy của người, làm
chứng dối hại người, muốn chiếm
đoạt vợ chồng người ta, tham lam muốn
chiếm đoạt tài sản của người ta.
Dù xây chín đợt phù đồ, không
bằng làm phúc cứu cho một người. Không
động ḷng thương trước nỗi khổ
của con người, không yêu thương, th́ không
hạnh phúc. Suy nghĩ, hành động giống Thiên Chúa, là
sống yêu thương (Lc 6:36; Mt 5:48).
Thiên Chúa mời gọi con người
cộng tác với Chúa để cứu độ con người
(Ga 20:21; 17:18). Cho dù ḿnh tội lỗi, nhưng Thiên Chúa
đă yêu thương tha thứ, và Ngài c̣n mời gọi
ḿnh cộng tác với Ngài cứu giúp con người hôm nay.
Cộng tác với Thiên Chúa cứu con người, là
động ḷng thương giúp đỡ tha nhân, giúp tha
nhân cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa để họ
được cứu độ như ḿnh.
Thiên Chúa muốn con người phát
triển tối đa tài năng Thiên Chúa đă ban cho con
người (Mt 25:14-30). Để triển nở hạnh
phúc, cần làm việc. Chính khi làm việc, giúp đỡ
tha nhân, chúng ta phát triển tài năng mỗi người.
Thiên Chúa đă sai Con Một nhập thể để
cứu con người. Ngôi Lời nhập thể là
mẫu gương để ta sống: nhập thể, sống
nghèo âm thầm khiêm hạ ở Nadarét và ngay cả khi rong
ruổi rao giảng để yêu thương giúp
đỡ con người.
3. Đức Giêsu- h́nh mẫu
lư tưởng
Cả người đồng hành
thiêng liêng và người thụ hướng đều có
một mẫu chung, đó là Thiên Chúa (Mt 5:48; Lc 6:36), là
Đức Giêsu Kitô (1Cor 11: 1).
Người linh hướng giúp
người thụ hướng nhận ra lời mời
gọi của Thiên Chúa trong những trường hợp
cụ thể để đáp trả. Đồng hành
thiêng liêng là phương thế đặc biệt hữu
hiệu để giúp con người nên giống
Đức Giêsu. Đây là việc giúp một-một tùy hoàn
cảnh đặc thù của người thụ
hướng. Như vậy, người đồng hành
thiêng liêng hay linh hướng, cũng là một nhà huấn
luyện.
Thiên Chúa đă nói với con
người, đặc biệt nơi những lời
trong Kinh Thánh. Vào thời sau hết, Thiên Chúa nói với chúng
ta qua Con của Ngài, Thiên Chúa nhập thể, Đức
Giêsu Kitô (Dt 1:1). Kinh Thánh cho ta biết thánh ư Thiên Chúa, nhưng Đức Giêsu cho ta biết thánh
ư Thiên Chúa một cách rất đặc biệt.
Các vận động viên trong thể
thao cũng thường có người mẫu và huấn
luyện viên. Tương tự vậy trong đời
sống thiêng liêng, mỗi người cũng cần có
thần tượng, người mẫu, người lư
tưởng để nh́n lên để noi theo bắt
chước. Thiên Chúa đă cho chúng ta một người
mẫu tuyệt vời, đó là Đức Giêsu.
Người linh hướng và
người thụ hướng đều cần
đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi
ngày hơn. Lời Thiên Chúa đă yêu thương tự
hủy nhập thể. Bài học tự hủy khiêm
nhường giúp ta sống phục vụ và không để
ḿnh bị tổn thương. “Con người đến
không phải để được phục vụ
nhưng để phục vụ và làm giá chuộc muôn
người” (Mc 10:45). Đức Giêsu âm thầm sống
thời gian dài ở Nadarét để dạy ta kiên nhẫn
và an vui sống kiếp người. Ngài ḥa ḿnh giữa dân
chúng chịu phép rửa cũng để dạy ta khiêm
nhường, yêu thương phục vụ con
người. Ngài đi rao giảng trong khó nghèo, và Ngài
dạy các môn đệ ra đi rao giảng như Ngài. Chính
v́ yêu thương mà Ngài chữa bệnh, và chính v́ yêu
thương Ngài phải ra đi rao giảng cho những
nơi khác nữa (Mc 1:38-39).
Đức Giêsu nên giống chúng ta
mọi đàng trừ tội (Dt 4:15). Ngài cũng chịu
thử thách mọi đàng như chúng ta. Những vấn
để chúng ta gặp, Ngài cũng gặp. Ngài cũng
bị thử thách cả về đức tin trên thập
giá (Mc 15:34). Bị hiểu lầm, ghen ghét, và bị giết
nhưng Ngài vẫn yêu thương cả những kẻ
giết Ngài (Lc 23:34).
Ngài giảng dạy về Thiên Chúa quan
pḥng (Mt 6:25-34), Thiên Chúa như người cha nhân từ yêu
thương tha thứ cho người con hoang đàng (Lc
15:11-32). Ngài dạy người ta lối sống hạnh
phúc: tám mối phúc (Mt 5:1-12).
Suy nghĩ, chọn lựa như Chúa
Giêsu, là chọn làm theo thánh ư Thiên Chúa, là điều
người linh hướng giúp người thụ
hướng thực hiện. Sống như Chúa Giêsu: nhân
hậu, hiền lành, thương xót, yêu thương..., là
làm theo thánh ư Thiên Chúa. Một khi nên giống Chúa Giêsu, ta
sẽ thấy và chọn lựa giống Chúa Giêsu, sẽ
nhận ra thánh Ư Thiên Chúa. Khi một người
đồng h́nh đồng dạng với Chúa, có cùng ao
ước với Chúa, có cùng cách cư xử như Chúa, th́
Chúa muốn như thế nào, họ cũng muốn và làm
như vậy.
Trong cầu nguyện, ta học
biết hơn về Thiên Chúa, biết hơn về
Đức Giêsu và những giáo huấn của Ngài, biết
phán đoán, chọn lựa, và cung cách hành xử của Ngài;
và ta được mời gọi để bắt
chước, để suy nghĩ và phán đoán như Ngài,
để hành xử như Ngài, để nên giống Ngài
mỗi ngày hơn.
Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu với
cung cách hành xử của Ngài, rồi suy nghĩ để
rút ích lợi. Đó là cầu nguyện chiêm niệm theo
thánh Inhaxiô (LT 106-108). Nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu,
để nên giống Đức Giêsu mỗi ngày hơn.
Nh́n ngắm Đức Giêsu mỗi ngày, người ta
mới quen và có thể nhận ra ư muốn và cung cách
của Thiên Chúa; và như thế, người ta mới có
thể nhận ra ư Thiên Chúa về chính họ. Không biết
Thiên Chúa, làm sao biết Ư của Thiên Chúa, và làm sao biết ư
của Thiên Chúa về ḿnh.
4. Thánh Thần- Thầy dạy người linh
hướng lẫn người thụ hướng
“Khi nào Đấng Bảo Trợ là
Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy,
Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và
sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều
Thầy đă nói với anh em” (Ga 14:26). Khi Đức Giêsu
c̣n sống tại thế với các tông đồ,
nhiều lần Đức Giêsu đă mặc khải chân
tướng của Ngài nhưng các ông chưa hiểu
được; chỉ khi nhận được Thánh
Thần (Ga 20:22) các ông mới hiểu được
những mặc khải của Đức Giêsu và nhận
biết Đức Giêsu là Thiên Chúa (Cv 2:1-41).
Chúa Thánh Thần giúp các Kitô hữu
nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Cor 12:3), giúp
chúng ta cầu nguyện (Rm 8:26-27). Thánh Thần hướng
dẫn chúng ta, giúp chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa (Rm 8:14).
Thánh Thần là thầy dạy, là
Đấng hướng dẫn mỗi người. Có
thể nói, Thánh Thần là Đấng linh hướng, giúp
mọi người nhận biết thánh ư Thiên Chúa cũng
như giúp mọi người thực thi thánh ư Thiên Chúa. V́
thế, cả người linh hướng lẫn
người thụ hướng phải luôn lắng nghe
Thánh Thần, để nhận ra thánh ư Thiên Chúa và đem ra
thực hành.
5. Người thụ hướng như đối
tượng quy chiếu
Người thụ
hướng, người đến để được trợ giúp, con người này ngay cả rất cá biệt, là người mà người linh hướng được Thiên Chúa mời gọi để
đồng hành và hướng dẫn. Họ
là người như họ là, với những
ưu điểm và giới hạn, nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng; và như vậy, “người thụ hướng” là đối tượng quy
chiếu ưu tiên.
Để giúp một người,
cần biết về họ. Không cần phải hỏi
nhiều, nhưng qua những chia sẻ của
người thụ hướng, người đồng
hành thiêng liêng có thể biết về người thụ
hướng. Biết người thụ hướng
về phương diện nhân bản: khả năng
sống với những người trong
gia đ́nh, trong cộng đoàn, trong xă hội; về
mức độ biết ḿnh: nhận sự thật
về chính, chấp nhận ḿnh; về lư tưởng
sống; về đời sống thiêng liêng: biết Thiên
Chúa, biết ḿnh được Thiên
Chúa yêu, và thái độ đối với Thiên Chúa; về
đời sống tông đồ: yêu thương con
người, cụ thể yêu
thương những người xung
quanh, giúp đỡ những người xung
quanh; về nghề nghiệp: mức độ thành
đạt, mức độ chấp nhận sống
bằng lao tác của minh; v.v..
Người thụ hướng
cần biết đúng về Thiên Chúa, con người, và
vũ trụ. Trong một mức độ nào đó,
người đồng hành thiêng liêng phải giúp
người thụ hướng về điều này, và
để rồi người thụ hướng có
thể nhận ra tiếng Chúa mời gọi họ.
Con người được tạo dựng giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St
1:26-27): tự do và biết yêu. Con người được mời gọi
thống trị, bá chủ cá biển chim trời. Con
người được tạo dựng để làm vua, làm chủ, tự
do, không nô lệ tạo vật (St 1:28).
Người thụ hướng
cần biết họ được Thiên Chúa yêu vô cùng. “Có
người mẹ nào không thương kẻ
ḿnh đă sinh. Mà cho dù có người mẹ
nào không thương con ḿnh, th́ Ta, Ta không bao giờ quên
ngươi” (Is 49:15). “Ta khắc ngươi trong ḷng bàn tay
Ta” (Is 49:16).
“Như Cha yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em, hăy ở
lại trong t́nh yêu Thầy” (Ga 15:9). “Không có t́nh yêu nào
lớn hơn t́nh yêu của người hiến
mạng v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15:13). “Này là Ḿnh Thầy
bị nộp v́ anh em. Này là Máu Thầy đổ ra v́ anh em”
(Mc 14:22-25). Đức Giêsu và Thiên Chúa mong chúng ta đáp
trả t́nh yêu của Ngài: “Ta khát” (Ga 19:28).
“Chúa Cha đă yêu thế gian đến độ ban Con Duy
Nhất của Ngài, để những ai tin vào Ngài th́ được sống đời đời” (Ga
3:16). Chúa Cha yêu tôi như yêu Đức Giêsu (Ga 17:23.20). Chúa
Cha yêu tôi nên luôn ở với tôi (Ga 14:23). Nh́n Đức
Giêsu trên thập giá th́ biết Chúa Cha yêu con người đến độ nào!
“Thánh Thần yêu tôi nên Ngài luôn luôn ở với tôi” (Ga 14:16).
Thánh Thần dạy tôi mọi chuyện (Ga 14:26), Ngài giúp tôi
tin Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Cor 12:3), Ngài cầu thay
nguyện giúp tôi (Rm 8:26-27). Thân xác tôi là đền thờ
của Chúa Thánh Thần (1Cor 3:16-17; 6:19).
Người thụ hướng
cũng cần ư thức ơn gọi và sứ mạng
của ḿnh: Hăy là thánh v́ Ta là thánh (Lv 19:1); Hăy nên trọn lành
như Cha trên trời là Đấng trọn lành (Mt 5:48); Hăy
có ḷng thương xót như Cha trên trời là Đấng
thương xót (Lc 6:36); Đạt tới t́nh trạng con người trưởng thành, tới tầm
vóc viên măn của Đức Kitô (Eph 4:13).
Người thụ hướng
cũng cần biết: Con người là
tinh thần nhập thể. Qua thân xác con người trở nên tinh thần: vượt lên
vật chất để hướng lên tuyệt
đối thể. Qua thân xác con người trở
nên thánh, nên tuyệt vời.
Bị cám dỗ, thuộc bản tính
của con người. Đức Giêsu bị cám dỗ
trong hoang địa (Mt 4:1-11) và bị cám dỗ cả
về đức tin khi Ngài bị treo trên thập giá:
“Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15:34). Đức Maria
cũng bị cám dỗ khi thấy Đức Giêsu, con
của Mẹ, chịu chết treo thập giá: lời Chúa
phán với Mẹ qua sứ thần Gabriel không
được thực hiện sao?! Thánh Phaolô cũng
bị cám dỗ: “Đă ba lần tôi xin Chúa cất cái
dằm ra khỏi xác thịt tôi nhưng Ngài nói: ơn Ta đủ cho con” (2Cor 12:7-9).
Đức Giêsu bị cám dỗ về mọi điều
như ta (Dt 2:17; 4:15).
Ai cũng bị cám dỗ; nhưng phạm tội không thuộc
bản tính con
người. Con người tự do, phạm tội hay không, là do tự ḿnh,
tùy chọn lựa của ḿnh. Đức Giêsu đă không
phạm tội (Dt 4:15). Mẹ Maria đă không vương
tội nguyên tổ cũng không vương tội riêng (tín
điều Vô Nhiễm Nguyên Tội được công
bố năm 1854, tín điều Mẹ Lên Trời cả
hồn lẫn xác được công bố năm 1950).
Không đáp trả tiếng Chúa mời
gọi là tội. Phạm tội hay không, tùy tự do
của ḿnh; tuy nhiên, không phạm tội, cũng là một
ơn: “Xin chớ để chúng con sa chước cám
dỗ” (Mt 6:13). Chúng ta tự do phạm tội hay không, nhưng thực tế cho thấy chúng ta
đă vấp ngă nhiều.
Chúa yêu chúng ta, Ngài sẽ giúp chúng ta
sống trong t́nh nghĩa với Ngài. Tội hồng phúc:
chính v́ tội mà Thiên Chúa đă cho Con Ngài nhập thể
để cứu độ tôi. Nếu tôi không phạm
tội, th́ Thiên Chúa đâu có nhập thể. Nói vậy không
phải cứ phạm tôi để được ơn này tới ơn khác. Tôi thấy rằng tôi
cần Chúa để tránh tội; nhưng tội có thể
làm dịp để tôi gần Chúa hơn, làm tôi tha
thiết nài xin Chúa hơn.
Ta bị cám dỗ v́ … tham dục (Gc
1:14-15). Khi bị cám dỗ, chúng ta không được nói Thiên Chúa cám dỗ ḿnh (Gc 1:13). Chúng ta nghe nói
tới ba thù: quỷ, thế gian, và xác thịt. Quỷ có
thể cám dỗ ta, và có khi nó giả dạng thần lành
để cám dỗ ta (2Cor 11:14), nó cũng có thể giả
dạng người chết (ma) để làm ta sợ hăi.
Thế gian, xét như những đánh giá của người đời, cũng có thể cám dỗ
ḿnh, nhưng tôi tự do chọn lựa. Xác
thịt có khuynh chiều của nó, hướng theo bản
năng, nên nếu tôi thấy tôi hướng về
những ǵ theo bản năng th́ cũng là tự nhiên, tôi
cần biết điều này để có thái độ
đúng đắn với khuynh chiều xác thịt. Tôi
được mời gọi để vượt qua cám
dỗ. Phạm tội hay không, là tự do tôi.
Người linh hướng nh́n
Đức Giêsu gặp gỡ chị phụ nữ Samaritanô
bên bờ giếng Giacóp để xem Chúa đă nói chuyện
giúp đỡ chị ta như thế nào (Ga
4:1-42). Người đồng hành thiêng liêng cũng nh́n
Đức Giêsu đi gặp gỡ hai môn đệ trên
đường Emmau để giúp đỡ họ (Lc
24:13-35). Tùy t́nh trạng của họ mà Ngài giúp, tùy theo t́nh
trạng của người thụ hướng mà
người đồng hành thiêng liêng giúp.
Đồng hành thiêng liêng liên hệ
mật thiết với phân định thiêng liêng. Phân
định thiêng liêng là tiến tŕnh gồm những hành vi
của chủ thể dựa trên tác động của các
thần nhằm nhận ra thánh ư Thiên Chúa hầu thực thi
thánh ư Ngài. Phân định thiêng liêng giúp chính ḿnh, chủ
thể phân định, và cũng có thể giúp người
khác, nhận ra thánh ư Thiên Chúa. Người linh hướng
hay đồng hành thiêng liêng phải là người có
khả năng phân định thiêng liêng, để có
thể nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho ḿnh và cho người
thụ hướng, để giúp người thụ
hướng nhận ra thánh ư Thiên Chúa và thi hành. Người
thụ hướng cũng cần được huấn
luyện phân định thiêng liêng, để nhận ra
thánh ư Thiên Chúa cho họ, qua tiến tŕnh linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng.
Như
vậy, thánh ư Thiên Chúa cho người thụ hướng,
Lời Chúa qua Kinh Thánh, Đức Giêsu Kitô, Thánh Thần, là
tiêu chuẩn và nền tảng mà người linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng phải dựa vào
để hướng dẫn người thụ
hướng. Người thụ hướng như họ
là, cũng là đối tượng quy chiếu mà tùy t́nh
trạng và khả năng của họ mà người linh
hướng đồng hành giúp đỡ họ.
II. DUNG
MẠO NGƯỜI ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG
Đâu là dung mạo của
người linh hướng hay đồng hành thiêng liêng?
Linh hướng hay đồng hành
thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi
giữa hai người, người thụ hướng và
người hướng dẫn, với thái độ kính
trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi
điều ảnh hưởng tới người thụ
hướng, đặc biệt qua đời sống
cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp
người thụ hướng nhận ra lời mời
gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường
ngày và đáp trả, hầu phát triển mối
tương quan thân thiết với Thiên Chúa, để
họ b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc
hơn.
Người đồng hành thiêng liêng
và người thụ hướng đều chọn Thiên
Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết; cả hai
đều muốn biết thánh ư Thiên Chúa đối
với họ và thực thi điều Thiên Chúa muốn cho
họ trong cuộc sống. Thiên Chúa đă gọi Samuel
nhưng Samuel không nhận ra tiếng Ngài. Thầy Hêli là
người đă giúp Samuel nhận ra tiếng Thiên Chúa và
đáp trả (1Sam 3:1-21). Để có thể linh
hướng, cần là người biết Thiên Chúa và thân
quen đường lối của Thiên Chúa, biết về
con người, luôn sống dưới tác động
của Thánh Thần, và là người cẩn mật, tôn
trọng và bảo vệ người thụ
hướng.
1. Biết Thiên Chúa và thân quen đường lối
của Thiên Chúa
Người đồng hành thiêng liêng
phải là người biết Thiên Chúa, thân quen
đường lối của Thiên Chúa, có thể nhận
ra thánh ư Thiên Chúa, để rồi có thể giúp
người khác nhận ra thánh ư Thiên Chúa cho họ. Con chiên
Ta th́ nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta (Ga
10:27). Nếu họ không biết Thiên Chúa th́ họ không
nhận ra tiếng Ngài mời gọi họ.
Để biết Thiên Chúa, cần
được dạy về Thiên Chúa; hơn nữa,
cần có kinh nghiệm trực tiếp với Thiên Chúa qua
cầu nguyện với ơn trợ giúp của Thánh
Thần. Linh Thao là một phương thế hữu
hiệu giúp người ta quen biết đường
lối của Thiên Chúa.
Để có thể nhận biết
thánh ư Thiên Chúa, người ta cần b́nh tâm. B́nh tâm là
chọn Thiên Chúa và thánh ư Ngài trên tất cả, c̣n những
điều khác th́ sao cũng được. Thiên Chúa yêu tôi
vô cùng, nên những ǵ Ngài muốn cho tôi, là tốt nhất
cho tôi; thế nên tôi chọn thực thi thánh ư của Thiên
Chúa cho tôi trong mọi trường hợp.
Không b́nh tâm, giống như
người ở giữa bao tiếng ồn ào không nghe
được tiếng của ai đó nói với minh, khó
nghe được tiếng Chúa. Người
đồng hành thiêng liêng có nhiệm vụ giúp người
thụ hướng nhận ra tiếng Chúa mời gọi;
Như vậy, cả người linh hướng lẫn
người thụ hướng đều phải b́nh tâm.
Để nhận biết thánh ư Thiên
Chúa, người ta cần biết phân định thiêng
liêng: phân định tác động của các thần và
phân định Ư Chúa.
Người linh hướng phải
có khả năng phân định thiêng liêng để
nhận ra thánh ư Thiên Chúa qua những dữ kiện mà
người thụ hướng chia sẻ, để
rồi giúp người thụ hướng phân định
và nhận ra thánh ư Thiên Chúa và thực hiện ư Ngài.
Người linh hướng cần
biết người mẫu lư tưởng của
người thụ hướng và cũng cần biết
nguyên tắc sư phạm căn bản để có
thể làm công tác hướng dẫn cho có kết quả. Người
linh hướng cũng cần biết về con
người với những phản ứng theo bản
năng. Người đồng hành thiêng liêng tuy dù không
phải nhà tâm lư nhưng cũng cần biết những
điều cơ bản về tâm lư. Họ cũng
phải có thể nhận ra người đến với
ḿnh bị tâm bệnh và cần một điều trị
khác; đồng hành thiêng liêng không nhằm chữa
trị tâm bệnh.
Chúng ta biết về con người
qua nhiều nghành học khác nhau: nhân chủng học, y khoa,
tâm lư, phân tâm học, nhân học thần học, v.v.
Tâm lư học nghiên cứu về con
người, giúp chúng ta biết về con người
về nhiều phương diện và ở những
mức độ khác nhau. Hiện có nhiều lư thuyết
tâm lư và mỗi lư thuyết đều có những nét hay riêng
và chúng bổ túc cho nhau. V́ con người là hữu thể
tự do nên những lư thuyết tâm lư có giá trị
tương đối. Mỗi người là một cá vị. Mỗi cá vị đều
tự do và h́nh thành ḿnh cách riêng theo chọn lựa của
mỗi người.
Lắng nghe thấu cảm
Người đồng hành thiêng liêng
cần biết lắng nghe, có khả năng khơi
gợi để người thụ hướng mở
ḷng chia sẻ; và với khả năng nhận ra thánh ư
Thiên Chúa qua những dữ kiện mà người thụ
hướng chia sẻ, để rồi giúp người
thụ hướng nhận ra thánh ư Thiên Chúa và thực
hiện ư Ngài.
Suy bụng ta ra bụng người
Suy bụng ta ra bụng người,
cũng là một cách để biết về tha nhân; tuy
nhiên cũng cần biết con người là hữu
thể tự do, nên người ta có thể khác với
ḿnh: “đừng lấy dạ tiểu nhân đo ḷng
người quân tử.” Có nhiều người phản
ứng theo bản năng, nhưng người
trưởng thành sống theo lư trí hướng thiện
chứ không chỉ chiều theo bản năng.
Người đồng hành cũng
phải là người có khả năng vượt trên ư
kiến phán đoán của người thụ
hướng, để nhận ra con người thực
của người thụ hướng, để giúp
người thụ hướng biết ḿnh, giúp họ
nhận ra cái sai nếu có, giúp họ nhận ra những
t́nh cảm chủ quan ảnh hưởng đến cái
nh́n và suy nghĩ phán đoán của họ. Như vậy,
người đồng hành phải là bậc thầy,
người có khả năng hướng dẫn, chứ
không chỉ đơn thuần là người “đồng
hành” đi cùng.
Biết về con người, có
thể nhờ những khoa học xă hội, nhưng v́ con
người là hữu thể tự do, nên chúng ta cũng có
thể biết hơn về con người qua cái nh́n
thần học thiêng liêng.
Có nhiều người bận tâm:
tại sao tôi vẫn phạm tội dù đă bao lần tôi
quyết định sẽ không bao giờ như vậy
nữa? Tại sao lúc tĩnh tâm người ta nói rất
hay, tưởng rằng họ sẽ ra khác, nhưng khi trở
về đời thường họ lại vẫn
vậy? Sau nhiều lần tái phạm, một số
người thất vọng về chính ḿnh; Họ chán
nản bỏ cuộc buông xuôi, không muốn cố gắng
nữa. Cố gắng mà làm ǵ khi chẳng thấy thành công!
Một số người không c̣n đánh giá tốt về
những cuộc tĩnh tâm hoặc linh thao nữa!
Chúng ta sẽ nh́n Chúa Giêsu,
để nhận ra thân phận con người, và
để biết chúng ta phải sống và hành xử như
thế nào.
Đức Giêsu là người như
chúng ta mọi đàng
Theo đức tin Kitô của chúng ta,
Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể. Ngài đă
chấp nhận thân phận con người như chúng ta
mọi đàng. Ngài hoàn toàn là một người.
Đức Giêsu là con đức Maria,
được sinh nơi hang chiên cừu tại Bêlem,
được nuôi nấng dạy dỗ, lớn lên và
kiếm sống bằng nghề thợ mộc tại
Nadarét miền Galilê.
Ai nghèo bằng Ngài? Có ai
được sinh nơi một chuồng thú vật
như Ngài? Ngài cảm được nỗi ḷng của
người nghèo cũng như cách hành xử của người
ta đối với những người làm nghề khiêm
tốn như nghề thợ mộc! Ngài cảm
được cái đói, và thông cảm với cơn
đói cồn cào của các tông đồ đến
độ phải bứt gié lúa mà ăn (Mc 11:12; Mt 12:1); Ngài
có thể thông cảm với tất cả những ai lâm
cảnh màn trời chiếu đất, v́ Ngài vẫn
thường phải ngủ ngoài trời (Lc 21:37).
Ai bị sỉ nhục bằng
Ngài? Ngài bị những người thân coi là người
mất trí (Mc 3: 21); bị người Do Thái coi là
người tội lỗi (Ga 9: 24); bị coi là
người qủy ám (Mc 3: 22; Ga 8: 52), nhờ tướng
qủy mà trừ qủy (Lc 11: 15); bị coi là người
phạm thượng (Mc 14: 62) nên phải bị ném đá
hoặc tử h́nh cách nào đó (Ga 8: 59; 10: 31).
Ai bị hành hạ bằng Ngài? Có ai
lớn như Ngài mà c̣n bị tạt tai? bị nhổ
nước miếng vào mặt? bị giựt râu? bị
đánh đấm vào mặt? bị đánh đ̣n? bị
nhạo báng cho đội măo gai? Ai bị chết ô nhục
bằng Ngài? bị lột trần truồng và chết thê
thảm trên thập giá?
Đức Giêsu đau ḷng trước
sự chai cứng tâm hồn của con người
thời đó: của người làng Nadarét (Lc 4: 22b-30);
của người tới xin Ngài chữa bệnh: “ôi
thế hệ tà vạy và cứng tin...” (Lc 9:41); của
những người biệt phái và kư lục (Lc 20: 4tt). Ngài
nên giống chúng ta mọi đàng!
Nhiều người kinh nghiệm
về sự yếu đuối của bản thân,
muốn xin Chúa cất tự do của ḿnh, để ḿnh
không phản bội Chúa nữa. Nhiều khi họ than trách
Chúa đă để họ yếu đuối sa ngă như
vậy. Mệt mỏi v́ phải chống trả với
những cám dỗ, thất vọng v́ chính ḿnh, ... họ
muốn buông xuôi, không c̣n tin vào ḿnh nữa! Những
người này quên rằng, họ hoàn toàn tự do
để phạm tội hay không! Nếu họ không
muốn họ không phạm tội.
Phạm tội không là bản chất
con người, tuy dù dường như ai cũng phạm
tội (1Ga 1:8-10). Thiên Chúa tạo dựng tất cả
đều tốt đẹp (St 1: 31). Cái “trở nên tệ
hơn” của con người, là do tự con người.
Con người có thể hạ phẩm giá ḿnh bằng hành
vi “tội” của ḿnh, và con người cũng có thể
làm tăng phẩm giá ḿnh bằng hành vi yêu thương siêu
vượt. Con người có thể phạm tội và
cũng có thể không phạm tội!
Không ai không bị cám dỗ, nhưng
không phải tất cả đều đă sa ngă.
Đức Maria đă không phạm tội riêng: không bao
giờ Mẹ đă phạm tội, không bao giờ Mẹ
đă không vâng phục Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu cũng
bị cám dỗ. Đức Giêsu không chỉ bị cám
dỗ một lần trong đời khi ở hoang
địa bốn mươi đêm ngày (Mt 4: 1-11), mà Ngài c̣n
bị cám dỗ trong suốt đời. Ngài cũng bị
cái đói hành hạ; Ngài không chỉ bị ma qủy cám dỗ
thách thức nhẩy từ đỉnh đền thờ
xuống (Lc 4: 9-11) mà c̣n bị người ta thách thức
xin dấu lạ bởi trời (Lc 11: 16.29-30), c̣n bị
thượng tế kư lục và dân chúng thách thức
xuống khỏi thập giá để họ tin (Lc 23:
35-37). Trong vườn dầu Ngài bị cám dỗ và
chống lại đến mức độ toát mồ hôi
máu (Lc 22: 44; Dt 12:4), Ngài bị cám dỗ cả về
đức tin nữa “Lạy Thiên Chúa con, sao Ngài nỡ
bỏ con?” (Mc 15: 35).
Con người có thể và
thường bị cám dỗ, nhưng con người có
thể không phạm tội. Chính Đức Giêsu cũng
bị cám dỗ, và bị cám dỗ cho đến giây phút
cuối cùng trong đời Ngài, ngay cả về
đức tin. Cũng vậy, chúng ta có thể bị cám
dỗ, và ngay cả bị cám dỗ rất nhiều và dai
dẳng, nhưng điều này không hàm chứa rằng ḿnh
“dở”. Đức Giêsu bị cám dỗ, nhưng Ngài không
“dở” v́ Ngài đă chiến thắng dù phải chiến
đấu, chiến đấu đến độ
“đổ máu” (Dt 12: 4).
Thiên Chúa không miễn trừ cho con
người khỏi cám dỗ, v́ đó là thân phận con
người “tự do”; nhưng nếu con người bám
vào Thiên Chúa, trông cậy vào Thiên Chúa, con người có
thể chiến thắng và không phạm tội. Đức
Giêsu và đức Mẹ Maria là mẫu gương và là
bảo đảm cho chúng ta.
Xin chớ để chúng con sa
chước cám dỗ
Một kinh được dùng rất
nhiều lần, là lời kinh chính Chúa Giêsu đă dạy:
“Lạy Cha chúng con ở trên trời, nguyện danh Cha
cả sáng, nước Cha trị đến, ư Cha thể
hiện... Xin Cha cho chúng con, lương thực cần dùng;
xin tha nợ chúng con...; xin chớ để chúng con sa
chước cám dỗ” (Mt 6:9-13). Câu cuối cùng của kinh
Lạy Cha “xin chớ để chúng con sa chước cám
dỗ” làm chúng ta phải suy nghĩ.
Một lời nguyện, có thể là
lời tạ ơn chúc tụng, nhưng chủ yếu là
lời xin. Xin là thái độ của một người
nghèo, không có nên phải xin. Người ta chỉ xin khi người
ta không có hoặc không thể làm được điều
ǵ đó.
Con người tự do, con
người có thể không phạm tội, nhưng bao nhiêu
người đă phạm tội. Đă bao lần tôi
phạm tội và rồi ngay khi vừa phạm tôi xong tôi
lại hối hận liền... dù trước đó tôi
đă dốc ḷng thề hứa với Chúa hay với
người khác hoặc với chính ḿnh rằng sẽ không
phạm tội nữa!
Chúa Giêsu đă nói với Phê-rô hai
lần cùng một buổi tối, trong vườn dầu:
“hăy cầu nguyện kẻo sa cám dỗ” (Lc 22: 40.46).
Tại sao phải cầu nguyện để khỏi sa
chước cám dỗ?
Không ai trong chúng ta không bị cám
dỗ. Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể, Ngài không
phạm tội dù Ngài bị cám dỗ rất nhiều. Ngài
đă phải chiến đấu rất quyết liệt
và cam go trước những cơn cám dỗ. Ngài chiến
đấu đến nỗi đổ máu (Dt 12: 4).
Chúa đă chết và sống lại,
để chúng ta được sống lại với
Ngài, nhưng chúng ta vẫn không được giải thoát
khỏi cám dỗ. Thực ra khi bị cám dỗ phạm
tội, chúng ta không trở thành dở hơn; chúng ta chỉ
dở khi chúng ta chiều theo cám dỗ, ưng thuận
với cám dỗ. Nếu chúng ta chống lại cám dỗ,
chúng ta có công phúc trước mặt Chúa; nếu chúng ta
bị cám dỗ khủng khiếp và dai dẳng, mà chúng ta
chống trả quyết liệt và chiến thắng, th́
chúng ta không chỉ không dở mà c̣n có công phúc lớn
trước nhan Chúa (LT 33-34).
Chúng ta thường sợ cám dỗ.
Tại sao vậy? V́ chúng ta ngại chiến đấu? Hay
v́ chúng ta sợ chính chúng ta? V́ chúng ta đă có kinh nghiệm
về chính con người của ḿnh: yếu đuối
và mỏng ḍn? Một điều cần lưu ư: nếu
tôi không muốn, tôi không phạm tội. Trước khi
phạm tội tôi không muốn, và sau khi phạm tội tôi
cũng không muốn, nhưng chính tôi đă muốn khi
phạm tội!
Dù tôi yếu đuối và mỏng ḍn,
nhưng tôi không phạm tội nếu tôi không muốn.
Phạm tội, là hành vi tự do của con
người ở giây phút hiện tại. Qúa khứ,
không quan trọng. Dù qúa khứ tôi có tốt mấy đi
nữa, có làm được bao nhiêu điều kỳ
diệu chăng nữa, mà nếu ở giây phút này tôi không
vượt lên trên chính ḿnh, th́ tôi chẳng là ǵ! “Nếu
kẻ công chính bỏ đường công chính mà phạm
tội, nó phải chết. Và nếu kẻ tội lỗi
bỏ đường gian ác mà trở lại, nó sẽ
được sống” (Ed 33: 18-19).
Chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh (2Cor
12: 10). Tự sức tôi, e rằng tôi sẽ sa ngă chiều
theo cám dỗ; nhưng nếu tôi cậy dựa vào Chúa, tôi
sẽ không sa ngă, cho dù cả hỏa ngục tấn công
cũng không thắng nổi tôi, v́ Chúa ở với tôi, Ngài
là khiên che thuẫn đỡ cho tôi (Rm 8:38-39).
Không có lương thực, con
người sẽ chết. Cơm bánh là điều
cần thiết đối với con người, nhưng
nhiều người không ư thức rằng, cơm bánh
người ta ăn hằng ngày cũng là hồng ân
của Thiên Chúa. “Xin Cha cho chúng con lương thực
hằng ngày” (Lc 11: 3). Lời kinh Chúa dạy giúp chúng ta ư
thức t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con
người cũng như thân phận con người
phải luôn tùy thuộc Thiên Chúa, ngay cả những
điều rất b́nh thường trong đời
sống con người như lương thực hằng
ngày.
“Thiên Chúa muốn mọi người
được cứu độ và nhận biết chân lư”
(1Tm 2: 4). Thiên Chúa không muốn ai phạm tội. Vậy
tại sao tôi (đă hoặc sẽ) phạm tội dù (bây
giờ) tôi không muốn?! Thực ra, nếu tôi không muốn
th́ tôi không phạm tội; nhưng chính lúc tôi phạm
tội th́ tôi muốn, dù trước đó tôi không muốn,
và sau đó tôi cũng không muốn.
Tôi muốn lúc tôi phạm tội, dù
trước đó đă nhiều lần tôi dốc ḷng và
quyết định. “Điều tôi muốn tôi không làm, c̣n
điều tôi không muốn tôi lại làm” (Rm 7: 15.19). Càng sống
lâu, con người dường như càng có kinh nghiệm
về điều này! “Vô phúc thay con người của tôi!
Ai sẽ cứu tôi khỏi cái xác chết này?” (Rm 7: 24).
Tạ ơn Chúa, v́ nhờ Đức Giêsu Ki-tô.
“Xin chớ để chúng con sa
chước cám dỗ” (Lc 11: 4). Lời Chúa cho chúng ta
biết rơ thân phận con người của chúng ta:
yếu đuối, mong manh mỏng ḍn, cần Chúa giúp
để có thể sống không phạm tội. Chúng ta
cần Chúa, để ở trong t́nh yêu của Ngài. “Không có
Thầy, các con không thể làm ǵ” (Ga 15: 5). “Hăy cầu
nguyện để khỏi sa cám dỗ” (Lc 22: 40.46).
Nếu không cầu nguyện, e rằng khó có thể không sa
cám dỗ, v́ “tinh thần tuy nhanh nhẹn nhưng xác thịt
th́ yếu nhược” (Mc 14: 38). Những lời này do chính
Chúa Giêsu nói, và Ngài cũng cảm nghiệm được
sự nặng nề của thân xác “Lạy Cha nếu có
thể, xin cất chén này đi khỏi con, nhưng
đừng theo ư con mà là ư Cha” (Mc 14: 36).
Con người tự do. Con
người có thể không phạm tội nếu chính
đương sự không muốn. Thế nhưng có
nhiều người sợ chính ḿnh, sợ “tự do”
của ḿnh! Nếu bởi tự do mà tôi phạm tội
chống lại Chúa, th́ thà không có tự do c̣n hơn: “Thà làm
thân cỏ cây, đóa hoa rừng ngả nghiêng trước
gió, kiếp chim xanh ....”
“Cầu nguyện để khỏi sa
cám dỗ” (Mc 14: 38). “Xin chớ để chúng con sa
chước cám dỗ” (Lc 11: 4). Điều này hàm chứa:
tôi cần Chúa để khỏi sa ngă. Chúa luôn quan tâm
đến tôi, Ngài sẵn sàng trợ giúp tôi, để tôi
không sa ngă phạm tội chống lại Chúa nữa. Xin
chớ để chúng con sa chước cám dỗ, cũng
quan trọng và cần thiết như cần phải xin cho
có lương thực hằng ngày.
“Hôm nay Ta đă sinh ra con” (Tv 2: 7). Ngôi
Lời được Cha sinh ra từ vĩnh cửu và hôm
nay Ngài vẫn được Cha sinh ra. Sự hiện
hữu của ngôi Lời tùy thuộc Cha, không có Cha th́ không
có Con. Ngôi Lời hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa, Chúa Giêsu luôn
tùy thuộc Cha. Ngay bây giờ, sự hiện hữu và chân
tính của Đức Giêsu là ở nơi Thiên Chúa.
Hiện tại là giây phút quan trọng
nhất, đối với tôi và đối với cả
Chúa Giêsu nữa. “Hôm nay Cha đă sinh ra Con,” Đức
Giêsu là như vậy; và cả tôi cũng vậy. Thiên Chúa
làm thành con người tôi, và tôi cũng làm thành con
người tôi v́ tôi là hiện hữu tự do. Tôi như
thế nào là tùy ở tôi, tùy tôi quyết định ở
giây phút hiện tại này.
Tôi có thể được biến
đổi hoàn toàn, tùy tôi có quyết định trở
lại với Thiên Chúa ở giây phút hiện tại
này không! Để có thể không phạm tội
phản bội Chúa nữa, để thuộc trọn
về Chúa, để nên thánh, tôi phải làm ǵ bây giờ?
Qúa khứ cho tôi biết về con người của tôi,
tôi đă quyết định nhiều nhưng đă không
giữ được điều ḿnh quyết
định! Tôi đă thất vọng về chính con người
của tôi, và đă có lúc như tuyệt vọng! Bây
giờ tôi phải làm ǵ?
“Tôi phải là ǵ?”, đó cũng là câu
mà anh thanh niên giầu có hỏi Đức Giêsu (Mc 10: 17).
Nếu chỉ biết mà không làm, th́ chắc cũng
buồn như anh thanh niên sau khi được Đức
Giêsu trả lời (Mc 10: 22). Ai biết mà không thực hành,
th́ giống như người ngu xây nhà trên cát... (Mt 7: 26).
Không phải chỉ biết, mà chính yếu là làm, là thực
hiện...
Kinh nghiệm cho thấy tôi rất
yếu đuối, mong manh mỏng ḍn, dễ sa ngă! Thân
phận con người là vậy! Bị cám dỗ, con
người không thể được miễn trừ,
kể cả Đức Giêsu và Đức Mẹ. Chúa Giêsu,
trong lời kinh Ngài chỉ cho các tông đồ, Ngài dạy
“xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Lc
11: 4). Cầu nguyện để không sa chước cám
dỗ! Nếu tự sức ḿnh, ḿnh có thể không phạm
tội, chắc chắn ḿnh chẳng cần phải
cầu xin.
“Tinh thần tuy lanh lẹ nhưng xác thịt yếu
nhược” (Mc 14: 38). Chúa Giêsu cũng biết và có kinh
nghiệm về điều này. Hăy tránh dịp tội,
hăy làm hết sức ḿnh để tránh dịp tội,
đừng ảo tưởng về ḿnh. “Ai tưởng
ḿnh đứng vững, hăy ư tứ kẻo té” (2Cor 12: 10).
Giữ
ngũ quan và luôn sống với ư thức Thiên Chúa đang
ở bên tôi
“Hăy xin th́ sẽ được, hăy t́m
th́ sẽ gặp, hăy gơ cửa th́ sẽ mở cho” (Lc 11: 9).
Nếu tôi xin mà không được, chắc điều
đó lúc này không tốt cho tôi, v́ nếu tốt th́ Thiên Chúa
đă ban cho tôi rồi. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô
cùng, Ngài sẽ ban cho chúng ta điều tốt nhất cho
tôi, dù tôi có xin Ngài hay không xin! “Vậy nếu các ngươi
tuy là ác, c̣n biết lấy của lành làm qùa cho con, th́
huống hồ Cha các ngươi tự
trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những
ai xin Người” (Lc 11: 13). Thiên Chúa ban Thánh Thần cho chúng
ta, để Thánh Thần giúp chúng ta sống trong t́nh yêu
của Thiên Chúa.
Hiện tại tôi phải làm ǵ
để tôi thuộc về Chúa, trung tín với Chúa, không
phạm tội ở giây phút này? Tôi phải làm ǵ để
tôi chọn Chúa trên tất cả ở giây phút này? Tôi
phải làm ǵ ở giây phút này để tương lai tôi
không chọn ǵ trên Chúa? Cố gắng làm tốt
nhất giây phút hiện tại.
“Đèn của thân thể tức là mắt
ngươi. Khi mắt ngươi đơn thuần th́
toàn thân ngươi sáng láng; một khi nó vạy vọ th́
ḿnh ngươi tối sầm. Vậy hăy xét xem có khi ánh sáng
trong ngươi lại là tối tăm chăng” (Lc 11:
34-35).
Trong linh thao, để giúp cầu
nguyện dễ dàng hơn, thánh Inhaxiô khuyên người ta
nên giữ cẩn thận ngũ quan, đặc biệt là
con mắt (LT 80-81). Ngũ quan là những cơ quan giúp chúng
ta giao tiếp với ngoại giới. Nếu chúng ta không
tập làm chủ, chúng ta sẽ dễ dàng bị ngoại
cảnh chi phối. “Không làm chủ được
miệng lưỡi, th́ cũng không làm chủ con
người ḿnh được” (Gc 1: 16).
Để có thể chống trả
cám dỗ phạm tội trong tương lai, bây giờ tôi
phải có thể làm chủ con người tôi, cụ
thể là giữ ngũ quan. Không thể làm chủ ḿnh lúc
này, th́ làm sao có thể làm chủ ḿnh trong tương
lai? Giữ ngũ quan, là một thử nghiệm trong
việc làm chủ ḿnh.
Giữ ngũ quan có thể được coi như
giữ thinh lặng bên ngoài. Thinh lặng bên trong, thinh
lặng nội tâm c̣n quan trọng và đáng qúy hơn thinh
lặng bên ngoài nhiều. Một người sống trong
một nơi thâm u cùng cốc, vắng lặng bóng
người, nhưng có thể ḷng họ đang nổi ba
đào. Một người có thinh lặng nội tâm, th́ cho
dù có sống giữa chợ hoặc nơi phố
phường đông đúc, họ vẫn có thể b́nh an
thanh tịnh.
Để giúp có thinh lặng nội
tâm, một cách tiêu cực cần gạt bỏ những
vướng bận; một cách tích cực, biết rơ
“tất cả chỉ là phù vân ... không có ǵ mới
dưới ánh mặt trời” (Gv 1:1.9). Sự thinh lặng
nội tâm thực sự chỉ có với tâm hồn
chọn Thiên Chúa và ư định của Ngài trên tất
cả. Luôn tâm niệm chọn Thiên Chúa trên tất
cả, và gạt bỏ mọi ư tưởng không tốt
khi nó xuất hiện trong trí.
Thiên Chúa yêu thương tôi, và Ngài luôn ở với tôi
(Ga 14: 23; 14: 16; 1Cor 3: 16-17), để quan pḥng và bảo
vệ tôi. Những điều khác mất, không quan
trọng; chỉ một điều quan trọng là không ai
giựt được tôi khỏi ṿng tay yêu thương
của Ngài (Rm 8: 35.38-39).
Không chỉ là nhớ Chúa hiện
diện, nhưng chủ yếu sống trong tâm t́nh Chúa luôn
ở với ḿnh. Thiên Chúa hạnh phúc được ở
với con người v́ Ngài yêu con người. Chúa cùng
ngồi với ḿnh khi ḿnh đang nói chuyện với ai
đó; Ngài chia sẻ nỗi đau của ḿnh trước
cách đối xử không tốt của ai đó với
ḿnh... Cố gắng ư thức Chúa đồng hành
với ḿnh, và nói chuyện với Ngài liên lỉ.
Yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể được thể
hiện cụ thể qua việc năng tham dự Thánh
Lễ và rước lễ, năng viếng Thánh Thể.
Chính v́ yêu chúng ta, Chúa Giêsu đă tự nguyện ở
lại với chúng ta một cách “cụ thể” qua bí tích
Thánh Thể. Yêu mến Thánh Thể, là dấu chỉ cho
thấy t́nh yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa
vẫn c̣n nồng thắm. T́nh yêu với Chúa Giêsu Thánh
Thể, được biểu lộ qua thái độ cung
kính của chúng ta khi đứng trước hay đi ngang
qua Thánh Thể, và đặc biệt qua việc năng
viếng Thánh Thể. Xin cho con t́nh yêu nồng thắm
với Chúa Giêsu Thánh Thể. “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con yêu
Chúa nhiều.”
Đức Mẹ và Chúa Giêsu, hai con
người nêu gương cho chúng ta, để chúng ta
bước theo các Ngài. Cả Mẹ lẫn Chúa, đều
là những con người hoàn toàn như chúng ta, nhưng các
Ngài đă thuộc trọn về Thiên Chúa một cách
tuyệt vời.
Nh́n cuộc đời Mẹ, chúng ta thấy
đậm nét chữ “xin vâng”. Với Mẹ, Thiên Chúa và ư
định của Ngài là tuyệt đối. Khi thần
sứ truyền tin, Mẹ chấp nhận dù không biết
tương lai ra sao, Mẹ chỉ một niềm phó thác
cho Thiên Chúa. Mẹ xin vâng chấp nhận những ǵ
xảy đến khi phải trở về Bê-lem, khi sinh
hạ hài nhi trong máng cỏ. Mẹ vui sống những ngày
“b́nh thường” tại Nadarét, với bữa ăn thanh
đạm và cuộc sống không tiện nghi của
một gia đ́nh nghèo. Mẹ chấp nhận biến
cố Đức Giêsu ở lại đền thờ
năm Ngài 12 tuổi với bao lo lắng vất vả.
Mẹ vẫn chờ Lời Chúa nói
với Mẹ qua thần sứ được ứng
nghiệm, dù bao năm tháng trôi qua. Biến cố
Đức Giêsu chết trên thập giá là kinh khủng
với Mẹ. Ở biến cố này, Mẹ bị
thử thách khủng khiếp cả về đức tin:
liệu Thiên Chúa có thực hiện những điều Ngài
đă nói với tôi qua thần sứ không? Thế nhưng
Mẹ vẫn một niềm tin tưởng phó thác, cho dù
trước biến cố Đức Giêsu chết, như
thể không tài nào tin được lời thần sứ
nói với Mẹ “Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu David cha
Ngài, nước Ngài rộng vô biên”. Mẹ sống cuộc
đời tưởng như rất b́nh thường
nhưng thực sự Mẹ sống rất tuyệt
vời.
“Hy sinh và lễ vật Chúa không ưng; Ngài đă ban cho
con một thân xác; vậy con thưa: này con xin đến
để thực thi ư Chúa” (Dt 10: 5.7). Ngôi Lời Thiên Chúa
đă nhập thể để thi hành ư Cha: làm cho con
người ngày nay biết Thiên Chúa yêu thương họ
vô cùng. “Đức Giêsu đă vâng phục cho đến
chết, và chết trên thập giá” (Pl 2: 8). Đức Giêsu
đă đi đến cùng mầu nhiệm nhập thể,
tự hủy đến độ chết như một
con người b́nh thường và thấp hèn nhất,
đó là cái chết treo thập giá.
Không phải Đức Giêsu vô cảm,
không cảm thấy ǵ nơi con người của Ngài!
“Ngài đă kinh hoàng sợ hăi, buồn phiền muốn
chết được; nếu có thể được
xin Cha cho khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ư
con một theo ư Cha mà thôi” (Mc 14: 33-34.36). “Lạy Cha, con xin
phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23: 46); “Đă hoàn tất” (Ga
19: 30). Đức Giêsu hoàn toàn chấp nhận và phó thác
tất cả trong tay Chúa Cha. Không phải là Đức Giêsu
không có dự tính như một con người, nhưng Ngài
phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa, dù thế nào chăng
nữa th́ điều Thiên Chúa Cha muốn, sẽ là
điều tốt nhất cho Ngài và cho con người.
Thánh Thần khơi bùng lửa khao khát
Chúa
Không phạm tội, thuộc trọn
về Chúa, là một ơn; tự sức con người,
chúng ta không thể làm được điều đó;
nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta luôn sống trong t́nh yêu
Ngài, luôn luôn thuộc trọn về Ngài. Chúa Giêsu nói “không có
Thầy các con không thể làm ǵ” (Ga 15: 5) nhưng Ngài lại
nói thêm “Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:
9). “Muốn độc lập với Chúa” là một
điều điên rồ, và không thể thực hiện
được. Đó là tội. Adam và Eva cũng có thái
độ như vậy khi muốn thành thần linh cách
độc lập với Chúa (St 3).
Kinh nghiệm bản thân sau những
lần sa ngă: tôi đă muốn nhưng tôi không làm như tôi
đă muốn được. Thiên Chúa yêu tôi, Ngài luôn
trợ giúp tôi, vậy “hăy tin tưởng, Ta đă thắng
thế gian” (Ga 16: 33). “Hỡi đoàn nhỏ, đừng
sợ, v́ Cha đă khấng ban Nước cho các
ngươi” (Lc 12: 32).
Hiện tại tôi ao ước khao
khát ǵ? T́nh yêu của tôi với Chúa c̣n được
như ngày nào không? Nếu t́nh yêu, ḷng khát khao thuộc
về Chúa đă suy giảm, hăy cẩn thận, coi chừng
sa ngă. Hăy nài xin Chúa Thánh Thần trợ giúp! Thường
mỗi người chúng ta có điểm yếu nào đó
(LT 327), hăy cố gắng nhận ra. Nếu ḿnh bắt
đầu bị cám dỗ nhiều về điều
đó, hăy xét xem t́nh yêu và khát vọng của ḿnh với Chúa
đang trong t́nh trạng nào. Hăy gia tăng cầu nguyện
hoặc hy sinh hăm ḿnh, nếu cần có thể đi tĩnh
tâm để thêm ḷng yêu mến và khao khát Chúa. Nếu
thấy ḿnh bắt đầu sao nhăng việc thiêng liêng
như cầu nguyện hồi tâm xét ḿnh, cũng phải
xét ḿnh xem ḿnh đang như thế nào... Nếu thấy ḿnh
thiếu kính trọng Chúa Giêsu Thánh Thể, thiếu tế
nhị trong cách giao tiếp với người khác, hăy
cẩn thận, đó là dấu chỉ thiếu t́nh yêu
đối với Chúa.
Không có t́nh yêu, không có lửa t́nh yêu,
không có Thánh Thần, con người không thể trung thành
với Chúa đến cùng được. “Xin Chúa làm cho con
yêu Chúa, và ơn đó là đủ cho con” (LT 234).
Điều tôi không làm được
tự sức tôi, th́ Thiên Chúa giúp đỡ tôi nhờ Thánh
Thần Ngài đă ban cho tôi. Thánh Thần là lửa t́nh yêu, là
ḷng mến, là sức mạnh, là nguồn sống, là
mạch suối mát, làm nguội đam mê dục vọng,
sưởi ấm con tim chai cứng, thêm sức thân xác ră
rời, ban sức sống cho tâm hồn như đă
chết.
Thánh Thần làm tôi khao khát Chúa. Thánh
Thần làm cả con người của tôi hướng lên
Chúa, khơi dậy lửa mến trong tôi, Ngài tác
động trên cả tinh thần lẫn thể xác tôi. Khao
khát không chỉ là cái muốn của lư trí, mà c̣n là cái tham
muốn của thân xác nữa. Khi ḷng khao khát thuộc
trọn về Chúa của một người tắt
hoặc suy tàn, nguy cơ phạm tội rất gần
rồi. Phạm tội là dấu chỉ cho thấy lúc
đó đương sự không c̣n yêu Chúa nữa. Cám
dỗ nhiều và gay gắt có thể là dấu chỉ
cho thấy t́nh yêu của người đó đối
với Chúa đă suy giảm. Xin Chúa ban Thánh Thần cho
con. Xin Chúa thêm đức tin và t́nh yêu con.
3. Sống dưới tác động của Thánh
Thần
Thiên Chúa, Thánh Thần mới là vị
hướng dẫn chính. Người đồng hành thiêng
liêng là khí cụ Thiên Chúa dùng để giúp người Thiên
Chúa gởi tới với ḿnh.
Người linh hướng cần ư
thức rơ Thiên Chúa có thể hướng dẫn con
người theo cách riêng của Thiên Chúa và không cần theo
bất cứ mẫu nào. V́ thế người linh
hướng phải luôn có thái độ lắng nghe
để nhận ra bất cứ ǵ Thiên Chúa muốn cho
người người thụ hướng.
Người linh hướng phải
để Thiên Chúa can thiệp trực tiếp trên người thụ hướng: “…. điều ích lợi
và tốt đẹp hơn trong việc t́m hiểu Thánh ư
Thiên Chúa, là để cho chính Đấng Tạo Hóa và Chúa
tự thông truyền cho linh hồn trung tín, ấp ủ nó
trong t́nh yêu mến và sự ngợi khen Ngài, và đặt nó
vào con đường thích hợp hơn cả để
phụng sự Ngài sau này. …. Như
thế, người hướng dẫn không phải xoay
hướng hoặc nghiêng về đàng này hay đàng kia,
nhưng phải đứng ở giữa như cái cân,
để cho Đấng Tạo Hóa trực tiếp hành
động với tạo vật và tạo vật với
Đấng Tạo Hóa là Chúa ḿnh” (LT 15).
Người linh hướng không
phải luôn luôn có câu trả lời cho người thụ
hướng. Người linh hướng phải luôn
lắng nghe tiếng Chúa, và có thể chưa thấy.
Chuyện tiên tri giả và tiên tri thật (Gr 28:1-17). Tiên tri
thật không luôn có giải đáp cho một vấn
đề v́ nếu Chúa chưa nói th́ vị tiên tri đó
không biết. Tiên tri giả luôn có, v́ họ lấy ư họ
làm ư Chúa.
Người đồng hành thiêng liêng
cũng cần rơ ràng như thánh Phaolô: “10 C̣n với những người đă kết hôn,
tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ
không được bỏ chồng,11 mà nếu
đă bỏ chồng, th́ phải ở độc thân
hoặc phải làm hoà với chồng; và chồng cũng
không được rẫy vợ ... 12 C̣n
với những người khác, th́ tôi nói -chính tôi
chứ không phải Chúa-: nếu anh em nào có vợ
ngoại đạo mà người này bằng ḷng ở
với người ấy, th́ người ấy
đừng rẫy vợ” (1Cor
7).
4. Trưởng thành, cẩn mật, yêu thương
bảo vệ người thụ hướng
Người đồng hành thiêng liêng
cũng phải là người triển nở và hạnh
phúc ở một mức độ nào đó, nếu không,
không có sự hài ḥa giữa lời dạy và đời
sống thật của người đó. V́ quen biết
Thiên Chúa và cung cách hành xử của Ngài, nên đời sống
nhân bản của người đồng hành cũng
trổi vượt theo một nghĩa nào đó.
Người đồng hành thiêng liêng
không được làm ǵ gây tổn hại đến
người thụ hướng trong mọi trường
hợp. Giáo luật Giáo Hội Công Giáo không cho phép hỏi ư
kiến người linh hướng liên quan đến
việc thải hồi hoặc phong chức của
người thụ hướng (GL 240§2). Cũng trong tinh
thần này ta hiểu ấn tích ṭa ḥa giải phải
được tuân giữ tuyệt đối (GL 983).
Người đồng hành, như
vậy, phải là người tín cẩn, kín đáo,
cẩn mật, không lộ chuyện người thụ
hướng nói với ḿnh. Tuy linh hướng không phải
là bí tích giải tội, nhưng những ǵ nghe
được trong linh hướng cũng phải giữ
gần như trong bí tích giải tội. Nghĩa là, không
được tiết lộ, và cũng không
được dùng điều nghe được trong linh
hướng để làm hại người thụ
hướng ở bât cứ thời điểm nào.
Bề trên của một ḍng tu hay tu
hội hay tu đoàn tông đồ không được
hỏi người linh hướng về bề
dưới của ḿnh. Cũng tương tự vậy,
các ngài không được hỏi người giúp Linh Thao
về bề dưới; và người giúp Linh Thao không
được tiết lộ ǵ có hại cho người
làm Linh Thao.
Người đồng hành thiêng liêng
không được làm ǵ tổn hại cho người
thụ hướng, không để người thụ
hướng bị hiểu lầm gây tổn hại cho
họ. Chẳng hạn người linh hướng không
được có hành vi hay lời nói nào làm người ta
hiểu sai về người thụ hướng hoặc
làm tổn hại người thụ hướng.
Ngày nay, việc bảo vệ
người thụ hướng được lưu ư
cách đặc biệt. V́ thế pḥng ốc cho việc linh
hướng thường được làm sao để
bên ngoài vẫn có thể quan sát được mà vẫn có
sự cẩn mật riêng tư, chẳng hạn pḥng linh
hướng cần cửa kính và được cách âm, v.v.
Việc trang trí pḥng linh hướng cần trang nhă, có
bầu khí thiêng liêng, v.v.
Như
vậy người đồng hành thiêng liêng hay linh
hướng phải là người thân thiết với
Thiên Chúa và thân quen đường lối của Ngài,
biết về con người, luôn sống dưới tác
động của Thánh Thần, và trưởng thành cùng
cẩn mật yêu thương bảo vệ người
thụ hướng.
III. NỘI
DUNG TRAO ĐỔI KHI GẶP GỠ ĐỒNG HÀNH THIÊNG
LIÊNG
Khi gặp người đồng hành
thiêng liêng, tôi phải nói ǵ? Đó là bận tâm của
nhiều người đi linh hướng. Trước
khi trả lời câu hỏi trên, chúng ta xem qua mô tả
về đồng hành thiêng liêng và những điều
căn bản hàm chứa nơi việc linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng.
Linh hướng hay đồng hành
thiêng liêng là cuộc gặp gỡ chia sẻ trao đổi
giữa hai người, người thụ hướng và
người hướng dẫn, với thái độ kính
trọng, yêu thương, tin tưởng, về mọi
điều ảnh hưởng tới người thụ
hướng, đặc biệt qua đời sống
cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh, để giúp
người thụ hướng nhận ra lời mời
gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống thường
ngày và đáp trả, hầu phát triển mối tương
quan thân thiết với Thiên Chúa, để họ b́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc hơn.
Giả thiết người thụ
hướng có ḷng khao khát nên tuyệt hơn, mong muốn
nên thánh, ao ước nhận biết thánh ư Thiên Chúa và
sẵn sàng làm theo Ư Chúa; nếu người thụ
hướng chưa có điều này, th́ người
đồng hành thiêng liêng cần giúp họ để có
điều căn bản này.
Tin tưởng lẫn nhau là
điều kiện cần để việc linh
hướng hay đồng hành thiêng liêng được
thực hiện. Người thụ hướng cần
tin tưởng và mở ra với người hướng
dẫn, và tin rằng Thiên Chúa hướng dẫn họ qua
người đồng hành thiêng liêng. Không chỉ
người thụ hướng tin tưởng nơi
người linh hướng, nhưng người linh
hướng cũng phải yêu mến và tin tưởng
người thụ hướng (LT 22). Người
hướng dẫn tin tưởng người thụ
hướng nhưng không có nghĩa phải coi là đúng
tất cả những ǵ người thụ hướng
nói hay nhận định về người thứ
ba. Qua gặp gỡ, chia sẻ về kinh nghiệm
cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh của người
thụ hướng, người linh hướng giúp
người thụ hướng biết ḿnh hơn,
biết Chúa hơn, nên giống Đức Giêsu mỗi ngày
hơn.
Cả hai người cần nhất
trí việc linh hướng sẽ được thực
hiện trong khoảng một thời gian nào đó; Sau
một thời gian nếu một bên không thấy ích
lợi, đều có thể đề nghị dừng
việc linh hướng hay đồng hành thiêng
liêng. Người linh hướng không quyết
định thay người thụ hướng nhưng
giúp người thụ hướng nhận biết và thi
hành thánh ư Thiên Chúa; đó là nhiệm vụ chính yếu
của người đồng hành thiêng liêng.
Trong gặp gỡ đồng hành
thiêng liêng, người thụ hướng có thể chia
sẻ với người linh hướng về
đời sống thiêng liêng, về tất cả những
ǵ xảy tới với họ trong cuộc sống, và
về tương quan của họ với Thiên Chúa.
Việc đồng hành thiêng liêng
thường được thực hiện vào thời
điểm mà người thụ hướng vẫn trung
thành cầu nguyện và hồi tâm xét ḿnh. Khi nghe chia sẻ
những ơn lành và những cản trở cầu
nguyện, người linh hướng sẽ giúp
người thụ hướng biết ḿnh cũng như
nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa, để
rồi thực hiện thánh ư Ngài.
Người thụ hướng chia
sẻ trao đổi về những ǵ nhận
được trong thời gian qua, có thể trong một
tuần, một tháng hay hơn nữa. Người thụ
hướng cũng chia sẻ những an ủi thiêng liêng,
những bất an, lo lắng, bận tâm, không thoải mái
của họ cho người đồng hành thiêng liêng,
cũng như những lư do người thụ
hướng nghĩ đó có thể là nguyên do làm họ không
được thoải mái hay bối rối, bất an, và
cả những nguyên nhân tội, v.v.
Cầu nguyện là nói chuyện
với Chúa, nghe Chúa nói, và ở lại trong t́nh yêu Chúa. Chúa
nói với ta, Chúa dạy ta. Chúa dạy ta nhiều
điều: về Chúa, về chính ta, và về vũ
trụ. Ngài dạy ta cần có tương quan thế nào
với Thiên Chúa, với con người, với vạn
vật chung quanh.
Mỗi ngày khi cầu nguyện, ta nghe
Chúa dạy bảo. Qua cầu nguyện, ta biết hơn,
biết đúng hơn về Chúa và những tương quan
ḿnh phải có với Thiên Chúa, với tha nhân, và với
vũ trụ. Chúa nói với chúng ta qua lương tâm, qua
những biến cố xảy tới với chúng ta, và
đặc biệt qua Lời Chúa.
Linh Thao, kinh nghiệm gặp gỡ
Thiên Chúa của thánh Inhaxiô, cũng là một tiến tŕnh
cầu nguyện giúp người ta biết về ḿnh
hơn, biết về Thiên Chúa hơn, và để ḿnh
đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu
hơn. Linh Thao trong cuộc sống, cùng với linh
hướng, giúp người ta dễ nhận ra Ư Chúa, và
sẵn sàng làm theo Ư Chúa hơn, và để Chúa huấn
luyện ta nên đồng h́nh đồng dạng với
Đức Giêsu hơn.
Xét gẫm, nh́n lại giờ cầu
nguyện, để nhận ra tác động của các
thần, để nhận ra thánh ư của Thiên Chúa.
Dưới đây là gợi ư giúp xét gẫm:
1. Đâu là những ơn tôi
nhận được trong giờ cầu nguyện?
2. Điều ǵ cản trở tôi
cầu nguyện?
• Tôi bị chia trí về điều ǵ?
• Điều chia trí này có cho thấy
bận tâm, hay tổn thương, hay t́nh cảm lệch lạc
của tôi?
• Chúa mời gọi tôi ǵ qua những
điều đó?
3. Nói chuyện thân thưa với Chúa
về hiện trạng của ḿnh (về ơn và những
cản trở).
Tôi bị chia trí nhiều! Nhưng chia
trí về điều ǵ?
Về t́nh cảm với ai đó! Phải chăng đây là
t́nh cảm lệch lạc của tôi? Chúa mời gọi tôi
điều ǵ?
Về chuyện người ta
xúc phạm tôi! Phải chăng Chúa mời gọi tôi tha
thứ cho họ?
Hay về những điều do cái nh́n không đúng về
Chúa, về con
người, và tạo vật?
Với kinh nghiệm cầu nguyện
và hồi tâm xét ḿnh hằng ngày, qua gặp gỡ trao
đổi với người đồng hành,
người thụ hướng chia sẻ những ǵ
xảy tới với ḿnh, những suy nghĩ và phản
tỉnh của ḿnh, những nhận xét về chính ḿnh, và
rồi qua đó người đồng hành giúp
người thụ hướng biết về chính ḿnh,
hoặc cùng người thụ hướng t́m kiếm
lời mời gọi của Thiên Chúa cho người
thụ hướng. Một khi nhận ra thánh ư Thiên Chúa, ta
chỉnh sửa th́ sẽ giúp ta cầu nguyện và sống
tốt hơn.
2. Về những ǵ liên quan đến người
thụ hướng
Biết đúng để sống
đúng. Làm sao để giúp người thụ
hướng biết ḿnh, nhận sự thật về chính
ḿnh. Thiên Chúa tạo dựng mọi sự đều
tốt đẹp. Ngài tạo dựng con người có
tự do, và con người trở nên tốt hay xấu là
tùy hành vi hoạt động của họ. Giầu hay
nghèo, sang hay hèn, đẹp hay xấu, là do con người
đánh giá nhận xét về nhau. Giá trị đích thực
của mỗi người là tùy ḿnh sống tốt hay
xấu, có ḷng yêu thương đồng loại hay không.
Có nhiều điều phiền
nhiễu khổ đau do người khác vô t́nh hay cố
t́nh gây ra cho ḿnh, nhưng cũng có nỗi khổ do chính ḿnh
gây ra. Những khổ đau này là hậu quả hành vi
của ḿnh, hay do suy nghĩ sai lệch làm ḿnh khổ.
Như vậy, để sống hạnh phúc, cần
chỉnh sửa chính ḿnh để giảm thiểu tối
đa những phiền nhiễu đau khổ do
người khác gây ra cho ḿnh, và chỉnh sửa suy nghĩ
hay tri thức của ḿnh cho đúng. Cụ thể, mỗi
người cần được hướng dẫn,
cần học tập những điều tốt lành.
Con người không chỉ có lư trí.
Biết thôi chưa đủ. Đức tin không có việc
làm là đức tin chết. Trong cuộc sống, con
người cảm thấy lúc vui lúc buồn… làm sao
để sống hạnh phúc? Những phút hồi tâm xét
ḿnh (ít là ban tối trước khi ngủ) giúp ta biết
về ta, và nhận ra lời mời gọi của Thiên
Chúa đối với ta từng ngày.
Khi hồi tâm xét ḿnh, người ta
tạ ơn Thiên Chúa về những ơn ban cho ḿnh, và
người ta nh́n lại suy nghĩ, tâm tư t́nh cảm
của ḿnh, những chọn lựa, cung cách hành xử
của ḿnh trong ngày, xem ḿnh có xúc phạm ai không, có làm
tổn thương ai không, và ḿnh có bị tổn
thương không, có b́nh an không… Chúa nói ǵ với tôi qua
những điều đó? Chúa mời gọi tôi làm ǵ?
Sau đây là gợi ư giúp hồi tâm xét
ḿnh:
1. Ư thức ḿnh đang hiện
diện trước thánh nhan Thiên Chúa.
2. Xin Thiên Chúa Cha ban Thánh Thần
của Đức Giêsu để Ngài giúp ḿnh…
3. Về những hồng ân
a. Xin ơn
để nhận ra những hồng ân đă lănh nhận
b. Xét ḿnh
để nhận ra những ơn Chúa đă ban cho ḿnh. Tôi
có được ơn
i. Luôn ư
thức Thiên Chúa đang ở với ḿnh?
ii.
Cảm nghiệm Thiên Chúa yêu ḿnh? Thương giúp
người khác cảm nghiệm Thiên Chúa yêu họ?
iii. B́nh
an tươi vui triển nở hạnh phúc?
iv. Hay
được ơn ǵ khác?
c. Tạ ơn
Chúa v́ những hồng ân đă lănh nhận.
4. Về những lỗi lầm
a. Xin ơn
để nhận ra những lỗi lầm đă vấp
phạm
b. Xét ḿnh
để nhận ra những lỗi lầm đă phạm.
Tôi có
i. Làm
tổn thương tha nhân?
ii.
Bị tổn thương? Tại sao tôi bị tổn
thương? Thiên Chúa mời gọi tôi điều ǵ?
iii. Hay
lỗi lầm ǵ khác?
c. Xin lỗi Chúa
v́ những lỗi lầm đă vấp phạm.
5. Nói chuyện thân thưa với Chúa
dựa vào hồng ân và lỗi lầm của ḿnh
(bước 3 & 4).
Tại sao tôi buồn? Tại sao tôi
bị tổn thương?
V́ tôi thua kém người ta? V́ tôi không giỏi, không
đẹp, không tài năng như người ta? V́ tôi nghèo? Gia đ́nh tôi nghèo?
V́ người ta xúc phạm tôi? sỉ nhục
tôi? Khinh bỉ tôi? Coi thường tôi?
Điều quan trọng của người làm hồi tâm
xét ḿnh là trả lời câu hỏi: “Chúa mời gọi tôi ǵ
qua những điều đó?” và rồi thực thi lời
mời gọi của Chúa cho ḿnh.
Nếu tôi cảm nghiệm Thiên Chúa yêu
thương tôi vô cùng, tôi sẽ được b́nh an và
tươi vui. Nếu tôi giúp những người xung quanh
cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, th́ họ
cũng được b́nh an và tươi vui, và tôi thấy
ḿnh triển nở hạnh phúc.
Người tới linh hướng có
thể nói cho người linh hướng những ǵ
họ nghĩ cần nói, để người linh
hướng có thể giúp họ. Họ có thể nói
những ǵ liên quan tới họ, những suy nghĩ,
phỏng đoán, hành động của họ, những ǵ
làm họ bối rối bất an, ngay cả tội,
cả những tiến bộ, những ǵ làm họ b́nh an,
triển nở, hạnh phúc… Tóm lại, người
thụ hướng cũng có thể nói về mọi
chuyện, mọi nguyên nhân, ảnh hưởng đến
cuộc sống, b́nh an và niềm vui của họ.
Có thể đề cập tới nhân
vật thứ ba, nhưng người thụ hướng
không cần nêu tên người liên hệ trừ
trường hợp cần để người linh
hướng biết rơ nguyên nhân và giúp người thụ
hướng chính xác hơn. Nói với linh hướng ngay
cả những điều xấu của người khác
mà ḿnh thấy, cũng giúp người đồng hành
biết về người thụ hướng hơn,
để giúp họ hơn. Khi người thụ
hướng nói với người đồng hành về
người thứ ba, không hàm chứa người
đồng hành phải tin tất cả những ǵ
người thụ hướng nói. Nói như vậy, không
có nghĩa người đồng hành không tin người
thụ hướng, mà chỉ muốn nói, qua những
điều đó, người đồng hành có thể
giúp người thụ hướng nhận ra họ,
nhận ra cái sai của họ, những thành kiến,
những điều làm người thụ hướng
không có phán đoán chính xác về người khác, nên mới
suy nghĩ và phán đoán như vậy, hoặc mới phát
sinh t́nh cảm và phản ứng như vậy.
Với những ǵ xảy đến,
người thụ hướng cần tự hỏi xem
Thiên Chúa mời gọi họ điều ǵ qua những
điều đó? Người thụ hướng cũng
chia sẻ với người linh hướng và
người đồng hành thiêng liêng sẽ cùng với
họ t́m ra thánh ư của Thiên Chúa cho họ.
3. Về tương quan với Thiên Chúa
Mục đích của đồng hành
thiêng liêng là giúp phát triển mối tương quan của
người thụ hướng với Thiên Chúa. Chắc
chắn, người thụ hướng đă có mối
tương quan ở một mức độ nào đó
với Thiên Chúa; tuy nhiên Thiên Chúa có thể dùng người
linh hướng để giúp người thụ
hướng có tương quan thiết thân hơn với
Thiên Chúa. Người thụ hướng cần mong
ước yêu mến và nên giống Đức Giêsu hơn;
đây là điều rất quan trọng để phát
triển mối tương quan với Thiên Chúa. Chúa Thánh
Thần sẽ lôi kéo và giúp mỗi người yêu mến
Đức Giêsu hơn.
Người linh hướng cố gắng giúp người thụ
hướng có cái nh́n đúng về Thiên Chúa, về con
người, và về vũ trụ. Qua cầu nguyện,
người thụ hướng có thể thủ
đắc những điều này, cụ thể nếu
người linh hướng giúp người thụ
hướng làm Linh Thao trong cuộc sống, th́ người
thụ hướng có thể cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương và mong ước được nên giống Đức Giêsu hơn.
Mọi Kitô hữu tốt đều
ao ước trở nên giống Đức Giêsu trong suy
nghĩ, chọn lựa, và hành động. Để nên
giống Đức Giêsu hơn, mỗi ngày tôi cần dành
giờ cầu nguyện chiêm ngắm Đức Giêsu, liên
lỉ ư thức Chúa đang hiện diện với minh,
mỗi tối làm hồi tâm xét ḿnh để lắng nghe
Chúa mời gọi để hoàn thiện chính ḿnh như
Chúa muốn.
Những chủ đề cầu
nguyện có thể giúp phát triển mối tương quan
với Thiên Chúa: Thiên Chúa là Cha, Thiên Chúa quan pḥng, Thiên Chúa
như Cha Nhân Hậu. Một khi biết Đức Giêsu là
Thiên Chúa nhập thể, người ta
nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng (Ga 3:16). Những chủ
đề sau cũng có thể giúp nhiều: Đức Giêsu
yêu thương tôi vô cùng, Chúa Cha yêu thương tôi vô cùng, Thánh Thần yêu thương tôi vô cùng, tôi được mời
gọi để yêu Chúa yêu người, phúc thay
ai có tinh thần nghèo, phúc cho ai bị sỉ nhục v́
Đức Giêsu (Mt 5:1-12), v.v.
Những chia trí khi cầu nguyện,
cũng giúp người ta biết ḿnh hơn. Khi đi linh
hướng, người ta có thể nói về những
chia trí này với linh hướng. Chia sẻ và hướng
dẫn luôn đi với nhau. Người thụ
hướng t́m nguyên do làm họ bất an, lo lắng,
bận tâm, không thoải mái, và chia sẻ với
người linh hướng. Người linh hướng
dưới tác động của Chúa Thánh Thần sẽ
thấy những nguyên do này có đúng không? Có nguyên do nào khác
không? Người đồng hành thiêng liêng có thể chia
sẻ cái nh́n khác để người thụ hướng
xem lại chính ḿnh, và biết ḿnh hơn. Điều
người thụ hướng thấy và chia sẻ
như Chúa mời gọi, người đồng hành thiêng
liêng, tùy Thánh Thần thúc đẩy, có thể soi sáng hơn
cho người thụ hướng về điều này,
để vinh danh Thiên Chúa hơn.
Qua những lần gặp gỡ,
người thụ hướng chia sẻ về những
ǵ xảy tới khi cầu nguyện khi hồi tâm xét ḿnh,
về những ǵ xảy tới trong cuộc sống
của họ, người đồng hành thiêng liêng giúp
người thụ hướng biết ḿnh hơn, giúp
người thụ hướng nghe được
tiếng Chúa mời gọi và đáp trả, để
tương quan của người thụ hướng
với Thiên Chúa nên tốt hơn, và người thụ
hướng sẽ sống b́nh an và hạnh phúc hơn.
Một số vấn đề mà
mỗi người thường gặp và bận tâm, và
thường được trao đổi với
người đồng hành thiêng liêng, có thể
được xếp như liên quan tới bản thân,
liên quan đến tha nhân, và liên quan đến Thiên Chúa.
Vấn đề ơn gọi,
bận tâm không biết Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ lúc này, tôi
không hài ḷng về chính ḿnh, là những thao thức bận
tâm của nhiều người.
Chúa muốn tôi đi tu hay lập gia
đ́nh? Chúa muốn tôi lập gia đ́nh với
người này hay người kia?
Có người cho
rằng ơn gọi tu tŕ là sự thích hợp. Thấy
thích hợp th́ đi, không thấy thích không thấy hợp
th́ về! E rằng quan niệm này không chỉnh, v́ nếu
năm nay người đó thấy thích hợp, và
năm sau hoặc 20 năm sau, người đó thấy không thích hợp th́ sao? Sống
bậc sống nào, Thiên Chúa đă có chương tŕnh về
chúng ta. “16 Không phải anh em
đă chọn Thầy, nhưng chính Thầy đă chọn
anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh
được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại,
hầu tất cả những ǵ anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh
Thầy, th́ Người ban cho anh em” (Ga 15:16).
Không phải ḿnh muốn theo Chúa,
là được theo Chúa. Có thể Chúa muốn khác. “18 Khi Người xuống
thuyền, th́ kẻ trước kia đă bị quỷ ám
nài xin cho được ở với Người.19 Nhưng
Người không cho phép, Người bảo: "Anh cứ
về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ
biết mọi điều Chúa đă làm cho anh, và
Người đă thương anh như thế nào" (Mc 5:18-19).
Con người có tự do. Chúng ta có
thể từ chối lời mời gọi của Thiên
Chúa. Anh nhà giầu được Chúa
thương và gọi nhưng anh ta đă từ
chối đáp lời: “21 Đức
Giê-su đưa mắt nh́n anh ta và đem ḷng yêu mến.
Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một
điều, là hăy đi bán những ǵ anh có mà cho người
nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.
Rồi hăy đến theo tôi."22 Nghe lời
đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ
đi, v́ anh ta có nhiều của cải” (Mc 10:21-22).
Về phía ḿnh, bậc sống nào giúp
tôi tươi vui triển nở, phát triển tài năng
Chúa ban cho tôi, th́ đó là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa
muốn tôi sống bậc sống đó. Không tươi
vui triển nở trong trong bậc sống nào đó, có
thể là dấu chỉ Thiên Chúa không muốn người đó sống bậc sống
đó.
Đời sống dâng hiến không
chỉ là không lập gia đ́nh, nhưng chính yếu là dâng hiến đời ḿnh cho Chúa.
Dâng hiến trọn cả con người, hàm
chứa tự nguyện từ khước t́nh cảm nam
nữ mà một người có
quyền có, dâng cho Chúa trọn con tim của ḿnh, không đ̣i
chiếm đoạt riêng ai, và cũng không thuộc riêng
về ai ngoài Chúa.
Về lời khấn vâng phục,
người sống đời tận hiến dâng trọn
con
người cho Chúa, để
Chúa điều khiển đời ḿnh qua một người gọi là bề trên. Không phải
v́ bề trên giỏi hơn ḿnh, có nhiều kinh nghiệm
hơn ḿnh, thông minh hơn ḿnh, phán đoán chính xác hơn ḿnh
mà ḿnh vâng phục. Cũng không đ̣i phải hiểu lư do
rồi mới vâng phục: Abraham không hiểu tại sao
Chúa đ̣i ông hiến tế Isaac, Mẹ Maria không đ̣i
hiểu làm sao mà không bị ném đá chết nếu Mẹ
đồng ư có thai không do Giuse. Vâng phục là tự
hủy, là chết!
Chúa
muốn con làm ǵ trong trường hợp này?
Chúa muốn tôi hành xử trong
trường hợp này thế nào? Chúa muốn tôi giúp
người này người kia, nhưng giúp sao để
ích lợi cho họ? v.v.
Người đồng
hành thiêng liêng cũng phải là người dạy người thụ hướng biết phân
định thiêng liêng, để họ có thể nhận ra
tiếng Chúa mời gọi và sống như Chúa mời
gọi. Người linh hướng không nói cho người thụ hướng điều
phải làm, nhưng giúp họ nhận ra Ư Chúa
để thực hiện. Một câu hỏi mà mỗi
người khi làm phân định thiêng liêng cũng cần
hỏi chính ḿnh: ở vào trường hợp này,
Đức Giêsu làm ǵ? Ngài hành xử sao? Đức Giêsu
sống sao, tôi sẽ cố gắng sống như vậy.
Tôi không
b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc
Thiên Chúa muốn tôi sống b́nh an (Ga
20:19.21; Mt 10:12; Ga 14:27; Rm 15:33), tươi vui (Pl 4:4; Rm 15:13),
triển nở (Ga 10:10; Mt 25:14-30) nhưng tôi không thấy
ḿnh b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc! Tại
sao vậy? Đâu là nguyên do?
Có thể do tôi có cái nh́n không chỉnh
không đúng về điều ǵ đó. Nếu vậy,
phải t́m ra nguyên do để chỉnh sửa cái nh́n, quan
điểm, lập trường của tôi cho đúng
như Chúa dạy.
Có thể do tôi bị tổn thương. Có những
tổn thương do ḿnh gây ra như mặc cảm thân
phận nghèo, mặc cảm thua kém người khác về tài năng, v.v. Như vậy, tôi
cần chỉnh sửa cái nh́n sai lệch làm ḿnh khổ.
Để tránh buồn chán bâng quơ mà không biết tại
sao. Tôi cần không để đầu óc ḿnh “như
thể trống trơn” nhưng luôn lấp đầy
một cách nhẹ nhàng thanh thản với tư
tưởng Thiên Chúa là t́nh yêu, Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Nhẹ nhàng lưu
giữ h́nh ảnh Đức Giêsu làm việc hay rong
ruổi rao giảng Tin Mừng như thánh Inhaxiô chỉ
dẫn trong sách LT 130.
Để có thể sống b́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc, tôi cần có cái
nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, con người, và vũ trụ. Qua cầu nguyện, với Kinh
Thánh, Thánh Thần sẽ dạy chúng ta cái nh́n như Thiên
Chúa muốn.
Bị tổn thương, có thể
là tổn thương thể lư, và cũng có thể là
tổn thương tinh thần: bị hiểu lầm,
bị sỉ nhục, v.v. Nhiều khi người ta xúc phạm ḿnh một phút, nhưng ḿnh làm tổn thương ḿnh một thời gian
rất dài. Trường hợp này, tôi không để
những tư tưởng thù hận, làm ḿnh không hạnh
phúc, lưu lại trong tâm trí ḿnh. Tôi cần gạt bỏ
nó, như gạt bỏ chia trí tới khi đang cầu
nguyện.
Trong cuộc sống, có thể ḿnh làm
tổn thương người ta,
và người ta “trả thù” làm tổn
thương ḿnh. Trong trường hợp này, ta phải
chấp nhận thực tại; ta phải nhận lỗi,
cần xin lỗi Chúa, và xin lỗi người ḿnh xúc phạm, rồi bắt đầu lại…
Có sự dữ người ta cố t́nh làm cho ḿnh, chẳng hạn sự
dữ các anh của Giuse đă làm cho Giuse khi họ muốn
giết ông, xô ông xuống giếng cạn, bán ông cho người Aicập…. Sự dữ của
vợ viên quan muốn tằng tịu với Giuse nhưng bị từ chối …
Đứng trước sự dữ này, chính niềm tin
vào Thiên Chúa t́nh yêu đă giúp Giuse vượt qua.
Tội, làm tổn thương tha nhân,
và làm tổn thương chính ḿnh. Trường hợp vua
Đavít là một thí dụ: Đavít đoạt vợ
của Urigia, giết Urigia, và Đavít khổ v́ tội
lỗi của ḿnh… Cảm nhận t́nh yêu tha thứ của
Thiên Chúa đối với ḿnh giúp Đavít vượt qua
thương tổn của chính ông.
Các vị tử đạo Việt Nam
cũng có cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ,
cũng có trách nhiệm nuôi sống gia đ́nh, dạy
dỗ con cái… Thêm nữa, tổn thương về thể
lư nơi các ngài thật khủng khiếp. Thế nhưng
chính niềm tin vào Thiên Chúa yêu thương thành tín đă giúp
các ngài vượt lên tất cả.
Vi phạm thập giới, là dấu
chỉ cho thấy ḿnh đă làm tổn thương tha nhân.
Người ta làm tổn thương cha mẹ hoặc
những người trên khi vi phạm giới răn
thứ tư. Người ta làm tổn thương tha nhân
về thể lư và tinh thần khi vi phạm giới răn
thứ năm… Nguyên nhân của những điều đó,
là đặt ḿnh là nhất, coi ḿnh trên tất cả. Ta
thấy điều này nơi tŕnh thuật Cain giết Abel.
Nguyên nhân của những điều này là quy kỷ, cho
rằng tất cả phải phục vụ ḿnh, cho
rằng người khác chỉ là phương tiện phục vụ cho ḿnh. Quan niệm
này sẽ làm ta xúc phạm gây tổn thương cho tha nhân.
Ba mức độ khiêm nhường
theo thánh Inhaxiô (LT 165-167), cũng là ba mức độ t́nh
yêu. Nếu một người yêu Chúa ở mức
độ t́nh yêu thứ hai và thứ ba, người ta sẽ không dễ bị tổn thương khi
bị sỉ nhục và bách hại. Đức Giêsu giúp chúng
ta vượt lên những khó khăn trên. Nh́n ngắm,
lắng nghe, quan sát Đức Giêsu sống, có thể giúp
chúng ta nhận ra câu trả lời cho vấn nạn chúng ta
gặp trong cuộc sống.
Một vấn đề mà có thể
nhiều người bận tâm: tôi đă cố gắng
nhiều để sống tốt hơn, nhưng vẫn không tiến bộ được bao nhiêu! Trước tôi đă
tiến bộ nhưng bây giờ lại đang thụt
lùi! Tôi phải làm ǵ để cải thiện tương
quan với Thiên Chúa đây?
Có thể một người thấy
ḿnh sa đi ngă lại nhiều lần về một
giới răn trong thập giới, hoặc về ba
lời khuyên Phúc Âm. Điều này có thể làm cho nhiều
người cảm thấy thất vọng chán nản
về chính con người của họ. Những
người này nên đọc kinh nghiệm day dứt không
kém của thánh Phaolô: điều tôi muốn tôi lại không
làm, điều tôi không muốn tôi lại làm (Rm 7:15.19). Ai có
thể cứu tôi?!
Chúng ta được mời gọi
để tin vào Thiên Chúa. Thiên Chúa quyền năng nhưng
Ngài rất yêu
thương chúng ta.
Ngài ban cho chúng ta tự do. Hăy tin tưởng vào Thiên Chúa yêu thương, Ngài sẽ giúp chúng ta nên người như Ngài mong muốn.
Con người gồm
thể xác và linh hồn. Con người là
tinh thần nhập thể (Karl Rahner). Thân xác tuân theo quy
luật tự nhiên của vật chất, theo bản
năng chi phối con người. Con người với lư trí, nên không chỉ tuân
theo quy luật vật lư, không chỉ sống theo bản
năng của thân xác nhưng c̣n sống theo lư trí
hướng thiện. Ư chí của con người th́ tự
do. Theo một nghĩa nào đó, cũng có thể nói lư trí
cũng tự do. Điều này muốn nói lư trí bị ư chí
chi phối, biện ḿnh cho tham dục của ḿnh. Thiên Chúa
luôn yêu
thương và luôn ở bên
để giúp tôi thuộc về Thiên Chúa, để tôi
mỗi ngày nên tuyệt hơn.
Chúng ta được mời gọi
thờ phượng Thiên Chúa hết ḷng hết trí khôn
hết sức lực. Khi ta không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh th́ sẽ bị cám dỗ
thờ lạy tà thần, bói toán, v.v. Điều răn
thứ hai dạy ta chớ kêu tên Chúa vô cớ nhưng phải kính trọng Thiên Chúa v́
Ngài tạo dựng nên ta. Nếu ta không kính trọng Thiên
Chúa th́ c̣n kính trọng ai! “Không trời ai sống được với ai!” Tôn thờ Thiên Chúa, là
trả lại cho Thiên Chúa điều Thiên Chúa đáng được. Đó là công bằng.
Điều răn thứ ba của thập giới:
giữ ngày Chúa Nhật. Nhiều người không biết
rằng luật dạy kiêng việc xác là để bảo
vệ con
người. Có người nô lệ tiền tài, bóc lột sức lao
động của anh chị em ḿnh, nên không cho anh chị em
ḿnh có thời gian để nghỉ ngơi và chu toàn
bổn phận thiêng liêng. Con người cần
thời gian nghỉ để lấy lại sức
khỏe thể lư, để lấy lại sức khỏe
tinh thần qua việc cầu nguyện, qua việc thờ
phượng Thiên Chúa.
Một dấu chỉ cho biết ḿnh có tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng không, là xem ḿnh có tuân
giữ ba giới răn đầu của thập giới
hay không. Nếu tôi vi phạm ba giới răn đầu
của thập giới, là dấu chỉ cho thấy tôi
không tin Thiên Chúa yêu
thương tôi vô cùng. Nếu
không tin Thiên Chúa yêu
thương tôi vô cùng, tôi sẽ
lo lắng sợ sệt. Sợ thế lực này thế
lực khác, sợ ma sợ quỷ, v.v. Nếu tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, th́ ta không sợ, như
cảm nghiệm của Phaolô nơi Rm 8:28-39.
Nếu không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh, nếu cho ḿnh là nhất, nếu
không yêu
thương phục vụ anh em
như Đức Giêsu đă yêu thương phục
vụ và dạy bảo chúng ta, th́ chúng ta không thể
sống b́nh an tươi vui triển nở. Thiên Chúa toàn
năng, và yêu
thương tôi vô cùng, Ngài sẽ
làm mọi điều tốt đẹp cho tôi. Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n sợ ǵ
nữa? Chấp hết! Xin Thiên Chúa ban ơn để
mỗi người chúng ta biết và cảm nghiệm Thiên
Chúa yêu
thương chúng ta vô
cùng.
Tóm
lại, người thụ hướng có thể chia
sẻ trao đổi với người đồng hành
thiêng liêng những ǵ xảy tới cho họ, khi cầu
nguyện cũng như trong cuộc sống thường
ngày, để được soi sáng thêm hoặc
được hướng dẫn để nhận ra
thánh ư Thiên Chúa cho họ và rồi đem ra thực hành.
Xin chia sẻ vài trường hợp
cụ thể khi đồng hành thiêng liêng.
Không
sẵn sàng thực thi ư Thiên Chúa
Tôi đă giúp sinh viên làm Linh Thao 5 ngày
trọn (nếu tính cả ngày tới và ngày về là 7 ngày)
từ những năm 1991. Vào khoảng năm 1997, tôi
vẫn nhớ v́ được đánh động
nhiều, đă có 107 em sinh viên Linh Thao với pḥng gợi ư
cầu nguyện khá nhỏ tại nhà nghỉ dành cho du khách
tắm biển của ḍng MTGCQ tại Băi Dâu Vũng Tàu (lúc
đó c̣n khó khăn). Thời đó chưa có những
người đồng hành đi với, nên tôi đă cho
các bạn lượng giá ngày cầu nguyện qua vài câu
hỏi vào buổi tối. V́ ít giờ và nhiều sinh viên
Linh Thao, nên tôi chỉ gặp đồng hành
được ít sinh viên.
Tôi nhớ khoảng năm 1998, khi giúp
sinh viên Linh Thao, có một em nam sinh viên cầu nguyện
rất tốt, được an ủi nhiều. Tôi
cũng có kinh nghiệm, một người khi cầu
nguyện sốt sắng th́ sau đó thường[11] họ quyết định đi
tu. Thế nên với trường hợp này, sau khi em đă
chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện, tôi hỏi em khi
đồng hành: “Liệu em có nghĩ rằng Chúa mời
gọi em sống đời dâng hiến không?” Em trả
lời tôi không do dự: “Không, và giả như Chúa gọi
th́ con cũng không đi!” Cuộc gặp gỡ vẫn
diễn ra b́nh thường.
Một hai ngày sau tôi chủ
động gặp lại em, hỏi về việc cầu
nguyện của em. Em cho biết em không cầu nguyện
được. Tôi hỏi em không cầu nguyện
được từ khi nào v́ trước em vẫn
cầu nguyện rất tốt mà! Em cho biết từ khi
gặp tôi lần trước về th́ em không cầu
nguyện được nữa. Tôi cũng đă dịu
dàng hướng dẫn em nhiều.
Tôi nghĩ, có lẽ tại em không
sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi, nên em
không cầu nguyện được nữa. Để
cầu nguyện tốt, cần chúng ta phải sẵn sàng
làm theo tiếng Chúa mời gọi, dù Chúa muốn thế nào
đi nữa. Thiên Chúa quyền năng, không ǵ mà Thiên Chúa
không làm được, nhưng Ngài tôn trọng tự do mà
Ngài ban cho con người. Con người có thể từ
khước lời mời gọi của Thiên Chúa. Tuy
vậy, ngay cả khi con người từ khước
thánh ư Ngài, th́ Thiên Chúa vẫn yêu thương con
người.
Bị
tổn thương và bị cám dỗ không tha thứ
Khi Linh Thao, và cả trong cuộc
sống thường ngày, người tới đồng
hành thiêng liêng thường nói với người
hướng dẫn: “Con không cầu nguyện được.”
Và người hướng dẫn cũng thường
hỏi: “Sao vậy?” Có lần tôi được chia sẻ
và cuộc đối thoại như sau.
Trong mấy giờ cầu nguyện
vừa qua con thường bị chia trí về chị X
với chuyện trong quá khứ. Chị ta đă làm con
bị tổn thương; con đă tha thứ cho chị
rồi; thế nhưng trong vài lần cầu nguyện
mới đây con lại bị những h́nh ảnh quá
khứ đó trở về; con đă cố gắng
đuổi tư tưởng và h́nh ảnh đó nhưng …
nó không đi. Nó đi rồi nó trở lại. Phải
chăng trước con chưa tha thứ cho chị đó
thật? Bây giờ con phải làm ǵ?
Trước bạn đă tha thứ,
th́ lúc đó bạn đă tha thứ rồi. Không cần
bận tâm lúc trước ḿnh có tha thứ thật không. Lúc
trước ḿnh tha thứ, nhưng bây giờ nó vẫn có
thể trở lại, và đ̣i ḿnh phải sẵn sàng tha
thứ cho người đó lúc này. Lúc này, bạn có sẵn
sàng tha thứ cho người chị em đó không? Nếu
bạn sẵn sàng, là tốt rồi.
Có thể quan trọng lúc này, là bạn
cần biết tại sao chuyện đó lại xúc
phạm bạn? Nếu có thể, bạn cho biết
chuyện đó là ǵ? (Qua việc được kể
về chuyện này, người đồng hành thiêng liêng
có thể biết hơn về người thụ
hướng để hướng dẫn).
Thời điểm đó con có một
lầm lỗi, con cũng định nói với bề trên
về lỗi lầm này, nhưng người chị em này
lại nói với bề trên trước khi con nói, làm
bề trên đánh giá không tốt về con! Con bị
tổn thương, con giận chị ấy.
Vậy lỗi của chị ấy là
ǵ? V́ chị ấy nói với bề trên trước khi
bạn nói? Tại sao bạn bị tổn thương khi
người ta nói với bề trên về chuyện đó
trước khi bạn nói với bề trên? Nếu chị
ấy nói với bề trên về chuyện đó sau khi
bạn nói với bề trên, th́ bạn có bị tổn
thương không? Chuyện quan trọng với bạn
ở đây là chuyện ǵ? Bạn sợ bề trên đánh
giá bạn không như bạn muốn? Bạn nghĩ
nếu bạn nói trước, th́ bề trên nghĩ khác
nghĩ tốt về bạn?
Phải chăng, sâu xa mà nói, bạn
sợ bị bề trên đánh giá thấp? Phải chăng
bạn đă đặt nhận định, đánh giá
của người khác quá quan trọng, nên trong
trường hợp này bạn khổ và bị tổn
thương? Phải chăng chính quan niệm “người
khác đánh giá tốt về ḿnh là điều rất quan
trọng” làm bạn bị tổn thương trong
trường hợp này? Làm sao để bạn không
để cho “nhận xét của người khác về
bạn” chi phối bạn quá nhiều như vậy bây
giờ.
Với một nhận xét đánh giá
của người khác về bạn, bạn cần xem
bạn có cần chỉnh sửa điều ǵ không,
nhưng không để nó làm tổn thương bạn.
Chúa Giêsu không coi trọng lời khen tiếng chê. Ngài làm
việc lành (chữa bệnh, trừ quỷ, rao giảng)
nhưng vẫn có người vu cáo Ngài nhờ tướng
quỷ mà trừ quỷ, nói Ngài là người tội
lỗi… Ngài vẫn b́nh an. Ngài không đặt lời khen
tiếng chê quá quan trọng.
Ḿnh làm tổn thương ḿnh: với
cái nh́n sai lạc của ḿnh nên ḿnh bị tổn
thương. Khách quan mà nói, người chị em cũng
đâu có tội lỗi ǵ với ḿnh đâu. Họ đâu
có bịa chuyện nói xấu ḿnh! Họ chỉ “nói
trước” thôi. Nếu ḿnh đặt lời khen
tiếng chê quá quan trọng th́ ḿnh sẽ dễ bị
tổn thương v́ ḿnh đâu thể cấm
người khác nhận xét về ḿnh. Ḿnh không thể thay
đổi người ta. Ḿnh chỉ có thể thay
đổi ḿnh thôi.
Như vậy, không phải
người chị em làm tổn thương ḿnh và ḿnh không
tha thứ, mà tại ḿnh muốn ḿnh được đánh
giá tốt nhưng người khác làm điều mà ḿnh cho
là v́ vậy mà ḿnh bị đánh giá thấp, nên ḿnh bị
tổn thương. Cái gốc là ḿnh muốn ḿnh
được đánh giá cao. Ḿnh quá coi trọng lời khen
tiếng chê. Vậy, hăy xin cho ḿnh được ơn nên
giống Đức Giêsu, đặt Thiên Chúa là quan trọng
và trên hết, c̣n những điều khác th́ sao cũng
được. Nếu được ơn này, vấn
đề được giải quyết.
Không
cầu nguyện được v́ có quá nhiều lo lắng
bận tâm
Có một chị làm Linh Thao Trong
Cuộc Sống nhưng không cầu nguyện
được, buồn chán than trách và hỏi làm sao
để cầu nguyện được. Chị đă có
gia đ́nh và có cháu bé.
Chị nói chị cầu nguyện
không được, là sao? Phải chăng chị không có
giờ, phải chăm cháu bé nên bị chi phối khi
cầu nguyện? Chị cho biết tới giờ cầu
nguyện, chồng chị đă chăm cháu cho chị,
để chị có giờ và chị đă tới chỗ
tốt nhất trong nhà để cầu nguyện, nhưng
chị vẫn cầu nguyện không được.
Chị cho biết trong giờ cầu nguyện, chị chia
trí về bao nhiêu điều. Chị cố đuổi nó
đi nhưng nó lại tới.
Cụ thể chị bị chia trí
về những điều ǵ? Chị cho biết, trong hoàn
cảnh dịch viêm phổi cấp Covid-19 này, chị lo
lắng bao nhiêu chuyện: nếu dịch lâu th́ làm sao
sống v́ kinh tế không dư giả! Nếu một trong
hai người bị lây nhiễm th́ sao? Cha mẹ của
chị cũng lớn tuổi rồi, nếu bị
nhiễm th́ rất nguy hiểm đến tính mạng, v.v.
Muốn làm chủ t́nh h́nh, đó là
khuynh hướng b́nh thường của chúng ta, và đây
cũng có thể là cám dỗ. Để có thể b́nh an,
chúng ta cần tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta, những ǵ
Chúa để xảy ra cho chúng ta hay cho những
người thân yêu, th́ đó là điều tốt nhất
cho chúng ta. Sống lâu hơn, không biết có tốt hơn
không? Chỉ có Chúa biết. Ta phải sẵn sàng chấp
nhận tất cả những ǵ xảy ra cho ḿnh trong
niềm tin vào Thiên Chúa yêu thương ḿnh và những
người thân yêu của ḿnh. Chính v́ tin vào t́nh yêu của
Thiên Chúa đối với ḿnh và những người thân
yêu, mà ḿnh có thể phó thác tất cả cho Thiên Chúa, không
phải để Thiên Chúa làm theo ư ḿnh cho bằng ḿnh
phải sẵn sàng chấp nhận thánh ư Chúa cho ḿnh và
những người thân yêu của ḿnh. Chỉ khi chúng ta có
thái độ như vậy, chúng ta mới có thể
cầu nguyện được. Nếu thấy ḿnh
chưa tin vào Thiên Chúa yêu thương ḿnh, hoặc chưa
dám phó thác tất cả cho Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn nài xin
Chúa cho ḿnh cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh, và xin
ơn để ḿnh phó thác đời ḿnh và những
người thân yêu của ḿnh cho Thiên Chúa.
Những chia trí, lo lắng bận tâm
đó, là dấu chỉ cho thấy ḿnh chưa tin rằng
Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và ḿnh không dám phó thác tất
cả cho Thiên Chúa. Cần tin rằng Thiên Chúa yêu
thương ḿnh và những người ḿnh yêu
thương, hơn ḿnh yêu ḿnh và yêu họ.
Nhận
thức sai lệch về đời sống dâng hiến
Có một thầy học viên yêu
thương một d́ học viên học chung lớp.
Thầy yêu d́, nhưng d́ không đáp trả. Thầy
viết thư tỏ t́nh và thư bị lộ. Bề trên
bên d́ liên lạc với bề trên bên thầy, và bề trên
bên thầy cho thầy chọn lựa, phải chấm
dứt t́nh cảm này trước thời điểm
được xác định hoặc thầy phải
rời đời tu. Thầy vẫn muốn đi tu,
vậy người linh hướng phải hướng
dẫn thầy như thế nào?
Thứ nhất, thầy cần
phải xem Chúa có muốn thầy sống đời
sống dâng hiến không?
Thứ hai, thầy cần nhận thức đúng
đắn đời sống dâng hiến đ̣i hỏi ǵ.
Đi tu, không chỉ là không lập gia đ́nh mà c̣n là dành
trọn con tim cho Thiên Chúa để phục vụ anh
chị em ḿnh. Không thể có t́nh cảm riêng tư
“đặc biệt” đối với ai đó mà vẫn
đi tu được. Thứ ba, thầy cũng phải
tôn trọng tha nhân, không được quấy rối
họ nếu họ không chấp nhận t́nh yêu của
ḿnh. Tiến tŕnh giúp th́ ngược lại, đi từ
thứ ba tới thứ nhất.
Một khi giúp thầy có cái nh́n đúng
đắn về đời sống dâng hiến, cũng
như biết tôn trọng tha nhân và sự tự do của
họ, và b́nh tâm, th́ thầy có thể nhận ra ư của
Thiên Chúa về thầy, về bậc sống Chúa muốn
cho thầy. Và rồi thầy sẽ nhận ra có tiếp
tục ơn gọi hay không; nếu thầy thấy ḿnh
được gọi sống đời dâng hiến th́
thầy phải dứt bỏ t́nh cảm với d́ này;
nếu thầy thấy Chúa không gọi thầy sống đời
dâng hiến, th́ thầy vẫn phải tôn trọng d́ này
nếu d́ không chấp nhận t́nh cảm của thầy.
Giúp thầy này, không phải là giúp
để thầy tiếp tục đi tu, mà là giúp thầy
nhận ra tiếng Chúa đối với thầy, và
để thầy quảng đại đáp trả
tiếng Chúa mời gọi. Có thế, thầy mới có
thể sống b́nh an tươi vui triển nở hạnh
phúc.
Khổ
muốn chết v́ … không bỏ ḿnh
Có một chị đă lập gia
đ́nh cả gần 20 năm và hiện đang sống
trong gia đ́nh cùng với mẹ chồng. Chị có bất
đồng với mẹ chồng và những người
chị bên chồng, cảm thấy khổ đến
độ có lúc muốn chết, hiện không muốn
về nhà nữa v́ không muốn thấy mặt mẹ
chồng (lúc chị nói) …
Chị đặt câu hỏi: làm sao bây
giờ, làm sao để không khổ, liệu có thể không
về nhà (với chồng, con, và cả mẹ chồng
nữa) được không?
Nghe chị kể về những nguyên
nhân gây nên t́nh trạng hiện tại v́ thời gian
đầu (cả hơn mười năm đầu)
đâu có như vậy! Chị cũng nhận ra mẹ
chồng cũng khổ.
Chị đă mua nhà và muốn ở
riêng nhưng mẹ chồng không chịu; và v́ thế
chồng chị cũng không đồng ư. Nhà mua để
đó, và như vậy đă cho thuê v́ không thể ra “ở
riêng.” Đúng là đi không được, mà ở th́
khổ.
Tại sao thời đầu sống
chung với mẹ chồng được mà bây giờ
không được? Tại sao lúc đầu thấy
ổn mà bây giờ khổ khi sống với mẹ
chồng? Chị ta cũng thấy lỗi của ḿnh: mua
nhà khi chưa có sự đồng ư của chồng và
của mẹ chồng. Lư do mua nhà th́ chính đáng v́ nhà
đang ở quá chật, không đủ không gian cho các con
đang lớn và các cháu đang lớn mà phải ngủ
gần nhau…
Tôi cũng hỏi tại sao chị
không chia sẻ bận tâm này cho mẹ chồng mà chỉ
chia sẻ với chồng thôi? Nếu lư do chính đáng, th́
chắc mẹ chồng cũng đồng ư chứ?
Chị im lặng…
Ở vào t́nh trạng của chị
hiện tại, nếu Đức Giêsu ở trường
hợp này, Ngài phản ứng và cư xử ra sao? Nh́n
Đức Giêsu trên thập giá, và hỏi Ngài xem Ngài dạy
chị điều ǵ? Ngài dạy sao cố gắng làm
như vậy.
Một điều khác có thể làm.
Khi một người đang làm Linh Thao, những chia trí
tới khi đang cầu nguyện th́ phải đuổi
ngay chứ không dừng lại ở đó. Có thể nh́n
lại khi làm xét gẫm nhưng đang cầu nguyện th́
bỏ nó đi (áp dụng ư từ LT 33-35). Hơn nữa,
trong suốt ngày sống phải luôn nhớ Chúa đang
hiện diện với những đề tài cầu
nguyện; ngay cả khi không là giờ cầu nguyện,
những điều không thuộc về đề tài
cầu nguyện tới, th́ cũng phải cho nó đi (áp
dụng ư từ LT 78.130.206.229). V́ thế, những ǵ liên
quan tới mẹ chồng “làm ḿnh khổ,” th́ nên bỏ
đi, không cho những tư tưởng ấy ở
nơi tâm trí ḿnh, hăy “đuổi nó như đuổi tà.”
Khi làm hồi tâm xét ḿnh cuối ngày, có thể nh́n lại
những ǵ đến trong đầu mà ḿnh đă xua
đuổi, để biết ḿnh hơn và lắng nghe Chúa
mời gọi ḿnh làm ǵ. Cố gắng làm theo những ǵ
thấy Chúa mời gọi.
Không phải mọi vấn đề
chúng ta đều có câu trả lời ngay. Nhiều khi chúng
ta không biết; hăy nh́n Chúa Giêsu trên thập giá và hỏi Ngài:
“ở vào trường hợp con th́ Chúa làm ǵ? Xin Chúa
chỉ cho con, và ban sức cho con để con làm như Chúa
dạy con. Xin Chúa Thánh Thần giúp con.”
Tùy
tương quan với Thiên Chúa …
Một số người
tưởng rằng người đi tu lâu hay đă đi
Linh Thao nhiều lần th́ dễ cầu nguyện hơn
người đi Linh Thao lần đầu. Thật ra, có
những người đi Linh Thao lần đầu và ngay
cả c̣n trẻ như vừa tốt nghiệp trung
học phổ thông hay đang học đại học,
cũng có thể cầu nguyện sốt sắng và tốt
hơn cả những người đi Linh Thao nhiều
lần hay đi tu nhiều năm rồi.
Việc cầu nguyện dễ dàng hay
không, tùy thuộc được hướng dẫn
cầu nguyện một phần, nhưng chính yếu tùy
thuộc t́nh trạng đời sống thiêng liêng của
mỗi người. Nếu một người trẻ, có
đời sống đơn sơ và đạo
đức, không vướng bận quyến luyến
lệch lạc, không thù oán ai, tốt lành th́ những người
này, cứ b́nh thường, dễ dàng cầu nguyện cho
dù họ là người trẻ mới bắt đầu
suy gẫm hay chiêm niệm. Nếu một người
đi tu lâu rồi, hay đi Linh Thao nhiều lần
rồi, mà đời sống không nghiêm túc, để ḷng
thù oán, vướng bận quyến luyến lệch
lạc (như t́nh cảm, tiền bạc, địa
vị chức quyền) th́ vẫn khó cầu nguyện.
Những người này, khi cầu nguyện, thường
bị chi phối bởi những vướng mắc
lệch lạc của họ. Chỉ khi họ dứt khoát
với những lệch lạc, những vướng
bận sai lệch, trở lại với Chúa, th́ họ
mới cầu nguyện được thôi. Như vậy,
một người khó cầu nguyện cần xét ḿnh xem,
ḷng ḿnh với Chúa như thế nào, có chọn Thiên Chúa trên
hết không? Có sẵn sàng bỏ tất cả để
theo Chúa không? Những lệch lạc thường
được thấy qua những chia trí trong giờ
cầu nguyện.
Cho dù một người quá khứ có
thế nào đi nữa, nhưng họ dứt khoát trở
lại, th́ họ vẫn có thể cầu nguyện
được, v́ Thiên Chúa thương yêu người
tội lỗi vô cùng. Dĩ nhiên thường th́ họ
vẫn phải chịu ảnh hưởng và hậu
quả của đời sống trác táng của họ khi
xưa, trừ trượng hợp Chúa ban ơn đặc
biệt cho họ.
Đi tu lâu năm, đi Linh Thao
nhiều lần, không là yếu tố cần để
dễ dàng cầu nguyện, dễ dàng kết hiệp
với Thiên Chúa. Để dễ dàng cầu nguyện,
cần có đời sống thiện hảo, quảng
đại, sẵn sàng mở ḷng lắng nghe Thánh Thần;
và nếu quá khứ có lỗi lầm lệch lạc th́
người đó phải dốc ḷng trở lại
với Chúa.
Xin nghèo
và sỉ nhục khinh chê với Chúa
Có một số bạn làm Linh Thao
ngạc nhiên v́ thánh Inhaxiô dạy người ta xin
được nghèo với Chúa nghèo, bị sỉ nhục
khinh chê với Chúa bị sỉ nhục khinh chê (LT 98.
146-147.167-168). Một số bạn phát biểu: “nghèo” th́ con
có thể xin nhưng “sỉ nhục và khinh chê” th́ thật
sự con không dám v́ kinh nghiệm cho thấy ḿnh không thể
chịu nổi.
Đầu tiên chúng ta cần biết
chính Chúa Giêsu đă dạy nghèo là mối phúc: nghèo thực
(Lc 6:20.24) và tinh thần nghèo (Mt 5:3). Chính Chúa Giêsu đă
sống nghèo và chết trần trụi ô nhục trên
thập giá. Chúa không chỉ dạy nhưng Ngài đă
sống điều Ngài dạy. Người có tinh thần
nghèo khó, là người không bám víu vào tiền bạc hay
thụ tạo nào đó mà chỉ bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.
Theo thánh Inhaxiô, ác quỷ cám dỗ
người ta ham muốn tiền bạc, danh vọng,
để rồi dẫn người ta tới kiêu ngạo
(LT 142). Đề cao và ham muốn của cải tiền
bạc, danh vọng địa vị, làm nhiều
người mặc cảm tự ti và sầu khổ.
Ngược lại, nếu ḿnh sẵn sàng chấp
nhận, và hơn nữa, muốn nghèo và sỉ nhục
với Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục, th́ khi
bị người ta coi thường, và thậm chí bị
lăng mạ, ḿnh cũng không dễ bị tổn
thương. Nếu một người được
ơn yêu Chúa đến độ xin được nghèo với
Chúa nghèo, bị sỉ nhục với Chúa bị sỉ
nhục (LT 167.168) th́ họ đă được ơn
rất lớn.
Xin được nghèo và sỉ
nhục khinh chê cùng với Đức Giêsu nghèo và bị
sỉ nhục khinh chê, không phải v́ ḿnh thích nghèo và bị
sỉ nhục nhưng v́ t́nh yêu đối với
Đức Giêsu. Đây cũng là thái độ ao
ước nên giống Ngôi Lời tự hủy qua biến
cố nhập thể, tự hủy qua việc vâng lời
chịu chết, và chết ô nhục trên thập giá (Pl 2:5-11).
Với người được ơn này, họ là
người tự do như Đức Giêsu- con
người tự do.
Chắc chắn, nếu “nghèo và sỉ
nhục khinh chê” xảy ra mà không tốt cho ḿnh th́ ngay
cả ḿnh xin Thiên Chúa cũng không ban v́ Thiên Chúa yêu
thương ḿnh, Ngài chỉ ban điều tốt cho chúng
ta thôi. Chỉ những ai tin tuyệt đối vào Thiên Chúa
yêu thương, th́ mới dám xin điều này thôi.
Thánh Inhaxiô không ép buộc, Ngài nói
nếu ai mong ước muốn yêu Chúa Giêsu ở mức
độ thứ ba th́ làm ba cuộc tâm sự với
Đức Mẹ, với Chúa Giêsu, và với Chúa Cha
để được ơn này (LT 168). Ai
được ơn này, là dấu chỉ cho thấy
người đó làm Linh Thao đạt yêu cầu.
Chuyện
ǵ cũng biết nhưng … sống dở
Có một số người kiến
thức rộng, biết nhiều, chuyện ǵ cũng
biết cũng nói được, nhưng sống lại
không được như họ nói. Họ biết
nhưng không thực hành. Hiện tượng này cũng có
thời Đức Giêsu: “1 Bấy
giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn
đệ Người rằng:2 "Các kinh sư và các
người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng
dạy.3 Vậy, tất cả những ǵ
họ nói, anh em hăy làm, hăy giữ, c̣n những việc
họ làm, th́ đừng có làm theo, v́ họ nói mà không làm”
(Mt 23:1-3).
Cái biết của những
người này không là cái biết thật nhưng là lập
lại một mệnh đề đúng do thuộc ḷng.
“Nói như vẹt.” Con vẹt được dạy
cũng có thể lập lại một lời hay. Một
người ngoại đạo vẫn có thể nói
rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa nhưng họ không tin,
không cho điều họ nói là đúng thật, không
sống điều họ nói. Saul đă nghe và có thể
đă thuộc ḷng câu “Đức Giêsu đă phục sinh,
Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa” nhưng Saul
không biết đó là thực nên Ngài mới giữ áo cho
những người ném đá Têphanô (Cv 7:58); chỉ trên
đường đi Damas bắt bớ các Kitô hữu mà
Phaolô mới nhận biết “Đức Giêsu đă phục
sinh, Đức Giêsu Phục Sinh ngự bên hữu Thiên Chúa,
Ngài là Thiên Chúa.”
Một người nghe một
điều ǵ đó nhiều lần, thuộc ḷng câu hay
mệnh đề nào đó, nói trôi chảy hoặc dạy
về điều ǵ đó, chưa chắc người
đó đă biết thực. Họ biết thực,
nếu họ sống điều họ nói. Thư thứ
nhất của thánh Gioan viết: “7 Anh em thân mến,
chúng ta hăy yêu thương nhau, v́ t́nh yêu bắt nguồn
từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, th́ đă
được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy
biết Thiên Chúa. 8 Ai không yêu thương, th́ không
biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu” (1Ga 4:7-8).
Không yêu thương th́ không biết Thiên
Chúa! Không sống điều ḿnh biết th́ không biết
thực. “Đức tin không có việc làm là đức tin
chết” (Gc 2:17).
Những người như vậy là
những người đáng thương. Họ cần
biết họ, họ cần sống điều họ
nói. Những người này thường khá kiêu ngạo,
họ cho rằng họ không cần học nữa v́
họ biết rồi. Giúp những người này thật
khó. Người đồng hành thiêng liêng được
mời gọi khiêm tốn, kiên nhẫn, và cầu nguyện
cho họ.
Đồng hành thiêng liêng
được tŕnh bày ở tập sách này là đồng
hành thiêng liêng, đồng hành theo Thánh Thần, theo
đức tin Kitô giáo. Có thể có người muốn được
đồng hành tâm lư chứ không đồng hành thiêng liêng.
Dĩ nhiên mỗi người có tự do để
chọn theo điều họ nghĩ tốt hơn cho
họ; hơn nữa những người có vấn
đề tâm lư, đặc biệt tâm bệnh, th́ cần
được đồng hành tâm lư hay tâm lư trị liệu
chứ không phải đồng hành thiêng liêng.
Đồng hành thiêng liêng là một
nghệ thuật và ơn gọi. Thiên Chúa mời gọi
người đồng hành thiêng liêng cộng tác với
Ngài, đại diện Thiên Chúa để giúp đỡ tha
nhân, giúp con người thời đại cảm
nghiệm Thiên Chúa yêu thương và muốn họ sống
b́nh an tươi vui triển nở hạnh phúc.
Thật tuyệt khi được
tiếp xúc với con người, giúp họ mỗi ngày
tươi đẹp hơn. Yêu thương, tôn trọng,
lắng nghe người thụ hướng, để
hiểu và nâng đỡ họ, đồng thời
nhận ra những ǵ Thiên Chúa mời gọi họ,
để giúp họ nhận ra Ư Chúa và thực hành, và
như vậy họ sẽ triển nở và hạnh phúc
hơn. Mỗi người chúng ta đều có thể
trở nên tuyệt vời, tuyệt vời như
Đức Mẹ như Đức Giêsu; đó cũng là
thánh ư Thiên Chúa về mỗi người chúng ta.
Người linh hướng hay
đồng hành thiêng liêng là người đại diện
Thiên Chúa để đồng hành giúp đỡ
người được sai tới với ḿnh, nên
họ càng phải nên giống Thiên Chúa mỗi ngày hơn,
để có thể đối xử với người
thụ hướng như Thiên Chúa muốn. Khi hoàn tất
công việc, người đồng hành thiêng liêng cần
có tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa đă dùng ḿnh để
phục vụ Ngài, và ư thức “con chỉ là đầy
tớ vô dụng, đă chỉ làm việc bổn phận
Chúa trao” (Lc 17:10).
Tất cả cho Vinh Danh Chúa Hơn
AD MAJOREM DEI GLORIAM
Barry, William A. & Connolly, William J. The
Practice of Spiritual Direction. New York: Seabury, 1982. Bản
dịch từ ấn bản lần hai năm 2009: Thực
Hành Linh Hướng. Dịch giả: Trần Quốc Anh
& Giang Trung Kiên. Sài G̣n: Tủ sách Linh Đạo I-nhă, 2013.
Fleming, David L., S.J. Ed. The Christian
Ministry of Spiritual Direction. 2nd Ed. St Louis, MO:
Review for Religious, 1996.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The
Discernment of Spirits. New York: Crossroad books, 2005.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual
Consolation. New York: Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. A Handbook
for Spiritual Directors. New York: Crossroad, 2017
Gioan Phaolô II. Pastores Dabo Vobis.
Vatican: Vatican Press, 1992.
Houdek, Frank J., S.J. Guided by the
Spirit: A Jesuit Perspective on Spiritual Direction. Chicago: Loyola Press,
1996.
Phạm Thanh Liêm, S.J. Để
Tự Do và Hạnh Phúc Hơn. Sài G̣n: Lưu hành nội
bộ, 1994
Phạm Thanh Liêm, S.J. Linh Thao Trong
Cuộc Sống. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1984
Phạm Thanh Liêm, S.J. Bạn
Đồng Hành. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1997
Phạm Thanh Liêm, S.J. Hiện
Tại Mới Quan Trọng. Sài G̣n: Lưu hành nội
bộ, 1995
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh
Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Thương Xót: tài
liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh
hướng. Vatican: Vatican Press, 2011. Bản dịch
của Phêrô Đặng Xuân Thành. Hà Nội: Lưu hành
nội bộ, 2012.
Toner, Jules J., S.J. Discernment of
Spirits. St Louis, Missouri: Institute of Jesuit Sources, 1982.
AD MAJOREM DEI GLORIAM
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
[1] Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh
Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Chúa Thương Xót (Vatican:
Vatican Press 2011), số 64.
[2] Barry, William A. & Connolly, William
J., Thực Hành Linh Hướng, bản dịch
của Trần Quốc Anh và Giang Trung Kiên theo ấn bản
2009, (Sài G̣n: Linh Đạo Inhă, 2013), trang
22-23.
[3] Fleming, David L., S.J., “Spiritual
Direction: Charism and Ministry,” trong The Christian Ministry
of Spiritual Direction, ed. David L. Fleming (St. Louis, MO: 1996),
trg 6
[4] Gioan Phaolô II, Pastores Dabo
Vobis (Vatican, 1992), số 40.
[5] Thánh Bộ Giáo Sĩ, Linh
Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Chúa Thương Xót (Vatican:
Vatican Press, 2011).
[6] Các vị Bề Trên …. phải đặc biệt để cho họ được tự do cần thiết trong việc xưng tội và linh hướng (PC 14).
GL 630 §1 Các Bề Trên hăy nh́n nhận cho các phần tử sự tự do thích đáng trong việc lănh bí tích thống hối và linh hướng (direction of conscience), miễn là bảo toàn kỷ luật của ḍng.
[7] Các Bề Trên
cũng có nhiệm vụ chọn lựa kỹ lưỡng và chuẩn bị cẩn thận những vị Giám Đốc, Linh Hướng và Giáo Sư (PC 18).
[8] GL 239 §2 Trong mỗi chủng viện, ít ra phải có một linh giám (spiritual director). Tuy nhiên, các
chủng sinh được tự do lui tới với các linh mục khác đă được giám mục trạch cử vào trách vụ đó.
[9] GL 240 §4 Các chủng sinh hăy
năng xưng tội thường xuyên; ngoài ra, nên khuyến khích mỗi chủng sinh hăy có một cha linh giám (director of spiriatual life) do ḿnh lựa chọn và có thể tin cậy cởi mở lương tâm với người.
[10] Một tu sĩ, theo giáo luật,
có tự do để tới với người linh
hướng, nhưng bề trên có nhiệm vụ phải
t́m những người xứng đáng để
người tu sĩ thuộc quyền tới với
họ để linh hướng (PC 14.18; GL 630 §1).
[11] Không luôn luôn là vậy.
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân
Định Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như Thấy Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh Thao Mười Ngày Linh Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng Tên