HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân Định Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như Thấy
Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh Thao Mười Ngày Linh Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng Tên
Để Tự Do và Hạnh Phúc
Hơn bản PDF
ĐỂ
TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN
1.
Tĩnh tâm theo phương pháp của thánh Inhaxiô
a.
Cuộc tĩnh tâm có nhiều giờ để cầu nguyện
b.
Cuộc tĩnh tâm có hướng dẫn riêng
i.
Giúp Linh Thao không chỉ là cho điểm gợi ư cầu
nguyện
ii.
Giúp đỡ các linh hồn qua hướng dẫn thiêng
liêng
c.
Việc thiêng liêng có một tiến tŕnh
i.
Linh Thao là các việc thiêng liêng
2.
Thời điểm gặp gỡ và sống với Thiên
Chúa
a.
Gặp gỡ và cảm nghiệm T́nh Yêu
c.
Kinh nghiệm t́m kiếm và thi hành thánh ư Thiên Chúa của
Inhaxiô
B.
ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO
a.
Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn, không thể làm
Linh Thao
b.
Ao ước khao khát nên trọn lành hơn nữa
a.
Dâng trót con người ḿnh cho Chúa
b.
Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn
c.
Kết qủa của Linh Thao được thể
hiện trong cuộc sống
2.
Ḷng quảng đại được cụ thể hóa
c. Ư
thức sống trước nhan Chúa
PHẦN
HAI: NHÂN HỌC THIÊNG LIÊNG
A.
KHUYNH CHIỀU VÀ KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI
2.
Nét tuyệt vời của con người: tự do siêu
vượt
B.
CON NGƯỜI: TINH THẦN NHẬP THỂ
1.
Con người tự do trong hành động
a.
Con người không tự do “tuyệt đối”
c.
H́nh thành ḿnh qua chọn lựa
2.
Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta
không lôi kéo nó (Ga 6:44)
a.
Kinh nghiệm bất lực dù vẫn ư thức ḿnh tự
do
b.
Thiên Chúa yêu tôi, Ngài lôi kéo tôi đến với Ngài
c.
Đáp trả t́nh yêu: “Xin điều tôi ao ước khao
khát”
1.
Con người và ư định của Thiên Chúa
a.
Những cái nh́n sai lạc về con người
i.
Con người, một hiện hữu “t́nh cờ”
ii.
Con người, “một hiện sinh phi lư”
iii.
Con người, một tṛ chơi của Tạo Hóa?
b.
Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc
i.
Thiên Chúa tạo dựng con người v́ yêu thương
ii.
Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với
con người
iii.
Nên giống Thiên Chúa th́ hạnh phúc
a.
Thiên Chúa cứu độ con người
i.
Con người cần được cứu độ v́
đă từ chối t́nh yêu
ii.
Từ khi phạm tội, con người đă “yếu
đi”
iii.
Được cứu độ trong đức Giêsu và
nhờ đức Giêsu Kitô
b.
Ngôi Lời nhập thể để làm chứng cho T́nh Yêu
iii.
Con người được cứu độ khi đáp
trả t́nh yêu
3.
Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động để dẫn
đưa con người đến với Thiên Chúa
a.
Thiên Chúa luôn hoạt động để làm con
người trở về với Ngài
i.
Thiên Chúa luôn ở với con người
ii.
Thánh Thần dạy dỗ con người
iii.
Thiên Chúa lôi kéo con người
b.
Chỉ được cứu độ khi cảm nhận
ḿnh được yêu
i.
Muốn điều tốt cho người ḿnh yêu
ii.
Thiên Chúa trao ban cho con người tất cả
iii.
Thiên Chúa tôn trọng tự do con người
iv.
Làm con người nên một với Ngài trong T́nh Yêu
v.
Trân trọng đón nhận và phó thác đời ḿnh
4.
Con người tại thế tự do trước
những tác động
a.
Trí tưởng tượng như chiến trường
b.
Khuynh chiều thân xác và lư trí như cám dỗ
c.
Ưng thuận hay từ chối, con người trở
thành tự do đích thực hay nô lệ
d.
Cám dỗ và thử thách là những cơ hội để
nên thánh
5.
Cầu nguyện và nhận định các thần
i. Ư
thức Thiên Chúa hiện diện và yêu thương ḿnh
ii.
Lắng nghe và thân thưa với Chúa
iii.
Cầu nguyện để trở nên một với Thiên
Chúa
i.
Tiêu chuẩn “b́nh an hạnh phúc”
iii.
Nguyên do làm giờ cầu nguyện không được
tốt lắm
i.
Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu
ii.
Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn
iii.
Cầu nguyện ngắn về chính đời sống ngày
qua
PHẦN
iii: LINH THAO- ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN
a.
Trí (biết đúng để sống đúng)
2.
Bản văn Kinh Thánh có thể dùng để cầu
nguyện
i.
Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm
4.
Gợi ư cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tẩng
11.
Các ngươi t́m ǵ (Ga 1:35-51)
1.
Hai môn đệ này ao ước và khao khát ǵ?
2.
Gặp gỡ Đức Giêsu, th́ được biến
đổi
3.
Tôi t́m ǵ, tôi khao khát mong ước ǵ?
12.
Thiên Chúa ḍ xét tôi (Tv 139)
3.
Thiên Chúa tạo dựng tôi, nên Ngài yêu thương tôi
4.
Xin Chúa tiếp tục ḍ xét con, để ǵn giữ con
13.
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng
1.Thiên
Chúa Cha yêu tôi vô cùng
3.
Chúa Thánh Thần yêu tôi vô cùng
14.
Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)
1. Ư
nghĩa và mục đích của đời người
22.
Hồi niệm (năm bài: từ bài 11 đến bài 21)
ii.
Nhận biết sự xấu xa và ác hại của tội
i.
Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha thứ
ii.
Khao khát trở về với Thiên Chúa
2.
Những đoạn Kinh Thánh dùng cầu nguyện
i. Ư
thức Chúa hiện diện và chào Chúa
b.
Xét gẫm như nhận định thiêng liêng
2.
Không tin vào Thiên Chúa nữa (St 3:1tt)
3.
Từ chối thúc đẩy của Thánh Thần mời
gọi hoán cải
31.
Hồi niệm (hai bài Tội và Tội tôi)
32.
Dửng dưng trước nỗi khổ của tha nhân
(Mt 25:31 tt)
2.
Đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những
người khốn cùng, nghèo hèn nhất
3.
Tiêu chuẩn Thiên Chúa phán xét ngày Ngài quang lâm: yêu thương
34.
Người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)
2.
Cha mẹ người mù “khôn qúa” nên không dám nói sự
thực
41.
Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36tt)
1.
Tâm t́nh và cung cách hành xử của chị phụ nữ
2. Thái
độ của người biệt phái
3.
Tâm t́nh và thái độ của đức Giêsu
42.
David thống hối (Tv 51/50)
C.
LỜI MỜI GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG
2.
Những đoạn Kinh Thánh có thể dùng
a.
Cầu nguyện chủ yếu là tâm sự
ii.
Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện
b.
Xét gẫm như nhận định thiêng liêng
i.
Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về điều
này
4.
Gợi ư cầu nguyện về tiếng gọi Vua
Hằng Sống
2.
Từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới
người
3.
Họ đă bỏ tất cả mà theo Ngài
1.
Hăy nên thánh, v́ Ta là thánh
2.
Cách thế đức Giêsu thực hiện sứ mạng
3.
Sứ mạng và cách thế thực hiện sứ mạng
của chúng ta
D.
LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ
a.
Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn
b.
Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn
2.
Những bản văn dùng cầu nguyện
b.
Đời b́nh thường “phi thường”
i.
Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi
ii.
Để nên đồng h́nh đồng dạng với
Chúa Giêsu hơn
ii.
Cầu nguyện bị giảm sút hay bất an
4.
Gợi ư cầu nguyện Ngôi Lời Thực Hiện
Sứ Mạng
1.
Con người trong t́nh trạng tội
2.
Thiên Chúa quyết định cứu độ con
người
53.
Giáng Sinh và Dâng Chúa Giêsu (Lc 2:1-40)
1.
Ngôi Lời Nhập Thể được giáng sinh
2.
Thiên Chúa tỏ ḿnh cho những người nghèo
6.Đức
Giêsu sống thời thơ ấu tại Nadarét
54.
Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41tt)
2.
Đức Giêsu sống một thời gian dài tại Nadarét
62.
Thanh Tẩy Và Bị Cám Dỗ (Mt 3:13- 4:11)
3.
Bản chất con người không hàm chứa “phạm
tội”
1.
Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó
2.
Phúc cho các ngươi khi người ta sỉ nhục các ngươi
a.
Nhận thức, chọn và được chọn
b.
Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh
2.
Những bản văn Kinh Thánh có thể dùng cầu
nguyện
a.
Lựa chọn theo thánh Inhaxiô
b.
Điều kiện để làm việc lựa chọn
tốt
i.
Nhận thức đúng đắn về mục đích
đời người
d.
Dấu chỉ việc lựa chọn được làm
đúng
b.
Thái độ của tôi đối với nghèo và sỉ
nhục
c.
Dứt khoát với quyến luyến lệch lạc
d.
Mức độ t́nh yêu của tôi đối với Thiên
Chúa
71.
Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31)
1.
Có ǵ đem bán mà cho kẻ khó
2.
Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao
3.
Này chúng tôi đă bỏ tất cả mà theo Thầy
1.
Đâu là mười ngàn dollars của tôi?
2.
Tôi thuộc mẫu người thứ mấy?
73.
Đức Giêsu luôn thực hiện Ư Cha
1.
Này con xin đến, để thực thi Ư Chúa
2.
Của ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta
3.
Xin đừng theo Ư Con, nhưng Ư Cha
74.
Ba mức độ yêu thương (LT 165-167)
2.Có
muốn đồng h́nh đồng dạng với Ngài không
1.
Chúa có gọi tôi sống đời dâng hiến không
2.
Dấu chỉ khách quan cho thấy Chúa gọi tôi
2.
Bản văn Kinh Thánh được dùng
3.
Gợi ư cầu nguyện về đường t́nh yêu
83.
Yêu thương là phục vụ và dâng hiến
1.
Đức Giêsu yêu các tông đồ vô cùng
2.
Đức Giêsu rửa chân cho các tông đồ
3.
Này là Ḿnh Ta, sẽ bị nộp v́ các con
1.
Xin cho giờ này qua đi khỏi Con
2.
Anh dùng cái hôn để nộp con người sao
1.Tất
cả đều lên án Ngài đáng chết
2.Ta
không thấy lư do để kết tội ông ấy
2.Đức
Maria đứng dưới chân thập giá
3.Chúa
Cha thinh lặng nh́n Con của Ngài
2.
Bản văn Kinh Thánh được dùng
3.
Gợi ư cầu nguyện về Chúa Phục Sinh
94.
Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ và cho chị Maria Magdala
1.Chúa
Giêsu Phục Sinh hiện ra cho đức Maria
2.Chúa
Giêsu Phục Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala (Ga 20:1-18)
101.
Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ
1.
Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười tông đồ (Ga
20:19-24)
2.
Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười một tông
đồ (Ga 20:25-29)
3.
Tôi có thực sự tin Chúa đă phục sinh không
102.
Chúa Phục Sinh được siêu tôn
1.
Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:1-11)
2.
Chúa Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa
3.
Hệ qủa thực tại "đức Giêsu Phục
Sinh là Thiên Chúa"
103.
Thánh Thần tỏ hiện quyền năng
1.
Thánh Thần tỏ hiện quyền năng (Cv 2:1-17.32tt)
3.
Thánh Thần luôn hoạt động trong Hội Thánh
H.
CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU
2.
Xin Chúa làm cho con yêu Chúa
104.
Chiêm niệm để được t́nh yêu
ĐỂ
DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO
1.
Luôn sống đời sống thường ngày với ư
thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh
|
|
|
|
|
ĐHTL |
|
đồng hành thiêng liêng |
|
GL |
|
Giáo
Luật của Giáo Hội Công Giáo Latin, ban hành năm 1983 |
|
LH |
|
Linh hướng |
|
LT |
|
sách Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola |
|
PĐTL |
|
phân định thiêng liêng |
|
|
|
|
Sách Kinh Thánh viết tắt theo bản dịch Các
Giờ Kinh Phụng Vụ.
Các hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn
của Công Đồng Vaticanô II viết tắt theo bản
tiếng Latin.
Trích đoạn Kinh Thánh từ bản dịch
của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc từ
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
[HVVT1]Đă là
người, ai lại không khao khát hạnh phúc? Con
người mong ước sống hạnh phúc ngay
giây phút hiện tại; và hơn nữa, người ta c̣n
mơ ước làm sao sống hạnh phúc trọn
đời và vĩnh viễn nữa! Ao ước sống
hạnh phúc như thể thuộc bản chất con
người.
Giầu sang, danh vọng, chức quyền,
cũng không mang lại cho con người hạnh phúc
đích thực! Có biết bao người “lắm
tiền nhiều bạc” đau khổ; có không ít
người “danh tiếng” khổ đau; và có nhiều
người “có chức có quyền” vẫn không hạnh phúc!
Kinh nghiệm sống cho thấy, có bao
người lầm tưởng rằng tiền bạc
sẽ mang lại hạnh phúc. Họ chủ trương:
“có tiền mua tiên cũng được..., đồng
tiền là Tiên là Phật...;” và họ đă miệt mài
đi t́m và thu tích của cải; nhưng rồi họ
thất vọng chán nản v́ họ thấy họ đă
sai lầm!
Nhiều người đi t́m công danh tăm
tiếng, nhưng có những người từng trải
đă kinh nghiệm: “cái ṿng danh lợi cong cong, kẻ ḥng ra
khỏi người mong được vào!”
Đói làm người ta khổ, đau cũng làm
con người khổ, và sầu cũng làm người ta
khổ...! Chính quyền cũng như những người
thiện chí, luôn bận tâm t́m công ăn viêc làm cho bao
người, để con người có một cuộc
sống sung túc hơn. Có bao người đang nỗ
lực giúp con người vượt qua nỗi đau
nỗi sầu của ḿnh, để con người
bớt khổ hơn. Nhưng kinh nghiệm cho thấy: sự
sung túc về vật chất cũng như những nỗ
lực bên ngoài không đủ làm cho con người
được thư thái, b́nh an, hạnh phúc.
Con người chỉ được hạnh
phúc đích thực khi sống đúng tương quan
của ḿnh với Thiên Chúa, với anh em đồng
loại, và với tạo vật. Con người sống
hạnh phúc đích thực khi con người chấp
nhận sống như Thiên Chúa muốn, khi con người
sử dụng tạo vật như Thiên Chúa muốn, khi con
người yêu thương anh em đồng loại và
Thiên Chúa như chính Thiên Chúa muốn, khi con người
sống yêu thương như Thiên Chúa là Đấng luôn yêu
thương.
Thiên Chúa yêu thương con người, và măi măi
yêu thương con người. Ngài muốn con
người sống hạnh phúc với Ngài, không chỉ
ở đời sau mà ngay cả ở đời này
nữa. Thiên Chúa luôn luôn hành động trong ḍng
lịch sử và nơi tâm hồn mỗi người,
để đưa con người trở về với Ngài,
để làm con người thuộc về Ngài, để
con người được hạnh phúc đích thực.
Linh Thao là một phương tiện, là một
môi trường mà Thiên Chúa dùng, để làm con
người thuộc về Ngài, để làm con
người sống hạnh phúc.
Nhằm giới thiệu Linh Thao và để làm
Linh Thao dễ dàng hơn mà tập sách này được
h́nh thành. Nó gồm ba phần:
· phần thứ nhất bàn về
những điều cần biết để làm Linh Thao,
· phần thứ hai bàn về nhân học
thiêng liêng,
· phần thứ ba về Linh Thao như
phương thế giúp người ta tự do hạnh phúc.
Linh Thao là ǵ? Đâu là điều kiện cần
thiết để làm Linh Thao? Trong Linh Thao, cụ thể
người ta phải làm ǵ? Đó là những mục
sẽ được đề cập đến trong
phần một này.
Linh Thao là ǵ? Đóù là cuộc tĩnh tâm hay
cấm pḥng theo phương pháp của thánh Inhaxiô Loyola Ḍng
Tên[1].
Nhưng, cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng này có ǵ khác so
với những cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng khác?
Tôi đă nghe một nữ tu đă đi linh thao
trả lời với một bạn cùng một Ḍng, khi
nữ tu này muốn biết về Linh Thao: “Linh Thao là
cuộc tĩnh tâm trong đó người ta không nói
chuyện, và có nhiều giờ cầu nguyện hơn
những cuộc tĩnh tâm “b́nh thường” khác.”
Một nữ tu nói với tôi: “Chúng con không
hiểu tại sao các tu sĩ Ḍng Tên không chịu giúp Linh
Thao cho một số đông khoảng ba bốn chục
người trong một khóa? Chúng con thấy Linh Thao rất
tốt, chúng con muốn cho nhiều chị em
được tham dự, nhưng v́ bị giới hạn
số người nên có ít chị em được tham
dự; Thật ḷng, chúng con sẵn sàng theo mọi kỷ
luật của Linh Thao: chúng con sẽ cầu nguyện
đủ bốn hoặc năm lần mỗi ngày, và
sẽ cầu nguyện mỗi lần đủ một
giờ, chúng con cũng sẽ giữ im lặng suốt ngày
trọn khóa Linh Thao...; xin quư cha quư thầy mở rộng
cho một số đông người được dự
trong một khóa Linh Thao!”
Theo ư riêng của tôi, không thể thỏa măn
lời đề nghị trên! Tại sao?
Có lần đi xuống miền tây giúp Linh Thao cho
một Ḍng nọ, gặp một người phát biểu:
“Tại sao lại phải vất vả mời một tu
sĩ ở xa như vậy tới giúp Linh Thao? Ai giảng
mà chẳng được? Hoặc một linh mục nào
đó, và thậm chí ngay cả một d́ cũng giảng
được mà!”
Đúng là một d́ phước cũng có thể
giảng, và giảng hay nữa chứ; và một linh
mục nào đó cũng có thể giúp tĩnh tâm, và giúp
tĩnh tâm tốt; nhưng như vậy, chưa có nghĩa
là người đó có thể giúp LinhThao! Tại sao vậy?
Không phải hễ ai có thể giảng hoặc
giảng hay, đều là người “giúp Linh Thao”
được! Bởi v́, nếu Linh Thao chỉ là
giảng, th́ người ta có thể thu băng những bài
giảng “hay,” và cho những người muốn làm Linh Thao
nghe lại; hoặc người ta có thể chuẩn
bị và cho đánh máy lại những bài giảng hay,
rồi phổ biến cho những người muốn làm
Linh Thao. Và nếu hiểu Linh Thao như vậy, th́ một
người có thể giúp một khóa Linh Thao mà không phải
giới hạn số người!
“Giúp Linh Thao,” không phải chỉ là cho
điểm gợi ư giúp cầu nguyện (LT 2), nhưng
c̣n là gặp gỡ giữa thao viên và người
đồng hành (LT 17.22), nhằm giúp người tập
Linh Thao đạt được kết qủa mong
ước. Thế nên, để có thể giúp Linh Thao,
người đó phải có khả năng “giúp đỡ
các linh hồn;” nghĩa là, người đó phải có kinh
nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa (để hy
vọng có thể giúp người khác gặp gỡ Thiên
Chúa), người đó phải có kinh nghiệm hoặc
được học biết rằng Thiên Chúa luôn
luôn tự do dẫn đưa con người đến
với Ngài theo con đường của Ngài (để
người đó không dập tắt Thần Khí), và
người đó cũng phải có kinh nghiệm
thiêng liêng nhận biết tác động của các thần
khác nhau (để giúp người ta nhận ra Ư
Chúa).
Để giúp Linh Thao, người đó
phải có phán đoán đúng đắn. Nếu phán
đoán sai lầm, th́ không những không giúp mà c̣n làm hại
người được giúp nữa. Giúp Linh Thao là
một nghệ thuật, và là một nghệ thuật
tuyệt vời! Không phải ai cũng có thể làm
được điều này.
Gặp gỡ trao đổi để giúp
đỡ, là một yếu tố quan trọng và không
thể thiếu trong Linh Thao.[2] Và như
vậy, học biết “giúp đỡ các linh hồn” qua
Linh Thao, không là chuyện dễ dàng, và điều này không
thể học biết trong thời gian “một sáng một
chiều.” Không thể tách Linh Thao khỏi
“hướng dẫn thiêng liêng:” Ai không biết
“hướng dẫn thiêng liêng” th́ không thể giúp Linh Thao.[3]
Linh Thao là ǵ? Thánh Inhaxiô trả lời: “Hai
tiếng Linh Thao ở đây được hiểu là
mọi cách xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm, cầu
nguyện bằng miệng lưỡi hay bằng tâm trí, và
các việc thiêng liêng khác như sẽ nói sau. V́ như đi
dạo, đi bộ, chạy, là thể thao, th́ cũng
thế, được gọi là Linh Thao tất cả
những cách dọn và chuẩn bị linh hồn để
xa bỏ những quyến luyến lệch lạc, và sau
khi đă xa bỏ các quyến luyến lệch lạc th́
t́m và t́m thấy Ư Chúa trong cách sắp đặt cuộc
đời nhằm cứu rỗi linh hồn ḿnh” (LT 1).
Theo thánh Inhaxiô, ở một nghĩa rất
rộng, tất cả các hành vi hoạt động
thiêng liêng đều được gọi là Linh
Thao.
Với một nghĩa hẹp hơn, Linh Thao là
những hành vi hoạt động thiêng liêng có mục
đích “xa bỏ quyến luyến lệch lạc...và t́m
kiếm Thánh Ư Chúa.”
Với nghĩa hẹp hơn nữa, Linh
Thao là những bài cầu nguyện theo một tiến tŕnh: “Những
Linh Thao sau đây gồm có bốn tuần, tương
ứng với bốn phần được phân chia
như sau: tuần thứ nhất suy xét và chiêm niệm
về các tội lỗi, tuần thứ hai về cuộc
đời đức Kitô Chúa chúng ta cho đến hết
ngày lễ lá, tuần thứ ba về cuộc thương
khó của đức Kitô Chúa chúng ta, tuần thứ tư
về sự sống lại và lên trời, thêm bản
chỉ dẫn ba cách cầu nguyện... tuy nhiên sẽ
kết thúc trong khoảng hơn kém ba mươi ngày” (LT 4).
Gút lại, Linh Thao không chỉ là những hành vi
hoạt động thiêng liêng bất kỳ nào đó, mà c̣n
là những hành vi hoạt động thiêng liêng có một
tiến tŕnh và nhắm mục đích rơ ràng.
Linh Thao không là một khóa thần học nhằm
cung cấp những kiến thức mới lạ về
Thiên Chúa, nhưng là một thời gian đặc
biệt để sống với Thiên Chúa.
Nơi Linh Thao, con người ước
muốn, khao khát gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa,
và một khi được gặp gỡ và cảm
nghiệm Thiên Chúa, th́ được Ngài biến
đổi.
Linh Thao là hành tŕnh t́m kiếm Thiên Chúa, và chính Thiên
Chúa làm cho con người được gặp gỡ Ngài,
và cũng chính Thiên Chúa làm cho con người cảm
nghiệm t́nh yêu của Ngài đối với con
người, cũng chính Thiên Chúa biến đổi cung
cách suy nghĩ, con tim t́nh cảm, ước muốn khát
vọng của con người, làm con người trở
nên giống Thiên Chúa, giống đức Kitô mỗi ngày
một hơn.
Trong kinh nghiệm sống, ai trong chúng ta cũng có
kinh nghiệm “tri hành bất nhất,” ước muốn
một điều nhưng dường như không thực
hiện được! Linh Thao không chỉ giúp con
người nhận ra chân lư, nhận ra Ư Chúa, nhưng c̣n là
phương tiện Thiên Chúa dùng để giúp con
người thực hiện Ư Chúa. Nói bằng ngôn từ
của thánh Inhaxiô: “Linh Thao để thắng ḿnh và
tổ chức cuộc đời cho có trật tự mà
không quyết định theo một t́nh cảm lệch
lạc nào” (LT 21).
Trước năm 1521 (khi ngài khoảng 30
tuổi), Inhaxiô đă sống khá phóng túng. Với biến
cố bị thương ở Pampeluna và thời gian sau
đó, đặc biệt thời gian tại Manresa, Inhaxiô
đă có kinh nghiệm với Thiên Chúa và được Ngài
biến đổi. Kể từ thời điểm
đó, Inhaxiô say mê giúp đỡ các linh hồn bằng chính
kinh nghiệm mà Ngài đă được Thiên Chúa dạy
dỗ, và kinh nghiệm này được gọi là Linh Thao.
Tập sách nhỏ mang tựa đề “LINH THAO”
được in lần đầu tại Roma năm 1548,
và với phép của đức giáo hoàng Phao-lô III, nhằm
tránh mọi dị nghị và chỉ trích. Sở dĩ thánh
Inhaxiô làm như vậy, là để phụng sự Thiên
Chúa và giúp đỡ các linh hồn hữu hiệu hơn;
bởi v́ kinh nghiệm cho thấy thánh Inhaxiô đă bị
ngăn cản và phiền hà nhiều trong việc giúp
đỡ các linh hồn bằng Linh Thao: Ngài đă từng
bị hỏi cung, bị cầm tù, bị cấm giảng
dạy chuyện thiêng liêng và giúp đỡ các linh hồn!
Kinh nghiệm phân định các thần, ḷng hoán
cải thật sự, ao ước khao khát bắt
đầu một đời sống phụng sự Thiên
Chúa bằng việc giúp đỡ các linh hồn, t́nh yêu
đặc biệt đối với đức Giêsu
đến độ ao ước khao khát được
trở nên giống Ngài trong khó nghèo khổ nhục, là
những kinh nghiệm đặc biệt của Inhaxiô và là
đặc sủng Linh Thao.
Chúng ta đă t́m hiểu Linh Thao là ǵ, bây giờ
trong những đoạn tiếp sau, chúng ta sẽ t́m
hiểu đâu là những điều kiện cần
để có thể làm một cuộc Linh Thao tốt.
Có phải tất cả mọi người
đều có thể làm Linh Thao được không?
Tôi có
biết một vài vị có trách nhiệm huấn luyện
trong một Ḍng nọ, sau khi làm Linh Thao có kết qủa
tốt, các vị đó muốn cho tất cả những
thành viên trong Ḍng đi Linh Thao, nhưng kết qủa không
khả quan lắm! Tại sao vậy?
Có
người sau khi đi dự một khóa Linh Thao, liền
nghĩ ngay rằng họ đă biết “đủ” về
Linh Thao, và thấy rằng Linh Thao cũng “thường”
thôi! Một người khác không muốn đi Linh Thao th́
lập luận: “Đi Linh Thao cũng đâu có ích ǵ! Cứ
nh́n bạn X th́ biết!.” Một người có trách
nhiệm trong một Ḍng bận tâm: “Khi tĩnh tâm hoặc
khi Linh Thao th́ sốt sắng, nhưng sau một thời
gian trở về cuộc sống thường ngày th́
lại sống như b́nh thường. Làm sao để các
tu sĩ được biến đổi thực
sự?.” Trả lời sao đây?
Không
phải ai cũng làm Linh Thao được. Có những
người chỉ có thể làm được tuần
thứ nhất của Linh Thao: “Phải đề ra cho
mỗi người việc ǵ có thể giúp họ và làm ích
cho họ hơn, tùy theo mức độ họ
sẵn sàng đón nhận. Bởi vậy đối
với một người muốn cố gắng học
hỏi và thỏa măn linh hồn tới một
mức độ nào đó, th́ có thể đề
nghị cho họ việc xét ḿnh.... không nên dẫn
đưa họ vào việc chọn bậc sống và
những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ tuần
thứ nhất” (LT 18).
Những
người chỉ ao ước tiến bộ tới
một mức độ nào đó, không thể làm trọn
vẹn Linh Thao được! Đúng ra phải nói:
không nên cho những người như vậy làm Linh Thao, v́
không chắêc thu lượm được nhiều
kết qủa như ḿnh mong ước, và nhất là khi
không có nhiều giờ để giúp họ; và nếu là
cuộc Linh Thao cho một nhóm người, th́ những
người “không có thái độ nội tâm tương
ứng” này có thể phá hủy bầu khí thiêng liêng, và làm
ảnh hưởng gây kết qủa xấu cho khóa Linh Thao.
Để
có thể làm trọn vẹn Linh Thao, cần phải có thái
độ nội tâm cần thiết: ḷng khao khát thuộc
trọn về Chúa, ao ước nên trọn lành, ước
mong nên thánh.
Ḷng
quảng đại là thái độ duy nhất cần
thiết để chuẩn bị và làm Linh Thao.
Thánh
Inhaxiô nói: “Người luyện tập Linh Thao sẽ
được nhiều ích lợi nếu bước vào
với ḷng quảng đại và hào hiệp với
Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cho Ngài cả
ư muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để
mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi
sự ḿnh có theo Thánh Ư Ngài” (LT 5).
Quảng
đại, theo ngôn từ của thánh Inhaxiô, là thái
độ sẵn sàng để Chúa làm bất cứ
điều ǵ Ngài muốn về ḿnh; Ḿnh sẵn sàng
mở ḷng ra trước tác động của Thánh
Thần, để tùy Chúa lôi kéo ḿnh, và ḿnh sẵn sàng
đáp trả mọi đ̣i hỏi của thánh ư Chúa. Quảng
đại, hàm chứa tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho
Thiên Chúa để Ngài định đoạt về
đời ḿnh, để Ngài làm cho ḿnh những ǵ Ngài
muốn; và chắc chắn đó là điều tốt
nhất đối với ḿnh.
Khao
khát nên thánh, ḷng quảng đại sẵn sàng thực hành
tất cả những ǵ Chúa muốn về ḿnh, là yếu
tố cần thiết để làm Linh Thao.
Một
người làm Linh Thao mà không thấy sống tốt
hơn, nên xem người đó có đạt
được kết qủa của Linh Thao không?
· Người đó có ḷng khao khát nên thánh
và quảng đại với Chúa không ?
· Người đó có đạt yêu
cầu của từng giai đoạn Linh Thao không? Một
người có thể đă trải qua bẩy ngày,hoặc
tám ngày, hoặc mười ngày Linh Thao, nhưng nếu
người đó thực sự chưa đạt
được kết qủa của từng bước
của Linh Thao, người đó chưa có kinh nghiệm
Linh Thao thực sự! Linh Thao được chia làm
bốn tuần, và mỗi tuần đều có yêu cầu
cần phải đạt. Nếu không đạt
được yêu cầu này, không nên qua tuần khác. Chính v́
vậy, Linh Thao thuở ban đầu theo thánh Inhaxiô
được giúp riêng cho từng người một, v́
tùy theo nhu cầu và sự tiến bộ của mỗi
người mà vị hướng dẫn cho những bài
Linh Thao thích hợp (LT 17).
· Linh Thao chỉ là khởi đầu
của một đời sống “quảng đại"
với Chúa hơn. Nếu con người không cố
gắng liên tục trong đời sống mỗi ngày, th́
con người có thể lạm dụng tự do Thiên Chúa
ban để phản bội Ngài. Để nên thánh trong
cuộc sống thường ngày, chúng ta phải cố
gắng liên tục, phải liên tục vượt qua chính
ḿnh, phải cầu xin Chúa làm cho ḿnh yêu Chúa, và cụ
thể là quảng đại với Chúa liên tục trong
cuộc sống thường ngày hơn.
Cụ
thể, trong Linh Thao, người ta phải làm ǵ? Và ḷng
quảng đại phải được thực
hiện như thế nào?
Mục đích của Linh Thao là gặp gỡ
Thiên Chúa, sống thân thiết và hạnh phúc với Thiên
Chúa, để Thiên Chúa biến đổi và làm ḿnh
thuộc trọn về Thiên Chúa.
Trong cầu nguyện, con người ư thức
ḿnh hiện diện trước nhan thánh Chúa, lắng nghe
Chúa nói trong tâm trí, tâm sự thân thưa với Chúa. Chúa nói
với ḿnh về chính ḿnh và về Chúa, đểø ḿnh
biết ḿnh hơn và biết Chúa hơn, biết ḿnh là con
người “tội lỗi” nhưng vẫn
được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.
Trong Linh Thao, lắng nghe Chúa nói, để Lời
Chúa tra vấn soi chiếu tận tâm khảm thâm sâu ḷng ḿnh,
và sẵn sàng vâng phục Thánh Thần để thay
đổi chính ḿnh, là điều quan trọng nhất.
Để cầu nguyện dễ dàng hơn và
đạt được mục đích hơn,
người làm Linh Thao phải dành thời gian để
chuẩn bị nội dung cho việc cầu nguyện.
Nếu là cuộc Linh Thao có hướng dẫn, th́
đề tài cầu nguyện thường được
người hướng dẫn gợi ư (LT 2), c̣n nếu
là cuộc Linh Thao “không có người hướng dẫn”
th́ người làm Linh Thao sẽ tự ḿnh làm công việc
này.
Sau khi cầu nguyện, người làm Linh Thao
sẽ dùng khoảng 15 phút để lượng giá hay
kiểm điểm xem giờ cầu nguyện vừa qua
có kết qủa như thế nào, có đạt được
kết qủa như ḿnh mong ước không? Nếu
cầu nguyện tốt, th́ tạ ơn Chúa; c̣n nếu
không tốt lắm, th́ xem đâu là nguyên do, và cố gắng
sửa chữa để giờ cầu nguyện tiếp
theo được tốt hơn. Việc xét gẫm
rất quan trọng, người làm Linh Thao phải làm
thật nghiêm túc nếu không sẽ không đạt nhiều
kết quả (LT 77).
Xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng
đối với thánh Inhaxiô. Ngài đề
nghị xét ḿnh một ngày hai lần, và trong hai lần xét
ḿnh “chung” này, sẽ xem xét “cách riêng” ḷng quảng đại
của ḿnh với Thiên Chúa (LT 32tt.24.90).
Quảng đại, chính là t́nh yêu của ḿnh
đối với Thiên Chúa. Ḷng quảng đại
được biểu lộ một cách cụ thể
trong chính cuộc sống, trong từng hành vi cụ thể
của chúng ta, và trong trọn cả ngày sống.
Linh Thao là thời gian đặc biệt mà
người làm Linh Thao muốn dành trọn vẹn cho Thiên
Chúa. Thế nên, người làm Linh Thao sẽ cầm
giữ ngũ quan để không bị những tác
động bên ngoài chi phối: giữ con mắt, lỗ
tai, miệng lưỡi. Để nếu cần, nghe
như không nghe, nh́n nhưng như không nh́n, không nói khi không
thực sự cần phải nói.
Người làm Linh Thao gạt bỏ mọi
bận tâm thường ngày cũng như những ǵ không
phải suy nghĩ, để dành tất cả thời gian
và con người ḿnh cho Thiên Chúa trong những ngày này.
Người làm Linh Thao gạt bỏ những
tư tưởng "chia trí" và “không hợp” không
chỉ trong giờ cầu nguyện, mà c̣n cả trong
suốt ngày sống nữa. Tuy vậy, trong lúc xét gẫm và
xét ḿnh, người làm Linh Thao phải t́m hiểu nguyên do
tại sao ḿnh lại hay bị chia trí và thường
bị bận tâm về những điều đó,
để có thể nhận biết về ḿnh hơn.
Trong thời gian Linh Thao, người tĩnh tâm
luôn sống dưới con mắt Chúa, luôn ư thức Chúa
đang hiện diện với ḿnh và đang yêu
thương ḿnh, và luôn sống trong tâm t́nh của mầu
nhiệm ḿnh đang cầu nguyện suốt cả ngày.
Để có thể tiến bộ hơn về
đời sống thiêng liêng, và đặc biệt nếu
để giúp người khác về đời sống
thiêng liêng, chúng ta cần hiểu biết về con
người một cách sâu xa.
V́ thế, chúng ta sẽ lần lượt t́m
hiểu về:
khuynh chiều và khả năng siêu vượt của con
người,
con người xét như tinh thần nhập thể,
con đường để nên thánh.
Đức Giêsu nói với Phêrô: “Hăy tỉnh
thức và cầu nguyện kẻo sa cơn thử thách, tâm
thần tuy sẵn sàng nhưng xác thịt th́ yếu
nhược” (Mc 14:38). Thánh Phaolô cũng nói: “Sự lành tôi
muốn, tôi không làm; c̣n sự dữ tôi không muốn tôi
lại làm” (Rm 7:19).
Con người là thân xác và tinh thần. Con
người có khuynh chiều của thân xác và khuynh chiều
của tinh thần. Có thể nói khi nào c̣n là người
tại thế với thân xác, chúng ta c̣n có những khuynh
chiều của thân xác mà chúng ta cần vượt qua trong
mức độ nó có trái với ơn gọi con
người hay không.
Sinh vật, và cụ thể những con vật mà
chúng ta thường thấy, sống theo bản năng.
Đói cần phải ăn! Con vật không thể không
ăn nếu có đồ ăn trước mắt, khi nó
đói. Bản năng sinh tồn: “đừng đánh chó
ở đường cùng,” hăy cho nó một lối thoát, v́
nếu không, nó sẽ cắn. Bản năng truyền
giống: con vật không thể cưỡng lại
được khuynh chiều tự nhiên: khi tới
thời kỳ, nó phải thỏa măn đ̣i hỏi
để truyền sinh.
V́ con người có thân xác, nên con người
cũng cảm thấy những khuynh chiều "tự
nhiên" nơi chính con người ḿnh như những sinh
vật hạ đẳng khác; nhưng phải lưu ư ngay
kẻo hiểu lầm: con người không chỉ có thân
xác, nhưng con người c̣n có khả năng vượt
trên khuynh chiều "tự nhiên" của xác thịt
nữa.
Nơi con người vẫn có những khuynh
chiều thuộc thân xác như các sinh vật hạ
đẳng khác, tuy dù những khuynh chiều này
được biểu lộ tinh tế hơn.
Con người vẫn cảm thấy nơi ḿnh
khuynh hướng ham mê ăn uống, ham mê t́m kiếm
tiền tài sắc dục, ham mê công danh địa vị;
và thực tế, có những người v́ ham mê một ít
tiền bạc, đă dám giết người cướp
của; có người đă sắp xếp mưu
đồ hạ bệ người khác, nhằm chiếm
đoạt địa vị danh vọng, v.v.
Trí tưởng tượng là một khả
năng của con người, được coi là thành
phần của thân xác, nhưng nó không hoàn toàn tùy thuộc ư
muốn con người chúng ta.
Những h́nh ảnh mà giác quan đă cảm
thụ, được trí nhớ lưu giữ lại;
rồi với khả năng liên tưởng của lư trí,
những h́nh ảnh được tŕnh bày trong tâm trí theo
những khuynh chiều của con người chúng ta, không
chỉ theo những khuynh chiều của thân xác mà c̣n theo
cả những khuynh chiều của tinh thần nữa.
Khuynh chiều của thân xác đôi khi
được diễn tả qua trí tưởng
tượng phong phú đến mức độ chúng ta
không ngờ đến!
Trí tưởng tượng thuộc con
người, nhưng không hoàn toàn "là" chúng ta.
Những h́nh ảnh của trí tưởng tượng
gợi lên, có thể "cám dỗ" chúng ta, tuy vậy
con người là một chủ vị tự do, con
người có thể thuận theo hay từ khước
những điều đó.
Con người c̣n có lư trí, có khả năng
trừu xuất, nhận ra định luật tổng quát
nơi những cái đặc thù, nhận ra những
định luật chi phối thế giới tự nhiên.
Các khoa học tự nhiên đặt nền tảng dựa
vào lư trí “tự nhiên” này.
Ở mức độ lư trí ‘luận lư’ này, con
người thông minh hơn con vật, nhưng điều
này cũng không làm cho “con người là người”
đúng nghĩa. Con người với lư trí, c̣n có một
khả năng khác đặc biệt và trổi
vượt trên con vật, mà con vật không thể có
được, chính điều đó làm cho con
người trở nên người, nên tinh thần, nên
thánh. Đó là khả năng "siêu vượt"
của con người với lư trí "tự do.”
Thật ra không phải có hai lư trí, một
“tự nhiên” và một “không tự nhiên,” nhưng phân
biệt như vậy, là để thấy rơ khả
năng của lư trí con người thôi. Khả năng lư
trí “không tự nhiên,” tức siêu vượt, sẽ
được đề cập đến sau.
Con người có tự do, tùy ḿnh chọn
điều này hay điều kia theo sở thích. Ăn hay
không ăn, ngủ hay không ngủ, tùy ḿnh thích hay không
thích, tự do[4] ḿnh
muốn.
Nếu chỉ dừng ở b́nh diện trên, không
đặt tiêu chuẩn tốt xấu, th́ ư muốn
tự do ở đây chỉ được hiểu
là khả năng chọn lựa của con người.
Nhưng con người c̣n có khả năng đặc
trưng: lựa chọn theo tiêu chuẩn thiện ác,
tốt xấu. Con người xét như một hữu
thể nhân linh, sẽ lựa chọn điều này hay
điều kia dựa vào tiêu chuẩn "điều
đó có tốt đối với tôi hay không.”
Cái làm cho con người trổi vượt và
hoàn toàn khác với con vật, đó là khả năng siêu
vượt của con người.
Con người là một chủ vị có khả
năng siêu vượt, và khả năng siêu vượt này
bao hàm con người có lư trí và ư chí tự do.
Thường xưa nay người ta vẫn cho
rằng “không có vấn đề lư trí tự do hay không
tự do.” Điều ǵ đúng là đúng, điều ǵ sai
là sai, lư trí không thể phán đoán một điều
đúng là sai hoặc điều sai là đúng
được. Giác quan có thể sai lầm như khi con
người bị ảo giác (trường hợp
người đi trong sa mạc dễ mắc phải:
mắt thấy có nước nhưng khi tới gần
mới biết ḿnh lầm), nhưng lư trí luôn luôn phán
đoán đúng và không bị ảnh hưởng bởi
bất cứ cái ǵ! 2+2=4 là một thí dụ điển h́nh.
Lư trí thường phán đoán đúng trong
trường hợp “điều đó” không liên hệ
tới chủ thể phán đoán, nhưng nếu
“điều đó” có liên quan mật thiết đến
chủ thể, th́ lư trí vẫn có thể bị ảnh
hưởng hoặc bị chi phối bởi ư muốn
của chủ thể. Trường hợp này lư trí là công
cụ của chủ thể, t́m những lư lẽ để
biện minh cho ư muốn của chủ thể. Chẳng
hạn một người muốn chạy tội, không dám
nhận sự thật về con người của ḿnh,
t́m cách đổ tội cho người khác hoặc
đưa ra những lư do “ngụy biện” cho hành vi
của ḿnh. Trường hợp này bên giáo lư nhà Phật cho
rằng ḷng dục đă làm con người “vô minh.”
Đứng trước lời “vô ngôn” của
vũ trụ:
“Đây không phải lời cũng không phải tiếng,
để mà con người có thể cho rằng âm thanh
chúng không thể lọt tai; nhưng thực sự tiếng
chúng (dù không nghe được) đă vang đến
tận cùng trái đất, và lời chúng (dù không thành
tiếng) truyền ra khắp cơi địa cầu” (Tv 19
[18]:4-5), con người với lư trí của ḿnh,
đúng ra đă phải nhận biết Thiên Chúa là
Đấng sáng tạo vũ trụ này. Nếu ai đó
đă không nhận biết Thiên Chúa hiện hữu khi nh́n
vũ trụ hữu h́nh tuyệt đẹp này, th́ e rằng
họ chưa tự do thực, và lư trí của họ
chưa vượt lên trên tạo vật, vẫn c̣n
dừng lại ở b́nh diện sự vật và chưa
trở thành tinh thần đúng nghĩa.
Con người và lư trí chỉ thực sự
“tự do,” khi vượt qua thực tại vật
chất khả giác để vươn tới thực
tại siêu vượt là Thiên Chúa vô h́nh.
Con người có lương tâm. Đó cũng là
nét đặc trưng của con người. Lương
tâm là tiếng Thiên Chúa nói nơi cung ḷng con người, là
lư trí “tự do,” là lư trí vượt qua tạo
vật để vươn tới Thiên Chúa.
Thiên Chúa dùng lương tâm để thức
tỉnh con người, để cảnh cáo và nhắc
nhở con người trở về với Thiên Chúa khi con
người lạc xa Thiên Chúa bằng những chọn
lựa tội lỗi.
Lương tâm b́nh an là dấu chỉ cho thấy
con người sống trong tương quan tốt với
Thiên Chúa. Tuy vậy cũng nên lưu ư trường hợp
một người đă chai ĺ và không nghe được
tiếng nói của lương tâm cách rơ ràng. Trong
trường hợp này, tuy dù lương tâm “khiển trách”
nhưng họ vẫn cho rằng “lương tâm không
hề trách cứ họ điều ǵ.”
Trong đời sống thiêng liêng, khi cảm
thấy mất b́nh an, người ta cần t́m hiểu
để thấy rơ chỗ nào sai lệch để
điều chỉnh lại đời sống của ḿnh.
Con người, và chỉ có hữu thể ngôi
vị mới biết yêu. Yêu là nét đặc trưng
của một ngôi vị.
Con vật không biết yêu, nó sống theo bản
năng. Ngay cả khi một con vật nuôi con, bảo
vệ con, th́ cũng là sống theo bản năng của
nó. Một con người cũng có thể chỉ sống
theo bản năng chứ không sống yêu thương.
Yêu là sống theo lư trí “tự do” chứ không
sống theo cảm tính; tuy vậy, yêu không loại trừ
cảm tính. Vượt lên trên, không sống theo
bản năng, nhưng sống theo lư trí “tự do,” đó
là yêu. Chính v́ vậy, không trả thù nhưng
nhường nhịn, nhường phần hơn cho
người khác, hy sinh cho người khác đến
độ quên chính bản thân ḿnh, đó là yêu.
Con người là tinh thần, nhưng con
người có thân xác. Các thiên thần cũng là tinh
thần, nhưng thiên thần không có thân xác như con
người.
Con người là tinh thần, nhưng chỉ là
tinh thần qua thân xác. Nghĩa là, nhờ thân xác và qua thân xác
mà con người là tinh thần. Nói bằng ngôn từ
của cha K. Rahner, “con người là tinh thần nhập
thể.”
Là tinh thần, nghĩa là, con người không
chỉ dừng lại ở b́nh diện “sự vật,”
nhưng con người có khả năng vượt trên
sự vật để vươn tới Tuyệt
Đối. Một điều cần lưu ư: con người
hoàn toàn tự do để siêu vượt; nghĩa là, siêu
vượt hay không siêu vượt, là TỰ DO của ḿnh.
Con người là hữu thể tự do, có
thể hành động theo sở thích. Điều này ai
trong chúng ta cũng nhận thấy trong chính kinh nghiệm
sống của ḿnh.
Tuy con người là hữu vị tự do,
nhưng ai trong chúng ta cũng biết, con người
cần ăn để sống.
Con người không thể sống nếu không
ăn! Như vậy, phải chăng con người không
có tự do? Không! Con người có tự do, nhưng con
người tự do trong giới hạn của ḿnh, con
người không có tự do tuyệt đối để
rồi “không cần ăn cũng sống!” Con người
“tự do” trong và qua hành động của ḿnh.
Con người, nếu đ̣i cho ḿnh có tự do
tuyệt đối, th́ trong hành vi "yêu sách và không
chấp nhận thân phận con người" đó, cho
thấy họ không là người “tự do đích
thực.”
“Tự do đích thực” không có nghĩa là
muốn làm ǵ th́ làm theo “ư thích xác thịt” của ḿnh.
Con người tự do đích thực khi
sống theo “ơn gọi làm người,” tức là khi con
người sống theo điều lư trí thấy là
đúng, theo điều tốt cho ḿnh và cho tha nhân, theo ư
định của Thiên Chúa về ḿnh và về con
người, theo tiêu chuẩn là ḿnh “với Thiên Chúa là
chuẩn mực.”
Con người sống theo ḿnh “với Thiên Chúa là
chuẩn mực,” là con người luôn đặt Thiên Chúa
lên trên hết, coi anh em là thực tại có giá trị
như ḿnh, trong hành động luôn tôn trọng phẩm giá
con người ḿnh và tha nhân, mong muốn cho tha nhân
được hạnh phúc như chính ḿnh.
Con người thực sự tự do khi yêu
thương chính ḿnh và tha nhân.
Ăn, uống, truyền sinh, v.v., là những hành
vi mà con vật b́nh thường nào cũng có. Con
người cũng có những hành vi và sinh hoạt như
vậy. Tuy nhiên, con người là hữu thể tự do,
không hiểu theo nghĩa là không phải ăn phải
uống, nhưng theo nghĩa: khi con người làm
những điều đó hay điều khác, con
người hành động theo mục đích và tiêu
chuẩn nào, con người t́m kiếm điều ǵ khi làm
như vậy, con người làm những điều
đó có nhằm ích lợi đích thực cho ḿnh và cho tha
nhân hay không, con người có t́m kiếm hạnh phúc
đích thực cho ḿnh và cho tha nhân không!
Con người chỉ tự do đích thực
trong hành động và bằng hành vi hoạt động
của ḿnh, nghĩa là, bằng chính đời sống
cụ thể. Qua chính hành vi hoạt động trong
đời sống thường ngày, mà một người
trở nên người tự do đích thực hay thành
người nô lệ những tham muốn ích kỷ của
ḿnh. Qua chọn lựa và hành động, con
người thành thần hay thành vật, thành thánh hay thành
quỷ.
Con người được sinh ra để
được tự do đích thực, để trở
nên thần linh qua hành vi hoạt động của
ḿnh. Thế nhưng, con người trong lịch
sử đă không sống theo ơn gọi của ḿnh,
đă không siêu vượt lên khỏi vật chất, mà
đă làm nô lệ tạo vật.
“Điều tôi muốn (tôi biết là đúng) tôi
không làm, c̣n điều tôi không muốn (tôi biết là không
đúng) tôi lại làm” (Rm 7:19).
“Con người cảm nghiệm ḿnh bất
lực không làm được điều ḿnh thấy là
đúng!” Ai có kinh nghiệm trong đời sống thiêng
liêng chắc đă nhận biết điều này. Tuy
vậy, mỗi người đều nhận biết ḿnh
vẫn tự do khi làm điều ḿnh biết
là không đúng.
Siêu vượt, sống tốt lành thánh thiện,
không thể là kết qủa do nỗ lực riêng của
con người "muốn độc lập với Thiên
Chúa.” Như vậy th́ sao? Phải chăng có mâu thuẫn khi
khẳng định con người "tự do,” nghĩa
là con người được mời gọi siêu
vượt để trở nên tự do đích thực,
để vươn lên tới Thiên Chúa, nhưng
đồng thời lại khẳng định con
người cảm thấy ḿnh bất lực trong nỗ
lực làm điều thiện hảo? Những khẳng
định trên không hề mâu thuẫn nhau!
Trong vườn địa đàng xưa, Eva
muốn trở nên thần linh một cách độc
lập với Thiên Chúa, và hậu qủa là con người
phải chết. Cái chết thể lư là biểu hiệu cái
chết tinh thần, khi con người không thông hiệp
với Nguồn Sống là chính Thiên Chúa (St 3:1tt).
Thế nhưng ngay từ thời đó, Thiên Chúa
đă chủ động đi t́m và đối thoại
với con người "từ chối t́nh yêu của
Ngài” (St 3:9tt). Sở dĩ như vậy, v́ Thiên Chúa yêu
thương con người, Ngài yêu chúng ta ngay khi chúng ta c̣n
là tội nhân (Rm 5:8). Ngài luôn yêu thương con người
và t́m mọi cách lôi kéo con người trở về với
Ngài.
Không khi nào con người có thể độc
lập tuyệt đối với Thiên Chúa, v́ nếu không
nhờ Thiên Chúa th́ con người không thể hiện
hữu được. Không chỉ thế, ngay cả khát
vọng hoàn thiện, con người cũng có nhờ Thiên
Chúa. Tóm lại, tất cả những ǵ tốt lành thánh
thiện nơi con người, cũng đều nhờ
Thiên Chúa mà có; và nếu không nhờ Thiên Chúa th́ không có ǵ
tốt lành thánh thiện nơi con người.
Thiên Chúa luôn yêu thương con người, Ngài
không ngừng mời gọi con người đến
với Ngài; Ngài mời gọi con người đáp
trả t́nh yêu bằng lôi kéo con người đến
với Ngài.
Yêu thương là siêu vượt con người
hạ đẳng tầm thường của ḿnh, không
chiều theo cảm tính và bản năng "gây
hấn" nơi ḿnh, là trở nên giống Thiên Chúa. Yêu
thương là nét tuyệt vời của con người mà
con vật không thể có được. Yêu thương là
“thành nhân,” là trở nên con người hoàn thiện, là nên
thánh.
Yêu thương là sống theo lư trí "tự do,”
là khao khát và sống theo điều lư trí "tự do"
thấy là đúng. Không sống theo lư trí tự do, là không yêu
thương Thiên Chúa và con người.
Yêu thương là hành vi tự do, hành vi nhân linh.
Cầu xin Chúa giúp để ḿnh sống yêu thương
hơn, là một hành vi siêu vượt và cũng là hành vi yêu
thương. Nói cách khác, xin cho ḿnh sống yêu thương,
là hành vi làm ḿnh trở nên tinh thần hơn.
Ở mục trên, chúng ta đă nh́n con người
thực của chính chúng ta một cách cụ thể, và
đă phần nào thấy nét cao qúy của con người.
Bây giờ, chúng ta tiếp tục t́m hiểu con
người trong ư định của Thiên Chúa, để
rồi chúng ta có thể đến với Thiên Chúa một
cách dễ dàng hơn dưới sự hướng dẫn
và trợ giúp của Ngài.
Con người là ai? Con người sẽ đi
về đâu? Đời sống con người có giá
trị và ư nghĩa nào không? Những câu hỏi trên đă
được nhiều người quan tâm thao thức
đưa ra những lư thuyết trả lời; và có
những lư thuyết đă ảnh hưởng rất sâu
đậm trên lập trường sống của
nhiều người. Có những lư thuyết sai lầm
đă làm băng hoại bao nhiêu tâm hồn, và đă làm bao người
đau khổ. Ánh sáng của mặc khải sẽ giúp chúng
ta có cái nh́n đúng đắn về con người, và Thiên
Chúa sẽ chỉ cho chúng ta con đường để chúng
ta sống hạnh phúc đích thực.
Với lư trí của ḿnh, con người đă ṃ
mẫm đi t́m lời giải đáp về chân tính
của ḿnh. Lời lư giải th́ nhiều và đa dạng,
và đôi khi cũng mâu thuẫn nhau; nhưng điều
đáng bận tâm hơn là: “những lư giải này có
đúng thực không?”
Có người cho rằng con người do
tiến hóa ngẫu nhiên mà có. Nếu con người
ngẫu nhiên mà hiện hữu, th́ con người đâu có
giá trị trường tồn! Và nếu đúng như
vậy, chết là hết! Và người ta có thể
kết luận: “con người có thể làm những ǵ
ḿnh thích, ḿnh muốn, hoặc những ǵ làm thỏa măn ḿnh.”
Một nhăn quan như vậy về con
người, kéo theo những hệ luận vô cùng tai
hại:
· không có hạnh phúc đích thực;
· nếu nói đến hạnh phúc, th́
hiểu hạnh phúc là thỏa măn nhu cầu thể lư;
nếu có nói tới nhu cầu tinh thần, th́ tinh thần
ở đây cũng chỉ là dạng khác của thân xác;
· con người không là một gía trị
trường tồn; v́ tất cả sẽ hư vô khi cái
chết đến;
· con người có thể làm tất
cả; luật pháp chỉ có gía trị giúp trị an,
để đời sống “xă hội” được
dễ dàng hơn thôi, không phản ánh bản chất con
người.
Một số người cho rằng không thể
lư giải sự hiện hữu của con người, con
người là hiện sinh “phi lư,” cuộc đời
đáng “buồn nôn.”
Những người thuộc trường phái
này không biết ḿnh từ đâu tới và ḿnh sẽ đi
về đâu, họ không thấy ư nghĩa cuộc
đời. Một nhân sinh quan như vậy sẽ dẫn
con người tới thái độ bi quan chán
chường:
· họ có thể sống buông thả theo
những khuynh chiều “thú tính” của con người;
· và tệ hơn, họ có thể tự
tử nếu họ gặp quá nhiều thất bại trên
đường đời!
“Ấy Con Tạo đành hanh quá quắt,
Chết đuối người trên cạn mà chơí!”
Tại sao lại có lắm cảnh éo le trong
cuộc đời? Phải chăng con người chỉ
là tṛ chơi của Tạo Hóa, của những thần linh
“thích vui đùa trên sự đau khổ của con
người?” Phải chăng con người đă có
một phần số rơ ràng, không ǵ có thể tránh
được?[5] Tại
sao có sự ác, phải chăng v́ Tạo Hóa muốn
vậy, bởi v́ Tạo Hóa quyền năng vô cùng mà?
Một cái nh́n sai lệch về Thiên Chúa kéo theo cái
nh́n sai lệch về con người. Và nếu chấp
nhận cái nh́n như vậy về con người và
về Thiên Chúa, th́ con người không thể sống
hạnh phúc được v́ luôn ở trong t́nh trạng lo
sợ bất an.
Thiên Chúa không phải là “ông kẹ,” cũng không
phải là “Con Tạo đành hanh quá quắt,” cũng không
phải là ông chủ độc ác, nhưng là Cha Vô Cùng Nhân
Từ và Yêu Thương.
“Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi ngựi
được cứu độ và nhận biết chân lư”
(1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc với con
người khi Ngài tạo dựng con người.
Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc
tạo dựng con người, và Ngài đă tạo dựng
con người v́ t́nh yêu và trong t́nh yêu. Không ǵ
buộc Thiên Chúa phải tạo dựng con người; và
việc Ngài tạo dựng con người không mang lại
ǵ thêm cho bản tính Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể không tạo dựng con nguời
mà Ngài vẫn hạnh phúc tṛn đầy; thế nhưng v́
yêu thương con người nên Ngài đă tạo dựng
con người, và Ngài muốn con người
được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài: “Thiên
Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16).
Thiên Chúa tạo dựng con người, v́ Ngài
muốn cho con nguời thông phần hạnh phúc vĩnh
cửu với Thiên Chúa.
Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu
của con người, không hoàn toàn nằm trong tầm tay
con người, nhưng cũng không phải là điều
mà con người không thể có được. Con
người có thể sống hạnh phúc, nhưng con
người không thể sống hạnh phúc thật
nếu con người muốn tách biệt hay độc
lập với Thiên Chúa.
Hạnh phúc vĩnh cửu, là thuộc tính của
Thiên Chúa; hạnh phúc vĩnh cửu nơi con người
chỉ có thể có, nếu con người sống hiệp
thông với Thiên Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn luôn hạnh phúc, và chỉ những ai
nên giống Thiên Chúa mới hạnh phúc thật sự mà
thôi.
“Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Ai yêu thương th́
nên giống Thiên Chúa, và ai không yêu thương th́ không
giống Thiên Chúa. Như vậy, chỉ những
người sống yêu thương mới hạnh phúc và
hạnh phúc thật sự.
Thiên Chúa tạo dựng con người “giống
h́nh ảnh Ngài” (St 1:26), Ngài tạo dựng con người
tự do, Ngài tạo dựng con người có khả
năng yêu thương để sống hạnh phúc
vĩnh cửu với Ngài. Thế nhưng con người
“tự do” đă không sống yêu thương như Thiên Chúa
muốn, con người đă lạm dụng tự do
để thù ghét và làm hại anh em ḿnh: đó là tội!
Để con người được hạnh phúc, cần Thiên
Chúa cứu độ con người, làm cho con
người sống yêu thương: yêu Chúa và yêu
người. Cứu độ con người, là làm con
người sống yêu thương, để con
người giống Thiên Chúa, để con người
được hạnh phúc.
Thiên Chúa là T́nh Yêu, Ngài là Đấng chỉ
biết yêu thương, và làm tất cả v́ yêu
thương: “Ngài tạo dựng con người để
con người sống và hạnh phúc vĩnh cửu
với Ngài.” Thực tế con người đă từ
chối t́nh yêu của Ngài, từ chối sống thông
hiệp với Ngài, và như vậy là xúc phạm Thiên Chúa,
là tội. Tuy vậy, Thiên Chúa đă không bỏ mặc con
người, Ngài tiếp tục yêu thương con
người qua hành vi làm con người trở về sống
thông hiệp với Ngài, đáp trả t́nh yêu của Ngài.
Từ đời đời Thiên Chúa đă
biết con người từ chối Ngài, phản bội
Ngài khi Ngài tạo dựng họ “tự do;” nhưng Thiên
Chúa vẫn tạo dựng con người; và Ngài có
chương tŕnh cứu độ con người khi Ngài
quyết định tạo dựng con người “tự
do.” Tự do của con người vẫn được
tôn trọng và bảo vệ.[6]
Các kitô-hữu tiên khởi đă diễn tả
chương tŕnh Thiên Chúa yêu thương và cứu
độ con người qua bài ca trong thư gởi Eâphêsô
của thánh Phaolô:
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ đức Giêsu
Kitô Chúa chúng ta.
Trong đức Kitô, từ cơi trời
Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn
ơn phúc của Thánh Thần.
Trong đức Kitô, Người đă chọn ta
trước cả khi tạo thành vũ trụ, để
trước thánh nhan Người ta trở nên tinh tuyền
thánh thiện nhờ t́nh thương của Người.
Theo ư muốn và ḷng nhân ái của Người,
Người đă tiền định cho ta làm nghĩa
tử nhờ đức Giêsu Kitô, để ta hằng
ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng
người đă ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu
dấu.
Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ
ra mà chúng ta được cứu chuộc được
thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất
phong phú của Người.
Ân sủng này Thiên Chúa đă rộng ban cho ta cùng
với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.
Người cho ta được biết Thiên Ư
nhiệm mầu: Thiên Ư này là kế hoạch yêu thương
Người đă tiền định từ trước
trong đức Kitô.
Đó là đưa thời gian tới hồi viên
măn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới
quyền một thủ lănh là đức Kitô.
Cũng trong đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng
làm nên mọi sự theo quyết định và ư muốn
của Người, đă tiền định cho chúng tôi
đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của
Người, để chúng tôi là những người
đầu tiên đặt hy vọng vào đức Kitô, chúng
tôi ngợi khen vinh quang Người.
Trong đức Kitô cả anh em nữa, anh em
đă được nghe lời chân lư là Tin Mừng cứu
độ anh em; vẫn trong đức Kitô, một khi anh em
đă tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần,
Đấng Thiên Chúa đă hứa.
Thánh Thần là bảo chứng phần gia
nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa
được cứu chuộc, để ngợi khen vinh
quang Thiên Chúa” (Ep 1:3-14).
Phạm tội là từ chối Thiên Chúa và
muốn độc lập với Ngài. Qua hành vi phạm
tội con người chọn và làm ḿnh trở thành
“qủy.” Điều này không hợp lư và “không hiểu
được,” nhưng đó lại là sự thật!
Một điều ác điều dữ, tại sao con
người vẫn làm?!
Thiên Chúa đă yêu thương con người ngay
cả khi con người là tội nhân. Đây cũng là
điều “không hiểu được!”
Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài
muốn con người hạnh phúc, Ngài muốn con ngựi
trưởng thành và triển nở về mọi
phương diện. Nhưng thực tế, bằng chính
hành vi phạm tội của ḿnh, con người đă
từ chối vươn lên và đă đồng hóa ḿnh
với con vật, và đôi khi c̣n tệ hơn cả con
vật, chẳng hạn trường hợp con nguời
lợi dụng lư trí của ḿnh nhằm diệt hẳn
một dân tộc như hành vi của Hitler đối
với dân tộc Do Thái thời đệ nhị thế
chiến. Tội là xúc phạm Thiên Chúa bằng hành vi từ
chối sống yêu thương như Thiên Chúa đă
muốn cho con người.
Tŕnh thuật “sa ngă” của sách Sáng Thế
chương 3 cho thấy: con người không tin rằng
Thiên Chúa yêu thương ḿnh, mà hơn nữa lại tin vào
ác quỷ qua h́nh ảnh con rắn, coi Thiên Chúa là
Đấng lừa dối ḿnh, cho rằng Thiên Chúa không
muốn cho con người trở thành thần linh, coi Thiên
Chúa như một vị sợ con người
được “ngang hàng” với ḿnh. Khi con người
không tin vào Thiên Chúa nữa, th́ con người không c̣n trông
cậy vào Thiên Chúa, và con người không sống trong t́nh
yêu của Ngài nữa. Tội là từ chối t́nh yêu
của Thiên Chúa.
Không ai có thể tha tội nếu không phải là
chính Thiên Chúa (Mc 2:7). Quan niệm này của người Do
Thái hoàn toàn chính xác: con người không thể đền
được tội mà ḿnh đă xúc phạm đến
Thiên Chúa. Chính v́ thế con người cần
được Thiên Chúa cứu độ.
Con người đầu tiên đă phạm
tội cách tự do, và bây giờ con người vẫn c̣n
tự do để phạm tội hay không phạm tội;
thế nhưng kể từ biến cố phạm tội
đầu tiên của con người đó, con
người cảm thấy ḿnh “như thể bất
lực” để làm điều tốt ḿnh biết là nên
làm hay phải làm.
Kinh nghiệm đời sống thiêng liêng cho
thấy: có nhiều lúc trong đời tôi không muốn
phạm tội, tôi không muốn làm “điều đó”
nữa, nhưng rồi tôi lại đă tự do làm
điều tôi đă quyết định rằng sẽ không
bao giờ làm nữa; sau khi làm điều đó rồi, tôi
lại hối hận v́ ḿnh đă làm điều đó... và
rồi lại quyết định!
Con người đă bị ảnh hưởng
bởi tội, và đặc biệt bởi tội
đầu tiên đó. Con người đă bị “yếu”
kể từ khi con người phạm tội, và con
người càng trở nên yếu khi con người càng
ch́m sâu trong tội. Có lẽ ai trong chúng ta cũng có kinh
nghiệm về điều này.
Kinh nghiệm “điều tôi muốn (tôi biết
là đúng, là nên làm) tôi không làm, nhưng tôi lại làm
điều tôi không muốn (tôi biết là không đúng và
không nên làm)” của thánh Phaolô (Rm 7:19), là kinh nghiệm
“bất lực” của con người, và đúng hơn
của mầu nhiệm tự do của con người,
của tội. Khi nói con người cảm nghiệm
sự “bất lực làm điều tốt,” người
viết hoàn toàn không có ư muốn nói “con người không c̣n
khả năng hành thiện,” hoặc “con người
mất tự do để làm điều tốt!” Con
người vẫn c̣n khả năng chọn lựa làm
điều tốt hay điều xấu tùy họ.
Ai cứu tôi khỏi t́nh trạng khốn nạn
này?
“Tạ ơn Chúa, nhờ đức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta!” (Rm 7:24-25). “Trong đức Kitô và nhờ đức
Kitô, chúng ta được cứu chuộc, được
thứ tha tội lỗi” (Ep 1:7).
Nhập thể là sáng kiến t́nh yêu tuyệt
vời của Thiên Chúa để cứu độ con
người, bởi v́ con người không thể trả
gía đền tội ḿnh, v́ con người chỉ là
tạo vật: “chỉ có Con Chiên mới xứng đáng
mở sách ấy mà thôi” (Kh 5:9)! Chỉ có Con Thiên Chúa mới
có thể trả được giá “thục hồi” cho
Thiên Chúa, và như vậy chỉ có đức Giêsu Kitô, Ngôi
Lời Nhập Thể, Con Thiên Chúa làm người, mới
có thể cứu độ được con người
mà thôi.
Con người từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa, con
người coi thường và cho rằng ḿnh không cần
Thiên Chúa. Thái độ khinh thường Thiên Chúa là thái
độ đáng tội. Làm sao để cứu
độ con người?
Làm sao để cứu độ con người?
V́ con người là hữu thể tự do, nên
Thiên Chúa không thể cứu độ được con
người nếu con người không chấp nhận.
Con người được cứu độ
nếu con người coi trọng Thiên Chúa và mệnh
lệnh của Ngài, nếu con người vâng phục Thiên
Chúa, tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa. Cứu
độ con người, là làm cho con người cảm
nghiệm được rằng Thiên Chúa yêu con
người, và đó là sứ mạng của đức
Giêsu.
Cứu độ con người là hướng
dẫn và trợ giúp con người, làm sao để con
người cảm được Thiên Chúa yêu thương
họ, và rồi họ đáp trả t́nh yêu, và như
vậy là con người được hạnh phúc,
được cứu độ.
Sứ mạng của đức Giêsu là làm sao
để con người cảm được rằng
Thiên Chúa yêu thương con người. Để thực
hiện công tŕnh cứu độ này, Thiên Chúa đă có cả
một chương tŕnh, và trải dài trong gịng lịch
sử, đặc biệt là nơi dân tộc Do Thái với
lịch sử của họ.
Có thể nói: sứ mạng của đức
Giêsu là làm chứng cho T́nh Yêu, là chứng nhân t́nh yêu: làm cho
con người cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng.
Liệu Thiên Chúa có thể cứu độ con
người mà không cần Ngôi Lời nhập thể, không
cần đức Giêsu phải chết không?
Nếu Ngôi Lời không nhập thể, liệu
con người có tin Thiên Chúa yêu con người không?
Nếu đức Giêsu không chịu chết, liệu con
người có được đánh động bởi
hành động và đời sống của Ngài, để
cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh không?
Bằng hành vi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa
vĩnh viễn thành người:
· Đức Giêsu sống hoàn toàn như con
người (trừ tội, v́ tội không thuộc bản
chất con người). Ngài biết đói, biết khát,
biết đau, biết khổ nhục; Ngài bị cám
dỗ trong hoang địa, trong vườn dầu, trên
thập giá; Ngài bị thử thách về đức tin
nhưng không bao giờ qụy ngă.[7]
· Ngài luôn nói sự thật dù người
ta không tin và không chấp nhận Ngài (Mc 2:7), dù người
ta kết án tử h́nh Ngài (Mc 14:62).
· Ngài ư thức Ngài chết v́ yêu
thương con người, v́ Ngài hiến mạng Ngài cho
con người: “không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu
của Người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn
hữu” (Ga 15:13).
Dường như thập giá là con
đường duy nhất diễn tả t́nh yêu một
cách thuyết phục nhất. Một cô gái có thể
tin rằng một anh nào đó nói yêu cô ta, là thực
chăng? Nếu cô gái này khôn ngoan, cô ta biết ḿnh có thể
bị lừa! Để tin lời nói của người
đó có thực không, cô ta cần có thời gian để
nghiệm xét: chính qua hành động và đời sống,
chứ không chỉ bằng lời nói, mà cô ta biết
được anh ta có yêu cô ta thực không! Chính nhờ hành
động, xem người đó có hy sinh quên ḿnh v́ tôi
không, xem người đó có muốn tôi được
hạnh phúc thực không, mà tôi nhận biết người
đó có yêu tôi thực không. Cũng tương tự
như vậy, qua việc Đức Giêsu dám chết v́ yêu
con người, mà con người tin biết rằng Ngài
yêu con người, và nhờ Ngài mà con người cũng
biết rằng Thiên Chúa yêu con người vô cùng.
Tội là coi thường Thiên Chúa, không tin Thiên
Chúa, không trông cậy ǵ nơi Ngài, không vâng phục Ngài!
Nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương con người, Ngài
sẵn sàng tha thứ tội lỗi con người đă
xúc phạm đến Ngài, Ngài mong muốn con người
trở lại với Ngài, để con người
được hạnh phúc. Khi con người trở
lại với Ngài, rung động trước t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với ḿnh, trân trọng Thiên
Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, vâng phục Thiên Chúa trong mọi
sự, th́ con người được cứu độ.
Rung động trước t́nh yêu của
đức Giêsu và của Thiên Chúa đối với con
người, hối hận v́ tội lỗi ḿnh, ao
ước đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa bằng chính
cuộc sống ḿnh, đó là khởi đầu ơn
cứu độ. Chính t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với con người và làm con người đáp trả
t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho con người được
sống, và sống tṛn đầy, sống hạnh phúc.
T́nh yêu không chỉ là cảm giác, và t́nh yêu cũng
không chỉ là lư trí. T́nh yêu diễn tả và cảm nhận
bằng cả lư trí và thân xác. Con người cần
cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh bằng
cả con người, để ḿnh sống một
đời đầy ư nghĩa, và được hạnh
phúc.
Cứu độ con người là chương
tŕnh của cả Ba Ngôi Thiên Chúa:
· Thiên Chúa Cha như nguồn gốc
mọi sự, là sáng kiến của chương tŕnh;
· Thiên Chúa Con như Lời thực
hiện chương tŕnh qua hành vi nhập thể vĩnh
viễn;
· Và Thánh Thần hoạt động trong
tâm hồn mỗi người để dẫn đưa
con người trở về với Thiên Chúa.[8] Thánh
Thần giúp các tông đồ hiểu Lời của
đức Giêsu (Ga 14:26), dẫn đưa các tông đồ
vào tất cả sự thật (Ga 16:13), giúp các tông
đồ làm chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26-27). Thánh
Thần hoạt động trong Hội Thánh để giúp
các Kitô-hữu sống đức tin, và giúp các Kitô hữu
rao giảng tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa.
Con người là tạo vật được
Thiên Chúa yêu thương, nên cứu độ con
người là công việc quan trọng đối với
Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương con người, và yêu con
người vô cùng. Thiên Chúa Cha yêu con người như yêu
chính Con Một của Ngài (Ga 17:23), và Ngài yêu con người
đến độ ban Con của Ngài cho con người
(Ga 3:16). Chúa Giêsu yêu con người như Thiên Chúa Cha yêu Ngài
(Ga 15:9), và Ngài yêu con người đến độ
hiến mạng sống bản thân Ngài cho con người
(Ga 15:13), và c̣n biến bánh rượu thành thân xác Ngài
để trở thành của ăn của uống cho chúng
ta.
Chính v́ yêu thương con người nên Thiên Chúa
luôn ở với con người:
· “Nơi nào có hai hay ba người họp
nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở giữa họ” (Mt
18:18). “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến
tận thế” (Mt 28:20);
· “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha
Ta sẽ yêu thương người đó, và chúng ta sẽ
đến và ở với người đó” (Ga 14:23);
· “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho
các con một Đấng Bầu Chữa khác, để Ngài
ở với các con luôn măi” (Ga 14:16).
Yêu nhau, người ta muốn ở gần nhau.
Thiên Chúa muốn ở với chúng ta, và Ngài muốn chúng ta
ở trong t́nh yêu của Ngài (Ga 15:9). Thiên Chúa ở với
chúng ta để cứu độ chúng ta, để chúng ta
sống hạnh phúc với Ngài.
“Sự sống đời đời là chúng
nhận biết Cha và đức Giêsu Đấng Cha sai” (Ga
17:3).
Để sống hạnh phúc tṛn đầy, con
người cần biết ḿnh đang hạnh phúc. Chúa
Thánh Thần là thầy dạy chúng ta, Ngài giúp chúng ta
nhận ra sự thật cứu độ: “Thánh Thần
sẽ dẫn chúng con vào tất cả sự thật” (Ga
16:13). Không có Thánh Thần, con người không thể làm ǵ
tốt, ngay cả việc tin đức Giêsu là Thiên Chúa:
“Không ai tuyên xưng đức Giêsu là Kitô, nếu không
bởi Thánh Thần” (1Cr 12:3).
Thánh Thần giúp con người tin vào đức
Giêsu và tin vào Thiên Chúa, giúp con người cầu nguyện
than thở với Thiên Chúa (Rm 8:26-27), giúp con người
sống b́nh an hạnh phúc, giúp con người hưởng
ân phúc cứu độ.
“Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha,
Đấng đă sai Ta, không lôi kéo nó, và Ta sẽ cho nó
sống lại ngày sau hết” (Ga 6:44).
Con người không thể tự cứu chính
ḿnh, nhưng chính Thiên Chúa cứu độ con người:
Thiên Chúa cứu độ con người nhưng cần
con người ưng thuận cách tự do.
Chính Thiên Chúa lôi kéo con người đến
với Thiên Chúa, chứ không phải con người tự
ḿnh có khả năng đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa lôi
kéo con người, và con người ưng thuận
để Thiên Chúa lôi kéo ḿnh đến với Ngài. Lôi kéo
con người đến với Thiên Chúa mà con
người vẫn hoàn toàn tự do, đó là đặc
điểm của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là T́nh Yêu, Thiên Chúa yêu con người, nên
“Ngài muốn tất cả mọi người
được cứu độ và nhận biết chân lư”
(1Tm 2:4). Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm
người để ở măi với con người theo
cách thức mà con người lănh hội được;
Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt động trong con
người để lôi kéo con người đến
với Thiên Chúa, để làm con người rung cảm
trước t́nh yêu Thiên Chúa, để con người có
thể sống an b́nh và phó thác tất cả trong tay Thiên
Chúa, để con người được hạnh
phúc.
Tuy con người hoàn toàn tự do nhưng Thiên
Chúa lại rất tuyệt vời: Ngài chinh phục
con người bằng t́nh yêu.
Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài
muốn những điều tốt lành cho con người,
Ngài muốn con người được hạnh phúc
vĩnh cửu với Ngài. Sở dĩ như vậy,
bởi v́ khi yêu, người ta muốn cho người ḿnh
yêu được những điều tốt lành,
được hạnh phúc đích thực.
Thiên Chúa muốn con người được
sống hạnh phúc tṛn đầy với Ngài: “Ta
đến để chúng được sống, và
sống sung măn” (Ga 10:10).
Thiên Chúa Cha đă ban Con Ngài cho con người (Ga
3:16), Chúa Con đă ban chính ḿnh Ngài cho con người qua bí
tích Thánh Thể và bằng hành vi chết cho người ḿnh
yêu (Mc 14:24-25; Ga 15:13), Thánh Thần hiện diện với
con người như quà tặng của Ba Ngôi (Ga 14:16).
Để hạnh phúc và cảm nghiệm hạnh
phúc, cần có tự do.
Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con
người. Chính v́ vậy, Ngài chỉ mời gọi và
đề nghị, c̣n tùy con người có đáp trả
hay không.
Thiên Chúa tôn trọng ư muốn của con
người; ngay cả khi con người không đáp
trả lại t́nh yêu của Ngài, không làm theo ư muốn
của Ngài, th́ Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi,
Ngài vẫn luôn tác động để con người
trở lại với Ngài, hầu con người
được sống hạnh phúc đích thực.
Khi yêu nhau, họ trở nên một, một thân xác
một tinh thần. Nói một cách chính xác, những
người yêu nhau đều hướng tới hiệp
nhất dù mỗi cá vị vẫn được tôn
trọng và duy tŕ: “Ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với
ḿnh tuy một mà hai.” Hai người yêu nhau, sẽ
được hạnh phúc hơn khi họ cùng lư
tưởng, cùng ước muốn và đồng cảm.[9]
Chúa Giêsu yêu Chúa Cha, nên đă lấy Ư Cha làm ư Ngài
(Mc14:36), đă lấy Ư Cha làm của ăn (Ga 4:34). Cũng
tương tự như vậy, khi con người yêu Thiên
Chúa, sẽ lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẽ vâng giữ
Lời Ngài: “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta
sẽ yêu mến người đó, và chúng ta sẽ đến
và ở nơi người đó” (Ga 14:23).
Con người chỉ có thể nên một
với Thiên Chúa trong cầu nguyện, nếu con
người đă cố gắng để nên một
với Thiên Chúa trong suốt đời sống
thường ngày.
Trong t́nh yêu người ta thường nghe nói,
“Anh là tất cả với em” hoặc “Em là tất cả
với anh.” Khi hai người yêu nhau, người này là qúy
nhất với người kia. Chính v́ thế, ư kiến hay
ư thích của người yêu rất được coi
trọng.
Ai càng yêu th́ càng yếu, v́ khi yêu người ta
muốn chiều ḷng người ḿnh yêu, để thấy
người yêu hạnh phúc và ḿnh cũng được
hạnh phúc v́ người ḿnh yêu hạnh phúc.
Khi yêu nhau, người ta tin tưởng lẫn
nhau và có thể tin tưởng cậy nhờ người
ḿnh yêu, v́ ḿnh tin rằng người ḿnh yêu sẽ làm theo ư
ḿnh. Khi yêu, người ta tin tưởng trông cậy
lẫn nhau.
Tội là coi thường và không tin tưởng
trông cậy ǵ nơi Thiên Chúa, c̣n yêu Thiên Chúa là trân trọng
và tin tưởng phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa là
Đấng yêu thương ḿnh.
Tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài
sẽ làm cho ḿnh những điều tốt lành nhất, và
như vậy ḿnh sẽ b́nh an hạnh phúc để phó thác
đời ḿnh trong tay Thiên Chúa.
Con người không có tự do tuyệt
đối, nhưng con người chỉ tự do trong
hành động của ḿnh.
Là tinh thần nhập thể, nên con người
trở thành tinh thần qua thân xác, nghĩa là, con
người được mời gọi vượt lên
những khuynh chiều xác thịt để thành nhân,
để nên thánh, để sống như Thiên Chúa
muốn, để thuộc trọn về Thiên Chúa.
Lư trí con người với những h́nh ảnh
được cảm thụ qua giác quan, do tác động
bởi những khuynh chiều thân xác, làm nên trí tưởng
tượng. Trí tưởng tượng thuộc về
“tôi,” cấu thành con người tôi, nhưng “tôi” không
chỉ là nó; tôi hoàn toàn tự do để ưng thuận
hay từ chối những ǵ hiện đến trong trí
tưởng tượng của tôi.
Con người là linh hồn và thân xác. Con
người là chủ vị với thân xác. Tôi xét như
thân xác, có những khuynh chiều đ̣i thỏa măn, như
đói cần ăn khát cần uống, nhu cầu thỏa
măn sinh lư; tôi xét như sinh vật bậc cao, cũng có khuynh
hướng muốn được kính trọng, nổi
tiếng.
Là người, tôi cảm thấy ḿnh có những
nhu cầu và đ̣i hỏi như vậy nơi chính bản
thân; khi tôi cảm thấy những đ̣i hỏi đó
nơi ḿnh, không hàm chứa rằng tôi “thấp hèn;” tôi
tự do, tôi có thể ưng thuận hay từ chối làm
theo những đ̣i hỏi đó.
Khi nào c̣n sống trên dương thế này, tôi c̣n
cảm thấy những đ̣i hỏi của thân xác và lư
trí. Những khuynh chiều như thế là b́nh
thường; đó là thân phận con người trong
điều kiện tại thế. Tuy nhiên, con người
xét như chủ vị hoàn toàn tự do, có thể “siêu
vượt” trên những “cám dỗ,” trên những khuynh
chiều này.
Con người, trở nên người tự do
đích thực hay nô lệ vật chất, trở nên thánh
nhân hay như con vật, là do chính con người. Chính
bằng hành vi siêu vượt hay thuận theo cám
dỗ, mà con người là “thần” hay “vật,” trở
nên thần linh hay sống như “con vật.”
Bị cám dỗ và thử thách nhiều, không có
nghĩa là ḿnh thiếu quảng đại với Chúa,
hoặc ḿnh “xấu xa thấp hèn.” Đức Giêsu cũng
bị cám dỗ nhiều và mănh liệt (Mt 4:1-11; Mc 14:32 tt),
Ngài bị cám dỗ cả trong lănh vực đức tin (Mc
15:34), Ngài đă chiến đấu chống trả cám
dỗ đến nỗi mồ hôi máu chảy ra (Lc 22:44).
Đức Maria cũng bị thử thách nhiều trong
cuộc sống, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng phó
thác trong tay Thiên Chúa dù không biết Lời Chúa phán cùng Mẹ
sẽ được thực hiện thế nào, nhất
là khi Mẹ chứng kiến đức Giêsu chết ô
nhục thảm thương trên thập giá (Lc 1:26-38.45; Ga
19:25-27).
Cám dỗ và thử thách là những dịp
để con người tại thế siêu vượt
trên chính ḿnh, để con người là tinh thần
hơn, nên thánh và thuộc trọn về Chúa hơn.
Đức Giêsu chiến thắng cám dỗ, và
như vậy chúng ta tin tưởng rằng con
người tại thế có thể vượt thắng
cám dỗ nếu con người tin tưởng phó thác trong
tay Thiên Chúa. Là con người, không có nghĩa là buộc
phải phạm tội. Phạm tội hay không, tùy con
người tự do: con người có thể không
phạm tội.
Để con người được cứu
độ, Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm
chứng cho t́nh yêu, hầu con người nhận biết
Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để rồi yêu
lại Thiên Chúa.
Con người khi tin nhận đức Giêsu là
Thiên Chúa, th́ nhận ra t́nh yêu thương vô bờ của
Thiên Chúa đối với ḿnh. Rồi khi con người
tin nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, con
người có thể phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa
T́nh Yêu.
Cầu nguyện là một cách để thông
hiệp với Thiên Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống
thường ngày của con người, để con
người sống hạnh phúc với Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và
có ư thức về điều đó hay không. Thiên Chúa luôn
nh́n xem tôi và can thiệp vào đời tôi một cách kịp
thời, v́ Ngài luôn yêu thương tôi. “Ngài chặn tôi
trước, Ngài ngừa tôi sau... bàn tay của Ngài
đặt trên tôi” (Tv 139:5).
Khi cầu nguyện người ta cần ư
thức Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương
ḿnh. Như vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà
vẫn luôn ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́
tôi cũng đang cầu nguyện và đang kết
hiệp với Thiên Chúa một cách nào đó.
Ư thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong
đời sống thường ngày, không đ̣i chúng ta
phải ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày,
chúng ta vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng
“Thiên Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh.”
Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta qua
lương tâm mỗi người, qua những biến
cố xảy tới với ḿnh trong đời, qua Lời
Chúa trong Kinh Thánh, v.v.
· Chúa nói với tôi, tôi có lắng nghe?
· Thái độ đáp trả của tôi
với Lời Ngài như thế nào? Tôi vâng phục, hay
từ chối, hay lẩn tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa
nói với tôi không?
Khi tôi thấy con người của tôi
dưới ánh sáng Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những
ǵ Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu
tôi có những bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với
Chúa, để Lời Chúa như gươm hai lưỡi
phân tách (Hr 4:12), để tôi được tinh sạch
hơn (Ga 17:17) và tự do hơn (Ga 8:32).
Có nhiều người mong ước kết
hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện.
Đây là ao ước chính đáng và tốt lành thánh
thiện. Nhưng làm sao có thể kết hiệp với
Thiên Chúa trong cầu nguyện?
Để hiệp nhất với Thiên Chúa trong
giờ cầu nguyện, đ̣i người đó luôn khao
khát mong ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng
khao khát ước mong, sẽ giúp người đó luôn
kết hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống
thường ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa
ngay cả khi điều đó trái ư ḿnh, và nếu
được như vậy, sẽ giúp người đó
kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu
nguyện.
Có người cho rằng họ đă đạt
đến mức kết hiệp với Thiên Chúa cách
rất đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng
trong cuộc sống thực tế cho thấy người
đó rất khó sống với người khác, và họ
thường “khá kiêu ngạo!” Thánh Inhaxiô lưu ư một
số anh em Ḍng Tên: “cầu nguyện lâu giờ mà không có
tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho
người ta thêm cứng đầu.”
Để có thể kết hợp với Thiên
Chúa trong giờ cầu nguyện, người ta cần
phải liên lỉ kết hiệp với Thiên Chúa trong
suốt ngày sống. Họ phải luôn từ bỏ ư riêng
để vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa, để yêu
thương và chấp nhận anh em, để thông cảm
với những giới hạn của anh em và những trái
ư từ bên ngoài đưa tới. Một người cho
rằng ḿnh đă có thể kết hiệp dễ dàng
với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có đời
sống từ bỏ và yêu thương, e rằng đó là
người “ảo tưởng,” và chưa biết ḿnh cách
sâu xa và đích thực.
Để kết hiệp với Thiên Chúa trong
giờ cầu nguyện, cần kết hiệp với
Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Sống đời
sống “từ bỏ” qua yêu mến đức khó nghèo và
sẵn sàng chịu sỉ nhục và khinh chê v́ ChúaGiêsu Kitô,
chấp nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách
khác, cuộc sống “đồng h́nh đồng dạng”
với Đức Giêsu trong tư tưởng, lời nói và
hành động, sẽ giúp người đó kết
hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ cầu
nguyện.
Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những
sự thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu
nguyện.
Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa
hoặc tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ
giúp ḿnh tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ
đó cũng thuộc về cầu nguyện; chẳng
hạn, sau một suy nghĩ, một người có thể
thấy một ánh sáng nào đó, và điều này giúp họ
tạ ơn Thiên Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài
xin Thiên Chúa điều ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng
là cầu nguyện.
Điểm chính yếu của cầu nguyện
không là có nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và
thái độ của ḿnh đối với Thiên Chúa.
Xét gẫm là lượng giá giờ cầu
nguyện, nhằm giúp ḿnh thấy được những
ơn lành đă nhận lănh trong giờ cầu nguyện
để tạ ơn Chúa, và biết được những
“nguyên nhân nơi chính ḿnh” đă làm cho giờ cầu
nguyện không được tốt đẹp, để
sửa đổi.
Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an
hạnh phúc, không chỉ ở đời sau nhưng c̣n ngay
cả ở đời này nữa. Thiên Chúa muốn con
người sống b́nh an hạnh phúc trong mọi thời
điểm của cuộc sống, và đặc biệt
trong giờ cầu nguyện. Có thể nói, t́nh trạng “an
ủi thiêng liêng” là t́nh trạng b́nh thường trong
đời sống cầu nguyện; nghĩa là, trong và sau
cầu nguyện, con người được b́nh an
hơn, được thư thái và hạnh phúc hơn, và
thấy tin tưởng và trông cậy cùng yêu mến Thiên
Chúa hơn.
Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an
hạnh phúc, nhưng ác quỷ- kẻ từ chối T́nh Yêu
Thiên Chúa và chống lại Thiên Chúa- muốn con người
về phe nó chống lại Thiên Chúa, nên t́m mọi cách
ngăn cản con người sống b́nh an và hạnh phúc
với Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn người đang ở trong
t́nh trạng tội trở về với Ngài, Ngài luôn hành
động trong thâm sâu tâm hồn mỗi người
để làm họ trở về với Ngài, qua tiếng
nói của lương tâm và qua những dấu chỉ
hữu h́nh.
Thần dữ hành động ngược
lại. Nó t́m mọi cách để người đó ở
lại trong tội, chẳng hạn bằng gợi lên
những h́nh ảnh gây vui thú giác quan, v.v.
Thiên Chúa vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi
người, để họ tiến tới hơn trên
đường phụng sự Chúa. Các thần lành cũng
trợ giúp, để con người cảm nhận b́nh an
và hạnh phúc, để họ vui tiến trên
đường thiêng liêng.
Thần dữ t́m mọi cách và mọi lư do
“ngụy biện” để ngăn cản con người
tiến tới, gây bất an và xáo động nơi tâm
hồn con người.
Sau khi cầu nguyện, người cầu
nguyện dùng một thời gian ngắn để xét
gẫm, xem giờ cầu nguyện của ḿnh thế nào!
Nếu không tốt[12] hoặc
không tốt lắm, th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă
nhận ra th́ cố gắng sửa đổi (chính ḿnh),
để giờ cầu nguyện tiếp sau
được tốt đẹp hơn.
Nếu t́m đúng nguyên do và được
chỉnh đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau
sẽ tốt đẹp hơn. Có thể nhờ
người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng nhận
định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm
xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh t́m
được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện không
được, cách chính xác và chắc chắn hơn.
Có thể do ḿnh thiếu quảng đại
với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày
sống, mà ḿnh cầu nguyện không được tốt.
Nếu ḿnh không cố gắng tập trung
để cầu nguyện, hoặc nếu không xua
đuổi ngay các chia trí đến trong giờ cầu
nguyện, không đặt Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng
khó cầu nguyện “tốt.”
Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp
với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện.
Để dễ dàng cầu nguyện, con người
cần luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày
sống.
Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào
đó, mà ḿnh cầu nguyện không được “tốt.”
Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên
hoặc bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́
cũng khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh
cầu nguyện không được, hăy xem ḿnh có cố
gắng quảng đại hết sức để
cầu nguyện chưa; nếu đă cố gắng
“hết sức” rồi mà vẫn cầu nguyện không
được, th́ xem ḿnh c̣n quyến luyến điều
ǵ cách lệch lạc không, và khi nhận ra th́ hăy quảng
đại để chỉnh đốn lại.
Một người có thể không cầu
nguyện được, v́ họ nhận thức sai
lầm: họ tưởng rằng cầu nguyện
được hay không là do sức con người. V́
vậy, Thiên Chúa có thể để họ cầu
nguyện không được, nhằm giúp họ nhận ra
một sự thật: “cầu nguyện được, là
một ơn Thiên Chúa ban cho con người.”
Một người có thể bị sầu
khổ thiêng liêng mà không phải do lỗi của họ (LT
322b).
Nếu ḿnh cầu nguyện không được,
bị sầu khổ thiêng liêng, mà không tại lỗi ḿnh,
th́ hăy kiên tŕ và quảng đại. Lúc đó chủ quan ḿnh
thấy ḿnh cầu nguyện không được tốt
lắm, nhưng khách quan th́ vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên
Chúa đang tôi luyện ḿnh, Ngài tập cho ḿnh đến
với Ngài v́ chính Ngài chứ không phải v́ ḿnh
được an ủi; tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh
cầu nguyện không được sốt mến,
nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng thành hơn
về đức tin đức cậy và đức
mến.
Có thể xảy ra là trong một thời
điểm một người cảm thấy ḿnh bị
cám dỗ nhiều về một điều ǵ đó, và
thường đó là điểm yếu của ḿnh, th́
người đó nên xét ḿnh để t́m coi nguyên nhân
tại sao.
Có thể bởi v́ ḿnh thiếu dứt khoát trong
việc chống trả với chước cám dỗ, và
như vậy t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa
đă bị giảm sút.
Trong trường hợp này hăy xin lỗi Chúa, và
bắt đầu sống quảng đại hơn
với Chúa trong từng giây phút sống.
Khi c̣n sống trong thân xác, chúng ta c̣n bị cám
dỗ và thử thách; những cám dỗ đó có thể là
những dịp để chúng ta diễn tả t́nh yêu
của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ thể hơn.
Không ai được miễn trừ khỏi
bị cám dỗ và thử thách:
· Đức Giêsu không chỉ bị cám
dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài c̣n bị thách
thức để làm những phép lạ từ trời,
bị cám dỗ và thử thách trong vườn dầu (Mc
14:32tt), bị thử thách cả về đức tin ngay
trên thập giá (Mc 15:34);
· Đức Maria không chỉ thưa
tiếng xin vâng trong biến cố truyền tin (Lc 1:26tt),
nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt cuộc
đời, đặc biệt trong biến cố Mẹ
đứng dưới chân thập giá;
· Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất
cái dằm ra khỏi xác thịt Ngài, nhưng Ngài
được trả lời “ơn Ta đủ cho con”
(2Cr 12:7-9).
Thử thách và cám dỗ trong cuộc sống
tại thế, là thuộc thân phận làm người
của chúng ta; chúng ta hăy chấp nhận, và can đảm
đương đầu để vượt qua. Chúa
không miễn trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ,
nhưng Chúa bảo đảm rằng nếu chúng ta tin
tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ
chiến thắng: “Các con hăy tin tưởng, Ta đă
thắng thế gian” (Ga 16:33).
Xét ḿnh để nhận ra những hồng ân
Thiên Chúa đă ban cho ḿnh, cũng như những lỗi
lầm ḿnh đă phạm, để tạ ơn và xin
lỗi Thiên Chúa, để sống tốt hơn.
Xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng,
nếu muốn tiến bộ không ngừng trong đời
sống thiêng liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày
hơn.
Theo thói quen người ta vẫn cho rằng xét
ḿnh chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm
khuyết điểm của ḿnh để ăn năn sám
hối; tuy nhiên việc nhận ra những ơn lành
Thiên Chúa ban cho ḿnh trong đời sống thường ngày
rất quan trọng, để luôn sống trong ư thức và
tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện
với ḿnh.
Nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh,
là dấu chỉ của một đời sống thiết
thân với Thiên Chúa. Càng nhận biết hồng ân
Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên Chúa hơn.
Nhận ra những lỗi lầm của ḿnh
để sửa đổi, là điều chính yếu
của việc xét ḿnh.
Trong xét ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra
những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh,
nhưng c̣n nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn
của ḿnh, để có thể tránh được
những lỗi phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi
làm điều này chứ không phải điều kia, ngay
cả khi điều tôi làm chưa phải là tội? Cái
tàng ẩn hay khuynh chiều đằng sau hành động
đó là ǵ?
Tại sao tôi hay bị cám dỗ về
điều này? Tại sao tôi bị cám dỗ về
điều này dai dẳng và mănh liệt như vậy?
Phải chăng v́ tôi chưa có thái độ hay lập
trường dứt khoát với điều này (với
khuynh chiều này, với tội này)? Hay tại v́ t́nh yêu
của tôi với Thiên Chúa đă bị phai lạt và
giảm sút? Tôi cần nhận ra những điều
đó, để có quyết định và thái độ
cụ thể nhằm tiến bộ hơn nữa trong
đời sống thiêng liêng.
Nếu có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́
sau khi đă nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban và
những lỗi lầm ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên
Chúa, chúng ta nên dùng thời gian c̣n lại để nói
chuyện thân thưa với Thiên Chúa dựa vào những
hồng ân và những lỗi lầm của ḿnh. Đây là
những phút cầu nguyện dựa vào đời sống
ngày qua của ḿnh.
Thánh Inhaxiô đă cho in quyển Linh Thao vào năm
1548 với phép của đức giáo hoàng Phao-lô III, và
quyển sách nhỏ này đă là thủ bản của
những người hướng dẫn Linh Thao và
đặc biệt là của Giêsu-hữu.
Kinh nghiệm với Thiên Chúa qua Linh Thao tuy
giống nhau, nhưng mỗi người lănh nhận theo
cách thức của ḿnh. Cũng tương tự như
vậy, khi giúp Linh Thao, mỗi người hướng
dẫn theo cách thức và kinh nghiệm với Thiên Chúa
của ḿnh, và tôn trọng Thánh Thần tác động
nơi mỗi người làm Linh Thao.
Dưới đây là những bài gợi ư giúp
cầu nguyện cho một khóa Linh Thao 10 ngày. Cũng
cần biết, những người giúp Linh Thao khác, và ngay
cả tác giả viết điều này, có thể thay
đổi những đoạn Kinh Thánh được
dùng, cũng như triển khai những gợi ư theo như
người đó thấy tốt nhất để làm vinh
danh Thiên Chúa hơn.
Theo thánh Inhaxiô, Linh Thao gồm bốn tuần.
Tuần thứ nhất cầu nguyện về tội,
tuần thứ hai về cuộc đời Chúa Giêsu cho
tới ngày Ngài được rước vào Giêrusalem,
tuần thứ ba về cuộc tử nạn của Chúa
Giêsu, và tuần thứ tư về Chúa Giêsu Phục Sinh. Tuy
vậy, vẫn c̣n một số bài cầu nguyện khác,
như:
· Lời mời của Vua Hằng
Sống;
· Các bài cầu nguyện, tạm gọi là
ngày Inhaxiô;
· Chiêm niệm để được
t́nh yêu;
· Ngoài ra c̣n có những điểm phải
suy nghĩ được gọi là “Nguyên Lư và Nền
Tảng” ở khởi đầu của Linh Thao, và các
chỉ dẫn để làm việc lựa chọn ở
cuối tuần thứ hai.
Tiến tŕnh Linh Thao được tŕnh bày
dưới đây theo thứ tự sau:
nếu không tính Nguyên Lư và Nền Tảng,
các bài cầu nguyện về tội và ḷng nhân từ tha
thứ của Thiên Chúa, thuộc tuần nhất;
các bài cầu nguyện về Lời Mời của Vua
Hằng Sống, về cuộc đời ẩn dật,
về cuộc đời công khai của Chúa, các bài cầu
nguyện của ngày Inhă, việc lựa chọn,
được coi thuộc tuần hai;
các bài cầu nguyện về cuộc khổ nạn và
phục sinh của đức Giêsu, thuộc tuần ba và
bốn;
bài “Chiêm niệm để được t́nh yêu”
thường là bài cầu nguyện cuối cùng của Linh
Thao.
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu
về Linh Thao, “Nguyên Lư và Nền Tảng” không có nguồn
gốc tại Manresa, nó h́nh thành sau, khi thánh Inhaxiô học
tại Paris. Tuy vậy “Nguyên Lư và Nền Tảng” vẫn
thuộc Linh Thao, v́ nó là cái nh́n tổng quát về vũ
trụ, con người và Thiên Chúa, và v́ nó là cái nh́n nền
tảng để làm Linh Thao.
Mỗi tuần của Linh Thao, và cụ thể là
mỗi bài cầu nguyện trong Linh Thao đều có
mục đích và yêu cầu cần đạt
được. Chính v́ vậy, một người khi làm
Linh Thao, cần cố gắng cầu nguyện hết
sức để “đạt yêu cầu của từng
bài,” như thể không hy vọng đạt
được ǵ khác ở những bài tiếp sau (LT 11).
Vậy đâu là mục đích và yêu cầu khi suy
nghĩ và cầu nguyện về “Nguyên Lư và Nền
Tảng?”
Những bài cầu nguyện trong phần này
nhằm giúp cho thao viên có cái nh́n đúng đắn về
Thiên Chúa, con người và vũ trụ.
Thiên Chúa là nguyên lư và nền tảng của
tất cả, Ngài yêu thương con người, Ngài
tạo dựng vũ trụ vật chất để
phục vụ con người, để con người
dùng chúng như phương tiện đến với Thiên
Chúa.
Làm sao để sau những bài cầu nguyện
này, thao viên cảm thấy b́nh tâm trước mọi
tạo vật.
B́nh tâm không đơn thuần là dửng dưng
trước mọi sự, nhưng chủ yếu là chọn
Thiên Chúa trên tất cả. Bất cứ
điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh chọn;
c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh không ham muốn
điều này hơn điều kia; chẳng hạn,
nếu làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không chọn giầu có
hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ nhục, sống
lâu hơn chết yểu.
Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chọn
làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là
điểm chính yếu của b́nh tâm. Làm sao sau khi cầu
nguyện những bài về Nguyên Lư và Nền Tảng, thao
viên cảm thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và
những ǵ thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ
khác trong cuộc sống của ḿnh.
Con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St
1:1-2:4a);
Con người là ai (Tv 8);
Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);
Các bạn t́m ǵ (Ga 1:35-51);
Này Ta đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 17:23.20;3:16; Ga 13:1;15:9.13; Ga
14:16;15:26; Ga 14:23);
Chương tŕnh “Giêsu Kitô” (Ep 1:3-14);
Nếu Thiên Chúa yêu tôi (Rm 8:31-39);
Thiên Chúa Quan Pḥng (Mt 6:25-34);
Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34);
B́nh Tâm (LT 23).
Cầu nguyện là gặp gỡ, nói chuyện,
thân thưa, than thở tâm sự với Thiên Chúa.
Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn
như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm;
nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta
gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.
Đứng trước một biến cố hay
một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và
nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.
Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh,
để suy gẫm như cầu nguyện:
· Trước hết, chúng ta xem Thiên Chúa
hay đức Giêsu, qua tác giả Kinh Thánh, muốn dạy ǵ
trong đoạn Kinh Thánh đó;
· Sau đó, xem chúng ta đă sống
điều được dạy đó như thế nào;
· Và cuối cùng chúng ta tâm sự thân
thưa với Thiên Chúa.
Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu
nguyện được tiến bộ, chúng ta cần
lượng giá giờ cầu nguyện; việc
lượng giá này được gọi là xét gẫm (LT
77).
· Tôi có được b́nh an thư thái
không?
· Tôi có được thêm ḷng tin cậy
yêu mến Thiên Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần
gũi với ḿnh không?
· Tôi có nhận được “ơn xin”
của bài cầu nguyện không?[14]
· Tôi có được đánh động
hay được một ánh sáng ǵ đặc biệt không?
Câu hỏi này giúp tôi có nhận định
tổng quát về giờ cầu nguyện. Nếu không
được hài ḷng lắm, th́ phải t́m nguyên
do và cải thiện, để giờ cầu nguyện
tiếp sau được tốt hơn.
· Tại tôi thiếu cố gắng
tập trung cầm trí cầu nguyện?
· Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí
ngay khi tôi ư thức?
· Phải chăng tại tôi chưa cố
gắng giữ ngũ quan và tâm trí, và tôi chưa luôn sống
với ư thức Thiên Chúa đang hiện diện với tôi
và yêu thương tôi trong suốt cả ngày sống?
· Tôi c̣n một vướng bận hay
bất ḥa nào đó với tha nhân mà chưa được
giải quyết không?
· Có một quyến luyến lệch
lạc nào đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ không?
Hay tại tôi chưa thật sự mong
ước khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?
Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân
thưa với Chúa về thái độ cầu nguyện
của ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong
giờ cầu nguyện, và về những trễ nải
thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu
nguyện hay trong suốt ngày sống.
Trong chủ đề này, cố gắng
để được ơn b́nh tâm. Ơn này chỉ có,
khi chúng ta nhận thức đúng đắn về Thiên Chúa
và tạo vật, cũng như xác định rơ chỗ
đứng tuyệt đối của Thiên Chúa trong
đời ḿnh, và tạo vật chỉ là phương
tiện để ḿnh đến với Thiên Chúa.
Nếu thấy ḿnh chưa được ơn
b́nh tâm, cần cầu nguyện tiếp tục về
chủ đề này trước khi qua chủ đề
tiếp sau.
Khi cầu nguyện một đề tài, hăy làm
những bước cần thiết, rồi để tùy
Thánh Thần hướng dẫn chúng ta. Chúa Thánh Thần
hoàn toàn tự do dẫn chúng ta đi đâu tùy ư Ngài. Chỉ
cần chúng ta luôn vâng phục Ngài và sẵn sàng làm những
ǵ Ngài muốn, và như vậy chúng ta có thể
được những ơn mà chúng ta không ngờ.
Phải luôn luôn ư thức rằng Thánh Thần là vị
Hướng Dẫn và người Thầy duy nhất và
tuyệt vời của chúng ta.
Người ta có thể được an ủi
(LT 316), hay sầu khổ (LT 317), hay cảm thấy dửng
dưng trong giờ cầu nguyện (LT 11).
Nếu người tập Linh Thao không cảm
thấy ǵ (dửng dưng), th́ người hướng
dẫn phải hỏi xem họ đă làm giờ cầu
nguyện thế nào, họ có giữ các điều phụ
thêm không? Thường thường, đó là nguyên do làm
họ không cảm thấy ǵ trong giờ cầu nguyện.
Trong giờ cầu nguyện, b́nh
thường chúng ta được an ủi,
nghĩa là được b́nh an thư thái, cảm thấy
thêm ḷng tin cậy phó thác hơn nơi Thiên Chúa, hoặc
cảm thấy yêu mến Thiên Chúa hơn (LT 316), và cũng
có thể được thêm ơn mà ḿnh đă xin trong
giờ cầu nguyện. Nếu chúng ta nhận thấy ḿnh
được an ủi, hăy tạ ơn Thiên Chúa.
Cũng có thể chúng ta thấy ḿnh bị sầu
khổ thiêng liêng, nghĩa là ḿnh cảm thấy chán nản
lười biếng trong việc thiêng liêng và cầu
nguyện, bị cám dỗ về những ǵ thấp hèn và
phàm tục (LT 317). Trong trường hợp này, chúng ta
phải t́m nguyên do xem tại sao lại như vậy (LT
322); cần cố gắng t́m cho ra mà sửa chữa,
để hy vọng giờ cầu nguyện tiếp sau
được tốt hơn.
Những nguyên nhân thường ở tại
nơi chính ḿnh, do ḿnh thiếu quảng đại trong
việc tập trung để cầu nguyện hay chưa
cố gắng giữ ngũ quan và xua đuổi những
tư tưởng ngoại lai để luôn kết hợp
với Thiên Chúa liên lỉ, hay tại ḿnh chưa dứt
khoát với một lệch lạc nào đó nơi ḿnh.
Cũng cần so sánh các lần cầu nguyện
để biết ḿnh tiến bộ hay thụt lùi, và nguyên
do tại sao, ngơ hầu ḿnh sửa đổi hay phát huy,
để mỗi ngày một tiến bộ hơn.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện diện tại
nơi đức Giêsu ở, khi Ngài mời hai môn đồ
tới xem, có lẽ dưới một lùm cây hay trong
một hốc đá.
Ơn xin
Xin khao khát và t́m gặp Chúa; xin cảm nghiệm
được Chúa đặc biệt trong cuộc Linh Thao
này.
Điểm
Hai môn đệ này ao ước và khao khát ǵ, mà
đă bỏ công việc ḿnh đang làm, bỏ người
thân yêu tại nhà, để tới làm môn đệ của
Gioan Tẩy Giả?
Hai môn đệ này khao khát và t́m kiếm ǵ, mà
đă bỏ thầy cũ của ḿnh là Gioan Tẩy
Giả, để đi theo Đức Giêsu, một khi nghe
Gioan giới thiệu Đức Giêsu: “Đây Chiên Thiên Chúa,
đây là Đấng gánh tội trần gian?”
Hai môn đệ này t́m kiếm ǵ, mà Gioan Tẩy
Giả không đáp ứng được mong ước
của họ?
Có những cuộc gặp gỡ, dù mới
lần đầu tiên cũng đă gây ấn tượng,
đến độ người ta không quên:
“Oâi cái phút ban đầu lưu luyến ấy,
ngàn năm hầu dễ mấy ai quên!.”
Hai môn đồ đă đi theo đức Giêsu,
và họ đă nhớ “như in” cuộc gặp gỡ này:
“lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.”
Sau cuộc gặp gỡ này với đức
Giêsu, Anrê đă giới thiệu em ḿnh là Simon với
đức Giêsu, và đức Giêsu đă đổi tên cho
Simon thành Kêpha. Đổi tên là đổi vận mạng,
đổi đời một người.
Đức Giêsu đă gặp Philip, và Philip đă
được biến đổi.
Philip gặp Nathanael, và thuyết phục Nathanael
tới gặp đức Giêsu dù Nathanael có thành kiến
về Nazaret; rồi khi Nathanael gặp đức Giêsu, th́
ông cũng được biến đổi.
Gặp gỡ đức Giêsu, mà không cố t́nh
chống lại tác động của Thánh Thần, th́
sẽ được biến đổi.
Trong đời sống đă qua, tôi đă
miệt mài t́m kiếm điều ǵ, cái ǵ?[15]
Hiện tại tôi mong ước khao khát và t́m
kiếm điều ǵ?
Tôi mong ước khao khát điều ǵ trong
cuộc Linh Thao này?
Tôi có mong ước khao khát được gặp Thiên Chúa
không?
hay tôi đi t́m kiếm tư tưởng mới về
Thiên Chúa, hay t́m biết một cách thức cầu
nguyện, hay t́m xem có cái ǵ “trong đó” mà nhiều
người muốn làm Linh Thao như vậy?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa về những khát vọng
ao ước của ḿnh, xin Ngài chỉnh đốn nếu
những khát vọng đó chưa trong sáng lắm, và xin Ngài
làm bùng cháy nơi ḿnh khát vọng ao ước khao khát Ngài.
Khung cảnh
Như thể tôi đang ở trước ngai ṭa
Thiên Chúa, cùng đức Maria và toàn thể triều đ́nh
thiên quốc.
Ơn xin
Xin cho tôi không chỉ biết nhưng c̣n cảm
nghiệm rơ Thiên Chúa yêu thương tôi trong từng biến
cố của đời tôi:
tôi có trong chương tŕnh của Ngài từ đời
đời,
Ngài luôn can thiệp vào đời tôi để tôi
được như hôm nay.
Điểm
Trong bài cầu nguyện này, chúng ta cứ
đọc chậm chậm Thánh Vịnh, rồi thấy
chỗ nào ḿnh thích th́ dừng lại suy nghĩ, và nói
chuyện thân thưa với Thiên Chúa như ḷng ḿnh muốn.
Thiên Chúa ḍ xét con và Ngài biết, biết cả khi
con đứng con ngồi, con nghĩ tưởng ǵ, Ngài
thấu suốt từ xa.
Thiên Chúa không chỉ thấy ḿnh, nhưng Ngài ḍ xét
ḿnh, Ngài biết:
từng tư thế, cử chỉ, thái độ của
ḿnh;
từng lời nói của ḿnh;
tư tưởng thâm sâu và những toan tính của ḿnh.
“Bàn tay của Ngài, Ngài đặt trên tôi,” “Ngài
chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau,” “Ngài bao bọc
tôi cả sau lẫn trước.” Thiên Chúa luôn can thiệp
vào đời tôi để ǵn giữ tôi trong t́nh yêu Ngài cho
đến hôm nay, v́ Ngài rất yêu tôi.
Đi măi đâu cho thoát thần trí Ngài,
Lẩn nơi nào cho khuất được Thánh
Nhan?
Tác giả thánh vịnh dường như đă
có một lúc nào đó muốn trốn Thiên Chúa, nhưng
rồi trốn không được! Dù lên trời cũng có
Chúa, xuống âm ti ḷng đất cũng lại gặp Ngài,
sang đông cũng gặp sang tây cũng gặp, và ngay
cả trong đêm tối âm u Thiên Chúa cũng biết
hết, không ǵ che dấu được Ngài.
Không ǵ trong đời ḿnh có thể che dấu
được Thiên Chúa, không ǵ về ḿnh mà Thiên Chúa lại
không biết.
Rồi một lúc nào đó tác giả thánh vịnh
chợt ngộ ra:
Tạng phủ con, chính Ngài đă cấu tạo,
Dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con.
Tác giả thánh vịnh nhận ra ḿnh là tạo
vật của Thiên Chúa, là công tŕnh tay Ngài sáng tạo. Cha
mẹ sinh ra ḿnh nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng
tạo thành ḿnh, mới là Cha đích thực của ḿnh.
Bởi v́ ḿnh được sinh ra, đâu phải hoàn toàn
do ư cha mẹ ḿnh muốn? Có thể cha mẹ ḿnh muốn
sinh ra một cô con gái nhưng lại sinh ra một cậu
con trai, có thể cha mẹ tôi muốn sinh ra một cậu
con trai nhưng lại sinh ra một cô con gái; có bao cặp
vợ chồng không muốn sinh con nữa nhưng lại
vẫn có con, c̣n có bao cặp vợ chồng chỉ ao ước
có một mụn con nhưng không thể có!
Thiên Chúa tạo dựng nên ḿnh, nên Ngài yêu
thương ḿnh, Ngài để ư tới ḿnh từng chút xíu,
không ǵ thâm sâu kín ẩn nơi ḿnh mà Thiên Chúa không biết.
Hơn nữa, Ngài c̣n có cả một chương tŕnh
tuyệt diệu về tôi, để yêu thương tôi.
Tại sao tôi lại sợ Chúa và muốn trốn Chúa?
Khi đă nhận chân ra sự thật, tác giả
thánh vịnh không c̣n muốn trốn Chúa nữa; Lúc này thay
v́ muốn trốn, tác giả lại muốn và xin Thiên Chúa
ḍ xét ḿnh, để ǵn giữ ḿnh! Bây giờ, thay v́ sợ
và muốn xa Chúa, tác giả lại muốn được
ở gần Chúa:
Lạy Chúa, xin ḍ xét để biết rơ ḷng con,
Xin thử con để biết những điều con
nghĩ.
Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác,
th́ dẫn con trở lại chính lộ ngàn đời.
Tâm sự
Hăy nói chuyện với Thiên Chúa như ḿnh cảm
nhận nơi ḷng ḿnh về Thiên Chúa; Ngài là Đấng luôn
yêu thương và chăm sóc ḿnh, từ chuyện nhỏ cho
đến chuyện lớn, từ lúc ḿnh c̣n là bào thai nằm
trong dạ mẹ cho đến lúc ḿnh da mồi tóc bạc,
và từ khi được sinh ra cho tới lúc xuống
mồ.
Xin Chúa hăy làm những ǵ Chúa muốn làm nơi con,
v́ những ǵ Chúa làm cho con đều rất tốt
đẹp. Con tin điều đó, và con biết đó là
sự thật.
Khung cảnh
Như ḿnh đang hiện diện trên đồi
Canvê buổi chiều năm ấy,nh́n Chúa Giêsu chết thê
thảm trên thập giá: người rũ xuống,
trần trụi, thân thể không chỗ nào lành, gương
mặt biến dạng v́ bị đánh, đầy vết
máu.
Ơn xin
Xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương
tôi vô cùng, yêu tôi đến độ ban tặng tôi
điều qúy nhất với Thiên Chúa là Con Một của
Ngài, đến độ Ngài luôn ở với tôi.
Điểm
Có t́nh yêu nào diễn tả và so sánh
được t́nh yêu của Thiên Chúa, cụ thể là t́nh
yêu giữa Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu? Chúa Cha yêu Chúa Giêsu vô cùng!
Nhờ Lời Chúa Giêsu, tôi biết Thiên Chúa Cha yêu
tôi vô cùng, Ngài yêu tôi như yêu Chúa Giêsu. “Cha yêu chúng như Cha
yêu Con” (Ga 17:23). “Chúng” ở đây là các tông đồ, và
cũng là những người nhờ các tông đồ mà
tin vào Chúa Giêsu (Ga 17:20).
Chúa Cha yêu thế gian, và cụ thể là yêu tôi
đến độ ban Con của Người cho thế
gian: “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến độ ban
Con của Người cho thế gian...” (Ga 3:16). Tại sao
Thiên Chúa lại tin con người đến độ trao
Con Cưng của Người cho con người? Và họ
đă giết Ngài! Tại sao Thiên Chúa tin con người
như vậy? Phải chăng v́ Người yêu con
người?
Trong bữa tiệc vượt qua cuối cùng
với các tông đồ, thánh sử nói: “Đức Giêsu,
đă đến giờ Ngài qua khỏi thế gian mà
đến cùng Cha, đă yêu những kẻ thuộc về
Người c̣n trong thế gian, th́ Ngài yêu thương
họ đến cùng” (Ga 13:1).
Chúa Giêsu yêu tôi vô cùng, yêu đến độ
hiến mạng sống cho tôi: “Không có t́nh yêu nào lớn
hơn t́nh yêu của người hiến mạng sống
v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15:13).
Chúa Giêsu yêu tôi như Chúa Cha yêu Chúa Giêsu, và không
những thế, Ngài xin tôi hăy yêu Ngài, hăy ở lại trong
t́nh yêu của Ngài: “Như Cha đă yêu mến Thầy,
Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hăy ở lại trong
t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:9).
Yêu ai, th́ cho tặng phẩm qúy nhất.
Qúy nhất với Chúa Cha và Chúa Giêsu là Thánh
Thần. Thế mà Chúa Cha và Chúa Giêsu yêu con người
đến độ ban Thánh Thần cho con người (Ga
14:16; 15:26).
Yêu ai, th́ muốn luôn sống bên người
đó. Thánh Thần yêu con người, nên Ngài ở lại
măi với con người (Ga 14:16).
Và không chỉ Thánh Thần muốn ở măi
với con người, cả Chúa Cha và Chúa Giêsu cũng
muốn ở măi với con người (Ga 14:23).
Điều đó cho thấy cả Ba Ngôi Thiên Chúa yêu
thương con người vô cùng.
Tâm sự
Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu
chúng ta vô cùng, để một khi cảm nghiệm t́nh yêu
Thiên Chúa, chúng ta sống b́nh an và hạnh phúc hơn. Thân
thưa với Chúa v́ chúng ta đă không yêu Chúa như Chúa
đáng được yêu.
Khung cảnh
Như thể ḿnh ngồi chung hoà lẫn với
dân chúng và các môn đồ trên một ngọn đồi,
lắng nghe Chúa giảng dạy.
Ơn xin
Khao khát xin ơn xác tín và cảm nhận Thiên Chúa
yêu thương ḿnh vô cùng, để ḿnh dám quảng
đại phó thác đời ḿnh cho Thiên Chúa.
Điểm
Đức Giêsu nói với người thời
đó: “chớ lo cho mạng sống ḿnh, ăn ǵ mặc ǵ
....” Chim trời Thiên Chúa c̣n nuôi, hoa ngoài đồng Thiên Chúa
c̣n mặc đẹp cho, huống hồ là con người,
không lẽ Thiên Chúa không nuôi và không cho mặc sao? Quân yếu
tin? (Mt 6:30).
Lo lắng ăn ǵ mặc ǵ, đó là chuyện
b́nh thường, người ngoại cũng lo như
vậy, và Thiên Chúa cũng biết chúng ta cần những
điều đó (Mt 6:32).
Nếu chúng ta lo quá về cơm
ăn áo mặc, nghĩa là, hàm chứa chúng ta muốn
định đoạt tất cả, và như vậy
phải chăng chúng ta không tin tưởng rằng Thiên Chúa
yêu thương ḿnh?
Thiên Chúa là cùng đích và ư nghĩa của con
người. Chỉ có một điều cần tuyệt
đối đối với con người, đó là Thiên
Chúa và tương quan với Ngài.
Chúng ta có khao khát Thiên Chúa không? Chúng ta có mong
ước và cố gắng để nên thánh không? Một
ngày chúng ta dùng bao nhiêu giờ để t́m kiếm Thiên Chúa
và những chuyện thuộc về Chúa? Khi chúng ta
đọc kinh, cầu nguyện, tham dự hoặc cử
hành thánh lễ, chúng ta có tham dự và cử hành với
trọn cả con người không, hay chúng ta chỉ
hiện diện ở đó với thân xác c̣n tâm trí tinh
thần th́ ở chỗ khác?
Nếu một người là tu sĩ, nếu
họ không phải lo về cơm ăn áo mặc, mà
họ cũng không lo t́m kiếm Thiên Chúa và những sự
thuộc về Thiên Chúa, th́ cuộc đời họ có ư
nghĩa ǵ? th́ họ đi tu, sống đời dâng
hiến để làm ǵ? nếu như vậy th́ c̣n tệ
hơn cả một người ngoài đời!
Chúa Giêsu trách người ta không tin tưởng
vào Thiên Chúa khi họ qúa lo về thân xác, khi họ không chú ư
và t́m kiếm điều quan trọng và cần thiết.
Tôi, ngày hôm nay, có phạm vào lỗi lầm mà Chúa đă trách
người xưa không?
Tôi thực sự đă không tin tưởng vào
Thiên Chúa nếu tôi đă không chấp nhận:
· con người của tôi như hồng
ân Chúa ban, với thân xác h́nh dáng dung mạo, cũng như
giới hạn về khả năng thể lư hay tinh
thần;
· nguồn gốc của tôi, thành phần
gia đ́nh của tôi: ông bà cha mẹ anh chị em và ngay
cả họ hàng;
· môi trường sống như cộng
đoàn ḍng tu, cộng đoàn giáo xứ, địa
phận, đất nước;
· tôi là người, với những
thử thách và cám dỗ trong cuộc sống.
Tâm sự
Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa
đối với ḿnh, để một khi cảm
nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh, chúng ta có thể phó
thác tương lai đời ḿnh cho Thiên Chúa, và như
vậy chúng ta sẽ sống trong b́nh an hạnh phúc, v́
được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.
Khung cảnh
Như thể ḿnh hiện diện trong buổi
chiều đó trên đồi Canvê, nh́n Chúa chết thê
thảm.
Ơn xin
Xin cho ḿnh ơn nhận rơ đâu là giá trị
đích thực của con người và của đời
người, ơn chọn Thiên Chúa trên tất cả và có
thái độ thanh thoát với tạo vật.
Điểm
Con người được sinh ra để
làm ǵ? Đâu là cứu cánh của con người? Tại
sao con người phải đau khổ nhiều như
vậy?
Có những luận thuyết cho rằng:
· con người t́nh cờ hiện
hữu, đời sống con người chẳng có ư
nghĩa ǵ;
· con người chỉ là vật chất
tiến hóa, chết là hết;
· con người là tṛ chơi của
Tạo Hóa “Con Tạo đành hanh,” nếu làm hài ḷng Ngài th́
hạnh phúc c̣n nếu làm mất ḷng Ngài th́ đau khổ.
Mặc khải Kitô giáo cho chúng ta biết: Thiên Chúa
tạo dựng con người để con người
được sống và sống hạnh phúc vĩnh
cửu với Thiên Chúa. Thiên Chúa không hề muốn con
người đau khổ, đau khổ là do con
người mà ra!
Tôi có tin điều đă được mặc
khải không?
Con người được tạo dựng
cuối cùng. Thiên Chúa đă tạo dựng vạn sự
vạn vật để phục vụ con người,
nhằm giúp con người đến với Thiên
Chúa. Tiền bạc
danh vọng chức quyền, không làm con người
hạnh phúc! “Dù ai giầu ruộng sâu trái núi, đụn lúa
kho tiền, bất qúa cũng thủ tài chi lỗ.”
Thái độ của con người phải
như thế nào trong tương quan với Thiên Chúa và
tạo vật?
Nếu Thiên Chúa là cứu cánh và cùng đích của
con người, th́ con người phải đặt Thiên
Chúa lên trên hết, và phải chọn những ǵ thuộc
về Thiên Chúa ưu tiên trên những sự khác: lấy
Thiên Chúa và tương quan với Ngài là ưu tiên một,
luôn t́m kiếm và lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.
Nếu tạo vật chỉ là phương
tiện, th́ ta chỉ được dùng tạo vật
trong mức độ nó giúp ta đến với Thiên Chúa,
và phải bỏ nó khi nó ngăn đường cản
lối. Như vậy, nếu điều ǵ giúp tôi làm vinh
danh Chúa hơn th́ tôi làm, c̣n nếu điều ǵ “làm vinh danh
Chúa” ngang nhau th́ sao cũng được dù đó là nghèo khó
hay giầu sang, bị sỉ nhục khinh chê hay
được trọng vọng vinh dự, sống lâu hay
chết yểu, thông minh hay ngu dốt, v.v.!
B́nh tâm, không chỉ là không muốn điều này
hơn điều kia khi chúng làm vinh danh Chúa ngang nhau,
nhưng chủ yếu là chọn Thiên Chúa và ư
định của Ngài trên tất cả ngay cả
trong trường hợp những điều đó trái ư
ḿnh.
Tâm sự
Sau mỗi điểm, hăy nói chuyện thân thưa
với Chúa dựa theo hiện trạng của ḿnh, xin Chúa
cho ḿnh thấy rơ Chúa mới đáng là tất cả của
ḿnh, và tạo vật chỉ là phương tiện,
để ḿnh không qúa quyến luyến nó và không bị
lầm lẫn trong từng hành vi chọn lựa của
ḿnh trong cuộc sống mỗi ngày.
Khung cảnh
Như trong bài 21.
Ơn xin
Xin được ơn cảm nghiệm t́nh yêu
Thiên Chúa đối với ḿnh, nhờ đó ḿnh b́nh tâm và
tin tưởng phó thác đời ḿnh cho Thiên Chúa, hầu
được b́nh an thư thái hạnh phúc.
Điểm
· Dừng lại những chỗ trong
những bài trước ḿnh đă cảm nghiệm
được ít nhiều an ủi, t́nh cảm thiêng liêng,
hay hiểu biết, để cảm nghiệm sâu hơn
nữa;
· Dừng lại những chỗ trong
những bài trước ḿnh đă bị sầu khổ,
để hiểu ḿnh hơn
Tâm sự
Nói với Chúa như ḿnh thấy về ḿnh và
những ơn ḿnh nhận được.
Những bài cầu nguyện được
chỉ dẫn kỹ lưỡng đầu tiên trong sách
Linh Thao của thánh Inhaxiô, là những bài về tội:
về ba tội, về tội tôi, và về hỏa ngục.
Vào thời gian khởi đầu giúp đỡ
các linh hồn, thánh Inhaxiô giúp Linh Thao cho riêng từng
người một, và tùy người tập Linh Thao
đạt yêu cầu của tuần thứ nhất mau hay
chậm mà người đó sẽ qua tuần thứ hai.
Tôi là ai? Tôi là ai đối với Thiên Chúa và tha
nhân? Mục đích và yêu cầu của những bài cầu
nguyện về tội là ǵ? Như thế nào th́
được coi là đạt yêu cầu của tuần
thứ nhất này?
Tôi là một tội nhân nhưng được
Thiên Chúa yêu thương vô cùng! Chúng ta sẽ xét về hai
phương diện: trí và tâm.
Làm sao để mỗi người thấy
sự xấu xa ác hại của tội và nhận biết
thực sự rằng ḿnh là tội nhân.
Nhận biết rơ về chính ḿnh và thân phận
hèn yếu của ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có
người cho rằng ḿnh không có tội, ḿnh chẳng
phạm tội ǵ! Có người cũng cho rằng ḿnh là
một tội nhân, nhưng ai mà không phạm tội,
bản tính[16] con
người mà?!
Nếu người nào suy nghĩ như vậy,
th́ họ sai lầm! Tội là hành vi tự do của con
người, tôi cố t́nh làm điều
tôi thấy tôi không nên làm và không
được phép làm.
Chính hành vi tự do “cố t́nh làm điều tôi
không được phép làm,” đă làm biến dạng con
người tôi, khiến tôi không c̣n đẹp như
trước nữa, khiến tôi không c̣n dễ thương
và đáng yêu như trước nữa. Do phạm tội,
tôi đă làm mất phẩm giá con người ḿnh, và làm tôi
“xấu như qủy.”
Tội không phải là thực tại ngoài ḿnh,
nhưng do ḿnh mà ra, là chọn lựa tự do của ḿnh.
T́nh trạng tội là hậu qủa chọn lựa cố
t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm
thành.
Thiên Chúa muốn con người luôn sống yêu
thương, để mỗi ngày một đẹp
hơn, dễ thương hơn và tự do hạnh phúc
hơn. Không làm theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những
ǵ lương tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không
làm theo ư Thiên Chúa.
Tội là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không
phải chỉ là không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc
phạm đến Thiên Chúa, không tin rằng Thiên
Chúa yêu thương ḿnh và muốn làm những điều
tốt lành cho ḿnh.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là
tội nhân (Rm 5:8). Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa
đối với ḿnh và ao ước trở về với
Ngài, là yêu cầu mà mỗi người làm Linh Thao phải
đạt được trong tuần thứ nhất.
Tội là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu
thương thuận phục Thiên Chúa nữa.
Hai người yêu nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau,
họ không muốn làm trái ư nhau; chỉ một hành vi làm
người kia buồn, là họ đă lo lắng và
muốn chuộc lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ
là xúc phạm nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ
cảm thấy tội ḿnh thực nặng nề và
muốn trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận
Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu
thương nên Ngài luôn trông chờ chúng ta trở lại với
Người, và Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta
khi chúng ta thống hối.
Những bài cầu nguyện về tội không
nhằm làm chúng ta bị tê liệt hay bị dằn vặt
hoặc mặc cảm, nhưng để giúp chúng ta
thấy được t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa khi
Ngài tha thứ tội lỗi cho chúng ta.
Đứng trước t́nh yêu vô bờ của
Thiên Chúa và thấy ḿnh tội lỗi thấp hèn như
vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ?
Thái độ của chúng ta là sám hối xin Thiên
Chúa thứ tha, và ao ước khao khát bắt đầu
một đời sống mới với Thiên Chúa.
Khao khát yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha
tội lỗi, ao ước bắt đầu một
đời sống mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của
một người thống hối thật sự.
Có nhiều đoạn Kinh Thánh có thể dùng
để cầu nguyện trong tuần thứ nhất này,
ở đây chỉ xin liệt kê một vài bản văn:
Tội Adam và Eva (St 3:1tt);
Tội Cain (St 4:1-16);
Dân Do-thái thờ ḅ vàng (Xh 32);
Dân Do-thái vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh
15:22-17:7);
Bất công (Am 8:4-10);
Israel bất trung (Gr 3:1-4:4);
Tội dân Do-thái (Br 1:15-3:8);
Tội dân ngoại (Rm 1:18-32);
Không yêu thương là tội (Mt 25:31-46);
Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt);
Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);
Tôi là tội nhân (I Ga 1:8-2:11);
Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);
Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50);
Lời nguyện thống hối (Tv 51/50);
Thiên Chúa là cha nhân từ (Lc 15:11-24).
Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói
chuyện thân thưa với Ngài như một người
bạn với một người bạn, như tṛ
đối với thầy, như tôi tớ đối
với chủ, như người con đối với cha
ḿnh, và như một tạo vật đối với Thiên
Chúa.
Những bước cầu nguyện
được tŕnh bày dưới đây, nhằm giúp
người ta dễ dàng cầu nguyện hơn; nhưng
một khi gặp gỡ được Thiên Chúa rồi, th́
những bước cầu nguyện không c̣n cần
thiết nữa.
Để nói chuyện với ai, cần họ
hiện diện với ḿnh một cách nào đó; cũng
vậy, để nói chuyện với Thiên Chúa, cần ư
thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n
xem, yêu thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện
diện với chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy
về phương diện con người, chúng ta vẫn
cần ư thức Ngài hiện diện để có thể
nói chuyện với Ngài.
Khó có thể nói chuyện thân t́nh với ai,
nếu người đó đang thù hận với họ.
Cũng tương tự như vậy, chúng ta không thể
gặp gỡ nói chuyện với Thiên Chúa, nếu chúng ta
đang ở trong t́nh trạng thù nghịch với Ngài.
Trước khi cầu nguyện, chúng ta hăy xin
Thánh Thần tẩy luyện thánh hóa con người chúng ta,
để chúng ta có thể gặp gỡ thân t́nh với Ngài.
Nếu chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư
tới lời nói của người đang nói chuyện
với ḿnh, th́ không thể nói chuyện thân mật với
người đó được. Cũng tương
tự như vậy, nếu chúng ta không đặt Thiên Chúa
lên trên hết, nếu chúng ta không gạt bỏ mọi
vướng bận, th́ chúng ta cũng không thể nói
chuyện thân mật với Ngài được.
Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi
chia trí đến trong đầu chúng ta, và để
hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.
Để gặp một nhân vật quan trọng,
chúng ta phải xin gặp, và nếu được ưng
thuận chúng ta sẽ được hẹn giờ. Không
phải bất cứ lúc nào ḿnh muốn, đều có
thể gặp được họ.
Cũng tương tự như vậy, gặp
gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà chúng ta
cần ư thức để trân trọng. Chỉ có
điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ ḿnh v́ Ngài
yêu thương ḿnh; tuy vậy, được gặp
gỡ Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một hồng ân
đặc biệt.
Trí tưởng tượng rất quan trọng
đối với con người. Phần lớn hành vi
phạm tội của chúng ta đều có sự đóng
góp của trí tưởng tượng. Tương tự
như vậy, để nên thánh, chúng ta cũng dùng trí
tưởng tượng. Thân xác cũng góp phần giúp chúng
ta nên thánh, như nó đă góp phần trong hành vi tội
của chúng ta.
H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và đặt
ḿnh trong bối cảnh và trường hợp đó, giúp
chúng ta dễ cầu nguyện hơn.
Mỗi bài cầu nguyện đều có một
yêu cầu cần đạt được, đó
thường là “ơn xin” của bài cầu nguyện.
Ở tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa
cho chúng ta hiểu biết sâu xa về tội và những tác
hại của tội, cho chúng ta nhận biết ḿnh là
tội nhân và ơn được trở về với
Người.
Ở tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho
chúng ta được hiểu Ngôi Lời Nhập Thể
hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.
Ở tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin
Thiên Chúa cho chúng ta được đồng h́nh
đồng dạng với Ngài; cụ thể trong tuần
ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được chia sẻ với
Ngài trong đau khổ và sỉ nhục, được
thông phần với Ngài trong cuộc thống khổ; và
trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho được chia
sẻ niềm vui và hân hoan của Chúa Phục Sinh.
Mỗi bài cầu nguyện có một hay nhiều
điểm cầu nguyện. Điểm cầu nguyện
là những gợi ư, nhằm giúp ḿnh có chất liệu
để suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Tuy
mỗi bài có thể có nhiều điểm cầu
nguyện, nhưng mỗi người chỉ dùng một
số điểm ḿnh thấy ích lợi, trừ phi
người hướng dẫn nói khác trong trường
hợp cụ thể.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Thiên
Chúa, khi đối diện với Thiên Chúa và biết rơ
về ḿnh hơn.
Tâm sự là phần chính của bài cầu
nguyện, dù người hướng dẫn chỉ
nhắc một vài câu về điều này.
Nhận định thiêng liêng rất cần
thiết để tiến bộ trong đời sống
tinh thần. Gần cuối sách Linh Thao, thánh Inhaxiô viết
hai bộ quy luật nhận định các thần,
một dành cho tuần thứ nhất và một cho tuần
thứ hai.
Thiên Chúa tạo dựng con người để
con người được sống hạnh phúc với
Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con
người, Ngài không bao giờ muốn con người
phạm tội[17] dù
Ngài ban cho con người được tự do.
Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc không
chỉ ở đời sau nhưng ngay cả ở
đời này nữa; Ngài không chỉ muốn con
người hạnh phúc trong cầu nguyện mà c̣n cả
trong cuộc sống thường ngày nữa.
Thiên Chúa muốn con người cảm nghiệm
hạnh phúc khi sống đặc biệt với Ngài.
Cụ thể trong cầu nguyện, Ngài muốn con
người được b́nh an thư thái,
được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.
Các thần lành là các vị sống trong t́nh yêu
của Thiên Chúa, các ngài sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các
ngài cũng muốn con người sống trong t́nh yêu và
hạnh phúc như các ngài.
Thần dữ là các thiên thần kiêu ngạo
chống đối Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống
hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa,
thần dữ c̣n t́m mọi cách để tôi xa ĺa và
chống đối Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc, trong
cuộc sống thường ngày và đặc biệt trong
giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi
được b́nh an thư thái trong cuộc sống và trong
giờ cầu nguyện.
An ủi là t́nh trạng b́nh
thường trong giờ cầu nguyện nếu
chúng ta sống tương quan tốt với Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết: “Gọi là an ủi khi trong tâm
hồn có một thúc đẩy nội tâm, làm linh hồn
cảm thấy bùng cháy lửa yêu mến Tạo Hóa và Chúa
ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy không c̣n có thể
yêu mến bất cứ tạo vật nào trên mặt
đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong Đấng
Tạo Hóa mà thôi.
Tương tự, khi linh hồn chảy nước
mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm nghiệm
tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm cuộc
thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm những
sự khác hướng về việc phụng sự và
ngợi khen Thiên Chúa.
Sau cùng, gọi là an ủi khi linh hồn cảm
nghiệm sự gia tăng đức cậy đức tin
và đức mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời
gọi và lôi kéo đến những sự trên trời và
phần rỗi của linh hồn, làm linh hồn cảm thấy
thư thái và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 316).
Phần lớn khi được an ủi là do
thần lành hướng dẫn[18] (LT
318), và nếu khi xét gẫm ḿnh đă nhận ra đó là
ơn Chúa th́ hăy tạ ơn Chúa.
Sầu khổ là do tác động của thần
dữ (LT 318).
Thánh Inhaxiô viết: “Gọi là sầu khổ
tất cả những ǵ trái ngược với quy tắc
thứ ba. Chẳng hạn, sự tối tăm trong tâm
hồn, xao xuyến bên trong, thúc đẩy về những
ǵ thấp hèn và phàm tục, bất an trước những
xáo động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng,
trông cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy
lười biếng, khô nhạt, buồn rầu và như
bị ĺa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 317).
V́ sầu khổ là do tác động của
thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó th́ không thể
đến với Thiên Chúa được; thế nên “chúng
ta luôn luôn làm ngược lại điều ác
quỷ hay thần dữ muốn” (LT 351).
Nếu thần dữ muốn chúng ta bỏ
cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi quyết
định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm
ngược lại điều thần dữ muốn,
nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện
hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái
độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ
bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi
mở lương tâm với những người
đạo đức (LT 326).
Nếu nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không
được tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về
những vướng bận hay lệch lạc nào đó,
hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó
với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải lo
thống hối và hoán cải (LT 321bc).
Khung cảnh
Như thể thấy Đức Giêsu bị
đánh đ̣n, Ngài cảm thấy rất đau.
Người ta đă hành hạ và cố t́nh làm Ngài đau
khổ ...
Ơn xin
Xin cho ḿnh ơn nhận biết bản chất
của tội, và ơn xấu hổ ngượng ngùng v́
bao nhiêu tội ḿnh đă phạm.
Điểm
Thiên thần được tạo dựng trong
ân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng có một số thiên
thần không tùng phục Thiên Chúa, họ muốn độc
lập với Thiên Chúa, họ muốn thành tuyệt
đối và tự do tuyệt đối, họ muốn
bằng Thiên Chúa, họ coi Thiên Chúa là đối thủ
của họ: đó là kiêu ngạo và phản loạn, và
như thế là tội.
Các thiên thần ư thức việc họ làm,
một cách tự do và không hối tiếc về việc
họ làm, họ chọn điều họ đă chọn
một cách dứt khoát. Ngay “bây giờ,” ác quỷ cũng
không hối hận việc họ đă làm, và họ
vẫn đang tiếp tục chọn điều họ
đă chọn “ngày xưa.”
Ngày nay, ác quỷ vẫn thù ghét và chống
đối Thiên Chúa như ngày xưa, và hậu qủa là
hỏa ngục. Tội và hỏa ngục[19] liên
hệ với nhau, đi liền với nhau như thể
bóng với h́nh, không thể tách khỏi nhau được.
Tội, không chỉ là không vâng lời khi ăn
trái bị cấm, mà chủ yếu là không tin vào Thiên Chúa
nữa, tin vào ác quỷ hơn tin vào Thiên Chúa (St 3:4-5), không
tin Thiên Chúa yêu ḿnh và muốn điều tốt cho ḿnh.
Không tin vào Thiên Chúa, không trông cậy và chờ
đợi ǵ nơi Thiên Chúa, từ chối t́nh yêu Thiên Chúa
dành cho ḿnh, đó là tội.
Khi con người không tin vào Thiên Chúa, th́ con
người cũng không thể tin vào nhau, và nh́n nhau với
cặp mắt nghi kỵ (St 3:12-13). “Không Trời ai sống
được với ai!” Adam trách Evà, Evà đổ tội
cho con rắn.
Sau khi phạm tội, con người muốn
trốn Thiên Chúa; không muốn nhận sự thật về
chính ḿnh, đổ tội cho người khác; t́m lư do
biện minh.
Nếu ai đó chỉ phạm một tội
thôi, một cách ư thức tự do và dứt khoát, không
hối hận cho đến giờ chết, th́
người đó phải sa hỏa ngục, và đáng sa
hỏa ngục.
Thực ra khi phạm tội như vậy, dù
người đó chưa sa “hỏa ngục,” nhưng
họ cũng đang ở hỏa ngục rồi, nghĩa
là, người đó đang bất hạnh và không muốn
thoát khỏi t́nh trạng đó, dù Thiên Chúa đă bao lần
đề nghị, thúc đẩy người đó
trở lại với Ngài.
Thiên Chúa không muốn con người đau
khổ, Ngài muốn con người hạnh phúc. Chính con
người tạo hỏa ngục cho ḿnh, cho dù Thánh
Thần Thiên Chúa đă bao lần thúc đẩy mời
gọi họ trở lại với Thiên Chúa.
Tâm sự
Nh́n Chúa Giêsu chết trên thập giá, t́m hỏi
tại sao Ngài đă nhập thể, sinh ra nghèo hèn, sống
đơn sơ đạm bạc, rao giảng trong
cảnh nghèo, và cuối cùng chết ô nhục trên thập
giá như vậy, rồi xem tôi đă làm ǵ cho Chúa, tôi
đang làm ǵ cho Chúa và tôi sẽ làm ǵ cho Chúa?
Hăy nói với Chúa những ǵ ḿnh phải thân
thưa với Chúa.
Khung cảnh
“Tinh thần th́ lanh lẹ nhưng xác thịt th́
yếu nhược” (Mc 14:38). Nh́n vào chính con người
ḿnh và ư thức rơ: tôi là tinh thần với thể xác, xác
thịt có những đ̣i hỏi của xác thịt, và có
nhiều lúc tôi phải rất vất vả để
vượt qua.
Ơn xin
Khao khát xin ơn cảm nhận rơ ḿnh là tội
nhân, và ơn cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô
cùng, để ḿnh trở lại với Chúa và thuộc
trọn về Chúa.
Điểm
Theo sát chỉ dẫn của thánh Inhaxiô để
cầu nguyện bài này, và đây là bài cầu nguyện
phải cầu nguyện đủ năm điểm
như thánh Inhaxiô chỉ, đặc biệt là điểm
thứ năm.
Tâm sự
Thân thưa với Thiên Chúa T́nh Yêu, Đấng yêu
thương tha thứ mọi lỗi lầm cho chúng ta.
Khung cảnh
Như thể hiện diện trên đồi Calvê
buổi chiều hôm đó, nh́n Chúa chết thảm khốc
cho tôi v́ yêu tôi.
Ơn xin
Khao khát xin ơn nhận rơ về con người
thực của ḿnh, ơn cảm nghiệm Thiên Chúa yêu
thương ḿnh, ơn trở lại và khao khát thuộc
trọn về Thiên Chúa.
Điểm và Tâm sự
Như thánh Inhaxiô chỉ trong LT 62-63.
Lưu ư về quyến luyến lệch lạc:
Quyến luyến lệch lạc là gắn bó
với một tạo vật nào đó không như Thiên Chúa
muốn, nó có thể dẫn chúng ta tới tội nếu
chúng ta dứt khoát từ bỏ nó, chẳng hạn ḿnh
gắn bó qúa với ai đó, vật ǵ đó, địa
sở, chức vị hay nghề nghiệp nào đó, v.v.
Khung cảnh
Như thể hiện diện trong ngày Chúa quang lâm
cùng các thiên thần, thấy Chúa phân tách kẻ dữ
người lành như thể người ta phân tách dê
khỏi chiên.
Ơn xin
Khiêm tốn nhận thực rằng ḿnh là tội
nhân, đă không sống giống Thiên Chúa, không sống
như Thiên Chúa muốn. Xin cho ḿnh ḷng thống hối, khao
khát bắt đầu một đời sống mới,
sống như Thiên Chúa muốn, sống như những
người con giống Cha của ḿnh là Thiên Chúa.
Điểm
Thánh Gioan tông đồ diễn tả “Thiên Chúa là
T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Thiên Chúa là Đấng chỉ biết yêu,
hay đúng hơn: Ngài làm tất cả v́ t́nh yêu. Thiên Chúa
luôn luôn yêu thương con người, Ngài muốn mọi
người được cứu độ và nhận
biết chân lư (1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn tất cả
mọi người được hạnh phúc, ở
đời sau và ngay cả ở đời này nữa.
Vậy giải thích làm sao “Thiên Chúa là t́nh yêu,” khi
Ngài tạo hỏa ngục để phạt các thần
dữ và con người không phục tùng Người? Không
loại trừ hỏa ngục là nơi để các
thần dữ và bè lũ của nó phải đau khổ
ở trong đó; nhưng nếu chỉ hiểu hỏa
ngục là một ngục đầy lửa để
phạt các thiên thần dữ, th́ hiểu làm sao khi
“đối thủ của anh em là ác quỷ như sư
tử rống, nó lượn ŕnh t́m sao nuốt
được một ai” (1Pr 5:8). Nếu ác quỷ là thiêng
liêng, th́ lửa hữu h́nh đâu có tác động ǵ?
Hơn nữa, nếu Thiên Chúa ở khắp mọi nơi,
th́ trong hỏa ngục Thiên Chúa cũng hiện diện,
phải chăng hỏa ngục cũng đốt Thiên Chúa?
Hỏa ngục c̣n được hiểu như một
t́nh trạng đau khổ bất hạnh cho một ngôi
vị, dù đó là thiên thần hay con người chống
đối Thiên Chúa hay phủ nhận t́nh yêu của Ngài.
Cũng tương tự hai người thù ghét nhau th́
bất hạnh và đau khổ khi họ ở gần nhau,
những người thù ghét Thiên Chúa cảm thấy đau
khổ bất hạnh v́ Thiên Chúa luôn luôn hiện diện
ở khắp nơi. Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục
để phạt các thiên thần dữ và con người
phản bội, chính họ tạo ra hỏa ngục cho
chính họ.
Khi Phaolô trên đường đi Đama t́m
bắt các kitô-hữu để đem về Giêrusalem,
dọc đường ông bị té ngựa, và có tiếng
từ trời “Sa-ul, Sa-ul, sao ngươi bắt bớ Ta?”
Sa-ul hỏi: “Thưa Ngài, Ngài là ai?;” Tiếng đáp
rằng: “Ta là Giêsu, ngươi đang t́m bắt” (Cv 9:5).
Phaolô lúc đó đâu có t́m bắt đức Giêsu, ông
đang t́m bắt các kitô-hữu, tức những
người tin vào đức Giêsu thôi; nhưng ở câu
trả lời, đức Giêsu đă đồng hóa ḿnh
với các kitô-hữu đang bị bắt bớ.
C̣n trong tŕnh thuật của Mt 25:31-46 này,
đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những kẻ
khốn nạn nghèo hèn nhất, những người
cần chúng ta giúp đỡ nhất (Mt 25:40.45). Ai làm cho
một trong những kẻ nghèo hèn này, là làm cho chính Chúa Giêsu.
Thiên Chúa không phán xét dựa vào công việc
người đó làm, hay chức vụ người đó
giữ, hay nơi chốn người đó ở, hay
địa vị người đó có; nhưng Ngài phán xét
con người dựa vào ḷng yêu thương người
đó có đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Thiên Chúa phán xét, xem tôi có yêu thương tha nhân,
những người khốn cùng cần đến sự
giúp đỡ của tôi không?
Những người cần đến tôi là ai?
· Trong dụ ngôn người Samaritanô nhân
hậu, là kẻ bị đánh nằm dọc
đường;
· Trong cộng đoàn của tôi, là
những người cảm thấy bị cô độc
bỏ rơi, là những người có ác cảm với
tôi mà họ không vượt thắng được chính
họ, là những người đang bị khủng
hoảng;
· Trong môi trường của tôi, là
những kẻ cần tới sự giúp đỡ của
tôi để phát triển, để trưởng thành
hơn, để hạnh phúc hơn.
Đức Giêsu, trong buổi tối cuối cùng,
Ngài đă nói: “các con hăy yêu thương nhau, như Thầy
đă yêu thương các con” (Ga 13:34), “người ta cứ
dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy,
là các con yêu thương nhau” (Ga 13:35). Mười giới
răn của Thiên Chúa tóm lại trong hai điều
“trước kính mến Chúa trên hết mọi sự, sau là
yêu anh em như ḿnh ta vậy,” nói tóm lại, mười
giới răn của Thiên Chúa cũng chỉ tóm lại
trong một giới răn yêu thương mà thôi.
Ai yêu thương th́ nên giống Thiên Chúa, ai thù
ghét anh em th́ nên giống ác quỷ. Thiên Chúa là T́nh Yêu, là
Đấng chỉ biết yêu thương; và ai yêu
thương, th́ là con cái Thiên Chúa, v́ họ giống Thiên
Chúa. Ai nói ḿnh yêu Thiên Chúa, mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ
nói dối (1Ga 4:20).
Tâm sự
Xin Chúa cho ḿnh nhận ra con người thực
của ḿnh, đă bao phen hành xử không giống Thiên Chúa là
Cha của ḿnh. Xin cho ḿnh ḷng ăn năn thống hối
thật, để từ đây ḿnh yêu Thiên Chúa hơn và yêu
anh em hơn, để ḿnh được giống Thiên Chúa
hơn và hạnh phúc hơn.
Khung cảnh
Nhớ lại ngày khấn long trọng nhất
của ḿnh, và tâm trạng thái độ sống đời
dâng hiến của ḿnh lúc bấy giờ.
Ơn xin
Xin cho ḿnh nhận ra con người thật
của ḿnh: một người không chung thủy giữ
lời ḿnh đă khấn hứa với Thiên Chúa; xin cho ḿnh
cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, Ngài
đang mời gọi ḿnh trở lại với Ngài, và xin
cho ḿnh ơn thống hối trở lại với Ngài
để sống một đời sống mới
thuộc trọn về Thiên Chúa hơn.
Điểm
Khi hai người yêu nhau, họ cho nhau những
ǵ họ có; và tột đỉnh, họ cho nhau chính con
người họ và cuộc đời nhau.
Sống đời dâng hiến, chúng ta dâng
tặng cái ǵ và cho ai? Chúng ta dâng tặng chính con
người của chúng ta, đời sống của chúng
ta cho Thiên Chúa một cách hoàn toàn ư thức và tự do.
Chúng ta dâng hiến đời chúng ta cho Thiên Chúa
bằng khấn ba lời khấn khó nghèo, trinh khiết và
vâng lời; chúng ta tự nguyện chết cho chính ḿnh và
với thế gian khi thề hứa những lời
khấn trên.
Dâng hiến hàm chứa tự nguyện. Tôi
sống đời sống dâng hiến với thái
độ tự do tự hiến hay như một bắt
buộc?
Ai cũng có quyền sở hữu và sử
dụng của cải, v́ đây là quyền tự nhiên
của con người.
Với lời khấn thanh bần, chúng ta tự
nguyện muốn bắt chước ChúaGiêsu, tự do
với tất cả của cải vật chất.
Chúng ta đă sống điều chúng ta khấn
hứa thế nào? Phải chăng mỗi năm, chúng ta
lại chẳng lấy lại một số điều
chúng ta đă tự nguyện bỏ? Mỗi dịp về
nhà, mỗi khi người thân quen lên thăm, người
này cho người kia cho, tôi đă từ bỏ hay đă
giữ lại để dùng cho chính bản thân ḿnh? hay
đă dùng theo ư riêng ḿnh dù không chỉ cho riêng ḿnh?
Tại sao tôi lấy lại một cách không chính
đáng điều mà tôi đă tự nguyện bỏ, mà
chính sự lấy lại này làm tôi không được
tự do và trở thành nhỏ nhen ích kỷ?
Ai cũng có quyền yêu và được yêu,
được có một gia đ́nh xứng hợp.
Là tu sĩ với lời khấn trinh khiết,
chúng ta tự nguyện từ bỏ quyền yêu riêng
một người và từ bỏ quyền lập gia
đ́nh, trong đó vợ chồng con cái nâng đỡ nhau
để sống triển nở và hạnh phúc hơn.
Không ai bắt chúng ta làm điều đó; sở dĩ chúng
ta làm điều đó, bởi v́ mỗi người chúng
ta cảm nhận một lời mời gọi để
sống riêng với Chúa và thuộc trọn về Ngài, và
chúng ta đă tự nguyện đáp lời.
Và chúng ta đă sống lời đoan nguyện
của chúng ta thế nào? Tại sao với thời gian,
chúng ta đă t́m và lấy lại điều ḿnh đă
tự do từ bỏ? Tại sao tôi đi t́m t́nh cảm
của người này người kia? Tại sao tôi
muốn được người này yêu người kia
thương? Tại sao tôi đi t́m những điều
đó, khi chính tôi đă tự nguyện từ bỏ lúc tôi
hoàn toàn có quyền được có, và tôi có dư khả
năng để có, bởi v́ lúc đó đă có bao
người thương yêu tôi? Lúc đó, tôi đă quảng
đại vượt lên chính con người của ḿnh và
đă thấy ḿnh trưởng thành hơn, cao thượng
hơn; vậy tại sao bây giờ tôi lại cư xử
như vậy, tại sao tôi lại sống như vậy,
khi điều này làm tôi trở thành kẻ lường
gạt, kẻ nói dối, không trung thực với chính ḿnh
và với người khác?!
Không phải v́ tôi không có khả năng quyết
định về cuộc đời tôi mà tôi khấn
lời khấn vâng phục! Cũng không phải v́ tôi không
có lập trường, không thông minh bằng bề trên mà
tôi khấn vâng phục bề trên. Có thể tôi có lập
trường, và lập trường của tôi c̣n vững
chắc và có lư hơn lập trường của bề
trên, và không chừng một cách tổng quát, tôi c̣n thông minh
hơn cả bề trên nữa, nhưng tôi vẫn khấn
lời khấn vâng phục, bởi v́ tôi muốn hiến
trọn đời tôi cho Chúa, và để Chúa điều
khiển tôi qua bề trên.
Hôm nay tôi đă sống lời khấn vâng
phục thế nào? Tại sao hôm nay tôi lại muốn
bề trên phải theo ư tôi? Tại sao hôm nay tôi “càm ràm” than
trách khi bề trên không làm điều hợp ư ḿnh? Tại
sao tôi c̣n “ngoi ngóp” muốn sống khi chính tôi đă tự
nguyện chết? Tôi đă không nhất quán với chính tôí!
Tại sao tôi nói một đàng qua lời khấn, rồi
tôi lại muốn và làm một điều khác? Quá tệ!
Chúng ta, những người sống dâng hiến
theo cùng một linh đạo, sống cộng đoàn
để nâng đỡ nhau về mọi mặt,
để giúp nhau thuộc trọn về Chúa và phục
vụ tha nhân hữu hiệu hơn. Trên nguyên tắc, chúng
ta đă từ bỏ tất cả và thậm chí
đến cả con người chúng ta, nên chúng ta phải
thương yêu nhau, và trở thành chứng nhân cho Thiên Chúa.
Trên thực tế chúng ta đă sống
đời sống cộng đoàn thế nào, chúng ta đă
sống đời sống chứng tá như thế nào, khi
chúng ta dạy người khác phải sống yêu
thương nhau như Chúa dạy?
Đă đành mỗi người mỗi tính
nết và có những người không hợp tính nết
của nhau, nhưng nếu không sống được
với nhau th́ qủa là “qúa dổm” và phản chứng.
Nếu chúng ta không sống thoải mái được
với nhau, đó là dấu chỉ cho thấy chúng ta
chưa từ bỏ ḿnh thực sự. Người
bạn trong cộng đoàn của chúng ta, là bản thử
nghiệm cho thấy chúng ta đă sống đời
sống dâng hiến thế nào!
Tôi có sống được với người
bạn trong cộng đoàn của tôi không? Tôi có hạnh
phúc thoải mái trong đời sống cộng đoàn
không? Nếu không, e rằng tôi chưa thực sự
sống đời sống dâng hiến!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa khi đă thấy con
người thật của ḿnh, xin Chúa cho ḿnh ao ước
bắt đầu một đời sống mới,
thuộc trọn về Chúa hơn, bằng những hành vi
từ bỏ chính ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh hiện diện với
đức Giêsu và các tông đồ trong biến cố Chúa
làm cho anh mù ngồi bên vệ đường ăn xin,
được sáng.
Ơn xin
Khao khát xin ơn nhận biết ḿnh với
những tật mù “thành kiến” và “tiêu chuẩn là con
người và sự khôn ngoan theo con người,” làm ḿnh
không thấy được sự thật và nét đẹp
của Thiên Chúa và anh em. Xin ơn thống hối và khao khát
thuộc trọn về Thiên Chúa.
Điểm
Đức Giêsu đă làm phép lạ chữa lành
người mù trong ngày sabbat; đối với
người biệt phái, đó là điều không
được phép v́ họ cho rằng như thế là vi
phạm ngày sabbat.
Đầu tiên, họ không muốn tin rằng phép
lạ đó đă thực sự được làm, nên
họ đă gọi cha mẹ người mù tới
để kiểm chứng, và sau khi cha mẹ người
mù xác nhận, họ đành chịu (Ga 9:18-21).
Phải có thái độ và lập trường
nào đối với đức Giêsu đây? Đức
Giêsu là người thuộc về Thiên Chúa hay là
người tội lỗi? Nếu nói đức Giêsu là
người tội lỗi th́ làm sao giải thích
được phép lạ Ngài làm, c̣n nếu nói đức
Giêsu là người của Thiên Chúa th́ làm sao giải thích
việc đức Giêsu không giữ ngày sabbat? (Ga 9:16).
Cuối cùng họ đă thống nhất với
nhau, cho rằng đức Giêsu là người tội
lỗi (Ga 9:24).
Tại sao người biệt phái không thể
nhận ra được rằng đức Giêsu từ
Thiên Chúa mà tới, Ngài là thánh? Phải chăng v́ họ có
thành kiến, v́ họ không khiêm tốn đủ để
nhận ra sự thật, phải chăng họ bị mù
“thiêng liêng?”
Phải chăng cha mẹ người mù không
được anh mù kể lại và không biết
người chữa lành mắt con ḿnh là đức Giêsu khi
họ trả lời biệt phái: “Chúng tôi xác nhận nó là
con của chúng tôi, và nó sinh ra đă mù, c̣n làm sao nó sáng
được th́ xin các ông hỏi nó, nó khôn lớn rồi
và có thể nói năng về ḿnh được” (Ga 9:20-21)?
Cha mẹ nó nói thế v́ sợ người
biệt phái đuổi họ ra khỏi hội
đường (Ga 9:22-23)!
“Kẻ nào chối Ta trước mặt
người đời, th́ con người cũng chối
nó trước mặt Cha Ta, kẻ nào tuyên xưng Ta trước
mặt người đời th́ Con Người cũng
tuyên xưng kẻ ấy trước mặt Cha Ta
Đấng ở trên trời” (Mt 10:32-33). Trong cuộc
sống thường ngày, tôi có khôn như cha mẹ
người mù không? Tôi có dám nói sự thực dù những
bất lợi có thể xảy tới cho tôi không?
Mới thoạt nh́n, chúng ta tưởng anh mù là
người nhu nhược không có lập trường khi
anh ta để cho đức Giêsu nhổ nước
bọt làm bùn xức vào mắt anh ta, và đi rửa
mắt trong ao Siloam! Nhưng thực tế không phải
vậy.
Khi người biệt phái buộc anh ta phải
tuyên bố đức Giêsu là người tội lỗi,
anh ta đă tỏ thái độ dứt khoát và thông minh; không
những thế, anh ta c̣n có thể cho những người
biệt phái thấy rằng họ sai lầm (Ga 9:25-34).
Dễ dạy với Thánh Thần và sẵn sàng
làm những ǵ Thiên Chúa thúc đẩy, sẽ làm một người
trở thành người có lập trường và can
đảm trưởng thành. Tôi có luôn ngoan ngùy với thúc
đẩy của Thánh Thần và thực hiện Ư Thiên Chúa
trong đời tôi không?
Tâm sự
Hăy thân thưa với Chúa như ḿnh thấy
về chính ḿnh: xin Chúa cho ḿnh nhận biết rơ ḿnh có những
tật mù “thiêng liêng,” và xin Chúa giải phóng ḿnh khỏi
những tật mù này, xin cho ḿnh ơn trở về với
Chúa thực sự, để ḿnh được sáng và
nhận ra nét đẹp của Thiên Chúa và của anh em ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện diện với
đức Giêsu và người biệt phái trong bữa
tiệc, và mục kích cung cách cư xử của chị
phụ nữ.
Ơn xin
Ơn cảm nhận ḿnh là tội nhân, ḷng
thống hối mănh liệt trước Thiên Chúa là
Đấng yêu thương ḿnh vô cùng; ơn khao khát trở
về với Chúa thực sự.
Điểm
Nh́n nghe quan sát cung cách hành xử của chị
phụ nữ: khóc lóc nức nở, lấy tóc lau chân
đức Giêsu, hôn chân Ngài.
Tại sao chị phụ nữ này đă làm
như vậy? Hành vi thái độ này diễn tả
điều ǵ trong tâm hồn chị? Nguyên nhân sâu xa thúc
đẩy chị ta hành xử như vậy là ǵ?
Để làm được điều này,
chị đă phải vượt qua ngưỡng cửa
nhà người biệt phái: điều này đ̣i chị
phải rất can đảm, v́ người biệt phái
coi chị là người tội lỗi, và họ không
muốn tiếp xúc với người tội lỗi;
nếu chị bị chặn lại và đuổi ra th́
sao? Tự ái của ḿnh bị xúc phạm th́ sao? Thầy
Giêsu không thông cảm th́ sao? Tại sao chị không chờ
Thầy Giêsu ra khỏi nhà người biệt phái đó,
rồi chị hăy tỏ ḷng thống hối? Và hơn
nữa, thầy Giêsu hiểu ḷng chị mà, tại sao
phải làm vậy? Có bao nhiêu lư do để ngăn cản
chị ta, nhưng tại sao chị ta đă hành xử
như chị ta đă làm, thâm sâu và đáng nói trong hành
động này là ǵ?
Chính Thiên Chúa đang thúc đẩy nơi tâm
hồn của chị, và chị đă làm như ḿnh
được thúc đẩy.
Người biệt phái không nói thành lời
nhưng nói trong ḷng ông ta: “Ông này, nếu qủa thực là
một tiên tri, ắt phải biết người đàn bà
rờ đến ḿnh kia là ai và thuộc hạng nào chứ:
một đứa tội lỗi” (Lc 7:39).
Có lẽ vào địa vị ông, ông sẽ không
cho chị phụ nữ được đụng
chạm vào người ông, v́ chị ta không đáng, v́
chị ta là đứa tội lỗi. Trong câu nói, cho
thấy ông ta coi thường, khinh bỉ chị phụ
nữ này; và v́ đức Giêsu đối xử với
chị phụ nữ này như vậy, nên dường
như ông ta không c̣n coi đức Giêsu là một tiên tri
nữa.
Cái nh́n lệch lạc về con người, ngay
cả đối với người “tội lỗi,”
cũng ngăn cản người ta hiểu đúng về
đức Giêsu và về Thiên Chúa.
Từ đầu, đức Giêsu có vẻ không
bận tâm về sự xuất hiện của chị
phụ nữ, và chúng ta không thấy Ngài phản ứng sao
trước cách đối xử của chị phụ
nữ. Thế nhưng, khi biết ư nghĩ trong ḷng của
người biệt phái, đức Giêsu đă bênh vực
chị phụ nữ, và nhờ đó chúng ta thấy Ngài
đă lưu ư và không bỏ sót một hành vi cử chỉ
nào của chị phụ nữ thống hối này, và
cả những ǵ sâu kín nơi con người của
chị.
Đức Giêsu đă đón nhận chị,
đă chấp nhận con người và cách hành xử cùng
tâm t́nh thái độ của chị. “Chị yêu nhiều nên
được tha nhiều” (Lc 7:47).
Tâm sự
Chị phụ nữ có thể có nhiều tội
hơn tôi, nhưng kể từ giây phút đó, chị đă
đổi đời, không bao giờ chị c̣n trở
lại đường cũ nữa; c̣n tôi, tôi thiếu tâm
t́nh thống hối như chị, tôi chưa ư thức
được về con người tôi như chính chị
đă ư thức về con người chị, và v́ vậy
tôi cứ ́ ạch như con người hiện tại;
xin Chúa ban cho ḿnh ơn biết rơ ḿnh là con người
tội lỗi, và ơn thống hối thực sự,
để từ đây ḿnh không bao giờ làm buồn ḷng
Chúa nữa.
Khung cảnh
Như thấy David mặc áo nhặm ăn chay,
thống hối tội lỗi, xin Chúa tha thứ.
Ơn xin
Xin Chúa cho ḿnh ơn nhận biết ḿnh tội
lỗi, và ơn cảm nhận t́nh Chúa yêu thương,
để ḿnh thống hối thật sự, và khao khát
bắt đầu một đời sống mới
với Chúa.
Điểm và tâm sự
Đọc chậm Thánh Vịnh, dừng lại
suy nghĩ, và cầu nguyện với Chúa như ḿnh
thấy cần.
“Tiếng gọi Vua Đời Tạm giúp chiêm
ngắm đời sống Vua Vĩnh Cửu,” là bài cầu
nguyện nằm giữa tuần nhất và tuần hai. Bài
cầu nguyện này xác định thái độ cần
thiết để có thể cầu nguyện tốt
những bài cầu nguyện tiếp theo sau.
Ơn xin của bài cầu nguyện này: “xin ơn
đừng giả điếc trước lời mời
gọi của Chúa nhưng mau mắn thi thành thánh ư Ngài.”
Dù chúng ta tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu
thương tha thứ tội lỗi và mời gọi chúng
ta cộng tác với Ngài để chinh phục thế gian,
để làm cho con người nhận biết t́nh yêu vô
cùng của Thiên Chúa đối với con người. Chúng
ta có sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của
Thiên Chúa không?
Chọn Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên
tất cả, kết hiệp với thánh ư Thiên Chúa,[21] sẵn
sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài dù
thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ
nhục, là yêu cầu của bài cầu nguyện này.[22]
Yêu cầu của bài Tiếng Gọi Vua Hằng
Sống, được hàm chứa trong nhiều
đoạn Kinh Thánh.
Có thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau
để cầu nguyện:
Lời mời (Lc 5:1-11);
Hăy là thánh (Lv 19:2);
Sứ mạng (Ga 20:21);
Ơn gọi Abraham (St 12:1-9);
Đáp trả trong vâng phục đức tin (St
22:1-10);
Ơn gọi Môsê (Xh 3:1-12);
Ơn gọi Samuel (I Sm 3:1-21);
Ơn gọi Ysaya (Is 6:1-13);
Ơn gọi Yêrêmya (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);
Người tôi tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49; 50; 52);
Ơn gọi Phaolô (Cv 9); v.v.
Cầu nguyện là ư thức sống với Chúa,
cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh, dâng lên Chúa
những tâm t́nh ḿnh có: lời cảm tạ tri ân, lời
tán dương, cảm nghiệm hạnh phúc với Chúa,
lời khẩn cầu khi ư thức ḿnh bất lực, v.v.
Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là
tâm sự. Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng
quan trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan
trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là phần quan
trọng nhất.
Để hướng dẫn người giúp
Linh Thao, thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện
ngắn gọn và trung thực, để giúp người
tập Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ “không
phải sự hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh
hồn, nhưng chính sự cảm nếm bên trong mới
làm thỏa măn linh hồn” (LT 2).
Trong cầu nguyện và đặc biệt trong
tâm sự, chúng ta có thời gian để sống với
Thiên Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta.
Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói cầu nguyện là
giờ phút cảm nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.
Những điểm gợi ư cầu nguyện,
chỉ là những gợi ư, là phương tiện giúp chúng
ta cầu nguyện; nó chỉ có giá trị tương
đối và “rất là tương đối.” Chính v́
thế, chúng ta chỉ dùng những điểm gợi ư
trong mức độ nó giúp chúng ta cầu nguyện, và
chỉ dùng số điểm nào đó như chúng ta
thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả
mọi điểm đă được gợi ư (LT 2.76.228).[23]
Về tư thế khi cầu nguyện, tư
thế nào (ngồi, đứng, qùy, phủ phục, v.v.)
giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́ ḿnh dùng tư thế
đó; Và một khi dùng tư thế đó mà gặp
được Chúa, th́ không nên thay đổi (LT 76).
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa
như một người bạn với một
người bạn, như một người tôi tớ
với chủ ḿnh.
Được coi là tâm sự,
· khi thân thưa với Thiên Chúa về chính
con người và nhu cầu của ḿnh,
· khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên
Chúa,
· khi xin một ơn,
· khi xin tha thứ lỗi lầm,
· khi phó thác công việc hay trọn cả
con người cho Thiên Chúa,
· khi xin dạy bảo hay hướng
dẫn (LT 54.61.109.199.224).
Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu
nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng
giờ để tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.
Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa
bằng cả con người với tất cả tâm t́nh,
là ở lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.
Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy
nghĩ và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện.
Những gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư
để giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và
về Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự
với Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă
thấy hoặc được soi sáng.
“Sau khi cầu nguyện xong, trong khoảng một
khắc, hoặc ngồi hoặc đi đi lại
lại, xem giờ chiêm niệm hoặc suy niệm đă
diễn ra thế nào. Nếu dở, xem đâu là nguyên do, và
một khi đă thấy th́ hối hận và sửa
đổi trong tương lai. Nếu tốt, tạ ơn
Thiên Chúa Chúa chúng ta, và lần khác cứ làm như vậy”
(LT 77).
Mười lăm phút xét gẫm, là 15 phút nhận
định thiêng liêng và cầu nguyện, là những phút
phản tỉnh để biết ḿnh hơn và biết
Thiên Chúa hơn.
Việc xét gẫm rất quan trọng để
giúp ḿnh tiến bộ hơn, chính v́ thế phải làm
rất nghiêm túc.
Có thể có những lúc trong đời, chúng ta
cảm thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều, và cảm
thấy bị cám dỗ nhiều về điều này
hơn điều kia. Tại sao vậy?
Có thể đó là điểm yếu của tôi.
Thánh Inhaxiô viết: “Thần dữ xử sự
như một tướng quân để thắng và
cướp những ǵ nó muốn. Bởi v́, một vị
chỉ huy hoặc thủ lănh của một đạo
quân, sau khi đặt doanh trại và quan sát lực lượng
hay cách bố trí của một thành tŕ, sẽ tấn công
vào điểm yếu nhất.
Cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài
người cũng lượn quanh để quan sát các
nhân đức đối thần, các nhân đức
trụ và luân lư, và nơi nào nó nhận thấy ta yếu
nhất và dễ nguy hiểm nhất cho phần rỗi
đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào
đó để cố hạ ta” (LT 327).
Nếu tôi bị tấn công nhiều ở
điểm nào, có thể đó là điểm yếu
(nhược điểm) nhất của tôi chăng?
Nếu tôi bị tấn công hay bị cám dỗ
dữ dội ở điểm nào đó, có thể tại v́
tôi chưa dứt khoát thái độ ở điểm này,
tại tôi chưa dứt khoát chống trả ác quỷ và
những chước cám dỗ của nó chăng?
Thánh Inhaxiô viết: “Kẻ thù xử sự như
đàn bà, v́ nó yếu khi ta chống trả, và nó mạnh khi
ta buông xuôi. Thực vậy, đặc điểm của
đàn bà khi gây gỗ với đàn ông, là mất can
đảm và chạy trốn khi đàn ông thẳng tay
chống trả. C̣n ngược lại nếu
người đàn ông bắt đầu chạy trốn và
mất can đảm, th́ cơn giận sự trả thù và
sự hung dữ của đàn bà thật lớn và không sao
lường được.
Cũng vậy, đặc điểm của
kẻ thù là yếu nhược và mất can đảm cùng
chạy trốn với những cám dỗ của nó, khi
người tập tành trong đường thiêng liêng
thẳng tay chống trả các chước cám dỗ
của kẻ thù và làm ngược lại với các cám
dỗ. Nhưng trái lại nếu kẻ bắt đầu
tập tành trên đường nhân đức lại
sợ hăi và mất can đảm trước cuộc
tấn công của cám dỗ, th́ trên mặt đất này
không có con vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của
bản tính loài người nhằm theo đuổi ư
hướng xấu xa và vô cùng đồi tệä của nó”
(LT 325).
Khi tôi bị cám dỗ nhiều hoặc mạnh,
cũng có thể Thiên Chúa để tôi bị cám dỗ
nhiều, để tôi có nhiều dịp lập công và
trưởng thành cùng cứng cáp hơn chăng (LT
33-34.322b); nhưng có thể đó là dấu chỉ cho
thấy ḷng mến của tôi đối với Thiên Chúa
đă bị giảm sút chăng?
Chúng ta hăy xem t́nh yêu của ḿnh đối với
Thiên Chúa như thế nào.
Yêu là hành vi tự do. Sống theo bản năng,
không được lư trí hướng dẫn, th́ không
phải là hành vi tự do, và như vậy không là yêu
thương.
Khao khát nên thánh,[24] ao
ước thuộc trọn về Thiên Chúa, là hành vi t́nh yêu.
Cứ xem chúng ta khao khát thuộc về Chúa, khao
khát nên thánh đến mức độ nào, để chúng
ta biết chúng ta yêu Chúa như thế nào. Nếu khi xét
gẫm mà chúng ta nhận thấy chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu
đối với Thiên Chúa hay thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa,
th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.
Xin được yêu Chúa, đó là
điều chúng ta cần khiêm tốn nài xin liên lỉ (Xem
LT 234).
Từ ngữ “T́nh yêu” là từ ngữ trừu
tượng. Dù là từ ngữ trừu tượng, nó
vẫn diễn tả một thực tại vô cùng phong phú
được biểu lộ bằng nhiều hành vi
cụ thể.
Yêu Thiên Chúa, là sẵn sàng để tùy Ngài
muốn xếp đặt như thế nào về con
người và cuộc đời của ḿnh cũng
được. Sẵn sàng dâng tất cả cho
Chúa, để Chúa hoàn toàn tự do quyết định.
Yêu Thiên Chúa, là chọn Thiên Chúa và những ǵ
thuộc về Thiên Chúa trên hết. Chẳng hạn trong
thời gian Linh Thao, dành tất cả thời giờ cho
Thiên Chúa và cụ thể là cầu nguyện; luôn sống
với ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh và yêu
thương ḿnh, luôn sống trong tâm t́nh của chủ
đề ḿnh đang cầu nguyện; luôn giữ ǵn
ngũ quan để dễ dàng tập trung cầu
nguyện và không làm người khác bị phân tâm chia trí; hy
sinh hăm ḿnh như dấu chỉ muốn thuộc về
Thiên Chúa hơn nữa.
Khung cảnh
Cùng với dân chúng theo đức Giêsu ra bờ
hồ để nghe Ngài rao giảng.
Ơn xin
Xin ơn đừng giả điếc làm ngơ
trước lời mời gọi của Chúa, nhưng mau
mắn lắng nghe và đáp trả tiếng Ngài.
Điểm
Cách cầu nguyện bây giờ là chiêm niệm,
nghĩa là, chúng ta nh́n rồi suy nghĩ rút ích lợi, nghe
rồi suy nghĩ rút ích lợi, quan sát rồi suy nghĩ rút
ích lợi.
Nh́n nghe quan sát đức Giêsu để rút ích
lợi.
Simon đă nhận lời để đức Giêsu
lên thuyền của ḿnh, và giữ thuyền cho đức
Giêsu giảng dạy. Không chỉ thế, Simon c̣n chăm chú
lắng nghe đức Giêsu.
Sau khi nghe giảng dạy, Simon đă vâng lời
đức Giêsu ra khơi buông lưới, dù với kinh
nghiệm con người, làm sao đức Giêsu có chuyên môn
về chài lưới bằng Simon!
Tất cả những điều đó cho
thấy thái độ của Simon lúc này đang mở ra
với Thiên Chúa và với con người, cụ thể là
với đức Giêsu.
Mẻ cá bất ngờ và vượt tất
cả mọi kinh nghiệm trong đời của ḿnh. Và
không phải chỉ được một ơn vật
chất là mẻ cá lớn, Simon c̣n nhận được
một ơn lớn hơn nhiều: nhận ra ḿnh là
tội nhân và không xứng đáng ở gần đức
Giêsu: “Lạy Thầy, xin xa tôi ra, v́ tôi là kẻ tội
lỗi” (Lc 5:8).
Và khi Simon khiêm tốn phủ phục dưới
chân đức Giêsu, th́ ông c̣n nhận được
một ơn khác nữa: đức Giêsu mời gọi ông
cộng tác với Ngài: “từ nay ngươi sẽ là
kẻ chài lưới bắt người” (Lc 5:10).
Không phải v́ tốt hơn người khác mà
Simon được gọi, nhưng chính khi ư thức ḿnh là
tội nhân và bất xứng với Thiên Chúa th́ Simon
được gọi.
Trước lời mời của đức
Giêsu đối với Simon và các bạn, họ đă
bỏ tất cả để theo đức Giêsu không
một chút luyến tiếc.
Không bận tâm giải quyết hai thuyền
đầy cá, dù rằng trước đó không lâu họ
đă bận tâm nhiều để làm sao có được
nhiều cá; sẵn sàng từ bỏ thuyền, chài và
lưới, nghề nghiệp và thói quen; sẵn sàng từ
bỏ cha mẹ anh chị em và cả vợ con để
theo đức Giêsu.
Tôi có thái độ sẵn sàng như các tông
đồ tiên khởi này không? Phải chăng lúc
đầu tôi cũng đă quảng đại sẵn sàng
từ bỏ tất cả, nhưng c̣n những năm tháng
sau đó và bây giờ? Hay tôi đă lấy lại tất
cả điều tôi đă từ bỏ trong những
năm tháng vừa qua?
Hôm nay và bây giờ, Chúa mời gọi ǵ nơi
tôi? Phải chăng Chúa vẫn tiếp tục mời
gọi tôi từ bỏ tất cả để đi theo
Chúa, và từ bỏ cả những ǵ tôi đă lấy
lại trên đường theo Chúa, như ngày nào thuở
ban đầu Chúa đă mời gọi tôi?
Tâm sự
Hăy thân thưa với Chúa như tôi thấy về
hiện trạng của tôi. Xin cho tôi được
quảng đại với Ngài không chỉ như mà c̣n
hơn ngày đầu mới theo Ngài.
Làm sao để có tâm t́nh thái độ của
lời nguyện xin trong LT 97-98, lời nguyện của
những kẻ muốn trổi trang trong việc phụng
sự Thiên Chúa.
Khung cảnh
Như thể ḿnh hiện diện và thấy
đức Giêsu chiến đấu đổ mồ hôi máu
trong vườn dầu.
Ơn xin
Quảng đại đáp trả lời mời
gọi của Chúa: nên thánh, thuộc trọn về Chúa,
bằng vượt lên trên những khuynh chiều của
thân xác ḿnh, bằng đời sống yêu thương.
Điểm
“Hăy là thánh v́ Ta là thánh, Ta, Yavê Thiên Chúa của các
ngươi” (Lv 19:2). Thiên Chúa đă truyền lệnh nhân
danh chính Ngài, v́ chính Ngài chứ không v́ bất cứ
điều ǵ khác; điều này cho thấy mức
độ quan trọng của lệnh truyền.
Thánh, nghĩa là sao?
Chỉ có Thiên Chúa là Đấng Thánh, là
Đấng ba lần thánh: “Thánh, chí thánh, ngàn trùng chí thánh.”
Ngoài Thiên Chúa không ai là thánh cả.
Ở một nghĩa loại suy, các tạo
vật được gọi là thánh v́ được dành
cho Thiên Chúa, chẳng hạn: bàn thánh, đĩa thánh,
khăn thánh, v.v.; và nơi con người, một
người được gọi là thánh v́ người
đó thuộc về Thiên Chúa.
Với những sách tu đức xưa,
người ta thường tŕnh bày các thánh nhân như
những người làm phép lạ, như những
người khi cầu nguyện thường
được ngất trí. Tŕnh bày h́nh ảnh của
một vị thánh như vậy dễ làm cho người
ta thấy xa lạ và không ao ước nên thánh. Đúng ra,
thánh nhân là người luôn thuộc về Thiên Chúa, luôn
lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẵn sàng từ bỏ ḿnh
để thực hiện ư định của Thiên Chúa.
Thánh nhân, là những người sống đời b́nh
thường một cách rất phi thường.
Con người là tinh thần qua thân xác.
Với thân xác, con người có những khuynh
chiều thuộc thân xác như đói cần ăn khát
cần uống, khuynh chiều thỏa măn sinh lư, khuynh
chiều đ̣i được tôn trọng và muốn
thống trị người khác, v.v.! Nơi con vật,
chúng ta cũng thấy những khuynh chiều này, nhưng
dưới trạng thái thô sơ hơn.
Con người có khuynh chiều thân xác, nhưng
con người tự do, con người có thể không
thỏa măn những khuynh chiều của thân xác.
Nếu một người cảm thấy nơi
ḿnh có khuynh chiều thân xác hạ đẳng, th́ chẳng
có ǵ đáng ngạc nhiên và buồn phiền.
Cảm thấy nơi ḿnh có khuynh chiều hạ
đẳng, không có nghĩa rằng ḿnh xấu xa hèn kém.
Chúng ta chỉ hèn kém khi chúng ta chiều theo những khuynh
chiều thấp hèn đó, c̣n nếu chúng ta chống
trả, th́ giá trị con người chúng ta càng cao.
Nếu bị cám dỗ mà chống trả, ḿnh có
công phúc trước mặt Thiên Chúa; và nếu càng bị cám
dỗ nhiều mà lại càng chống trả mănh liệt
đến khi nó chịu thua, th́ công phúc của ḿnh lại
càng lớn (LT 33-34).
Nên thánh, là không dừng lại ở b́nh diện
vật chất, nhưng vượt lên trên vật chất
để vươn tới Thiên Chúa.
Qua những dấu chỉ là các tạo vật
hữu h́nh, con người trở thành “tinh thần” khi
nhận ra Thiên Chúa hiện hữu. Để trở thành
tinh thần trong hành vi nhận thức, con người
phải làm một bước nhẩy.
Để trở thành tinh thần trong đời
sống thường ngày, con người được
mời gọi vượt qua chính ḿnh với
những khuynh chiều của ḿnh bằng hành vi yêu
thương, v́ chỉ có con người mới có thể
yêu thương. Yêu thương là làm theo điều lư trí
thấy đúng và tốt, cho ḿnh và cho tha nhân, dù ḿnh phải
từ bỏ, phải hy sinh thời giờ và sức
lực. Yêu thương là sống vượt lên trên
những khuynh chiều hạ đẳng, vượt lên
trên thú tính của ḿnh.
Một ngày, chúng ta có rất nhiều dịp
để nên thánh. Càng bị thử thách và cám dỗ, chúng
ta càng có nhiều dịp để lập công và nên thánh.
Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất cái dằm ra
khỏi xác thịt ngài, nhưng Thiên Chúa phán: “ơn Ta
đủ cho con” (2Cr 12:8-9).
Khi bị cám dỗ và thử thách nhiều,
đừng chán nản thất vọng, nhưng hăy tin
tưởng vào đức Giêsu. Đức Giêsu đă
bị cám dỗ và thử thách trăm chiều (Mt 4:1-11; Mc
14:34; 15:34), nhưng Ngài đă chiến thắng để ta
cũng được chiến thắng với Ngài (Ga
16:33).
Tâm sự
Hăy thân thưa với Chúa như ḿnh thấy con
người của ḿnh. Xin cho ḿnh ơn quảng
đại với Chúa, để ḿnh luôn vượt qua
chính ḿnh trong mọi giây phút của cuộc sống
thường ngày.
Khung cảnh
Những nơi và những con đường
tại đất nước Do Thái nối từ làng này
qua làng kia, những con đường ven biển, trên
đó đức Giêsu đă rong ruổi rao giảng
Nước Thiên Chúa.
Ơn xin
Đừng làm ngơ giả điếc
trước lời mời gọi của Chúa, nhưng mau
mắn lắng nghe và quảng đại thực thi Ư Chúa
trong từng giây phút của cuộc đời.
Điểm
Sứ mạng của đức Giêsu, của Ngôi
Lời nhập thể là ǵ?
Sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể
là chuộc tội, là cứu độ, là giải phóng con
người khỏi nô lệ tạo vật (dù là qủy
dữ hay đam mê của xác thịt ḿnh). Câu trả
lời này hoàn toàn đúng, nhưng người ta cũng có
thể nói: sứ mạng của Ngôi Lời Nhập
Thể là làm chứng cho t́nh yêu.
Làm sao để con người biết Thiên Chúa
yêu thương họ, và rung động trước t́nh
yêu của Thiên Chúa, để rồi họ đáp trả.
Tội là không tin rằng Thiên Chúa yêu thương
ḿnh, là tin vào qủy dữ hơn tin vào Thiên Chúa, là không trông
cậy vào Thiên Chúa nữa. Nhưng nếu con người
rung động trước t́nh yêu Thiên Chúa, và sẵn sàng
phó thác đời sống ḿnh cho Thiên Chúa để tùy Thiên
Chúa muốn làm ǵ tùy Ngài, th́ con người sẽ b́nh an và
hạnh phúc thực sự.
Làm sao để con người tin nhận và
đáp trả t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh,
đó là sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể,
của đức Giêsu.
Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm
người để thực hiện sứ mạng Cha
trao phó.
Nhập thể, thành xác phàm, nghĩa là phải
đói phải khát, có thể bị sỉ nhục khinh chê,
và có thể bị giết. Ngôi Lời Thiên Chúa đă
chấp nhận cái cùng cực của kiếp người
để thực hiện sứ mạng được
trao phó:
· chấp nhận nhập thể và ở
trong cung ḷng một người nữ (Gl 4:4-6);
· chấp nhận ḿnh có một
người cha người mẹ ở giai cấp
thường dân như mọi người khác;
· sinh ra trong chuồng súc vật;
· sống như một người nghèo
và b́nh thường ở Nadarét;
· hành nghề thợ mộc, một
nghề thường như bao nghề khác;
· đi rao giảng trong khó nghèo (Lc 21:37);
· chết ô nhục và đau đớn
trên thập giá.
Đức Giêsu đă yêu thương con
người đến chết v́ con người (Ga 15:13),
đến ban thịt máu Ngài làm của ăn của uống
cho con người (Mc 14:22-25). Đức Giêsu đă làm
mọi sự để con người nhận biết
Ngài yêu mến họ và Thiên Chúa cũng yêu mến họ.
Ngài mong ước con người đáp trả t́nh yêu
của Ngài và cũng là t́nh yêu của Thiên Chúa (Ga 15:9; 17:23).
Đức Giêsu đă mặc khải cho con
người biết Ngài là Thiên Chúa dù v́ mặc khải
đó Ngài phải chết. Sở dĩ Ngài phải làm
vậy, v́ nếu con người biết Ngài là Thiên Chúa, th́
con người cũng biết Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng. Để con người biết Thiên
Chúa yêu thương họ, đức Giêsu đă phải
chết. Ngài chết để làm chứng cho t́nh yêu.
“Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh
em” (Ga 20:21).
Cùng một sứ mạng Thiên Chúa Cha đă trao cho
đức Giêsu, đức Giêsu cũng trao cho các tông
đồ và qua các tông đồ Ngài trao cho chúng ta; cùng
một cách thế đức Giêsu thực hiện sứ
mạng, th́ chúng ta cũng thực hiện sứ mạng
đó.
Làm sao chúng ta có thể làm cho người ta
nhận biết Thiên Chúa yêu thương họ, nếu chính
chúng ta không hoặc chưa cảm được t́nh yêu Thiên
Chúa đối với chúng ta?
Làm sao chúng ta có thể làm cho con người tin và
cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, nếu
chính chúng ta không yêu thương họ?
Con đường diễn tả t́nh yêu, là con
đường thập giá. Chính khi ḿnh phải gian nan
để yêu thương người ta, người ta
mới dễ nhận ra t́nh yêu của ḿnh đối
với họ; và khi họ nhận ra ḿnh yêu thương
họ, họ dễ tin vào lời ḿnh nói với họ
hơn, và họ dễ tin rằng Thiên Chúa yêu thương
họ hơn.
Tâm sự
Xin Chúa cho ḿnh xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu
thương ḿnh, để ḿnh có thể trở thành
chứng nhân t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người ngày
hôm nay.
Chúng ta đang ở trong tuần thứ hai
của Linh Thao: cầu nguyện về Ngôi Lời nhập
thể, từ mầu nhiệm nhập thể cho
đến ngày đức Giêsu được rước
vào thành Giêrusalem cách long trọng.
“Xin hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng
đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo
Ngài” (LT 104).
Vô tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết
về Chúa, th́ sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết
ở đây không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng
chủ yếu là cái biết thâm sâu do được
cảm nghiệm.
Thiên Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến
độ nhập thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên
Chúa yêu tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp
lại t́nh yêu của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu
mới đáp trả được t́nh yêu.
T́nh yêu được diễn tả cách cụ
thể, chính Thiên Chúa đă nhập thể để
phục vụ con người: “con người đến
không phải để được phục vụ,
nhưng để phục vụ và hiến mạng
sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45);
c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi
phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.
Hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo
Ngài hơn. Đó là cách nói khác của cùng nội dung
“để trở nên đồng h́nh đồng dạng
với đức Giêsu Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết
với Người, ta sẽ cùng sống với
Người, nếu ta cùng đau khổ với
Người, ta sẽ cùng thống trị với
Người,” “tôi sống nhưng không c̣n phải tôi
sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài sống trong tôi”
(Gl 2:20).
Nên giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là
người mẫu của chúng ta, Ngài là thần
tượng, là Đấng mà chúng ta phải bắt
chước và quy chiếu về. Yêu thương là trở
nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương Thiên
Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn.
· Lời đă thành xác phàm (Ga 1:1-18);
· Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11);
· Sinh bởi người nữ (Gl 4:4-6);
· LT 101-109
· Lời nhập thể được
giáng sinh (Lc 2:1-20);
· Lời Thiên Chúa Nhập Thể
được cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);
· Đức Giêsu được dâng trong
đền thờ (Lc 2:22-40);
· Trốn sang Ai-cập (Mt 2:13-23);
· Đức Giêsu thời thơ ấu (Lc
2:39-40);
· Đức Giêsu ở lại đền
thờ (Lc 2:41-50);
· Đức Giêsu sống một thời
gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).
· Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc
1:1-13);
· Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt
4:1-11);
· Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39);
· Đức Giêsu luôn t́m và thực hiện
Thánh Ư Cha (Ga 4:34);
· Mối phúc thật (Mt 5:1-12);
· Thái độ của dân chúng đối
với đức Giêsu (Mc 1:32-3:12);
· Thái độ của người thân, kư
lục và biệt phái đối với đức Giêsu
(Mc3:20-30);
· Khủng hoảng sứ vụ tại
Galilê (Mc 4);
· Hạt giống âm thầm mọc (Mc
4:26-29);
· Loan báo tin mừng bằng trừ qủy
(Mc 5-6);
· Các tông đồ không hiểu
đường lối của đức Giêsu (Mc 4;6);
· Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30);
· Con đường đức Giêsu đi
là con đường thập giá (Mc 8:31-33);
· Ai muốn theo tôi phải vác thập giá
ḿnh (Mc 8:34-9:1);
· Con đường đức Giêsu
đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);
· Con đường đức Giêsu
đi: phục vụ (Mc 9:33-37);
· Con đường đức Giêsu
đi: yêu thương (Mc 12:28-34);
· Tinh thần của đức Giêsu (Mc
9:38-41);
· Không muốn hiểu bài học thập
giá (Mc 10:32-45);
· Người mù được sáng (Mc
10:46-52);
· Những người không chấp
nhận con đường đức Giêsu đi (Mc 11:15-19;
12:1-12; 12:13tt);
· Đức Giêsu, con người tự do
(với bạc tiền, danh vọng, t́nh duyên);
Chúng ta t́m hiểu thêm về cầu nguyện và
nhận định thần loại. Trước tiên chúng
ta t́m hiểu cầu nguyện như chiêm niệm, sau đó
t́m hiểu về các quy luật nhận định
thần loại tuần thứ hai.
Trong những bài cầu nguyện về mầu
nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều
chỉ cách chiêm niệm.
Nh́n đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Nghe đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Quan sát cung cách hành xử của đức Giêsu, suy
nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu
nguyện “chiêm niệm.”
Có những đề tài cầu nguyện không
thể chiêm niệm được, nhưng nếu
đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́ có
thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.
Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa
đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong những
trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh
trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống đức Giêsu
hơn.
Trở nên giống đức Giêsu hơn, nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không
phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện
thiêng liêng: có con tim “nhân từ, bao dung, thương yêu”
như Chúa, có ánh mắt “nhân từ, trong sáng, cảm thông”
như Chúa, có cung cách hành xử “độ lượng, kiên
nhẫn, cương quyết dứt khoát” như Chúa.
Chúa Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và
bắt chước: quan điểm lập trường
của Ngài, cách sống của Ngài. “Để yêu Chúa
hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục đích của
những bài cầu nguyện tuần thứ hai này.
Thiên Chúa muốn con người được
sống trong t́nh yêu và hạnh phúc với Ngài; các thần
lành cũng muốn chúng ta sống trong hạnh phúc với
Thiên Chúa như các ngài; c̣n các thần dữ th́ luôn chống
đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để làm con
người sống xa Thiên Chúa.
Khi có nguyên do, cả thần lành lẫn thần
dữ đều có thể “an ủi,” nhưng nhằm
mục đích trái ngược (LT 331).
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tác động
trực tiếp trên con người không cần trung gian;
Điểm đặc biệt của Thiên Chúa là có thể
lôi kéo con người đến với Ngài không qua trung
gian, mà con người hoàn toàn tự do (LT 330).
Chỉ có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự
do con người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu
nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một
người, xin cho người nào đó trở lại. Làm
một người trở lại, đó là khả năng
chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm
được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự
do).
Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến
đổi một người, và Ngài cũng có thể
biến đổi một người không cần dùng trung
gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do.[25]
Đối với một người đang
tiến tới trên đàng thiêng liêng, nếu người
đó biết điều ǵ đó là do ác quỷ th́ chắc
chắn người đó sẽ không theo; như vậy,
để làm con người đi theo đường
lối tà vạy của ḿnh, ác quỷ thường hay
giả dạng thần lành để dẫn đưa
người đó theo lối đồi tệ của nó
(LT 332).
Nếu một ư tưởng hay một
điều nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh
thiện, nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu
nguyện không được: như làm chúng ta chia trí phân
tâm trong cầu nguyện, làm việc cầu nguyện
bị giảm sút, chúng ta thấy bối rối, không
được b́nh an như trước, th́ đó là
dấu chỉ cho thấy ư tưởng hay điều
đó là do ác quỷ (LT 333); chúng ta hăy duyệt xét lại
để rút kinh nghiệm cho lần tới, để
không trúng bẫy ác quỷ nữa (LT 334).
Khung cảnh
Căn nhà đức Maria sống với thân
phụ thân mẫu tại làng Nadarét.
Ơn xin
Hiểu biết thâm sâu về Ngôi Lời Nhập
Thể hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Nh́n nghe quan sát con người trên khắp thế
giới đang sống trong t́nh trạng tội lỗi,
không vâng phục Thiên Chúa qua lương tâm và luôn thù ghét làm
hại nhau.
Sống trong tội, con người đặt
lợi danh quyền hành của họ lên hàng đầu, và
những sự khác, ngay cả “nhân vị con người”
cũng chỉ là phương tiện để phục
vụ cho con người ích kỷ với những tham
vọng của họ.
Con người phạm tội, luôn sống trong
t́nh trạng bất hạnh. Họ sống không b́nh an, và
những người sống với họ cũng luôn
cảm thấy bị đe dọa; v́ không ǵ bảo
đảm họ sẽ không làm hại những
người này.
Thiên Chúa từ thuở đời đời,
thấy rơ con người bất hạnh và khốn cùng khi
từ chối Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài.
Thiên Chúa muốn cứu độ con
người, Ngài đă quyết định từ thuở
đời đời rằng Ngôi Lời sẽ nhập
thể để cứu độ con người.
Không phải khi Adam và Evà phạm tội, Thiên Chúa
mới biết và mới quyết định rằng Ngôi
Lời sẽ nhập thể, nhưng Thiên Chúa đă
biết từ thuở đời rằng con người
sẽ phản bội chống đối Ngài.
Tuy Thiên Chúa biết trước con người
sẽ phạm tội như vậy, nhưng không v́ thế
mà con người mất tự do: con người vẫn
luôn được tự do, cũng tương tự như
trường hợp hai người bạn thân biết
“trước phần nào” cung cách cư xử của nhau và
như người mẹ biết “trước phần nào”
cung cách cư xử và phản ứng của con ḿnh.
Với kiểu nói nhân h́nh, Thiên Chúa biết con
người sẽ phạm tội nhưng Thiên Chúa không
hề muốn con người phạm tội; Sở dĩ
như vậy v́ Thiên Chúa ban cho con người tự do:
Thiên Chúa ban cho con người khả năng làm trái ư Thiên
Chúa nếu con người muốn; Và khi con người làm
trái ư Thiên Chúa: đó là tội.
Khi tới thời tới buổi (Gl 4:4-6), Thiên
Chúa đă sai sứ thần Gabriel đến truyền tin
cho đức Maria, hỏi xem đức Maria có sẵn sàng
vâng phục ư định Thiên Chúa: thụ thai một con
người rất đặc biệt không?
Đức Maria đă thưa tiếng “xin vâng”
với Thiên Chúa về chương tŕnh của Ngài nhằm
cứu độ con người.
Để có thể thưa tiếng xin vâng,
đức Maria đă đặt
· t́nh yêu Thiên Chúa trên t́nh yêu riêng
(đối với thánh Giuse);
· ư định Thiên Chúa trên danh dự gia
đ́nh;
· niềm tin vào Thiên Chúa hơn là chính con
người của ḿnh.
Đức Maria đă đính hôn với Giuse
trước khi thiên thần truyền tin (Lc 1:27), hàm
chứa đức Maria đă thân quen và yêu thánh Giuse
trước. Đứng trước lời mời
gọi của Thiên Chúa, đức Maria đă chọn Thiên
Chúa trên hết, đă sẵn sàng hy sinh t́nh yêu riêng
để làm theo ư định của Thiên Chúa. Nếu Giuse
không hiểu và không thông cảm, th́ đức Maria cũng
sẵn sàng chịu, ư Thiên Chúa được coi là trên
hết đối với đức Maria.
Nếu Giuse không chịu hiểu, và nếu
chuyện tai tiếng xảy tới cho gia đ́nh, làm sao
thánh Gioan-Kim và thánh Anna có thể chịu đựng
được điều như vậy? Đức Maria
chấp nhận tất cả điều tệ hại
nhất có thể xảy ra cho gia đ́nh cha mẹ và họ
hàng, ư định của Thiên Chúa phải được
coi là trên hết.
Nếu Giuse không hiểu và không thông cảm,
nếu Giuse tố cáo công khai th́ sao, Maria có thể bị ném
đá chết như một phụ nữ phạm tội
ngoại t́nh! Nếu chuyện xảy ra như vậy, th́
việc nhận lời thụ thai nào có ích lợi ǵ? Không,
đức Maria vẫn hoàn toàn tin tưởng và phó thác
tất cả cho Thiên Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có
thể làm tất cả những ǵ, và Ngài có thể làm cho
thành sự những ǵ Ngài đă khởi đầu. Chỉ
khi phó thác như vậy, đức Maria mới có thể
thưa tiếng xin vâng đối với Thiên Chúa.
Đức Maria đă thưa tiếng xin vâng
với Thiên Chúa, dù Mẹ chưa thấy rơ hoàn toàn
tương lai của ḿnh. Chưa thấy rơ, nhưng
Mẹ vẫn tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên
Chúa: “Phúc cho em là kẻ đaơ tin rằng
Lời Chúa phán cùng em sẽ được
thực hiện” (Lc 1:45). Lúc này, những ǵ Thiên Chúa nói
với Mẹ chưa được thực hiện,
nhưng Mẹ tin chúng sẽ được thực
hiện. Đức tin của Mẹ thật tuyệt
vời.
Kể từ khi đức Maria thưa tiếng
“xin vâng,” Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể trong cung
ḷng đức Maria.
Chúng ta hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Tâm sự
Thân thưa với Thiên Chúa Cha, với Ngôi Lời
Nhập Thể, như chúng ta thấy nơi ḷng ḿnh. Xin cho
ḿnh biết tự hủy trong sứ mạng làm chứng
cho t́nh yêu như Ngôi Lời.
Khung cảnh
Con đường từ Nadarét tới Giêrusalem và
Bêlem, chuồng chiên cừu, đền thờ. Như
thể ḿnh đang hiện diện trong chuồng chiên
cừu để chiêm ngắm Ngôi Lời Nhập Thể
giáng sinh.
Ơn xin
Ơn hiểu biết thâm sâu về Ngôi Lời
Nhập Thể hơn, để yêu Chúa hơn và theo Ngài
hơn.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, cố hiểu phản ứng và
tâm t́nh của từng vị, suy nghĩ và rút ích lợi:
· đức Maria và thánh Giuse trên
đường từ Nadarét tới Bêlem; lúc này thai nhi
đă hơn chín tháng nên đức Maria rất vất
vả;
· thánh Giuse vất vả ngược xuôi
t́m nhà trú đêm cho đức Maria;
· đức Maria sinh con trong chuồng chiên
cừu;
· hài nhi được sinh hạ là Ngôi
Lời Nhập Thể.
Thiên thần Chúa đă hiện ra báo tin cho các
mục đồng.
Dấu chỉ để nhận biết
“Đấng Cứu Thế Chúa được giáng sinh cho
các ngươi trong thành Davit,” là hài nhi ḿnh vấn tă
được đặt nằm trong máng cỏ.
Dấu chỉ quá tầm thường, tầm
thường đến độ không ai có thể ngờ.
Dân ở Bêlem không thể nhận ra hai vợ chồng
trẻ nghèo xin ngủ nhờ qua đêm lại là những
người “mang” Thiên Chúa đến với họ, nên
họ đă không tiếp nhận, và không được
diễm phúc nhận biết Ngôi Lời Nhập Thể; c̣n
những mục đồng đă tin dù dấu chỉ
rất đơn sơ và tầm thường, nên đă
được diện kiến Ngôi Lời Nhập Thể.
Hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ rút ích lợi.
Hài nhi được cắt b́ và đặt tên.
Cắt b́ là nghi thức tôn giáo, cắt da quy đầu
của em bé trai.
Hài nhi cảm thấy đau đớn, dẫy
dụa và khóc thét trong nghi lễ này. Hăy nh́n nghe quan sát
mầu nhiệm, suy nghĩ và rút ích lợi.
Ngôi Lời Nhập Thể nên giống chúng ta, là
“người” hoàn toàn, trừ tội (Hr 2:17; 4:15).
Đức Giêsu được dâng cho Thiên Chúa
trong đền thờ. Đức Maria được
tẩy uế theo luật.
Đức Giêsu là Thiên Chúa, luôn hướng về
Cha (Ga 1:1), vậy tại sao phải “dâng” trong đền
thờ? Đức Maria sinh hạ Thiên Chúa Nhập Thể,
đâu có “dơ” để mà phải tẩy uế?
Đức Maria và thánh Giuse đă đại
diện con người, xin Thiên Chúa Cha cho Chúa Giêsu, Ngôi
Lời Nhập Thể, được ở lại
với con người.
Đức Maria vẫn không hiểu lời hai tiên
tri Simêon và Anna; Mẹ suy nghĩ và giữ kỹ trong ḷng.
Mẹ Maria cũng luôn đi t́m thánh ư Thiên Chúa trong
đức tin.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Đức Giêsu đă sống thời thơ
ấu tại Nadarét như bao em bé khác. Ngài cũng
được bú mớm, được ấp yêu cưng
chiều, tập lẫy tập ḅ tập đi, học nói
học viết học làm việc. Cũng chơi, và
lớn lên với chúng bạn và nhờ chúng bạn.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
· đức Giêsu ở sáu tháng tuổi;
· ở ba năm tuổi;
· ở sáu năm tuổi;
· ở tám, mười, và mười
một năm tuổi.
Cách thức người thời đó đối
xử với đức Giêsu, là cách đối xử
của họ với Thiên Chúa Nhập Thể. Cách thức
hôm nay tôi đối xử với các em thơ bé, có thể
là cách thức tôi đối xử với đức Giêsu.
Tâm sự
Nói chuyện thân thưa với Chúa Cha, với Ngôi
Lời Nhập Thể, và với Thánh Thần Thiên Chúa,
như chúng ta thấy nơi ḷng; cũng có thể tâm sự
với Mẹ và với thánh Giuse nữa.
Khung cảnh
Con đường từ Nadarét tới Giêrusalem,
đền thờ và nơi đức Giêsu ngồi với
các thầy dạy tại Giêrusalem.
Ơn xin
Ơn hiểu biết thâm sâu về Chúa,
để yêu mến Chúa hơn và theo Ngài. Hiểu tại
sao Ngài ở lại đền thờ mà không báo cho mẹ
Ngài hay, để mẹ Ngài phải cực khổ t́m Ngài
như vậy!
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
· Đức Maria, thánh Giuse và đức
Giêsu trước ngày đi lên Giêrusalem dự lễ
Vượt Qua;
· Dân làng Nadarét tập trung đi với
nhau lên Giêrusalem, họ đi thành từng nhóm[26] với
nhau, và có thể đàn ông riêng, đàn bà riêng, và trẻ em
riêng;
· Đức Giêsu ở lại Giêrusalem mà
cha mẹ Ngài không hay biết.
Đức Giêsu ở lại Giêrusalem, v́ có lẽ
Ngài được thúc đẩy đến độ quên
không báo hoặc không c̣n giờ hoặc dịp để báo
cho mẹ hoặc cha Ngài.
Đức Giêsu luôn đặt Thiên Chúa, ư
định cũng như công việc của Thiên Chúa lên
trên tất cả. Đó là điều chúng ta phải
học đức Giêsu trong biến cố Ngài ở lại
Giêrusalem này.
Kể từ biến cố đó trở đi,
đức Giêsu hằng luôn tùng phục hai ông bà (Lc 2:51-52).
Đức Giêsu đă sống những năm tháng
dài ở Nadarét, như một em bé đồng trang lứa
tuổi bất kỳ nào đó. Ngài đă sống những
năm 13 tuổi, 14 tuổi, 15, 16, 17, 18, 19, 20 tuổi, 21,
21, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 tuổi; Những tháng năm dài,
mà chỉ kể số năm thôi chúng ta đă thấy lâu và
không đủ kiên nhẫn rồi, huống hồ là
sống!
Xem cách đức Giêsu đối xử với
những người tới đặt đức Giêsu làm
việc; xem cách Ngài đối xử với bạn trai
bạn gái; xem cách Ngài đối xử với kẻ
dưới người trên. Để mỗi người
chúng ta được nên giống Ngài hơn.
Cuộc đời đức Giêsu có giá trị và
ư nghĩa sâu xa. Hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu như thể Ngài
đang trong đời sống ẩn dật tại Nadarét,
xin Ngài dạy chúng ta cách sống và đối xử
với người khác như Ngài.
Khung cảnh
Nơi hài nhi được sinh ra; và căn nhà,
nơi đức Giêsu sống với đức Maria và
thánh Giuse tại Nadarét. Cũng nh́n nơi đức Giêsu
đă ở khi Ngài lưu lại tại Giêrusalem.
“Xưởng mộc” của đức Giêsu.
Ơn xin
Xin hiểu thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm
người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài.
Điểm
Dừng lại ở những chỗ đă
được đánh động hoặc an ủi;
cũng dừng lại những chỗ ḿnh đă bị
sầu khổ hoặc ḿnh muốn trốn tránh.
Tâm sự với Chúa như ḿnh thấy.
Khung cảnh
Chỗ đức Giêsu được thanh
tẩy và nơi đức Giêsu ăn chay cầu nguyện
và bị cám dỗ; có lẽ dưới một ṿm cây hay
trong một hốc đá nào đó.
Ơn xin
Xin hiểu Chúa hơn để yêu Chúa và theo Chúa
hơn.
Điểm
Đức Giêsu vô tội, vậy tại sao Ngài
phải chịu thanh tẩy? Đức Giêsu là Thiên Chúa
Nhập Thể, vậy tại sao Ngài lại bị cám
dỗ?
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:
· đức Giêsu chào Mẹ để lên
đường đi Giêrusalem;
· đức Giêsu trên đường
tới nơi Gioan rao giảng;
· đức Giêsu trước khi
được thanh tẩy và sau khi được thanh
tẩy.
Khiêm tốn không là giả bộ, cũng không là
làm điều ǵ trái sự thực với mục đích
chỉ để làm gương. Ai sống theo sự
thật mới có thể làm gương sáng thực sự.
Đức Giêsu đă không chịu thanh tẩy chỉ
nhằm để làm gương, nếu thực sự
Ngài không thấy Ngài cần phải được thanh
tẩy.
Đức Giêsu ư thức Ngài “gánh tội trần
gian” như Gioan Tẩy Giả làm chứng (Ga 1:29). Chính v́
gánh tội của con người, nên đức Giêsu
thấy Ngài cần được thanh tẩy, và Ngài đă
chịu thanh tẩy.
Thiên Chúa đă chứng thực cho hành vi khiêm
tốn của Ngài bằng tiếng phán từ trời và
Thánh Thần như chim câu đáp xuống trên Ngài.
Thần Khí Thiên Chúa dẫn Ngài vào hoang địa
để chịu ác quỷ cám dỗ (Mt 4,1).
i. Biến đá thành bánh
Đức Giêsu cảm thấy đói, và ác
quỷ gợi ư cách thỏa măn nhu cầu bằng cách
biến đá thành bánh.
Đức Giêsu đă từ chối! Tại sao?
Tự bản chất ác quỷ không muốn
điều ǵ tốt lành cho con người; điều mà
ác quỷ gợi ư đó, chắc chắn không tốt
thực cho tôi.
Một điều c̣n quan trọng hơn việc
ăn uống đối với con người, đó là
lắng nghe Lời Chúa. Người đời
thường cho rằng “có thực mới vực được
đạo,” nhưng con người c̣n nhu cầu tinh
thần, và nhu cầu này c̣n quan trọng và khẩn thiết
hơn cả nhu cầu về cơm ăn áo mặc.
Ngày nay, những cám dỗ thuộc loại này c̣n
xuất hiện trong đời của tôi không? và
thường dưới dạng thức nào?
ii. Nhảy xuống từ đỉnh đền
thờ
Nếu đức Giêsu nhảy từ đỉnh
đền thờ xuống, chắc chắn có nhiều
người kính phục Ngài; và nếu sau đó Ngài
giảng dạy dân chúng, th́ chắc có nhiều người
nghe lời Ngài. Vậy tại sao Ngài không làm?
Điều ác quỷ muốn, chắc chắn
không tốt thực cho tôi.
Cách thế của Thiên Chúa là chinh phục con
người bằng t́nh yêu; Ngài luôn để con
người tự do hoàn toàn; Ngài không dùng bất cứ
một áp lực nào, dù áp lực đó không phải là vũ
lực. Sự thật và t́nh yêu, đó là những nét
đặc trưng của cách thế Thiên Chúa dùng.
Ngày nay, cám dỗ ham danh vọng và mong muốn
trổi trang được ngụy trang dưới h́nh
thức nào và chiêu bài nào đối với tôi?
iii. Quyền trên tất cả nếu bái lạy
ác quỷ
“Tôi sẽ cho Ngài tất cả nếu Ngài
phục ḿnh bái lạy tôi” (Mt 4:9). Cám dỗ có quyền hành
trên kẻ khác, muốn làm chủ người khác bằng
vũ lực, vẫn là cám dỗ mănh liệt đối
với con người ngày hôm nay. Đức Giêsu cũng
không được miễn trừ khỏi cám dỗ này.
“Chỉ phải thờ lạy một Thiên Chúa mà
thôi.” Không được chọn lựa hay đánh
đổi điều ǵ với Thiên Chúa cả. Chỉ có
Thiên Chúa có quyền trên con người, c̣n chúng ta, chúng ta
phải tôn trọng con người, tôn trọng Thiên Chúa.
Chúng ta không được điều khiển Thiên Chúa theo
ư ḿnh, nhưng ngược lại, chúng ta phải thuận
theo ư muốn của Thiên Chúa.
Ngày này, cám dỗ về quyền hành
được thấy qua những h́nh thức nào?
Đức Giêsu đă chiến thắng ác quỷ,
Ngài đă không sa chước cám dỗ. Theo niềm tin kitô
giáo, đức Maria cũng không vương tội nguyên
tổ và tội riêng. Như vậy, bản chất con
người đâu có hàm chứa: “con người không
thể tránh phạm tội.”
Con người có thể không phạm tội;
nhưng thực tế không ai lại không phạm tội[27].
“Hăy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn
thử thách, tâm thần tuy sẵn sàng nhưng xác thịt
th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Nếu chúng ta cậy
dựa vào sức riêng của chúng ta, chắc chắn chúng
ta sẽ sa ngă; nhưng nếu chúng ta cậy dựa vào Thiên
Chúa và vào đức Giêsu, chắc chắn chúng ta sẽ chiến
thắng ác quỷ và con người hạ đẳng
của ḿnh, bởi v́ Chúa đă phán: “Anh em hăy tin
tưởng, Thầy đă thắng thế gian” (Ga 16:33).
Tâm sự
Nói chuyện thân thưa với Chúa Giêsu,
Đấng đă bị cám dỗ khủng khiếp, không
chỉ nơi hoang địa như chúng ta thấy trong bài
cầu nguyện vừa qua, mà c̣n trong suốt đời
đức Giêsu, thậm chí ngay ở giây phút cuối
đời Ngài, và ngay cả về đức tin
đối với Thiên Chúa. Hăy xin Chúa cho ḿnh ḷng quảng
đại, để ḿnh có thể vượt qua cám
dỗ trong mỗi ngày sống và trong suốt đời
ḿnh.
Khung cảnh
Đức Giêsu lên một ngọn đồi,[28] các
môn đệ và dân chúng theo Ngài. Ngài ngồi xuống, các môn
đệ ngồi xung quanh, và dân chúng bao quanh các vị.
Như thể ḿnh đang hiện diện ở đó
để nghe đức Giêsu rao giảng.
Ơn xin
Xin cho ḿnh hiểu biết thâm sâu về Chúa,
để ḿnh yêu Chúa hơn, và theo Ngài hơn. Xin cho ḿnh
thấy rơ Chúa sống điều Chúa dạy như thế
nào, để ḿnh nên đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Điểm
Trong mỗi điểm của bài cầu
nguyện này, chúng ta tuần tự làm theo bốn
bước nhỏ:
· Ư nghĩa của từng mối phúc;
· Đức Giêsu đă sống mối phúc
đó thế nào?
· Tôi đă sống mối phúc đó
thế nào?
· Tâm sự với Chúa như tôi thấy,
để nên giống Chúa hơn.
Ư nghĩa của mối phúc
Ngày xưa người ta cũng đă biết
hối lộ. Người giầu thời các tiên tri đă
biết dùng tiền để mua chuộc quan ṭa,
để các quan toà xử cho họ được
thắng kiện.
Những người nghèo là những người
không có tiền của để đút lót cho quan ṭa, họ
không thể bám víu vào của cải mà cũng không thể
trông cậy ǵ nơi con người, v́ các quan toà đă
nhận tiền của người giầu, họ chỉ
có thể và chỉ biết bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.
Những người nghèo được chúc phúc
là những người không trông cậy ǵ nơi tạo
vật, nhưng chỉ biết trông cậy và bám víu vào Thiên
Chúa mà thôi.
Cũng có những người giầu, nhưng
họ không bám víu vào của cải, họ chỉ bám víu vào
Thiên Chúa, th́ những người này cũng được
coi là những người có tinh thần nghèo khó, và họ
cũng là những người được chúc phúc.
Nhưng cũng có những người nghèo tiền
của, nhưng họ cho rằng với tiền của,
con người có thể làm mọi chuyện; những
người này không có “tinh thần nghèo khó” v́ họ
đặt trông cậy nơi tiền của.
Đức Giêsu đă sống mối phúc này
thế nào?
Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm
người, đă chọn cho ḿnh một người cha
một người mẹ nghèo, đă được sinh ra
nghèo hèn trong chuồng chiên cừu, đă sống ở
Nadarét như những người nghèo nhất, đă làm
nghề của những người nghèo (thợ mộc).
Đức Giêsu đă đi rao giảng trong
sự khó nghèo và dạy các tông đồ sống như Ngài
(Mt 10:10); đức Giêsu thường ngủ ngoài trời
(Lc 21:37); chết trần trụi trên thập giá; chôn
nhờ huyệt của người ta (Mt 27:60).
Tôi đă sống mối phúc này thế nào?
Tôi đă sống mối phúc nghèo này thế nào,
ở quá khứ và trong hiện tại?
Hiện tại, tôi có tin thực rằng nghèo là
một mối phúc? Tôi có ao ước sống nghèo,
được trở nên nghèo?
Nếu tôi không tin nghèo là phúc thật, nếu tôi
không ao ước trở nên nghèo, th́:
· phải chăng tôi đă không tin rằng
lời nói của đức Giêsu là chân lư?
· phải chăng tôi đă tin tôi hơn tin
đức Giêsu?
· đức Giêsu có thực sự là lư
tưởng của tôi, Ngài có thực sự là Thiên Chúa
đối với tôi?
Có thể ngoài môi miệng tôi nói rằng tôi tin
đức Giêsu, tôi tin những lời Ngài nói là chân lư;
nhưng trong thực tế, trong chọn lựa
thường ngày của tôi, tôi đă không coi nghèo khó là
một mối phúc lành!
Tâm sự với Chúa
Thân thưa với Chúa như ḿnh thấy về
chính ḿnh với những khiếm khuyết đă chưa tin
yêu Chúa thực sự.
Ư nghĩa của mối phúc
“Phúc cho những kẻ bị bắt bớ v́
sự công chính ...; phúc cho các ngươi khi người ta
sỉ nhục các ngươi, bắt bớ, đặt
điều nói xấu các ngươi” (Mt 5:10-11).
Đức Giêsu đă sống mối phúc này
thế nào?
Ngay từ nhỏ, đức Giêsu đă bị
Hêrôđê coi như người muốn tranh dành ngôi vua (Mt
2:1-18); Khi đi rao giảng, đức Giêsu đă bị
những người thân quen coi như người mất
trí (Mc 3:21), người ta coi Ngài như một người
dối trá (Ga 8:57.59), như một người tội
lỗi (Ga 9:24), như một người phạm
thượng đáng chết (Mc 2:7; Ga 10:33; Mc 14:64).
Đức Giêsu đă bị đóng đinh
thập giá, chết trần truồng ô nhục, chết
giữa những người tội lỗi, giữa
những người đáng bị nguyền rủa.
Tại sao đức Giêsu đă bị truy lùng,
bắt bớ như vậy? Hăy nh́n nghe quan sát đức
Giêsu để nên giống Ngài hơn.
Tôi đă sống mối phúc này thế nào
Tại sao bị bắt bớ và sỉ nhục
lại là mối phúc cho chúng ta? Phải chăng trong
cuộc sống thường ngày, tôi thường lẩn
trốn mối phúc này, tôi thường coi đó là mối
họa hơn là mối phúc?
Nếu tôi không coi đây là mối phúc, th́ e
rằng tôi chưa tin đức Giêsu và chưa trân trọng
Lời Ngài!
Thập giá là con đường dẫn chúng ta
đến với Thiên Chúa. Thập giá giúp chúng ta nhận
biết con người thực của ḿnh, giúp chúng ta
cậy dựa và phó thác vào Thiên Chúa.
Tâm sự với Chúa
Xin Chúa giúp ḿnh coi sỉ nhục khinh chê là mối
phúc thật, và xin cho ḿnh ao ước mối phúc này. Xin cho
ḿnh có cùng cảm nghĩ với Chúa, và được
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Nếu thời giờ cho phép, chúng ta có thể
cầu nguyện với từng mối phúc theo cách thức
đă chỉ ở trên. Mỗi mối phúc có thể là
một điểm cầu nguyện.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa và xin Ngài cho chúng ta những
ǵ chúng ta c̣n thiếu sót. Xin cho chúng ta yêu Chúa và ao ước
nên giống Ngài. Có lẽ chỉ có một mối phúc thôi:
nên giống Chúa Giêsu Kitô, đồng h́nh đồng
dạng với Ngài.
Trong “ngày thứ tư của tuần thứ hai”
(LT 136) thánh Inhaxiô đề nghị một số bài
cầu nguyện (Hai Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người,
Ba Bậc Khiêm Nhường) và việc “chọn lựa
bậc sống.” Tuy không phải tất cả những
điều trên được làm trong một ngày, nhưng
chúng ta cứ quy ước gọi tạm là “ngày Inhă.”
Thánh Inhaxiô muốn ǵ khi gợi ư những bài
cầu nguyện nêu trên?
Trong tất cả các bài cầu nguyện này, thánh
Inhaxiô đều dạy chúng ta làm ba cuộc tâm sự:
một với Đức Mẹ, một với Chúa Con và
một với Chúa Cha, nài xin cho ḿnh được
đứng vào dưới cờ của Chúa Giêsu bằng:
· ơn được nghèo khó trong ḷng
tột bậc, và ngay cả được ơn nghèo khó
thực sự nếu Chúa được tôn vinh hơn;
· ơn chịu sỉ nhục và khinh chê
để bắt chước Chúa hơn nếu
điều này không gây dịp tội cho ai và không làm mất
ḷng Chúa.
Trong bài cầu nguyện về Hai Cờ, thánh
Inhaxiô dạy chúng ta xin ơn nhận biết mưu
mô của kẻ thù và ơn trợ giúp để tránh,
cũng như ơn nhận biết đời
sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để
bắt chước (LT 139). Trong bài Ba Mẫu
Người, chúng ta xin ơn chọn điều
nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152). Trong suy gẫm về Ba
Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh
để ḿnh bắt chước và phục vụ Chúa
hơn (LT 168).
Như vậy chúng ta thấy, tiến tŕnh ơn
xin của các bài cầu nguyện Inhaxiô đi từ xin cho
ḿnh nhận thức, đến xin cho ḿnh chọn, và sau
đó xin Chúa chọn ḿnh vào đời sống nghèo và
sỉ nhục khinh chê.
Các bài cầu nguyện ngày Inhă cho chúng ta hiểu
biết hơn về con người của chúng ta: xem chúng
ta đă nhận thức về con đường của
đức Giêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn
theo đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục không, xem
chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Giêsu đă sống
không?
Hai con đường (Tv 1);
Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31);
Định mạng đức Giêsu (Mc 10:32-34);
Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);
Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28).
Từ muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương
tôi, Ngài đă tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong
chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa
không chỉ lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài
c̣n để ư lưu tâm đến từng cử chỉ
hành vi biến cố của tôi (Tv 139; Lc 12:6-7), chính v́
thế trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi
“Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?”
Nếu ngay cả việc “đi đứng
nghỉ ngơi” Chúa đều biết, th́ huống hồ
về bậc sống của cuộc đời ḿnh: Thiên
Chúa đă có chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa
muốn gọi và chọn tôi ở bậc sống nào, th́
Ngài đă tạo dựng tôi thích hợp cho bậc sống
đó.
Lời mời gọi “sống đời
sống nào đó” có thể được biểu lộ
nơi ḷng ao ước sống đời sống đó,
hoặc có những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên
Chúa muốn. Nếu một người khao khát sống
bậc sống dâng hiến với ư hướng ngay lành,[29] ḷng
khao khát đó có thể là dấu chỉ cho thấy Chúa
gọi người đó. Nếu khát vọng này đă có
khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́ càng cho
thấy “người đó được Chúa gọi” cách
chắc chắn hơn. Nếu trong đời người
đó có những biến cố khách quan mà người
đó xác tín rằng đó chính là Chúa bảo vệ
để gọi họ, th́ càng chắc chắn hơn
nữa rằng “Chúa gọi họ.”
Lựa chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là
quyết định theo ư thích của ḿnh, nhưng là
chọn theo Ư của Thiên Chúa về ḿnh.
Lựa chọn bậc sống, không có nghĩa là
ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống
đó,[30] nhưng
Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh
chọn bậc sống đó.
Trong sách Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập
đến ba thời để làm việc lựa chọn;
trong thời thứ ba, thánh Ynhă nói tới hai cách làm việc
lựa chọn. Tuy vậy chúng ta nên cẩn thận, không
phải ai cũng làm việc lựa chọn “đúng
đắn” được, nhưng chỉ những người
có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người
và vũ trụ, cũng như họ phải b́nh tâm
thực sự, th́ họ mới có thể lựa chọn
“đúng đắn” được.[31]
Để làm việc lựa chọn tốt,
cần ư thức rơ mục đích đời người:
Thiên Chúa tạo dựng con người để con
người sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên
Chúa, và muôn loài muôn sự được tạo dựng
như phương tiện để giúp con người
đi tới với Thiên Chúa.
B́nh tâm là một điều kiện cần
thiết để làm việc lựa chọn đúng
đắn và chính xác: chọn lựa theo điều Chúa
muốn chứ không phải theo ư riêng ḿnh thích.
Nếu không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa
đúng đắn được. Như vậy, chỉ
nên cho những người “b́nh tâm” được làm
chọn lựa, tức là những người chỉ
muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m
hoặc muốn làm theo ư ḿnh.[32]
Đă là người, sống th́ phải lựa
chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi
nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con
người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư
chí.
Con người có lư trí.
Để sống hạnh phúc, đối với
chính ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách
sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và
trong tương quan với Thiên Chúa con người cần
thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.
Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận
ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi
với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu
thương và luôn muốn con người sống hạnh
phúc.
Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi
thấy bậc sống này giúp tôi sống triển nở và
hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu
xa con người tôi mà bậc sống khác không thể đáp
ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa
gọi tôi.
Biết và làm, đôi khi không trùng khít với nhau
nơi nhiều người. “Tri hành bất nhất,” làm cho
con người không được hạnh phúc.
Thiên Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho
họ có khả năng thực hiện điều đó.
Nếu Thiên Chúa muốn ai thực hiện điều ǵ
đó, th́ người đó không thể nói “lực bất
ṭng tâm.” Như vậy, nếu một người thấy
rơ ḿnh không thể làm điều ǵ đó, hoặc không
thểå tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có
khả năng làm điều đó, th́ đó là dấu
chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn điều đó
cho họ.
Khả năng sống điều ḿnh xác tín, cho
thấy điều xác tín có thể là Ư Chúa đối
với họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay
thấy rằng) họ được Thiên Chúa gọi
sống đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc
sống cụ thể họ phải cảm thấy
sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống
dâng hiến. Không có khả năng sống đời
sống dâng hiến “một cách triển nở và hạnh
phúc,”[34] là
dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn người
đó sống đời dâng hiến.
Nếu chúng ta làm việc lựa chọn đúng,
nghĩa là nếu chúng ta chọn điều Thiên Chúa
muốn cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh
phúc hơn, phản ánh tương quan tốt với Thiên
Chúa.
Một cách cụ thể, nếu chúng ta chọn
lựa tốt, chúng ta sẽ:
· cầu nguyện tốt, ít nhất là
bằng thời gian trước khi chọn lựa;[35]
· vui hơn;
· b́nh an, thư thái, hạnh phúc hơn.
Xét gẫm cũng giúp chúng ta biết ḿnh hơn,
biết tương quan của ḿnh với Chúa đang
như thế nào, để ḿnh không ảo tưởng
về ḿnh, và để ḿnh cải thiện t́nh trạng
hiện tại.
Khi cầu nguyện về Nguyên Lư và Nền
Tảng trong ngày đầu tiên, chúng ta đă xin ơn B́nh
Tâm: chọn Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên
hết, c̣n những sự khác th́ sao cũng
được, dù là giữa nghèo và giầu, danh vọng hay
sỉ nhục! Hôm nay khi cầu nguyện về “ngày Inhă,”
chúng ta đă biết giầu có, danh vọng và kiêu ngạo
là những cạm bẫy của ác quỷ; và nghèo khổ,
sỉ nhục là con đường đích thực mà Chúa
Giêsu dạy chúng ta.
Chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được yêu
Chúa Giêsu đến độ xin chọn nghèo và sỉ
nhục với Ngài chưa?
Nghèo tinh thần là không bám víu vào tạo vật, dù
là tiền bạc hay ai đó; Xin ơn nghèo tinh thần,
tức là xin Chúa ơn không bám víu vào tiền bạc hay
bất cứ một tạo vật nào.
Con người có bản năng được
tôn trọng. Xin ơn được sỉ nhục,[36] là
tự hủy, là từ bỏ chính ḿnh với ư riêng và
tất cả con người của ḿnh.
Chúa Giêsu nói: “phúc cho các ngươi là kẻ nghèo
... khốn cho các ngươi là kẻ giầu” (Lc 6:20.24),
“phúc cho các ngươi khi người ta xỉ mạ, nói
xấu các người đủ điều v́ cớ Ta và
v́ Tin Mừng, hăy hân hoan v́ phần thưởng của các
ngươi lớn thật ở trên trời” (Mt 5:11-12; Lc
6:22).
Chúng ta có tin lời đức Giêsu là chân lư, và
chúng ta có muốn sống theo Lời Ngài không? Nếu chúng ta
tin thật, ắt chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta
được ơn sỉ nhục và ơn nghèo thực
sự! Nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều th́ chắc chúng ta
đă dám xin cho được đồng h́nh đồng
dạng với Ngài, ngay cả trong nghèo và sỉ nhục
khinh chê.
Cái ǵ là mười ngàn dollars của tôi?
Mười ngàn dollars của tôi có thể không là
tiền bạc, nhưng có thể là tương quan với
ai đó, hay một địa sở, một nghề
nghiệp, một công việc, một tặng vật nào
đó, v.v.
Trong qúa khứ tôi ở mẫu người
thứ mấy?
Và hiện tại tôi ở mẫu người
thứ ba không?
Không phạm tội trọng, không muốn làm
mất ḷng Chúa và b́nh tâm, yêu Chúa đến độ
muốn trở nên giống Chúa trong khó nghèo khổ nhục:
đó là ba cấp độ của t́nh yêu (LT 165-167). Tôi có
muốn được liệt vào số những
người muốn trổi trang trong việc phụng
sự Chúa, tức những người yêu Chúa trong cấp
độ khiêm nhường thứ ba không? Tôi có chọn nên
giống Chúa Giêsu hơn không, nghĩa là chọn nghèo với
Chúa nghèo hơn là được giầu sang, chọn
bị sỉ nhục và khinh chê với Đức Giêsu
bị sỉ nhục và khinh chê hơn là được tôn
trọng, chọn bị coi là ngu dại với Chúa Kitô
bị coi là ngu dại hơn là được coi là khôn
ngoan thông thái ở đời không?
Như thánh Inhaxiô đă chỉ trong sách Linh Thao (LT
136-148).
Cần lưu ư:
· ác quỷ là thực tại vô h́nh, không
như con người chúng ta;
· để nói về những thực
tại đó, người ta không thể không dùng những
h́nh ảnh,[37] hoặc những ư niệm[38] và
từ ngữ để diễn tả;
· có người cho rằng những h́nh
ảnh thánh Inhaxiô dùng cho bài cầu nguyện này không c̣n thích
hợp với năo trạng con người ngày nay. Nếu
như vậy, họ có thể dùng những h́nh ảnh khác.
Ma qủy cám dỗ con người, làm con
người tham muốn của cải vật chất, và
sau đó ham muốn vinh hoa thế gian; và hậu qủa là
tính kiêu ngạo tự măn!
Điều thánh Inhaxiô nói về mưu
chước của ác quỷ rất chính xác, v́:
· Người xưa cũng nói “có tiền
mua tiên cũng được,” “kim ngân phá lề luật;”
ngày nay người ta nói “đồng tiền là tiên là
phật, là sức bật của tuổi trẻ, sức
khoẻ của tuổi già, cái đà của danh vọng, cái
lọng để che thân, cán cân của công lư;”
· Những người có tiền
thường được tôn trọng, được kính
trọng “qúa mức.” Có tiền thường dễ có
địa vị; người ta có thể mua công danh
chức tước;
· Với tiền bạc, người ta
làm được nhiều chuyện đến độ
người ta nghĩ rằng họ có thể làm
được mọi chuyện với tiền bạc; và
như vậy người ta dễ đi đến tự
măn kiêu ngạo.
Tôi có cho rằng “giầu có danh vọng chức
quyền” là con đường ác quỷ dùng để trói
buộc con người không? Trong cuộc sống
thường ngày tôi có đồng lơa và đi theo
đường lối của ác quỷ không?
Đức Giêsu khuyên bảo các môn đệ
của Ngài hăy t́m cách giúp con người sống nghèo khó
trong ḷng tột bực, và ngay cả chấp nhận nghèo
khó cụ thể nếu Chúa muốn và nếu Chúa
được phụng sự hơn; thứ đến
giúp họ ao ước chịu sỉ nhục và khinh chê; và
từ hai điều đó sẽ có đức khiêm
nhường.
Sở dĩ như vậy, v́ nghèo giúp
người ta dễ trông cậy vào Chúa hơn; và một
khi nghèo, con người dễ bị khinh khi coi
thường; và như vậy, sẽ giúp người ta
dễ nhận ra sự thật về chính ḿnh “không là ǵ
cả,” và giúp người ta khiêm nhường thực
sự.
Tôi có chấp nhận lời huấn dụ và con
đường của Chúa không? Tôi có sẵn sàng sống
theo đường Người chỉ dạy không?
Tâm sự
Xin cho ḿnh được nghèo và sỉ nhục,
để được đứng vào dưới cờ
thập giá của đức Giêsu Kitô, để
được nên giống Chúa Kitô hơn.
Khung cảnh
Như thể chúng ta hiện diện tại
chỗ gặp gỡ giữa đức Giêsu và
người thanh niên giầu có: “nhằm lúc Ngài ra đi lên
đàng” (Mc 10:17).
Ơn xin
Nhận ra lời mời gọi của Chúa và mau
mắn quảng đại đáp trả tiếng gọi
của Ngài.
Điểm
Cách cầu nguyện của chúng ta trong bài này là
chiêm niệm, tức là “nh́n nghe quan sát, suy nghĩ để
rút ích lợi.”
Anh thanh niên này rất tốt, anh đă giữ
thập giới từ thuở bé; không chỉ thế, anh
c̣n bận tâm khao khát sự sống đời đời.
Anh ta kính trọng đức Giêsu, điều này
được thấy qua cung cách bái chào. Anh ta đặt
hy vọng nhiều nơi đức Giêsu, chính v́ thế anh
ta mới t́m hỏi khao khát của anh ta nơi Ngài. C̣n
đức Giêsu, Ngài thương anh ta cách đặc
biệt “đức Giêsu nh́n người ấy đem ḷng
yêu mến.”
“Ngươi chỉ thiếu một điều.
Đi đi, có ǵ th́ đem bán mà cho kẻ khó, và ngươi
sẽ có một kho tàng trên trời, rồi đến theo
Ta” (Mc 10:21). Lời mời gọi này, cho anh thanh niên
giầu có này thấy con người thực của anh ta
hơn. Anh bỏ đi buồn rầu, v́ anh không thể
dứt bỏ được của cải. Anh không đáp
lại lời mời gọi của đức Giêsu.
Đâu là kho tàng của tôi mà Chúa mời gọi tôi
dứt bỏ? Tôi có sẵn sàng dứt bỏ để
đi theo Ngài không? Nếu tôi không dứt bỏ, tôi không
thể theo Ngài được!
Như thể đức Giêsu chữa thẹn mà
Ngài nói “những người có của khó vào
được Nước Thiên Chúa biết bao,” nhưng
sự thực là như lời đức Giêsu nói; các tông
đồ phản ứng bằng thái độ kinh
ngạc “ngẩn người ra.” Đức Giêsu nói lại
điều Ngài đă nói một cách rơ ràng hơn: “Này các con,
khó vào được Nước Thiên Chúa biết bao!
Lạc đà qua lỗ kim c̣n dễ hơn người
giầu có vào Nước Thiên Chúa;” các tông đồ tỏ
thái độ bằng lời nói: “vậy th́ c̣n ai có thể
được cứu?” Và đức Giêsu dứt khoát
hơn bằng cả lời nói lẫn thái độ và cái
nh́n: “nơi loài người th́ không thể được,
nhưng không thế nơi Thiên Chúa, v́ mọi sự
đều là có thể nơi Thiên Chúa.”
Thái độ của tôi đối với
của cải như thế nào? Tôi đă thực sự coi
giầu có là một mối họa không, hay tôi đă coi nó là
một mối phúc?
Tuy dù các tông đồ là những người
nghèo, nhưng những điều các vị bỏ cũng
là tất cả với các ngài: cha mẹ, anh chị em, con
cái,v.v.
Để theo Chúa, các tông đồ đă từ
bỏ tất cả. Tôi có sẵn sàng từ bỏ tất
cả để theo đức Giêsu không? Tôi có sẵn sàng
từ bỏ những ǵ “qúy nhất” đối với tôi,
để theo Ngài không?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa về kho tàng của tôi,
về những ǵ ngăn cản tôi tới với Chúa, và
xin Chúa giúp ḿnh quảng đại với Chúa hơn.
Khung cảnh và Ơn xin như
thánh Inhaxiô chỉ trong sách Linh Thao (LT 149-157).
Điểm
Đâu là quyến luyến lệch lạc của
tôi? Có thể đó là một kỷ vật, một chỗ
ở, một công việc, một nghề nghiệp,
một tương quan với người đồng phái
hay khác phái, v.v.
Nếu chú ư, chúng ta đă có thể nhận ra
quyến luyến lệch lạc hay “kho tàng” của ḿnh qua
những chia trí trong giờ cầu nguyện.[39]
Trong quá khứ, tôi đă thuộc mẫu
người thứ mấy? Hiện tại, tôi thuộc
mẫu người thứ mấy? Nếu tôi chưa
thuộc mẫu người thứ ba, tôi có ao ước
cho tôi được thuộc mẫu người thứ
ba không?
Mẫu người thứ nhất mới
chỉ muốn bỏ quyến luyến lệch lạc,
chứ họ không chịu dùng phương thế
để bỏ nó.
Mẫu người thứ hai muốn bỏ ḷng
quyến luyến lệch lạc nhưng lại muốn
giữ lại cái mà họ quyến luyến.
Mẫu người thứ ba muốn không c̣n
quyến luyến lệch lạc nữa, nên sẵn sàng
bỏ cả cái mà ḿnh quyến luyến; Họ sẵn sàng
đến độ chỉ giữ lại cái đó
nếu thấy rơ rằng Chúa muốn họ giữ lại
cái đó; c̣n nếu không thấy rơ Chúa muốn họ
giữ, th́ họ bỏ; trong khi chờ đợi
để biết Chúa muốn họ thế nào, họ coi
như ḿnh đă bỏ.
Tâm sự
Nói chuyện thân thưa với Chúa khi nh́n thấy
rơ về con người của ḿnh; xin Chúa giúp ḿnh yêu Chúa
bằng hành động, bằng chính đời sống
cụ thể và từ bỏ của ḿnh.
Khung cảnh:
Bên bờ giếng Yacob, đức Giêsu mỏi
mệt, đói và khát. Đức Giêsu khẳng định:
“của ăn của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta”
(Ga 4:34).
Ơn xin:
Xin cho con hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và theo
Chúa hơn. Xin cho con luôn biết lắng nghe và thực
hiện Lời Chúa trong từng giây phút của đời
sống con như Chúa đă luôn t́m và thực hiện thánh ư
Chúa Cha trong suốt cuộc sống tại thế.
Điểm:
Đức Giêsu là Ngôi Lời Nhập Thể. Thiên
Chúa nhập thể để thực hiện chương
tŕnh cứu độ con người, làm cho con
người nhận biết Thiên Chúa yêu thương con
người, để con người đáp trả t́nh
yêu Thiên Chúa, và như vậy con người được
hạnh phúc.
Ngôi Lời Thiên Chúa đă chấp nhận
người cha người mẹ thuộc giai cấp b́nh
dân nghèo nàn, và chấp nhận để ḿnh được
sinh ra trong cảnh nghèo hèn cùng cực nơi chuồng chiên
cừu.
Thiên Chúa Nhập Thể đă sống rất b́nh
thường tại Nadarét, tập lẫy tập ḅ tập
đứng tập đi, học ăn học nói học
gói học mở, học đọc học viết,
học làm nghề thợ mộc với thánh Giuse.
Đức Giêsu đă sống b́nh thường
như một em bé ở Nadarét, được đối
xử như mọi em bé khác cùng tuổi không có ǵ ưu
tiên. Có lẽ về khả năng thông minh, đức Giêsu
cũng b́nh thường như bao người, bởi v́
Ngài giống chúng ta mọi đàng trừ tội (Hr 2:17;
4:15).
Năm được 12 tuổi, v́
được Thánh Thần thúc đẩy nên Ngài đă
sẵn sàng ở lại đền thờ dù không kịp
báo cho cha mẹ.
Đức Giêsu luôn sống dưới tác
động của Thánh Thần. Một khi nhận ra Thánh Ư
Thiên Chúa th́ Ngài vâng phục, dù ư định đó như
thế nào đối với Ngài chăng nữa.
Trong cuộc đời công khai, đức Giêsu
miệt mài rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Khi
người ta muốn giữ Ngài lại, Ngài nói: “Ta
phải đi để rao giảng ở nơi khác
nữa, chính v́ thế mà Ta đến thế gian” (Mc 1:38).
Khởi đầu cuộc sống công khai,
“Thần Khí Thiên Chúa dẫn Ngài vào hoang địa
để Ngài ăn chay, và ở đó Ngài bị ác quỷ
cám dỗ” (Mt 4:1). Đức Giêsu luôn sống dưới
tác động của Thánh Thần.
Trên đường từ Giuđê về Galilê,
mệt mỏi và đói khát, đức Giêsu và các tông
đồ đă dừng chân bên bờ giếng Yacob; và trong
khi chờ đợi các môn đồ mua thức ăn,
đức Giêsu đă xin nước nơi chị phụ
nữ để uống. Và dịp tới, đức Giêsu
đă miệt mài nói về Thiên Chúa đến quên cả
đói: “Của ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă
sai Ta” (Ga 4:34).
Ngay cả trong việc làm phép lạ, đức
Giêsu cũng luôn t́m ư Thiên Chúa Cha; và một khi Ngài thấy ư
Thiên Chúa Cha, th́ Ngài thực hiện. Chẳng hạn trong
cuộc gặp gỡ với chị phụ nữ
người Syri-phênici[40] (Mc
7:24-30).
Trong cuộc đời rao giảng Nước
Thiên Chúa, khi được thúc đẩy phải nói
điều ǵ đó, th́ Ngài nói dù bị hiểu lầm và
chống đối, thậm chí phải chết:
· “tội của ngươi đă
được tha” (Mc 2:7);
· “trước khi có Abraham, đă có Ta” (Ga
8:57-58);
· “Ta và Cha Ta là một” (Ga 10:30);
· “Và các ông sẽ thấy Con Người
ngự bên hữu Quyền Năng và đến với mây
trời” (Mc 14:62).
Đức Giêsu luôn làm theo Ư Cha.
Trong vườn dầu, đức Giêsu nói: “xin
đừng theo Ư Con nhưng là Ư Cha” (Mc 14:36). Trên thập
giá, dù bị cám dỗ rằng Thiên Chúa đă bỏ rơi
Ngài “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34),
nhưng Ngài vẫn một niềm tin tưởng “Lạy
Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46), và Ngài sẵn
sàng chấp nhận tất cả những ǵ Thiên Chúa cho
xảy tới với Ngài “Đă hoàn tất” (Ga 19:30).
Tâm sự
Đức Giêsu là Thiên Chúa mà Ngài luôn t́m kiếm và
thực hiện Ư Cha trong từng biến cố của
đời Ngài, xin cho ḿnh cũng được nên
giống Ngài, luôn t́m kiếm và thực hiện Thánh Ư Thiên
Chúa.
Khung cảnh
Nh́n đức Giêsu chết thê thảm trên
đồi Calvê, và Ngài bị coi như người tội
lỗi.
Ơn xin
Cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, và
xin cho ḿnh yêu Chúa đến độ ao ước trở
nên giống Ngài, đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Điểm
Trong quá khứ tôi ở bậc khiêm nhường
nào? Và hiện tại tôi ở mức độ nào?
Mức độ khiêm nhường thứ
nhất: “thà chết hay được tất cả
thế gian, tôi cũng không phạm một tội trọng.”
Mức độ khiêm nhường thứ hai:
“b́nh tâm, thà chết cũng không phạm một tội
nhẹ;”[41] nghĩa
là, điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm,
c̣n trong trường hợp cả hai đều làm vinh danh
Thiên Chúa ngang nhau th́ tôi không nghiêng chiều về
điều này hơn điều kia.[42]
Mức độ khiêm nhường thứ ba: “yêu
Chúa đến độ muốn nên giống Chúa, muốn
được đồng h́nh đồng dạng với
Chúa Giêsu Kitô.” Ở mức độ t́nh yêu thứ ba này,
nếu điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm;
nhưng nếu trong cả hai trường hợp
đều làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ để nên
giống Chúa Giêsu hơn, để trở nên đồng
h́nh đồng dạng với Ngài hơn, tôi chọn
trở nên nghèo với đức Giêsu nghèo hơn là
giầu, tôi chọn bị coi là sỉ nhục với
đức Giêsu bị sỉ nhục hơn là
được kính trọng, tôi chọn bị coi là điên
dại với đức Giêsu bị coi là điên dại
hơn được coi là khôn ngoan thông thái trên đời.
Tôi vẫn thường nói rằng tôi yêu mến
Chúa! Nếu tôi yêu mến Chúa thực, chắc tôi đă xin
được đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Nếu tôi đă không dám xin được yêu Chúa
ở mức độ khiêm nhường thứ ba, đó
là dấu chỉ cho thấy tôi chưa yêu Chúa nhiều
lắm, tôi chưa tin tưởng phó thác tất cả cho
Thiên Chúa, tôi chưa tin rằng Thiên Chúa yêu tôi vô cùng. Nếu
như vậy, hăy khiêm tốn xin Chúa củng cố
đức tin cho ḿnh, xin Chúa làm cho ḿnh yêu Chúa, và xin cho ḿnh
yêu Chúa đến độ ao ước trở nên
giống Chúa, đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
Tâm sự
Làm ba cuộc tâm sự, một với đức
Maria, một với Chúa Giêsu Phục Sinh đang ngự bên
hữu Thiên Chúa, một với Thiên Chúa Cha. Xin cho ḿnh
được đứng dưới cờ thập giá
của đức Giêsu bằng hành động:
· ao ước sống nghèo khó tinh thần
tột bậc và thái độ sẵn sàng nghèo thực
sự nếu Chúa muốn;
· ao ước chịu sỉ nhục khinh
chê với Chúa hơn là được vinh vang trần
thế.
Làm lựa chọn bậc sống theo chỉ
dẫn của sách Linh Thao (LT 178-183).
Chọn lựa bậc sống là việc rất
quan trọng, nên hăy làm hết sức cẩn thận.
Nếu ta làm việc chọn lựa bậc sống
tốt, ta sẽ sống hạnh phúc hơn.
Khung cảnh
Như ḿnh đang hiện diện trước tôn
nhan Chúa và triều đ́nh thần thánh trên trời. Các thánh
và các thiên thần đang cầu bầu cho tôi.
Ơn xin
Cảm nhận Chúa yêu ḿnh nên đă can thiệp vào
đời ḿnh, để ǵn giữ ḿnh, và làm ḿnh thuộc
trọn về Chúa.
Điểm
Ngày xưa, tại sao tôi đi tu?
Lúc mới đi tu, tôi có ư thức Chúa
gọi tôi không? Lúc đó, tôi đi tu v́ tôi muốn, hay tôi
thấy Chúa gọi tôi nên tôi đi?
C̣n bây giờ, tôi có xác tín Chúa gọi tôi
sống đời dâng hiến không?
Có dấu chỉ khách quan[43] nào
trong suốt đời tôi, cho thấy Chúa đă can
thiệp vào đời tôi, để ǵn giữ tôi cho
tới bây giờ, để làm tôi thuộc về Chúa cho
tới ngày hôm nay?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa, Đấng đă yêu
thương tôi vô cùng. Cảm tạ v́ bao hồng ân Chúa ban
cho ḿnh trong suốt đời.
Tuần thứ ba của Linh Thao cầu nguyện
về đức Giêsu chịu khổ h́nh. Đức Giêsu
đối diện biến cố khổ nạn với
tất cả sự run en sợ sệt như chúng ta
mọi đàng, nhưng Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu
thương Cha và yêu thương con người.
Cố gắng đi vào tâm t́nh của đức
Giêsu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc
đời tại thế này. Ngài tê tái ḷng biết bao khi
thấy một người thân yêu sẽ phản bội và
nộp Ngài: t́nh yêu của Ngài bị từ khước,
bị phản bội. Ngài đă ghê sợ thập giá và cái
chết, đặc biệt trong vườn dầu, nhưng
Ngài đă vâng lời cho đến chết mà không một
lời oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của đức Giêsu, và
ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà đức Giêsu
đă chấp nhận tất cả những sự ấy.
T́nh yêu không hoàn toàn được diễn tả
bằng lời nói nhưng chủ yếu bằng việc
làm. Trong cuộc sống tại thế này, dường
như thập giá gắn liền với t́nh yêu: thập giá
là cách thế tuyệt diệu diễn tả t́nh yêu. Không
thể hiểu được thập giá nếu không nh́n
trong nhăn quan t́nh yêu.
Hiểu Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn.
Chúa đă chết v́ yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái
độ nào đối với Người yêu tôi
dường ấy?
Xin cho ḿnh hiểu nỗi đau buồn của
Chúa (Ga 13; Mc 14)? tại sao Chúa phải chịu đau
khổ cô đơn[44] như
vậy? Phải chăng Chúa chịu tất cả những
điều đó v́ yêu thương tôi vô cùng?
Xin cho ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu
của Chúa đối với ḿnh; xin cho ḿnh yêu lại Chúa
đến độ ao ước được chia
sẻ nỗi đau buồn của Chúa, muốn
được đồng h́nh đồng dạng với
Đấng yêu thương ḿnh vô cùng như vậy.
Thánh Inhaxiô dạy: “xin cho ḿnh được
đau đớn, hối hận và xấu hổ, v́ chính
bởi tội tôi mà Chúa phải bị khổ h́nh như
vậy” (LT 193); “xin cho ḿnh được đau đớn
với Chúa Kitô thống khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô
tan nát tâm hồn, được ơn khóc lóc và đau
đớn trong ḷng v́ bao đau đớn mà Chúa Kitô đă
chịu v́ tôi” (LT 203).
Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh
sau, hoặc dùng những đoạn nào theo như ḿnh
thấy thích hợp:
· Âm mưu giết đức Giêsu (Mc
14:1-2.10-11);
· Làm sao Ta có thể quên ngươi (Hs
11:1-9);
· Ta tự ḿnh hiến mạng sống Ta
(Ga 10:17-31);
· Yêu thương là phục vụ (Ga
13:1-17);
· Yêu thương là hiến dâng (Lc 22:14-20);
· Hăy tin Thầy, hăy yêu Thầy (Ga 14:1-15:8);
· Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga
15:9-17);
· Báo trước Phêrô chối Thầy (Mc
14:26-31);
· Đức Giêsu chiến đấu
với chính ḿnh ở vườn dầu (Mc 14:32tt);
· Giuđa nộp Thầy bằng “dấu
chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);
· Đức Giêsu bị xử
trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);
· Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72);
· Đức Giêsu bị xử
trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);
· Đức Giêsu trước ṭa Hêrôđê
(Lc 23:8-12);
· Con đường t́nh yêu (Mc 15:15-32);
· Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41);
· Đức Mẹ dưới chân
thập giá (Ga 19:25-27);
· Chứng nhân thinh lặng;
· Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47);
· Tâm t́nh của những người yêu
thương đức Giêsu trong những ngày khổ
nạn;
· Tv 22;
· Đức Giêsu, người tôi tớ
chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12);
· Đức Giêsu chu toàn sứ mạng dù
phải chết thập giá (Pl 2:6-11).
Khung cảnh
Đức Giêsu và các tông đồ trong một
căn pḥng trên gác, nơi ăn tiệc Vượt Qua.
Ơn xin
Xin hiểu đức Giêsu hơn, hiểu tâm t́nh
của Ngài lúc này, để yêu Ngài hơn, và ao ước
chia sẻ nỗi buồn sầu của Ngài, cũng như
để theo Ngài, đồng h́nh đồng dạng
với Ngài, bắt chước sống theo cung cách của
Ngài.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi;
cố gắng đi vào tâm t́nh của Ngài, xem Ngài đă
phải chịu cực khổ v́ yêu tôi như thế nào, và
Ngài c̣n sẵn sàng chịu tất cả những ǵ có
thể xảy đến như thế nào nữa, v́ yêu tôi?
“Đức Giêsu, biết đă đến giờ
Ngài phải qua khỏi thế gian mà đến cùng Cha,
đă yêu mến những kẻ thuộc về Ngài c̣n trong
thế gian, th́ Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga
13:1).
Đức Giêsu không chỉ yêu chúng ta bằng t́nh
yêu của một người yêu một người,
nhưng bằng t́nh yêu của Thiên Chúa đối với
Thiên Chúa: “Như Cha đă yêu mến Thầy, Thầy
cũng yêu mến anh em; Hăy ở lại trong t́nh yêu
của Thầy” (Ga 15:9).
Tâm t́nh của đức Giêsu trong bữa tiệc
Vượt Qua này, là tâm t́nh của người yêu phải
xa người ḿnh yêu. Chúng ta phải đọc những
hành động và lời nói của đức Giêsu trong
bầu khí và tâm t́nh trên.
Các tông đồ tranh luận xem ai giữa họ
là người đứng đầu, và đức Giêsu
đă dạy: “Ai muốn làm người đứng
đầu, th́ phải làm người rốt hết, và làm
người phục vụ mọi người” (Mc 9:35).
Một lần khác, hai con ông Giêbêđê, xin Ngài cho họ
một người ngồi bên hữu, một người
ngồi bên tả Ngài; các môn đệ khác bực tức
với họ; đức Giêsu đă dạy: “ai muốn làm
lớn giữa anh em th́ phải làm người phục
vụ anh em; và ai muốn làm đầu anh em th́ phải làm
đầy tớ mọi người” (Mc 10:43-44).
Trong bầu khí “tranh nhau làm đầu” đó mà
đức Giêsu đă dạy các tông đồ bài học
khiêm tốn phục vụ bằng hành động (Ga
13:1-17) chứ không bằng lời như trước
nữa.
Đức Giêsu đă nêu gương phục
vụ cho các tông đồ. Ngài đă yêu các tông đồ vô
cùng, nhưng đă thành người phục vụ, thành
đầy tớ trong hành vi rửa chân cho các ông. T́nh yêu
đ̣i chúng ta phải có tinh thần phục vụ:
“Thầy đă làm gương, để anh em cũng
sống như Thầy.”
Trong t́nh yêu, người ta có nhiều sáng
kiến. Đức Giêsu là người yêu phải xa
người ḿnh yêu “cách nhân loại,” và Ngài đă có một
sáng kiến tuyệt vời để ở gần măi
người ḿnh yêu, đó là “bí tích Thánh Thể.”
Đức Giêsu đă biến bánh rượu thành
ḿnh và máu Ngài, để trở thành thần lương nuôi
sống chúng ta. Ngày xưa Ngài đă từ chối biến
đá thành bánh để phục vụ Ngài, th́ nay Ngài đă
biến bánh rượu thành thịt máu Ngài để nuôi
con người.
Khi yêu, người ta cho nhau tất cả, và cao
điểm là chính bản thân ḿnh. Đức Giêsu đă yêu
chúng ta vô cùng, và Ngài đă hiến ḿnh Ngài cho Chúa Cha và cho con
người chúng ta. Yêu thương là đời sống
của những người sống đời dâng
hiến, và những người sống đời dâng
hiến phải là những người luôn yêu thương.
Với hành vi tự hiến qua bí tích Thánh Thể,
chúng ta thấy rơ t́nh yêu tự nguyện hiến thân của
đức Giêsu trong ngày thứ sáu hôm sau.
Tâm sự
Hăy nói chuyện thân thưa với Chúa như chúng
ta thấy. Xin Chúa cho ḿnh yêu Chúa đến độ
muốn chia sẻ niềm đau nỗi buồn của
Ngài.
Khung cảnh
Vườn dầu, nơi đức Giêsu
trải qua cơn chiến đấu với chính ḿnh.
Ơn xin
Xin hiểu Chúa hơn, hiểu nỗi lo sợ
kinh hoàng và buồn sầu của Ngài; Xin cho ḿnh yêu Chúa,
được chia sẻ nỗi buồn đau của
Ngài, và xin cho ḿnh được sẵn sàng nên giống Ngài
trong khó nghèo khổ nhục.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi. Cố
gắng đi vào tâm hồn Ngài, để yêu và nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài.
Đức Giêsu xưa nay vẫn được
hiểu như người luôn trầm tĩnh và không bao
giờ run sợ trước mọi biến cố;
thế nhưng đoạn Tin Mừng Mc 14:32-42 cho thấy
“đức Giêsu hăi hùng xao xuyến” và “buồn đến
chết được,” c̣n thánh Luca cho thấy “mồ hôi
Ngài như những giọt máu nhỏ xuống đất”
(Lc 22:44).
Giờ phút đức Giêsu ở Vườn Dầu,
có lẽ là giờ phút khủng khiếp nhất đối
với đức Giêsu; bởi v́ đây là cuộc chiến
đấu nội tâm, và với chính ḿnh.
Có lẽ giờ phút này đức Giêsu cảm
thấy “tội của tất cả loài người”
đè nặng trên Ngài, và có lẽ Ngài cũng thấy
trước những ǵ sắp xảy đến cho Ngài.
Làm sao để bắt đức Giêsu cách chính
xác giữa một nhóm đông 12 người? Giuđa và
đồng bọn đă nghĩ ra được một
cách rất chính xác: “ôm hôn!”
Nỗi đau của đức Giêsu tăng thêm
khi thấy Giuđa đă “dùng dấu chỉ t́nh yêu”
để nộp “Người” đă đồng hành
với ḿnh suốt ba năm trời: “Giuđa ơi, anh dùng
cái hôn để nộp con người sao?” (Lc 22:48). Có
lẽ Giuđa đă qúa táng tận lương tâm khi dám hành
xử như vậy.
Đức Giêsu đă thành “phạm nhân” khi bị
bắt, và chắc chắn người ta đă đối
xử với Ngài cách thậm tệ: Thiên Chúa mà bị
người ta trói và dẫn đi một cách bất kính
như vậy sao?
Tâm sự
Thân thưa với Chúa như chúng ta thấy
nơi ḷng ḿnh. Xin cho ḿnh yêu Chúa đến độ ao
ước được chia sẻ nỗi đau và
sỉ nhục của Ngài, v́ Ngài đă yêu chúng ta mà Ngài
phải chịu những sự đó.
Khung cảnh
Đức Giêsu trước toà Công Nghị Do Thái
và trước toà Roma.
Ơn xin
Xin ơn hiểu và cảm nhận những
đau đớn và sỉ nhục đức Giêsu đă
chịu; và xin được tan nát cơi ḷng với
đức Giêsu tan nát tâm hồn.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi: con
người mà dám xét xử Thiên Chúa!
Công nghị được triệu tập
để kết án tử h́nh đức Giêsu (Mc 14:1.55),
nhưng với những lư do được đưa ra,
không đủ để họ kết án đức Giêsu.
Thượng tế đă hỏi đức Giêsu
về chân tính của Ngài, và câu trả lời đă làm cho
Ngài bị kết án tử: “rồi các ông sẽ thấy Con
Người ngự bên hữu Quyền Năng mà
đến trên mây trời” (Mc 14:62).
Đức Giêsu có biết nếu Ngài trả
lời như vậy, Ngài sẽ phải chết không?
Chắc đức Giêsu biết, v́ Ngài không phải là
người kém thông minh (Lc 2:47). Nếu đức Giêsu
biết nếu Ngài nói như vậy, Ngài sẽ phải
chết, th́ tại sao Ngài lại dại dột nói lên
điều đó?
Câu nói làm đức Giêsu phải chết, là câu nói
vô cùng quan trọng, mặc khải cho chúng ta thấy chân
tính và nguồn gốc của đức Giêsu; và nhờ
đó, chúng ta biết Thiên Chúa yêu con người vô cùng; và
nhờ đó, con người có thể tin tưởng
sống b́nh an hạnh phúc.
Đức Giêsu là chứng nhân t́nh yêu: Ngài tới
để làm chứng cho con người ngày nay biết là
Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Nếu
đức Giêsu không nói sự thực, và sự thực
đó làm Ngài phải chết, th́ e rằng con người
không thể nhận biết chắc chắn tuyệt
đối rằng Thiên Chúa yêu thương con người
vô cùng.
Đối với người Do Thái, đức
Giêsu đă phạm một tội rất nặng “phạm
thượng,” là người mà dám cho ḿnh ngang bằng Thiên
Chúa; chính v́ thế mà tất cả công nghị đều
nhất trí kết án tử h́nh đức Giêsu; hơn
nữa khi Philatô hỏi dân chúng xem họ muốn ông phóng
thích ai, Barabba hay Giêsu, th́ dân chúng đă chọn tha Barabba, v́
đối với họ, lúc đó, đức Giêsu đă
phạm một tội quá nặng “dám cho ḿnh ngang bằng
Thiên Chúa,” và tội này đáng ghê tởm hơn mọi
thứ tội, và như vậy, đức Giêsu ngàn lần
đáng chết hơn Barabba.
Dân Do Thái lúc đó là dân tộc bị trị, và
người Roma đă không cho phép họ được
quyền xử tử h́nh ai cả; một người
chỉ có thể bị xử tử h́nh cách hợp pháp
bởi toà án của người Roma, do tổng trấn xét
xử. Chính v́ thế những người lănh đạo
dân Do Thái đă đưa đức Giêsu sang xin Philatô xét
xử, khi họ thấy phải xử tử h́nh Ngài(Mc
14:64 Ga 19:7).
Philatô thấy đức Giêsu vô tội và bị
vu cáo, nên ông muốn tha đức Giêsu nhiều lần (Ga
18:38; 19:4.6.12), nhưng, v́ sợ mất địa vị
chức quyền nên Philatô nhu nhược, đă nhân
nhượng và đồng ư giết đức Giêsu.
Thiên Chúa phải là Đấng xét xử con
người, thế mà nay lại bị con người xét
xử. Tại sao đức Giêsu lại phải chịu
như vậy, phải chăng v́ yêu tôi? Tôi phải
đối xử với Ngài như thế nào đây?
Tâm sự
Cố gắng đi vào tâm hồn của
đức Giêsu trong những giờ phút này, để
thấy những nhục nhằn đức Giêsu phải
chịu, đặc biệt nơi toà án của Herode (Lc
23:8-12), và xin cho ḿnh được yêu Chúa và ao ước
chia sẻ nỗi niềm đau buồn tủi khổ
với Chúa.
Khung cảnh
Con đường đức Giêsu đă vác
thập giá đi qua: con đường từ nơi
đức Giêsu bị đánh đ̣n cho tới đồi
Golgotha.
Ơn xin
Xin ơn hiểu Chúa, hiểu nỗi tủi
nhục đau buồn của Chúa; xin cho ḿnh ơn
được yêu Chúa đến độ khao khát chia
sẻ đau khổ của Ngài, xin cho ḿnh đồng h́nh
đồng dạng với Ngài.
Điểm
Có thể dựa vào đường thánh giá
như chúng ta vẫn có thói quen làm để cầu
nguyện. Cũng có thể dùng những gợi ư sau đây.
Nh́n nghe quan sát đức Giêsu bị đánh
đ̣n, suy nghĩ và rút ích lợi.
Nh́n đức Giêsu bị lột trần, bị
trói, bị đánh và không được kiêng chừa
chỗ nào khỏi bị đánh; thấy đức Giêsu
quằn quoại đau đớn; thấy vết roi và
những lằn rướm máu.
Nghe tiếng roi. Đức Giêsu có kêu la không? Nghe
xem đức Giêsu nghĩ ǵ trong ḷng lúc đó?
Quan sát kỹ đức Giêsu. Ngài có bị xỉu
không? Aùnh mắt của Ngài thế nào, lộ lên sự thù
hằn, hay thương hại và tha thứ những
người đă hành hạ Ngài?
Suy nghĩ và rút ích lợi. V́ yêu tôi mà Chúa đă
phải chịu tất cả những sự ấy.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Đức Giêsu đă đuối sức lắm
rồi, Ngài té ngă. Ngài cảm nhận giới hạn
của thân xác như chúng ta. Lực bất ṭng tâm, “tinh
thần lanh lẹ nhưng xác thịt th́ yếu
đuối:” đức Giêsu đă ngă v́ Ngài không
gượng nổi nữa. Đức Giêsu nói ǵ với
Thiên Chúa Cha trong giờ phút này? Tâm t́nh của Ngài đối
với con người thế nào?
Nh́n đức Maria chạy tới gặp con
của Mẹ. Làm sao để gặp con, khi bao nhiều
người hiếu kỳ bu chung quanh? Có lẽ Mẹ
đă phải chạy tới trước chỗ
đức Giêsu sẽ đi ngang qua. Tâm t́nh thái độ
của Mẹ lúc đó ra sao? Mẹ nói ǵ với Thiên Chúa?
Mẹ có bị cám dỗ về đức tin vào Thiên Chúa
không khi nh́n con Mẹ như vậy và nghĩ về lời
Thiên Chúa nói qua thiên thần truyền tin?
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Hăy cảm nghiệm đau đớn của
đức Giêsu, của Mẹ khi thấy con bị hành
xử như vậy: “như dao sắc thâu qua ḷng” (Lc 2:35).
Tâm sự
Thân thưa với Chúa, Đấng đă yêu tôi
đến chết khốn khổ như vậy v́ tôi. Tôi
phải làm ǵ để đáp trả lại t́nh yêu của
Ngài bây giờ?
Khung cảnh
Đồi Calvê trong buổi chiều thứ sáu
hôm đó: đức Giêsu chết treo khổ giá giữa
những người tội lỗi; và thực sự Ngài
bị coi là người tội lỗi nặng nề.
Ơn xin
Chia sẻ cảm thông với Chúa, Đấng
đă chết v́ yêu tôi. Xin cho con ao ước
được nghèo khó và sỉ nhục, để cùng chia
phần với Ngài. Xin cho con được đồng
h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Đức Giêsu bị đóng đinh; Ngài quằn
quại không? Tâm hồn Ngài thế nào? Chúng ta sẽ dựa
vào những lời nói của đức Giêsu để
hiểu tâm t́nh của Ngài.
“Xin Cha tha cho chúng, v́ chúng lầm chẳng biết”
(Lc 23:34). Những người giết Ngài thực sự
không biết Ngài là Thiên Chúa! Đức Giêsu đă hiểu
biết điều đó, và đă cầu xin Thiên Chúa Cha tha
thứ lỗi lầm của họ đối với Ngài.
“Thật, hôm nay ta sẽ cho anh được
ở trên thiên đàng với ta” (Lc 23:43). Đức Giêsu
vẫn c̣n bận tâm tới thao thức và hạnh phúc
của người khác, Ngài không bận tâm cho chính Ngài.
“Này là con bà, này là Mẹ con” (Ga 19:26-27). Đức
Giêsu vẫn c̣n giờ và tâm huyết để nhớ và lo
cho những người thân, dù Ngài chỉ c̣n ít thời gian
nữa trên cuộc sống dương gian.
“Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?” (Mc 15:34).
Khủng khiếp biết bao, đức Giêsu mà c̣n bị
cám dỗ cả về “đức tin vào Thiên Chúa,” và ngay
cả trong giờ phút cuối đời của Ngài.
Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ trong hoang
địa, nhưng trong suốt đời Ngài, kể
cả trên thập giá.
“Lạy Chúa, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc
23:46). Đức Giêsu bị cám dỗ như thể Thiên
Chúa bỏ rơi Ngài, nhưng thực tế đức
Giêsu không chiều theo, đức Giêsu luôn tin tưởng
phó thác tất cả tương lai đời ḿnh cho Thiên
Chúa, dù hiện tại ra sao chăng nữa.
“Ta khát” (Ga 19:28). Giây phút này đức Giêsu không
chỉ khát nước, nhưng thực sự Ngài khao khát
t́nh yêu của con người; Ngài đă để trái tim
của Ngài được mở ra và chảy đến giọt
nước và giọt máu cuối cùng: Ngài đă yêu
thương con người đến cùng t́nh yêu của
Ngài (Ga 13:1), Ngài đă yêu thương con người như
Cha đă yêu thương Ngài.
“Đă hoàn tất” (Ga 19:30). Thế là xong; Ngài không
thể làm ǵ được nữa và không thể làm ǵ
hơn được nữa; Ngài chấp nhận thân
phận con người đến tận cùng, đó là
“không là ǵ cả và không làm được ǵ cả;” Ngài
chấp nhận và Ngài phó thác tất cả cho Thiên Chúa.
Đức Maria đă theo Con suốt chặng
đường Con Mẹ vác thánh giá; và trên đồi Calvê,
Mẹ đau khổ chứng kiến cái chết của Con
ḿnh mà không thể làm ǵ được cho Con; lời Thiên
Chúa nói với Mẹ năm xưa khi thiên thần truyền
tin, liệu c̣n được Thiên Chúa giữ lời không?
hay Thiên Chúa đă quên lời hứa? mà nếu Người
nhớ th́ làm sao c̣n có thể thực hiện
được nữa nếu đức Giêsu chết?
Mẹ nghĩ ǵ và nói ǵ trong những giây phút này?
Dù bị thử thách và cám dỗ trăm chiều, Mẹ
vẫn luôn tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa
dù Mẹ không biết Lời Chúa có thể thực hiện
làm sao đây: “phúc cho em là kẻ đă tin rằng Lời
Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện” (Lc
1:45).
Mẹ đứng đó dưới chân thập
giá, đau khổ, bị khủng hoảng về
đức tin biết bao! Nhưng như Con của Mẹ,
Mẹ hoàn toàn phó thác. Mẹ xứng đáng là Mẹ
những kẻ tin, là Nữ vương các thánh tử đạo.
Ba ngôi Thiên Chúa yêu thương nhau vô cùng, vậy
tại sao Thiên Chúa Cha nỡ để Con của Ngài là
đức Giêsu phải đau khổ và thử thách như
vậy?
Tại sao Thiên Chúa không tru diệt ngay kẻ
dữ? Tại sao Thiên Chúa lại để cho họ hành
hạ bao người lành như vậy?
Nếu Thiên Chúa làm theo điều tôi cầu xin:
tru diệt ngay người dữ để họ
đừng làm khổ bao người lành, th́ cái ǵ xảy
ra? Lúc đó, tôi là người phải bị tru diệt
đầu tiên, và sau đó là tất cả. Nếu Thiên Chúa
áp dụng điều đó, th́ chắc bây giờ chẳng
c̣n ai trên dương thế, v́ có ai đă không phạm
tội?[45]
Thiên Chúa đă không phạt người dữ
ngay, là để kẻ dữ c̣n có thời gian và cơ may
mà sám hối. Tạ ơn Thiên Chúa đă yêu thương con
người vô cùng!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu trên thập giá, với
đức Maria dưới chân thập giá, và với Chúa Cha
đang thinh lặng đau đớn[46] nh́n
Con của Ngài. Xin cho chúng ta biết chấp nhận thập
giá trong cuộc đời mỗi người, để
chúng ta mỗi ngày một nên giống Chúa Giêsu hơn.
Chúng ta bước sang tuần thứ tư
của Linh Thao: cầu nguyện về đức Giêsu
Phục Sinh.
Khi đức Giêsu c̣n tại thế và
trước cuộc khổ nạn, chưa có ai biết rơ
đức Giêsu là Thiên Chúa. Dù Ngài đă ba lần loan báo
rằng Ngài sẽ bị bắt, bị đánh đ̣n,
bị giết và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại;
nhưng khi Ngài bị bắt và chết, không có ai tin Ngài
sẽ sống lại; thậm chí khi Ngài đă sống
lại và hiện ra cho các phụ nữ, và họ đi báo
tin cho các tông đồ, thế mà các tông đồ cũng
không tin (Mc 16:9-11).
Để tin đức Giêsu đă sống
lại, có lẽ không tuyệt đối cần các tông
đồ[47];
nhưng để tin đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc
chắn cần lời chứng của các tông đồ.[48]
Chính nhờ tin vào đức Giêsu Phục Sinh mà
các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa:
nhờ Thánh Thần đức Giêsu trao ban khi Ngài hiện ra
cho các tông đồ (Ga 20:22) mà các tông đồ nhận
biết đức Giêsu là Thiên Chúa, và cũng nhờ
đức Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết
Thánh Thần là Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết trong LT 221: “Xin điều tôi ao
ước. Ở đây xin ơn để cảm
nghiệm sâu xa và mănh liệt niềm hân hoan và vui mừng v́
vinh quang và vui mừng của đức Kitô Chúa chúng ta.”
Niềm vui mừng và hân hoan ở đây là
niềm vui mừng và hân hoan tận thâm sâu trong tâm hồn,
do cảm nghiệm Chúa đă phục sinh, nhờ đó
niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng Trung Tín được
củng cố; và một khi tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa, con
người chúng ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương
chúng ta vô cùng, và như vậy chúng ta hân hoan và vui mừng.
Niềm hân hoan và vui mừng này không ai có thể
lấy mất được, v́ “dù thiên thần thiên
phủ, dù hiện tại tương lai, dù chiều cao hay
chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, không có
ǵ có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa
Kitô” (Rm 8:38-39).
Dù Kinh Thánh không nói Chúa Phục Sinh hiện ra cho
Mẹ Maria, nhưng thánh Inhaxiô đề nghị chiêm
niệm “Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ” (LT 218-225).
Nếu ai chấp nhận quan điểm của thánh
Inhaxiô, th́ có thể cầu nguyện dựa vào bài chiêm
niệm trên và những đoạn Kinh Thánh sau, c̣n nếu
không chấp nhận th́ có thể chỉ dùng những
bản văn Kinh Thánh để cầu nguyện mà thôi.
Các bản văn Kinh Thánh được
đề nghị:
· Chúa Phục Sinh hiện ra với chị
Maria Magdala (Ga 20:11-18);
· Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông
đồ và trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);
· Chúa Phục Sinh đổi đời hai
môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);
· Chúa Phục Sinh củng cố
đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);
· Chúa Phục Sinh chăm sóc các tông
đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);
· Cứng ḷng và ngoan cố trước
biến cố Đức Giêsu Phục Sinh (Mt 28:11-15);
· Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:6-11);
· Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở với
chúng ta (Mt 28:16-20);
· Chúa Phục Sinh hứa ban Thánh Thần
(Ga 14:15-26);
· Thánh Thần sẽ làm chứng về Ta
(Ga 15:26-16:15);
· Thánh Thần tỏ hiện trong ngày
lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);
· Nhân danh đức Giêsu Nadarét, anh hăy
đứng dậy mà đi (Cv 3:1-26);
· Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh
trước chính quyền (Cv 1-22);
· Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tôi
coi tất cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).
Khung cảnh
Khung cảnh mồ nơi táng xác đức Giêsu,
và nơi đức Maria ở trong những ngày này.
Ơn xin
Xin tin thật đức Giêsu đă phục sinh,
cũng như niềm hân hoan vui mừng thực sự,
được biểu lộ trong cung cách thái độ
sống và cả trên gương mặt.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi. Xem thiên
tính trong biến cố thương khó đă có vẻ
như ẩn, nay tỏ hiện vinh quang như thế nào!
Tâm t́nh của đức Maria là ǵ khi thấy
đức Giêsu thân h́nh tiều tụy dưới ách
thập tự giá? Mẹ suy nghĩ ǵ khi đứng
dưới chân thập giá, nh́n con ḿnh chết thê thảm
như vậy?
Lời Thiên Chúa phán cùng Mẹ trong biến cố
thiên thần truyền tin, liệu c̣n có thể
được thực hiện không? Phải chăng Thiên
Chúa đă quên lời nói của Ngài? Đức Maria ngoài
nỗi đau khổ và thất vọng khi thấy Con
của ḿnh là người công chính phải chết, c̣n
cảm thấy cám dỗ "về đức tin"
đối với Thiên Chúa! Phải chăng Thiên Chúa không
trung thành?
"Phúc cho em là kẻ đă tin rằng Lời
Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện" (Lc
1:45). Những ư tưởng và t́nh cảm đó, chỉ là
cám dỗ đối với đức Maria, Ngài không bao
giờ ưng thuận với những điều đó.
Có lẽ đức Maria luôn cầu nguyện
với Thiên Chúa! Mẹ tin rằng chắc chắn Lời
Chúa phán cùng Mẹ sẽ được thực hiện,
nhưng Mẹ không biết Lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ
được thực hiện bằng cách nào đây? Cám
dỗ liên lỉ về đức tin vào Thiên Chúa! Chỉ
khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ, Mẹ mới
thấy Lời Chúa phán cùng Mẹ nơi biến cố thiên
thần truyền tin mới được thực
hiện hoàn toàn.[49]
Nh́n nghe quan sát Mẹ, thấy Mẹ âu sầu
như thế nào trước khi Chúa Phục Sinh hiện ra
cho Mẹ; và khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho Mẹ,
Mẹ vui mừng hân hoan như thế nào!
Nếu ai không tin Chúa Phục Sinh hiện ra cho
Mẹ, th́ có thể chiêm niệm Chúa Phục Sinh hiện ra
cho chị Maria Magdala.
Nh́n nghe quan sát chị Maria Magdala trước
biến cố Chúa Phục Sinh hiện ra cho chị. Tại
sao chị lại ra mồ sớm như vậy? Tại sao
chị lại buồn đến độ như vậy?
C̣n khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho chị, chị vui
mừng hân hoan như thế nào?
T́nh yêu của chị đối với
đức Giêsu Phục Sinh, đă được
đức Giêsu Phục Sinh đáp trả khi hiện ra cho
chị.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Ngài cho
chúng ta tin vào Ngài, để chúng ta cũng được
vui mừng và hân hoan, hạnh phúc trong suốt cuộc
sống.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện diện tại
nơi các tông đồ ở trong ngày Chúa Giêsu
được chôn táng; xem nơi chốn đó như
thế nào, và bài trí ra sao.
Ơn xin
Xin ơn có được niềm vui và hân hoan v́
Chúa đă phục sinh; ước ǵ niềm hoan lạc này
mănh liệt đến độ được bày tỏ
nơi cả thân xác.
Điểm
Kể từ khi đức Giêsu bị bắt, và
đặc biệt sau khi Ngài bị giết chết, các tông
đồ hoang mang, kinh hoàng và thất vọng tột cùng.
Chúng ta hăy nh́n nghe quan sát các tông đồ:
· dáng điệu mệt mỏi chán
chường;
· những tiếng thở dài ảo năo;
· chán nản cùng cực, như thể
tuyệt vọng.
Các tông đồ không tin lời chị Maria Magdala
nói với họ rằng, chị đă được
gặp Chúa Phục Sinh (Mc 16:9-13). Tuy đă ba lần
đức Giêsu báo cho các tông đồ hay rằng Ngài
sẽ bị bắt, bị hành hạ, và sẽ bị
giết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại, thế
nhưng khi Ngài phục sinh và hiện ra cho các chị
phụ nữ, và các chị này về loan tin cho các ông,
nhưng các ông cũng chẳng tin.
Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ,
các ngài vui mừng và hân hoan như thế nào? Tưởng
chừng như tuyệt vọng, niềm hy vọng trông
cậy như sống lại! Hăy xem các tông đồ hân
hoan vui mừng như thế nào?
Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ
vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, ông Thomas không có
mặt. Khi ông trở về, các tông đồ khác đă
"loan tin mừng Chúa Phục Sinh" cho ông, nhưng ông
không tin.
Tại sao Thomas cứng ḷng tin như vậy?
Làm sao tin được một người
đă chết sống lại? Nếu Thầy đă
sống lại, th́ hiện tại Thầy đang ở
đâu? Các tông đồ, và kể cả các chị phụ
nữ không thể chỉ chỗ ở hiện tại
của đức Giêsu, và đó là lư do Thomas không tin vào các
chị phụ nữ và cả các tông đồ nữa. Nếu
Thầy đă phục sinh, tôi sẽ tới gặp
Thầy! Nhưng Thomas đâu có biết rằng đức
Giêsu bây giờ đâu có như xưa, đâu có bị các
định luật vật lư chi phối!
Nguyên thời gian cả một tuần,
đức Giêsu Phục Sinh ở đâu, mà Thomas không
thấy? Ngài có biết những suy nghĩ và thái độ
của Thomas không?
Thời gian Chúa Phục Sinh chưa hiện ra cho
Thomas, tâm t́nh và thái độ của Thomas như thế nào?
Hoang mang, chán nản! Thái độ của các tông đồ
như thế nào khi Thomas cứng ḷng không tin những ǵ các
ngài nói với ông?
Thái độ của Thomas phản ánh thái
độ của con người tự nhận là "khoa
học" ngày nay: đ̣i kiểm chứng thực
nghiệm mới tin. Nhưng nếu kiểm chứng
được th́ đâu cần phải tin nữa!? Thái
độ cứng tin của Thomas ngày xưa, giúp con
người ngày nay có thể trả lời dễ dàng
lập trường phê b́nh: "các tông đồ hoang
tưởng nên tin rằng Ngài đă phục sinh"
"tin Đức Giêsu phục sinh là hành vi hoang
tưởng tập thể;” bởi v́ như tin mừng cho
thấy thánh Thomas không dễ dàng tin Chúa đă phục sinh.
Tám ngày sau Thomas mới tin Chúa Phục Sinh, và không phải do
nghe nói nhưng là do chính kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu
Phục Sinh của Thomas.
V́ yêu, Thiên Chúa đă thua sự ngoan cố của
con người. Ngài phải cho Thomas có kinh nghiệm gặp
gỡ Ngài, để Thomas có thể làm chứng cho Chúa
Phục Sinh.
Nh́n nghe quan sát xem Thomas được biến
đổi như thế nào khi được gặp
gỡ Chúa Phục Sinh?
Tôi có thực sự tin Chúa Giêsu Phục Sinh không?
Hay tôi mới chỉ nói là tôi tin Ngài đă phục sinh mà
thôi, c̣n tận thâm sâu th́ tôi lại không tin?
Nếu tôi tin Chúa Giêsu thực sự đă
phục sinh, th́ tôi đă thực sự hân hoan vui mừng
trong suốt đời tôi! Nếu tôi tin Chúa đă phục
sinh, và nếu tôi tin Ngài là Thiên Chúa thực, th́ tôi đă
biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng, và như vậy
tôi đă dám phó thác đời tôi cho Thiên Chúa!
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Phục Sinh như tôi
thấy nơi ḷng ḿnh.
Khung cảnh
Như thể ḿnh đang hiện diện tại
núi cây dầu cùng với các tông đồ trong biến
cố đức Giêsu được nhắc lên trời.
Ơn xin
Xin ơn tin Chúa đă phục sinh thực sự;
tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa; tin Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng.
Điểm
Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi mầu
nhiệm đức Giêsu Phục Sinh thăng thiên tại núi
cây dầu.
Suốt bốn mươi ngày, Ngài đă dùng
nhiều cách để chứng tỏ cho các tông đồ
thấy rằng Ngài vẫn sống sau khi chịu khổ
h́nh (Cv 1:3). Và sau đó, Ngài đă dẫn các tông đồ ra
nơi gọi là núi cây dầu, và lên trời trước
mắt các ông.
Để tin đức Giêsu đă phục sinh,
không tuyệt đối cần nhờ các tông đồ,
nếu người đó tin vào "các chị phụ
nữ được Chúa Phục Sinh hiện ra cho;”
thế nhưng để tin đức Giêsu Phục Sinh là
Thiên Chúa, thiết yếu phải nhờ các tông đồ,
v́ các tông đồ là những người tin đức
Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa[51] đầu
tiên!
Tại sao các tông đồ là những
người biết đức Giêsu là Thiên Chúa đầu
tiên, chứ không phải ai khác, như đức Maria
chẳng hạn?
Nếu đức Maria biết
rơ đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc Mẹ dễ dàng
thưa tiếng “xin vâng" với Thiên Chúa qua sứ
thần, và phải chăng như vậy, "ai thưa mà
chẳng được?.” Nếu đức
Maria biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ có lẽ
Mẹ dễ chấp nhận hài nhi được sinh ra trong
hang chiên cừu hơn, và chắc Mẹ và thánh Giuse đă
không đau khổ nhiều trong biến cố đức
Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:48), và chắc
Mẹ cũng chẳng đau khổ ǵ trong biến cố
đức Giêsu chịu khổ h́nh, và như vậy Mẹ
đâu xứng đáng với tước hiệu
"Nữ Vương các thánh tử đạo.” Và
nếu như vậy, Thiên Chúa Nhập Thể đâu có
hoàn toàn giống con người, v́ Ngài vẫn
được đối xử đặc biệt và không
như tôi!
Tại sao các tông đồ biết đức
Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa?
Trong suốt ba năm theo Thầy, các tông
đồ đă được nghe nhiều điều mà
những người khác, kể cả đức Maria
cũng không được nghe, chẳng hạn:
· "Tội của ngươi đă
được tha" (Mc 2:7);
· "Trước khi có Abraham, đă có
Ta" (Ga 8:56-58);
· "Ta và Cha Ta là một" (Ga 10:30);
· "Rồi các ông sẽ thấy Con
Người ngự bên hữu Quyền Năng mà
đến trên mây trời" (Mc 14:62).
V́ những lời nói trên, biệt phái và kư lục
muốn giết đức Giêsu hay ném đá Ngài, v́ đó là
"lời phạm thượng:” "là người mà dám
cho ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa;” nhưng sau khi Chúa Phục
Sinh, nhờ các lời đó, các tông đồ nhận ra
đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, v́ nếu Ngài gian
dối, th́ Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài! Và nếu Thiên Chúa
đă phục sinh Ngài từ cơi chết, hàm chứa
những ǵ Ngài nói là chân thực, tức Ngài ngang hàng với
Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.
Nếu đức Giêsu không là Thiên Chúa, việc
đức Giêsu được phục sinh có liên quan ǵ
đến tôi? Tôi được ǵ khi Ngài được
phục sinh từ cơi chết?
C̣n nếu đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa,
th́ tôi biết Thiên Chúa yêu thương con người, yêu
thương tôi vô cùng. V́ nếu Thiên Chúa không yêu
thương con người th́ tại sao Thiên Chúa lại nhập
thể làm người như vậy, tại sao Thiên Chúa
Nhập Thể phải nghèo hèn, phải sinh trong hang chiên
cừu, phải sống làm nghề thợ mộc, phải
chết thê thảm như vậy?
Nếu đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, tôi
biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Và nếu Thiên Chúa
yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n sợ ǵ nữa bây
giờ? "Nếu Thiên Chúa pḥ tôi, ai có thể chống
lại tôi?" (Rm 8:31). "Ai có thể tách tôi ra khỏi
t́nh yêu của Thiên Chúa?" (Rm 8:35-39). Nếu Thiên Chúa yêu tôi
như vậy, tôi có thể sống b́nh an, tin tưởng
ḿnh sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu
với Người.
Tâm sự
Thân thưa với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Ngài
củng cố đức tin của tôi vào Chúa Giêsu Phục
Sinh và vào Thiên Chúa, để tôi hân hoan sống b́nh an
hạnh phúc trong t́nh yêu của Ngài.
Khung cảnh
Như thể hiện diện nơi các tông
đồ hội họp với nhau ngày lễ năm
mươi, và thấy những lưỡi như thể là
lửa trên đầu các tông đồ.
Ơn xin
Tin thật Thánh Thần là Thiên Chúa; xin Chúa Thánh
Thần biến đổi con người ḿnh thành con
người mới như Ngài đă biến đổi các
tông đồ xưa.
Điểm
Nh́n nghe quan sát các tông đồ trước và sau
biến cố Chúa Phục Sinh, trước và sau biến
cố Thánh Thần tỏ hiện quyền năng: từ
buồn sầu thất vọng chán nản đến tin
tưởng hân hoan vui mừng.
Buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần,
Chúa Phục Sinh đă hiện ra cho các tông đồ. Trong
biến cố hiện ra lần đầu này, Chúa Phục
Sinh đă thổi hơi ban Thánh Thần cho các tông
đồ (Ga 20:22). Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà các tông
đồ đă nhận biết đức Giêsu Phục
Sinh là Thiên Chúa.
Mười ngày sau biến cố Chúa Thăng
Thiên, Thánh Thần đă tỏ hiện quyền năng
của Ngài trong ngày lễ Ngũ Tuần. Thánh Thần
đă biến đổi các tông đồ, làm cho các ngài can
đảm đứng ra làm chứng cho Chúa Giêsu Phục
Sinh. Cũng chính Thánh Thần làm cho người ta tuôn
đến nghe các tông đồ rao giảng, và cũng chính
Thánh Thần làm cho người ta tin vào Chúa Giêsu Phục
Sinh, và làm cho người ta nhận lănh phép rửa nhân danh
Chúa Giêsu Kitô.
Các tông đồ nhận biết Thánh Thần là
Thiên Chúa khi nào?
Sau khi nhận biết Đức Giêsu Phục Sinh
là Thiên Chúa, các tông đồ nhớ lại rằng, khi c̣n
sống tại thế, đức Giêsu đă có nhiều
lần đề cập tới một vị,
được gọi "Đấng Bầu Chữa"
khác. Vị này cũng có nguồn gốc nơi Thiên Chúa, là
Thánh Thần, Đấng được Thiên Chúa Cha và Chúa
Giêsu ban cho các tông đồ (Ga 14:16.26; 15:26); Thánh Thần
sẽ ở luôn với các tông đồ và sẽ dạy
các tông đồ mọi sự (Ga 14:16; 16:13), sẽ làm
chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26).
Nhờ Thánh Thần, các tông đồ nhận
biết đức Giêsu là Thiên Chúa. Và một khi nhận
biết đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, cùng với
ơn trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ
nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa dựa vào những
lời đức Giêsu đă nói với các tông đồ khi
Ngài c̣n sống với các ông.
Thánh Thần được sai tới để
ở măi với các tông đồ và ở với những
kẻ nhờ lời các tông đồ mà tin vào đức
Giêsu (Ga 17:20).
Nhờ Thánh Thần, các tông đồ tin
đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa; cũng chính nhờ
Thánh Thần mà các tông đồ can đảm rao giảng
tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh. Không chỉ
thế, Chúa Thánh Thần vẫn luôn hoạt động
trong suốt ḍng lịch sử và trong Hội Thánh, làm con
người tin nhận đức Giêsu đă phục sinh và
tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa. "Không ai có
thể tuyên xưng đức Giêsu là Chúa mà không bởi Thánh
Thần" (1Cr 12:3). Thánh Thần luôn tác động trong
tâm hồn mỗi người, giúp mỗi người
phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh em, giúp con
người trở về với Thiên Chúa.
Tâm sự
Thân thưa với Thánh Thần, Đấng luôn
bầu chữa và thánh hóa chúng ta, làm chúng ta luôn thuộc
trọn về Thiên Chúa và về anh em; Xin cho ḿnh luôn sống
thân thiết với Ngài và luôn lắng nghe lời Ngài
dạy dỗ chúng ta.
Đây là bài cầu nguyện cuối cùng trong sách
Linh Thao của thánh Inhaxiô.
“Xin ơn nhận biết thâm sâu về tất
cả ơn lành ḿnh đă lănh nhận, để rồi
một khi đă nhận ra th́ ḿnh có thể yêu mến và
phụng sự Chúa Chí Tôn trong mọi sự” (LT 233).
Làm sao để cảm nhận Thiên Chúa luôn
hiện diện và yêu thương ḿnh trong từng giây phút
của cuộc sống, để rồi ḿnh yêu lại
Chúa và phục vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc,
đó là mục đích của bài cầu nguyện này.
Yêu là trao tặng người yêu những ǵ ḿnh có
(LT 231). Nếu Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất
cả, ngay cả những ǵ qúy nhất với Ngài là Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho
Chúa đây?
Với “kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta
dâng tất cả cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một
điều duy nhất “XIN LÀM CHO CON YÊU CHÚA, và ơn đó là
đủ cho con” (LT 234).
Dựa vào sách Linh Thao để cầu nguyện
bài chiêm niệm để được t́nh yêu này (LT
230-237).
1. Nhớ lại những ơn lành ḿnh đă lănh
nhận, và một khi nhận biết sâu xa về bao ơn
lành Chúa đă ban cho tôi, tôi phải làm ǵ để đáp
lại t́nh yêu của Thiên Chúa đối với tôi bây
giờ? Nếu v́ yêu Thiên Chúa đă cho tôi tất cả, th́
tôi phải dâng ǵ để đáp trả t́nh yêu?
Theo lẽ công bằng, tôi phải dâng tất
cả con người tôi cho Chúa, và tôi chỉ xin Chúa duy
một điều: "làm cho con yêu Chúa, thế là
đủ cho con.”
2. Xem Chúa hiện hữu trong các tạo vật
theo mức độ: nơi đất đá, nơi
thực vật, nơi động vật, và một cách
rất đặc biệt nơi con người. Con
người là h́nh ảnh của Thiên Chúa, là đền
thờ của Ngôi Ba và cũng là đền thờ của
Ba Ngôi Thiên Chúa.
Nếu v́ yêu tôi, Thiên Chúa đă hiện diện
nơi tôi cách đặc biệt như thế, tôi phải
dâng ǵ lại cho Chúa đây?
3. Thiên Chúa đang quan pḥng ǵn giữ các tạo
vật như quà tặng cho tôi, để phục vụ
tôi. Như thể một người vun xới một cây
để nó nở hoa, và người đó lấy bông hoa
đó làm qùa tặng cho người yêu, th́ Thiên Chúa cũng
làm tương tự đối với tôi như vậy.
Nếu Thiên Chúa đối xử với tôi như
vậy, tôi phải làm ǵ để đáp trả lại
t́nh yêu của Ngài đây?
4. Nh́n vào chính con người tôi, để
nhận ra những nét hay nét đẹp nơi tôi,
để rồi nhận ra đó là những qùa tặng
Thiên Chúa ban cho tôi, để rồi tôi dâng lời cảm
tạ Thiên Chúa.
Nếu tất cả những nét hay nét
đẹp mà tôi có đó, là qùa tặng Thiên Chúa ban cho tôi, th́
tại sao tôi lại vênh vang về điều đó và coi
thường anh chị em tôi khi họ không có
được như tôi?
Xin tạ ơn Chúa. Xin cho con luôn khiêm tốn
để nhận biết con người thực của
con, để con luôn tôn trọng Thiên Chúa và anh em con, ngơ
hầu con được b́nh an và hạnh phúc hơn.
Một bận tâm của người làm Linh Thao
“đạt kết qủa” là, làm sao để duy tŕ và phát
triển ơn Linh Thao?
Đây là một bận tâm rất chính đáng!
Linh Thao không là kết thúc hay điểm cực
đại của đời sống thiêng liêng, nhưng nó
là khởi đầu của một giai đoạn
sống mới thân thiết hơn với Chúa và
quảng đại hơn với anh chị em.
Nguyên tắc tổng quát: mỗi ngày tiếp
tục làm điều đă tập trong thời gian Linh Thao.
Một cách cụ thể, luôn sống với ư thức Chúa
đang hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh,
chấp nhận mọi biến cố xảy tới
với ḿnh trong niềm tin “Thiên Chúa có thể làm nó thành
tốt đối với ḿnh,” hy sinh liên lỉ nhất là
giữ ǵn ngũ quan để luôn kết hiệp với
Chúa.
Tâm t́nh của Thánh Vịnh 139 (138): Thiên Chúa luôn yêu
thương và nh́n xem săn sóc ḿnh. Chúa Giêsu dạy: “Chúa Cha
và Ngài luôn ở với chúng ta” và “Thánh Thần luôn ở
với chúng ta” (Ga 14:23.16). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta
v́ Ngài yêu thương ta. Chúng ta cần ư thức rơ
điều này, để luôn sống với tâm t́nh Thiên
Chúa luôn hiện diện với ḿnh.
Nếu Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, chúng ta
đâu c̣n cô đơn nữa; cho dù tất cả có bỏ
chúng ta th́ Thiên Chúa vẫn không bao giờ bỏ chúng ta:
Người luôn yêu thương chúng ta.
Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như
vậy, chúng ta c̣n sợ ǵ nữa? Nếu Thiên Chúa yêu
thương chúng ta như vậy, chúng ta không cảm
thấy yên tâm và hạnh phúc sao?
Sống tâm t́nh Chúa luôn hiện diện, là đă
khởi đầu giờ cầu nguyện liên lỉ.
Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta mỗi ngày
bằng nhiều h́nh thức khác nhau: qua lương tâm,
những ǵ lư trí nhận thấy qua những biến
cố, ngay cả những biến cố trái ư ḿnh, lời
nói của người này người kia, trang sách này
tập vở kia. Như vậy, chúng ta phải lắng nghe
Chúa qua mọi dấu chỉ trong cuộc sống, trong
từng biến cố của cuộc sống
thường ngày.
Lắng nghe và thực hiện Ư Chúa, chấp
nhận và lấy Ư Chúa làm ư ḿnh, đó là kết hiệp
với Thiên Chúa trong hành động.
Giờ cầu nguyện chính thức là cao
điểm của giờ cầu nguyện liên lỉ
suốt này; kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ
cầu nguyện là cao điểm của tiến tŕnh
kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày.
Từ bỏ ḿnh liên lỉ, quảng đại
với Chúa, sẽ giúp ḿnh dễ dàng cầu nguyện
hơn, dễ dàng gặp Thiên Chúa hơn.
Từ bỏ ḿnh, chấp nhận trái ư v́ ích
lợi của tha nhân, giữ ǵn ngũ quan để luôn
sống thân thiết với Thiên Chúa, luôn vâng phục thánh ư
Chúa trong từng biến cố nhỏ, chọn Thiên Chúa trên
hết, là dấu chỉ cho thấy ḿnh đang thuộc
về Thiên Chúa.
Linh Thao chỉ là khởi đầu của
một giai đoạn mới trong đời sống thiêng
liêng. Xin Chúa giúp chúng ta quảng đại với Chúa,
để chúng ta tăng trưởng mỗi ngày một
hơn về đời sống thiết thân với Chúa,
bằng:
· ư thức liên lỉ Thiên Chúa luôn yêu
thương và hiện diện với chúng ta,
· sẵn sàng vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa,
· từ bỏ ḿnh,
· xét ḿnh và xét gẫm mỗi ngày.
CHO VINH DANH CHÚA
HƠN
AMDG
AD MAJOREM DEI
GLORIAM
Barry, William A. & Connolly, William J. The Practice
of Spiritual Direction. New York: Seabury, 1982. Bản dịch
từ ấn bản lần hai năm 2009: Thực
Hành Linh Hướng. Dịch giả: Trần Quốc Anh
& Giang Trung Kiên. Sài G̣n: Tủ sách Linh Đạo I-nhă, 2013.
Fleming, David L., S.J. Ed. The Christian Ministry of
Spiritual Direction. 2nd Ed. St Louis, MO: Review for
Religious, 1996.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of
Spirits. New York: Crossroad books, 2005.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation. New
York: Crossroad, 2007.
Gallagher, Timothy M., O.M.V. A Handbook for Spiritual
Directors. New York: Crossroad, 2017
Gioan Phaolô II. Pastores Dabo Vobis. Vatican: Vatican
Press, 1992.
Houdek, Frank J., S.J. Guided by the Spirit: A Jesuit
Perspective on Spiritual Direction. Chicago: Loyola Press, 1996.
Phạm Thanh Liêm, S.J. Linh Thao Trong Cuộc
Sống. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1984
Phạm Thanh Liêm, S.J. Bạn Đồng Hành.
Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1997
Phạm Thanh Liêm, S.J. Hiện Tại Mới
Quan Trọng. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1995
Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa
Tác Viên của Ḷng Thương Xót: tài liệu hỗ trợ
các cha giải tội và linh hướng. Vatican: Vatican
Press, 2011. Bản dịch của Phêrô Đặng Xuân Thành.
Hà Nội: Lưu hành nội bộ, 2012.
Toner, Jules J., S.J. Discernment of Spirits. St
Louis, Missouri: Institute of Jesuit Sources, 1982.
[1] Ḍng Tên được thánh Inhaxiô
Loyola, thánh Phanxicô Xavier, thánh Phêrô Favre và mấy bạn khác
nhận định để thành lập vào mùa chay năm
1539, và được đức giáo hoàng Phaolô III phê
chuẩn bằng trọng sắc Regimini ngày 27.09.1540.
Ḍng
này được gọi là Ḍng Tên v́ cha Đắc Lộ
(Alexandre de Rhodes) thuộc Ḍng Tên, và các bạn thừa sai
khác cũng thuộc Ḍng Tên, đă thích nghi cách gọi Ḍng
theo nền văn hóa dân tộc Việt Nam khi các Ngài tới
truyền giáo ở Việt Nam. Sát nghĩa th́ Ḍng này
phải được gọi là Ḍng Giêsu (Societas Iesu, Society
of Jesus, Compagnie de Jésus), nhưng v́ người Việt Nam
không có thói quen gọi tên tục một người đáng
kính, nên các cha thừa sai “Việt Nam hóa” tự giới thiệu
họ là những người thuộc Ḍng Tên.
Các
thừa sai Ḍng Tên tới Việt Nam vào năm 1615, c̣n cha
Đắc Lộ tới miền Nam Việt Nam vào ngày
27.12.1624 (Xem Lm. Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền
Giáo ở Việt Nam, q.1: Các cha thừa sai Ḍng Tên 1615-1665,
HIiện Tại 1959, trang 92.94).
[2]Nếu không có điều này, th́ đây
là cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng “ít người” chứ
không phải là Linh Thao. Linh Thao là cuộc tĩnh tâm có
hướng dẫn theo phương pháp của thánh Inhaxiô.
Khi
nói như vậy, người viết không hề có ư
muốn nói: “cuộc tĩnh tâm đó không có nhiều ích
lợi,” và cũng không hề có tư tưởng đánh
gía thấp các cuộc tĩnh tâm đó một chút nào.
Cuộc tĩnh tâm đó có thể rất tốt.
[3]Linh hướng là một nghệ
thuật, một nghệ thuật vượt các nghệ
thuật (l’art des arts). Xem Joseph Stierli, SJ, L’art de la direction
spirituelle, trong L’accompagnement spirituel, tạp chí CHRISTUS số
153 hors série, Paris 1992, trang 39.
[4] Tự ḿnh và do ḿnh: tự
do ḿnh.
[5] Quan niệm dân gian Việt Nam
cũng không đồng ư quan điểm này, v́ “Đức
nhân thắng số.” Một người ăn ở có
đức có thể đổi được “số
mạng.” Mà nếu có thể đổi số mạng, th́
không c̣n là tất định nữa! Quan niệm
“Đức nhân thắng số,” là quan niệm đúng
đắn, bảo vệ tự do của con người.
[6] Có người nghĩ rằng
nếu Thiên Chúa biết rơ con người sẽ chống
lại Ngài th́ con người đâu c̣n tự do nữa!
Trước vấn nạn này chúng ta cần xác định
rơ: Thiên Chúa muốn, Thiên Chúa biết, nhưng con
người vẫn tự do. “Thiên Chúa muốn cho tất
cả mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4): Thiên Chúa không
muốn con người phạm tội nhưng con
người vẫn có thể phạm tội v́ con
người tự do. Thiên Chúa toàn năng toàn tri, nhưng
con người vẫn tự do. Hai mệnh đề trên
không mâu thuẫn nhau!
[7] “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài nỡ
bỏ con?” (Mc 15:34)
“Lạy
Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46).
[8] “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ
ban cho các con một Đấng Bầu Chữa khác,
để Ngài ở với các con luôn măi”( Ga 14:16).
[9] “Yêu là cùng nh́n về một
hướng”
T́nh
yêu bao hàm t́nh bạn: vợ chồng gọi nhau là “bạn
đời.”
[10] Các bước gợi ư cho một
lần cầu nguyện:
1. Sau khi đă chọn địa
điểm tốt nhất để cầu nguyện
như ḿnh thấy, đến chỗ đó, và ư
thức ḿnh hiện diện trước Thiên Chúa Ba
Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn
tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).
2. Xin Chúa Cha ban Thánh Thần của Chúa Giêsu
Phục Sinh cho ḿnh,
để Ngài thanh tẩy ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ
những vướng bận đặc biệt trong
giờ cầu nguyện này, và xin Ngài giúp ḿnh gặp gỡ
Thiên Chúa.
3. Đặt khung cảnh (v́ thân phận con người, chúng
ta đến với Thiên Chúa qua những ǵ hữu h́nh).
4. Ơn xin (Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn
xin; Thao viên cần khao khát điều này trước khi
xin).
5. Điểm
6. Tâm sự với Chúa (Sau mỗi điểm, chúng ta nên tâm
sự với Chúa, chứ không nhất thiết phải
chờ đến cuối giờ cầu nguyện, v́ các
điểm gợi ư chỉ là phương tiện giúp chúng
ta gặp gỡ và tâm sự cùng sống hạnh phúc với
Chúa ).
[11] Gợi ư giúp xét gẫm:
1.
Tôi được ǵ trong giờ cầu nguyện vừa
qua?
B́nh
an? Thư thái hạnh phúc? Sốt sắng? Được
đánh động ở điểm ǵ nhất?
Được ơn ǵ đặc biệt?
2.
Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện không?
3.
Nguyên do làm tôi không hài ḷng lắm với giờ
cầu nguyện?
· Bị chia trí? Chia trí về điều ǵ? Nó có phản
ánh một vướng bận hay quyến luyến lệch
lạc của tôi không?
· Thiếu quảng đại? Do thiếu t́nh yêu?
· Mất b́nh an? Dấu chỉ có trục trặc
cần sửa chính ḿnh?
4.
Tâm sự với Chúa dựa vào những ơn ḿnh nhận
được hay do những lỗi lầm ḿnh mắc
phải.
[12] Giờ cầu nguyện không
tốt, tốt, hay tốt lắm, là đánh giá chủ quan
hay khách quan của người cầu nguyện hay của
người hướng dẫn.
[13] Gợi ư giúp xét ḿnh:
1.
Ư thức ḿnh hiện diện trước nhan Chúa và kính
cẩn chào Chúa
2.
Xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để Ngài giúp ḿnh ...
3.
Ơn lành
· Xin ơn nhận ra những ơn lành ḿnh đă
nhận lănh từ lần xét ḿnh lần trước cho
tới bây giờ
· Xét ḿnh để nhận ra những ơn lành đă
lănh nhận
· Tạ ơn Chúa
4.
Lỗi lầm
· Xin ơn để nhận ra những lỗi lầm
khuyết điểm
· Xét ḿnh để nhận ra lỗi lầm của ḿnh
từ lần xét ḿnh lần trước cho tới bây giờ
· Ăn năn thống hối xin lỗi Chúa
5.
Tâm sự thân thưa với Chúa dựa vào những ơn
lành ḿnh đă nhận và những lỗi lầm khuyết
điểm ḿnh đă phạm.
[14] Mỗi bài cầu nguyện
đều có ơn xin, có thể coi như yêu cầu
của bài cầu nguyện.
[15] Nếu
tôi là một tu sĩ, th́ tôi đă t́m kiếm điều ǵ
trước khi tôi đi tu?
khi tôi mới bắt đầu đi tu?
sau khi tôi đi tu một thời gian?
[16] Thực ra, tội không thuộc
bản tính con người. Con người có thể không
phạm tội. Phạm tội hay không là tùy tự do
mỗi người.
[17] “Ta không muốn kẻ gian ác phải
chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và
được sống” (Ed 33:11).
“Thiên
Chúa muốn cho mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4).
[18] Cũng xảy ra trường
hợp có veû được an ủi, nhưng không
phải là an ủi thực; trường hợp này là do ác
quỷ giả dạng thần lành để đánh
lừa người ta (2Cr 11:14), làm người ta đi theo
đường của nó, nhưng nếu theo nó,
người ta sẽ cảm thấy bất an bối
rối, v́ không đi trên con đường Thiên Chúa
muốn (LT 332-333).
[19] Hỏa
ngục ở đây muốn chỉ t́nh trạng đau
khổ bất hạnh hơn là một cái ngục
đầy lửa, v́ thiên thần th́ thiêng liêng; và nếu
muốn hiểu hỏa ngục là một ngục
đầy lửa, th́ cũng phải hiểu hỏa
ngục “thiêng liêng” trong trường hợp dành cho ác
quỷ này.
[20] Nếu
không là tu sĩ, th́ bỏ bài này.
[21] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.
[22] Xem ghi chú của FranVois Courel, sj, trong Saint Ignace de
Loyola, Exercices Spirituels, Desclée de Brouwer 1960, p.65 note 2.
[23] Tuy vậy cần lưu ư về t́nh
trạng biếng lười của ḿnh; có người
không muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ
cầu nguyện.
Cũng
có bài cầu nguyện cần dùng tất cả số
điểm được cho, như trường hợp
bài cầu nguyện về “Tội tôi” (LT 55 tt).
[24] Khao khát nên thánh, là hành vi đă
được lư trí tự do hướng dẫn.
[25] Với tác động của Thiên
Chúa, tự do của con người luôn được
bảo toàn.
“Xin
thánh ... làm cho người em con trở lại.” Thánh... không
thể làm được điều này nếu “em con” không
đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm được
mà người “em con” vẫn hoàn toàn tự do.
[26] Có
thế, chúng ta mới hiểu tại sao đức Giêsu
ở lại Giêrusalem từ sáng mà chiều tối
đức Maria và thánh Giuse mới nhận ra.
[27] trừ
Chúa và Mẹ.
[28] Có
thể gọi là núi so với mặt biển, nhưng
nếu ḿnh đang ở trên núi, th́ nó lại là đồi.
[29] Không vị lợi, có cái nh́n
trưởng thành về đời sống gia đ́nh và
dâng hiến, không bị quyến luyến lệch lạc
chi phối.
[30] Lấy con người cảm tính
của ḿnh làm tiêu chuẩn chọn lựa.
[31] Như vậy không nên lạm
dụng cách chọn lựa theo thánh Inhaxiô, như thể
cứ làm theo cách thức đó, th́ đă là làm việc
lựa chọn đúng đắn!
[32] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm
lựa chọn, th́ cuộc chọn lựa đó không
được coi là cuộc chọn lựa có giá trị.
[33] Ở một nghĩa nào đó, không
quyết định cũng là quyết định, không
chọn lựa cũng là chọn lựa.
Nếu
không thấy rơ th́ đừng quyết định. Cụ
thể, trong trường hợp lựa chọn bậc
sống, nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống
bậc sống khác, th́ cứ sống trong bậc sống
ḿnh đang sống.
[34] Điều này không muốn nói
rằng người đó không bị đau khổ
hoặc thập giá trong cuộc sống.
[35] Đương nhiên phải hiểu
là nếu chúng ta vẫn quảng đại với Chúa:
vẫn luôn kết hiệp với Chúa liên lỉ trong
suốt ngày sống, vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn
ngũ quan.
Nếu
sau chọn lựa mà chúng ta cầu nguyện dở hơn
trước dù chúng ta vẫn quảng đại với
Chúa như trước, th́ phải t́m nguyên do, cũng có
thể tại ḿnh chọn điều Chúa không muốn.
[36] Xin nghèo là từ bỏ những ǵ
ngoài ḿnh; xin sỉ nhục khinh chê là từ bỏ chính ḿnh.
Nhiều người có thể xin được nghèo
nhưng không dám xin được sỉ nhục với
Chúa.
[37] như
trong hội họa và điêu khắc.
[38] ư
niệm, tiếng Hy Lạp là eidos: h́nh ảnh.
[39] Xem
LT 327
[40] Ban
đầu đức Giêsu không muốn làm phép lạ v́ Ngài
nghĩ rằng “không nên lấy bánh của con cái mà quăng
cho chó,” nhưng khi Ngài thấy đức tin của chị
ta- mà đức tin là hồng ân của Thiên Chúa- dấu
chỉ cho thấy Thiên Chúa muốn, th́ Ngài đă cho chị
ta được như chị ta xin.
[41] Ở
đây luôn hiểu là tội cố t́nh.
[42] Có
thể nói: “sao cũng được;” nhưng,
người như vậy không có nghĩa là người “ba
phải.”
[43] Ở
đây hiểu là dấu chỉ “khách quan” đối
với đương sự. Dấu chỉ khách quan này có
thể rất chủ quan.
[44] Như thể Chúa Cha cũng bỏ
Ngài (Mc 15:34).
[45] Trừ
Mẹ và Chúa.
[46] Chỉ
có thể nói như vậy, khi dùng kiểu nói nhân h́nh và b́nh
dân.
[47] Nếu ai đó tin lời chị
Maria Magdala (Yn.20:18), th́ biết đức Giêsu đă
sống lại, mà không cần nhờ lời chứng
của các tông đồ.
[48] Chính v́ thế, Hội Thánh Công Giáo
tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “tôi tin Giáo Hội duy nhất,
thánh thiện, công giáo và tông truyền.” “Hội Thánh
được xây trên nền tảng các tông đồ,”
dĩ nhiên khi nói như vậy, vẫn phải hiểu: Hội
Thánh có nền tảng là chính Thiên Chúa.
[49] Chính
v́ vậy, Mẹ rất cần được đức
Giêsu Phục Sinh hiện ra cho Mẹ.
[50] Tại
sao đức Giêsu cần ra núi cây dầu để lên
trời? Phải chăng ở trong nhà Ngài không thể lên
trời được? Thiên Chúa ở khắp mọi
nơi, đâu cần lên trời để ngự bên
hữu Thiên Chúa? Hơn nữa, Thiên Chúa đâu có phải có
trái như chúng ta, vậy tại sao lại "lên trời
ngự bên hữu Thiên Chúa?”
Câu cuối cùng của Tin Mừng theo thánh
Matthêu chúng ta đọc thấy: "này đây Thầy
ở cùng các con mọi ngày cho đến tận
thế" (Mt 28:20), và trong Mt 18:18: "nơi nào có hai hay ba
người họp nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở
giữa họ,” như vậy phải chăng đức
Giêsu không lên trời? Thực ra chỉ có hai tin mừng Luca
và Maccô mới nói Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời, c̣n hai tin
mừng Matthêu và Gioan th́ không thấy nói tới.
Như vậy phải
chăng "lên trời" hay "thăng thiên" là cách
nói, muốn diễn tả sự thực “đức Giêsu
được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa, đức
Giêsu là Thiên Chúa?”
[51] Chính
v́ vậy mà Hội Thánh tuyên xưng: "tôi tin Hội Thánh
duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Trong sách
Phụng Vụ Các Giờ Kinh, ngày lễ các thánh tông
đồ, Hội Thánh dạy: Hội Thánh được
xây trên nền móng 12 tông đồ. Có lẽ, nếu nhờ
đức Maria hoặc các chị phụ nữ mà Hội
Thánh tin Chúa Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa (hiểu như là
những người nhờ đó mà đức tin
được loan truyền, v́ họ biết đầu
tiên), th́ Hội Thánh đă phải tuyên xưng "Hội
thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và 'đức Mẹ
truyền' hoặc 'phụ nữ truyền',” chứ không
phải là tông truyền như chúng ta vẫn tuyên xưng.
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Sách Linh Thao Tự Thuật Của Thánh Inhaxiô
Phân Định Thiêng Liêng Đồng Hành Thiêng Liêng Như Thấy
Đấng Vô H́nh Hiện Tại Mới Quan Trọng Để Tự Do Và Hạnh Phúc Hơn Bạn Đường Của Người Làm Linh
Thao Linh Thao Mười Ngày Linh Thao Trong Cuộc Sống Đặc Sủng Ḍng Tên