HOME LỜI CHÚA ĐỨC
TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh
Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân Định
Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như
Thấy Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh
Thao Mười Ngày Linh
Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng
Tên
Phân Định Thiêng Liêng
(thực hành)
PHÂN
ĐỊNH THIÊNG LIÊNG bản
PDF
PHÂN ĐỊNH THIÊNG LIÊNG
THEO
THÁNH INHAXIÔ LOYOLA
I. TRI THỨC- CHÂN LƯ- THỰC
TẠI
c. Ngọn
đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
II. THIÊN CHÚA VÀ THÁNH Ư THIÊN CHÚA
2. Thập
giới tỏ lộ ư muốn của Thiên Chúa
3. Lời
Nhập Thể mặc khải Thiên Chúa và thánh ư của Ngài
b. Tám mối
phúc, đặc biệt, mối phúc nghèo và sỉ nhục
4. Thánh
Thần ở với và dạy dỗ con người
III. PHÂN ĐỊNH ĐỂ
BIẾT THÁNH Ư THIÊN CHÚA
2. Phân
biệt lành dữ là một ơn
3. Phân
định là việc cần thiết
1. Chọn
Thiên Chúa trên hết (AMDG & B́nh Tâm)
2. Tội
nhân được Thiên Chúa yêu thương tha thứ
3.
Được Chúa mời gọi cộng tác cứu
độ con người
4. Chọn
Đức Giêsu là lư tưởng sống
a. Hiểu
Chúa hơn, để yêu Chúa hơn và theo Chúa hơn
b.
Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn
a. Chọn
nên giống Đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục
b. Yêu như
Đức Giêsu: yêu đến cùng
6. B́nh an
tươi vui triển nở hạnh phúc
7. Tất
cả là hồng ân Thiên Chúa ban
c. Ư thức
Thiên Chúa hiện diện và ở với Chúa
d. Cầu
nguyện để trở nên một với Thiên Chúa
e. Cầu
nguyện chính yếu là tâm sự
2. Xét gẫm
như phân định thiêng liêng
c. Những
câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm
d. Cầu
nguyện không được tốt hay bị sa sút
e. Tại sao
tôi bị cám dỗ nhiều về điều này
3. Hồi tâm
xét ḿnh như phân định thiêng liêng
a. Các
bước gợi ư giúp hồi tâm xét ḿnh
b. Cảm
tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu
c. Bắt
đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn
d. Cầu
nguyện ngắn dựa vào chính đời sống
a. Lựa
chọn theo thánh Inhaxiô
b. Điều
kiện để làm việc lựa chọn tốt
d. Dấu
chỉ việc lựa chọn được làm đúng
b. Cộng
tác với Chúa để giúp con người
c. Phân
định việc tông đồ ưu tiên
6. Phân
định chung, phân định cộng đoàn
Biên bản
cuộc nghị luận về việc thành lập ḍng Giêsu
Phân
Định Chung (Arturo Sosa, SJ)
ĐHTL Đồng
Hành Thiêng Liêng
LH Linh
Hướng
LT Sách
Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola
PĐTL Phân
Định Thiêng Liêng
TT Tự
Thuật (của thánh Inhaxiô)
Các chữ viết tắt tên sách Kinh Thánh
theo bản dịch của Các Giờ Kinh
Phụng Vụ
Các chữ viết tắt của Công Đồng
Chung Vaticanô II
theo bản Latin.
Trích đoạn Kinh Thánh từ bản dịch
của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc từ
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng vụ.
Phân định thiêng liêng để nhận
biết thánh ư Thiên Chúa. Sách Các Vua quyển thứ hai (2V
22:8-13; 23:1-3) cho thấy chính tư tế và một số
người đă giúp vua Giôsigia nhận ra thánh ư Thiên Chúa.
Đức Giêsu trong Tin Mừng Matthêu (Mt 7:15-20) cho thấy
có thể nhận ra tiên tri giả qua phân định: xem
quả biết cây. Tiên tri giả lấy lời của ḿnh
và nói với người khác rằng đó là Lời Chúa (Gr
27:1-28:17). Tiên tri giả luôn có “Lời Chúa” cho những
điều họ muốn; c̣n tiên tri thật th́ phải
hỏi Chúa, Chúa nói th́ vị đó biết, Chúa không nói hay
chưa nói, th́ vị tiên tri đó không biết hay chưa
biết.
Phân định thiêng liêng, là điều
người ta đă làm từ ngàn xưa. Ở đây, phân
định thiêng liêng được giới hạn như
phân định thiêng liêng theo thánh Inhaxiô (1491-1556). Việc
phân định thiêng liêng[1] (spiritual discernment) gồm
cả việc phân định các thần (discernment of
spirits) và phân định ư Chúa (discernment of God’s will).
Thánh Inhaxiô nói về phân định các thần
trong xét gẫm sau mỗi lần cầu nguyện (LT 77),
về phân định ơn gọi (để nhận ra
Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào) vào cuối
tuần II của Linh Thao (LT 169-188), về phân định
thiêng liêng (nhằm nhận ra ư muốn của Thiên Chúa)
mỗi ngày trong những lần hồi tâm xét ḿnh (LT
43). Phân định Inhă cũng được thực
hiện khi làm cải thiện đời sống,
để biết ḿnh cần làm ǵ và làm như thế nào
(LT 189).
Phân định thiêng liêng nhằm nhận ra và
thực thi thánh ư Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ trong
trường hợp này? Thiên Chúa muốn mọi
người được cứu độ và nhận
biết chân lư (1Tm 2:4): tôi phải làm ǵ để b́nh an,
tươi vui, triển nở và hạnh phúc như Thiên Chúa
muốn? Phân định bậc sống hay ơn gọi:
Thiên Chúa muốn tôi sống bậc sống nào? Thiên Chúa
muốn tôi đi tu hay lập gia đ́nh?
Việc phân định ơn gọi để
nhận ra ư Chúa, được thực hiện chính
yếu trên b́nh diện cá nhân, và có thể cả trên b́nh
diện tập thể và cộng đoàn. Một
người có thể nhận ra Ư Chúa về ḿnh nhưng
họ vẫn tự do để thực hiện hay không.
Anh nhà giầu được Chúa mời bán bỏ tất
cả để theo Chúa nhưng anh ta không làm (Mc 10:21-22).
Thánh Phaolô và Matthêu nhận ra tiếng Chúa gọi và đă
đi theo Ngài (Mt 9:9; Cv 9:1-25; LT 175). Thánh Inhaxiô và các
bạn của Ngài đă làm phân định chung (tập
thể) để nhận ra xem Chúa có muốn họ
trở thành một ḍng hay không. Điều này đă
được thánh Inhaxiô và các bạn thực hiện vào
mùa chay năm 1539 (xem phần Phụ Lục).
Để có thể làm phân định ư Chúa,
cũng cần phải có thái độ nội tâm nào đó.
Không phải ai cũng làm trọn Linh Thao được (LT
18). Và như vậy, không phải ai cũng làm việc
chọn lựa bậc sống đúng đắn
được. Vậy đâu là điều kiện
để một người có thể làm Linh Thao và có
thể làm chọn lựa? Để làm Linh Thao,
người đó phải có ḷng khao khát trở nên tốt
hơn (LT 18) và quảng đại (LT 5). Để làm
chọn lựa bậc sống, theo thánh Inhaxiô trong Linh Thao,
người đó phải làm Linh Thao đạt yêu cầu.
Đó là lư do tại sao việc chọn lựa bậc
sống được đặt ở cuối tuần II
của Linh Thao. Để có thể làm chọn lựa
bậc sống cách đúng đắn và chính xác,
người đó cần nhận biết ḿnh là tội nhân
nhưng được Thiên Chúa yêu thương tha thứ
(LT 45-72), được Chúa mời gọi và họ sẵn
sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi (LT 97-98), mong
ước nên giống Đức Giêsu (LT 104), sẵn sàng
sống nghèo và chấp nhận sỉ nhục khinh chê (LT
136-147), sẵn sàng bỏ quyến luyến lệch lạc để
theo ư Thiên Chúa (LT 149-156). B́nh tâm là thái độ không thể
thiếu để có thể làm chọn lựa cách đúng
đắn. B́nh tâm là thái độ chọn Thiên Chúa và ư
định của Ngài trên tất cả, c̣n những
điều khác th́ sao cũng được (LT 23).
Một số từ được dùng
để dịch chữ discernment/discernement như biện
phân/phân biệt/biện biệt/phân biện/phân
định/nhận định. Những từ ngữ này
thường là từ Hán Việt như chúng ta thấy:
biện biệt (辨別), phân biệt (分別), phân định (分定), phân biện (分辨). Xin được chọn chữ phân
định để dịch chữ discernment/discernement/分定.
Trong giáo tŕnh Phân Định Thiêng Liêng này,
đầu tiên sẽ bàn sơ qua về tương quan
giữa Biết, Chân Lư, và Sự Thật (I), rồi về
Thiên Chúa và Thánh Ư Ngài (II), kế tiếp về Phân
Định để Biết Thánh Ư Thiên Chúa (III), sau đó
sẽ xem Linh Đạo Inhă (IV) như một con
đường giúp ta biết và đến với Thiên
Chúa, rồi cuối cùng sẽ xem Phân Định Thiêng Liêng
như việc Thực Hành Linh Đạo Inhă (V). Cuối
cùng thêm phần phụ lục với tài liệu về phân
định chung của Inhaxiô và các bạn đầu tiên
về thành lập Ḍng Giêsu (mùa chay 1539), và tài liệu về
phân định chung của cha bề trên cả Ḍng Tên Arturo
Sosa SJ (27/09/2017).
Tri thức chi phối hành động, cung cách
cư xử, và thái độ sống của mỗi
người. Nó cũng ảnh hưởng tới cảm
nhận hạnh phúc của con người.
Phân định thiêng liêng nhằm nhận biết
thánh ư Thiên Chúa và thực thi Ư Ngài.
V́ con người, tạo vật nhờ Thiên Chúa
mà hiện hữu, có lư trí và ư muốn, nên Đấng
Tạo Hóa là hiện hữu tuyệt vời hơn con
người vô cùng, không chỉ có lư trí và ư muốn, mà c̣n là
nguồn Chân Thiện Mỹ.
Con người có thể biết Thiên Chúa và ư
định của Ngài. Qua vũ trụ vạn vật, qua
con người là tạo vật yêu thương, con
người nhận biết Thiên Chúa như Đấng
tự hữu, trọn lành, toàn tri, tuyệt mỹ. Thiên
Chúa là Đấng yêu thương con người. V́ yêu thương,
Ngài muốn tỏ lộ ư muốn của Ngài cho con
người biết.
Con người diễn tả tri thức/phán
đoán của ḿnh bằng lời qua những mệnh
đề phát biểu.
Biết là hành vi của chủ thể trở
về với chính ḿnh một khi đă hiện diện
nơi khách thể. Biết cũng là từ ngữ
được dùng để chỉ kiến thức
một người sở đắc khi tương tác
với vạn sự vạn vật. Biết là một
khả năng của con người. Con người có
thể biết vũ trụ vạn vật, biết ḿnh, và
biết Thiên Chúa.
Khi con người tra vấn về sự
hiện hữu của Thiên Chúa, hàm chứa con người
có khả năng biết Thiên Chúa, ít là biết Thiên Chúa
hiện hữu. Khi con người biết ḿnh giới
hạn, biết ḿnh có khả năng biết, biết ḿnh
đang yêu, hàm chứa đă biết Thiên Chúa là Đấng
vô hạn, Đấng toàn tri, Đấng yêu thương,
v.v.
Biết không là có cái ǵ của đối
tượng biết nơi chủ thể biết.
Những h́nh ảnh về khách thể mà chủ thể
biết vẫn là của chủ thể.
Karl Rahner[2] giải thích quan
điểm của thánh Thomas Aquinô: “Trong điều kiện
tại thế này, biết là hành vi chủ thể trở
về với chính ḿnh khi đă hiện diện nơi tha
thể.[3]”
Hành vi biết được thực hiện qua
phán đoán. Chẳng hạn, có cái ǵ đó. Đó là cái bàn.
Cái bàn này màu xanh. Không có phán đoán, không có đúng sai.
Đúng sai, là thuộc tính của phán đoán.
Câu nói “anh sai rồi” chưa chính xác. Chính xác
phải nói: “phán đoán của anh về điều đó
sai.”
Tôi biết Thiên Chúa là t́nh yêu, Thiên Chúa yêu
thương con người.
Tôi không thể cho anh tri thức đó. Không
phải anh học thuộc mệnh đề đó, là anh
biết. Tôi có thể chia sẻ về Thiên Chúa là t́nh yêu
như tôi biết và cảm nghiệm; nhưng nếu anh
chưa cảm thấy th́ anh vẫn chưa biết (Thiên
Chúa là t́nh yêu, là Đấng yêu thương anh vô cùng). “Ai yêu
thương th́ biết Thiên Chúa, ai không yêu thương th́
không biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu” (1Ga 4:7-8).
Tôi biết Thiên Chúa. Tri thức này là của tôi,
thuộc về tôi. Cái biết của tôi, không là cái biết
của anh, không là Thiên Chúa. Tri thức tôi có là của tôi,
thuộc về tôi. Kho tàng đức tin, xét như là
những mệnh đề đúng, những chân lư, có
thể truyền đạt.
Tôi biết Thiên Chúa nhưng cái biết của tôi
không là Thiên Chúa. Cái biết của tôi là của tôi.
Tri thức làm tôi có giá trị v́ nó cũng là
tôi. Nó làm tôi là tôi. Nó là giá trị của tôi.
Chủ thể biết và khách thể biết
thường không là một. Chẳng hạn tôi biết anh,
tôi biết Thiên Chúa; nhưng không phải v́ vậy mà tôi là
anh hoặc anh thuộc về tôi. Cũng tương tự
vậy khi nói tôi biết Thiên Chúa.
Tôi biết. Cái biết của tôi, thuộc về
tôi. Mỗi người biết khác nhau. Anh không thể cho
tôi cái biết của anh. Cái biết của anh là của
anh. Anh có thể giải thích, giúp tôi biết. Và một khi
tôi biết, là tôi biết, là của tôi. Tri thức của
mỗi người là của mỗi người, không
thể cho, không thể mất. Có thể giúp người
khác có, nhưng ḿnh không mất, và cái người khác
biết là của họ, không là của ḿnh.
Tin là từ ngữ có nhiều nghĩa.
Tin có nghĩa như ư kiến, và có nghĩa như
biết nhưng không có sự chắc chắn khách quan.
Chẳng hạn tôi tin chiều nay trời mưa, tôi tin
đội bóng A sẽ thắng đội bóng B trong
cuộc đấu chiều nay. Sở dĩ nói tin như ư
kiến không có sự chắc chắn khách quan v́ có thể
có những người khác không nghĩ như tôi.
Tin cũng có nghĩa là biết với sự
chắc chắn chủ quan tuyệt đối. Chẳng
hạn tin vũ trụ vạn vật như giác quan
cảm nhận, hiện hữu thật (những
người theo chủ thuyết hoài nghi không chấp
nhận như vậy), tin vũ trụ vạn vật có
liên hệ hỗ tương hữu cơ với nhau nên lư
trí có thể biết những định luật chi
phối vũ trụ vạn vật, nên lời diễn
đạt tri thức. Những người hữu
thần tin Thiên Chúa hiện hữu cũng có sự chắc
chắn tuyệt đối như vậy.
Tin có đối tượng đặc biệt
là ngôi vị. Hai anh chị yêu nhau, tin nhau, nên lập gia
đ́nh với nhau tuy dù họ biết người bạn
ḿnh là một hữu thể tự do, có thể thay
đổi, nhưng họ tin và họ thề hứa chung
thủy với nhau trọn đời. Tin nhau, nên biết
nhau.
Có cái biết dựa trên cái biết của
người khác. Kinh nghiệm của một người
với Tuyệt Đối, hay với ai đó (ngôi vị
nào đó), thuộc về cái biết của người
khác. Nếu tôi tin vào người đó, th́ tôi biết;
nếu tôi không tin, th́ tôi không biết. Lấy thí dụ kinh
nghiệm với Chúa Phục Sinh của các tông đồ.
Hôm nay chúng ta không thấy Đức Giêsu Phục Sinh,
nhưng nếu chúng ta tin vào các tông đồ, chúng ta
nhận biết Đức Giêsu đă phục sinh. Đây
cũng được gọi là biết do tin. Nhờ tin mà
biết. Chúng ta biết bánh rượu trong Thánh Lễ sau
truyền phép, là Ḿnh và Máu Đức Giêsu. Cái biết này
chỉ có khi người ta tin Đức Giêsu là Thiên Chúa
Nhập Thể.
Nhờ ánh sáng, con mắt (tôi) nhận ra sự
vật; qua vạn sự vạn vật và các biến
cố như lời, lư trí (tôi) nhận biết Thiên Chúa. Qua
vũ trụ vạn vật, tôi nhận biết Thiên Chúa là
Đấng tự hữu, thiện hảo, tuyệt
mỹ, toàn tri toàn năng. Cũng vậy, nhờ tin vào các
tông đồ, tin vào Đức Giêsu, tôi nhận biết
Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, nhận biết bánh rượu sau
truyền phép là Ḿnh Máu Đức Giêsu Phục Sinh.
Thiên Chúa mặc khải chính Ngài qua vũ trụ
vạn vật, qua mặc khải tự nhiên. Qua việc
can thiệp vào ḍng lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa cũng
mặc khải cách đặc biệt cho dân Do Thái, và qua dân
Do Thái cho con người. Thiên Chúa cũng mặc khải
chính Ngài qua những con người có tương quan
với Ngài một cách đặc biệt, đây là mặc
khải thần bí huyền nhiệm.
Tin không chỉ là hành vi của lư trí mà c̣n là hành vi
của ư chí nữa. Tin xét như đối tượng
biết, là kho tàng chân lư, kho tàng đức tin, những
điều chúng ta tin/biết là đúng, được
Thiên Chúa dạy bảo qua Giáo Hội. Tin xét như hành vi
nhân linh, có đối tượng là ngôi vị mà chúng ta tin
tưởng (ngôi vị nhân linh) hay phó thác tuyệt
đối (Thiên Chúa).
Lời, theo tiếng Hy Lạp, vừa có nghĩa
là lời vừa có nghĩa là lư trí. Vạn sự vạn
vật như lời, qua đó, lư trí biết. Một hành vi
tự do luôn hàm chứa lư trí và ư chí. Không có lư trí, không có tri
thức, và như vậy không có tự do.
Tri thức, luôn hàm chứa lư trí. Không có tri
thức nếu không có lư trí. Không có lư trí, người ta
không biết được. Tin cũng là biết, nhưng
không chỉ là hành vi của lư trí, nhưng của ư chí
nữa. Không có lư trí, cũng không thể tin.
Ngũ quan, giúp con người giao tiếp với
thực tại. Với những kinh nghiệm, qua lư trí, con
người biết những định luật chi
phối vạn vật tự nhiên. Với vũ trụ
vạn vật như lời, dấu chỉ, người
ta nhận biết Thiên Chúa.
Con người biết Thiên Chúa
qua/nhờ/bằng lư trí của ḿnh. Không nhờ lư trí, con
người không có tri thức, và không biết Thiên Chúa.
Để có hành vi biết, hàm chứa phải có
chủ thể biết, đối tượng biết, và
lời diễn tả thực tại. Hành vi biết
cũng hàm chứa chủ thể biết, lời diễn
tả thực tại, và chính thực tại có tương
quan hữu cơ với nhau.
Đứng trước một thực tại,
tôi có thể biết về thực tại, và tôi dùng
lời diễn tả tri thức. Thực tại có thể
ở ngoài tôi, chẳng hạn một cảnh đẹp mà
tôi đă thăm viếng, nhưng tri thức là của tôi,
là một với tôi. Tôi có thể diễn tả về
thực tại đó bằng lời (nói) hoặc bằng
viết ra. Lời được viết ra là của tôi,
và một khi được viết ra cũng có thể
độc lập với tôi.
Tôi biết, và tôi dùng lời để diễn
tả tri thức của tôi; tuy nhiên kinh nghiệm cho chúng ta
thấy nhiều khi lời không diễn tả trọn
vẹn cái biết của chúng ta. Lời của tôi diễn
tả tri thức của tôi về thực tại, nhưng
tri thức và lời của tôi về thực tại
cũng không trùng nhất với nhau.
Qua lời về thực tại của ai đó,
tôi có thể biết thực tại. Chẳng hạn
những bài viết về Đức Giáo Hoàng, giúp tôi
biết về Đức Giáo Hoàng. Lời giúp chủ
thể biết về thực tại qua những lời
về thực tại đó.
Lời có thể là vạn sự vạn vật,
như dấu chỉ, để một người có
thể nhận ra Đấng tạo hóa. Vạn sự
vạn vật có thể là dấu chỉ là lời
để một người nhận ra Thiên Chúa (hiện
hữu). Đứng trước con người yêu
thương nhau, người ta có thể nhận ra Thiên
Chúa là Đấng yêu thương. Con người thông minh,
người ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng toàn tri, v.v…
Lời giúp tôi biết về thực tại.
Lời diễn tả tri thức qua phán đoán.
Lời không trùng nhất với tri thức. Tri thức không
trùng nhất với thực tại (trừ phi Lời Thiên
Chúa là chính Thiên Chúa).
Lời của người ta về tôi không là tôi.
Tôi có thể bị ảnh hưởng bởi lời
của người ta.
Người ta có thể có phán đoán về ai
đó. Đó là phán đoán của người ta; và phán
đoán/tri thức này có thể đúng hay sai. Tri thức
của người ta về tôi không là một với tôi.
Lời về thực tại và thực tại, là hai
hiện hữu. Người ta nói không hay không tốt
về tôi, không có nghĩa là tôi không tốt.
Chân lư và sự thật được nhiều
người hiểu đồng nghĩa với nhau, trùng
khít với nhau, là một; tuy nhiên chân lư là thuộc tính
của một phán đoán, của một mệnh
đề. Phán đoán là hữu thể của lư trí. Sự
thật là thực tại, là hữu thể độc
lập với lư trí của con người.
Phán đoán là tri thức, được diễn
tả bằng lời, bằng mệnh đề. Một
phán đoán có thể đúng hoặc sai. Chân lư là sự
tương hợp giữa lư trí và thực tại.
Tôi biết, nhưng tri thức này,
được diễn tả bằng một mệnh
đề, có thể đúng hay không đúng. Một mệnh
đề diễn tả một phán đoán đúng, gọi
là chân lư. Định tín “Đức Maria là Đấng vô
nhiễm nguyên tội” và “Đức Giêsu là người
thật và là Thiên Chúa thật” là chân lư đối với
Kitô hữu.
Để biết một phán đoán/tri
thức/mệnh đề có đúng không, có là chân lư không,
cần tiêu chuẩn là thực tại. Thực tại hay
sự thật là tiêu chuẩn quy chiếu. Mệnh
đề, ư kiến, phán đoán “anh X cao 1,9 mét” là đúng
hay sai, có tiêu chuẩn là thực tại/sự thật “anh
X.”
Tri thức của một người, thuộc
về người đó. Lời được phát
biểu ra, thuộc về người phát biểu và
cũng có thể độc lập với người phát
biểu. Lời được phát biểu, diễn tả
tri thức, có thể đúng hoặc sai, có thể là chân lư
hay không. Để biết một lời, một mệnh
đề (được phát biểu) đúng hay sai, là chân
lư hay không, cần thực tại/sự thật làm tiêu
chuẩn.
Đúng hay sai, là thuộc tính của mệnh
đề, của lời, của phán đoán, của tri
thức. Tri thức, phán đoán là hữu thể của
hiện hữu ngôi vị, không độc lập với
hiện hữu ngôi vị. Sự thật hay thực
tại, là hiện hữu độc lập với hữu
thể tri thức (thể tri).
Một mệnh đề, cho dù là đúng, là chân
lư, vẫn có thể bị hiểu không đúng. Chúng ta có
thể thấy điều này nơi công thức
định tín Đức Giêsu đồng bản thể
với Thiên Chúa. Có nhiều người thuộc
trường phái Arius hoặc Semi-Arius vẫn muốn
hiểu là nếu nói Đức Giêsu đồng bản
thể với Thiên Chúa th́ sẽ làm cho người ta
hiểu là có hai Thiên Chúa, nên họ đề nghị dùng
chữ Omoiousios.
Cũng có những đoạn Kinh Thánh (Kinh Thánh là
Lời Chúa và như vậy không sai lầm) bị hiểu
lầm, chẳng hạn Ga 14:28 bị Arius và những
người theo lập trường của ông dựa vào
để nói Đức Giêsu thấp kém hơn Thiên Chúa (theo
hữu thể), và như vậy, Đức Giêsu không ngang
hàng với Thiên Chúa, không là Thiên Chúa thật. Một mệnh
đề đúng, một chân lư, vẫn có thể bị
hiểu sai. Kinh Thánh vẫn có thể bị hiểu sai,
bị giải thích sai.
Một mệnh đề, một phát biểu
bị hiểu sai, được đính chính bởi
người phát biểu mệnh đề đó. Kinh Thánh
nếu bị hiểu sai, sẽ được Giáo Hội,
hiểu như được Thánh Thần dùng, để
giải thích đúng ư Thiên Chúa như là tác giả của
Kinh Thánh.
V́ chúng ta không thấy không nghe Thiên Chúa (là
Đấng thiêng liêng) bằng con mắt và lỗ tai
bằng xương bằng thịt của ḿnh, nên Giáo
Hội giúp ta hiểu đúng Kinh Thánh. Cũng tương
tự vậy trong lănh vực phân định thiêng liêng,
những ǵ người phân định cho là thánh ư Thiên Chúa
cho họ, cũng phải không được đi
ngược với những ǵ Giáo Hội hiểu về
Thiên Chúa.
Với lời phát biểu thuộc phạm vi
trần thế, thực tại trần thế là chuẩn
quy chiếu để nhận biết phát biểu đó
đúng hay sai. Nơi phân định thần loại,
nhận định các thần, phân định thiêng liêng,
th́ Kinh Thánh, lời giải thích của Giáo Hội,
truyền thống Kitô giáo, là quy chuẩn để giúp xác
định điều ǵ đó là thánh ư Thiên Chúa (cho tôi).
“Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.”
Người già có nhiều kinh nghiệm, có thể nói cho ta
biết những ǵ ḿnh chưa biết. Em bé nói thật, khi
muốn biết chuyện ǵ xảy ra trong nhà, hỏi em bé
th́ sẽ biết chuyện, v́ em bé không che dấu. Nhưng
câu tục ngữ đó đúng tới mức nào?
Chuyện “miếu vợ chàng Trương” nói
với chúng ta nhiều điều. Người chồng
đi lính xa nhà khi con anh ta c̣n thơ bé chưa biết anh ta.
Lâu sau người chồng trở về, trùng lúc
người mẹ đi vắng, gặp con và nhận ḿnh
là cha của em bé; em bé nói không phải, nói đêm cha mới
về. Người chồng hiểu lầm, ghen. Khi vợ
về người chồng kết tội vợ.
Người vợ không thể minh oan nên đă trầm ḿnh
tự tử. Tối đến khi người cha
đốt đèn dầu, em bé chỉ bóng nói đó là cha
ḿnh. Người chồng vỡ lẽ, t́m vợ nhưng
đă trễ…
Biết, cái biết này có đúng không, và nếu
đúng th́ đúng đến mức độ nào? Tri
thức không đồng nhất với chủ thể
biết, cũng không đồng nhất với đối
tượng biết!
Tri thức rất quan trọng. Biết đúng,
sống đúng, sẽ giúp người ta hạnh phúc
đời này lẫn đời sau. “Sự sống
đời đời là nhận biết Thiên Chúa chân
thực và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17:3).
Biết những điều Thiên Chúa làm, là
biết Thiên Chúa. Thiên Chúa mặc khải chính Ngài, tỏ
lộ ư muốn của Ngài cho con người. Biết ư
định của Thiên Chúa, cũng là biết Thiên Chúa.
Con người biết Thiên Chúa qua vũ trụ
vạn vật xét như là mặc khải tự nhiên.
Hơn nữa, Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài
mặc khải. “Thầy không c̣n gọi các con là tôi tớ
v́ tôi tớ không biết việc chủ làm, nhưng
Thầy gọi các con là bạn hữu v́ những ǵ
Thầy nghe biết nơi Cha Thầy th́ Thầy cũng cho
các con biết” (Ga 15:15).
Dưới đây xin tŕnh bày tri thức căn
bản về Thiên Chúa mà một người cần có
để làm phân định thiêng liêng, để có phán
đoán giống như Thiên Chúa.
Thiên Chúa là t́nh yêu. V́ yêu thương, Thiên Chúa
tạo dựng con người. Thiên Chúa tạo dựng con
người giống h́nh ảnh Thiên Chúa: có tri thức,
biết yêu thương, bá chủ cá biển chim trời,
nghĩa là làm chủ vũ trụ vạn vật chứ
không làm nô lệ tạo vật[4].
Thiên Chúa yêu thương con người. Ngài
muốn cho mọi người được cứu
độ và nhận biết Thiên Chúa (1Tm 2:4). Sự
sống đời đời là chúng nhận biết Thiên
Chúa và Đấng Ngài sai là Đức Giêsu Kitô.
Thiên Chúa là nhất, con người
được quư trọng chỉ sau Thiên Chúa. Yêu mến
Thiên Chúa hết linh hồn hết trí khôn hết sức
lực, và yêu mến anh em như chính ḿnh[5].
Chính cái biết, tri thức “Thiên Chúa yêu
thương con người vô cùng” làm cho con người tin
tưởng, b́nh an, hạnh phúc. Không có cái biết này, con
người khó có thể sống an b́nh hạnh phúc nếu
không muốn nói là không thể.
Để mặc khải Thiên Chúa là t́nh yêu, Thiên
Chúa đă tuyển chọn Abraham và dân tộc Do Thái. Qua t́nh
yêu đối với dân Do Thái và đặc biệt qua
Đức Giêsu, Thiên Chúa cho thấy Ngài yêu thương
mọi dân tộc. Thiên Chúa đă đưa dân Do Thái ra
khỏi Ai Cập và dẫn dân vào Đất Hứa. Thiên
Chúa ban luật cho dân Do Thái qua Môsê trên núi Sinai[6].
Luật thập giới, mười Lời Thiên
Chúa ban cho dân Do Thái, là quà tặng vô giá Thiên Chúa ban cho con
người. Thập giới bảo vệ sinh mạng và
quyền lợi của con người, của mỗi
người, của tôi. Không chỉ là tôi không
được giết người, mà người khác
không được làm tổn thương tôi và không
được xâm phạm quyền lợi của tôi.
Thánh ư của Thiên Chúa được diễn
tả qua thập giới. Các ngôn sứ, là những
người nói Lời Chúa cho dân. Thiên Chúa muốn sao, các
ngôn sứ nói như vậy với dân[7]. Các ngôn sứ giúp dân Chúa
hiểu biết hơn về Thiên Chúa t́nh yêu, Đấng kư
kết và luôn giữ giao ước với Dân. Ngôn sứ
cũng giúp dân biết về chính họ hơn, đặc
biệt khi họ không tuân giữ giao ước, không tuân
giữ thập giới như điều kiện giao
ước.
Thiên Chúa đă can thiệp vào ḍng lịch sử
của dân tộc Do Thái khi giải phóng dân Do Thái khỏi ách
nô lệ bên Ai Cập, và vào thời cánh chung, Ngài đă cho
Con Ngài nhập thể làm người. “Ngày xưa nhiều
lần nhiều cách Thiên Chúa nói với chúng ta qua các tiên tri
nhưng đến thời sau hết Ngài nói với chúng ta
qua người Con” (Dt 1:1-2).
Một hài nhi sinh tại Bê Lem, được
đặt tên Giêsu, sống ở Nadarét, và rao giảng ba
năm nơi đất nước Do Thái thời tổng
trấn Philatô. Khi rao giảng, Ngài nhận Ngài có quyền
tha tội (Mc 2:5.7), có trước Abraham dù Ngài chưa
được 50 tuổi (Ga 8:57-58), là một với Thiên
Chúa (Ga 10:30), ngang hàng với Thiên Chúa (Mc 14:62). Người
đă bị kết án tử h́nh thời Philatô làm tổng
trấn Giuđêa.
Sau khi Ngài được mai táng ba ngày nhiều
người đă nói đă thấy Ngài. Những
người này rao giảng rằng Ngài đă sống
lại. Các môn đệ của Ngài nhớ lại những
ǵ Ngài đă nói, và tin Ngài đúng là Đấng như Ngài
đă nói về Ngài: Ngài là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, là Thiên Chúa
nhập thể.
Với biến cố Đức Giêsu, và với
niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, các
tông đồ tin rằng “Thiên Chúa đă yêu thế gian
đến nỗi đă cho Con Ngài nhập thể
để những ai tin vào Người Con đó, sẽ
được sống muôn đời” (Ga 3:16).
Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8.16).
Khi Đức Giêsu rao giảng, Ngài dạy
người ta yêu thương. Không chỉ yêu thương
tha nhân như yêu thương chính ḿnh (Lv 19:18; Mt 22:39), mà yêu
thương tha nhân như Đức Giêsu đă yêu
thương: “anh em hăy yêu thương nhau như Thầy
đă yêu thương anh em” (Ga 13:34).
Thiên Chúa là t́nh yêu. Ai yêu thương th́ biết
Thiên Chúa. Ai không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa v́
Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8). Không ở trong Thiên Chúa, không yêu
thương như Thiên Chúa, th́ không biết Thiên Chúa, không
biết ư định của Thiên Chúa, không biết ư
muốn của Thiên Chúa, và như vậy không thể làm phân
định được.
Đức Giêsu không chỉ dạy mà Ngài c̣n
sống điều Ngài dạy. Ngài dạy người ta
về tám mối phúc (Mt 5:1-12).
Người đời cho rằng giầu có
địa vị là mối phúc, c̣n Đức Giêsu lại
cho rằng nghèo, đặc biệt là tinh thần nghèo khó,
không bám víu vào của cải hoặc tạo vật, mới
là mối phúc. Không chỉ dạy mà Ngài sống. Ngài có cha có
mẹ thuộc thành phần nghèo, là Đức Mẹ và
thánh Giuse; Ngài sinh ra trong cảnh nghèo hèn nơi chuồng
chiên cừu ở Bê Lem; Ngài phải đói phải khát khi
rao giảng, chết trần trụi trên thập giá, chôn
nhờ mộ của người ta…
“Phúc cho kẻ bị bách hại v́ sống công
chính, v́ nước trời là của họ. Phúc cho các con
khi v́ Thầy mà bị sỉ nhục khinh chê, hăy vui mừng
…” Đức Giêsu đă bị người ta kết
tội phạm thượng v́ khi chữa người
bại liệt Ngài nói “tội anh đă được tha”
(Mc 2:5-7), v́ Ngài nhận ḿnh có trước Abraham (Ga 8:58), v́
Ngài nói Ngài và Cha là một (Ga 10:30), khi nhận ḿnh ngang hàng
với Thiên Chúa (Mc 14:62). Ngài bị người ta ghét
muốn giết (Mc 3:6); Ngài bị nói là người quỷ
ám (Mc 3:22), người mất trí (Mc 3:21), kẻ tội
lỗi (Ga 9:24).
Con đường Đức Giêsu đi là con
đường thập giá. Chấp nhận sỉ nhục
khinh chê, là đi trên con đường Đức Giêsu
đă đi, là đang đi trên đường thập giá
với Đức Giêsu. Đức Giêsu không đi t́m
thập giá. Thập giá là cây gỗ người ta
đặt lên vai Đức Giêsu và Ngài phải vác, không
thể không vác.
Thập giá không chỉ được hiểu là
cây gỗ người ta đặt lên vai Đức Giêsu và
Ngài phải vác, nhưng cũng được hiểu là
những trái ư trong cuộc sống, những hành vi và cách
cư xử không tốt hoặc ác ư của người
đương thời đối với Đức Giêsu.
Muốn hay không điều đó vẫn xảy ra, vẫn
tới, không thể tránh khỏi khi đang sống trên
dương thế. Đó là thân phận của con
người với thân xác mà không ai thoát được.
Đức Giêsu đă chấp nhận tất cả
những điều ấy.
Lịch sử kể cho chúng ta nhiều
điều: chuyện Cain giết Abel, chuyện xích mích
giữa người làm cho ông Lót và Abraham, chuyện những
người anh của Giuse bán Giuse sang Ai Cập, Giêrêmia
bị người ta hăm hại, Gioan Tẩy Giả bị
giết, Đức Giêsu bị ghét và bị giết, các Kitô
hữu bị bách hại, và kinh nghiệm sự dữ trong
cuộc đời chúng ta. Đối diện với
những chuyện tương tự, nếu xảy ra cho
chúng ta, chúng ta phải hành xử như thế nào?
Đức Giêsu là câu trả lời, Ngài là mẫu mực
của chúng ta.
Thánh Thần luôn ở với chúng ta: “Thầy
sẽ xin Chúa Cha, và Ngài sẽ ban cho anh em một
Đấng Bảo Trợ khác, để Ngài ở với
anh em luôn măi” (Ga 14:16). Chúa Giêsu Phục Sinh đă ban Thánh
Thần cho các tông đồ ngay buổi chiều thứ
nhất khi Ngài sống lại (Ga 20:22).
Chúa Thánh Thần giúp các tông đồ nhớ
lại những ǵ Đức Giêsu khi c̣n sống đời
tại thế đă mặc khải cho các tông đồ mà
các Ngài chưa hiểu (Ga 14:26; 16:12-13). Chính Thánh Thần
cũng biến đổi các tông đồ, và làm các tông
đồ làm chứng Đức Giêsu đă phục sinh, làm
chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa (Cv 2:1-18.22-24.32-36).
Nhờ Thánh Thần, tín hữu tin Đức Giêsu
là Thiên Chúa (1Cor 12:3). Chúa Thánh Thần cũng giúp họ
nhận ra tiếng Chúa mời gọi, và giúp họ sống
như Thiên Chúa mong muốn.
Hăy làm lành, lánh dữ. Đó là tiếng
lương tâm, tiếng Chúa đặt nơi tâm hồn
mỗi người mà chúng ta phải vâng nghe. Không
được làm trái tiếng lương tâm.
Thiên Chúa cũng đă nói với con người
qua lịch sử dân Do Thái, qua thập giới
được ban trên núi Sinai. Thập giới, mười
lời, là giới răn, là luật Chúa truyền cho con
người. Ai cũng phải tuân giữ thập giới.
Lương tâm và thập giới không mâu thuẫn nhau.
Kinh Thánh, Lời Chúa được ghi lại cho
con người, cho thấy Thiên Chúa nói với người
ngày xưa, và cũng nói với con người hôm nay. Qua
Lời Chúa, hôm nay, cũng có thể Chúa đang mời
gọi chúng ta.
Những biến cố xảy tới, lời
của người này người kia, có thể diễn
tả thánh ư của Thiên Chúa cho con người. Để
có thể nhận ra thánh ư Thiên Chúa, con người cần
đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu,
cần nên một với Thiên Chúa, cần Thánh Thần giúp
đỡ.
Chúa Thánh Thần luôn ở trong tâm hồn chúng ta
(1Cor 3:15-16; 6:19) Ngài dạy chúng ta cầu nguyện (Rm 8:26),
Ngài dạy chúng ta phải nói ǵ (Mc 13:11), Ngài trợ giúp chúng
ta.
Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta nhờ Thần
Khí. Nhờ Thần Khí chúng ta xét đoán được
mọi sự[8].
Chúng ta được mời gọi để lắng nghe
và sống theo Thần Khí; nếu chúng ta sống theo
Thần Khí, chúng ta sẽ b́nh an, hoan lạc, yêu thương[9].
Chúa Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu th́
thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ
đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần
Khí mà sinh ra th́ cũng vậy" (Ga 3:8). Thiên Chúa không
bị lệ thuộc vào khuôn khổ do con người
định đoạt. Thiên Chúa tự do, Ngài có cách của
Ngài. Chúng ta cần luôn lắng nghe để nhận ra
điều Thiên Chúa muốn về chúng ta, để
rồi đem ra thực hành.
Ư muốn của Thiên Chúa được thể
hiện trong lịch sử cứu độ. Thiên Chúa thông
tri ư định của Ngài cho Adam và Eva: đừng ăn
cây ở giữa vườn, ăn th́ chết. Thánh ư Thiên
Chúa được thể hiện qua tiếng lương
tâm, qua thập giới, qua Kinh Thánh, và đặc biệt
nơi Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa nhập thể.
Thiên Chúa là t́nh yêu, Ngài muốn con người yêu
thương nhau. Đức Giêsu muốn con người yêu
thương nhau như Đức Giêsu (Ga 13: 34-35). Thiên Chúa
muốn mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4).
Với tôi, trong trường hợp cụ
thể này, Thiên Chúa muốn tôi chọn ǵ? Ngài muốn tôi làm
ǵ? Ngài muốn tôi sống như thế nào?
Eva trúng bẫy thần dữ. Thần dữ xuyên
tạc: “có phải Thiên Chúa cấm các người ăn
trái cây trong vườn?” Thần dữ muốn con
người nói chuyện với nó, để nó có thể
cám dỗ con người. Nó dựa vào lời của con
người, để cám dỗ: “Không chết chóc ǵ
đâu. Sở dĩ Thiên Chúa cấm ăn trái cây đó, v́
khi ăn th́ ngươi thành thần” (St 3:4). Adam Eva đă
thiếu nhận định, không ư thức rơ bản
chất của kẻ đang nói chuyện với ḿnh
để có phản ứng đúng đắn, để
rồi nghi ngờ không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh,
rồi làm điều nghịch với ư định của
Thiên Chúa. Thế là tội.
Thần lành truyền tải cho con người ư
định của Thiên Chúa (Lc 1:11-21. 26-38) và con
người tự do đáp trả. Thái độ đúng
đắn của con người đối với Thiên
Chúa, là vâng phục. “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời
sứ thần truyền” (Lc 1:38).
Đức Giêsu không đối thoại với
thần dữ, Ngài luôn nói “không” với thần dữ. Khi
bị cám dỗ trong hoang địa, biến đá thành
bánh, Ngài trả lời: “con người không chỉ
sống nhờ bánh mà c̣n bởi mọi Lời Thiên Chúa phán”
(Mt 4:4); khi bị cám dỗ nhảy từ đỉnh
đền thờ xuống, Ngài trả lời: “chớ
thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi” (Mt 4:7);
khi bị cám dỗ bái thờ thần dữ, Ngài đă nói:
“xéo đi, Satan, v́ chỉ phải thờ lạy một
Thiên Chúa mà thôi” (Mt 4:10). Satan xuất hiện với
Đức Giêsu như kẻ luôn chống lại Thiên Chúa.
Đức Giêsu đă thẳng thắn chống trả.
Thánh Inhaxiô dạy phải làm ngược lại
(agere contra) điều thần dữ muốn (LT 350).
Vua Salomôn đă được ơn khôn ngoan
để phân biệt lành dữ, tốt xấu. Biện
phân là một ơn Thiên Chúa ban. “Xin Chúa ban cho tôi tớ Chúa
tâm hồn ngoan ngoăn (biết lắng nghe) để đoán
xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ” (1V 3:9). “Ngươi
đă không xin … nhưng xin cho được tài phân biệt
để xét xử, th́ Ta ban cho ngươi một tâm
hồn khôn ngoan minh mẫn…” (1V 3:11-12). Phân định
các thần là một ơn[10].
Salomôn dù được trí thông minh nhưng
vẫn phạm tội. Con người luôn luôn tự do. Tri
và hành không luôn đồng nhất nơi con người.
Môsê đă dạy người ta biết nhận
ra thánh ư Thiên Chúa, rồi chọn người tài đức
giúp dân nhận ra thánh ư Thiên Chúa[11].
Ngay thời thánh Gioan Tông Đồ, phân
định đă là việc khẩn thiết. Một
số người đă giảng dạy không đúng
về Đức Giêsu. Phải phân định, không
phải thần khí nào cũng tin, phải cân nhắc, phân
định[12].
Đức Giêsu trách người đương
thời: thời tiết mây mưa các ngươi biết
nhận định, nhưng những dấu chỉ Con
Người làm, họ lại không biết nhận
định[13].
Đức Giêsu đă phân định khi bị cám
dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11; Lc 4:1-13), tại
vườn dầu: xin đừng theo ư con nhưng Ư Cha nên
trọn (Mt 26:36-46). Chính v́ giờ này mà con đến (Ga
12:27).
Ngay khi yêu cũng phải phân định (discreta
caritas) v́ nếu không, thay v́ giúp người th́ lại
hại người. Nh́n em bé khổ trong tay một
người ăn xin, động ḷng thương bố
thí; nhưng có biết khi ta động ḷng thương như
vậy đă làm bao em bé bị hành khổ v́ những
người lợi dụng các em bé để ăn xin.
Cần phân định v́ quỷ cũng
đội lốt thiên thần sáng láng (2Co 11:14), v́ có
những ngôn sứ giả đội lốt chiên mà
đến (Mt 7:15), v́ ma quỷ thế gian xác thịt
ảnh hưởng trên con người (1Ga 2:15-17; 5:18-19), v́
có những tông đồ giả, thợ gian xảo
đội lốt tông đồ[14].
Cần phân định v́ cỏ lùng lẫn
với lúa, người dữ lẫn kẻ lành lẫn
lộn[15].
Để có thể phân định nhận
biết thánh ư Thiên Chúa, cần người đó phải
nên giống Thiên Chúa: biết Thiên Chúa, có tương quan thân
thiết với Thiên Chúa, luôn nh́n ngắm Thiên Chúa để
biết đường lối của Thiên Chúa, thân quen cung
cách hành xử của Đức Giêsu. “Đường
lối của Ta không như đường lối của
các ngươi, tư tưởng của Ta cũng không
như tư tưởng của các ngươi. Như
trời cao hơn đất bao nhiêu, đường
lối của Ta cũng vượt trên đường
lối của các ngươi” (Is 55:8-9).
Họ phải là người giữ các giới
răn (1Ga 2:3-5), đặc biệt giới răn yêu
thương (1Ga 2:9-10), phải đi con đường
Đức Giêsu đă đi (1Ga 2:6), và tin Đức Giêsu
(1Ga 4:2-3).
Theo thư Do Thái, người trưởng thành là
người có thể phân biệt điều lành
điều dữ[16]. Người trưởng
thành có thể phân định.
Để phân định, chúng ta phải là
người sống theo Thần Khí[17]. Được Thánh Thần
giúp đỡ, chúng ta suy nghĩ và chọn lựa như
Thiên Chúa, hàm chứa chúng ta có thể phân định
nhận ra thánh ư Thiên Chúa[18].
Phân định để biết thánh ư Thiên Chúa,
để biết Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ. Cứ sự
thường, nếu tôi không là một với Thiên Chúa trong
tư tưởng, phán đoán, lời nói, hành động,
lối sống, th́ khó có thể, nếu không muốn nói là
không thể, nhận ra ư định của Thiên Chúa. Ai nói
yêu Chúa mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga 4:20;
2:9; 3:10).
Làm sao để biết một người phân
định đúng hay sai? Đâu là dấu chỉ cho
biết một người đă làm việc phân
định đúng đắn? Một khi phân
định đúng, người ấy sẽ sống yêu
thương (Ga 13:35) như Chúa dạy, sẽ
được b́nh an (Ga 14:27), sẽ sống b́nh an hoan
lạc nhân hậu tiết độ (Gl 5:22-23), và tin
Đức Giêsu là Thiên Chúa (1Ga 4:2).
Linh đạo, con đường đến
với Thiên Chúa. Khi nói về thời gian Linh Thao, thánh
Inhaxiô nói Thiên Chúa dạy ngài như người Thầy
dạy học tṛ (TT 27). Linh đạo Inhă, con
đường đến với Thiên Chúa của Inhaxiô,
được thấy đặc biệt nơi Linh
Thao. Có thể nói về linh đạo như cơ
cấu và linh đạo như nội dung với
điểm nhấn đặc thù.
Linh đạo như cơ cấu, như
những phương thế hay cách thức người ta
gặp gỡ Thiên Chúa. Người ta có thể gặp
gỡ Thiên Chúa qua lănh nhận các bí tích, và đặc
biệt tham dự Thánh Lễ, qua cầu nguyện với
Lời Chúa, lần chuỗi Mân Côi, qua hồi tâm xét ḿnh. Có
thể nói mọi linh đạo đều dùng cùng
những phương thế: Thánh Lễ, cầu nguyện,
hồi tâm xét ḿnh, kinh phụng vụ, v.v.
Linh đạo có thể được
đề cập tới như nội dung với nét
đặc thù của mỗi linh đạo. Mọi linh
đạo Kitô giáo đều quy Kitô. Tất cả cho vinh
danh Chúa hơn, t́m Chúa trong mọi sự, b́nh tâm, hơn
hơn nữa, ao ước nên đồng h́nh đồng
dạng với Chúa, … là những nét đặc trưng
của linh đạo Inhă.
Con người cần có cái nh́n đúng
đắn về Thiên Chúa, con người và vũ trụ.
Thiên Chúa là nguyên lư và nền tảng của
tất cả, Ngài yêu thương con người, Ngài
tạo dựng vũ trụ vạn vật để
phục vụ con người, để con người
dùng chúng như phương tiện đến với Thiên
Chúa.
B́nh tâm không đơn thuần là dửng dưng
trước mọi sự, nhưng chủ yếu là chọn
Thiên Chúa trên tất cả. Bất cứ
điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh chọn;
c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh không ham muốn
điều này hơn điều kia; chẳng hạn,
nếu làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không chọn giầu
sang hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ nhục,
sống lâu hơn chết yểu, v.v... (LT 23).
Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chọn
làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là
điểm chính yếu của b́nh tâm.
Làm sao để mỗi người cảm
thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và những ǵ
thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ khác trong
cuộc sống của ḿnh. Một khi
người ta cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương
người ta vô cùng th́ người ta sẵn sàng vâng
phục những ǵ Thiên Chúa muốn cho người ta. Qua
cầu nguyện, với Lời Chúa, người ta
được đào luyện để có cái nh́n như
Thiên Chúa muốn. Dưới đây là những đoạn
Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện
hầu có cái nh́n và thái độ b́nh tâm:
Con người
giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a);
Con người
là ai (Tv 8);
Thiên Chúa
thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);
Các bạn t́m ǵ
(Ga 1:35-51);
Này Ta
đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);
Thiên Chúa yêu tôi
vô cùng (Ga 17:23.20; 3:16; 13:1; 15:9.13; 14:16; 15:26; 14:23);
Chương
tŕnh “Giêsu Kitô” (Eph 1:3-14);
Chấp hết
(Rm 8:31-39);
Thiên Chúa Quan
Pḥng (Mt 6:25-34);
Yêu Chúa yêu
người (Mc 12:28-34);
B́nh Tâm (LT 23).
Làm sao để mỗi người thấy
sự xấu xa ác hại của tội và nhận biết
thực rằng ḿnh là tội nhân.
Nhận biết rơ về chính ḿnh và thân phận
hèn yếu của ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có
người cho rằng ḿnh không có tội, ḿnh chẳng
phạm tội ǵ! Cũng có người cho rằng ḿnh là
một tội nhân, nhưng ai mà không phạm tội,
bản tính[19] con
người mà! Nếu người nào suy nghĩ như
vậy, th́ họ sai lầm! Tội là hành vi tự do
của con người, tôi cố t́nh làm
điều tôi thấy tôi không nên làm và không
được phép làm. Chính hành vi tự do “cố
t́nh làm điều tôi không được phép làm,” đă làm
biến dạng con người tôi, khiến tôi không c̣n
đẹp như trước nữa, khiến tôi không c̣n
dễ thương và đáng yêu như trước nữa.
Do phạm tội, tôi đă làm mất phẩm giá con
người ḿnh, và làm tôi “xấu như qủy.”
Tội không phải là thực tại ngoài ḿnh,
nhưng do ḿnh mà ra, là chọn lựa tự do của ḿnh.
T́nh trạng tội là hậu qủa chọn lựa cố
t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm
thành.
Thiên Chúa muốn con người luôn sống yêu
thương, để mỗi ngày một đẹp
hơn, dễ thương hơn và tự do hạnh phúc
hơn. Không làm theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những
ǵ lương tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không
làm theo ư Thiên Chúa.
Tội là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không
phải chỉ là không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc
phạm đến Thiên Chúa, không tin rằng Thiên
Chúa yêu thương ḿnh và muốn làm những điều
tốt lành cho ḿnh.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là
tội nhân (Rm 5:8). Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa
đối với ḿnh và ao ước trở về với
Ngài, là yêu cầu mà mỗi người làm Linh Thao phải
đạt được trong tuần thứ nhất.
Tội là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu
thương thuận phục Thiên Chúa nữa. Hai
người yêu nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau, họ không
muốn làm trái ư nhau; chỉ một hành vi làm người
kia buồn, là họ đă lo lắng và muốn chuộc
lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ là xúc phạm
nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ cảm
thấy tội ḿnh thực nặng nề và muốn
trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng.
Thiên Chúa yêu
thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu thương nên Ngài luôn
trông chờ chúng ta trở lại với Người, và
Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta
thống hối.
Nh́n về tội không nhằm làm chúng ta bị tê
liệt hay bị dằn vặt hoặc mặc cảm,
nhưng để giúp chúng ta thấy được t́nh yêu
vô bờ của Thiên Chúa khi Ngài tha thứ tội lỗi cho
chúng ta.
Đứng trước t́nh yêu vô bờ của
Thiên Chúa và thấy ḿnh tội lỗi thấp hèn như
vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ? Thái
độ đúng đắn là sám hối xin Thiên Chúa
thứ tha, và ao ước khao khát bắt đầu
một đời sống mới với Thiên Chúa.
Khao khát yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha
tội lỗi, ao ước bắt đầu một
đời sống mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của
một người thống hối thật sự.
Dưới đây là những đoạn
Kinh Thánh có thể giúp nhận biết ḿnh và có thái
độ đúng đắn đối với Thiên Chúa:
Tội Adam và
Eva (St 3:1-21);
Tội Cain (St
4:1-16);
Dân Do-thái
thờ ḅ vàng (Xh 32);
Dân Do-thái vô
ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);
Bất công (Am
8:4-10);
Israel bất
trung (Gr 3:1-4:4);
Tội dân
Do-thái (Br 1:15-3:8);
Tội dân
ngoại (Rm 1:18-32);
Không yêu
thương là tội (Mt 25:31-46);
Những
người mù thiêng liêng (Ga 9:1-41);
Phạm
đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);
Tôi là tội
nhân (1Ga 1:8-2:11);
Chị phụ
nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);
Chị phụ
nữ thống hối (Lc 7:36-50);
Lời
nguyện thống hối (Tv 51/50);
Thiên Chúa là cha
nhân từ (Lc 15:11-24).
Dù chúng ta tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu
thương tha thứ tội lỗi và mời gọi chúng
ta cộng tác với Ngài để chinh phục thế gian,
để giúp con người nhận biết t́nh yêu vô cùng
của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta có
sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Thiên
Chúa không?
Chọn Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên
tất cả, kết hiệp với thánh ư Thiên Chúa[20],
sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài
dù thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ
nhục, là yêu cầu của bài cầu nguyện này[21].
Những đoạn Kinh Thánh có thể dùng để
giúp có thái độ sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa
mời gọi:
Lời mời
(Lc 5:1-11);
Hăy là thánh (Lv
19:2);
Sứ mạng
(Ga 20:21);
Ơn gọi
Abraham (St 12:1-9);
Đáp trả
trong vâng phục đức tin (St 22:1-10);
Ơn gọi
Môsê (Xh 3:1-12);
Ơn gọi
Samuel (1Sm 3:1-21);
Ơn gọi
Ysaya (Is 6:1-13);
Ơn gọi
Yêrêmya (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);
Người tôi
tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49:1-6; 50:4-10; 52:13-53:12);
Ơn gọi
Phaolô (Cv 9:1-25); ..............
“Xin hiểu
biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người
v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104), đó là
mục đích yêu cầu của tuần thứ hai Linh Thao.
Vô tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết
về Chúa, th́ sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết
ở đây không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng
chủ yếu là cái biết thâm sâu do được
cảm nghiệm.
Thiên Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến
độ nhập thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên
Chúa yêu tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp
lại t́nh yêu của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu
mới đáp trả được t́nh yêu.
T́nh yêu được diễn tả cách cụ
thể, chính Thiên Chúa đă nhập thể để
phục vụ con người: “con người đến
không phải để được phục vụ,
nhưng để phục vụ và hiến mạng
sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45);
c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi
phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.
Hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo
Ngài hơn. Đó là cách nói khác của cùng nội dung
“để trở nên đồng h́nh đồng dạng
với đức Giêsu Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết
với Người, ta sẽ cùng sống với
Người, nếu ta cùng đau khổ với
Người, ta sẽ cùng thống trị với
Người” (2Tm 2:11-12; Rm 6:8), “tôi sống nhưng không c̣n
phải tôi sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài
sống trong tôi” (Gl 2:20).
Nên giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là
người mẫu của chúng ta, Ngài là thần
tượng, là Đấng mà chúng ta phải bắt
chước và quy chiếu về. Yêu thương là trở
nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương Thiên
Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn.
Những bản văn Kinh Thánh giúp cầu
nguyện để biết Lời Nhập Thể và nên
giống Ngài hơn:
· Lời đă
thành xác phàm (Ga 1:1-18);
· Nhập thể
là tự hủy (Pl 2:6-11);
· Sinh bởi
người nữ (Gl 4:4-6);
· LT 101-109
· Lời nhập
thể được giáng sinh (Lc 2:1-20);
· Lời Thiên Chúa
Nhập Thể được cắt b́ và đặt tên
(Lc 2:21);
· Đức Giêsu
được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40);
· Trốn sang
Ai-cập (Mt 2:13-23);
· Đức Giêsu
thời thơ ấu (Lc 2:39-40);
· Đức Giêsu
ở lại đền thờ (Lc 2:41-50);
· Đức Giêsu
sống một thời gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).
· Đức Giêsu
chịu phép rửa (Mc 1:1-13);
· Đức Giêsu
chịu cám dỗ (Mt 4:1-11);
· Trọn ngày
sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39);
· Đức Giêsu
luôn t́m và thực hiện Thánh Ư Cha (Ga 4:34);
· Mối phúc
thật (Mt 5:1-12);
· Thái độ
của dân chúng đối với đức Giêsu (Mc
1:32-3:12);
· Thái độ
của người thân, kư lục và biệt phái đối
với đức Giêsu (Mc 3:20-30);
· Khủng
hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4);
· Hạt
giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29);
· Loan báo tin
mừng bằng trừ qủy (Mc 5-6);
· Các tông
đồ không hiểu đường lối của
đức Giêsu (Mc 4;6);
· Đức Giêsu
là Kitô (Mc 8:27-30);
· Con
đường đức Giêsu đi là con đường
thập giá (Mc 8:31-33);
· Ai muốn theo
tôi phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);
· Con
đường đức Giêsu đi: cầu nguyện và
ăn chay (Mc 9:14-29);
· Con
đường đức Giêsu đi: phục vụ (Mc
9:33-37);
· Con
đường đức Giêsu đi: yêu thương (Mc
12:28-34);
· Tinh thần
của đức Giêsu (Mc 9:38-41);
· Không muốn
hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45);
· Người mù
được sáng (Mc 10:46-52);
· Những
người không chấp nhận con đường
đức Giêsu đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);
· Đức
Giêsu, con người tự do (với bạc tiền, danh
vọng, t́nh duyên);
Một ơn rất lớn đối với
người làm Linh Thao: ao ước nên đồng h́nh
đồng dạng với Đức Giêsu. Yêu Chúa ở
mức độ thứ ba, ở mức độ khiêm
nhường thứ ba, là ao ước nên giống
Đức Giêsu trong khó nghèo và khổ nhục.
Trong các bài cầu nguyện “ngày Inhă,” thánh Inhaxiô
mời gọi người làm Linh Thao nếu có thể, nài
xin cho ḿnh yêu Chúa và được đứng vào
dưới cờ của Chúa Giêsu bằng:
· ơn
được nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả
được ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa
được tôn vinh hơn;
· ơn chịu
sỉ nhục và khinh chê để bắt chước Chúa
hơn nếu điều này không gây dịp tội cho ai và
không làm mất ḷng Chúa.
Trong bài cầu nguyện Hai Cờ, thánh Inhaxiô
dạy chúng ta xin ơn nhận biết mưu
mô của kẻ thù và ơn trợ giúp để tránh,
cũng như ơn nhận biết đời
sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để
bắt chước (LT 139). Trong bài Ba Mẫu
Người, chúng ta xin ơn chọn điều
nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152). Trong bài suy gẫm về Ba
Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh
để ḿnh bắt chước và phục vụ Chúa
hơn (LT 168).
Như vậy chúng ta đi từ nhận
thức, đến chọn, và sống nghèo cùng sỉ
nhục khinh chê v́ t́nh yêu đối với Đức Giêsu
Kitô.
Các bài cầu nguyện ngày Inhă giúp hiểu
biết hơn về con người của chúng ta: xem chúng
ta đă nhận thức về con đường của
đức Giêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn
theo đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục không, xem
chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Giêsu đă sống
không?
Những bản văn Kinh Thánh có thể giúp
để biết, chọn, và sống như Chúa:
Hai con
đường (Tv 1);
Tôi phải làm
ǵ (Mc 10:17-31);
Định
mạng đức Giêsu (Mc 10:32-34);
Nếu thế
gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);
Ai muốn theo
Ta (Mt 16:21-28).
Đức Giêsu
đối diện biến cố khổ nạn với
tất cả sự run sợ như chúng ta mọi đàng,
nhưng Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu thương Cha và
yêu thương con người.
Người yêu Chúa Giêsu muốn đi vào tâm t́nh
của đức Giêsu trong những giờ phút cuối cùng
của cuộc đời tại thế này. Ngài tê tái ḷng
biết bao khi thấy một người thân yêu phản
bội và nộp Ngài: t́nh yêu của Ngài bị từ
khước, bị phản bội. Ngài đă ghê sợ
thập giá và cái chết, đặc biệt trong
vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho
đến chết mà không oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của
đức Giêsu, và ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà
đức Giêsu đă chấp nhận tất cả
những sự ấy.
Hiểu Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn.
Chúa đă chết v́ yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái
độ nào đối với Người yêu tôi
dường ấy?
Xin cho ḿnh hiểu nỗi đau buồn của
Chúa (Ga 13; Mc 14). Xin cho ḿnh cảm nghiệm được
t́nh yêu của Chúa đối với ḿnh; và xin cho ḿnh yêu
lại Chúa đến độ ao ước
được chia sẻ nỗi đau buồn của
Chúa, muốn được đồng h́nh đồng
dạng với Đấng yêu thương ḿnh vô cùng như
vậy.
Thánh Inhaxiô dạy: “xin cho ḿnh được
đau đớn, hối hận và xấu hổ, v́ chính
bởi tội tôi mà Chúa phải bị khổ h́nh như
vậy” (LT 193); “xin cho ḿnh được đau đớn
với Chúa Kitô thống khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô
tan nát tâm hồn, được ơn khóc lóc và đau
đớn trong ḷng v́ bao đau đớn mà Chúa Kitô đă
chịu v́ tôi” (LT 203).
Những
đoạn Kinh Thánh sau có thể giúp yêu Chúa và nên giống
Chúa hơn:
· Âm mưu
giết đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);
· Làm sao Ta có
thể quên ngươi (Hs 11:1-9);
· Ta tự ḿnh
hiến mạng sống Ta (Ga 10:17-31);
· Yêu thương
là phục vụ (Ga 13:1-17);
· Yêu thương
là hiến dâng (Lc 22:14-20);
· Hăy tin Thầy,
hăy yêu Thầy (Ga 14:1-15:8);
· Hăy ở
lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17);
· Báo trước
Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31);
· Đức Giêsu
chiến đấu với chính ḿnh ở vườn
dầu (Mc 14:32tt);
· Yuđa nộp
Thầy bằng “dấu chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);
· Đức Giêsu
bị xử trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);
· Phêrô chối
Chúa (Mc 14:66-72);
· Đức Giêsu
bị xử trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);
· Đức Giêsu
trước ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);
· Con
đường t́nh yêu (Mc 15:15-32);
· Đức Giêsu
trên thập giá (Mc 15:33-41);
· Đức
Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27);
· Chứng nhân
thinh lặng;
· Sinh th́ và táng xác
(Mc 15:37-47);
· Tâm t́nh của
những người yêu thương đức Giêsu trong
những ngày khổ nạn;
· Tv 22;
· Đức
Giêsu, người tôi tớ chết thay nhiều
người (Is 52:13-53:12);
· Đức Giêsu
chu toàn sứ mạng dù phải chết thập giá (Pl
2:6-11).
Tươi vui triển nở phải là thái
độ b́nh thường của Kitô hữu. Niềm
Niềm hân hoan và vui mừng này không ai có thể
lấy mất được, v́ “dù thiên thần thiên
phủ, dù hiện tại tương lai, dù chiều cao hay
chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, không có
ǵ có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa
Kitô” (Rm 8:38-39).
Bản văn Kinh Thánh có thể dùng để
giúp tin Chúa Phục Sinh, và để có niềm vui và hân hoan
thực sự:
· Chúa Phục Sinh
hiện ra với chị Maria Magdala (Ga 20:11-18);
· Chúa Phục Sinh
hiện ra cho các tông đồ và trao phó sứ mạng (Ga
20:19-23);
· Chúa Phục Sinh
đổi đời hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);
· Chúa Phục Sinh
củng cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);
· Chúa Phục Sinh
chăm sóc các tông đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);
· Cứng ḷng và
ngoan cố trước biến cố Đức Giêsu
Phục Sinh (Mt 28:11-15);
· Chúa Giêsu
Phục Sinh lên trời (Cv 1:1-12);
· Chúa Giêsu
Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20);
· Chúa Phục Sinh
hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);
· Thánh Thần
sẽ làm chứng về Ta (Ga 15:26-16:15);
· Thánh Thần
tỏ hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);
· Nhân danh
đức Giêsu Nadarét, anh hăy đứng dậy mà đi (Cv
3:1-26);
· Phêrô làm
chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh trước chính quyền
(Cv 3:1-26);
· Từ khi
biết Đức Giêsu Kitô, tôi coi tất cả như phân
bón (Pl 3:1-4:1).
Cảm nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu
thương chúng ta trong từng giây phút của cuộc
sống, để rồi chúng ta yêu lại Chúa và phục
vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc, đó là thái
độ thường mà mỗi Kitô hữu cần có.
Yêu là trao tặng người yêu những ǵ ḿnh có
(LT 231). Nếu Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất
cả, ngay cả những ǵ qúy nhất với Ngài là Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho
Thiên Chúa đây?
Với “kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta
dâng tất cả cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một
điều duy nhất “xin làm cho con yêu Chúa, và ơn đó là
đủ cho con” (LT 234):
“Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả
tự do, trí nhớ, trí hiểu và toàn thể ư chí con,
tất cả những ǵ con có và làm chủ.
Chúa đă ban cho con tất cả; lạy Chúa, con xin dâng
lại Chúa tất cả.
Tất cả là của Chúa, xin Chúa sử dụng hoàn toàn
theo ư Chúa. Xin Chúa ban cho con t́nh yêu và ân sủng Chúa:
đối với con thế là đủ”.
Linh đạo Inhă như cơ cấu
được sống qua việc tham dự các bí tích, và
đặc biệt qua cầu nguyện, xét gẫm, hồi
tâm xét ḿnh, phân định (ơn gọi, tông đồ,
sống) trên b́nh diện cá nhân hay cộng đoàn.
Chính qua việc thực tập hằng ngày theo
hướng dẫn của thánh Inhaxiô mà ta đến
với Thiên Chúa như thánh Inhaxiô đă được
dạy và đến với Ngài. Có thể nói, linh
đạo Inhă là linh đạo Giêsu, con đường
đến với Thiên Chúa của Inhaxiô chính là con
đường Giêsu, sống như Đức Giêsu suy
nghĩ, chọn lựa, và sống.
Một nét đặc trưng của linh
đạo Inhă là phân định thiêng liêng. Phân định
thiêng liêng giúp ta t́m thấy Chúa trong mọi sự, nhận
ra ư định của Thiên Chúa, nhận ra lời mời
gọi của Thiên Chúa trong những t́nh huống cụ
thể để thực thi ư Ngài. Sau cầu nguyện
hoặc cuối ngày sống, người ta phân định
để nhận ra ư Thiên Chúa nơi xét gẫm hoặc
nơi hồi tâm xét ḿnh. Qua những dấu chỉ trong
đời, người ta cũng có thể nhận ra
tiếng Chúa mời gọi sống bậc sống nào (phân
định ơn gọi), Chúa muốn ḿnh cộng tác
với Chúa giúp đỡ con người như thế nào
(phân định tông đồ), v.v.
Để con người được cứu
độ, Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm
chứng cho t́nh yêu, hầu con người nhận biết
Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để rồi yêu
lại Thiên Chúa.
Con người khi tin nhận đức Giêsu là
Thiên Chúa, th́ nhận ra t́nh yêu thương vô bờ của Thiên
Chúa đối với ḿnh. Rồi khi con người tin
nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, con
người có thể phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa
T́nh Yêu.
Cầu nguyện là ư thức Chúa đang hiện
diện, lắng nghe Chúa mời gọi, nói với Chúa (dâng
lên Chúa lời cảm tạ tri ân, lời tán dương,
lời khẩn cầu khi ư thức ḿnh bất lực), và
ở lặng bên Chúa.
Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn
như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm;
nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta
gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.
Đứng trước một biến cố hay
một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và
nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.
Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh,
để suy gẫm như cầu nguyện:
· Trước
hết, xem Thiên Chúa hay đức Giêsu, qua tác giả Kinh
Thánh, muốn dạy ǵ trong đoạn Kinh Thánh đó;
· Sau đó, xem
chúng ta đă sống điều được dạy
đó như thế nào;
· Và cuối cùng
chúng ta tâm sự thân thưa với Thiên Chúa.
Trong những bài cầu nguyện về mầu
nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều
chỉ cách chiêm niệm.
Nh́n đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Nghe đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Quan sát cung cách hành xử của đức Giêsu, suy
nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu
nguyện "chiêm niệm".
Có những đề tài cầu nguyện không
thể chiêm niệm được, nhưng nếu
đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́ có
thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.
Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa
đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong những
trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh
trở nên giống Đức Giêsu hơn, nên giống Thiên
Chúa hơn.
Trở nên giống đức Giêsu hơn, nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không
phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện
thiêng liêng: có con tim "nhân từ, bao dung, thương
yêu" như Chúa, có ánh mắt "nhân từ, trong sáng, cảm
thông" như Chúa, có cung cách hành xử "độ
lượng, kiên nhẫn, cương quyết dứt
khoát" như Chúa.
Chúa Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và
bắt chước: quan điểm lập trường
của Ngài, cách sống của Ngài. "Để yêu Chúa
hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục đích của
những bài cầu nguyện tuần thứ hai Linh Thao.
Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói
chuyện thân thưa với Ngài như một người
bạn với một người bạn, như tṛ
đối với thầy, như tôi tớ đối
với chủ, như người con đối với cha
ḿnh, và như một tạo vật đối với Thiên
Chúa (LT 54).
Những bước cầu nguyện[22] nhằm
giúp người ta dễ dàng cầu nguyện hơn;
nhưng một khi gặp gỡ được Thiên Chúa
rồi, th́ những bước cầu nguyện không c̣n
cần thiết nữa.
Để nói chuyện với ai, cần họ
hiện diện với ḿnh một cách nào đó; cũng
vậy, để nói chuyện với Thiên Chúa, cần ư
thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n
xem, yêu thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện
diện với chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy
về phương diện con người, chúng ta vẫn
cần ư thức Ngài hiện diện để có thể
nói chuyện với Ngài.
Khó có thể nói chuyện thân t́nh với ai, nếu
người đó đang thù hận với họ. Cũng
tương tự như vậy, chúng ta không thể gặp
gỡ nói chuyện thân t́nh với Thiên Chúa nếu chúng ta
đang ở trong t́nh trạng thù nghịch Ngài.
Trước khi cầu nguyện, chúng ta xin Thánh
Thần tẩy luyện thánh hóa con người chúng ta,
để chúng ta có thể gặp gỡ thân t́nh với Ngài.
Nếu chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư
tới lời nói của người đang nói chuyện với
ḿnh, th́ không thể nói chuyện thân mật với
người đó được. Cũng tương
tự như vậy, nếu chúng ta không đặt Thiên Chúa
lên trên hết, nếu chúng ta không gạt bỏ mọi
vướng bận, th́ chúng ta cũng không thể nói
chuyện thân thiết với Ngài được.
Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi
chia trí đến trong đầu chúng ta, và để
hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.
Để gặp một nhân vật quan trọng,
chúng ta phải xin gặp, và nếu được ưng
thuận chúng ta sẽ được hẹn giờ. Không
phải bất cứ lúc nào ḿnh muốn, đều có
thể gặp được họ.
Cũng tương tự như vậy, gặp
gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà chúng ta
cần ư thức để trân trọng. Chỉ có
điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ ḿnh v́ Ngài
yêu thương ḿnh; tuy vậy, được gặp
gỡ Thiên Chúa vẫn luôn là một hồng ân đặc
biệt.
Trí tưởng tượng rất quan trọng
đối với con người. Phần lớn hành vi
phạm tội của chúng ta có sự đóng góp của trí
tưởng tượng. Tương tự như vậy,
để nên thánh, chúng ta cũng dùng trí tưởng
tượng. Thân xác cũng góp phần giúp chúng ta nên thánh,
như nó đă góp phần trong hành vi tội của chúng ta.
H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và đặt
ḿnh trong bối cảnh và trường hợp đó, giúp
chúng ta dễ cầu nguyện hơn.
Mỗi bài cầu nguyện đều có một
yêu cầu cần đạt được, đó
thường là "ơn xin" của bài cầu
nguyện.
Ở tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa
cho chúng ta hiểu biết sâu xa về tội và những tác
hại của tội, cho chúng ta nhận biết ḿnh là
tội nhân và ơn được trở về với
Người.
Ở tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho
chúng ta được hiểu Ngôi Lời Nhập Thể
hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.
Ở tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin
Thiên Chúa cho chúng ta được đồng h́nh
đồng dạng với Ngài; cụ thể trong tuần
ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được chia sẻ với
Đức Giêsu trong đau khổ và sỉ nhục,
được thông phần với Ngài trong cuộc
thống khổ; và trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho
được chia sẻ niềm
Mỗi bài cầu nguyện có một hay nhiều
điểm cầu nguyện. Điểm cầu nguyện là
những gợi ư, nhằm giúp ḿnh có chất liệu
để suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Tuy
mỗi bài có thể có nhiều điểm cầu
nguyện, nhưng mỗi người chỉ dùng một
số điểm ḿnh thấy ích lợi, trừ phi
người hướng dẫn nói khác trong trường
hợp cụ thể.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Thiên
Chúa, ở với và hạnh phúc bên Thiên Chúa.
Tâm sự là phần chính của bài cầu
nguyện, dù người hướng dẫn chỉ
nhắc một vài câu về điều này.
Cầu nguyện là một cách để thông
hiệp với Thiên Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống
thường ngày của con người, để con
người sống hạnh phúc với Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và
có ư thức về điều đó hay không. Thiên Chúa luôn
nh́n xem tôi và can thiệp vào đời tôi một cách kịp
thời, v́ Ngài luôn yêu thương tôi. "Ngài chặn tôi
trước, Ngài ngừa tôi sau... bàn tay của Ngài
đặt trên tôi" (Tv 139:5).
Khi cầu nguyện người ta cần ư thức
Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương ḿnh.
Như vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà
vẫn luôn ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́
tôi cũng đang cầu nguyện và đang kết
hiệp với Thiên Chúa một cách nào đó.
Ư thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong
đời sống thường ngày, không đ̣i chúng ta
phải ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày,
chúng ta vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng
"Thiên Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh."
Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta qua
lương tâm mỗi người, qua những biến
cố xảy tới với ḿnh trong đời, qua Lời
Chúa trong Kinh Thánh...
Chúa nói với tôi, tôi có lắng nghe?
Thái độ đáp trả của tôi với
Lời Ngài như thế nào? Tôi vâng phục, hay từ
chối, hay lẩn tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa nói
với tôi không?
Khi tôi thấy con người của tôi
dưới ánh sáng Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những
ǵ Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu
tôi có những bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với
Chúa, để Lời Chúa như gươm hai lưỡi
phân tách (Dt 4:12), để tôi được tinh sạch
hơn (Ga 17:17) và tự do hơn (Ga 8:32).
Như hai người bạn thân, chỉ cần
ở bên nhau; cũng vậy, chỉ cần ư thức ḿnh
đang ở với Chúa.
Có nhiều người mong ước kết
hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện. Đây là
ao ước chính đáng và tốt lành thánh thiện.
Nhưng làm sao có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong
cầu nguyện?
Để hiệp nhất với Thiên Chúa trong
giờ cầu nguyện, đ̣i người đó luôn khao
khát mong ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng
khao khát ước mong, sẽ giúp người đó luôn
kết hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống
thường ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa
ngay cả khi điều đó trái ư ḿnh, và nếu
được như vậy, sẽ giúp người đó
kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện.
Có người cho rằng họ đă đạt
đến mức kết hiệp với Thiên Chúa cách
rất đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng
trong cuộc sống thực tế cho thấy người
đó rất khó sống với người khác, và họ
thường "khá kiêu ngạo!" Thánh Inhaxiô lưu ư
một số anh em Ḍng Tên: "cầu nguyện lâu giờ
mà không có tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho
người ta thêm cứng đầu."
Để có thể kết hợp với Thiên Chúa
trong giờ cầu nguyện, người ta cần
phải liên lỉ kết hiệp với Thiên Chúa trong
suốt ngày sống. Họ phải luôn từ bỏ ư riêng
để vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa, để yêu
thương và chấp nhận anh em, để thông cảm
với những giới hạn của anh em và những trái
ư từ bên ngoài đưa tới. Một người cho
rằng ḿnh đă có thể kết hiệp dễ dàng
với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có đời
sống từ bỏ và yêu thương, e rằng đó là
người "ảo tưởng,” và chưa biết ḿnh
cách sâu xa và đích thực.
Để kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ
cầu nguyện, cần kết hiệp với Thiên Chúa
trong suốt ngày sống. Sống đời sống "từ
bỏ" qua yêu mến đức khó nghèo và sẵn sàng
chịu sỉ nhục và khinh chê v́ Chúa Giêsu Kitô, chấp
nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách khác,
cuộc sống "đồng h́nh đồng
dạng" với Đức Giêsu trong tư tưởng,
lời nói và hành động, sẽ giúp người đó
kết hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ
cầu nguyện.
Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là
tâm sự. Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng quan
trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan
trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là phần quan
trọng nhất. Tâm sự phản ánh tương quan
của ḿnh với Thiên Chúa.
Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những
sự thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu
nguyện.
Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa
hoặc tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ
giúp ḿnh tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ
đó cũng thuộc về cầu nguyện; chẳng
hạn, sau một suy nghĩ, một người có thể
thấy một ánh sáng nào đó, và điều này giúp họ
tạ ơn Thiên Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài
xin Thiên Chúa điều ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng
là cầu nguyện.
Điểm chính yếu của cầu nguyện không
là có nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái
độ của ḿnh đối với Thiên Chúa.
Để hướng dẫn người giúp Linh
Thao, thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện
ngắn gọn và trung thực, để giúp người
tập Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ "không
phải sự hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh
hồn, nhưng chính sự cảm nếm bên trong mới
làm thỏa măn linh hồn" (LT 2).
Trong cầu nguyện và đặc biệt trong
tâm sự, chúng ta có thời gian để sống với
Thiên Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta.
Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói cầu nguyện là
giờ phút cảm nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa
như một người bạn với một
người bạn, như một người tôi tớ
với chủ ḿnh.
Được coi là
tâm sự,
khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa,
khi thân thưa với Thiên Chúa về chính con người và
nhu cầu của ḿnh,
khi xin một ơn,
khi xin tha thứ lỗi lầm,
khi phó thác công việc hay trọn cả con người cho
Thiên Chúa,
khi xin dạy bảo hay hướng dẫn (LT
54.61.109.199.224).
Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu
nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng
giờ để tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.
Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa
bằng cả con người với tất cả tâm t́nh,
là ở lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.
Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy
nghĩ và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện.
Những gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư
để giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và
về Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự
với Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă
thấy hoặc được soi sáng.
Những điểm gợi ư cầu nguyện,
chỉ là những gợi ư, là phương tiện giúp chúng
ta cầu nguyện; nó chỉ có giá trị tương
đối và "rất là tương đối.” Chính v́
thế, chúng ta chỉ dùng những điểm gợi ư
trong mức độ nó giúp chúng ta cầu nguyện, và
chỉ dùng số điểm nào đó như chúng ta
thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả
mọi điểm đă được gợi ư (LT
2.76.228)[23].
Về tư thế khi cầu nguyện, tư
thế nào (ngồi, đứng, qùy, phủ phục, ...)
giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́ ḿnh dùng tư thế
đó; Và một khi dùng tư thế đó mà gặp
được Chúa, th́ không nên thay đổi (LT 76).
Trong Linh Thao, sau 60 phút cầu nguyện, thánh Inhaxiô
đề nghị thao viên lượng giá giờ cầu
nguyện, cũng c̣n gọi là xét gẫm, trong 15 phút (LT 77).
Mười lăm phút xét gẫm, là 15 phút phân định
thiêng liêng và cầu nguyện, là những phút phản
tỉnh để biết ḿnh hơn và biết Thiên Chúa
hơn. Việc xét gẫm rất quan trọng để
giúp người làm Linh Thao tiến bộ hơn, chính v́
thế phải làm rất nghiêm túc.
Xét gẫm sau mỗi bài cầu nguyện
để nhận ra những hồng ân Chúa ban để
tạ ơn, và những cản trở cầu nguyện
để chỉnh sửa, để nhận ra cạm
bẫy của thần dữ để tránh. Phân
định tác động các thần khi xét gẫm sau
cầu nguyện, giúp thao viên tránh khỏi sa bẫy thần
dữ, để b́nh an đi trên đường Chúa
muốn. Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngài muốn chúng ta
sống an vui, triển nở, hạnh phúc. Thần lành
cũng muốn chúng ta sống hạnh phúc. Thần dữ
không muốn chúng ta sống hạnh phúc.
Những nguyên nhân làm tôi bị chia trí khi cầu
nguyện. Nếu tôi hay bị chia trí về ai đó! Có
thể do tôi có t́nh cảm lệch lạc: thương quá
hay ghét quá?! Chúa mời gọi tôi điều ǵ qua chia trí
này? Phải chăng Chúa mời gọi tôi từ bỏ? hay
tha thứ (cho người xúc phạm đến ḿnh)? hay
tự hủy? Tôi cần nói chuyện với Chúa về
những điều đó. Tôi không thể vượt qua
nếu không có sự trợ giúp của Chúa.
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng. Ngài muốn tôi sống
hạnh phúc. Ngài muốn tôi an vui triển nở hạnh
phúc trong cuộc sống thường ngày, và đặc
biệt khi cầu nguyện. Hạnh phúc hàm chứa b́nh an
thẩm sâu trong tâm hồn. Nếu tôi không b́nh an, đó là
dấu chỉ có ǵ đó chưa ổn, cần chỉnh
sửa. Cái ǵ làm tôi không b́nh an, không hạnh phúc? Tôi lo
lắng, sợ hăi về điều ǵ?
B́nh an là một ơn. Cần xin Thiên Chúa ban ơn
b́nh an cho ḿnh. Những nguyên do có thể làm tôi không
được b́nh an, tươi vui, triển nở, và
hạnh phúc: không tin Thiên Chúa yêu thương minh, bị
tổn thương mà không tha thứ, không có cái nh́n và thái
độ đúng đắn về tạo vật, về
tiền bạc chức quyền danh vọng. Nếu
thấy được nguyên nhân, th́ chỉnh sửa chính
ḿnh, để có được điều ḿnh cần. Và
như vậy b́nh an đến với ḿnh.
Thiên Chúa tạo dựng con người để
con người được sống hạnh phúc với
Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con
người, Ngài không bao giờ muốn con người
phạm tội[24] dù Ngài cho con người
tự do. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc không
chỉ ở đời sau nhưng ngay cả ở
đời này; Ngài không chỉ muốn con người
hạnh phúc trong cầu nguyện mà c̣n cả trong cuộc
sống thường ngày.
Thiên Chúa muốn con người cảm nghiệm
hạnh phúc khi sống đặc biệt với Ngài.
Cụ thể trong cầu nguyện, Ngài muốn con
người được b́nh an thư thái,
được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.
Các thần lành là tạo vật thiêng liêng sống
trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Các ngài sống hạnh phúc trong
t́nh yêu và các ngài cũng muốn con người sống trong
t́nh yêu và hạnh phúc như các ngài.
Thần dữ là các thiên thần kiêu ngạo
chống đối Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống
hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa,
thần dữ c̣n t́m mọi cách để tôi xa ĺa và
chống đối Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc, trong
cuộc sống thường ngày và đặc biệt trong
giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi
được b́nh an thư thái trong cuộc sống và trong
giờ cầu nguyện.
An ủi là t́nh trạng b́nh thường trong
giờ cầu nguyện nếu chúng ta sống tương
quan tốt với Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết: "Gọi là an ủi khi trong
tâm hồn có một thúc đẩy nội tâm, làm linh
hồn cảm thấy bùng cháy lửa yêu mến Tạo Hóa
và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy không c̣n có thể
yêu mến bất cứ tạo vật nào trên mặt
đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong Đấng
Tạo Hóa mà thôi. Tương tự, khi linh hồn chảy
nước mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm
nghiệm tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm
cuộc thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm
những sự khác hướng về việc phụng
sự và ngợi khen Thiên Chúa. Sau cùng, gọi là an ủi khi
linh hồn cảm nghiệm sự gia tăng đức
cậy đức tin và đức mến, và niềm thanh
thản thâm sâu mời gọi và lôi kéo đến những
sự trên trời và phần rỗi của linh hồn, làm
linh hồn cảm thấy thư thái và b́nh an trong Tạo
Hóa và Chúa ḿnh" (LT 316).
Phần lớn khi được an ủi là do thần
lành hướng dẫn[25] (LT 318), và nếu khi xét
gẫm ḿnh đă nhận ra đó là ơn Chúa th́ hăy tạ
ơn Chúa.
Sầu khổ là do tác động của thần
dữ (LT 318).
Thánh Inhaxiô viết: "Gọi là sầu khổ
tất cả những ǵ trái ngược với quy tắc
thứ ba. Chẳng hạn, sự tối tăm trong tâm
hồn, xao xuyến bên trong, thúc đẩy về những
ǵ thấp hèn và phàm tục, bất an trước những
xáo động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng,
trông cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy
lười biếng, khô nhạt, buồn rầu và như
bị ĺa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 317).
V́ sầu khổ là do tác động của
thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó th́ không thể
đến với Thiên Chúa được; thế nên
"chúng ta luôn luôn làm ngược lại điều ác
qủy hay thần dữ muốn" (LT 351).
Nếu thần dữ muốn chúng ta bỏ
cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi quyết
định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm
ngược lại điều thần dữ muốn,
nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện
hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái
độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ
bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi
mở lương tâm với những người
đạo đức am tường việc thiêng liêng (LT
326).
Nếu nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không
được tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về
những vướng bận hay lệch lạc nào đó,
hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó
với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải lo
thống hối và hoán cải (LT 321 bc).
Một vài ghi chú để giúp nhận
định.
Thiên Chúa muốn người đang ở trong
t́nh trạng tội trở về với Ngài, Ngài luôn hành
động trong thâm sâu tâm hồn mỗi người
để làm họ trở về với Ngài, qua tiếng
nói của lương tâm và qua những dấu chỉ
hữu h́nh.
Thần dữ hành động ngược
lại. Nó t́m mọi cách để người đó ở
lại trong tội, chẳng hạn bằng gợi lên
những h́nh ảnh gây
Thiên Chúa vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi
người, để họ tiến tới hơn trên
đường phụng sự Chúa. Các thần lành cũng
trợ giúp, để con người cảm nhận b́nh an
và hạnh phúc, để họ
Thần dữ t́m mọi cách và mọi lư do
"ngụy biện" để ngăn cản con
người tiến tới, gây bất an và xáo động
nơi tâm hồn con người (LT 315).
Thiên Chúa muốn con người được
sống trong t́nh yêu và hạnh phúc với Ngài; thần lành
cũng muốn chúng ta sống trong hạnh phúc với Thiên
Chúa như các ngài; c̣n thần dữ th́ luôn chống
đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để làm con
người sống xa Thiên Chúa.
Khi có nguyên do, cả thần lành lẫn thần
dữ đều có thể "an ủi,” nhưng nhằm
mục đích trái ngược (LT 331). Chỉ có Thiên Chúa
mới có thể tác động trực tiếp trên con
người không cần trung gian. Điểm đặc
biệt của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người
đến với Ngài không qua trung gian, mà con người
hoàn toàn tự do (LT 330).
Chỉ Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do
con người. Đó là lư do tại sao chúng ta cầu
nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một
người, xin cho người nào đó trở lại. Làm
một người trở lại, đó là khả năng
chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm
được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự
do).
Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến
đổi một người, và Ngài cũng có thể
biến đổi một người không cần dùng trung
gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do[26].
Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu
nguyện được tiến bộ, chúng ta cần
lượng giá giờ cầu nguyện; việc
lượng giá này được gọi là xét gẫm (LT
77). Giờ cầu nguyện vừa qua đă diễn
tiến thế nào? Vui hay buồn? Có ư tưởng ǵ hay?
Được soi sáng ǵ? Bị chia trí, bận tâm, cám
dỗ về điều ǵ? Những điều này
phản ánh ǵ về con người ḿnh? Thiên Chúa mời
gọi tôi về điều ǵ qua những điều
đó? Tôi có ao ước ǵ muốn thân thưa với Chúa?
Tôi có được b́nh an thư thái không?
Tôi có được thêm ḷng tin cậy yêu mến
Thiên Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần gũi
với ḿnh không?
Tôi có nhận được "ơn xin"
của bài cầu nguyện không?[27]
Tôi có được ơn ǵ khác không? Có
được đánh động hay được
một ánh sáng ǵ đặc biệt không?
Câu hỏi này giúp tôi nhận định tổng
quát về giờ cầu nguyện. Nếu không hài ḷng, th́
phải t́m nguyên do và cải thiện, để giờ
cầu nguyện tiếp sau được tốt hơn.
Tại tôi thiếu cố gắng tập trung
cầm trí cầu nguyện?
Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí ngay khi tôi
ư thức?
Phải chăng tại tôi chưa cố gắng
giữ ngũ quan và tâm trí?
Tôi chưa luôn sống với ư thức Thiên Chúa
đang hiện diện và yêu thương tôi trong suốt
cả ngày sống?
Tôi c̣n một vướng bận hay bất ḥa nào
đó với tha nhân mà chưa được giải
quyết?
Có một quyến luyến lệch lạc nào
đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ?
Hay tại tôi chưa thật sự mong
ước khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?
Hay tại tôi không sẵn sàng làm tất cả
những ǵ Thiên Chúa muốn?
Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân
thưa với Chúa về thái độ cầu nguyện
của ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong
giờ cầu nguyện, và về những trễ nải
thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu
nguyện hay trong suốt ngày sống.
Sau khi cầu nguyện, người cầu
nguyện dùng một thời gian ngắn để xét
gẫm, xem giờ cầu nguyện của ḿnh thế nào!
Nếu không tốt[28] hoặc không tốt
lắm, th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă nhận ra
th́ cố gắng sửa đổi (chính ḿnh), để
giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt
đẹp hơn.
Nếu t́m đúng nguyên do và được
chỉnh đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau
sẽ tốt đẹp hơn. Có thể nhờ
người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng nhận
định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm
xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh t́m
được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện không
được, cách chính xác và chắc chắn hơn.
Có thể do ḿnh thiếu quảng đại với
Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày sống,
mà ḿnh cầu nguyện không được tốt.
Nếu ḿnh không cố gắng tập trung
để cầu nguyện, hoặc nếu không xua
đuổi ngay các chia trí đến trong giờ cầu
nguyện, không đặt Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng
khó cầu nguyện "tốt".
Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp
với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện.
Để dễ dàng cầu nguyện, con người cần
luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống.
Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào
đó, mà ḿnh cầu nguyện không được
"tốt."
Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên
hoặc bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́
cũng khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh
cầu nguyện không được, hăy xem ḿnh có cố
gắng quảng đại hết sức để
cầu nguyện chưa; nếu đă cố gắng
"hết sức" rồi mà vẫn cầu nguyện
không được, th́ xem ḿnh c̣n quyến luyến
điều ǵ cách lệch lạc không, và khi nhận ra th́
hăy quảng đại để chỉnh đốn
lại.
Cứ b́nh thường, qua chia trí bận tâm trong
giờ cầu nguyện, mà ta nhận biết lệch
lạc của ḿnh.
Một người có thể không cầu
nguyện được, v́ họ nhận thức sai
lầm: họ tưởng rằng cầu nguyện
được là do sức con người. V́ vậy, Thiên
Chúa có thể để họ cầu nguyện không
được, nhằm giúp họ nhận ra sự
thật: cầu nguyện được, là một ơn
Thiên Chúa ban cho con người (LT 322c).
Một người có thể bị sầu
khổ thiêng liêng mà không phải do lỗi của họ (LT
322b).
Nếu ḿnh cầu nguyện không được,
bị sầu khổ thiêng liêng, mà không tại lỗi ḿnh,
th́ hăy kiên tŕ và quảng đại. Lúc đó chủ quan ḿnh
thấy ḿnh cầu nguyện không được tốt,
nhưng khách quan th́ vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên Chúa
đang tôi luyện ḿnh, Ngài tập cho ḿnh đến
với Ngài v́ chính Ngài chứ không phải v́ ḿnh
được an ủi; tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh
cầu nguyện không được sốt mến,
nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng thành hơn
về đức tin đức cậy và đức
mến.
Đối với một người đang
tiến tới trên đàng thiêng liêng, nếu người
đó biết điều ǵ đó là do thần dữ th́
chắc chắn người đó sẽ không theo; như
vậy, để làm con người đi theo
đường lối tà vạy của ḿnh, qủy
thường giả dạng thần lành để dẫn
đưa người đó theo lối đồi tệ
của nó (LT 332).
Nếu một ư tưởng hay một
điều nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh
thiện, nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu
nguyện không được: như làm chúng ta chia trí phân
tâm trong cầu nguyện, làm việc cầu nguyện
bị giảm sút, chúng ta thấy bối rối, không
được b́nh an như trước, th́ đó là
dấu chỉ cho thấy ư tưởng hay điều
đó là do ác qủy (LT 333); chúng ta hăy duyệt xét lại
để rút kinh nghiệm cho lần tới, để
không trúng bẫy thần dữ nữa (LT 334).
Có thể có những lúc trong đời, chúng ta
cảm thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều, và cảm
thấy bị cám dỗ nhiều về điều này
hơn điều kia. Tại sao vậy?
Có thể đó là điểm yếu của tôi.
Thánh Inhaxiô viết: "Thần dữ xử
sự như một tướng quân để thắng và
cướp những ǵ nó muốn. Bởi v́, một vị
chỉ huy hoặc thủ lănh của một đạo
quân, sau khi đặt doanh trại và quan sát lực
lượng hay cách bố trí của một thành tŕ, sẽ
tấn công vào điểm yếu nhất.
Cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài
người cũng lượn quanh để quan sát các
nhân đức đối thần, các nhân đức
trụ và luân lư, và nơi nào nó nhận thấy ta yếu
nhất và dễ nguy hiểm nhất cho phần rỗi
đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào
đó để cố hạ ta" (LT 327).
Nếu tôi bị tấn công nhiều ở
điểm nào, có thể đó là điểm yếu
(nhược điểm) nhất của tôi chăng?
Nếu tôi bị tấn công hay bị cám dỗ
dữ dội ở điểm nào đó, có thể tại
v́ tôi chưa dứt khoát thái độ ở điểm
này, tại tôi chưa dứt khoát chống trả thần
dữ và những chước cám dỗ của nó chăng?
Thánh Inhaxiô viết: " Kẻ thù xử sự
như đàn bà, v́ nó yếu khi ta chống trả, và nó
mạnh khi ta buông xuôi. Thực vậy, đặc
điểm của đàn bà khi gây gỗ với đàn ông,
là mất can đảm và chạy trốn khi đàn ông
thẳng tay chống trả. C̣n ngược lại nếu
người đàn ông bắt đầu chạy trốn và
mất can đảm, th́ cơn giận sự trả thù và
sự hung dữ của đàn bà thật lớn và không sao
lường được.
Cũng vậy, đặc điểm của
kẻ thù là yếu nhược và mất can đảm cùng
chạy trốn với những cám dỗ của nó, khi
người tập tành trong đường thiêng liêng
thẳng tay chống trả các chước cám dỗ
của kẻ thù và làm ngược lại với các cám
dỗ. Nhưng trái lại nếu kẻ bắt đầu
tập tành trên đường nhân đức lại
sợ hăi và mất can đảm trước cuộc
tấn công của cám dỗ, th́ trên mặt đất này
không có con vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của
bản tính loài người nhằm theo đuổi ư
hướng xấu xa và vô cùng đồi tệ của
nó" (LT 325).
Một
người thiếu dứt khoát trong việc chống
trả chước cám dỗ, có thể v́ t́nh yêu của
người đó đối với Thiên Chúa đă bị
giảm sút. Trong trường hợp này hăy xin lỗi Chúa,
và bắt đầu sống quảng đại hơn
với Chúa trong từng giây phút sống.
Khi c̣n sống trong thân xác, chúng ta c̣n bị cám
dỗ và thử thách; những cám dỗ đó có thể là
những dịp để chúng ta diễn tả t́nh yêu
của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ thể hơn.
Không ai được miễn trừ khỏi
bị cám dỗ và thử thách.
Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ trong hoang
địa (Mt 4:1-11), Ngài c̣n bị thách thức để
làm phép lạ từ trời (Mc 8:11-12), bị cám dỗ và
thử thách trong vườn dầu (Mc 14:32tt), bị
thử thách cả về đức tin ngay trên thập giá
(Mc 15:34).
Đức Maria không chỉ thưa tiếng xin vâng
trong biến cố truyền tin (Lc 1:26tt), nhưng c̣n
thưa tiếng xin vâng trong suốt cuộc đời,
đặc biệt trong biến cố Mẹ đứng
dưới chân thập giá.
Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất cái dằm
ra khỏi xác thịt, nhưng Ngài được trả
lời: "ơn Ta đủ cho con" (2Cor 12:7-9).
Thử thách và cám dỗ trong cuộc sống
tại thế, là thuộc thân phận làm người
của chúng ta; chúng ta hăy chấp nhận, và can đảm
đương đầu để vượt qua. Chúa
không miễn trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ,
nhưng Chúa bảo đảm rằng nếu chúng ta tin
tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ
chiến thắng: "Các con hăy tin tưởng, Ta đă
thắng thế gian" (Ga 16:33).
Khi tôi bị cám dỗ nhiều hoặc mạnh,
cũng có thể Thiên Chúa để tôi bị cám dỗ
nhiều, để tôi có nhiều dịp lập công và
trưởng thành cùng cứng cáp hơn (LT 33-34.322b);
nhưng có thể đó là dấu chỉ cho thấy ḷng
mến của tôi đối với Thiên Chúa đă bị
giảm sút.
T́nh yêu được
biểu lộ qua khát vọng nên thánh và những hành
động cụ thể.
Yêu là hành vi tự do. Sống theo bản năng,
không được lư trí hướng dẫn, th́ không
phải là hành vi tự do, và như vậy không là yêu
thương.
Khao khát nên thánh[29], ao ước thuộc
trọn về Thiên Chúa, là hành vi t́nh yêu.
Cứ xem chúng ta khao khát thuộc về Chúa, khao
khát nên thánh đến mức độ nào, để chúng
ta biết chúng ta yêu Chúa như thế nào. Nếu khi xét
gẫm mà chúng ta nhận thấy chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu
đối với Thiên Chúa hay thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa,
th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.
Xin được yêu Chúa, đó là điều
chúng ta cần khiêm tốn nài xin liên lỉ (Xem LT 234).
Từ ngữ "t́nh yêu" là từ ngữ
trừu tượng. Dù là từ ngữ trừu
tượng, nó vẫn diễn tả một thực
tại vô cùng phong phú được biểu lộ bằng
nhiều hành vi cụ thể.
Yêu Thiên Chúa, là sẵn sàng để tùy Ngài
muốn xếp đặt như thế nào về con
người và cuộc đời của ḿnh cũng
được. Sẵn sàng dâng tất cả cho Chúa,
để Chúa hoàn toàn tự do quyết định.
Yêu Thiên Chúa, là chọn Thiên Chúa và những ǵ
thuộc về Thiên Chúa trên hết. Chẳng hạn trong
thời gian Linh Thao, dành tất cả thời giờ cho
Thiên Chúa và cụ thể là cầu nguyện; luôn sống
với ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh và yêu
thương ḿnh, luôn sống trong tâm t́nh của chủ
đề ḿnh đang cầu nguyện; luôn giữ ǵn
ngũ quan để dễ dàng tập trung cầu
nguyện và không làm người khác bị phân tâm chia trí; hy
sinh hăm ḿnh như dấu chỉ muốn thuộc về
Thiên Chúa hơn nữa.
Hồi tâm xét ḿnh là điều các Kitô hữu
đă làm từ xưa. Với thánh Inhaxiô, hồi tâm xét
ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng cần làm
nếu muốn tiến bộ không ngừng trong đời
sống thiêng liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày
hơn. Ốm đau có thể không cầu nguyện,
nhưng vẫn cần giữ hồi tâm xét ḿnh. Theo
truyền thống trong Linh Thao thao viên được
đề nghị làm hồi tâm xét ḿnh hai lần một
ngày, mỗi lần sẽ làm 15 phút (xem LT 25.26.43).
Việc phân định vẫn được
thực hiện trong hồi tâm xét ḿnh. Xét ḿnh để
nhận ra những hồng ân Thiên Chúa đă ban cho ḿnh,
cũng như những lỗi lầm ḿnh đă phạm,
để tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa, để nghe
được tiếng Chúa mời gọi, để
sống tốt hơn từng ngày.
Xin đề nghị làm hồi tâm xét ḿnh theo
năm bước.
i. Ư thức ḿnh hiện diện trước nhan
Chúa và kính cẩn chào Chúa
ii. Xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để Ngài giúp
ḿnh ...
iii. Ơn lành[30]
iv. Lỗi lầm[31]
v. Tâm sự thân thưa với Chúa dựa vào
những ơn lành ḿnh đă nhận và những lỗi
lầm khuyết điểm ḿnh đă phạm.
Theo thói quen người ta vẫn cho rằng xét
ḿnh chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm
khuyết điểm của ḿnh để ăn năn sám
hối; tuy nhiên việc nhận ra những ơn lành Thiên
Chúa ban cho ḿnh trong đời sống thường ngày
rất quan trọng, để luôn sống trong ư thức và
tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện
với ḿnh.
Nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh,
là dấu chỉ của một đời sống
thiết thân với Thiên Chúa. Càng nhận biết hồng ân
Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên Chúa hơn.
Nhận ra những lỗi lầm của ḿnh
để sửa đổi, là điều chính yếu
của việc xét ḿnh.
Trong xét ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra
những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh,
nhưng c̣n nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn
của ḿnh, để có thể tránh được những
lỗi phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi làm
điều này chứ không phải điều kia, ngay
cả khi điều tôi làm chưa phải là tội? Cái
tàng ẩn hay khuynh chiều đằng sau hành động
đó là ǵ?
Tại sao tôi hay bị cám dỗ về
điều này? Tại sao tôi bị cám dỗ về
điều này dai dẳng và mănh liệt như vậy?
Phải chăng v́ tôi chưa có thái độ hay lập
trường dứt khoát với điều này (với
khuynh chiều này, với tội này)? Hay tại v́ t́nh yêu
của tôi với Thiên Chúa đă bị phai lạt và
giảm sút? Tôi cần nhận ra những điều
đó, để có quyết định và thái độ
cụ thể nhằm tiến bộ hơn nữa trong
đời sống thiêng liêng.
Nếu có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́
sau khi đă nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban và
những lỗi lầm ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên
Chúa, chúng ta nên dùng thời gian c̣n lại để nói
chuyện thân thưa với Thiên Chúa dựa vào những
hồng ân và những lỗi lầm của ḿnh. Đây là
những phút cầu nguyện dựa vào đời sống
ngày qua của ḿnh.
Trong Linh Thao người ta làm phân định
thiêng liêng khi xét gẫm, khi hồi tâm xét ḿnh, khi chọn
lựa bậc sống, v.v. Sau Linh Thao, người ta
thường làm phân định thiêng liêng lúc hồi tâm xét
ḿnh.
Theo thánh Inhaxiô, người ta có thể làm
nhận định bậc sống (ơn gọi) hay
những chọn lựa khác vào cuối tuần II Linh Thao.
Không phải ai cũng làm chọn lựa bậc sống
(nhận định ơn gọi) được. Phải
là người b́nh tâm (ở một mức độ nào
đó), biết được mục đích đời
người cũng như ơn gọi Kitô hữu, sẵn
sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi cho dù gặp
khó khăn thập giá trên đời. Cũng không
phải ai cũng làm Linh Thao được (LT 18), phải
là người mong ước nên thánh, khao khát sống tốt
hơn, hơn nữa. Phân định bậc sống là
điều rất quan trọng. Chúa muốn ai sống
bậc sống nào th́ Ngài tạo dựng họ thích hợp
cho bậc sống đó. Không sống như Thiên Chúa
muốn, con người khó có thể sống hạnh phúc.
Thánh Inhaxiô dùng từ chọn lựa bậc
sống, nhưng không được hiểu theo nghĩa
tôi thích, tôi muốn bậc sống nào, th́ tôi chọn
bậc sống đó. Chọn lựa theo thánh Inhaxiô là
nhận biết Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào,
th́ ḿnh chọn bậc sống đó.
Chúa mời gọi anh thanh niên giầu có đi theo
Chúa, nhưng anh ta không theo (Mc 10:21-22). Có người
muốn đi theo Chúa nhưng Chúa không cho (Mc 5:18-19). Không
phải cứ muốn đi tu, là đi tu được.
Không thể lư luận: nếu Chúa không muốn tôi đi tu,
làm sao tôi đi tu được! Nếu lư luận như
vậy, làm sao trả lời câu: nếu Chúa không muốn tôi
phạm tội, th́ làm sao tôi phạm tội
được. Chúa không muốn ai phạm tội cả.
Chúa ban cho người ta tự do, kể cả tự do làm
trái ư Ngài.
Giúp người ta phân định chọn lựa
ơn gọi, là giúp người ta nhận ra ư của Thiên
Chúa đối với họ, và giúp họ quảng
đại đáp trả lời mời gọi của Chúa.
Đi tu không tốt hơn lập gia đ́nh. Nếu Chúa
muốn ḿnh sống bậc sống nào, th́ sống bậc
sống đó là tốt cho ḿnh. Nếu không sống theo
bậc sống Chúa muốn, có thể sinh những hậu
quả không tốt cho đương sự, và cũng không
tốt cho Giáo Hội.
Không phải ai cũng làm Linh Thao được.
Để Linh Thao, cần thái độ, ḷng khao khát
muốn thành người tốt hơn, hơn nữa. Không
phải ai cũng làm việc chọn lựa
được. Để chọn lựa: nhận biết
và chọn ư Chúa, đ̣i người đó cần: biết mục
đích đời người, biết Thiên Chúa yêu
thương ḿnh vô cùng, b́nh tâm: luôn chọn Thiên Chúa trên
hết, sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời
gọi, sẵn sàng bỏ mọi lệch lạc, mong
ước yêu Chúa và nên đồng h́nh đồng dạng
với Chúa Giêsu. Nếu không b́nh tâm, e rằng khó
nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Nếu không b́nh tâm,
không sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi,
không sẵn sàng cực khổ v́ yêu Chúa, th́ không sẵn sàng
chọn theo Ư Chúa.
Những lệch lạc cần nhận ra
để giúp một người biết rơ về ơn
gọi của ḿnh. Một người có thể muốn
đi tu v́:
i. Đời tu an
nhàn hơn, ở gia đ́nh họ khổ quá.
ii. Đi tu
được học hành, có cơ hội tiến thân.
iii. Những
người đi tu được kính trọng, gia
đ́nh người đi tu được trọng
vọng, v.v.
iv. Đời gia
đ́nh quá bất hạnh, kinh nghiệm nơi gia đ́nh
của nhiều người, nơi anh chị em, nơi
bạn bè, nơi hoàn cảnh mà người đó thấy.
v. Không muốn
lập gia đ́nh nhưng ở ngoài đời cha mẹ
cứ thúc ép suốt.
vi. Thích đi tu dù
không thể sống cộng đoàn, v́ ở ngoài không
thể được cứu độ, v.v.
vii. Lỡ đi tu
rồi, không thể ra v́ áp lực gia đ́nh, áp lực giáo
xứ bà con họ hàng, v.v.
Thánh Ư Thiên Chúa có thể tỏ hiện rơ ràng
như trường hợp Chúa gọi Phêrô, Matthêu, anh thanh
niên giầu có, Phaolô, v.v. (LT 175). Thánh ư Thiên Chúa cũng có
thể được biết qua những an ủi hay
sầu khổ trong cầu nguyện và trong cuộc sống
(LT 176). Thánh ư Thiên Chúa cũng được nhận
biết qua việc dùng lư trí để suy xét nhận
định (177).
Từ muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương
tôi, Ngài đă tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong
chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa
không chỉ lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài
c̣n để ư lưu tâm đến từng cử chỉ
hành vi biến cố của tôi (Tv 139; Lc 12:6-7); chính v́
thế trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi
"Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?"
Nếu ngay cả việc "đi đứng
nghỉ ngơi" Chúa đều biết, th́ huống
hồ về bậc sống của cuộc đời
ḿnh: Thiên Chúa đă có chương tŕnh về tôi. Nếu
Thiên Chúa muốn gọi và chọn tôi ở bậc sống
nào, th́ Ngài đă tạo dựng tôi thích hợp cho bậc
sống đó.
Lời mời gọi "sống đời
sống nào đó" có thể được biểu
lộ nơi ḷng ao ước sống đời sống
đó, hoặc có những dấu chỉ khách quan cho
thấy Thiên Chúa muốn. Nếu một người khao
khát sống bậc sống dâng hiến với ư
hướng ngay lành[32], ḷng khao khát đó có thể là
dấu chỉ cho thấy Chúa gọi người đó.
Nếu khát vọng này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho
tới ngày nay, th́ càng cho thấy "người đó
được Chúa gọi" cách chắc chắn hơn.
Nếu trong đời người đó có những
biến cố khách quan mà người đó xác tín rằng
đó chính là Chúa bảo vệ để gọi họ, th́
càng chắc chắn hơn nữa rằng "Chúa gọi
họ".
Lựa chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là
quyết định theo ư thích của ḿnh, nhưng là
chọn theo Ư của Thiên Chúa về ḿnh.
Lựa chọn bậc sống, không có nghĩa là
ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống
đó[33],
nhưng: Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́
ḿnh chọn bậc sống đó.
Trong sách Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập
đến ba thời để làm việc lựa chọn;
trong thời thứ ba, thánh Inhaxiô nói tới hai cách làm
việc lựa chọn. Tuy vậy chúng ta nên cẩn
thận, không phải ai cũng làm việc lựa chọn
"đúng đắn" được, nhưng chỉ
những người có cái nh́n đúng đắn về
Thiên Chúa con người và vũ trụ, cũng như
họ phải b́nh tâm thực sự, th́ họ mới có
thể lựa chọn "đúng đắn"
được[34].
Để làm việc lựa chọn tốt, cần
ư thức rơ mục đích đời người: Thiên Chúa
tạo dựng con người để con người
sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn
loài muôn sự được tạo dựng như
phương tiện để giúp con người đi
tới với Thiên Chúa.
B́nh tâm là một điều kiện cần
thiết để làm việc lựa chọn đúng
đắn và chính xác: chọn lựa theo điều Chúa
muốn chứ không phải theo ư riêng ḿnh thích.
Nếu không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa
đúng đắn được. Như vậy, chỉ
nên cho những người "b́nh tâm" được
làm chọn lựa, tức là những người chỉ
muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m
hoặc muốn làm theo ư ḿnh[35].
Đă là người, sống th́ phải lựa
chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi
nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con
người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư
chí.
Con người có lư trí.
Để sống hạnh phúc, đối với
chính ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách
sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong
tương quan với Thiên Chúa con người cần
thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.
Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận
ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi
với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu
thương và luôn muốn con người sống hạnh
phúc.
Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi
thấy bậc sống này giúp tôi sống triển nở và
hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu
xa con người tôi mà bậc sống khác không thể
đáp ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa
gọi tôi.
Biết và làm, đôi khi không trùng khít với nhau
nơi nhiều người. "Tri hành bất nhất,”
làm cho con người không được hạnh phúc.
Thiên Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho
họ có khả năng thực hiện điều đó.
Nếu Thiên Chúa muốn ai thực hiện điều ǵ
đó, th́ người đó không thể nói "lực
bất ṭng tâm.” Như vậy, nếu một người
thấy rơ ḿnh không thể làm điều ǵ đó, hoặc
không thể tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có
khả năng làm điều đó, th́ đó là dấu
chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn điều đó
cho họ.
Khả năng sống điều ḿnh xác tín, cho
thấy điều xác tín có thể là Ư Chúa đối
với họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay
thấy rằng) họ được Thiên Chúa gọi
sống đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc
sống cụ thể họ phải cảm thấy
sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống
dâng hiến. Không có khả năng sống đời
sống dâng hiến "một cách triển nở và
hạnh phúc[37],”
là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn
người đó sống đời dâng hiến.
Nếu chúng ta làm việc lựa chọn đúng,
nghĩa là nếu chúng ta chọn điều Thiên Chúa
muốn cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái
hạnh phúc hơn, phản ánh tương quan tốt
với Thiên Chúa.
Một cách cụ thể, nếu chúng ta chọn
lựa tốt, chúng ta sẽ cầu nguyện tốt ít
nhất là bằng thời gian trước khi chọn
lựa[38],
sẽ vui hơn, b́nh an thư thái hạnh phúc hơn.
Thiên Chúa yêu thương nên tạo dựng con người,
để chia sẻ sự sống hạnh phúc vĩnh
cửu của Ngài cho con người. Con người
đă phạm tội, không tin Thiên Chúa yêu thương
ḿnh, hủy hoại tha nhân và hủy hoại chính ḿnh, và
hậu quả là bất hạnh. Thiên Chúa thành tín, Ngài
vẫn yêu thương con người, Ngài quyết
định cứu độ con người. Ngài đă sai
Con, Lời Thiên Chúa, nhập thể cứu độ con người.
Cứu độ con người, để con
người được sống và sống hạnh phúc
vĩnh cửu ở đời sau lẫn đời này.
Cứ b́nh thường, người ta không muốn
chết v́ cái chết làm người ta phải xa
người họ thương yêu. Người ta muốn
sống măi. Tuy nhiên cũng có người không muốn
sống. Có người tự tử. Đau khổ
(thể xác hoặc tinh thần) quá, người ta muốn
chết. Có người giầu sang, quyền thế, nổi
tiếng, ... cũng tự tử.
Bận tâm của Đức Giêsu là làm sao
để giúp con người được sống và sống
hạnh phúc. Đức Giêsu đă suy nghĩ t́m nguyên do.
Ở trong hoang địa Ngài đă ăn chay cầu
nguyện 40 đêm ngày, Đức Giêsu đă t́m ra
điều phải làm để cứu giúp con người.
Có nỗi khổ do người khác gây ra, và có
nỗi khổ do chính ḿnh làm ḿnh khổ.
Nỗi khổ do người khác gây ra cho ḿnh:
họ đánh ḿnh, giết người thân yêu của ḿnh
(điều răn thứ 5), dùng ḿnh hay người khác làm
phương tiện thỏa măn họ (điều răn
6), họ lấy của cải của ḿnh hay của
người khác (điều răn 7 và 10), người ta
làm chứng gian để hại ḿnh (điều răn 8),
đoạt vợ chồng của ḿnh (điều răn
9), ...
Nỗi khổ do ḿnh gây ra cho ḿnh: muốn mà không
được như ư.
Muốn hơn người khác (giầu hơn
người khác, đẹp hơn người khác,
giỏi hơn người khác, quyền hành hơn
người khác, có địa vị cao hơn người
khác, v.v.) nhưng thực tế không được như
vậy.
Bệnh tật. Phải chết. Sinh, lăo,
bệnh, tử. Không chấp nhận sự thật về
chính minh, nên khổ.
Đức Giêsu giúp người ta biết và
cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người vô
cùng. Hơn nữa, Ngài giúp người ta yêu
thương nhau, và giúp người ta có cái nh́n
đúng đắn về tạo vật: của cải,
danh vọng, chức quyền.
Khi được hỏi giới răn nào
trọng nhất? Đức Giêsu đă trả lời: yêu
Chúa hết linh hồn hết sức lực hết trí khôn
và yêu anh em như chính minh (Mc 12:38-42). Tuy nhiên, không chỉ là
biết, mà c̣n phải sống điều ḿnh biết: “Ai
yêu mến Thầy th́ giữ Lời Thầy” (Ga 14:22). Chúa
Giêsu để lại cho chúng ta giới răn duy nhất:
"Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em" (Ga
13:34-35; 15:12).
Đức Giêsu dạy nơi bài giảng trên núi:
phúc cho những người nghèo, người hiền lành,
người sầu khổ, người khao khát công chính,
người thương xót tha nhân, người tâm hồn
tinh sạch, người xây dựng ḥa b́nh, người
bị bách hại v́ Chúa (Mt 5:1-12).
Với người đời: có tiền là có
tất cả. Có tiền mua tiên cũng được. “Cái
ǵ không mua được bằng tiền, th́ mua
được bằng rất nhiều tiền.” Với
Đức Giêsu, tham dục tiền bạc gây khổ năo cho
con người, và nghèo là mối phúc.
Với người đời: địa vị
danh vọng chức quyền là quan trọng; c̣n với
Đức Giêsu: bị bách hại v́ Chúa là mối phúc.
Chúa mời tôi cộng tác với Ngài để
giúp con người hôm nay. Bài cầu nguyện "Tiếng
Gọi Vua Hằng Sống" trong Linh Thao giúp người
làm Linh Thao ư thức, xác tín, và cảm nghiệm điều
này.
Chúa Giêsu đă thức suốt đêm để
cầu nguyện, chọn, và gọi các tông đồ (Mc 3:13-14;
Lc 6:13). Chúa Giêsu đă sai các tông đồ đi rao giảng
(Mt 10:1-16). Lần hiện ra đầu tiên cho các tông
đồ sau khi Ngài phục sinh: “Như Cha đă sai
Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21; 17:18).
Đức Giêsu làm sao, tôi làm như vậy. Chúa
chữa bệnh nhưng vẫn c̣n bao nhiêu người
bệnh. Chúa giúp những người có thể giúp
được: nếu họ tin. Chúa không đ̣i ḿnh làm
điều ḿnh không thể, điều Chúa không ban cho ḿnh
khả năng. Chúa cho ḿnh có khả năng ǵ để giúp
người khác, th́ ḿnh dùng tài năng đó. Giúp
người khác, là phát triển tài năng của ḿnh.
Chúa Giêsu rao giảng. Tôi rao giảng như Chúa.
Chúa giảng dạy ǵ, tôi giảng dạy như Chúa
muốn: "dạy họ tuân giữ những ǵ Thầy
đă dạy anh em" (Mt 28:19).
Giảng dạy như Chúa Giêsu giảng dạy,
giúp người ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương
họ vô cùng, giúp người ta yêu thương tha nhân
như Chúa Giêsu yêu họ, giúp họ tự hủy
để yêu thương.
Qua việc lắng nghe để thông cảm, tôi
được mời gọi an ủi và nâng đỡ
người sầu khổ, cho họ những lời khuyên
(để giúp họ thoát khổ).
Hơn nữa, tôi cũng được mời
gọi làm việc để nếu có thể, giúp
đỡ người nghèo túng quẫn bách.
Ai yêu thương th́ ở trong Thiên Chúa v́
Thiên Chúa là t́nh yêu. Yêu Chúa đ̣i yêu người (Ga 13:34-35;
15:12). Yêu người là yêu Chúa (Ga 14:22). Không yêu bằng
lời nhưng bằng hành động (1Ga 3:18).
Thiên
Chúa yêu thương con người. Hăy sống yêu
thương v́ không yêu th́ không giống Thiên Chúa, và không
thể hạnh phúc. Cần nên giống Chúa tự hủy,
v́ không tự hủy th́ không thể yêu thương và không
thể b́nh an hạnh phúc được.
Người
tông đồ (được sai đi) cần tiếp xúc,
lắng nghe, khuyên bảo nâng đỡ, giúp người
nghèo khổ. Họ cũng cần làm việc để có
ǵ đó hầu giúp người nghèo khổ, cả về
vật chất.
Chính
khi yêu thương giúp đỡ tha nhân, th́ tôi phát triển
tài năng Chúa ban, và tôi triển nở hạnh phúc. Giúp
đỡ tha nhân cách cụ thể, là yêu bằng hành
động.
Thiên
Chúa là Đấng yêu thương. Chính khi yêu thương, là tôi đang trở nên giống Thiên Chúa. Yêu thương, là trở nên
tuyệt vời. Không yêu thương, không yêu thương bằng hành động, bằng cuộc sống,
th́ không thể trở thành Kitô hữu đích thực.
Chúa muốn tôi sống thế nào trong hoàn cảnh
này? Chúa muốn tôi sống bậc sống nào? Gia đ́nh hay
đời sống dâng hiến? Trong ḍng hay trong tu hội
đời? trong ḍng nào hay tu hội nào? Chúa muốn
tôi/cộng đoàn/tỉnh ḍng/hội ḍng của tôi làm ǵ
để phục vụ Chúa nơi anh chị em ḿnh?
Những công việc tông đồ, có thể
đă thấy rơ và đă được xác định,
chúng ta không cần đặt vấn đề. Tuy nhiên khi
hoàn cảnh thay đổi, nhu cầu có thể khác, có
những dấu chỉ cho thấy hôm nay ở đây có
thể Chúa muốn tôi/cộng đoàn/hội ḍng làm
điều ǵ đó để phục vụ Chúa. Đây là
lúc chúng ta cần phân định, xem Chúa mời gọi ǵ?
Chúa muốn chúng ta làm ǵ để phục vụ anh chị
em? Đây là phân định tông đồ.
Phân định tông đồ có thể làm ở
b́nh diện cá nhân, b́nh diện tập thể (chung), b́nh
diện cộng đoàn, và b́nh diện toàn hội ḍng.
Trước khi phân định tông đồ, ta
cần biết đâu là nhu cầu của Giáo Hội toàn
cầu, của Giáo Hội địa phương (nơi
tôi đang sống)? Hội ḍng cần ǵ? Cộng đoàn
tôi sống cần ǵ? Khả năng của tôi như
thế nào? Tôi thích ǵ? Muốn phục vụ ở lănh
vực nào? Phục vụ ở đâu? Cho đối
tượng nào? Đâu là công việc giúp tôi triển nở
và hạnh phúc?
Những tài Chúa ban cho tôi, Ngài muốn tôi phát
triển. Thiên Chúa muốn tôi sống b́nh an, tươi vui,
triển nở, và hạnh phúc. Giáo Hội cần tôi,
Hội Ḍng cần tôi, anh chị em trong cộng đoàn
cần tôi, tôi không thể b́nh an tươi vui hạnh phúc
nếu quay lưng với những nhu cầu của tha
nhân. Tôi cũng không thể b́nh an nếu đặt ư thích
của ḿnh trên nhu cầu (khẩn thiết) của Hội
Ḍng hay cộng đoàn. Tài năng Chúa ban để tôi
phục vụ anh chị em tôi, có như vậy tôi mới
triển nở, tôi không thể nại vào phát triển tài
năng mà dửng dưng không bận tâm trước nhu
cầu của Giáo Hội, của Hội Ḍng, của chị
em trong cộng đoàn, của Dân Chúa, v.v.
Với những nhu cầu khách quan, với tài
năng Chúa ban, và với ư thích của tôi, Chúa muốn tôi làm
ǵ? Chúa muốn cộng đoàn tôi làm ǵ? Chúa muốn Hội
Ḍng tôi làm ǵ để phục vụ Chúa, phục vụ
Giáo Hội, và con người cụ thể?
Nếu tôi chỉ là giáo dân, ư Chúa thể hiện
qua nhận định của (lư trí) tôi. Nếu là một
tập thể nhận định, th́ cứ theo luật
(nội quy) của tập thể quy định mà thực
hiện. Nếu là một tu sĩ hay cộng đoàn tu
sĩ nhận định, ư Chúa tỏ hiện qua quyết
định của bề trên.
Trong phân định t́m ư Chúa, ta xem xét:
i. Đâu là
điều tôi/tập thể/cộng đoàn/hội ḍng
cần quyết định/chọn lựa?
ii. Nhu cầu của
Giáo Hội? Nhu cầu của xă hội? Nhu cầu của
Hội Ḍng? Nhu cầu của cộng đoàn?
iii. Khả năng
của cộng đoàn? Năng khiếu và ư thích của tôi?
iv. Cầu nguyện
xem Chúa muốn tôi/tập thể/cộng đoàn/hội ḍng
làm ǵ?
v. Nếu là nhận
định cộng đoàn/tập thể th́ chia sẻ
những ǵ ḿnh thấy cho những thành viên làm phân
định (không nhằm thuyết phục người khác
theo ư minh; không tranh luận, không phê b́nh chia sẻ của
người khác).
vi. Sau khi nghe chia
sẻ, đi cầu nguyện, xin Chúa cho ḿnh biết ư
của Ngài muốn tôi/tập thể/cộng
đoàn/hội ḍng làm ǵ.
vii. Trở lại chia
sẻ những ǵ xảy tới nơi ḿnh khi cầu
nguyện. Chia sẻ điều ḿnh thấy về
điều phải quyết định.
viii. Đi cầu
nguyện riêng, tiếp tục xem Chúa muốn ḿnh làm ǵ.
ix. Viết chọn
lựa/quyết định của ḿnh và bỏ phiếu.
Chọn lựa theo lư trí chứ không theo t́nh cảm:
chọn điều làm Vinh Danh Chúa Hơn, chọn
điều giúp ích cho tha nhân hơn, chọn điều Giáo
Hội được phục vụ hơn, chọn
điều Hội Ḍng được phát triển hơn,
chọn điều tôi triển nở và hạnh phúc hơn.
Nếu là cá nhân/tập thể th́ theo nhận
định của cá nhân đó, hoặc tập thể
với nội quy (chẳng hạn làm theo đa số,
nếu số phiếu ngang nhau th́ theo số phiếu có
người trưởng, v.v.); nếu là tu sĩ th́ trách
nhiệm vẫn là bề trên tương ứng, lúc này phân
định của cộng đoàn chỉ có tính tư
vấn. Ư Chúa thể hiện qua ư bề trên, dù rằng
bề trên vẫn phải đi t́m ư Chúa.
Sẵn sàng vâng phục nếu ư bề trên khác ư
ḿnh, và ngay cả khác với ư của đa số anh
chị em phân định. Điều chúng ta phân
định, có thể là ư Chúa. Sau một thời gian,
nếu cần phân định lại th́ chúng ta vẫn
sẵn sàng phân định lại trừ phi thấy rơ
đó là ư Chúa. Không nên theo thái độ phản ứng
của Philatô và Hêrôđê như “những điều ta
đă viết là đă viết” (Ga 19:22) hoặc không thể
đổi (Mc 6:26). Nếu thấy không đúng không
chỉnh, th́ phải sửa lại cho đúng (thánh ư Chúa).
Chia sẻ thiêng liêng sẽ làm những
người cùng làm phân định được soi sáng và
hiểu nhau hơn, hiểu cái nh́n của nhau, giúp tôn
trọng nhau, và giúp có ư hợp tâm đồng hơn.
Chỉ những người b́nh tâm mới có
thể làm chọn lựa được. V́ thế không
phải cứ đa số là đúng. Rất nhiều
người hiện diện kết án Đức Giêsu,
những không có nghĩa rằng họ đúng.
Trong Linh Thao, thánh Inhaxiô nói tới chọn lựa:
nhận ra thánh ư Thiên Chúa và chọn thực hiện thánh ư
Thiên Chúa (LT 135.169-188). Điều này thường
được cá nhân thực hiện trong khóa Linh Thao.
Mùa chay năm 1539 nhóm bạn của thánh Inhaxiô
đă làm một cuộc phân định. Đây là cuộc
phân định chung nhưng không phải là phân định
cộng đoàn (tu sĩ) v́ lúc này nhóm bạn chưa là
một ḍng tu. Trong cuộc phân định này, ư kiến
của ai cũng có giá trị, và không có bề trên
để quyết định.
Các bạn đă làm một phân định: Chúa có
muốn nhóm bạn tiếp tục yêu thương và
chịu trách nhiệm về nhau không (khi nhóm của các
bạn sắp sửa tan: người được
gởi đi Ấn Độ, người được
gởi đi Đức, người được
gởi đi Bồ Đào Nha, v.v. Nhóm lúc này có 10 bạn).
Vấn đề tất cả đều
bận tâm:
i. Có nên tiếp
tục chịu trách nhiệm về nhau không?
ii. Nếu có, th́
bằng cách nào?
Họ đă cầu nguyện, chia sẻ, cầu
nguyện, và đi đến kết luận: tiếp
tục chịu trách nhiệm về nhau (v́ Chúa đă
muốn họ biết và gắn bó với nhau) qua việc
vâng phục một người. Và đó là quyết
định (tập thể) lập Ḍng Giêsu. Họ đă
thực hiện quyết định này, và Đức Giáo
Hoàng Phaolô III đă ra trọng sắc Regimini Militantis Ecclesiae
cho phép lập ḍng Giêsu ngày 27/09/1540.
Đây là nhóm bạn thời sinh viên của Inhaxiô,
họ đă làm Linh Thao 30 ngày. Họ đă có lời
khấn khiết tịnh và lời khấn khó nghèo. Nhóm
bạn này giả sử đă có đủ tiêu chuẩn
để có thể làm phân định cá nhân và tập
thể:
i. Cái nh́n đúng
đắn về Thiên Chúa
ii. B́nh tâm
iii. Sẵn sàng đáp
trả tiếng Chúa mời gọi
iv. Mong ước nên
đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu
Họ đă biết câu hỏi cần trả
lời: có nên (Chúa có muốn họ) tiếp tục chịu
trách nhiệm về nhau không (cho dù họ sẽ phải
sống xa nhau v́ Đức Giáo Hoàng sai gởi họ đi;
trước đó họ đă để tùy Đức Giáo
Hoàng muốn sai họ đi đâu, làm ǵ, tùy ư Ngài).
Họ đă cầu nguyện, chia sẻ những
cảm nghiệm, an ủi hay sầu khổ, những ánh
sáng, rồi lại đi cầu nguyện, rồi chia
sẻ, … và câu trả lời được sáng lên, rơ
hơn, rồi đi đến quyết định.
Kinh nghiệm thiêng liêng an ủi hay sầu khổ
được áp dụng để biết thánh ư Chúa mà
chúng ta thấy nơi sách Linh Thao số 176 về thời
kỳ thứ hai của việc nhận biết ư Chúa.
Nếu ḿnh nghiêng về thánh ư Chúa, th́ dễ dàng gặp Chúa
hơn. Thánh Inhaxiô cũng áp dụng điều này khi
viết Hiến Pháp Ḍng Tên về khó nghèo: Chúa muốn các
thành viên Ḍng Tên sống khó nghèo như thế nào?
Thời thứ ba để nhận biết thánh
ư Chúa cũng được áp dụng khi mỗi
người chọn lựa theo lư trí của ḿnh. Sau
những suy nghĩ, cầu nguyện, chia sẻ, nghe anh em
chia sẻ, tôi thấy như thế nào? Chúa đánh
động soi sáng thúc đẩy tôi thế nào? Tôi chọn
như lư trí thấy, điều làm vinh danh Chúa hơn, giúp
đỡ các linh hồn hơn, và cũng làm tôi triển
nở hạnh phúc hơn.
Ư Chúa luôn là một. Các cách thế (LT 178-188)
chỉ là phương tiện giúp tôi nhận ra thánh ư Thiên
Chúa, và rồi chọn thực hiện.
Nếu là chọn lựa cá nhân, sau đó cũng
cần gặp linh hướng để soi sáng, để
khách quan hóa, để được chuẩn nhận
(trước đó đă xin Chúa chuẩn nhận: LT 183).
Nếu là nhận định tập thể th́
cần chia sẻ những ánh sáng, suy nghĩ, t́nh cảm
liên quan đến việc cần nhận định.
Những điều ḿnh cảm nhận và chia sẻ,
sẽ giúp anh chị em (cùng phân định) được
soi sáng hơn, và dễ dàng nhận ra ư Chúa hơn. Khi chia
sẻ, lắng nghe xem Chúa muốn nói ǵ với ḿnh qua chia
sẻ của anh chị em ḿnh. Như vậy, khi có
quyết định, tập thể sẽ đồng tâm
nhất trí hơn, thông cảm với nhau hơn, b́nh an
hơn.
Không phản ứng lại điều bạn
ḿnh chia sẻ. Cũng không nói lại cho người khác
không cùng phân định những ǵ người khác chia
sẻ v́ có những hoàn cảnh thời điểm mà
chỉ ở lúc đó hoàn cảnh đó mới hiểu
hoặc thông cảm được thôi.
Cũng cần nói lại: nếu một tập
thể làm phân định th́ quyết định theo
nội quy của tập thể quy định. Nếu là
phân định của cộng đoàn tu sĩ th́ quyền
quyết định vẫn thuộc về bề trên,
những chia sẻ của anh chị em chỉ có tính tư
vấn. Trong trường hợp này, nên chỉ bề trên
biết những ư kiến chọn lựa của anh
chị em phân định. Việc cho cộng đoàn
biết phiếu ư kiến của anh chị em, thuộc
quyền của bề trên. Trách nhiệm và quyền
quyết định vẫn thuộc bề trên. Bề trên
cũng không thể dựa vào phân định cộng đoàn
để tránh trách nhiệm của ḿnh (trừ phi luật
nói khác: phiếu cố vấn cũng là phiếu quyết
định).
Tóm lại, dù phân định cá nhân hay tập
thể hay cộng đoàn, mỗi cá nhân đều phải
hội đủ điều kiện cần để có
thể làm phân định. Mỗi thành viên làm phân
định tập thể hay cộng đoàn, đều
phải biết đối tượng cần biện phân
và quyết định/chọn. Mỗi thành viên cũng
cần biết khi nào là quyết định chính thức
(đa số phiếu, hay quyết định của
bề trên). Việc biết chia sẻ thiêng liêng là
điều cần để có thể làm phân định
tập thể hay cộng đoàn.
Có nhiều h́nh thức chia sẻ, chẳng
hạn, chia sẻ Lời Chúa, chia sẻ cầu nguyện,
chia sẻ tông đồ, chia sẻ đời sống, chia
sẻ thiêng liêng.
Khi chia sẻ, một vài nguyên tắc chúng ta
cần lưu ư tuân giữ để việc chia sẻ
đạt kết quả tốt hơn: không phản bác ư
kiến của người khác, không mang tính dạy dỗ,
không đem những ǵ người khác chia sẻ nói cho
người khác hoặc nói lại trong bầu khí khác;
cố gắng lắng nghe để hiểu và thông
cảm, nói ngắn gọn và dùng từ dễ hiểu, dùng
chủ từ ngôi thứ nhất số ít, v.v.
Dưới đây xin gợi ư các bước chia
sẻ Lời Chúa.
1. Ổn định chỗ. Thấy nhau, nghe
được nhau nói, ngồi thành ṿng tṛn nếu có
thể được. Ư thức Ba Ngôi Thiên Chúa đang
ở với ḿnh.
2. Dấu thánh giá. Lời nguyện khởi
đầu sau khi hát hoặc đọc kinh xin ơn Chúa
Thánh Thần.
3. Đọc đoạn Kinh Thánh muốn chia
sẻ (tất cả cùng đọc chung lớn tiếng,
sau đó mỗi người có thể đọc riêng
lại một, hai hay ba lần tùy nhu cầu mỗi
người).
4. Thinh lặng khoảng 5-10 phút, lắng nghe, suy
nghĩ theo câu hỏi gợi ư chia sẻ (dưới)
5. Chia sẻ theo những điểm gợi ư
dưới nếu có thể:
· Những từ, câu,
điểm nào trong đoạn Kinh Thánh vừa đọc
đánh động tôi?
· Chúa muốn nói ǵ với
tôi qua đoạn Kinh Thánh này?
· Tôi đă sống
điều Chúa dạy qua đoạn Kinh Thánh này thế nào?
6. Sau khi tất cả đă chia sẻ, hoặc
tới thời gian đă định, dành ít phút để
cầu nguyện tự phát.
7. Người linh hoạt dâng lời nguyện.
Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn
để kết thúc.
Xin đề nghị các bước trong một
buổi họp chia sẻ kinh nghiệm cầu nguyện
như dưới đây.
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang
hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc
bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i. Ơn đă
nhận được trong giờ cầu nguyện, hay
trong ngày (Linh Thao)?
ii. Những cản
trở cầu nguyện và đă vượt qua như
thế nào? (nếu đă vượt qua được). Có
những điều tế nhị th́ không nên chia sẻ
ở đây, mà chia sẻ cho người linh hướng
hay người giúp Linh Thao.
4. Sau khi đă hết người chia sẻ
hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện
tự phát. Nếu không có giờ (đặc biệt
trong Linh Thao) có thể bỏ mục này.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện.
Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn
để kết thúc.
Xin đề nghị các bước trong giờ
chia sẻ về kinh nghiệm làm tông đồ.
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang
hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc
bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i. Những ơn
đă nhận được khi làm tông đồ trong
tuần/tháng qua?
ii. Những cản
trở, sầu khổ, thất vọng chán nản khi làm
tông đồ trong tuần/tháng? Nguyên nhân?
iii. Kinh nghiệm
trợ giúp nếu cần và nếu có thể, đặc
biệt của người hướng dẫn.
4. Sau khi đă hết người chia sẻ
hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện
tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện.
Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn
để kết thúc.
Chia sẻ đời sống là chia sẻ về
những ǵ xảy tới cho ḿnh trong đời sống
trong một thời gian nào đó, chẳng hạn một
ngày hay một tuần hay một tháng.
Xin gợi ư đề nghị các bước chia
sẻ như sau:
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang
hiện diện với chúng ta.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc
bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ
i. Ơn đă
nhận được trong ngày/tuần/tháng qua?
ii. Những sầu
khổ bất an trong ngày/tuần/tháng qua? Nguyên nhân?
iii. Trao đổi chia
sẻ, đặc biệt của người hướng
dẫn nếu cần và nếu có thể.
4. Sau khi đă hết người chia sẻ
hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện
tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện.
Đọc kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn
để kết thúc.
Chia sẻ thiêng liêng là cụm từ chỉ
việc chia sẻ về những ǵ xảy tới cho ḿnh,
tác động vào đời sống tâm linh của ḿnh. Nó
thường bao gồm tất cả những kinh
nghiệm xảy tới cho ḿnh.
Xin đề nghị các bước cầu
nguyện như sau:
1. Tập trung. Ư thức Thiên Chúa Ba Ngôi đang
hiện diện.
2. Lời nguyện xin ơn Thánh Thần hoặc
bài hát về Chúa Thánh Thần hay kinh Sáng Soi.
3. Chia sẻ. Mỗi người có thể chia
sẻ kinh nghiệm
về cầu
nguyện (i),
về việc tông đồ (ii),
về đời sống của ḿnh trong ngày/tuần/tháng
qua (iii).
Nếu người hướng dẫn thấy
cần, có thể chia sẻ soi sáng hoặc nâng đỡ
(sau từng người hoặc sau khi tất cả chia
sẻ).
4. Sau khi đă hết người chia sẻ
hoặc tới giờ quy định, dâng lời nguyện
tự phát.
5. Người linh hoạt dâng lời nguyện.
Kinh Lạy Cha hoặc hát một bài tạ ơn để
kết thúc.
Đức Giêsu là đường, là sự
thật, và là sự sống (Ga 14:6). Mọi linh đạo
Kitô giáo đều quy về Đức Giêsu như nguyên
mẫu. Các vị lập ḍng, được mời
gọi để họa lại cách đặc biệt nét
nào đó của Đức Giêsu. Linh đạo Inhă, nơi
Linh Thao, có điểm đặc biệt là lấy
Đức Giêsu là nguyên mẫu. V́ thế linh đạo Inhă
luôn hợp thời và có chung nhiều điểm với các
linh đạo khác.
Thiên Chúa tạo dựng con người giống
h́nh ảnh Thiên Chúa, Ngài yêu thương con người, Ngài
đối thoại với con người, hàm chứa con
người có thể nhận biết thánh ư Ngài. Một
cách tận căn, không cần linh đạo đặc
biệt nào để nhận ra tiếng Chúa v́ Thiên Chúa
muốn thông tri ư định của Ngài cho con người;
hay nói cách khác mỗi người đều có thể có
“linh đạo riêng.” Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn có thể dùng
linh đạo nào đó để giúp con người
nhận ra thánh ư Ngài. Mọi linh đạo đều hàm
chứa con người có thể nghe được
tiếng Chúa mời gọi và thực hiện thánh ư Ngài.
Linh đạo Inhă được thấy rơ nét
nơi Linh Thao, giúp người ta nên giống Đức
Giêsu mỗi ngày một hơn, giúp người ta nhận ra
và tự do với quyến luyến lệch lạc, giúp
người ta phát triển mối tương quan thân
thiết với Thiên Chúa đặc biệt với
Đức Giêsu, giúp người ta mong ước t́m
biết thánh ư Thiên Chúa, giúp người ta nhận ra thánh ư
Thiên Chúa và đem ra thực hành. Chúng ta hiểu “linh
đạo Inhă giúp nhận biết thánh ư Thiên Chúa” trong tinh
thần trên.
Tất cả cho Vinh Danh Chúa Hơn.
Trong phần Phụ Lục này sẽ tŕnh bày hai
bản văn về Phân Định Thiêng Liêng. Bản
văn thứ nhất là biên bản cuộc phân định
chung đầu tiên của nhóm bạn của Inhaxiô về
việc thành lập Ḍng Tên (Ḍng Giêsu), và bản văn
thứ hai là thư của Bề Trên Cả Ḍng Tên gởi
các thành viên Ḍng Tên về phân định chung.
Dưới
đây là biên bản cuộc nghị luận về
việc thành lập Dòng Tên. Cuộc nghị
luận[39] này
kéo dài từ tháng 3 đến Lễ
Thánh Gioan Tẩy Giả năm 1539 tại Roma.
Vấn đề Đoàn Giê-su đặt ra
1. Vào mùa
Chay vừa qua, đã đến lúc chúng tôi
phải chia tay nhau và phải phân tán, là lúc
mà chúng tôi ước vọng mau đạt
tới mục tiêu, vốn từ lâu chúng tôi
đã suy nghĩ và theo đuổi. Vì thế
chúng tôi đã quyết định quy tụ nhau
lại trong nhiều ngày trước khi phân tán
để cùng nhau bàn luận về ơn gọi
và cách sống của chúng tôi. Chúng tôi
đã thảo luận điều này nhiều
lần. Nhưng nhóm chúng tôi gồm những
người Pháp, Tây Ban Nha, người Savoir
và Bồ Đào Nha. Chúng tôi đã chia
sẻ những ý kiến và những
ước muốn: Tìm kiếm Ý Chúa
tốt đẹp, thích hợp và hoàn
hảo trên con đường mời gọi mà
Ngài đã ban cho. Nhưng chính về
phương tiện thích hợp và hữu
hiệu nhất, cho chúng tôi cũng như cho tha nhân
mà vô số những ý kiến
được tỏ bày. Không ai ngạc nhiên
về những khác biệt, về những quan
điểm này giữa chúng tôi vốn là
những người hèn yếu, vì
chính các Tông Đồ, những
người lãnh đạo và là
những người cột trụ của Giáo
Hội, và vô số những vị khác rất
thánh thiện mà chúng tôi chẳng
đáng được so sánh, cũng
đã có những ý kiến khác nhau,
đôi khi còn đối nghịch nhau, và các
ngài đã để lại cho chúng ta chứng
từ về những đối nghịch của
các ngài bằng văn tự.
Chúng tôi
cũng đã phán đoán khác nhau,
với bận tâm và lo lắng để
chúng tôi khám phá ra một con đường
hoàn toàn tự do, vốn dẫn chúng tôi
đến sự hiến dâng chính bản thân
làm của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa chúng
ta, bằng cách đặt tất cả
những lợi ích của chúng tôi vào
việc ca ngợi, tôn kính và làm vinh danh
Ngài. Sau cùng, chúng tôi đã quyết
định và theo đuổi với một
sự nhất trí là chúng tôi dấn thân
cầu nguyện, cử hành thánh lễ và
suy gẫm sốt sắng hơn thường ngày,
và sau khi đã làm hết sức có
thể, còn lại, chúng tôi phó thác mọi lo âu
của chúng tôi cho Chúa, với hy vọng
rằng Ngài, rất nhân lành và quảng
đại, sẽ không từ chối Thần Trí
tốt lành của Ngài cho bất cứ ai
khẩn nguyện Ngài, với sự khiêm
nhường và tâm hồn đơn sơ, nhưng
Ngài ban Thần Trí cho mọi người
một cách tự do mà không nuối tiếc
về các ân huệ của Ngài, thì Ngài
cũng sẽ không bỏ rơi chúng tôi mà còn
giúp đỡ chúng tôi với một
lòng nhân từ của Ngài cùng với
lòng quảng đại lớn lao hơn là
điều chúng tôi có thể cầu xin hay
ước nguyện.
Phương pháp nhận định cộng
đoàn
2. Vì thế
chúng tôi đã bắt đầu về phía
mình dồn hết nỗ lực và bắt
đầu đề ra một số câu hỏi vốn
đòi buộc một việc xem xét kỹ
lưỡng và một sự tìm tòi
nghiêm túc. Chúng tôi đã suy nghĩ và suy
tư về những điều đó trong
suốt ngày; giờ cầu nguyện đối
với chúng tôi cũng là phương cách
để tìm kiếm. Đến tối, mỗi
người công khai đưa ra lời giải đáp
mà họ đã xét thấy là tốt
hơn và ích lợi hơn; Làm như
thế chúng tôi muốn cùng nhau đón nhận
ý kiến chính đáng nhất. Ý kiến
đó phải rút ra từ một cuộc
thảo luận chung và phải được
dựa vào những lý lẽ có giá
trị nhất.
Vấn đề một: Đoàn Giê-su duy trì
hay không?
3. Vào
cuộc hội họp đầu tiên buổi tối, câu
hỏi như sau được đề ra: Con
người và cuộc sống của chúng tôi,
một khi đã được chúng tôi dâng
hiến và hiến thánh cho Đức Giê-su
Ki-tô, Chúa chúng ta và cho Vị Đại
Diện đích thực và hợp pháp
của Ngài trên trần gian để Ngài
sử dụng chúng tôi và sai chúng tôi
đến nơi nào mà ngài xét thấy
rằng sứ vụ của chúng tôi sẽ
được phong phú hơn, hoặc
đến với người Thổ, hoặc
người Ấn Độ, hoặc đến
với những người lạc giáo,
hoặc đến ở giữa tín
hữu khác hay lương dân, điều ấy
có thích hợp hơn không?...Một khi
được kết hợp với nhau và
một khi được liên kết chặt
chẽ với nhau thành một thân thể duy
nhất đến nỗi không một sự tách
biệt thể lý nào dù rất đáng
kể đến đâu lại có thể chia
cắt chúng tôi được hay
ngược lại. Một thí dụ để soi
sáng: Đức Thánh Cha sẽ sai hai
người trong chúng tôi đi đến Sienna.
Chúng tôi có phải duy trì một sự liên
đới với nhau hay không buộc phải
gắn bó với họ hơn những
người ở ngoài hội đoàn chúng
tôi?
Chúng tôi
đã kết thúc bằng một khẳng
định. Vì theo chúng tôi nghĩ, Chúa
đã đoái thương với lòng
Thương Xót và nhân từ của Ngài quy
tụ chúng tôi lại, mà chúng tôi là
những người nghèo hèn ở
những nước khác nhau với
những phong tục rất khác biệt nhau,
để liên kết chặt chẽ chúng tôi
với nhau, thì chúng tôi không được
phép phá vỡ sự hiệp nhất
này đã do Thiên Chúa thực hiện,
nhưng tốt hơn là phải tiếp tục
củng cố và làm cho nhóm được
vững mạnh bằng cách chỉ làm nên
một thân thể duy nhất. Một sự nâng
đỡ lẫn nhau và một sự liên minh
với nhau đầy đủ sẽ đảm
bảo lợi ích dồi dào hơn cho các
linh hồn: Sức mạnh được kết
hợp lại sẽ có sức kháng
cự hơn và có năng lực hơn
để thi hành những công việc khó
khăn lớn lao hơn là khi sức mạnh
đó bị phân chia và phân tán.
Tuy nhiên,
ở tất cả những điều chúng
tôi vừa trình bày hay sẽ trình bày,
phải hiểu đúng cho chúng tôi là: hoàn
toàn chúng tôi không tiến hành một
điều gì từ sự khởi
hứng riêng của chúng tôi, hay từ vị
thủ lãnh tương lai của chúng tôi, nhưng
dù kết quả ra sao, chúng tôi chỉ tiến
hành điều mà Chúa đã gợi
hứng cho chúng tôi và là điều mà
Tòa Thánh đã đồng ý và phê
chuẩn.
Vấn đề hai: Duy trì cách nào?
4. Sau khi vấn
đề đầu tiên này được
giải quyết dứt khoát, đến vấn
đề khác khó khăn hơn và cũng
đòi hỏi việc suy tư và xem xét không
kém vất vả. Chúng tôi đã tuyên khấn
sống khiết tịnh trọn đời và
sống khó nghèo trong tay vị Khâm Sứ
Tòa Thánh đáng kính khi chúng tôi còn
ở Vienne. Có cần phải tuyên khấn
lời khấn thứ ba, tức lời
khấn tuân phục một người trong chúng
tôi để ca ngợi Chúa hơn và để
được công nghiệp hơn và đồng
thời trong mọi sự có thể hoàn
tất một cách tinh tuyền hơn Ý Muốn
của Chúa chúng ta, cùng với ý
muốn và chỉ thị của Đức
Thánh Cha, Đấng mà chúng tôi đã hết
lòng dâng hiến chính chúng tôi: ý chí,
trí hiểu và hành động cho Ngài?
Gặp sầu khổ
5. Để
giải quyết câu hỏi này, chúng tôi đã
trải qua nhiều ngày cầu nguyện không
ngừng và suy nghĩ nhưng không có một
điều nào thỏa đáng đến trong tâm
hồn chúng tôi. Chúng tôi đã đặt hy
vọng của chúng tôi trong tay Chúa, và
bắt đầu bàn luận về một số
cách thức để giải quyết tốt
hơn mối nghi ngờ của chúng tôi.
Trước hết, tất cả chúng tôi có
nên rút vào nơi cô tịch để ở
lại đó ba mươi hay bốn mươi
ngày suy gẫm, ăn chay và đền tội
để nài xin Thiên Chúa nhận những
ước muốn của chúng tôi và
đoái thương cho việc giải quyết
vấn đề được thấu đạt
tới tâm trí chúng tôi một cách
chắc chắn không? Hoặc nữa, có
cần ba hay bốn người nhân danh tất cả
đến đó (thực hiện) cùng một
mục tiêu đó không? Hoặc nữa, nếu
không ai phải đi đến đó, thì khi
còn ở lại Rô-ma, chúng tôi có thể
dành nửa ngày riêng cho công việc của chúng
tôi, để việc suy gẫm, suy nghĩ và cầu
nguyện được thực hiện một
cách thích hợp hơn và rộng rãi
hơn. Phần còn lại trong ngày, chúng tôi
sẽ dành cho những sứ vụ quen làm
là giảng dạy và giải tội.
Hoàn thiện phương pháp
6. Sau cùng, sau
khi đã bàn bạc và xem xét về
những điểm này, chúng tôi đã
quyết định mọi người đều
ở lại Rô-ma, vì hai lý do chính.
Trước hết để tránh những
lời gièm pha và gương xấu trong
thành phố và dân chúng vốn có thể
phán đoán và suy nghĩ – con người
thường có những khuynh hướng
tuyên bố hời hợt – rằng chúng tôi
chạy trốn, hoặc chúng tôi âm mưu
điều gì mới hay chúng tôi thiếu
chín chắn và bền vững trong công việc
đầu tiên của chúng tôi. Thứ đến,
để cho sự vắng mặt của
chúng tôi không gây thiệt hại cho mùa gặt
mà đối với chúng tôi thì rất
đáng quan tâm đến nỗi nếu chúng tôi
có số đông đến bốn lần đi
nữa thì như tình trạng hiện thời,
chúng tôi cũng không thể thỏa mãn
được (so với) nhu cầu của mọi
người.
Phương
cách thứ hai mà chúng tôi đã
bắt đầu bàn bạc để tìm ra
con đường giải quyết là đề ra
cho mọi người và cho mỗi
người thực hiện 3 thái độ sau
đây trong tâm hồn. Trước hết, mỗi
người chuẩn bị và dấn thân cầu
nguyện, dâng Thánh Lễ và suy gẫm sao cho
mọi nỗ lực của mình đạt
đến chỗ tìm được niềm vui
và sự bình an trong Chúa Thánh Thần
về việc tuân phục bằng cách làm sao
cho mỗi người hướng ý muốn
của mình về việc tuân phục hơn là ra
lệnh nếu vì đó mà vinh quang Chúa
và việc ca tụng Ngài ngang bằng nhau –
thái độ nội tâm thứ hai, không một
người bạn nào được nói
vấn đề cho một ai khác cũng không hỏi
những lý lẽ của họ, làm như
thế thì không ai phải chịu ảnh
hưởng bởi ý kiến người
khác và sẽ không còn nghiêng chiều về
việc tuân phục hơn là việc không tuân phục
hay ngược lại, nhưng mỗi người
sẽ chỉ tìm kiếm điều mà việc
cầu nguyện và suy gẫm cho họ thấy là
lợi ích hơn – Thứ ba, mỗi
người phải tự coi mình như xa
với nhóm bạn chúng ta và coi mình
như thể không bao giờ được
nhận vào đó. Khi coi những sự
việc như thế, không còn một tình cảm
nào có thể làm cho họ suy nghĩ và
phán đoán về phía nào, nhưng muốn
nói rằng, một khi ở ngoài cuộc,
người ấy sẽ tự do tỏ lộ
ý kiến của mình về dự định
tuân phục hay không tuân phục - và sau cùng,
nhờ sự phán đoán của mình,
người đó sẽ ưng thuận và phê
chuẩn phía nào mà theo họ sẽ phụng sự
Thiên Chúa hơn và sẽ đảm bảo
sự tồn tại của hội đoàn lâu
dài hơn.
Áp dụng phương pháp để hoàn
thiện
7. Chính trong
thái độ nội tâm thích hợp này
mà chúng tôi đã quyết định, sau khi
đã chuẩn bị mọi sự, (chúng tôi)
gặp nhau vào ngày kế tiếp, để
mỗi người diễn tả những vấn
nạn có thể được đưa ra
chống lại việc tuân phục. Mọi lý lẽ
đều được trình bày và
mỗi người đã khám phá ra
những lý lẽ ấy đặc biệt
trong suy tư, suy gẫm và cầu nguyện thì
mỗi người lần lượt trình
bày ra. Thí dụ, kẻ này nói “Danh hiệu
Dòng Tu hay tuân phục vốn không được
tín hữu quý trọng, vì thiếu công
nghiệp và vì tội lỗi (nơi) chúng ta,
mà lẽ ra danh hiệu này phải có tiếng
tốt của nó”. – Kẻ khác công bố: “Nếu
chúng ta muốn sống trong sự tuân phục,
có lẽ chúng ta sẽ bị Đức
Thánh Cha ép sống theo một quy luật khác
với quy luật mà (chúng ta) đã có
và đã thiết lập ra. Từ đó
hậu quả sẽ là, khi không còn có cơ
hội cũng như phương tiện làm việc
để cứu rỗi các linh hồn, mà sau
mục đích chúng ta, đó lại là
mục tiêu duy nhất mà chúng ta sống, như
thế ước muốn của chúng ta sẽ
bị thất bại, trong khi chúng ta lại tin
rằng những ước muốn ấy
làm hài lòng Chúa, Thiên Chúa chúng ta”. –
Kẻ khác nữa: “trong trường
hợp chúng ta tuân phục một người
nào đó sẽ có ít người mới gia
nhập vào hội đoàn chúng ta để
làm việc trong vườn nho của Chúa
với một lòng nhiệt thành chân
thực, vì theo luật yếu đuối và
giòn mỏng của loài người, đa
số lại tìm kiếm những ích lợi
cho mình và tìm kiếm ý riêng mình hơn
là tìm kiếm những lợi ích
của Đức Giê-su Ki-tô và sự từ
bỏ chính mình hoàn toàn”. – Người
khác: lại nói điều khác, rồi
người thứ tư đến
người thứ năm và cứ như
thế, người ta phải mổ xẻ
những vấn nạn được trình
bày chống lại việc tuân phục.
Một thời
gian ngắn sau đó, vào một ngày, chúng tôi bàn bạc quan
điểm ngược lại bằng cách đề ra
tất cả những lợi ích và những sự thiện
hảo của việc tuân phục, (vốn) đă
được gợi hứng nơi mỗi người
qua việc cầu nguyện và suy gẫm của họ.
Mỗi người theo thứ tự tŕnh bày kết
quả việc suy tư của ḿnh, đôi khi đẩy
đến cùng một giả thiết không thể thực
hiện được khi trực tiếp tiến hành
bằng con đường khẳng định. Thí dụ,
một người cho thấy sự phi lư và không thể
(không có sự tuân phục) theo cách thức sau: “giả
thiết rằng nhóm bạn của chúng ta phải lănh
nhận một việc tông đồ mà không có sự hiến
thánh của ách tuân phục, th́ sẽ không có ai thực
sự có trách nhiệm về việc tông đồ ấy,
mỗi người sẽ đẩy gánh nặng của
ḿnh cho người khác, như (chính) chúng ta đă có kinh
nghiệm này nhiều hơn một lần. Cũng thế,
chúng ta hăy giả thiết rằng nếu không có quyền
hành trong nhóm chúng ta, th́ nhóm ấy có thể sẽ không
bền vững và cũng không duy tŕ được lâu; mà
điều này lại đi ngược với ư
hướng ban đầu của chúng ta là duy tŕ măi hội
đoàn của chúng ta. Chẳng có ǵ duy tŕ một nhóm
tốt hơn là sự tuân phục, v́ dường như nó
rất cần thiết đối với chúng ta, nhất
là chúng ta đă tuyên khấn sống khó nghèo trọn
đời, và chúng ta lại không ngừng và luôn luôn lao ḿnh
vào trong những công việc thiêng liêng và trần thế,
vốn đă rất ít thuận lợi cho việc duy tŕ
hội đoàn chúng ta”. Một người khác tiến hành
theo con đường khẳng định đă nói:
“Sự tuân phục là mẹ các hành vi và các nhân đức
anh hùng lâu dài. Kẻ sống thực sự trong sự tuân
phục luôn tuyệt đối sẵn sàng thực hiện
mọi lệnh truyền được đề ra cho
họ, một lệnh truyền khó khăn cho người
ấy hay một lệnh truyền vốn trở nên tṛ
cười đối với con mắt thế gian mà
người ấy thấy bối rối, chẳng hạn
nếu người ta buộc tôi ở trần hay ăn
mặc kỳ quái ra ngoài đường hay ở những
nơi công cộng; mà cho dù một lệnh truyền như
thế chưa bao giờ được truyền ra, mà
một khi người ta tuyệt đối sẵn sàng
thực thi bằng việc từ bỏ phán đoán riêng và
ư muốn riêng của ḿnh, người ta sẽ luôn ở
trong t́nh trạng anh hùng, luôn luôn có công nghiệp hơn măi”.
Hoặc nữa “chẳng có ǵ bẻ găy sự kiêu ngạo
và tự phụ bằng sự tuân phục. Kẻ kiêu
ngạo rất ưa thích chiều theo phán đoán và ư
muốn riêng mà không chịu nhường nhịn ai. Nó
bước đi trên những con đường cao sang và
hào nhoáng vốn vượt trên nó. C̣n người tuân
phục hoàn toàn chiến đấu theo nghĩa
ngược lại, v́ luôn luôn nó đi theo một phán
đoán không phải của riêng nó và đi theo ư muốn
người khác; nó vâng phục mọi sự và liên kết
chặt chẽ với sự khiêm nhường, vốn là
kẻ thù của sự kiêu căng”. Và c̣n nữa, “Dù
rằng chúng ta đă đặt tất cả sự tuân
phục vào Đức Thánh Cha là vị mục tử
tối cao, một sự tuân phục tập thể
hoặc cá nhân, tuy nhiên ngài không thể quan tâm đến vô
số những chi tiết đặc thù về cuộc
sống hằng ngày của chúng ta được. Vậy
phải chăng điều đó lại không thích hợp
sao?”.
Đạt tới quyết định chung
8. Vậy sau
biết bao ngày bàn luận vô số những điểm liên
quan đến việc giải quyết vấn đề
theo mọi ư nghĩa, bằng việc cân nhắc và xem xét
những lư lẽ quan trọng nhất và mạnh mẽ
nhất, trong lúc chúng tôi vẫn cầu nguyện, suy gẫm
và suy tư theo thói quen của chúng tôi, sau cùng Chúa đă đoái
thương trợ giúp và kết quả đạt
được không chỉ theo đa số mà c̣n là sự
đồng tâm nhất trí tuyệt đối: Đối
với chúng tôi việc tuân phục một người
giữa chúng tôi là điều rất thích hợp và rất
cần thiết. Như thế niềm khát vọng
đầu tiên của chúng tôi là nhằm hoàn tất Ư
Muốn Thiên Chúa nơi mọi sự sẽ được
thực hiện cách tốt đẹp hơn và chính xác
hơn; Cũng thế, sự duy tŕ hội đoàn sẽ
được bảo đảm hơn; sau cùng,
người ta có thể khôn ngoan bổ khuyết cho
những chi tiết của những công việc
thường ngày, về mặt thiêng liêng cũng như
việc thế trần hơn.
Sự phê chuẩn
9. Trong khi tuân
giữ cùng một cách thức bàn luận và tiến hành
như thế đối với những điều c̣n
lại, bằng cách tiếp tục suy nghĩ hai quan
điểm đối nghịch, chúng tôi đă ở lại
trong những vấn đề này và những vấn
đề khác trong gần 3 tháng, từ giữa Mùa Chay cho
đến Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả. Vào ngày đó,
tất cả mọi sự đă được kết
thúc một cách dứt khoát trong niềm vui và ḥa hợp hoàn
toàn của các tâm hồn. Trước khi đạt tới
(quyết định) cuộc bàn luận dứt khoát này,
(chúng tôi đă phải trải qua) những buổi canh
thức, (đă phải dành ra) biết bao nhiêu giờ
cầu nguyện, (cùng với) những gian khổ thiêng
liêng và thể xác.
Dưới đây là thư của cha Bề Trên
Cả Ḍng Tên gởi các thành viên trong Ḍng về Phân
Định Chung ngày 27/09/2017[40].
Mến gửi Anh em trong Chúa,
Ngày 10 tháng 7 vừa qua, tôi có gửi
cho toàn Ḍng một lá thư (2017/08) mời gọi mọi
Giêsu-hữu phản tỉnh về
mối tương quan sâu đậm giữa đời sống
và sứ mạng mà chúng ta được kêu gọi đến và được
sai đi để thi hành. Lá
thư ấy mời gọi khám phá, ôm ấp và sống
sứ điệp của Tổng Hội 36 ở chiều
sâu. Tiếp nối suy tư ấy, tôi muốn chia sẻ
với anh em một vài suy xét về phân định
chung, vốn là điều kiện tiên quyết
để thực hiện các quyết định của
Tổng Hội, tương hợp với những
đặc nét của nền linh đạo vốn đem
lại sinh khí cho thân thể tu tŕ và tông đồ của
Ḍng.
Lời mời gọi phân
định
Có hai thách đố lớn mà
Tổng Hội 36 đề xuất với chúng ta: 1) Phân
định các hệ quả của định nghĩa
sứ mạng của Ḍng như là một đóng góp cho
việc hoà giải; 2) Lựa chọn các ưu tiên tông
đồ phổ quát tại thời điểm
đặc thù hiện nay của lịch sử đối
với thế giới và với Ḍng. Hai thách đố này
đ̣i hỏi chúng ta, và những
người cộng tác với chúng
ta trong sứ mạng, cải tiến năng
lực của ḿnh trong việc phân
định chung. Một số lănh vực khác cũng
mời gọi chúng ta tăng triển khả năng phân
định chung, trong số đó cần kể đến
các công việc: xây
dựng Ḍng thành một thân thể liên văn hóa (intercultural),
đào sâu đối thoại với các nền văn hóa và
các tôn giáo, thúc đẩy một nền văn hoá bảo
vệ trẻ em, người trẻ và những
người dễ bị tổn thương.
Tổng Hội 36 khẳng
định phân định chung là một thực hành
cốt lơi trong cung cách hành xử của Ḍng Chúa Giêsu. H́nh
ảnh các bạn đường đầu tiên ở
Venezia (1537) nêu bật khả năng mà các vị đă đạt
đến trong việc bàn định chung dưới
sự soi dẫn của Thánh Thần, mặc dù các vị là
một nhóm rất khác biệt nhau về văn hoá.[41] Thế
nhưng tất
cả các vị đều có một đời
sống thiêng liêng năng động, thể hiện qua
một t́nh yêu say đắm với Chúa Kitô trong Linh Thao, qua
việc phục vụ người nghèo và qua sự ứng
trực đặt ḿnh cho Giáo Hội sai phái đến
bất cứ nơi đâu có nhu cầu lớn hơn.
Ngày nay, trong lúc cùng với những người
khác cộng tác vào sứ mạng ḥa giải mọi
người trong Chúa Kitô của Giáo Hội, Ḍng Chúa Giêsu
cũng đối mặt với thách đố phải
phân định chung ở mọi cấp trật của
Ḍng đối với các quyết định quan trọng
nhất. Đồng thời, Ḍng phải cổ vơ sự
tham gia của toàn thân thể tông đồ của Ḍng,
vốn được kêu gọi lựa chọn (elect) những
phương thế tốt nhất có thể, để góp
phần vào việc loan báo Tin Mừng và biến đổi
thế giới trong một thời đại với
những thay đổi mau chóng và sâu sắc hôm nay.
Đức Thánh Cha Phanxicô, về
phần ngài, đă nhiều lần nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của phân định thiêng
liêng đối với Giáo Hội xét trong toàn thể, và ngài
đặc biệt yêu cầu Ḍng Chúa Giêsu góp phần giúp cho
việc phân định lan tỏa trong mọi b́nh diện
của đời sống Giáo Hội. Từ viễn
tượng ấy, chúng ta cảm nhận được
rằng việc chúng ta thường xuyên nại đến
phân định thiêng liêng như phương thế t́m
kiếm và nhận biết ư Chúa trong mọi khía cạnh
của đời sống-sứ mạng sẽ tiếp
thêm sinh lực cho đời sống-sứ mạng ấy
và sẽ gia tăng khả năng của chúng ta phục
vụ Giáo Hội trong thời điểm hiện tại.
Phân định chung và
lập kế hoạch tông đồ
Phân định chung diễn
ra cả trong các cộng đoàn lẫn các tổ chức
tông đồ của Ḍng, với sự tham gia năng
động của các cộng tác viên của chúng ta trong
sứ mạng. Hẳn nhiên, mỗi nhóm
phân định đặc thù phải được
tăng giảm tùy theo quyết định cần t́m
kiếm. Trong đời sống của Ḍng, có những
quyết định đ̣i phải có trên một nhóm tham gia phân
định chung, hầu có thể đạt
đến một quyết định chung
cục tương hợp với ư Chúa mà nhóm đang
dốc sức t́m kiếm. Phân định chung cũng có
thể được áp dụng một cách
hữu hiệu vào các cuộc họp của
Tư vấn Tỉnh, của Ban điều hành các tổ
chức mang bản sắc Giêsu-hữu, và trong mọi t́nh huống quản
trị về mặt tông đồ.
Phân định chung là điều
kiện đi trước việc lập kế
hoạch tông đồ ở mọi cấp trật
cơ cấu tổ chức của Ḍng. Hai hoạt
động phân định chung và lập kế hoạch
tông đồ phải gắn kết với
nhau, hầu bảo đảm rằng các
quyết định sẽ được đưa ra trong
ánh sáng kinh nghiệm từ Thiên Chúa, và sẽ được
đưa vào thực hành đúng ư Chúa và đạt
được hiệu năng theo Tin Mừng.
Thể theo nhăn quan của Thánh
Inhaxiô, sự căng thẳng tích cực
giữa phân định chung và lập kế hoạch tông
đồ đ̣i chúng ta phải xét ḿnh thiêng liêng về
những ǵ ḿnh trải nghiệm, hầu cho chúng
ta mỗi lúc một tăng trưởng trong
sự trung tín với ư Chúa. V́ thế, một sự lượng
giá có hệ thống về các việc tông đồ
của chúng ta mà thôi th́ không đủ. Chúng ta c̣n
phải bổ túc cho sự lượng giá ấy
bằng viễn tượng thiêng liêng của
việc xét ḿnh, một thực hành mà qua đó Thánh
Inhaxiô mời gọi chúng ta nhận biết hành động
của Thiên Chúa trong lịch sử, để tạ ơn
về những ân sủng Người ban, để tạ
lỗi về việc chúng ta không đáp ứng đủ
với các ân sủng ấy, và để xin ơn trở
nên những cộng tác viên tốt hơn vào công việc
của Chúa trong thế giới. Do vậy, khi
được đặt nền trên phân
định chung như thế, việc lập
kế hoạch tông đồ sẽ trở nên một khí
cụ giúp đạt hiệu năng tông
đồ, và chúng ta cũng tránh
được nguy cơ chạy theo kiểu lên
kế hoạch thời thượng hiện
nay, dựa vào các kỹ thuật phát
triển của các đoàn thể.
Thực hành phân định
chung
Niềm xác tín rằng Thiên Chúa
đang hành động trong lịch sử và liên lỉ thông
đạt với con người là tiền giả
định đổ nền cho các nỗ lực tiến
hành phân định chung của chúng ta. V́ lư do đó, chúng ta
cần t́m kiếm những điều kiện cho phép nghe
thấy Thánh Thần và đặt ḿnh cho Ngài dẫn dắt
trong đời sống-sứ mạng của chúng ta.
Việc cá nhân và nhóm mở ḷng đón nhận và bước
theo Thánh Thần đang thông đạt với chúng ta
sẽ giúp chúng ta tránh khỏi một lối phân
định chung lầm lạc, nếu nói theo ngôn từ
của Thánh Inhaxiô, chỉ t́m cách khoác vào ḿnh những
quyết định đă được định
sẵn dựa trên nền tảng của các tiêu chí riêng
của nhóm.[42]
Đă có rất nhiều kinh
nghiệm quư giá về phân định chung trong truyền
thống lẫn trong đời sống hiện tại
của Ḍng. Thu thập các thực hành tốt nhất về
đề tài này, và lập ra một tủ sách chuyên
đề đặc sắc dễ tiếp cận
đối với tất cả những ai tham dự vào
sứ mạng của chúng ta, sẽ là phương thế
hữu ích nhất giúp củng cố văn hoá phân
định chung. Tôi khuyến khích các tổ chức tông
đồ, các Tỉnh Miền và các Liên hiệp Bề trên
Thượng cấp tiến hành lập tức và dứt
khoát công việc này; tôi cũng thúc giục các đơn
vị ấy soạn thảo những tiến tŕnh đào
tạo về phân định chung, dễ dàng tiếp cận
đối với tất cả những người chia
sẻ sứ mạng với chúng ta, cũng như
đối với mọi thành phần khác trong Giáo Hội,
đang thao thức tăng triển trong chiều kích này
của đời sống đạo.
Các thuộc tính của phân
định chung
Với mong ước thúc
đẩy sự gia tăng thực hành phân định
chung trong đời sống của Ḍng, nhưng không có ư
thay thế các phương thế trợ giúp tốt lành
khác hay các nghiên cứu xuất sắc về chủ đề
này, tôi muốn chỉ ra ở đây các thuộc tính chính
yếu của phân định chung. Các thuộc tính này có
mặt ở những mức độ khác nhau tùy mỗi
trường hợp phân định. Việc liệt kê các
thuộc tính ấy không có ư nói chúng là các giai đoạn hay
các bước của tiến tŕnh, nhưng đúng hơn,
chỉ đơn thuần miêu tả các tính năng chính
yếu của phân định chung. Đôi lúc chúng ta
thấy tất cả các thuộc tính ấy hiện
diện đầy đủ, nhưng trong những lúc khác,
chúng không hiện diện theo cùng một thể thức.
Việc phân định chung cũng tuân thủ các tiêu chí
truyền thống của Thánh Inhaxiô, đó là cần lưu
ư đến những con người, những
thời điểm và nơi chốn.[43] Như
vậy, một phân định chung tốt lành sẽ
đ̣i các yếu tố sau:
1. Chọn
lựa cẩn thận đề tài phân định. Không
phải quyết định nào cũng cần đến
phân định chung. Mục đích của phân định
chung là t́m kiếm và nhận biết ư Chúa đối
với những vấn đề quan trọng mà ta chưa
hoàn toàn rơ phải làm ǵ hay làm như thế nào, hoặc
đâu là điều tốt nhất hay cách làm tốt nhất
hết sức có thể. Do đó, điều quan trọng
là biết cách chọn đúng vấn đề hay những
vấn đề nào thực sự phải lựa
chọn (election) thông qua phân định
chung. Đồng thời, cần có đầy đủ
các thông tin có chất lượng, dễ dàng tiếp
cận đối với mọi người, liên quan
đến vấn đề đang xem xét. Để
đạt đến một phân định tốt,
cần biết chính xác đâu là vấn đề cần
quyết định và đâu là kết quả
được chờ đợi từ tiến tŕnh
phức hợp và đ̣i hỏi ấy. Như thế, chúng
ta tránh được việc tầm thường hóa
"phân định", khi dùng từ ngữ này như cách
thế để biện minh cho các quyết định
lớn hoặc nhỏ.
2. Biết
những ai nên tham gia, và tại sao nên tham gia phân định.
Phải xác định rơ cần những ai tham
gia tiến tŕnh phân định, tại sao họ
nên tham gia, và họ sẽ tham gia với những
điều kiện nào. Chính mỗi đề tài
cần lựa chọn (election) sẽ
xác định nên mời những ai tham gia vào tiến tŕnh.
Điều này hàm nghĩa mỗi tham dự viên phải
biết chính xác các lư do khiến họ tham gia nhóm, và
phải tự nguyện chấp nhận các điều
kiện tham gia. Tùy từng nhóm, từng đề tài phân
định, cũng như các điều kiện khác
của việc tiến hành phân định, mà sẽ xét xem
có nên và có thận trọng đủ hay không nếu mời
những người khác tháp tùng tiến tŕnh hoặc
đóng góp khả năng chuyên môn của họ liên quan
đến các đề tài đang xem xét.
3. Tự
do nội tâm, hay b́nh tâm theo
lối nói của Inhaxiô, là điều kiện thiết
yếu để có một lựa chọn ngay lành (good
election). Các tham dự viên phân định cần trau
dồi tự do nội tâm, tức phải gỡ ḿnh
khỏi những lợi ích riêng tư, và tự do đón
nhận điều ǵ là tốt hơn theo ánh sáng của Tin
Mừng. B́nh tâm là hoa trái của một đời sống
thiêng liêng đích thực, nơi đó đời sống
và sứ mạng không tách rời nhau, như Tổng Hội
36 đă khẳng quyết. Những người không cùng
niềm tin Kitô giáo nhưng chia sẻ sứ mạng với
chúng ta vẫn có thể và cần phải đạt
đến tự do nội tâm. Thái độ ấy giúp
họ gỡ bỏ được t́nh yêu vị
kỷ, ư riêng và những tư lợi. [44] Tự do nội tâm ấy là
một tiềm năng nhân linh, có thể tăng
trưởng như những nhân vị trong mối
tương quan vô tư lợi (gratuitous) với
tha nhân, biết t́m kiếm thiện ích lớn lao hơn cho
mọi người, ngay cả khi việc theo đuổi
lư tưởng ấy đ̣i hỏi từ bỏ chính ḿnh và
hy sinh.
4. Đồng
tâm nhất trí. Phân định chung đ̣i
phải có điều mà Thánh Inhaxiô Loyola gọi là sự
đồng tâm nhất trí trong nhóm phân định,
bởi lẽ mục tiêu của phân định là lựa
chọn (election) một cách tự do chiếu theo
ư Chúa. Sự đồng tâm nhất trí ấy chỉ có
được khi mọi thành viên của nhóm có cùng một
cảm thức chung về cùng đích, bởi lẽ
những trục trặc xảy ra trong phân định
sẽ tác động trực tiếp trên tất cả và
trên từng người. V́ vậy cần có sự thông
hiểu lẫn nhau; từ sự thông hiểu ấy sinh ra
sự tin tưởng lẫn nhau và thúc đẩy sự
tham gia tích cực của mỗi người.
5. Biết
thể thức phân định. Trong
Linh Thao, Thánh Inhaxiô đề ra ba thời kỳ khác nhau
để làm một quyết định đúng
đắn và ngay lành.[45] Ở thời
kỳ thứ nhất,[46] ư Chúa
thật tỏ tường, không thể hồ nghi.
Ở thời kỳ thứ hai,[47] phân
định chung có thể được thực hiện
bằng cách xem xét các chuyển động thiêng liêng và xác
chuẩn (nguồn gốc của) chúng, hoặc có thể
được thực hiện bằng cách suy xét và đi
đến quyết định dựa theo quy cách
được mô tả ở thời kỳ thứ
ba.[48]
Đối
với một nhóm bao gồm các thành viên đă có kinh
nghiệm phân biệt thần loại, phân định chung
có thể được thực hiện bằng cách
nhận diện và cân nhắc tác động do các thần
gây ra trong nhóm đang t́m kiếm ư Chúa. Khả năng phân
biện tác động của các thần là điều
kiện cần để nhóm sử dụng thời kỳ
lựa chọn thứ hai. Nhờ phân biệt thần
loại mà nhóm có thể nhận biết chuyển
động của mỗi thần sẽ hướng nhóm
đi về đâu, từ đó bước theo các
chuyển động của thần lành. Theo ngôn từ
của Inhaxiô, các chuyển động đặc trưng
nhất đối với phân định được
gọi là an ủi và sầu khổ.[49] "V́
cũng như trong lúc được an ủi, phần
nhiều là thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta
thế nào, th́ trong cơn sầu khổ, thần dữ
cũng (làm) như vậy, mà nếu làm theo lời khuyên của
nó, ta chẳng thể gặp được con
đường đưa tới đích".[50]
Các
chuyển động thiêng liêng th́ khác với các trạng
thái tâm hồn. Chúng là những tác động rơ rệt
của các thần đang cố lay động ư chí của
một người đi theo hướng này hay
hướng kia. V́ thế, an ủi và sầu
khổ không đồng nghĩa với vui hay
buồn, với sảng khoái hay sầu muộn, với hài
ḷng hay bất măn, với tán đồng hay bất
đồng đối với ư kiến hay
lập trường của ai đó. Cảnh tượng
Chúa Giêsu cầu nguyện trong Vườn Dầu
trước cuộc Thương Khó[51] giúp
thấy rơ sự khác biệt giữa chuyển động
thiêng liêng với trạng thái tâm hồn. Các chuyển
động thiêng liêng th́ thúc bách tự do của chúng ta, và
hướng ta đến một lựa chọn. Mặc dù
cảm nhận buồn bă và phiền muộn (câu 37-38), Chúa
Giêsu vẫn chọn bước theo ư muốn
của Chúa Cha.[52] Các
chuyển động của Thần lành th́ mang đến
sự tăng trưởng trong đức tin, đức
cậy và đức ái.[53] Ơn
b́nh an nội tâm sâu thẳm là dấu chỉ chúng ta đang
đi đúng hướng của Thánh Thần, một hoa
trái của phân định. Ơn b́nh an nội tâm ấy,
được cảm nhận ngay cả trong những t́nh
huống đau khổ lớn lao, là dấu chỉ cho
thấy ta đă t́m được ư Chúa.
Dấu chỉ xác chuẩn ta đi đúng hướng
của Thánh Thần được biểu lộ qua niềm
vui Tin Mừng mà mỗi người trải
nghiệm trong nội tâm và nhóm phân định chung cảm
nhận được, hoặc qua ơn an ủi mà
Đức Thánh Cha Phanxicô đă mời gọi chúng ta
phải tha thiết nài xin trong chuyến thăm viếng
của ngài ở Tổng Hội 36.
Tùy
vào các điều kiện mà các thành viên trải nghiệm,
có khi nhóm phân định có thể suy xét hay bàn thảo
về những thuận lợi (pros) và bất
lợi (cons) của một giả
thiết lựa chọn nào đó nghịch
với viễn cảnh giúp tôn vinh Thiên Chúa nhiều
hơn và tốt hơn. Trong trường hợp đó,
để có được phân định đúng
đắn, nhóm phải có khả năng sử dụng lư trí
sáng suốt để nhận ra đâu là thiện ích
lớn hơn chiếu theo các giá trị của Nước
Trời, và dâng lên Chúa quyết định của nhóm
để xin ơn xác chuẩn.[54]
6. Cầu
nguyện chung là một điều kiện
thiết yếu khác của một phân định tốt
lành. Mỗi nhóm phân định chung nên t́m những cách
thế và không gian cho việc cầu nguyện cá nhân và
cầu nguyện chung phù hợp với những đặc
điểm riêng của nhóm. Cầu nguyện cá nhân và
cầu nguyện chung duy tŕ một thế giằng co lành
mạnh giữa trời và đất[55] khi
t́m kiếm sự hơn nữa (magis) khởi
đi từ tương quan của chúng ta với Thiên Chúa
và với Lời của Người. Việc cầu
nguyện ấy nhắc nhớ chúng ta rằng, trong
tư cách một thân thể, chúng ta là những
người phục vụ sứ mạng của Thiên
Chúa (missio Dei). Bí Tích Thánh Thể là
phương thế cầu nguyện chung ưu tiên hàng
đầu. V́ thế bí tích ấy có một ư nghĩa
đặc biệt và giữ một vai tṛ trung tâm trong các
tiến tŕnh phân định chung. Nếu một cộng
đoàn hay nhóm có thể cử hành Bí tích Thánh Thể như
nguồn sống trong Thánh Thần, th́ cộng đoàn hay
nhóm ấy sẽ gia tăng khả năng nhận biết
tác động của Thánh Thần trong lịch sử,
cũng như nghiệm ra Chúa đang thực hiện
lời hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến
ngày tận thế[56] như thế nào.
7. Tṛ
chuyện thiêng liêng là một đặc nét
của phân định chung. Tổng Hội 36 khuyến cáo
mạnh mẽ rằng chúng ta cần nâng cao khả năng
tṛ chuyện này.[57] Trong phân định
chung, cần dành thời gian để các cá nhân chia sẻ
các hoa trái cầu nguyện hay các suy tư của mỗi
người. Chia sẻ là cơ hội để cá nhân
tŕnh bày cho người khác một cách giản dị khác
với diễn thuyết về những tác động
của Thánh Thần mà họ cảm nhận, hoặc
về các hoa trái của suy tư cá nhân liên quan đến
vấn đề đang suy xét. Mặt khác, một thái
độ "lắng nghe người khác" cách tôn
trọng, và không phi bác các chuyển động thiêng liêng mà
người khác cảm nhận trong nội tâm, có thể
tạo ra nơi người nghe một âm vang thiêng liêng hay
những chuyển động thiêng liêng mới mẻ, hoặc
khơi dậy nơi họ một lối nhận biết
các sự vật một cách tươi mới. Tập quán
tṛ chuyện thiêng liêng, thói quen lắng nghe người khác
cách chăm chú, kỹ năng diễn đạt một cách
giản dị và rơ ràng các kinh nghiệm và ư tưởng
của bản thân sẽ góp phần làm cho việc phân
định chung được tốt đẹp mỗi
khi đề tài phân định đ̣i hỏi điều
ấy.
Chia
sẻ trong tṛ chuyện thiêng liêng th́ khác với bàn luận
trong kinh doanh, vốn t́m kiếm những quyết
định hợp lư nhất theo logic của quản
trị. Việc chia sẻ ấy cũng khác với
hoạt động của nghị trường, nơi các
phe đa số, thiểu số, hay các liên minh… suy xét
để nhắm đến những lợi ích cá nhân hay
lợi ích nhóm, bằng cách vận dụng khả năng
diễn thuyết và các "kỹ thuật" nghị
trường. Các diễn đàn ấy có điểm này
giống với phân định, đó là tất cả
đều cần các thông tin tốt liên quan đến các
vấn đề cần quyết định và cần
khả năng lập luận hữu lư. Phân định
cũng cần đến những yếu tố vừa nói
nhưng không dừng ở đó. Phân định làm
việc, về cơ bản, dựa vào những chuyển động
thiêng liêng, hoặc khi các chuyển động ấy không rơ
ràng, th́ dựa trên những chất liệu mà lư trí xét
thấy là đem đến ḷng yêu mến Chúa hơn và tôn
vinh Chúa hơn, sau đó cũng phải t́m ơn xác
chuẩn từ trên cao.
8. Thực hành một cách có
hệ thống việc xét ḿnh (examen) trong
tiến tŕnh phân định chung cho phép chúng ta đi
từ t́m kiếm đến nhận
biết ư Chúa. Việc xét ḿnh giúp chúng ta
nhận ra chân tính của tác động của các thần
và xác chuẩn chúng ta có đi đúng hướng hay không.
Việc xét ḿnh cá nhân của mỗi thành viên
cần được kết hợp với việc duyệt
xét những ǵ đang diễn ra trong nhóm xét như
một toàn thể. Học biết duyệt xét các chuyển
động của nhóm sẽ cho phép chúng ta nắm
được đà tiến của tiến tŕnh phân
định hoặc xác chuẩn tiến tŕnh ấy, từ
đó chúng ta có thể biết được có nên tiếp
tục tiến tới, hoặc tiến tới thế nào,
dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.
Việc giám sát liên tục các chuyển động của
nhóm ngang qua xét ḿnh là một công cụ giúp ghi
nhớ những ǵ đă diễn ra. Tương tự
như khi học cách nhận biết các chuyển
động nội tâm nơi cá nhân, phân định chung đ̣i
chúng ta phát triển khả năng nhận biết và lư
giải những chuyển động thiêng liêng trong nhóm
đang đặt ḿnh lắng nghe Thánh Thần để
t́m kiếm ư Chúa.
9. Thiết lập cách ấn
định quyết định cuối cùng. Phải xác định rơ ràng và chính xác điều này
khi khởi sự tiến tŕnh phân định. Các tham
dự viên phân định cần biết và chấp
nhận ngay từ đầu cách đạt đến
quyết định cuối cùng. Chẳng hạn chúng ta
đều biết, các Tổng Hội của Ḍng th́
đạt đến quyết định cuối cùng
dựa trên đa số phiếu biểu quyết, trừ
những trường hợp Định thức ấn
định cách khác. Tương tự, trong cuộc phân
định của một cộng đoàn Giêsu-hữu,
quyết định cuối cùng thuộc về bề trên
địa phương; và các quyết định của
một Tỉnh hay Miền th́ thuộc trách nhiệm của
Bề trên Thượng cấp. C̣n các tổ chức tông
đồ và các định chế th́ được
điều hành dựa trên quy chế và luật riêng của
tổ chức ḿnh, trong đó sẽ quy định rơ cách
thức đưa ra các quyết định ảnh
hưởng đến toàn thể và ai được
quyền ra các quyết định ấy.
Đặt trọn niềm tin tưởng
vào Thiên Chúa
Phân
định là một di sản phong phú của Linh Thao,
một công cụ đặc biệt hữu dụng cho
những thời điểm cần làm các cuộc
lựa chọn (elections) trong đời
sống và sứ mạng của Ḍng. Phân định và các
lựa chọn tốt lành đ̣i chúng ta phải siêu thoát
khỏi những quyến luyến và t́nh cảm lệch lạc,
để có thể đặt ḿnh hoàn toàn trong tay Chúa.
Việc đẩy mạnh phân định chung là một
trực giác của Tổng Hội 36, khi Tổng Hội t́m
kiếm những cách thế cải thiện đời
sống chung của Ḍng bằng cách dựa vào cầu
nguyện cá nhân sâu xa hơn, cũng như vào việc chia
sẻ đức tin và đời sống của chúng ta
một cách phong phú hơn.
Huấn từ của Đức
Thánh Cha Phanxicô với các thành viên của Tổng Hội 36
được kết thúc với lời nguyện sau:
"Chúng ta hăy nài xin Mẹ chúng ta hướng dẫn và
đồng hành với từng Giêsu-hữu, cũng như
với thành phần Dân Chúa mà anh được sai
đến, trên những con đường của ơn an
ủi, của ḷng trắc ẩn, và của phân định."[58] Chúng
ta hăy biến ư nguyện ấy thành lời cầu của
chính chúng ta, bằng cách nài xin ơn ấy cho mỗi
người được kêu gọi chia sẻ sứ
mạng phục vụ sự ḥa giải và công b́nh của
Tin Mừng, cho các cộng đoàn, các tổ chức tông
đồ và các cơ sở mà ngang qua đó chúng ta thi hành
sứ mạng tông đồ của ḿnh.
V́ thế chúng ta hăy cầu xin
ơn hoán cải ở cấp độ cá nhân cũng
như cơ chế, để nhờ việc chiêm ngắm
Chúa Giêsu trong Tin Mừng, và từ mối tương quan yêu
thương và trung tín của Người với Chúa Cha,
chúng ta biết học cách nhận ra Thánh Thần đang
dẫn chúng ta đi đâu, và cách lựa chọn sống
theo ư Thiên Chúa.
Arturo Sosa
Rôma, ngày 27.9.2017
Kỷ niệm ngày Đức
Phaolô III ban hành trọng sắc Regimini militantis (1540).
(nguyên bản
tiếng Tây Ban Nha)
Coathalem, Hervée. Ignatian Insight.
Ḍng Tên Việt Nam. Tạp Chí Linh Đạo
Inhă: Phân Định Thiêng Liêng. Sài G̣n 2019
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of Spirits:
An Ignatian Guide For Every Life. New York: Crossroad, 2006.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation: An
Ignatian Guide For the Greater Discernment of Spirits. New York:
Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Discerning the Will of God:
An Ignatian Guide to Christian Decision Making. New York: Crossroad,
2009.
Green, Thomas, S.J. Weeds Among the Wheat. Indiana:
Ave Maria Press, 1984.
Green, Thomas, S.J. Phân Định Thiêng Liêng:
Cỏ Lùng và Lúa Tốt. Bản dịch Vô Danh. Sài G̣n:
Lưu Hành Nội Bộ, 2000.
Inhaxiô Loyola. Linh Thao. Bản dịch
của Nguyễn Công Đoan SJ và Mariano Manso SJ. Sài G̣n: Nhà
Tập Ḍng Tên, 1969.
Inhaxiô Loyola. Tự Thuật. Bản
dịch của Hoàng Văn Lục Sesto Quercetti S.J. Sài G̣n:
Lưu hành nội bộ, 1975.
Tonner, Jules J., S.J. Discerning God’s Will: Ignatius of
Loyola’s Teaching on Christian Decision Making. St. Louis: The Institute of
Jesuit Sources, 1991.
Tonner, Jules J., S.J. A Commentary On St. Ignatius’ Rules
For The Discernment of Spirits. St. Louis: The Institute of Jesuit Sources,
1991.
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa
Tác Viên Của Ḷng Chúa Thương Xót: Tài liệu hỗ
trợ các cha giải tội và linh hướng. Roma:
Vatican, 2011. Phêrô Đặng Xuân Thành dịch từ bản
Anh ngữ. Hà Nội: Lưu hành nội bộ.
AD MAJOREM DEI
GLORIAM
CHO VINH DANH CHÚA
HƠN
[1] Jules J. Tonner, S.J., Discerning God’s Will, p. ix.
[2] K.
Rahner, L’Esprit dans le monde (Mame 1968), p.91-92.139
[3] Thánh Thomas, ST. I, q. 84, a. 7, corp.: “impossibile est
intellectum nostrum, secundum praesentis vitae statum, quo passibili corpori
conjungitur, aliquid intelligere in actu, nisi convertendo se ad phantasmata.”
(Lư trí chúng ta trong t́nh trạng hiện tại, t́nh trạng
liên kết với thân xác, không thể biết ǵ (ở
hiển thể) nếu không trở về với ảnh
tượng.)
[4] St 1: 26 Thiên Chúa phán: "Chúng ta hăy làm ra con
người theo h́nh ảnh chúng ta, giống như chúng ta,
để con người làm bá chủ cá biển, chim
trời, gia súc, dă thú, tất cả mặt đất và
mọi giống vật ḅ dưới đất."
27 Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh
ḿnh,
Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh Thiên Chúa,
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
28 Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán
với họ: "Hăy sinh sôi nảy nở thật
nhiều, cho đầy mặt đất, và thống
trị mặt đất. Hăy làm bá chủ cá biển, chim
trời, và mọi giống vật ḅ trên mặt
đất."
[5] Mc 12: 29 Đức Giê-su trả lời:
"Điều răn đứng đầu là: Nghe
đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là
Đức Chúa duy nhất.30 Ngươi
phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi, hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn
và hết sức lực ngươi.31 Điều
răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân
cận như chính ḿnh. Chẳng có điều răn nào khác
lớn hơn các điều răn đó."32 Ông
kinh sư nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy,
hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là
Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có
Đấng nào khác.33 Yêu mến Thiên Chúa hết ḷng,
hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân
cận như chính ḿnh, là điều quư hơn mọi
lễ toàn thiêu và hy lễ."
[6] Xh 20: 1 Thiên Chúa phán tất cả những
lời sau đây:
2 "Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của
ngươi, đă đưa ngươi ra khỏi
đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.
3 Ngươi không được có thần nào khác
đối nghịch với Ta.
4 Ngươi không được tạc
tượng, vẽ h́nh bất cứ vật ǵ ở trên
trời cao, cũng như dưới đất thấp,
hoặc ở trong nước phía dưới mặt
đất, để mà thờ.
5 Ngươi không được phủ phục
trước những thứ đó mà phụng thờ: v́ Ta,
ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một
vị thần ghen tương. Đối với những
kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn
đời v́ tội lỗi của cha ông.6 C̣n
với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh
lệnh của Ta, th́ Ta trọn niềm nhân nghĩa
đến ngàn đời.
7 Ngươi không được dùng danh
ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách
bất xứng, v́ ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh
Người một cách bất xứng.
8 Ngươi hăy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày
thánh.9 Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và
làm mọi công việc của ngươi.10 C̣n
ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa
của ngươi. Ngày đó, ngươi không
được làm công việc nào, cả ngươi
cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và
ngoại kiều ở trong thành của ngươi.11 V́
trong sáu ngày, ĐỨC CHÚA đă dựng nên trời
đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng
Người đă nghỉ ngày thứ bảy. Bởi
vậy, ĐỨC CHÚA đă chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó
là ngày thánh.
12 Ngươi hăy thờ cha kính mẹ, để
được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA,
Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.
13 Ngươi không được giết
người.
14 Ngươi không được ngoại t́nh.
15 Ngươi không được trộm cắp.
16 Ngươi không được làm chứng gian
hại người.
17 Ngươi không được ham muốn nhà
người ta, ngươi không được ham muốn
vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con ḅ con lừa,
hay bất cứ vật ǵ của người ta."
[7] Gr 1: 4 Có lời ĐỨC CHÚA phán với
tôi rằng:
5 "Trước khi cho ngươi thành h́nh trong
dạ mẹ, Ta đă biết ngươi;
trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh
hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."
6 Nhưng tôi thưa: "Ôi! Lạy ĐỨC CHÚA
là Chúa Thượng, con đây c̣n quá trẻ, con không biết
ăn nói!"
7 ĐỨC CHÚA phán với tôi:
"Đừng nói ngươi c̣n trẻ!
Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;
Ta truyền cho ngươi nói ǵ, ngươi cứ nói.
8 Đừng sợ chúng, v́ Ta ở với
ngươi để giải thoát ngươi",
- sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.
9 Rồi ĐỨC CHÚA giơ tay chạm vào
miệng tôi và phán:
"Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi.
[8] 1Co 2: 10 C̣n chúng ta, chúng ta đă
được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần
Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi
sự, ngay cả những ǵ sâu thẳm nơi Thiên Chúa... Cũng
thế, không ai biết được những ǵ nơi
Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên
Chúa... 13chúng tôi không dùng những lời lẽ
đă học được nơi trí khôn ngoan của loài
người, nhưng dùng những lời lẽ học
được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những
lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn
tả thực tại thuộc về Thần Khí.14 Con
người sống theo tính tự nhiên th́ không đón
nhận những ǵ của Thần Khí Thiên Chúa, v́ cho đó
là sự điên rồ; họ không thể biết
được, bởi v́ phải nhờ Thần Khí
mới có thể xét đoán. 15 Nhưng con
người sống theo Thần Khí th́ xét đoán
được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán
được người đó.16 Thật
vậy, ai đă biết tư tưởng của Chúa,
để chỉ vẽ cho Người? C̣n chúng tôi, chúng tôi
biết được tư tưởng của
Đức Ki-tô.
[9] Gal 5: 16 Tôi xin nói với anh em là hăy
sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không
c̣n thoả măn đam mê của tính xác thịt nữa.17 V́
tính xác thịt th́ ước muốn những điều
trái ngược với Thần Khí, c̣n Thần Khí lại
ước muốn những điều trái ngược
với tính xác thịt, đôi bên ḱnh địch nhau,
khiến anh em không làm được điều anh em
muốn… 22 C̣n hoa quả của Thần Khí
là: bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu,
từ tâm, trung tín,23 hiền hoà, tiết
độ. Không có luật nào chống lại những
điều như thế.24 Những ai
thuộc về Đức Ki-tô Giê-su th́ đă đóng
đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục
vọng và đam mê. 25 Nếu chúng ta
sống nhờ Thần Khí, th́ cũng hăy nhờ Thần Khí
mà tiến bước.
[10] 1Cor
12: 4 Có nhiều đặc
sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.5 Có
nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có
một Chúa.6 Có nhiều hoạt
động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên
Chúa làm mọi sự trong mọi người.7 Thần
Khí tỏ ḿnh ra nơi mỗi người một cách, là v́
ích chung.8 Người th́
được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để
giảng dạy, người th́ được Thần Khí
ban cho ơn hiểu biết để tŕnh bày.9 Kẻ
th́ được Thần Khí ban cho ḷng tin; kẻ th́
cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban
cho những đặc sủng để chữa bệnh.10 Người
th́ được ơn làm phép lạ, người th́
được ơn nói tiên tri; kẻ th́ được
ơn phân định thần khí; kẻ khác th́ được
ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa
lại được ơn giải thích các tiếng
lạ.11 Nhưng chính Thần Khí
duy nhất ấy làm ra tất cả những điều
đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ
theo ư của Người.
[11] Xh
18: "Ấy là v́ dân đến với con
để thỉnh ư Thiên Chúa.16 Khi
họ có việc ǵ, họ đến với con; con phân
xử cho đôi bên và cho biết những thánh chỉ và
lề luật của Thiên Chúa." ….
chính anh sẽ tŕnh các việc lên Thiên Chúa,20 sẽ
dạy cho họ các thánh chỉ, các lề luật, và cho
họ biết đường lối phải đi và cách
phải xử sự.21 Rồi
anh hăy xem trong toàn dân những ai là người có tài,
biết kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy, không ham
của bất chính, th́ đặt họ làm người
chỉ huy….22 Họ sẽ
thường trực xử kiện cho dân; việc nào
lớn th́ họ tŕnh lên anh, c̣n việc nào nhỏ th́ chính
họ xử lấy: hăy làm như vậy để nhẹ
gánh cho anh. Họ phải gánh việc đỡ anh.
[12] 1Ga 4: 1 Anh em thân mến, anh em đừng
cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hăy cân nhắc các
thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, v́ đă có
nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.
2 Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra
thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng
Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đă đến và
trở nên người phàm, th́ thần khí ấy bởi
Thiên Chúa;
3 c̣n thần khí nào không tuyên xưng Đức
Giê-su, th́ không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên
phản Ki-tô. Anh em đă nghe nói là nó đang tới, và
hiện nay nó ở trong thế gian rồi.
[13] Lc
12: 54 Đức Giê-su cũng
nói với đám đông rằng: "Khi các người
thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay:
"Mưa đến nơi rồi,” và xảy ra đúng
như vậy.55 Khi
thấy gió nồm thổi, các người nói: "Trời
sẽ oi bức,” và xảy ra đúng như vậy.56 Những
kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc
đất trời, th́ các người biết nhận xét,
c̣n thời đại này, sao các người lại không biết
nhận xét?
[14] 2Cor
11: 12 Điều tôi làm, tôi
sẽ tiếp tục làm, để những kẻ
muốn có cơ hội tự phụ là những
người ngang hàng với chúng tôi, không c̣n cơ hội
đó nữa.13 V́
những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian
xảo, đội lốt tông đồ của Đức
Ki-tô.14 Lạ ǵ đâu! V́ chính
Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!15 Vậy
có ǵ là khác thường khi kẻ phục vụ nó
đội lốt người phục vụ sự công
chính. Chung cục, chúng sẽ lănh nhận hậu quả công
việc chúng đă làm.
[15] Mt
13: 24 Đức Giê-su tŕnh bày
cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: "Nước
Trời ví như chuyện người kia gieo giống
tốt trong ruộng ḿnh.25 Khi
mọi người đang ngủ, th́ kẻ thù của ông
đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi
mất.26 Khi lúa mọc lên và
trổ bông, th́ cỏ lùng cũng xuất hiện.27 Đầy
tớ mới đến thưa chủ nhà rằng:
"Thưa ông, không phải ông đă gieo giống tốt
trong ruộng ông sao? Thế th́ cỏ lùng ở đâu mà ra
vậy? " Ông đáp: "Kẻ thù đă làm đó! "
Đầy tớ nói: "Vậy ông có muốn chúng tôi ra
đi gom lại không? " 29 Ông đáp: "Đừng,
sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ
lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới
mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ
gặt: hăy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi,
c̣n lúa, th́ hăy thu vào kho lẫm cho tôi."
[16] Dt 5: 11 Về vấn đề này, chúng tôi
c̣n có nhiều điều phải nói, nhưng khó mà cắt
nghĩa, v́ anh em đă trở nên uể oải không muốn
nghe.12 Quả thật, với thời gian, đáng
lẽ anh em đă phải là những bậc thầy,
thế mà anh em lại cần phải để cho
người ta dạy anh em những điều sơ
đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay v́
thức ăn đặc, anh em lại phải cần dùng
sữa.13 Thật vậy, phàm ai c̣n phải
dùng đến sữa, th́ không hiểu ǵ về đạo
lư liên quan đến sự công chính, v́ người ấy
vẫn là trẻ con.14 Thức ăn đặc th́ dành cho
những người đă trưởng thành, những
người nhờ thực hành mà rèn luyện
được khả năng phân biệt điều lành
điều dữ.
[17] Gal
5: 13 Quả thế, thưa
anh em, anh em đă được gọi để
hưởng tự do. Có điều là đừng lợi
dụng tự do để sống theo tính xác thịt,
nhưng hăy lấy đức mến mà phục vụ
lẫn nhau.14 V́ tất cả Lề
Luật được nên trọn trong điều răn
duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân
cận như chính ḿnh.15 Nhưng
nếu anh em cắn xé nhau, anh em hăy coi chừng, anh em tiêu
diệt lẫn nhau đấy!
16 Tôi xin nói với anh em là hăy sống theo
Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không c̣n thoả măn
đam mê của tính xác thịt nữa.17 V́
tính xác thịt th́ ước muốn những điều
trái ngược với Thần Khí, c̣n Thần Khí lại
ước muốn những điều trái ngược
với tính xác thịt, đôi bên ḱnh địch nhau,
khiến anh em không làm được điều anh em
muốn.18 Nếu anh em để
cho Thần Khí hướng dẫn, th́ anh em không c̣n lệ
thuộc Lề Luật nữa.19 Những
việc do tính xác thịt gây ra th́ ai cũng rơ, đó là: dâm
bôn, ô uế, phóng đăng,20 thờ
quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng
giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái,21 ganh
tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác
giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà
biết, như tôi đă từng bảo: những kẻ làm
các điều đó sẽ không được thừa
hưởng Nước Thiên Chúa.22 C̣n
hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, b́nh an,
nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín,23 hiền
hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại
những điều như thế.24 Những
ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su th́ đă đóng
đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục
vọng và đam mê.
25 Nếu chúng ta sống nhờ Thần
Khí, th́ cũng hăy nhờ Thần Khí mà tiến bước.26 Chúng
ta đừng có t́m hư danh, đừng khiêu khích nhau,
đừng ganh tỵ nhau.
[18] 1Co
2: 6Thế mà điều chúng tôi
giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành cũng
là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn
ngoan của thế gian, cũng không phải của các
thủ lănh thế gian này, là những kẻ sớm muộn
ǵ cũng phải diệt vong.7 Trái
lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm
mầu của Thiên Chúa đă được giữ bí
mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đă tiền định
từ trước muôn đời, cho chúng ta
được vinh hiển… 10 C̣n
chúng ta, chúng ta đă được Thiên Chúa mặc khải
cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu
suốt mọi sự, ngay cả những ǵ sâu thẳm
nơi Thiên Chúa... Cũng
thế, không ai biết được những ǵ nơi
Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên
Chúa... 13chúng tôi không dùng những
lời lẽ đă học được nơi trí khôn
ngoan của loài người, nhưng dùng những lời
lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng
những lời lẽ Thần Khí linh hứng để
diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí.14 Con
người sống theo tính tự nhiên th́ không đón
nhận những ǵ của Thần Khí Thiên Chúa, v́ cho đó
là sự điên rồ; họ không thể biết
được, bởi v́ phải nhờ Thần Khí
mới có thể xét đoán.15 Nhưng
con người sống theo Thần Khí th́ xét đoán
được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán
được người đó.16 Thật
vậy, ai đă biết tư tưởng của Chúa,
để chỉ vẽ cho Người? C̣n chúng tôi, chúng tôi
biết được tư tưởng của
Đức Ki-tô.
[19] Tội không thuộc bản tính con người.
Con người có thể không phạm tội. Phạm
tội hay không là tùy tự do mỗi người.
[20] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.
[21] Xem ghi chú của FranVois
Courel, sj, trong SAINT IGNACE DE LOYOLA, Exercices Spirituels, DESCLÉE DE
BROUWER 1960, p. 65 note 2.
[22] Các bước gợi ư cho một lần
cầu nguyện:
1. Sau khi đă chọn địa
điểm tốt nhất để cầu nguyện
như ḿnh thấy, đến chỗ đó, và ư
thức ḿnh hiện diện trước Thiên Chúa Ba
Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn
tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).
2. Xin Chúa Cha ban Thánh Thần của Chúa Giêsu
Phục Sinh cho ḿnh,
để Ngài thanh tẩy ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ
những vướng bận đặc biệt trong
giờ cầu nguyện này, và xin Ngài giúp ḿnh gặp gỡ
Thiên Chúa.
3. Đặt khung cảnh (v́ thân phận con người, chúng ta đến
với Thiên Chúa qua những ǵ hữu h́nh).
4. Ơn xin (Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn
xin; Thao viên cần khao khát điều này trước khi
xin).
5. Điểm
6. Tâm sự với Chúa (Sau mỗi điểm, chúng ta nên tâm
sự với Chúa, chứ không nhất thiết phải
chờ đến cuối giờ cầu nguyện, v́ các
điểm gợi ư chỉ là phương tiện giúp chúng
ta gặp gỡ và tâm sự cùng sống hạnh phúc với
Chúa).
[23] Tuy vậy cần lưu ư về t́nh trạng
biếng lười của ḿnh; có người không
muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ
cầu nguyện.
Cũng có bài cầu nguyện
cần dùng tất cả số điểm được
cho, như trường hợp bài cầu nguyện về
"Tội tôi" (LT 55 tt).
[24] "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết,
nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được
sống" (Ed 33:11).
"Thiên Chúa muốn cho mọi
người được cứu độ và nhận
biết chân lư" (1Tm 2:4).
[25] Cũng xảy ra trường hợp có
vẻ được an ủi, nhưng không phải
là an ủi thực; trường hợp này là do qủy
giả dạng thần lành để đánh lừa
người ta (2Cor 11:14), làm người ta đi theo
đường của nó, nhưng nếu theo nó,
người ta sẽ cảm thấy bất an bối
rối, v́ không đi trên con đường Thiên Chúa
muốn (LT 332-333).
[26] Với tác động của Thiên Chúa, tự do
của con người luôn được bảo toàn.
"Xin thánh ... làm cho
người em con trở lại.” Thánh... không thể làm
được điều này nếu "em con" không
đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm được
mà người "em con" vẫn hoàn toàn tự do.
[27] Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn
xin, có thể coi như yêu cầu của bài cầu
nguyện.
[28] Giờ cầu nguyện không tốt, tốt, hay
tốt lắm, là đánh giá chủ quan hay khách quan của
người cầu nguyện hay của người
hướng dẫn.
[29] Khao khát nên thánh, là hành vi đă được lư
trí tự do hướng dẫn.
[30] Giống như trong xét gẫm, vẫn cố
gắng nhận ra những ơn ḿnh đă lănh nhận,
chỉ khác trong xét gẫm, thấy những ơn vừa
nhận trong giờ cầu nguyện, c̣n trong hồi tâm xét
ḿnh th́ cố gắng nhận ra những ơn đă lănh
nhận từ lần xét ḿnh trước cho đến
giờ.
[31] Cũng vẫn như trong xét gẫm, cố
gắng nhận ra những lỗi lầm, những khuynh
chiều nơi con người ḿnh, cũng như những
buồn vui nơi ḿnh, những nguyên nhân của những
lỗi lầm, của khuynh chiều, của t́nh cảm
nơi ḿnh, để chỉnh sửa.
Tôi hay phản ứng gay gắt với anh chị em này.
Tại sao vậy? Sâu xa hơn là ǵ? Chúa mời gọi tôi ǵ
qua điều này?
Tôi không vui! Tại sao? V́ tôi mặc cảm, v́ người
khác trổi trang hơn tôi? V́ gia đ́nh người ta
giầu hơn gia đ́nh tôi? V́ anh chị này anh chị kia hành
xử không đúng, v.v.?
Tôi bị tổn thương! Người ta xúc phạm
tôi, v.v. Chúa có bị như tôi không? Chúa phản ứng sao?
Chúa mời gọi tôi ǵ trong trường hợp này? Tôi có
sẵn sàng “xin vâng” với lời mời gọi của
Chúa không?
[32] Không vị lợi, có cái nh́n trưởng thành
về đời sống gia đ́nh và dâng hiến, không
bị quyến luyến lệch lạc chi phối.
[33] Lấy con người cảm tính của ḿnh làm
tiêu chuẩn chọn lựa.
[34] Như vậy không nên lạm dụng cách chọn
lựa theo thánh Inhaxiô, như thể cứ làm theo cách
thức đó, th́ đă là làm việc lựa chọn
đúng đắn!
[35] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm lựa chọn,
th́ cuộc chọn lựa đó không được coi là
cuộc chọn lựa có giá trị.
[36] Ở một nghĩa nào đó, không quyết
định cũng là quyết định, không chọn
lựa cũng là chọn lựa.
Nếu không thấy rơ th́
đừng quyết định. Cụ thể, trong
trường hợp lựa chọn bậc sống,
nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc
sống khác, th́ cứ sống trong bậc sống ḿnh
đang sống.
[37] Điều này không muốn nói rằng người
đó không bị đau khổ hoặc thập giá trong
cuộc sống.
[38] Đương nhiên phải hiểu là nếu chúng ta
vẫn quảng đại với Chúa: vẫn luôn kết
hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống,
vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.
Nếu sau chọn lựa mà
chúng ta cầu nguyện dở hơn trước dù chúng ta
vẫn quảng đại với Chúa như trước,
th́ phải t́m nguyên do, cũng có thể tại ḿnh chọn
điều Chúa không muốn.
[39] Tài liệu này được cha Jean Claude
Dhôtel SJ in trong bài viết “Discernement ensemble” của tạp
chí Vie Chrétienne (trg 7-12) và được cha Giuse Lê Quang
Chủng SJ dịch sang tiếng Việt.
[40] Bản dịch của một anh em Ḍng Tên
tỉnh ḍng Việt Nam.
[41] Tài liệu “Deliberatio Primorum Patrum” (Cuộc bàn định
của các Cha đầu tiên) có viết: "Thời điểm phân tán và chia tay đang
gần đến. Chúng tôi
dốc sức chuẩn bị cho thời điểm này,
sao cho có thể sớm đạt được mục
tiêu mà nhóm đă đề ra và đă đặt vào đó
tất cả tâm năo. V́ thế chúng tôi đă quyết
định sẽ họp mặt trong một thời gian
dài trước khi phân tán, để bàn thảo về
ơn gọi và cách sống tương thích của nhóm.
Một số trong chúng tôi là người Pháp, số khác là
người Tây Ban Nha, người Vùng Savoie hay Bồ
Đào Nha. Sau một số buổi gặp gỡ, đă
xuất hiện một sự phân rẽ trong cách thức
cảm nhận và giữa các ư kiến về t́nh h́nh
của nhóm, mặc dù tất cả chúng tôi đều
một ḷng một trí t́m kiếm thánh ư tốt lành và hoàn
hảo của Thiên Chúa thể theo viễn ảnh ơn
gọi của chúng tôi."
[42] Sách
Giêrêmia chương 42-43 nêu một ví dụ rơ ràng về phân
định chung sai lạc.
[43] Chẳng hạn: HP [64, 238, 343]
[44] Có nhiều người làm việc cho
các tổ chức tông đồ của Ḍng hoặc tham gia
vào việc phục vụ người nghèo của Ḍng,
nhưng không có cùng đức tin Kitô giáo. V́ thế cần
t́m ra những cách thức tôn trọng và chân thành để
họ cùng tham gia vào tiến tŕnh phân định chung.
Đây là một thách thức đối với sự sáng
tạo và tự do của chúng ta xét như những con cái
của Thiên Chúa.
[45] LT
175-188
[46] LT
175
[47] LT 176, 183 và 188
[48] LT 177-178
[49] Xem Các quy tắc giúp nhận biết và
hiểu các thúc đẩy khác nhau (LT 313-327) và Các quy
tắc về cùng một vấn đề giúp nhận
biết tác động của các thần hơn (LT 328-336).
[50] LT 318.
[51] Mt 26:36-46
[52] Kinh Thánh có nhiều ví dụ phân
biệt rơ việc đi theo Thánh Thần hay theo trạng
thái tâm hồn của cá nhân. Điển h́nh như ơn
gọi và đời sống của các ngôn sứ, hay
việc Giuse quyết định đón nhận Maria đă
có thai về làm vợ ḿnh (Mt 1:18-24).
[53] LT 316.
[54] LT 183
[55] LT 101-105
[56] Mt 28:20
[57] “Tṛ chuyện thiêng liêng là một công cụ thiết
yếu giúp làm sống động việc phân định
tông đồ của cộng đoàn. Tṛ chuyện thiêng
liêng bao hàm một sự trao đổi, lắng nghe cách
đón nhận và mong muốn chia sẻ ra điều
đang đụng chạm ta cách sâu thẳm nhất.
Việc tṛ chuyện này sẽ ghi nhận các chuyển
động thiêng liêng, nơi cá nhân cũng như nơi
cộng đoàn, để dùng sự an ủi mà thúc
đẩy đức tin, đức cậy và đức
mến của nhau. Tṛ chuyện thiêng liêng tạo ra một
bầu không khí tin tưởng và đón nhận lẫn nhau
cho chúng ta và cho tha nhân. Chúng ta đừng bỏ lỡ
việc tṛ chuyện này trong cộng đoàn cũng như
trong những tiến tŕnh đưa ra quyết định
ở trong Ḍng” (TH 36, NQ.1, số 12)
[58] Huấn từ của ĐTC Phanxicô tại Tổng
Hội 36, ngày 24.10. 2016.
HOME LỜI CHÚA ĐỨC
TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh
Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân Định
Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như
Thấy Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh
Thao Mười Ngày Linh
Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng
Tên