HOME    LỜI CHÚA    ĐỨC TIN    LINH ĐẠO    THẦN HỌC    ĐỜI SỐNG     IN ENGLISH    VỀ TÁC GI

Sách Linh Thao     T Thuật Của Thánh Inhaxiô     Phân Định Thiêng Liêng     Đồng Hành Thiêng Liêng     Như Thấy Đấng Vô H́nh      Hiện Tại Mới Quan Trọng     Để T Do  Hạnh Phúc Hơn     Bạn Đường Của Người Làm Linh Thao      Linh Thao Mười Ngày     Linh Thao Trong Cuộc Sống      Đặc Sủng Ḍng Tên

 

 

 

Để Tự Do và Hạnh Phúc Hơn     bản PDF

 

 

ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

 

 

MỤC LỤC

MỤC LỤC

CHỮ VIẾT TẮT & GHI CHÚ

DẪN NHẬP

PHẦN MỘT: ĐỂ LÀM LINH THAO

A. LINH THAO LÀ G̀?

1. Tĩnh tâm theo phương pháp của thánh Inhaxiô

a. Cuộc tĩnh tâm có nhiều giờ để cầu nguyện

b. Cuộc tĩnh tâm có hướng dẫn riêng

i. Giúp Linh Thao không chỉ là cho điểm gợi ư cầu nguyện

ii. Giúp đỡ các linh hồn qua hướng dẫn thiêng liêng

c. Việc thiêng liêng có một tiến tŕnh

i. Linh Thao là các việc thiêng liêng

ii. Có một tiến tŕnh

2. Thời điểm gặp gỡ và sống với Thiên Chúa

a. Gặp gỡ và cảm nghiệm T́nh Yêu

b. Để thắng ḿnh

c. Kinh nghiệm t́m kiếm và thi hành thánh ư Thiên Chúa của Inhaxiô

B. ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO

1. Khao khát nên thánh

a. Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn, không thể làm Linh Thao

b. Ao ước khao khát nên trọn lành hơn nữa

2. Ḷng quảng đại

a. Dâng trót con người ḿnh cho Chúa

b. Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn

c. Kết qủa của Linh Thao được thể hiện trong cuộc sống

C. TRONG LINH THAO

1. Những việc phải làm

a. Cầu nguyện

b. Điểm cầu nguyện

c. Xét gẫm

d. Xét ḿnh

2. Ḷng quảng đại được cụ thể hóa

a. Giữ ngũ quan

b. Giữ tâm trí

c. Ư thức sống trước nhan Chúa

PHẦN HAI: NHÂN HỌC THIÊNG LIÊNG

A. KHUYNH CHIỀU VÀ KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI

1. Khuynh chiều của thân xác

a. Thân xác

b. Trí tưởng tượng

c. Lư trí “suy luận”

d. Tự do

2. Nét tuyệt vời của con người: tự do siêu vượt

a. Lư trí “tự do”

b. Lương tâm

c. Thuận t́nh “tự do:” yêu

B. CON NGƯỜI: TINH THẦN NHẬP THỂ

1. Con người tự do trong hành động

a. Con người không tự do “tuyệt đối”

b. Tự do đích thực

c. H́nh thành ḿnh qua chọn lựa

2. Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta không lôi kéo nó (Ga 6:44)

a. Kinh nghiệm bất lực dù vẫn ư thức ḿnh tự do

b. Thiên Chúa yêu tôi, Ngài lôi kéo tôi đến với Ngài

c. Đáp trả t́nh yêu: “Xin điều tôi ao ước khao khát”

C. CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG

1. Con người và ư định của Thiên Chúa

a. Những cái nh́n sai lạc về con người

i. Con người, một hiện hữu “t́nh cờ”

ii. Con người, “một hiện sinh phi lư”

iii. Con người, một tṛ chơi của Tạo Hóa?

b. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc

i. Thiên Chúa tạo dựng con người v́ yêu thương

ii. Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với con người

iii. Nên giống Thiên Chúa th́ hạnh phúc

2. Chương tŕnh Giêsu

a. Thiên Chúa cứu độ con người

i. Con người cần được cứu độ v́ đă từ chối t́nh yêu

ii. Từ khi phạm tội, con người đă “yếu đi”

iii. Được cứu độ trong đức Giêsu và nhờ đức Giêsu Kitô

b. Ngôi Lời nhập thể để làm chứng cho T́nh Yêu

i. Sứ mạng đức Giêsu

ii. Thập gía diễn tả t́nh yêu

iii. Con người được cứu độ khi đáp trả t́nh yêu

3. Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động để dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa

a. Thiên Chúa luôn hoạt động để làm con người trở về với Ngài

i. Thiên Chúa luôn ở với con người

ii. Thánh Thần dạy dỗ con người

iii. Thiên Chúa lôi kéo con người

b. Chỉ được cứu độ khi cảm nhận ḿnh được yêu

i. Muốn điều tốt cho người ḿnh yêu

ii. Thiên Chúa trao ban cho con người tất cả

iii. Thiên Chúa tôn trọng tự do con người

iv. Làm con người nên một với Ngài trong T́nh Yêu

v. Trân trọng đón nhận và phó thác đời ḿnh

4. Con người tại thế tự do trước những tác động

a. Trí tưởng tượng như chiến trường

b. Khuynh chiều thân xác và lư trí như cám dỗ

c. Ưng thuận hay từ chối, con người trở thành tự do đích thực hay nô lệ

d. Cám dỗ và thử thách là những cơ hội để nên thánh

5. Cầu nguyện và nhận định các thần

a. Cầu nguyện

i. Ư thức Thiên Chúa hiện diện và yêu thương ḿnh

ii. Lắng nghe và thân thưa với Chúa

iii. Cầu nguyện để trở nên một với Thiên Chúa

iv. Cầu nguyện và suy nghĩ

b. Xét gẫm

i. Tiêu chuẩn “b́nh an hạnh phúc”

ii. Áp dụng cụ thể

iii. Nguyên do làm giờ cầu nguyện không được tốt lắm

iv. Cám dỗ nhiều

c. Xét ḿnh

i. Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu

ii. Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn

iii. Cầu nguyện ngắn về chính đời sống ngày qua

PHẦN iii: LINH THAO- ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

A. NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

1. Mục đích và yêu cầu

a. Trí (biết đúng để sống đúng)

b. Tâm (b́nh tâm)

2. Bản văn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện

i. Nhiều cách cầu nguyện

ii. Cầu nguyện như suy gẫm

b. Xét gẫm

i. Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm

ii. Cụ thể trong chủ đề này

4. Gợi ư cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tẩng

11. Các ngươi t́m ǵ (Ga 1:35-51)

1. Hai môn đệ này ao ước và khao khát ǵ?

2. Gặp gỡ Đức Giêsu, th́ được biến đổi

3. Tôi t́m ǵ, tôi khao khát mong ước ǵ?

12. Thiên Chúa ḍ xét tôi (Tv 139)

1. Thiên Chúa biết rơ về tôi

2. Không thể trốn Chúa được

3. Thiên Chúa tạo dựng tôi, nên Ngài yêu thương tôi

4. Xin Chúa tiếp tục ḍ xét con, để ǵn giữ con

13. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng

1.Thiên Chúa Cha yêu tôi vô cùng

2.Chúa Giêsu yêu tôi vô cùng

3. Chúa Thánh Thần yêu tôi vô cùng

14. Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)

1. Chớ lo cho mạng sống ḿnh

2. Hăy t́m kiếm Nước trước đă

3.Tin tưởng phó thác

21. B́nh Tâm (LT 23)

1. Ư nghĩa và mục đích của đời người

2. Tạo vật là phương tiện

3. B́nh tâm

22. Hồi niệm (năm bài: từ bài 11 đến bài 21)

B. TỘI

1. Mục đích và yêu cầu

a. Trí

i.Nhận biết ḿnh là tội nhân

ii. Nhận biết sự xấu xa và ác hại của tội

b. Tâm

i. Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha thứ

ii. Khao khát trở về với Thiên Chúa

2. Những đoạn Kinh Thánh dùng cầu nguyện

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện

i. Ư thức Chúa hiện diện và chào Chúa

ii. Xin Chúa ban Thánh Thần

iii. Hội nhập khung cảnh

iv. Ơn xin của bài cầu nguyện

v. Điểm cầu nguyện

vi. Tâm sự

b. Xét gẫm như nhận định thiêng liêng

i. Nguyên tắc chính yếu

ii. Áp dụng cụ thể

4. Gợi ư cầu nguyện về tội

23. Tội (LT 45-53)

1. Không phục tùng Thiên Chúa

2. Không tin vào Thiên Chúa nữa (St 3:1tt)

3. Từ chối thúc đẩy của Thánh Thần mời gọi hoán cải

24. Tội tôi (LT 55-61)

31. Hồi niệm (hai bài Tội và Tội tôi)

32. Dửng dưng trước nỗi khổ của tha nhân (Mt 25:31 tt)

1. Thiên Chúa là T́nh Yêu

2. Đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những người khốn cùng, nghèo hèn nhất

3. Tiêu chuẩn Thiên Chúa phán xét ngày Ngài quang lâm: yêu thương

33. Chung Thủy

1. Ư nghĩa đời sống dâng hiến

2. Lời khấn khó nghèo

3. Lời khấn trinh khiết

4. Lời khấn vâng phục

5. Đời sống cộng đoàn

34. Người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)

1. Tật mù của người biệt phái

2. Cha mẹ người mù “khôn qúa” nên không dám nói sự thực

3. Thái độ của người mù

41. Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36tt)

1. Tâm t́nh và cung cách hành xử của chị phụ nữ

2. Thái độ của người biệt phái

3. Tâm t́nh và thái độ của đức Giêsu

42. David thống hối (Tv 51/50)

C. LỜI MỜI GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG

1. Mục đích và yêu cầu

2. Những đoạn Kinh Thánh có thể dùng

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện chủ yếu là tâm sự

i. Cảm nghiệm (LT 2)

ii. Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện

iii. Tâm sự

b. Xét gẫm như nhận định thiêng liêng

i. Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về điều này

ii. Biểu hiện của t́nh yêu

4. Gợi ư cầu nguyện về tiếng gọi Vua Hằng Sống

43. Lời mời (Lc 5:1-11)

1. Simon đă thả lưới

2. Từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới người

3. Họ đă bỏ tất cả mà theo Ngài

44. Hăy là thánh (Lv 19:2)

1. Hăy nên thánh, v́ Ta là thánh

2. Thân phận con người

3. Siêu vượt

51. Sứ Mạng (Ga 20:21)

1. Sứ mạng của Đức Giêsu

2. Cách thế đức Giêsu thực hiện sứ mạng

3. Sứ mạng và cách thế thực hiện sứ mạng của chúng ta

D. LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ

1. Mục đích và yêu cầu

a. Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn

b. Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn

2. Những bản văn dùng cầu nguyện

a. Mầu nhiệm nhập thể

b. Đời b́nh thường “phi thường”

c. Con đường đức Giêsu đi

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện như chiêm niệm

i. Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi

ii. Để nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu hơn

b. Nhận định thần loại

i. An ủi không cần trung gian

ii. Cầu nguyện bị giảm sút hay bất an

4. Gợi ư cầu nguyện Ngôi Lời Thực Hiện Sứ Mạng

52. Nhập Thể (Lc 1:26-38)

1. Con người trong t́nh trạng tội

2. Thiên Chúa quyết định cứu độ con người

3. Xin vâng

53. Giáng Sinh và Dâng Chúa Giêsu (Lc 2:1-40)

1. Ngôi Lời Nhập Thể được giáng sinh

2. Thiên Chúa tỏ ḿnh cho những người nghèo

3. Cắt b́ và đặt tên

4. Dâng đức Giêsu vào đền thờ

5. Như dao sắc thâu qua ḷng

6.Đức Giêsu sống thời thơ ấu tại Nadarét

54. Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41tt)

1. Đức Giêsu ở lại đền thờ

2. Đức Giêsu sống một thời gian dài tại Nadarét

61. Hồi niệm

62. Thanh Tẩy Và Bị Cám Dỗ (Mt 3:13- 4:11)

1. Đức Giêsu được thanh tẩy

2. Đức Giêsu bị cám dỗ

3. Bản chất con người không hàm chứa “phạm tội”

63. Mối phúc thật (Mt 5:1-12)

1. Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó

2. Phúc cho các ngươi khi người ta sỉ nhục các ngươi

3. Các mối phúc khác

E. NGÀY YNHĂ

1. Mục đích yêu cầu

a. Nhận thức, chọn và được chọn

b. Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh

2. Những bản văn Kinh Thánh có thể dùng cầu nguyện

3. Chọn lựa

a. Lựa chọn theo thánh Inhaxiô

b. Điều kiện để làm việc lựa chọn tốt

i. Nhận thức đúng đắn về mục đích đời người

ii. B́nh Tâm

c. Lựa chọn

i.Nhận ra ư Chúa về đời ḿnh

ii. Dứt khoát chọn

d. Dấu chỉ việc lựa chọn được làm đúng

4. Xét gẫm

a. B́nh Tâm

b. Thái độ của tôi đối với nghèo và sỉ nhục

c. Dứt khoát với quyến luyến lệch lạc

d. Mức độ t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa

5. Gợi ư cầu nguyện ngày Inhă

64. Hai Cờ Hiệu

1. Mưu chước của ác quỷ

2. Đường lối của Chúa

71. Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31)

1. Có ǵ đem bán mà cho kẻ khó

2. Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao

3. Này chúng tôi đă bỏ tất cả mà theo Thầy

72. Ba mẫu người

1. Đâu là mười ngàn dollars của tôi?

2. Tôi thuộc mẫu người thứ mấy?

73. Đức Giêsu luôn thực hiện Ư Cha

1. Này con xin đến, để thực thi Ư Chúa

2. Của ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta

3. Xin đừng theo Ư Con, nhưng Ư Cha

74. Ba mức độ yêu thương (LT 165-167)

1.Tôi yêu Chúa ở mức độ nào

2.Có muốn đồng h́nh đồng dạng với Ngài không

81. CHỌN LỰA BẬC SỐNG

82. Những bước đường t́nh yêu

1. Chúa có gọi tôi sống đời dâng hiến không

2. Dấu chỉ khách quan cho thấy Chúa gọi tôi

F. ĐƯỜNG T̀NH YÊU

1. Mục đích yêu cầu

2. Bản văn Kinh Thánh được dùng

3. Gợi ư cầu nguyện về đường t́nh yêu

83. Yêu thương là phục vụ và dâng hiến

1. Đức Giêsu yêu các tông đồ vô cùng

2. Đức Giêsu rửa chân cho các tông đồ

3. Này là Ḿnh Ta, sẽ bị nộp v́ các con

84. Vườn dầu (Mc 14:32-52)

1. Xin cho giờ này qua đi khỏi Con

2. Anh dùng cái hôn để nộp con người sao

91. Đức Giêsu bị xử án

1.Tất cả đều lên án Ngài đáng chết

2.Ta không thấy lư do để kết tội ông ấy

92. Đường t́nh yêu

1. Đức Giêsu bị đánh đ̣n

2. Đức Giêsu bị đội mạo gai

3. Đường thập giá

4. Đóng đinh

93. Ba vị trên đồi Calvê

1.Đức Giêsu trên đồi Calvê

2.Đức Maria đứng dưới chân thập giá

3.Chúa Cha thinh lặng nh́n Con của Ngài

G. PHỤC SINH

1. Mục đích yêu cầu

2. Bản văn Kinh Thánh được dùng

3. Gợi ư cầu nguyện về Chúa Phục Sinh

94. Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ và cho chị Maria Magdala

1.Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho đức Maria

2.Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala (Ga 20:1-18)

101. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ

1. Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười tông đồ (Ga 20:19-24)

2. Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười một tông đồ (Ga 20:25-29)

3. Tôi có thực sự tin Chúa đă phục sinh không

102. Chúa Phục Sinh được siêu tôn

1. Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:1-11)

2. Chúa Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa

3. Hệ qủa thực tại "đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa"

103. Thánh Thần tỏ hiện quyền năng

1. Thánh Thần tỏ hiện quyền năng (Cv 2:1-17.32tt)

2. Thánh Thần là Thiên Chúa

3. Thánh Thần luôn hoạt động trong Hội Thánh

H. CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU

1. Mục đích yêu cầu

2. Xin Chúa làm cho con yêu Chúa

3. Bài cầu nguyện kết thúc

104. Chiêm niệm để được t́nh yêu

ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO

1. Luôn sống đời sống thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh

2. Vui nhận Ư Chúa làm ư ḿnh

3. Hy sinh hăm ḿnh liên lỉ

THƯ MỤC

 

 

 


CHỮ VIẾT TẮT & GHI CHÚ

 

 

 

ĐHTL

 

đồng hành thiêng liêng

GL

 

Giáo Luật của Giáo Hội Công Giáo Latin, ban hành năm 1983

LH

 

Linh hướng

LT

 

sách Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola

PĐTL

 

phân định thiêng liêng

 

 

 

 

Sách Kinh Thánh viết tắt theo bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

Các hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn của Công Đồng Vaticanô II viết tắt theo bản tiếng Latin.

Trích đoạn Kinh Thánh từ bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc từ bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

 

 


DẪN NHẬP

[HVVT1]Đă là người, ai lại không khao khát hạnh phúc? Con người mong ước sống hạnh phúc ngay giây phút hiện tại; và hơn nữa, người ta c̣n mơ ước làm sao sống hạnh phúc trọn đời và vĩnh viễn nữa! Ao ước sống hạnh phúc như thể thuộc bản chất con người.

Giầu sang, danh vọng, chức quyền, cũng không mang lại cho con người hạnh phúc đích thực! Có biết bao người “lắm tiền nhiều bạc” đau khổ; có không ít người “danh tiếng” khổ đau; và có nhiều người “có chức có quyền” vẫn không hạnh phúc!

Kinh nghiệm sống cho thấy, có bao người lầm tưởng rằng tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc. Họ chủ trương: “có tiền mua tiên cũng được..., đồng tiền là Tiên là Phật...;” và họ đă miệt mài đi t́m và thu tích của cải; nhưng rồi họ thất vọng chán nản v́ họ thấy họ đă sai lầm!

Nhiều người đi t́m công danh tăm tiếng, nhưng có những người từng trải đă kinh nghiệm: “cái ṿng danh lợi cong cong, kẻ ḥng ra khỏi người mong được vào!”

Đói làm người ta khổ, đau cũng làm con người khổ, và sầu cũng làm người ta khổ...! Chính quyền cũng như những người thiện chí, luôn bận tâm t́m công ăn viêc làm cho bao người, để con người có một cuộc sống sung túc hơn. Có bao người đang nỗ lực giúp con người vượt qua nỗi đau nỗi sầu của ḿnh, để con người bớt khổ hơn. Nhưng kinh nghiệm cho thấy: sự sung túc về vật chất cũng như những nỗ lực bên ngoài không đủ làm cho con người được thư thái, b́nh an, hạnh phúc.

Con người chỉ được hạnh phúc đích thực khi sống đúng tương quan của ḿnh với Thiên Chúa, với anh em đồng loại, và với tạo vật. Con người sống hạnh phúc đích thực khi con người chấp nhận sống như Thiên Chúa muốn, khi con người sử dụng tạo vật như Thiên Chúa muốn, khi con người yêu thương anh em đồng loại và Thiên Chúa như chính Thiên Chúa muốn, khi con người sống yêu thương như Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương.

Thiên Chúa yêu thương con người, và măi măi yêu thương con người. Ngài muốn con người sống hạnh phúc với Ngài, không chỉ ở đời sau mà ngay cả ở đời này nữa. Thiên Chúa luôn luôn hành động trong ḍng lịch sử và nơi tâm hồn mỗi người, để đưa con người trở về với Ngài, để làm con người thuộc về Ngài, để con người được hạnh phúc đích thực.

Linh Thao là một phương tiện, là một môi trường mà Thiên Chúa dùng, để làm con người thuộc về Ngài, để làm con người sống hạnh phúc.

Nhằm giới thiệu Linh Thao và để làm Linh Thao dễ dàng hơn mà tập sách này được h́nh thành. Nó gồm ba phần:

·        phần thứ nhất bàn về những điều cần biết để làm Linh Thao,

·        phần thứ hai bàn về nhân học thiêng liêng,

·        phần thứ ba về Linh Thao như phương thế giúp người ta tự do hạnh phúc.


 


PHẦN MỘT: ĐỂ LÀM LINH THAO

Linh Thao là ǵ? Đâu là điều kiện cần thiết để làm Linh Thao? Trong Linh Thao, cụ thể người ta phải làm ǵ? Đó là những mục sẽ được đề cập đến trong phần một này.

A. LINH THAO LÀ G̀?

1. Tĩnh tâm theo phương pháp của thánh Inhaxiô

Linh Thao là ǵ? Đóù là cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng theo phương pháp của thánh Inhaxiô Loyola Ḍng Tên[1]. Nhưng, cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng này có ǵ khác so với những cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng khác?

a. Cuộc tĩnh tâm có nhiều giờ để cầu nguyện

Tôi đă nghe một nữ tu đă đi linh thao trả lời với một bạn cùng một Ḍng, khi nữ tu này muốn biết về Linh Thao: “Linh Thao là cuộc tĩnh tâm trong đó người ta không nói chuyện, và có nhiều giờ cầu nguyện hơn những cuộc tĩnh tâm “b́nh thường” khác.”

b. Cuộc tĩnh tâm có hướng dẫn riêng

Một nữ tu nói với tôi: “Chúng con không hiểu tại sao các tu sĩ Ḍng Tên không chịu giúp Linh Thao cho một số đông khoảng ba bốn chục người trong một khóa? Chúng con thấy Linh Thao rất tốt, chúng con muốn cho nhiều chị em được tham dự, nhưng v́ bị giới hạn số người nên có ít chị em được tham dự; Thật ḷng, chúng con sẵn sàng theo mọi kỷ luật của Linh Thao: chúng con sẽ cầu nguyện đủ bốn hoặc năm lần mỗi ngày, và sẽ cầu nguyện mỗi lần đủ một giờ, chúng con cũng sẽ giữ im lặng suốt ngày trọn khóa Linh Thao...; xin quư cha quư thầy mở rộng cho một số đông người được dự trong một khóa Linh Thao!”

Theo ư riêng của tôi, không thể thỏa măn lời đề nghị trên! Tại sao?

i. Giúp Linh Thao không chỉ là cho điểm gợi ư cầu nguyện

Có lần đi xuống miền tây giúp Linh Thao cho một Ḍng nọ, gặp một người phát biểu: “Tại sao lại phải vất vả mời một tu sĩ ở xa như vậy tới giúp Linh Thao? Ai giảng mà chẳng được? Hoặc một linh mục nào đó, và thậm chí ngay cả một d́ cũng giảng được mà!”

Đúng là một d́ phước cũng có thể giảng, và giảng hay nữa chứ; và một linh mục nào đó cũng có thể giúp tĩnh tâm, và giúp tĩnh tâm tốt; nhưng như vậy, chưa có nghĩa là người đó có thể giúp LinhThao! Tại sao vậy?

Không phải hễ ai có thể giảng hoặc giảng hay, đều là người “giúp Linh Thao” được! Bởi v́, nếu Linh Thao chỉ là giảng, th́ người ta có thể thu băng những bài giảng “hay,” và cho những người muốn làm Linh Thao nghe lại; hoặc người ta có thể chuẩn bị và cho đánh máy lại những bài giảng hay, rồi phổ biến cho những người muốn làm Linh Thao. Và nếu hiểu Linh Thao như vậy, th́ một người có thể giúp một khóa Linh Thao mà không phải giới hạn số người!

ii. Giúp đỡ các linh hồn qua hướng dẫn thiêng liêng

“Giúp Linh Thao,” không phải chỉ là cho điểm gợi ư giúp cầu nguyện (LT 2), nhưng c̣n là gặp gỡ giữa thao viên và người đồng hành (LT 17.22), nhằm giúp người tập Linh Thao đạt được kết qủa mong ước. Thế nên, để có thể giúp Linh Thao, người đó phải có khả năng “giúp đỡ các linh hồn;” nghĩa là, người đó phải có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa (để hy vọng có thể giúp người khác gặp gỡ Thiên Chúa), người đó phải có kinh nghiệm hoặc được học biết rằng Thiên Chúa luôn luôn tự do dẫn đưa con người đến với Ngài theo con đường của Ngài (để người đó không dập tắt Thần Khí), và người đó cũng phải có kinh nghiệm thiêng liêng nhận biết tác động của các thần khác nhau (để giúp người ta nhận ra Ư Chúa).

Để giúp Linh Thao, người đó phải có phán đoán đúng đắn. Nếu phán đoán sai lầm, th́ không những không giúp mà c̣n làm hại người được giúp nữa. Giúp Linh Thao là một nghệ thuật, và là một nghệ thuật tuyệt vời! Không phải ai cũng có thể làm được điều này.

Gặp gỡ trao đổi để giúp đỡ, là một yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong Linh Thao.[2] Và như vậy, học biết “giúp đỡ các linh hồn” qua Linh Thao, không là chuyện dễ dàng, và điều này không thể học biết trong thời gian “một sáng một chiều.” Không thể tách Linh Thao khỏi “hướng dẫn thiêng liêng:” Ai không biết “hướng dẫn thiêng liêng” th́ không thể giúp Linh Thao.[3]

c. Việc thiêng liêng có một tiến tŕnh

Linh Thao là ǵ? Thánh Inhaxiô trả lời: “Hai tiếng Linh Thao ở đây được hiểu là mọi cách xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm, cầu nguyện bằng miệng lưỡi hay bằng tâm trí, và các việc thiêng liêng khác như sẽ nói sau. V́ như đi dạo, đi bộ, chạy, là thể thao, th́ cũng thế, được gọi là Linh Thao tất cả những cách dọn và chuẩn bị linh hồn để xa bỏ những quyến luyến lệch lạc, và sau khi đă xa bỏ các quyến luyến lệch lạc th́ t́m và t́m thấy Ư Chúa trong cách sắp đặt cuộc đời nhằm cứu rỗi linh hồn ḿnh” (LT 1).

i. Linh Thao là các việc thiêng liêng

Theo thánh Inhaxiô, ở một nghĩa rất rộng, tất cả các hành vi hoạt động thiêng liêng đều được gọi là Linh Thao.

Với một nghĩa hẹp hơn, Linh Thao là những hành vi hoạt động thiêng liêng có mục đích “xa bỏ quyến luyến lệch lạc...và t́m kiếm Thánh Ư Chúa.”

ii. Có một tiến tŕnh

Với nghĩa hẹp hơn nữa, Linh Thao là những bài cầu nguyện theo một tiến tŕnh: “Những Linh Thao sau đây gồm có bốn tuần, tương ứng với bốn phần được phân chia như sau: tuần thứ nhất suy xét và chiêm niệm về các tội lỗi, tuần thứ hai về cuộc đời đức Kitô Chúa chúng ta cho đến hết ngày lễ lá, tuần thứ ba về cuộc thương khó của đức Kitô Chúa chúng ta, tuần thứ tư về sự sống lại và lên trời, thêm bản chỉ dẫn ba cách cầu nguyện... tuy nhiên sẽ kết thúc trong khoảng hơn kém ba mươi ngày” (LT 4).

Gút lại, Linh Thao không chỉ là những hành vi hoạt động thiêng liêng bất kỳ nào đó, mà c̣n là những hành vi hoạt động thiêng liêng có một tiến tŕnh và nhắm mục đích rơ ràng.

2. Thời điểm gặp gỡ và sống với Thiên Chúa

Linh Thao không là một khóa thần học nhằm cung cấp những kiến thức mới lạ về Thiên Chúa, nhưng là một thời gian đặc biệt để sống với Thiên Chúa.

Nơi Linh Thao, con người ước muốn, khao khát gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa, và một khi được gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa, th́ được Ngài biến đổi.

a. Gặp gỡ và cảm nghiệm T́nh Yêu

Linh Thao là hành tŕnh t́m kiếm Thiên Chúa, và chính Thiên Chúa làm cho con người được gặp gỡ Ngài, và cũng chính Thiên Chúa làm cho con người cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài đối với con người, cũng chính Thiên Chúa biến đổi cung cách suy nghĩ, con tim t́nh cảm, ước muốn khát vọng của con người, làm con người trở nên giống Thiên Chúa, giống đức Kitô mỗi ngày một hơn.

b. Để thắng ḿnh

Trong kinh nghiệm sống, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm “tri hành bất nhất,” ước muốn một điều nhưng dường như không thực hiện được! Linh Thao không chỉ giúp con người nhận ra chân lư, nhận ra Ư Chúa, nhưng c̣n là phương tiện Thiên Chúa dùng để giúp con người thực hiện Ư Chúa. Nói bằng ngôn từ của thánh Inhaxiô: “Linh Thao để thắng ḿnh và tổ chức cuộc đời cho có trật tự mà không quyết định theo một t́nh cảm lệch lạc nào” (LT 21).

c. Kinh nghiệm t́m kiếm và thi hành thánh ư Thiên Chúa của Inhaxiô

Trước năm 1521 (khi ngài khoảng 30 tuổi), Inhaxiô đă sống khá phóng túng. Với biến cố bị thương ở Pampeluna và thời gian sau đó, đặc biệt thời gian tại Manresa, Inhaxiô đă có kinh nghiệm với Thiên Chúa và được Ngài biến đổi. Kể từ thời điểm đó, Inhaxiô say mê giúp đỡ các linh hồn bằng chính kinh nghiệm mà Ngài đă được Thiên Chúa dạy dỗ, và kinh nghiệm này được gọi là Linh Thao.

Tập sách nhỏ mang tựa đề “LINH THAO” được in lần đầu tại Roma năm 1548, và với phép của đức giáo hoàng Phao-lô III, nhằm tránh mọi dị nghị và chỉ trích. Sở dĩ thánh Inhaxiô làm như vậy, là để phụng sự Thiên Chúa và giúp đỡ các linh hồn hữu hiệu hơn; bởi v́ kinh nghiệm cho thấy thánh Inhaxiô đă bị ngăn cản và phiền hà nhiều trong việc giúp đỡ các linh hồn bằng Linh Thao: Ngài đă từng bị hỏi cung, bị cầm tù, bị cấm giảng dạy chuyện thiêng liêng và giúp đỡ các linh hồn!

Kinh nghiệm phân định các thần, ḷng hoán cải thật sự, ao ước khao khát bắt đầu một đời sống phụng sự Thiên Chúa bằng việc giúp đỡ các linh hồn, t́nh yêu đặc biệt đối với đức Giêsu đến độ ao ước khao khát được trở nên giống Ngài trong khó nghèo khổ nhục, là những kinh nghiệm đặc biệt của Inhaxiô và là đặc sủng Linh Thao.

                   

Chúng ta đă t́m hiểu Linh Thao là ǵ, bây giờ trong những đoạn tiếp sau, chúng ta sẽ t́m hiểu đâu là những điều kiện cần để có thể làm một cuộc Linh Thao tốt.



B. ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO

Có phải tất cả mọi người đều có thể làm Linh Thao được không?

          Tôi có biết một vài vị có trách nhiệm huấn luyện trong một Ḍng nọ, sau khi làm Linh Thao có kết qủa tốt, các vị đó muốn cho tất cả những thành viên trong Ḍng đi Linh Thao, nhưng kết qủa không khả quan lắm! Tại sao vậy?

          Có người sau khi đi dự một khóa Linh Thao, liền nghĩ ngay rằng họ đă biết “đủ” về Linh Thao, và thấy rằng Linh Thao cũng “thường” thôi! Một người khác không muốn đi Linh Thao th́ lập luận: “Đi Linh Thao cũng đâu có ích ǵ! Cứ nh́n bạn X th́ biết!.” Một người có trách nhiệm trong một Ḍng bận tâm: “Khi tĩnh tâm hoặc khi Linh Thao th́ sốt sắng, nhưng sau một thời gian trở về cuộc sống thường ngày th́ lại sống như b́nh thường. Làm sao để các tu sĩ được biến đổi thực sự?.” Trả lời sao đây?

1. Khao khát nên thánh

a. Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn, không thể làm Linh Thao

          Không phải ai cũng làm Linh Thao được. Có những người chỉ có thể làm được tuần thứ nhất của Linh Thao: “Phải đề ra cho mỗi người việc ǵ có thể giúp họ và làm ích cho họ hơn, tùy theo mức độ họ sẵn sàng đón nhận. Bởi vậy đối với một người muốn cố gắng học hỏi và thỏa măn linh hồn tới một mức độ nào đó, th́ có thể đề nghị cho họ việc xét ḿnh.... không nên dẫn đưa họ vào việc chọn bậc sống và những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ tuần thứ nhất” (LT 18).

          Những người chỉ ao ước tiến bộ tới một mức độ nào đó, không thể làm trọn vẹn Linh Thao được! Đúng ra phải nói: không nên cho những người như vậy làm Linh Thao, v́ không chắêc thu lượm được nhiều kết qủa như ḿnh mong ước, và nhất là khi không có nhiều giờ để giúp họ; và nếu là cuộc Linh Thao cho một nhóm người, th́ những người “không có thái độ nội tâm tương ứng” này có thể phá hủy bầu khí thiêng liêng, và làm ảnh hưởng gây kết qủa xấu cho khóa Linh Thao.

b. Ao ước khao khát nên trọn lành hơn nữa

          Để có thể làm trọn vẹn Linh Thao, cần phải có thái độ nội tâm cần thiết: ḷng khao khát thuộc trọn về Chúa, ao ước nên trọn lành, ước mong nên thánh.

2. Ḷng quảng đại

          Ḷng quảng đại là thái độ duy nhất cần thiết để chuẩn bị và làm Linh Thao.

a. Dâng trót con người ḿnh cho Chúa

           Thánh Inhaxiô nói: “Người luyện tập Linh Thao sẽ được nhiều ích lợi nếu bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cho Ngài cả ư muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi sự ḿnh có theo Thánh Ư Ngài” (LT 5).

b. Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ Ngài muốn

          Quảng đại, theo ngôn từ của thánh Inhaxiô, là thái độ sẵn sàng để Chúa làm bất cứ điều ǵ Ngài muốn về ḿnh; Ḿnh sẵn sàng mở ḷng ra trước tác động của Thánh Thần, để tùy Chúa lôi kéo ḿnh, và ḿnh sẵn sàng đáp trả mọi đ̣i hỏi của thánh ư Chúa. Quảng đại, hàm chứa tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa để Ngài định đoạt về đời ḿnh, để Ngài làm cho ḿnh những ǵ Ngài muốn; và chắc chắn đó là điều tốt nhất đối với ḿnh.

          Khao khát nên thánh, ḷng quảng đại sẵn sàng thực hành tất cả những ǵ Chúa muốn về ḿnh, là yếu tố cần thiết để làm Linh Thao.

c. Kết qủa của Linh Thao được thể hiện trong cuộc sống

          Một người làm Linh Thao mà không thấy sống tốt hơn, nên xem người đó có đạt được kết qủa của Linh Thao không?

·        Người đó có ḷng khao khát nên thánh và quảng đại với Chúa không ?

·        Người đó có đạt yêu cầu của từng giai đoạn Linh Thao không? Một người có thể đă trải qua bẩy ngày,hoặc tám ngày, hoặc mười ngày Linh Thao, nhưng nếu người đó thực sự chưa đạt được kết qủa của từng bước của Linh Thao, người đó chưa có kinh nghiệm Linh Thao thực sự! Linh Thao được chia làm bốn tuần, và mỗi tuần đều có yêu cầu cần phải đạt. Nếu không đạt được yêu cầu này, không nên qua tuần khác. Chính v́ vậy, Linh Thao thuở ban đầu theo thánh Inhaxiô được giúp riêng cho từng người một, v́ tùy theo nhu cầu và sự tiến bộ của mỗi người mà vị hướng dẫn cho những bài Linh Thao thích hợp (LT 17).

·        Linh Thao chỉ là khởi đầu của một đời sống “quảng đại" với Chúa hơn. Nếu con người không cố gắng liên tục trong đời sống mỗi ngày, th́ con người có thể lạm dụng tự do Thiên Chúa ban để phản bội Ngài. Để nên thánh trong cuộc sống thường ngày, chúng ta phải cố gắng liên tục, phải liên tục vượt qua chính ḿnh, phải cầu xin Chúa làm cho ḿnh yêu Chúa, và cụ thể là quảng đại với Chúa liên tục trong cuộc sống thường ngày hơn.



C. TRONG LINH THAO

          Cụ thể, trong Linh Thao, người ta phải làm ǵ? Và ḷng quảng đại phải được thực hiện như thế nào?

1. Những việc phải làm

a. Cầu nguyện

Mục đích của Linh Thao là gặp gỡ Thiên Chúa, sống thân thiết và hạnh phúc với Thiên Chúa, để Thiên Chúa biến đổi và làm ḿnh thuộc trọn về Thiên Chúa.

Trong cầu nguyện, con người ư thức ḿnh hiện diện trước nhan thánh Chúa, lắng nghe Chúa nói trong tâm trí, tâm sự thân thưa với Chúa. Chúa nói với ḿnh về chính ḿnh và về Chúa, đểø ḿnh biết ḿnh hơn và biết Chúa hơn, biết ḿnh là con người “tội lỗi” nhưng vẫn được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.

Trong Linh Thao, lắng nghe Chúa nói, để Lời Chúa tra vấn soi chiếu tận tâm khảm thâm sâu ḷng ḿnh, và sẵn sàng vâng phục Thánh Thần để thay đổi chính ḿnh, là điều quan trọng nhất.

b. Điểm cầu nguyện

Để cầu nguyện dễ dàng hơn và đạt được mục đích hơn, người làm Linh Thao phải dành thời gian để chuẩn bị nội dung cho việc cầu nguyện. Nếu là cuộc Linh Thao có hướng dẫn, th́ đề tài cầu nguyện thường được người hướng dẫn gợi ư (LT 2), c̣n nếu là cuộc Linh Thao “không có người hướng dẫn” th́ người làm Linh Thao sẽ tự ḿnh làm công việc này.

c. Xét gẫm

Sau khi cầu nguyện, người làm Linh Thao sẽ dùng khoảng 15 phút để lượng giá hay kiểm điểm xem giờ cầu nguyện vừa qua có kết qủa như thế nào, có đạt được kết qủa như ḿnh mong ước không? Nếu cầu nguyện tốt, th́ tạ ơn Chúa; c̣n nếu không tốt lắm, th́ xem đâu là nguyên do, và cố gắng sửa chữa để giờ cầu nguyện tiếp theo được tốt hơn. Việc xét gẫm rất quan trọng, người làm Linh Thao phải làm thật nghiêm túc nếu không sẽ không đạt nhiều kết quả (LT 77).

d. Xét ḿnh

Xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng đối với thánh Inhaxiô. Ngài đề nghị xét ḿnh một ngày hai lần, và trong hai lần xét ḿnh “chung” này, sẽ xem xét “cách riêng” ḷng quảng đại của ḿnh với Thiên Chúa (LT 32tt.24.90).

2. Ḷng quảng đại được cụ thể hóa

Quảng đại, chính là t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa. Ḷng quảng đại được biểu lộ một cách cụ thể trong chính cuộc sống, trong từng hành vi cụ thể của chúng ta, và trong trọn cả ngày sống.

a. Giữ ngũ quan

Linh Thao là thời gian đặc biệt mà người làm Linh Thao muốn dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Thế nên, người làm Linh Thao sẽ cầm giữ ngũ quan để không bị những tác động bên ngoài chi phối: giữ con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi. Để nếu cần, nghe như không nghe, nh́n nhưng như không nh́n, không nói khi không thực sự cần phải nói.

b. Giữ tâm trí

Người làm Linh Thao gạt bỏ mọi bận tâm thường ngày cũng như những ǵ không phải suy nghĩ, để dành tất cả thời gian và con người ḿnh cho Thiên Chúa trong những ngày này.

Người làm Linh Thao gạt bỏ những tư tưởng "chia trí" và “không hợp” không chỉ trong giờ cầu nguyện, mà c̣n cả trong suốt ngày sống nữa. Tuy vậy, trong lúc xét gẫm và xét ḿnh, người làm Linh Thao phải t́m hiểu nguyên do tại sao ḿnh lại hay bị chia trí và thường bị bận tâm về những điều đó, để có thể nhận biết về ḿnh hơn.

 

c. Ư thức sống trước nhan Chúa

Trong thời gian Linh Thao, người tĩnh tâm luôn sống dưới con mắt Chúa, luôn ư thức Chúa đang hiện diện với ḿnh và đang yêu thương ḿnh, và luôn sống trong tâm t́nh của mầu nhiệm ḿnh đang cầu nguyện suốt cả ngày.


PHẦN HAI: NHÂN HỌC THIÊNG LIÊNG

 

Để có thể tiến bộ hơn về đời sống thiêng liêng, và đặc biệt nếu để giúp người khác về đời sống thiêng liêng, chúng ta cần hiểu biết về con người một cách sâu xa.

V́ thế, chúng ta sẽ lần lượt t́m hiểu về:
khuynh chiều và khả năng siêu vượt của con người,
con người xét như tinh thần nhập thể,
con đường để nên thánh.

A. KHUYNH CHIỀU VÀ KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI

Đức Giêsu nói với Phêrô: “Hăy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn thử thách, tâm thần tuy sẵn sàng nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Thánh Phaolô cũng nói: “Sự lành tôi muốn, tôi không làm; c̣n sự dữ tôi không muốn tôi lại làm” (Rm 7:19).

Con người là thân xác và tinh thần. Con người có khuynh chiều của thân xác và khuynh chiều của tinh thần. Có thể nói khi nào c̣n là người tại thế với thân xác, chúng ta c̣n có những khuynh chiều của thân xác mà chúng ta cần vượt qua trong mức độ nó có trái với ơn gọi con người hay không.     

1. Khuynh chiều của thân xác

Sinh vật, và cụ thể những con vật mà chúng ta thường thấy, sống theo bản năng. Đói cần phải ăn! Con vật không thể không ăn nếu có đồ ăn trước mắt, khi nó đói. Bản năng sinh tồn: “đừng đánh chó ở đường cùng,” hăy cho nó một lối thoát, v́ nếu không, nó sẽ cắn. Bản năng truyền giống: con vật không thể cưỡng lại được khuynh chiều tự nhiên: khi tới thời kỳ, nó phải thỏa măn đ̣i hỏi để truyền sinh.

V́ con người có thân xác, nên con người cũng cảm thấy những khuynh chiều "tự nhiên" nơi chính con người ḿnh như những sinh vật hạ đẳng khác; nhưng phải lưu ư ngay kẻo hiểu lầm: con người không chỉ có thân xác, nhưng con người c̣n có khả năng vượt trên khuynh chiều "tự nhiên" của xác thịt nữa.

a. Thân xác

Nơi con người vẫn có những khuynh chiều thuộc thân xác như các sinh vật hạ đẳng khác, tuy dù những khuynh chiều này được biểu lộ tinh tế hơn.

Con người vẫn cảm thấy nơi ḿnh khuynh hướng ham mê ăn uống, ham mê t́m kiếm tiền tài sắc dục, ham mê công danh địa vị; và thực tế, có những người v́ ham mê một ít tiền bạc, đă dám giết người cướp của; có người đă sắp xếp mưu đồ hạ bệ người khác, nhằm chiếm đoạt địa vị danh vọng, v.v.

b. Trí tưởng tượng

Trí tưởng tượng là một khả năng của con người, được coi là thành phần của thân xác, nhưng nó không hoàn toàn tùy thuộc ư muốn con người chúng ta.

Những h́nh ảnh mà giác quan đă cảm thụ, được trí nhớ lưu giữ lại; rồi với khả năng liên tưởng của lư trí, những h́nh ảnh được tŕnh bày trong tâm trí theo những khuynh chiều của con người chúng ta, không chỉ theo những khuynh chiều của thân xác mà c̣n theo cả những khuynh chiều của tinh thần nữa.

Khuynh chiều của thân xác đôi khi được diễn tả qua trí tưởng tượng phong phú đến mức độ chúng ta không ngờ đến!

Trí tưởng tượng thuộc con người, nhưng không hoàn toàn "là" chúng ta. Những h́nh ảnh của trí tưởng tượng gợi lên, có thể "cám dỗ" chúng ta, tuy vậy con người là một chủ vị tự do, con người có thể thuận theo hay từ khước những điều đó.

c. Lư trí “suy luận”

Con người c̣n có lư trí, có khả năng trừu xuất, nhận ra định luật tổng quát nơi những cái đặc thù, nhận ra những định luật chi phối thế giới tự nhiên. Các khoa học tự nhiên đặt nền tảng dựa vào lư trí “tự nhiên” này.

Ở mức độ lư trí ‘luận lư’ này, con người thông minh hơn con vật, nhưng điều này cũng không làm cho “con người là người” đúng nghĩa. Con người với lư trí, c̣n có một khả năng khác đặc biệt và trổi vượt trên con vật, mà con vật không thể có được, chính điều đó làm cho con người trở nên người, nên tinh thần, nên thánh. Đó là khả năng "siêu vượt" của con người với lư trí "tự do.”

 Thật ra không phải có hai lư trí, một “tự nhiên” và một “không tự nhiên,” nhưng phân biệt như vậy, là để thấy rơ khả năng của lư trí con người thôi. Khả năng lư trí “không tự nhiên,” tức siêu vượt, sẽ được đề cập đến sau.

d. Tự do

Con người có tự do, tùy ḿnh chọn điều này hay điều kia theo sở thích. Ăn hay không ăn, ngủ hay không ngủ, tùy ḿnh thích hay không thích, tự do[4] ḿnh muốn.

Nếu chỉ dừng ở b́nh diện trên, không đặt tiêu chuẩn tốt xấu, th́ ư muốn tự do ở đây chỉ được hiểu là khả năng chọn lựa của con người. Nhưng con người c̣n có khả năng đặc trưng: lựa chọn theo tiêu chuẩn thiện ác, tốt xấu. Con người xét như một hữu thể nhân linh, sẽ lựa chọn điều này hay điều kia dựa vào tiêu chuẩn "điều đó có tốt đối với tôi hay không.”

 

2. Nét tuyệt vời của con người: tự do siêu vượt

Cái làm cho con người trổi vượt và hoàn toàn khác với con vật, đó là khả năng siêu vượt của con người.

Con người là một chủ vị có khả năng siêu vượt, và khả năng siêu vượt này bao hàm con người có lư trí và ư chí tự do.

a. Lư trí “tự do”

Thường xưa nay người ta vẫn cho rằng “không có vấn đề lư trí tự do hay không tự do.” Điều ǵ đúng là đúng, điều ǵ sai là sai, lư trí không thể phán đoán một điều đúng là sai hoặc điều sai là đúng được. Giác quan có thể sai lầm như khi con người bị ảo giác (trường hợp người đi trong sa mạc dễ mắc phải: mắt thấy có nước nhưng khi tới gần mới biết ḿnh lầm), nhưng lư trí luôn luôn phán đoán đúng và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ cái ǵ! 2+2=4 là một thí dụ điển h́nh.

Lư trí thường phán đoán đúng trong trường hợp “điều đó” không liên hệ tới chủ thể phán đoán, nhưng nếu “điều đó” có liên quan mật thiết đến chủ thể, th́ lư trí vẫn có thể bị ảnh hưởng hoặc bị chi phối bởi ư muốn của chủ thể. Trường hợp này lư trí là công cụ của chủ thể, t́m những lư lẽ để biện minh cho ư muốn của chủ thể. Chẳng hạn một người muốn chạy tội, không dám nhận sự thật về con người của ḿnh, t́m cách đổ tội cho người khác hoặc đưa ra những lư do “ngụy biện” cho hành vi của ḿnh. Trường hợp này bên giáo lư nhà Phật cho rằng ḷng dục đă làm con người “vô minh.”

Đứng trước lời “vô ngôn” của vũ trụ:
“Đây không phải lời cũng không phải tiếng, để mà con người có thể cho rằng âm thanh chúng không thể lọt tai; nhưng thực sự tiếng chúng (dù không nghe được) đă vang đến tận cùng trái đất, và lời chúng (dù không thành tiếng) truyền ra khắp cơi địa cầu” (Tv 19 [18]:4-5),  con người với lư trí của ḿnh, đúng ra đă phải nhận biết Thiên Chúa là Đấng sáng tạo vũ trụ này. Nếu ai đó đă không nhận biết Thiên Chúa hiện hữu khi nh́n vũ trụ hữu h́nh tuyệt đẹp này, th́ e rằng họ chưa tự do thực, và lư trí của họ chưa vượt lên trên tạo vật, vẫn c̣n dừng lại ở b́nh diện sự vật và chưa trở thành tinh thần đúng nghĩa.

Con người và lư trí chỉ thực sự “tự do,” khi vượt qua thực tại vật chất khả giác để vươn tới thực tại siêu vượt là Thiên Chúa vô h́nh.

b. Lương tâm

Con người có lương tâm. Đó cũng là nét đặc trưng của con người. Lương tâm là tiếng Thiên Chúa nói nơi cung ḷng con người, là lư trí “tự do,” là lư trí vượt qua tạo vật để vươn tới Thiên Chúa.

Thiên Chúa dùng lương tâm để thức tỉnh con người, để cảnh cáo và nhắc nhở con người trở về với Thiên Chúa khi con người lạc xa Thiên Chúa bằng những chọn lựa tội lỗi.

Lương tâm b́nh an là dấu chỉ cho thấy con người sống trong tương quan tốt với Thiên Chúa. Tuy vậy cũng nên lưu ư trường hợp một người đă chai ĺ và không nghe được tiếng nói của lương tâm cách rơ ràng. Trong trường hợp này, tuy dù lương tâm “khiển trách” nhưng họ vẫn cho rằng “lương tâm không hề trách cứ họ điều ǵ.”

Trong đời sống thiêng liêng, khi cảm thấy mất b́nh an, người ta cần t́m hiểu để thấy rơ chỗ nào sai lệch để điều chỉnh lại đời sống của ḿnh.

c. Thuận t́nh “tự do:” yêu

Con người, và chỉ có hữu thể ngôi vị mới biết yêu. Yêu là nét đặc trưng của một ngôi vị.

Con vật không biết yêu, nó sống theo bản năng. Ngay cả khi một con vật nuôi con, bảo vệ con, th́ cũng là sống theo bản năng của nó. Một con người cũng có thể chỉ sống theo bản năng chứ không sống yêu thương.

Yêu là sống theo lư trí “tự do” chứ không sống theo cảm tính; tuy vậy, yêu không loại trừ cảm tính. Vượt lên trên, không sống theo bản năng, nhưng sống theo lư trí “tự do,” đó là yêu. Chính v́ vậy, không trả thù nhưng nhường nhịn, nhường phần hơn cho người khác, hy sinh cho người khác đến độ quên chính bản thân ḿnh, đó là yêu.


 


B. CON NGƯỜI: TINH THẦN NHẬP THỂ

Con người là tinh thần, nhưng con người có thân xác. Các thiên thần cũng là tinh thần, nhưng thiên thần không có thân xác như con người.

Con người là tinh thần, nhưng chỉ là tinh thần qua thân xác. Nghĩa là, nhờ thân xác và qua thân xác mà con người là tinh thần. Nói bằng ngôn từ của cha K. Rahner, “con người là tinh thần nhập thể.”

Là tinh thần, nghĩa là, con người không chỉ dừng lại ở b́nh diện “sự vật,” nhưng con người có khả năng vượt trên sự vật để vươn tới Tuyệt Đối. Một điều cần lưu ư: con người hoàn toàn tự do để siêu vượt; nghĩa là, siêu vượt hay không siêu vượt, là TỰ DO của ḿnh.

1. Con người tự do trong hành động

Con người là hữu thể tự do, có thể hành động theo sở thích. Điều này ai trong chúng ta cũng nhận thấy trong chính kinh nghiệm sống của ḿnh.

a. Con người không tự do “tuyệt đối”

Tuy con người là hữu vị tự do, nhưng ai trong chúng ta cũng biết, con người cần ăn để sống.

Con người không thể sống nếu không ăn! Như vậy, phải chăng con người không có tự do? Không! Con người có tự do, nhưng con người tự do trong giới hạn của ḿnh, con người không có tự do tuyệt đối để rồi “không cần ăn cũng sống!” Con người “tự do” trong và qua hành động của ḿnh.

Con người, nếu đ̣i cho ḿnh có tự do tuyệt đối, th́ trong hành vi "yêu sách và không chấp nhận thân phận con người" đó, cho thấy họ không là người “tự do đích thực.”

b. Tự do đích thực

“Tự do đích thực” không có nghĩa là muốn làm ǵ th́ làm theo “ư thích xác thịt” của ḿnh.

Con người tự do đích thực khi sống theo “ơn gọi làm người,” tức là khi con người sống theo điều lư trí thấy là đúng, theo điều tốt cho ḿnh và cho tha nhân, theo ư định của Thiên Chúa về ḿnh và về con người, theo tiêu chuẩn là ḿnh “với Thiên Chúa là chuẩn mực.”

Con người sống theo ḿnh “với Thiên Chúa là chuẩn mực,” là con người luôn đặt Thiên Chúa lên trên hết, coi anh em là thực tại có giá trị như ḿnh, trong hành động luôn tôn trọng phẩm giá con người ḿnh và tha nhân, mong muốn cho tha nhân được hạnh phúc như chính ḿnh.

Con người thực sự tự do khi yêu thương chính ḿnh và tha nhân.

c. H́nh thành ḿnh qua chọn lựa

Ăn, uống, truyền sinh, v.v., là những hành vi mà con vật b́nh thường nào cũng có. Con người cũng có những hành vi và sinh hoạt như vậy. Tuy nhiên, con người là hữu thể tự do, không hiểu theo nghĩa là không phải ăn phải uống, nhưng theo nghĩa: khi con người làm những điều đó hay điều khác, con người hành động theo mục đích và tiêu chuẩn nào, con người t́m kiếm điều ǵ khi làm như vậy, con người làm những điều đó có nhằm ích lợi đích thực cho ḿnh và cho tha nhân hay không, con người có t́m kiếm hạnh phúc đích thực cho ḿnh và cho tha nhân không!     

Con người chỉ tự do đích thực trong hành động và bằng hành vi hoạt động của ḿnh, nghĩa là, bằng chính đời sống cụ thể. Qua chính hành vi hoạt động trong đời sống thường ngày, mà một người trở nên người tự do đích thực hay thành người nô lệ những tham muốn ích kỷ của ḿnh. Qua chọn lựa và hành động, con người thành thần hay thành vật, thành thánh hay thành quỷ.

2. Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta không lôi kéo nó (Ga 6:44)

Con người được sinh ra để được tự do đích thực, để trở nên thần linh qua hành vi hoạt động của ḿnh. Thế nhưng, con người trong lịch sử đă không sống theo ơn gọi của ḿnh, đă không siêu vượt lên khỏi vật chất, mà đă làm nô lệ tạo vật.

a. Kinh nghiệm bất lực dù vẫn ư thức ḿnh tự do

“Điều tôi muốn (tôi biết là đúng) tôi không làm, c̣n điều tôi không muốn (tôi biết là không đúng) tôi lại làm” (Rm 7:19).

“Con người cảm nghiệm ḿnh bất lực không làm được điều ḿnh thấy là đúng!” Ai có kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng chắc đă nhận biết điều này. Tuy vậy, mỗi người đều nhận biết ḿnh vẫn tự do khi làm điều ḿnh biết là không đúng.

Siêu vượt, sống tốt lành thánh thiện, không thể là kết qủa do nỗ lực riêng của con người "muốn độc lập với Thiên Chúa.” Như vậy th́ sao? Phải chăng có mâu thuẫn khi khẳng định con người "tự do,” nghĩa là con người được mời gọi siêu vượt để trở nên tự do đích thực, để vươn lên tới Thiên Chúa, nhưng đồng thời lại khẳng định con người cảm thấy ḿnh bất lực trong nỗ lực làm điều thiện hảo? Những khẳng định trên không hề mâu thuẫn nhau!

b. Thiên Chúa yêu tôi, Ngài lôi kéo tôi đến với Ngài

Trong vườn địa đàng xưa, Eva muốn trở nên thần linh một cách độc lập với Thiên Chúa, và hậu qủa là con người phải chết. Cái chết thể lư là biểu hiệu cái chết tinh thần, khi con người không thông hiệp với Nguồn Sống là chính Thiên Chúa (St 3:1tt).

Thế nhưng ngay từ thời đó, Thiên Chúa đă chủ động đi t́m và đối thoại với con người "từ chối t́nh yêu của Ngài” (St 3:9tt). Sở dĩ như vậy, v́ Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài yêu chúng ta ngay khi chúng ta c̣n là tội nhân (Rm 5:8). Ngài luôn yêu thương con người và t́m mọi cách lôi kéo con người trở về với Ngài.

Không khi nào con người có thể độc lập tuyệt đối với Thiên Chúa, v́ nếu không nhờ Thiên Chúa th́ con người không thể hiện hữu được. Không chỉ thế, ngay cả khát vọng hoàn thiện, con người cũng có nhờ Thiên Chúa. Tóm lại, tất cả những ǵ tốt lành thánh thiện nơi con người, cũng đều nhờ Thiên Chúa mà có; và nếu không nhờ Thiên Chúa th́ không có ǵ tốt lành thánh thiện nơi con người.

Thiên Chúa luôn yêu thương con người, Ngài không ngừng mời gọi con người đến với Ngài; Ngài mời gọi con người đáp trả t́nh yêu bằng lôi kéo con người đến với Ngài.          

c. Đáp trả t́nh yêu: “Xin điều tôi ao ước khao khát”

Yêu thương là siêu vượt con người hạ đẳng tầm thường của ḿnh, không chiều theo cảm tính và bản năng "gây hấn" nơi ḿnh, là trở nên giống Thiên Chúa. Yêu thương là nét tuyệt vời của con người mà con vật không thể có được. Yêu thương là “thành nhân,” là trở nên con người hoàn thiện, là nên thánh.

Yêu thương là sống theo lư trí "tự do,” là khao khát và sống theo điều lư trí "tự do" thấy là đúng. Không sống theo lư trí tự do, là không yêu thương Thiên Chúa và con người.

Yêu thương là hành vi tự do, hành vi nhân linh. Cầu xin Chúa giúp để ḿnh sống yêu thương hơn, là một hành vi siêu vượt và cũng là hành vi yêu thương. Nói cách khác, xin cho ḿnh sống yêu thương, là hành vi làm ḿnh trở nên tinh thần hơn.

 

 

 

 

 


C. CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG

Ở mục trên, chúng ta đă nh́n con người thực của chính chúng ta một cách cụ thể, và đă phần nào thấy nét cao qúy của con người. Bây giờ, chúng ta tiếp tục t́m hiểu con người trong ư định của Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể đến với Thiên Chúa một cách dễ dàng hơn dưới sự hướng dẫn và trợ giúp của Ngài.

1. Con người và ư định của Thiên Chúa

Con người là ai? Con người sẽ đi về đâu? Đời sống con người có giá trị và ư nghĩa nào không? Những câu hỏi trên đă được nhiều người quan tâm thao thức đưa ra những lư thuyết trả lời; và có những lư thuyết đă ảnh hưởng rất sâu đậm trên lập trường sống của nhiều người. Có những lư thuyết sai lầm đă làm băng hoại bao nhiêu tâm hồn, và đă làm bao người đau khổ. Ánh sáng của mặc khải sẽ giúp chúng ta có cái nh́n đúng đắn về con người, và Thiên Chúa sẽ chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta sống hạnh phúc đích thực.

a. Những cái nh́n sai lạc về con người

Với lư trí của ḿnh, con người đă ṃ mẫm đi t́m lời giải đáp về chân tính của ḿnh. Lời lư giải th́ nhiều và đa dạng, và đôi khi cũng mâu thuẫn nhau; nhưng điều đáng bận tâm hơn là: “những lư giải này có đúng thực không?”

i. Con người, một hiện hữu “t́nh cờ”

Có người cho rằng con người do tiến hóa ngẫu nhiên mà có. Nếu con người ngẫu nhiên mà hiện hữu, th́ con người đâu có giá trị trường tồn! Và nếu đúng như vậy, chết là hết! Và người ta có thể kết luận: “con người có thể làm những ǵ ḿnh thích, ḿnh muốn, hoặc những ǵ làm thỏa măn ḿnh.”

Một nhăn quan như vậy về con người, kéo theo những hệ luận vô cùng tai hại:

·        không có hạnh phúc đích thực;

·        nếu nói đến hạnh phúc, th́ hiểu hạnh phúc là thỏa măn nhu cầu thể lư; nếu có nói tới nhu cầu tinh thần, th́ tinh thần ở đây cũng chỉ là dạng khác của thân xác;

·        con người không là một gía trị trường tồn; v́ tất cả sẽ hư vô khi cái chết đến;

·         con người có thể làm tất cả; luật pháp chỉ có gía trị giúp trị an, để đời sống “xă hội” được dễ dàng hơn thôi, không phản ánh bản chất con người.

ii. Con người, “một hiện sinh phi lư”

Một số người cho rằng không thể lư giải sự hiện hữu của con người, con người là hiện sinh “phi lư,” cuộc đời đáng “buồn nôn.”

Những người thuộc trường phái này không biết ḿnh từ đâu tới và ḿnh sẽ đi về đâu, họ không thấy ư nghĩa cuộc đời. Một nhân sinh quan như vậy sẽ dẫn con người tới thái độ bi quan chán chường:

·        họ có thể sống buông thả theo những khuynh chiều “thú tính” của con người;

·        và tệ hơn, họ có thể tự tử nếu họ gặp quá nhiều thất bại trên đường đời!

iii. Con người, một tṛ chơi của Tạo Hóa?

“Ấy Con Tạo đành hanh quá quắt,
Chết đuối người trên cạn mà chơí!”

Tại sao lại có lắm cảnh éo le trong cuộc đời? Phải chăng con người chỉ là tṛ chơi của Tạo Hóa, của những thần linh “thích vui đùa trên sự đau khổ của con người?” Phải chăng con người đă có một phần số rơ ràng, không ǵ có thể tránh được?[5] Tại sao có sự ác, phải chăng v́ Tạo Hóa muốn vậy, bởi v́ Tạo Hóa quyền năng vô cùng mà?

Một cái nh́n sai lệch về Thiên Chúa kéo theo cái nh́n sai lệch về con người. Và nếu chấp nhận cái nh́n như vậy về con người và về Thiên Chúa, th́ con người không thể sống hạnh phúc được v́ luôn ở trong t́nh trạng lo sợ bất an.

b. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc

Thiên Chúa không phải là “ông kẹ,” cũng không phải là “Con Tạo đành hanh quá quắt,” cũng không phải là ông chủ độc ác, nhưng là Cha Vô Cùng Nhân Từ và Yêu Thương.

“Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi ngựi được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc với con người khi Ngài tạo dựng con người.

i. Thiên Chúa tạo dựng con người v́ yêu thương

Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc tạo dựng con người, và Ngài đă tạo dựng con người v́ t́nh yêu và trong t́nh yêu. Không ǵ buộc Thiên Chúa phải tạo dựng con người; và việc Ngài tạo dựng con người không mang lại ǵ thêm cho bản tính Thiên Chúa.

Thiên Chúa có thể không tạo dựng con nguời mà Ngài vẫn hạnh phúc tṛn đầy; thế nhưng v́ yêu thương con người nên Ngài đă tạo dựng con người, và Ngài muốn con người được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài: “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16).

ii. Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với con người

Thiên Chúa tạo dựng con người, v́ Ngài muốn cho con nguời thông phần hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa.

Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của con người, không hoàn toàn nằm trong tầm tay con người, nhưng cũng không phải là điều mà con người không thể có được. Con người có thể sống hạnh phúc, nhưng con người không thể sống hạnh phúc thật nếu con người muốn tách biệt hay độc lập với Thiên Chúa.

Hạnh phúc vĩnh cửu, là thuộc tính của Thiên Chúa; hạnh phúc vĩnh cửu nơi con người chỉ có thể có, nếu con người sống hiệp thông với Thiên Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa.

iii. Nên giống Thiên Chúa th́ hạnh phúc

Thiên Chúa luôn luôn hạnh phúc, và chỉ những ai nên giống Thiên Chúa mới hạnh phúc thật sự mà thôi.

“Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Ai yêu thương th́ nên giống Thiên Chúa, và ai không yêu thương th́ không giống Thiên Chúa. Như vậy, chỉ những người sống yêu thương mới hạnh phúc và hạnh phúc thật sự.

Thiên Chúa tạo dựng con người “giống h́nh ảnh Ngài” (St 1:26), Ngài tạo dựng con người tự do, Ngài tạo dựng con người có khả năng yêu thương để sống hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Thế nhưng con người “tự do” đă không sống yêu thương như Thiên Chúa muốn, con người đă lạm dụng tự do để thù ghét và làm hại anh em ḿnh: đó là tội! Để con người được hạnh phúc, cần Thiên Chúa cứu độ con người, làm cho con người sống yêu thương: yêu Chúa và yêu người. Cứu độ con người, là làm con người sống yêu thương, để con người giống Thiên Chúa, để con người được hạnh phúc.

2. Chương tŕnh Giêsu

Thiên Chúa là T́nh Yêu, Ngài là Đấng chỉ biết yêu thương, và làm tất cả v́ yêu thương: “Ngài tạo dựng con người để con người sống và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài.” Thực tế con người đă từ chối t́nh yêu của Ngài, từ chối sống thông hiệp với Ngài, và như vậy là xúc phạm Thiên Chúa, là tội. Tuy vậy, Thiên Chúa đă không bỏ mặc con người, Ngài tiếp tục yêu thương con người qua hành vi làm con người trở về sống thông hiệp với Ngài, đáp trả t́nh yêu của Ngài.

Từ đời đời Thiên Chúa đă biết con người từ chối Ngài, phản bội Ngài khi Ngài tạo dựng họ “tự do;” nhưng Thiên Chúa vẫn tạo dựng con người; và Ngài có chương tŕnh cứu độ con người khi Ngài quyết định tạo dựng con người “tự do.” Tự do của con người vẫn được tôn trọng và bảo vệ.[6]

Các kitô-hữu tiên khởi đă diễn tả chương tŕnh Thiên Chúa yêu thương và cứu độ con người qua bài ca trong thư gởi Eâphêsô của thánh Phaolô:

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Trong đức Kitô, từ cơi trời Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.

Trong đức Kitô, Người đă chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ t́nh thương của Người.

Theo ư muốn và ḷng nhân ái của Người, Người đă tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng người đă ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu.

Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra mà chúng ta được cứu chuộc được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.

Ân sủng này Thiên Chúa đă rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.

Người cho ta được biết Thiên Ư nhiệm mầu: Thiên Ư này là kế hoạch yêu thương Người đă tiền định từ trước trong đức Kitô.

Đó là đưa thời gian tới hồi viên măn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lănh là đức Kitô.

Cũng trong đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ư muốn của Người, đă tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.

Trong đức Kitô cả anh em nữa, anh em đă được nghe lời chân lư là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong đức Kitô, một khi anh em đă tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đă hứa.

Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” (Ep 1:3-14).

a. Thiên Chúa cứu độ con người

Phạm tội là từ chối Thiên Chúa và muốn độc lập với Ngài. Qua hành vi phạm tội con người chọn và làm ḿnh trở thành “qủy.” Điều này không hợp lư và “không hiểu được,” nhưng đó lại là sự thật! Một điều ác điều dữ, tại sao con người vẫn làm?!

Thiên Chúa đă yêu thương con người ngay cả khi con người là tội nhân. Đây cũng là điều “không hiểu được!”

i. Con người cần được cứu độ v́ đă từ chối t́nh yêu

Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn con người hạnh phúc, Ngài muốn con ngựi trưởng thành và triển nở về mọi phương diện. Nhưng thực tế, bằng chính hành vi phạm tội của ḿnh, con người đă từ chối vươn lên và đă đồng hóa ḿnh với con vật, và đôi khi c̣n tệ hơn cả con vật, chẳng hạn trường hợp con nguời lợi dụng lư trí của ḿnh nhằm diệt hẳn một dân tộc như hành vi của Hitler đối với dân tộc Do Thái thời đệ nhị thế chiến. Tội là xúc phạm Thiên Chúa bằng hành vi từ chối sống yêu thương như Thiên Chúa đă muốn cho con người.

Tŕnh thuật “sa ngă” của sách Sáng Thế chương 3 cho thấy: con người không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, mà hơn nữa lại tin vào ác quỷ qua h́nh ảnh con rắn, coi Thiên Chúa là Đấng lừa dối ḿnh, cho rằng Thiên Chúa không muốn cho con người trở thành thần linh, coi Thiên Chúa như một vị sợ con người được “ngang hàng” với ḿnh. Khi con người không tin vào Thiên Chúa nữa, th́ con người không c̣n trông cậy vào Thiên Chúa, và con người không sống trong t́nh yêu của Ngài nữa. Tội là từ chối t́nh yêu của Thiên Chúa.

Không ai có thể tha tội nếu không phải là chính Thiên Chúa (Mc 2:7). Quan niệm này của người Do Thái hoàn toàn chính xác: con người không thể đền được tội mà ḿnh đă xúc phạm đến Thiên Chúa. Chính v́ thế con người cần được Thiên Chúa cứu độ.

ii. Từ khi phạm tội, con người đă “yếu đi”

Con người đầu tiên đă phạm tội cách tự do, và bây giờ con người vẫn c̣n tự do để phạm tội hay không phạm tội; thế nhưng kể từ biến cố phạm tội đầu tiên của con người đó, con người cảm thấy ḿnh “như thể bất lực” để làm điều tốt ḿnh biết là nên làm hay phải làm.

Kinh nghiệm đời sống thiêng liêng cho thấy: có nhiều lúc trong đời tôi không muốn phạm tội, tôi không muốn làm “điều đó” nữa, nhưng rồi tôi lại đă tự do làm điều tôi đă quyết định rằng sẽ không bao giờ làm nữa; sau khi làm điều đó rồi, tôi lại hối hận v́ ḿnh đă làm điều đó... và rồi lại quyết định!

Con người đă bị ảnh hưởng bởi tội, và đặc biệt bởi tội đầu tiên đó. Con người đă bị “yếu” kể từ khi con người phạm tội, và con người càng trở nên yếu khi con người càng ch́m sâu trong tội. Có lẽ ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về điều này.

Kinh nghiệm “điều tôi muốn (tôi biết là đúng, là nên làm) tôi không làm, nhưng tôi lại làm điều tôi không muốn (tôi biết là không đúng và không nên làm)” của thánh Phaolô (Rm 7:19), là kinh nghiệm “bất lực” của con người, và đúng hơn của mầu nhiệm tự do của con người, của tội. Khi nói con người cảm nghiệm sự “bất lực làm điều tốt,” người viết hoàn toàn không có ư muốn nói “con người không c̣n khả năng hành thiện,” hoặc “con người mất tự do để làm điều tốt!” Con người vẫn c̣n khả năng chọn lựa làm điều tốt hay điều xấu tùy họ.

iii. Được cứu độ trong đức Giêsu và nhờ đức Giêsu Kitô

Ai cứu tôi khỏi t́nh trạng khốn nạn này?

“Tạ ơn Chúa, nhờ đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!” (Rm 7:24-25). “Trong đức Kitô và nhờ đức Kitô, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Ep 1:7).

Nhập thể là sáng kiến t́nh yêu tuyệt vời của Thiên Chúa để cứu độ con người, bởi v́ con người không thể trả gía đền tội ḿnh, v́ con người chỉ là tạo vật: “chỉ có Con Chiên mới xứng đáng mở sách ấy mà thôi” (Kh 5:9)! Chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể trả được giá “thục hồi” cho Thiên Chúa, và như vậy chỉ có đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Con Thiên Chúa làm người, mới có thể cứu độ được con người mà thôi.

b. Ngôi Lời nhập thể để làm chứng cho T́nh Yêu

Con người từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa, con người coi thường và cho rằng ḿnh không cần Thiên Chúa. Thái độ khinh thường Thiên Chúa là thái độ đáng tội. Làm sao để cứu độ con người?

Làm sao để cứu độ con người?

V́ con người là hữu thể tự do, nên Thiên Chúa không thể cứu độ được con người nếu con người không chấp nhận.

Con người được cứu độ nếu con người coi trọng Thiên Chúa và mệnh lệnh của Ngài, nếu con người vâng phục Thiên Chúa, tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa. Cứu độ con người, là làm cho con người cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa yêu con người, và đó là sứ mạng của đức Giêsu.

i. Sứ mạng đức Giêsu

Cứu độ con người là hướng dẫn và trợ giúp con người, làm sao để con người cảm được Thiên Chúa yêu thương họ, và rồi họ đáp trả t́nh yêu, và như vậy là con người được hạnh phúc, được cứu độ.

Sứ mạng của đức Giêsu là làm sao để con người cảm được rằng Thiên Chúa yêu thương con người. Để thực hiện công tŕnh cứu độ này, Thiên Chúa đă có cả một chương tŕnh, và trải dài trong gịng lịch sử, đặc biệt là nơi dân tộc Do Thái với lịch sử của họ.

Có thể nói: sứ mạng của đức Giêsu là làm chứng cho T́nh Yêu, là chứng nhân t́nh yêu: làm cho con người cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

ii. Thập gía diễn tả t́nh yêu

Liệu Thiên Chúa có thể cứu độ con người mà không cần Ngôi Lời nhập thể, không cần đức Giêsu phải chết không?

Nếu Ngôi Lời không nhập thể, liệu con người có tin Thiên Chúa yêu con người không? Nếu đức Giêsu không chịu chết, liệu con người có được đánh động bởi hành động và đời sống của Ngài, để cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh không?

Bằng hành vi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh viễn thành người:

·        Đức Giêsu sống hoàn toàn như con người (trừ tội, v́ tội không thuộc bản chất con người). Ngài biết đói, biết khát, biết đau, biết khổ nhục; Ngài bị cám dỗ trong hoang địa, trong vườn dầu, trên thập giá; Ngài bị thử thách về đức tin nhưng không bao giờ qụy ngă.[7]

·        Ngài luôn nói sự thật dù người ta không tin và không chấp nhận Ngài (Mc 2:7), dù người ta kết án tử h́nh Ngài (Mc 14:62).

·        Ngài ư thức Ngài chết v́ yêu thương con người, v́ Ngài hiến mạng Ngài cho con người: “không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của Người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Ga 15:13).

Dường như thập giá là con đường duy nhất diễn tả t́nh yêu một cách thuyết phục nhất. Một cô gái có thể tin rằng một anh nào đó nói yêu cô ta, là thực chăng? Nếu cô gái này khôn ngoan, cô ta biết ḿnh có thể bị lừa! Để tin lời nói của người đó có thực không, cô ta cần có thời gian để nghiệm xét: chính qua hành động và đời sống, chứ không chỉ bằng lời nói, mà cô ta biết được anh ta có yêu cô ta thực không! Chính nhờ hành động, xem người đó có hy sinh quên ḿnh v́ tôi không, xem người đó có muốn tôi được hạnh phúc thực không, mà tôi nhận biết người đó có yêu tôi thực không. Cũng tương tự như vậy, qua việc Đức Giêsu dám chết v́ yêu con người, mà con người tin biết rằng Ngài yêu con người, và nhờ Ngài mà con người cũng biết rằng Thiên Chúa yêu con người vô cùng.

iii. Con người được cứu độ khi đáp trả t́nh yêu

Tội là coi thường Thiên Chúa, không tin Thiên Chúa, không trông cậy ǵ nơi Ngài, không vâng phục Ngài! Nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương con người, Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi con người đă xúc phạm đến Ngài, Ngài mong muốn con người trở lại với Ngài, để con người được hạnh phúc. Khi con người trở lại với Ngài, rung động trước t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh, trân trọng Thiên Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, vâng phục Thiên Chúa trong mọi sự, th́ con người được cứu độ.

Rung động trước t́nh yêu của đức Giêsu và của Thiên Chúa đối với con người, hối hận v́ tội lỗi ḿnh, ao ước đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa bằng chính cuộc sống ḿnh, đó là khởi đầu ơn cứu độ. Chính t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người và làm con người đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho con người được sống, và sống tṛn đầy, sống hạnh phúc.

T́nh yêu không chỉ là cảm giác, và t́nh yêu cũng không chỉ là lư trí. T́nh yêu diễn tả và cảm nhận bằng cả lư trí và thân xác. Con người cần cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh bằng cả con người, để ḿnh sống một đời đầy ư nghĩa, và được hạnh phúc.

3. Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động để dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa

Cứu độ con người là chương tŕnh của cả Ba Ngôi Thiên Chúa:

·        Thiên Chúa Cha như nguồn gốc mọi sự, là sáng kiến của chương tŕnh;

·        Thiên Chúa Con như Lời thực hiện chương tŕnh qua hành vi nhập thể vĩnh viễn;

·        Và Thánh Thần hoạt động trong tâm hồn mỗi người để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa.[8] Thánh Thần giúp các tông đồ hiểu Lời của đức Giêsu (Ga 14:26), dẫn đưa các tông đồ vào tất cả sự thật (Ga 16:13), giúp các tông đồ làm chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26-27). Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh để giúp các Kitô-hữu sống đức tin, và giúp các Kitô hữu rao giảng tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.

a. Thiên Chúa luôn hoạt động để làm con người trở về với Ngài

Con người là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương, nên cứu độ con người là công việc quan trọng đối với Thiên Chúa.

i. Thiên Chúa luôn ở với con người

Thiên Chúa yêu thương con người, và yêu con người vô cùng. Thiên Chúa Cha yêu con người như yêu chính Con Một của Ngài (Ga 17:23), và Ngài yêu con người đến độ ban Con của Ngài cho con người (Ga 3:16). Chúa Giêsu yêu con người như Thiên Chúa Cha yêu Ngài (Ga 15:9), và Ngài yêu con người đến độ hiến mạng sống bản thân Ngài cho con người (Ga 15:13), và c̣n biến bánh rượu thành thân xác Ngài để trở thành của ăn của uống cho chúng ta.

Chính v́ yêu thương con người nên Thiên Chúa luôn ở với con người:

·        “Nơi nào có hai hay ba người họp nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở giữa họ” (Mt 18:18). “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến tận thế” (Mt 28:20);

·        “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người đó, và chúng ta sẽ đến và ở với người đó” (Ga 14:23);

·        “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn măi” (Ga 14:16).

Yêu nhau, người ta muốn ở gần nhau. Thiên Chúa muốn ở với chúng ta, và Ngài muốn chúng ta ở trong t́nh yêu của Ngài (Ga 15:9). Thiên Chúa ở với chúng ta để cứu độ chúng ta, để chúng ta sống hạnh phúc với Ngài.

ii. Thánh Thần dạy dỗ con người

“Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha và đức Giêsu Đấng Cha sai” (Ga 17:3).

Để sống hạnh phúc tṛn đầy, con người cần biết ḿnh đang hạnh phúc. Chúa Thánh Thần là thầy dạy chúng ta, Ngài giúp chúng ta nhận ra sự thật cứu độ: “Thánh Thần sẽ dẫn chúng con vào tất cả sự thật” (Ga 16:13). Không có Thánh Thần, con người không thể làm ǵ tốt, ngay cả việc tin đức Giêsu là Thiên Chúa: “Không ai tuyên xưng đức Giêsu là Kitô, nếu không bởi Thánh Thần” (1Cr 12:3).

Thánh Thần giúp con người tin vào đức Giêsu và tin vào Thiên Chúa, giúp con người cầu nguyện than thở với Thiên Chúa (Rm 8:26-27), giúp con người sống b́nh an hạnh phúc, giúp con người hưởng ân phúc cứu độ.

iii. Thiên Chúa lôi kéo con người

“Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đă sai Ta, không lôi kéo nó, và Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau hết” (Ga 6:44).

Con người không thể tự cứu chính ḿnh, nhưng chính Thiên Chúa cứu độ con người: Thiên Chúa cứu độ con người nhưng cần con người ưng thuận cách tự do.

Chính Thiên Chúa lôi kéo con người đến với Thiên Chúa, chứ không phải con người tự ḿnh có khả năng đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa lôi kéo con người, và con người ưng thuận để Thiên Chúa lôi kéo ḿnh đến với Ngài. Lôi kéo con người đến với Thiên Chúa mà con người vẫn hoàn toàn tự do, đó là đặc điểm của Thiên Chúa.

Thiên Chúa là T́nh Yêu, Thiên Chúa yêu con người, nên “Ngài muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4). Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người để ở măi với con người theo cách thức mà con người lănh hội được; Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt động trong con người để lôi kéo con người đến với Thiên Chúa, để làm con người rung cảm trước t́nh yêu Thiên Chúa, để con người có thể sống an b́nh và phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa, để con người được hạnh phúc.         

b. Chỉ được cứu độ khi cảm nhận ḿnh được yêu

Tuy con người hoàn toàn tự do nhưng Thiên Chúa lại rất tuyệt vời: Ngài chinh phục con người bằng t́nh yêu.

i. Muốn điều tốt cho người ḿnh yêu

Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn những điều tốt lành cho con người, Ngài muốn con người được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Sở dĩ như vậy, bởi v́ khi yêu, người ta muốn cho người ḿnh yêu được những điều tốt lành, được hạnh phúc đích thực.

Thiên Chúa muốn con người được sống hạnh phúc tṛn đầy với Ngài: “Ta đến để chúng được sống, và sống sung măn” (Ga 10:10).

ii. Thiên Chúa trao ban cho con người tất cả

Thiên Chúa Cha đă ban Con Ngài cho con người (Ga 3:16), Chúa Con đă ban chính ḿnh Ngài cho con người qua bí tích Thánh Thể và bằng hành vi chết cho người ḿnh yêu (Mc 14:24-25; Ga 15:13), Thánh Thần hiện diện với con người như quà tặng của Ba Ngôi (Ga 14:16).

iii. Thiên Chúa tôn trọng tự do con người

Để hạnh phúc và cảm nghiệm hạnh phúc, cần có tự do.

Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Chính v́ vậy, Ngài chỉ mời gọi và đề nghị, c̣n tùy con người có đáp trả hay không.

Thiên Chúa tôn trọng ư muốn của con người; ngay cả khi con người không đáp trả lại t́nh yêu của Ngài, không làm theo ư muốn của Ngài, th́ Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi, Ngài vẫn luôn tác động để con người trở lại với Ngài, hầu con người được sống hạnh phúc đích thực.

iv. Làm con người nên một với Ngài trong T́nh Yêu

Khi yêu nhau, họ trở nên một, một thân xác một tinh thần. Nói một cách chính xác, những người yêu nhau đều hướng tới hiệp nhất dù mỗi cá vị vẫn được tôn trọng và duy tŕ: “Ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai.” Hai người yêu nhau, sẽ được hạnh phúc hơn khi họ cùng lư tưởng, cùng ước muốn và đồng cảm.[9]

Chúa Giêsu yêu Chúa Cha, nên đă lấy Ư Cha làm ư Ngài (Mc14:36), đă lấy Ư Cha làm của ăn (Ga 4:34). Cũng tương tự như vậy, khi con người yêu Thiên Chúa, sẽ lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẽ vâng giữ Lời Ngài: “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến người đó, và chúng ta sẽ đến và ở nơi người đó” (Ga 14:23).

Con người chỉ có thể nên một với Thiên Chúa trong cầu nguyện, nếu con người đă cố gắng để nên một với Thiên Chúa trong suốt đời sống thường ngày.

v. Trân trọng đón nhận và phó thác đời ḿnh

Trong t́nh yêu người ta thường nghe nói, “Anh là tất cả với em” hoặc “Em là tất cả với anh.” Khi hai người yêu nhau, người này là qúy nhất với người kia. Chính v́ thế, ư kiến hay ư thích của người yêu rất được coi trọng.

Ai càng yêu th́ càng yếu, v́ khi yêu người ta muốn chiều ḷng người ḿnh yêu, để thấy người yêu hạnh phúc và ḿnh cũng được hạnh phúc v́ người ḿnh yêu hạnh phúc.

Khi yêu nhau, người ta tin tưởng lẫn nhau và có thể tin tưởng cậy nhờ người ḿnh yêu, v́ ḿnh tin rằng người ḿnh yêu sẽ làm theo ư ḿnh. Khi yêu, người ta tin tưởng trông cậy lẫn nhau.

Tội là coi thường và không tin tưởng trông cậy ǵ nơi Thiên Chúa, c̣n yêu Thiên Chúa là trân trọng và tin tưởng phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa là Đấng yêu thương ḿnh.

Tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài sẽ làm cho ḿnh những điều tốt lành nhất, và như vậy ḿnh sẽ b́nh an hạnh phúc để phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa.

4. Con người tại thế tự do trước những tác động

Con người không có tự do tuyệt đối, nhưng con người chỉ tự do trong hành động của ḿnh.

Là tinh thần nhập thể, nên con người trở thành tinh thần qua thân xác, nghĩa là, con người được mời gọi vượt lên những khuynh chiều xác thịt để thành nhân, để nên thánh, để sống như Thiên Chúa muốn, để thuộc trọn về Thiên Chúa.

a. Trí tưởng tượng như chiến trường

Lư trí con người với những h́nh ảnh được cảm thụ qua giác quan, do tác động bởi những khuynh chiều thân xác, làm nên trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng thuộc về “tôi,” cấu thành con người tôi, nhưng “tôi” không chỉ là nó; tôi hoàn toàn tự do để ưng thuận hay từ chối những ǵ hiện đến trong trí tưởng tượng của tôi.

b. Khuynh chiều thân xác và lư trí như cám dỗ

Con người là linh hồn và thân xác. Con người là chủ vị với thân xác. Tôi xét như thân xác, có những khuynh chiều đ̣i thỏa măn, như đói cần ăn khát cần uống, nhu cầu thỏa măn sinh lư; tôi xét như sinh vật bậc cao, cũng có khuynh hướng muốn được kính trọng, nổi tiếng.

Là người, tôi cảm thấy ḿnh có những nhu cầu và đ̣i hỏi như vậy nơi chính bản thân; khi tôi cảm thấy những đ̣i hỏi đó nơi ḿnh, không hàm chứa rằng tôi “thấp hèn;” tôi tự do, tôi có thể ưng thuận hay từ chối làm theo những đ̣i hỏi đó.

c. Ưng thuận hay từ chối, con người trở thành tự do đích thực hay nô lệ

Khi nào c̣n sống trên dương thế này, tôi c̣n cảm thấy những đ̣i hỏi của thân xác và lư trí. Những khuynh chiều như thế là b́nh thường; đó là thân phận con người trong điều kiện tại thế. Tuy nhiên, con người xét như chủ vị hoàn toàn tự do, có thể “siêu vượt” trên những “cám dỗ,” trên những khuynh chiều này.

Con người, trở nên người tự do đích thực hay nô lệ vật chất, trở nên thánh nhân hay như con vật, là do chính con người. Chính bằng hành vi siêu vượt hay thuận theo cám dỗ, mà con người là “thần” hay “vật,” trở nên thần linh hay sống như “con vật.”

d. Cám dỗ và thử thách là những cơ hội để nên thánh

Bị cám dỗ và thử thách nhiều, không có nghĩa là ḿnh thiếu quảng đại với Chúa, hoặc ḿnh “xấu xa thấp hèn.” Đức Giêsu cũng bị cám dỗ nhiều và mănh liệt (Mt 4:1-11; Mc 14:32 tt), Ngài bị cám dỗ cả trong lănh vực đức tin (Mc 15:34), Ngài đă chiến đấu chống trả cám dỗ đến nỗi mồ hôi máu chảy ra (Lc 22:44). Đức Maria cũng bị thử thách nhiều trong cuộc sống, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng phó thác trong tay Thiên Chúa dù không biết Lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ được thực hiện thế nào, nhất là khi Mẹ chứng kiến đức Giêsu chết ô nhục thảm thương trên thập giá (Lc 1:26-38.45; Ga 19:25-27).

Cám dỗ và thử thách là những dịp để con người tại thế siêu vượt trên chính ḿnh, để con người là tinh thần hơn, nên thánh và thuộc trọn về Chúa hơn.

Đức Giêsu chiến thắng cám dỗ, và như vậy chúng ta tin tưởng rằng con người tại thế có thể vượt thắng cám dỗ nếu con người tin tưởng phó thác trong tay Thiên Chúa. Là con người, không có nghĩa là buộc phải phạm tội. Phạm tội hay không, tùy con người tự do: con người có thể không phạm tội.

5. Cầu nguyện và nhận định các thần

Để con người được cứu độ, Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm chứng cho t́nh yêu, hầu con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để rồi yêu lại Thiên Chúa.

Con người khi tin nhận đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ nhận ra t́nh yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với ḿnh. Rồi khi con người tin nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, con người có thể phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa T́nh Yêu.

a. Cầu nguyện[10]

Cầu nguyện là một cách để thông hiệp với Thiên Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống thường ngày của con người, để con người sống hạnh phúc với Thiên Chúa.

i. Ư thức Thiên Chúa hiện diện và yêu thương ḿnh

Thiên Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và có ư thức về điều đó hay không. Thiên Chúa luôn nh́n xem tôi và can thiệp vào đời tôi một cách kịp thời, v́ Ngài luôn yêu thương tôi. “Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau... bàn tay của Ngài đặt trên tôi” (Tv 139:5).

Khi cầu nguyện người ta cần ư thức Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương ḿnh. Như vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà vẫn luôn ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́ tôi cũng đang cầu nguyện và đang kết hiệp với Thiên Chúa một cách nào đó.

Ư thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong đời sống thường ngày, không đ̣i chúng ta phải ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày, chúng ta vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng “Thiên Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh.”

ii. Lắng nghe và thân thưa với Chúa
Cầu nguyện là lắng nghe Thiên Chúa

Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta qua lương tâm mỗi người, qua những biến cố xảy tới với ḿnh trong đời, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh, v.v.

·        Chúa nói với tôi, tôi có lắng nghe?

·        Thái độ đáp trả của tôi với Lời Ngài như thế nào? Tôi vâng phục, hay từ chối, hay lẩn tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa nói với tôi không?

Cầu nguyện là thân thưa với Chúa

Khi tôi thấy con người của tôi dưới ánh sáng Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những ǵ Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu tôi có những bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với Chúa, để Lời Chúa như gươm hai lưỡi phân tách (Hr 4:12), để tôi được tinh sạch hơn (Ga 17:17) và tự do hơn (Ga 8:32).

iii. Cầu nguyện để trở nên một với Thiên Chúa

Có nhiều người mong ước kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện. Đây là ao ước chính đáng và tốt lành thánh thiện. Nhưng làm sao có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện?

Khao khát ước mong kết hiệp với Thiên Chúa

Để hiệp nhất với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, đ̣i người đó luôn khao khát mong ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng khao khát ước mong, sẽ giúp người đó luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa ngay cả khi điều đó trái ư ḿnh, và nếu được như vậy, sẽ giúp người đó kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện.

Hy sinh từ bỏ chính ḿnh

Có người cho rằng họ đă đạt đến mức kết hiệp với Thiên Chúa cách rất đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng trong cuộc sống thực tế cho thấy người đó rất khó sống với người khác, và họ thường “khá kiêu ngạo!” Thánh Inhaxiô lưu ư một số anh em Ḍng Tên: “cầu nguyện lâu giờ mà không có tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho người ta thêm cứng đầu.”

Để có thể kết hợp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, người ta cần phải liên lỉ kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Họ phải luôn từ bỏ ư riêng để vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa, để yêu thương và chấp nhận anh em, để thông cảm với những giới hạn của anh em và những trái ư từ bên ngoài đưa tới. Một người cho rằng ḿnh đă có thể kết hiệp dễ dàng với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có đời sống từ bỏ và yêu thương, e rằng đó là người “ảo tưởng,” và chưa biết ḿnh cách sâu xa và đích thực.

Đồng h́nh đồng dạng với Ngài trong tư tưởng lời nói và hành động

Để kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện, cần kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Sống đời sống “từ bỏ” qua yêu mến đức khó nghèo và sẵn sàng chịu sỉ nhục và khinh chê v́ ChúaGiêsu Kitô, chấp nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách khác, cuộc sống “đồng h́nh đồng dạng” với Đức Giêsu trong tư tưởng, lời nói và hành động, sẽ giúp người đó kết hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ cầu nguyện.

iv. Cầu nguyện và suy nghĩ

Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những sự thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu nguyện.

Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa hoặc tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ giúp ḿnh tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ đó cũng thuộc về cầu nguyện; chẳng hạn, sau một suy nghĩ, một người có thể thấy một ánh sáng nào đó, và điều này giúp họ tạ ơn Thiên Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài xin Thiên Chúa điều ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng là cầu nguyện.

Điểm chính yếu của cầu nguyện không là có nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái độ của ḿnh đối với Thiên Chúa.

b. Xét gẫm[11]

Xét gẫm là lượng giá giờ cầu nguyện, nhằm giúp ḿnh thấy được những ơn lành đă nhận lănh trong giờ cầu nguyện để tạ ơn Chúa, và biết được những “nguyên nhân nơi chính ḿnh” đă làm cho giờ cầu nguyện không được tốt đẹp, để sửa đổi.

i. Tiêu chuẩn “b́nh an hạnh phúc”

Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an hạnh phúc, không chỉ ở đời sau nhưng c̣n ngay cả ở đời này nữa. Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an hạnh phúc trong mọi thời điểm của cuộc sống, và đặc biệt trong giờ cầu nguyện. Có thể nói, t́nh trạng “an ủi thiêng liêng” là t́nh trạng b́nh thường trong đời sống cầu nguyện; nghĩa là, trong và sau cầu nguyện, con người được b́nh an hơn, được thư thái và hạnh phúc hơn, và thấy tin tưởng và trông cậy cùng yêu mến Thiên Chúa hơn.

Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an hạnh phúc, nhưng ác quỷ- kẻ từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa và chống lại Thiên Chúa- muốn con người về phe nó chống lại Thiên Chúa, nên t́m mọi cách ngăn cản con người sống b́nh an và hạnh phúc với Thiên Chúa.

ii. Áp dụng cụ thể
Người thường sống trong t́nh trạng tội

Thiên Chúa muốn người đang ở trong t́nh trạng tội trở về với Ngài, Ngài luôn hành động trong thâm sâu tâm hồn mỗi người để làm họ trở về với Ngài, qua tiếng nói của lương tâm và qua những dấu chỉ hữu h́nh.

Thần dữ hành động ngược lại. Nó t́m mọi cách để người đó ở lại trong tội, chẳng hạn bằng gợi lên những h́nh ảnh gây vui thú giác quan, v.v.

 Người đang tiến trên đường thiêng liêng

Thiên Chúa vẫn tiếp tục lôi kéo mỗi người, để họ tiến tới hơn trên đường phụng sự Chúa. Các thần lành cũng trợ giúp, để con người cảm nhận b́nh an và hạnh phúc, để họ vui tiến trên đường thiêng liêng.

Thần dữ t́m mọi cách và mọi lư do “ngụy biện” để ngăn cản con người tiến tới, gây bất an và xáo động nơi tâm hồn con người.

iii. Nguyên do làm giờ cầu nguyện không được tốt lắm

Sau khi cầu nguyện, người cầu nguyện dùng một thời gian ngắn để xét gẫm, xem giờ cầu nguyện của ḿnh thế nào! Nếu không tốt[12] hoặc không tốt lắm, th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă nhận ra th́ cố gắng sửa đổi (chính ḿnh), để giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt đẹp hơn.

Nếu t́m đúng nguyên do và được chỉnh đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau sẽ tốt đẹp hơn. Có thể nhờ người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng nhận định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh t́m được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện không được, cách chính xác và chắc chắn hơn.

Do thiếu quảng đại

Có thể do ḿnh thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày sống, mà ḿnh cầu nguyện không được tốt.

Nếu ḿnh không cố gắng tập trung để cầu nguyện, hoặc nếu không xua đuổi ngay các chia trí đến trong giờ cầu nguyện, không đặt Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng khó cầu nguyện “tốt.”

Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện. Để dễ dàng cầu nguyện, con người cần luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày sống.

Do c̣n bám víu vào tạo vật (t́nh cảm lệch lạc)

Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào đó, mà ḿnh cầu nguyện không được “tốt.”

Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên hoặc bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́ cũng khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh cầu nguyện không được, hăy xem ḿnh có cố gắng quảng đại hết sức để cầu nguyện chưa; nếu đă cố gắng “hết sức” rồi mà vẫn cầu nguyện không được, th́ xem ḿnh c̣n quyến luyến điều ǵ cách lệch lạc không, và khi nhận ra th́ hăy quảng đại để chỉnh đốn lại.

Nhận thức sai lầm

Một người có thể không cầu nguyện được, v́ họ nhận thức sai lầm: họ tưởng rằng cầu nguyện được hay không là do sức con người. V́ vậy, Thiên Chúa có thể để họ cầu nguyện không được, nhằm giúp họ nhận ra một sự thật: “cầu nguyện được, là một ơn Thiên Chúa ban cho con người.”

Để tôi luyện ḿnh

Một người có thể bị sầu khổ thiêng liêng mà không phải do lỗi của họ (LT 322b).

Nếu ḿnh cầu nguyện không được, bị sầu khổ thiêng liêng, mà không tại lỗi ḿnh, th́ hăy kiên tŕ và quảng đại. Lúc đó chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được tốt lắm, nhưng khách quan th́ vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên Chúa đang tôi luyện ḿnh, Ngài tập cho ḿnh đến với Ngài v́ chính Ngài chứ không phải v́ ḿnh được an ủi; tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được sốt mến, nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng thành hơn về đức tin đức cậy và đức mến.

iv. Cám dỗ nhiều

Có thể xảy ra là trong một thời điểm một người cảm thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều về một điều ǵ đó, và thường đó là điểm yếu của ḿnh, th́ người đó nên xét ḿnh để t́m coi nguyên nhân tại sao.

Do thiếu dứt khoát chống trả hoặc thiếu t́nh yêu

Có thể bởi v́ ḿnh thiếu dứt khoát trong việc chống trả với chước cám dỗ, và như vậy t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa đă bị giảm sút.

Trong trường hợp này hăy xin lỗi Chúa, và bắt đầu sống quảng đại hơn với Chúa trong từng giây phút sống.

Cũng là dịp để lập công, để nên thánh hơn

Khi c̣n sống trong thân xác, chúng ta c̣n bị cám dỗ và thử thách; những cám dỗ đó có thể là những dịp để chúng ta diễn tả t́nh yêu của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ thể hơn.

Không ai được miễn trừ khỏi bị cám dỗ và thử thách:

·        Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài c̣n bị thách thức để làm những phép lạ từ trời, bị cám dỗ và thử thách trong vườn dầu (Mc 14:32tt), bị thử thách cả về đức tin ngay trên thập giá (Mc 15:34);

·        Đức Maria không chỉ thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền tin (Lc 1:26tt), nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong biến cố Mẹ đứng dưới chân thập giá;

·        Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt Ngài, nhưng Ngài được trả lời “ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12:7-9).

Thử thách và cám dỗ trong cuộc sống tại thế, là thuộc thân phận làm người của chúng ta; chúng ta hăy chấp nhận, và can đảm đương đầu để vượt qua. Chúa không miễn trừ cho chúng ta khỏi bị cám dỗ, nhưng Chúa bảo đảm rằng nếu chúng ta tin tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́ chúng ta sẽ chiến thắng: “Các con hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian” (Ga 16:33).

c. Xét ḿnh[13]

Xét ḿnh để nhận ra những hồng ân Thiên Chúa đă ban cho ḿnh, cũng như những lỗi lầm ḿnh đă phạm, để tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa, để sống tốt hơn.

Xét ḿnh là việc thiêng liêng rất quan trọng, nếu muốn tiến bộ không ngừng trong đời sống thiêng liêng và thân thiết với Thiên Chúa mỗi ngày hơn.

i. Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân kỳ diệu

Theo thói quen người ta vẫn cho rằng xét ḿnh chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh để ăn năn sám hối; tuy nhiên việc nhận ra những ơn lành Thiên Chúa ban cho ḿnh trong đời sống thường ngày rất quan trọng, để luôn sống trong ư thức và tâm t́nh Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với ḿnh.

Nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh, là dấu chỉ của một đời sống thiết thân với Thiên Chúa. Càng nhận biết hồng ân Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên Chúa hơn.

ii. Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh hơn

Nhận ra những lỗi lầm của ḿnh để sửa đổi, là điều chính yếu của việc xét ḿnh.

Trong xét ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm của ḿnh, nhưng c̣n nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn của ḿnh, để có thể tránh được những lỗi phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi làm điều này chứ không phải điều kia, ngay cả khi điều tôi làm chưa phải là tội? Cái tàng ẩn hay khuynh chiều đằng sau hành động đó là ǵ?

Tại sao tôi hay bị cám dỗ về điều này? Tại sao tôi bị cám dỗ về điều này dai dẳng và mănh liệt như vậy? Phải chăng v́ tôi chưa có thái độ hay lập trường dứt khoát với điều này (với khuynh chiều này, với tội này)? Hay tại v́ t́nh yêu của tôi với Thiên Chúa đă bị phai lạt và giảm sút? Tôi cần nhận ra những điều đó, để có quyết định và thái độ cụ thể nhằm tiến bộ hơn nữa trong đời sống thiêng liêng.

iii. Cầu nguyện ngắn về chính đời sống ngày qua

Nếu có nhiều giờ cho việc xét ḿnh, th́ sau khi đă nhận ra những hồng ân Thiên Chúa ban và những lỗi lầm ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên Chúa, chúng ta nên dùng thời gian c̣n lại để nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa dựa vào những hồng ân và những lỗi lầm của ḿnh. Đây là những phút cầu nguyện dựa vào đời sống ngày qua của ḿnh.

 

 

 

 


PHẦN iii: LINH THAO- ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

Thánh Inhaxiô đă cho in quyển Linh Thao vào năm 1548 với phép của đức giáo hoàng Phao-lô III, và quyển sách nhỏ này đă là thủ bản của những người hướng dẫn Linh Thao và đặc biệt là của Giêsu-hữu.

Kinh nghiệm với Thiên Chúa qua Linh Thao tuy giống nhau, nhưng mỗi người lănh nhận theo cách thức của ḿnh. Cũng tương tự như vậy, khi giúp Linh Thao, mỗi người hướng dẫn theo cách thức và kinh nghiệm với Thiên Chúa của ḿnh, và tôn trọng Thánh Thần tác động nơi mỗi người làm Linh Thao.

Dưới đây là những bài gợi ư giúp cầu nguyện cho một khóa Linh Thao 10 ngày. Cũng cần biết, những người giúp Linh Thao khác, và ngay cả tác giả viết điều này, có thể thay đổi những đoạn Kinh Thánh được dùng, cũng như triển khai những gợi ư theo như người đó thấy tốt nhất để làm vinh danh Thiên Chúa hơn.

 

Theo thánh Inhaxiô, Linh Thao gồm bốn tuần. Tuần thứ nhất cầu nguyện về tội, tuần thứ hai về cuộc đời Chúa Giêsu cho tới ngày Ngài được rước vào Giêrusalem, tuần thứ ba về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, và tuần thứ tư về Chúa Giêsu Phục Sinh. Tuy vậy, vẫn c̣n một số bài cầu nguyện khác, như:

·        Lời mời của Vua Hằng Sống;

·        Các bài cầu nguyện, tạm gọi là ngày Inhaxiô;

·        Chiêm niệm để được t́nh yêu;

·        Ngoài ra c̣n có những điểm phải suy nghĩ được gọi là “Nguyên Lư và Nền Tảng” ở khởi đầu của Linh Thao, và các chỉ dẫn để làm việc lựa chọn ở cuối tuần thứ hai.

Tiến tŕnh Linh Thao được tŕnh bày dưới đây theo thứ tự sau:
nếu không tính Nguyên Lư và Nền Tảng,
các bài cầu nguyện về tội và ḷng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa, thuộc tuần nhất;
các bài cầu nguyện về Lời Mời của Vua Hằng Sống, về cuộc đời ẩn dật, về cuộc đời công khai của Chúa, các bài cầu nguyện của ngày Inhă, việc lựa chọn, được coi thuộc tuần hai;
các bài cầu nguyện về cuộc khổ nạn và phục sinh của đức Giêsu, thuộc tuần ba và bốn;
bài “Chiêm niệm để được t́nh yêu” thường là bài cầu nguyện cuối cùng của Linh Thao.

A. NGUYÊN LƯ VÀ NỀN TẢNG

Theo nhận định của các nhà nghiên cứu về Linh Thao, “Nguyên Lư và Nền Tảng” không có nguồn gốc tại Manresa, nó h́nh thành sau, khi thánh Inhaxiô học tại Paris. Tuy vậy “Nguyên Lư và Nền Tảng” vẫn thuộc Linh Thao, v́ nó là cái nh́n tổng quát về vũ trụ, con người và Thiên Chúa, và v́ nó là cái nh́n nền tảng để làm Linh Thao.

1. Mục đích và yêu cầu

Mỗi tuần của Linh Thao, và cụ thể là mỗi bài cầu nguyện trong Linh Thao đều có mục đích và yêu cầu cần đạt được. Chính v́ vậy, một người khi làm Linh Thao, cần cố gắng cầu nguyện hết sức để “đạt yêu cầu của từng bài,” như thể không hy vọng đạt được ǵ khác ở những bài tiếp sau (LT 11).

Vậy đâu là mục đích và yêu cầu khi suy nghĩ và cầu nguyện về “Nguyên Lư và Nền Tảng?”

a. Trí (biết đúng để sống đúng)

Những bài cầu nguyện trong phần này nhằm giúp cho thao viên có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa, con người và vũ trụ.

Thiên Chúa là nguyên lư và nền tảng của tất cả, Ngài yêu thương con người, Ngài tạo dựng vũ trụ vật chất để phục vụ con người, để con người dùng chúng như phương tiện đến với Thiên Chúa.

b. Tâm (b́nh tâm)

Làm sao để sau những bài cầu nguyện này, thao viên cảm thấy b́nh tâm trước mọi tạo vật.

B́nh tâm không đơn thuần là dửng dưng trước mọi sự, nhưng chủ yếu là chọn Thiên Chúa trên tất cảBất cứ điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh chọn; c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh không ham muốn điều này hơn điều kia; chẳng hạn, nếu làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không chọn giầu có hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ nhục, sống lâu hơn chết yểu.

Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chọn làm vinh danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là điểm chính yếu của b́nh tâm. Làm sao sau khi cầu nguyện những bài về Nguyên Lư và Nền Tảng, thao viên cảm thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ khác trong cuộc sống của ḿnh.

2. Bản văn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện

Con người giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a);

Con người là ai (Tv 8);

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (Tv 139/138);

Các bạn t́m ǵ (Ga 1:35-51);

Này Ta đứng ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);

Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 17:23.20;3:16; Ga 13:1;15:9.13; Ga 14:16;15:26; Ga 14:23);

Chương tŕnh “Giêsu Kitô” (Ep 1:3-14);

Nếu Thiên Chúa yêu tôi (Rm 8:31-39);

Thiên Chúa Quan Pḥng (Mt 6:25-34);

Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34);

B́nh Tâm (LT 23).

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện

Cầu nguyện là gặp gỡ, nói chuyện, thân thưa, than thở tâm sự với Thiên Chúa.

i. Nhiều cách cầu nguyện

Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm; nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.

ii. Cầu nguyện như suy gẫm

Đứng trước một biến cố hay một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.

Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh, để suy gẫm như cầu nguyện:

·        Trước hết, chúng ta xem Thiên Chúa hay đức Giêsu, qua tác giả Kinh Thánh, muốn dạy ǵ trong đoạn Kinh Thánh đó;

·        Sau đó, xem chúng ta đă sống điều được dạy đó như thế nào;

·        Và cuối cùng chúng ta tâm sự thân thưa với Thiên Chúa.

b. Xét gẫm

Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu nguyện được tiến bộ, chúng ta cần lượng giá giờ cầu nguyện; việc lượng giá này được gọi là xét gẫm (LT 77).

i. Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm
Tôi được ǵ trong giờ cầu nguyện này?

·        Tôi có được b́nh an thư thái không?

·        Tôi có được thêm ḷng tin cậy yêu mến Thiên Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần gũi với ḿnh không?

·        Tôi có nhận được “ơn xin” của bài cầu nguyện không?[14]

·        Tôi có được đánh động hay được một ánh sáng ǵ đặc biệt không?

Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện này không?

Câu hỏi này giúp tôi có nhận định tổng quát về giờ cầu nguyện. Nếu không được hài ḷng lắm, th́ phải t́m nguyên do và cải thiện, để giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt hơn.

Nếu tôi không hài ḷng lắm th́ đâu là nguyên do?

·        Tại tôi thiếu cố gắng tập trung cầm trí cầu nguyện?

·        Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí ngay khi tôi ư thức?

·        Phải chăng tại tôi chưa cố gắng giữ ngũ quan và tâm trí, và tôi chưa luôn sống với ư thức Thiên Chúa đang hiện diện với tôi và yêu thương tôi trong suốt cả ngày sống?

·        Tôi c̣n một vướng bận hay bất ḥa nào đó với tha nhân mà chưa được giải quyết không?

·        Có một quyến luyến lệch lạc nào đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ không?

Hay tại tôi chưa thật sự mong ước khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?

Thân thưa nói chuyện với Chúa về t́nh trạng tâm hồn ḿnh

Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân thưa với Chúa về thái độ cầu nguyện của ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong giờ cầu nguyện, và về những trễ nải thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong suốt ngày sống.

ii. Cụ thể trong chủ đề này
Có được ơn “b́nh tâm” hay được ơn ǵ khác

Trong chủ đề này, cố gắng để được ơn b́nh tâm. Ơn này chỉ có, khi chúng ta nhận thức đúng đắn về Thiên Chúa và tạo vật, cũng như xác định rơ chỗ đứng tuyệt đối của Thiên Chúa trong đời ḿnh, và tạo vật chỉ là phương tiện để ḿnh đến với Thiên Chúa.

Nếu thấy ḿnh chưa được ơn b́nh tâm, cần cầu nguyện tiếp tục về chủ đề này trước khi qua chủ đề tiếp sau.

Khi cầu nguyện một đề tài, hăy làm những bước cần thiết, rồi để tùy Thánh Thần hướng dẫn chúng ta. Chúa Thánh Thần hoàn toàn tự do dẫn chúng ta đi đâu tùy ư Ngài. Chỉ cần chúng ta luôn vâng phục Ngài và sẵn sàng làm những ǵ Ngài muốn, và như vậy chúng ta có thể được những ơn mà chúng ta không ngờ. Phải luôn luôn ư thức rằng Thánh Thần là vị Hướng Dẫn và người Thầy duy nhất và tuyệt vời của chúng ta.

An ủi hay sầu khổ (LT 316.317)

Người ta có thể được an ủi (LT 316), hay sầu khổ (LT 317), hay cảm thấy dửng dưng trong giờ cầu nguyện (LT 11).

Nếu người tập Linh Thao không cảm thấy ǵ (dửng dưng), th́ người hướng dẫn phải hỏi xem họ đă làm giờ cầu nguyện thế nào, họ có giữ các điều phụ thêm không? Thường thường, đó là nguyên do làm họ không cảm thấy ǵ trong giờ cầu nguyện.

Trong giờ cầu nguyện, b́nh thường chúng ta được an ủi, nghĩa là được b́nh an thư thái, cảm thấy thêm ḷng tin cậy phó thác hơn nơi Thiên Chúa, hoặc cảm thấy yêu mến Thiên Chúa hơn (LT 316), và cũng có thể được thêm ơn mà ḿnh đă xin trong giờ cầu nguyện. Nếu chúng ta nhận thấy ḿnh được an ủi, hăy tạ ơn Thiên Chúa.

Cũng có thể chúng ta thấy ḿnh bị sầu khổ thiêng liêng, nghĩa là ḿnh cảm thấy chán nản lười biếng trong việc thiêng liêng và cầu nguyện, bị cám dỗ về những ǵ thấp hèn và phàm tục (LT 317). Trong trường hợp này, chúng ta phải t́m nguyên do xem tại sao lại như vậy (LT 322); cần cố gắng t́m cho ra mà sửa chữa, để hy vọng giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt hơn.

Những nguyên nhân thường ở tại nơi chính ḿnh, do ḿnh thiếu quảng đại trong việc tập trung để cầu nguyện hay chưa cố gắng giữ ngũ quan và xua đuổi những tư tưởng ngoại lai để luôn kết hợp với Thiên Chúa liên lỉ, hay tại ḿnh chưa dứt khoát với một lệch lạc nào đó nơi ḿnh.

Tiến bộ hay thụt lùi so với giờ cầu nguyện trước

Cũng cần so sánh các lần cầu nguyện để biết ḿnh tiến bộ hay thụt lùi, và nguyên do tại sao, ngơ hầu ḿnh sửa đổi hay phát huy, để mỗi ngày một tiến bộ hơn.

4. Gợi ư cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tẩng

11. Các ngươi t́m ǵ (Ga 1:35-51)

Khung cảnh

Như thể ḿnh đang hiện diện tại nơi đức Giêsu ở, khi Ngài mời hai môn đồ tới xem, có lẽ dưới một lùm cây hay trong một hốc đá.

Ơn xin

Xin khao khát và t́m gặp Chúa; xin cảm nghiệm được Chúa đặc biệt trong cuộc Linh Thao này.

Điểm

1. Hai môn đệ này ao ước và khao khát ǵ?

Hai môn đệ này ao ước và khao khát ǵ, mà đă bỏ công việc ḿnh đang làm, bỏ người thân yêu tại nhà, để tới làm môn đệ của Gioan Tẩy Giả?

Hai môn đệ này khao khát và t́m kiếm ǵ, mà đă bỏ thầy cũ của ḿnh là Gioan Tẩy Giả, để đi theo Đức Giêsu, một khi nghe Gioan giới thiệu Đức Giêsu: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng gánh tội trần gian?”

Hai môn đệ này t́m kiếm ǵ, mà Gioan Tẩy Giả không đáp ứng được mong ước của họ?

2. Gặp gỡ Đức Giêsu, th́ được biến đổi

Có những cuộc gặp gỡ, dù mới lần đầu tiên cũng đă gây ấn tượng, đến độ người ta không quên:

“Oâi cái phút ban đầu lưu luyến ấy,
ngàn năm hầu dễ mấy ai quên!.”

Hai môn đồ đă đi theo đức Giêsu, và họ đă nhớ “như in” cuộc gặp gỡ này: “lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.”

Sau cuộc gặp gỡ này với đức Giêsu, Anrê đă giới thiệu em ḿnh là Simon với đức Giêsu, và đức Giêsu đă đổi tên cho Simon thành Kêpha. Đổi tên là đổi vận mạng, đổi đời một người.

Đức Giêsu đă gặp Philip, và Philip đă được biến đổi.

Philip gặp Nathanael, và thuyết phục Nathanael tới gặp đức Giêsu dù Nathanael có thành kiến về Nazaret; rồi khi Nathanael gặp đức Giêsu, th́ ông cũng được biến đổi.

Gặp gỡ đức Giêsu, mà không cố t́nh chống lại tác động của Thánh Thần, th́ sẽ được biến đổi.

3. Tôi t́m ǵ, tôi khao khát mong ước ǵ?

Trong đời sống đă qua, tôi đă miệt mài t́m kiếm điều ǵ, cái ǵ?[15]

Hiện tại tôi mong ước khao khát và t́m kiếm điều ǵ?

Tôi mong ước khao khát điều ǵ trong cuộc Linh Thao này?
Tôi có mong ước khao khát được gặp Thiên Chúa không?
hay tôi đi t́m kiếm tư tưởng mới về Thiên Chúa, hay t́m biết một cách thức cầu nguyện, hay t́m xem có cái ǵ “trong đó” mà nhiều người muốn làm Linh Thao như vậy?

Tâm sự

Thân thưa với Chúa về những khát vọng ao ước của ḿnh, xin Ngài chỉnh đốn nếu những khát vọng đó chưa trong sáng lắm, và xin Ngài làm bùng cháy nơi ḿnh khát vọng ao ước khao khát Ngài.

12. Thiên Chúa ḍ xét tôi (Tv 139)

Khung cảnh

Như thể tôi đang ở trước ngai ṭa Thiên Chúa, cùng đức Maria và toàn thể triều đ́nh thiên quốc.

Ơn xin

Xin cho tôi không chỉ biết nhưng c̣n cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu thương tôi trong từng biến cố của đời tôi:
tôi có trong chương tŕnh của Ngài từ đời đời,
Ngài luôn can thiệp vào đời tôi để tôi được như hôm nay.

Điểm

Trong bài cầu nguyện này, chúng ta cứ đọc chậm chậm Thánh Vịnh, rồi thấy chỗ nào ḿnh thích th́ dừng lại suy nghĩ, và nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa như ḷng ḿnh muốn.

1. Thiên Chúa biết rơ về tôi

Thiên Chúa ḍ xét con và Ngài biết, biết cả khi con đứng con ngồi, con nghĩ tưởng ǵ, Ngài thấu suốt từ xa.

Thiên Chúa không chỉ thấy ḿnh, nhưng Ngài ḍ xét ḿnh, Ngài biết:
từng tư thế, cử chỉ, thái độ của ḿnh;
từng lời nói của ḿnh;
tư tưởng thâm sâu và những toan tính của ḿnh.

“Bàn tay của Ngài, Ngài đặt trên tôi,” “Ngài chặn tôi trước, Ngài ngừa tôi sau,” “Ngài bao bọc tôi cả sau lẫn trước.” Thiên Chúa luôn can thiệp vào đời tôi để ǵn giữ tôi trong t́nh yêu Ngài cho đến hôm nay, v́ Ngài rất yêu tôi.

2. Không thể trốn Chúa được

Đi măi đâu cho thoát thần trí Ngài,

Lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?

Tác giả thánh vịnh dường như đă có một lúc nào đó muốn trốn Thiên Chúa, nhưng rồi trốn không được! Dù lên trời cũng có Chúa, xuống âm ti ḷng đất cũng lại gặp Ngài, sang đông cũng gặp sang tây cũng gặp, và ngay cả trong đêm tối âm u Thiên Chúa cũng biết hết, không ǵ che dấu được Ngài.

Không ǵ trong đời ḿnh có thể che dấu được Thiên Chúa, không ǵ về ḿnh mà Thiên Chúa lại không biết.

3. Thiên Chúa tạo dựng tôi, nên Ngài yêu thương tôi

Rồi một lúc nào đó tác giả thánh vịnh chợt ngộ ra:

Tạng phủ con, chính Ngài đă cấu tạo,

Dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con.

Tác giả thánh vịnh nhận ra ḿnh là tạo vật của Thiên Chúa, là công tŕnh tay Ngài sáng tạo. Cha mẹ sinh ra ḿnh nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng tạo thành ḿnh, mới là Cha đích thực của ḿnh. Bởi v́ ḿnh được sinh ra, đâu phải hoàn toàn do ư cha mẹ ḿnh muốn? Có thể cha mẹ ḿnh muốn sinh ra một cô con gái nhưng lại sinh ra một cậu con trai, có thể cha mẹ tôi muốn sinh ra một cậu con trai nhưng lại sinh ra một cô con gái; có bao cặp vợ chồng không muốn sinh con nữa nhưng lại vẫn có con, c̣n có bao cặp vợ chồng chỉ ao ước có một mụn con nhưng không thể có!

Thiên Chúa tạo dựng nên ḿnh, nên Ngài yêu thương ḿnh, Ngài để ư tới ḿnh từng chút xíu, không ǵ thâm sâu kín ẩn nơi ḿnh mà Thiên Chúa không biết. Hơn nữa, Ngài c̣n có cả một chương tŕnh tuyệt diệu về tôi, để yêu thương tôi. Tại sao tôi lại sợ Chúa và muốn trốn Chúa?

4. Xin Chúa tiếp tục ḍ xét con, để ǵn giữ con

Khi đă nhận chân ra sự thật, tác giả thánh vịnh không c̣n muốn trốn Chúa nữa; Lúc này thay v́ muốn trốn, tác giả lại muốn và xin Thiên Chúa ḍ xét ḿnh, để ǵn giữ ḿnh! Bây giờ, thay v́ sợ và muốn xa Chúa, tác giả lại muốn được ở gần Chúa:

Lạy Chúa, xin ḍ xét để biết rơ ḷng con,
Xin thử con để biết những điều con nghĩ.
Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác,
th́ dẫn con trở lại chính lộ ngàn đời.

Tâm sự

Hăy nói chuyện với Thiên Chúa như ḿnh cảm nhận nơi ḷng ḿnh về Thiên Chúa; Ngài là Đấng luôn yêu thương và chăm sóc ḿnh, từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, từ lúc ḿnh c̣n là bào thai nằm trong dạ mẹ cho đến lúc ḿnh da mồi tóc bạc, và từ khi được sinh ra cho tới lúc xuống mồ.

Xin Chúa hăy làm những ǵ Chúa muốn làm nơi con, v́ những ǵ Chúa làm cho con đều rất tốt đẹp. Con tin điều đó, và con biết đó là sự thật.

13. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng

Khung cảnh

Như ḿnh đang hiện diện trên đồi Canvê buổi chiều năm ấy,nh́n Chúa Giêsu chết thê thảm trên thập giá: người rũ xuống, trần trụi, thân thể không chỗ nào lành, gương mặt biến dạng v́ bị đánh, đầy vết máu.

Ơn xin

Xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng, yêu tôi đến độ ban tặng tôi điều qúy nhất với Thiên Chúa là Con Một của Ngài, đến độ Ngài luôn ở với tôi.

Điểm

1.Thiên Chúa Cha yêu tôi vô cùng

Có t́nh yêu nào diễn tả và so sánh được t́nh yêu của Thiên Chúa, cụ thể là t́nh yêu giữa Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu? Chúa Cha yêu Chúa Giêsu vô cùng!

Nhờ Lời Chúa Giêsu, tôi biết Thiên Chúa Cha yêu tôi vô cùng, Ngài yêu tôi như yêu Chúa Giêsu. “Cha yêu chúng như Cha yêu Con” (Ga 17:23). “Chúng” ở đây là các tông đồ, và cũng là những người nhờ các tông đồ mà tin vào Chúa Giêsu (Ga 17:20).

Chúa Cha yêu thế gian, và cụ thể là yêu tôi đến độ ban Con của Người cho thế gian: “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến độ ban Con của Người cho thế gian...” (Ga 3:16). Tại sao Thiên Chúa lại tin con người đến độ trao Con Cưng của Người cho con người? Và họ đă giết Ngài! Tại sao Thiên Chúa tin con người như vậy? Phải chăng v́ Người yêu con người?

2.Chúa Giêsu yêu tôi vô cùng

Trong bữa tiệc vượt qua cuối cùng với các tông đồ, thánh sử nói: “Đức Giêsu, đă đến giờ Ngài qua khỏi thế gian mà đến cùng Cha, đă yêu những kẻ thuộc về Người c̣n trong thế gian, th́ Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1).

Chúa Giêsu yêu tôi vô cùng, yêu đến độ hiến mạng sống cho tôi: “Không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người hiến mạng sống v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15:13).

Chúa Giêsu yêu tôi như Chúa Cha yêu Chúa Giêsu, và không những thế, Ngài xin tôi hăy yêu Ngài, hăy ở lại trong t́nh yêu của Ngài: “Như Cha đă yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:9).

3. Chúa Thánh Thần yêu tôi vô cùng

Yêu ai, th́ cho tặng phẩm qúy nhất.

Qúy nhất với Chúa Cha và Chúa Giêsu là Thánh Thần. Thế mà Chúa Cha và Chúa Giêsu yêu con người đến độ ban Thánh Thần cho con người (Ga 14:16; 15:26).

Yêu ai, th́ muốn luôn sống bên người đó. Thánh Thần yêu con người, nên Ngài ở lại măi với con người (Ga 14:16).

Và không chỉ Thánh Thần muốn ở măi với con người, cả Chúa Cha và Chúa Giêsu cũng muốn ở măi với con người (Ga 14:23). Điều đó cho thấy cả Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

Tâm sự

Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu chúng ta vô cùng, để một khi cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa, chúng ta sống b́nh an và hạnh phúc hơn. Thân thưa với Chúa v́ chúng ta đă không yêu Chúa như Chúa đáng được yêu.

14. Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)

Khung cảnh

Như thể ḿnh ngồi chung hoà lẫn với dân chúng và các môn đồ trên một ngọn đồi, lắng nghe Chúa giảng dạy.

Ơn xin

Khao khát xin ơn xác tín và cảm nhận Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để ḿnh dám quảng đại phó thác đời ḿnh cho Thiên Chúa.

Điểm

1. Chớ lo cho mạng sống ḿnh

Đức Giêsu nói với người thời đó: “chớ lo cho mạng sống ḿnh, ăn ǵ mặc ǵ ....” Chim trời Thiên Chúa c̣n nuôi, hoa ngoài đồng Thiên Chúa c̣n mặc đẹp cho, huống hồ là con người, không lẽ Thiên Chúa không nuôi và không cho mặc sao? Quân yếu tin? (Mt 6:30).

Lo lắng ăn ǵ mặc ǵ, đó là chuyện b́nh thường, người ngoại cũng lo như vậy, và Thiên Chúa cũng biết chúng ta cần những điều đó (Mt 6:32).

Nếu chúng ta lo quá về cơm ăn áo mặc, nghĩa là, hàm chứa chúng ta muốn định đoạt tất cả, và như vậy phải chăng chúng ta không tin tưởng rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh?

2. Hăy t́m kiếm Nước trước đă

Thiên Chúa là cùng đích và ư nghĩa của con người. Chỉ có một điều cần tuyệt đối đối với con người, đó là Thiên Chúa và tương quan với Ngài.

Chúng ta có khao khát Thiên Chúa không? Chúng ta có mong ước và cố gắng để nên thánh không? Một ngày chúng ta dùng bao nhiêu giờ để t́m kiếm Thiên Chúa và những chuyện thuộc về Chúa? Khi chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, tham dự hoặc cử hành thánh lễ, chúng ta có tham dự và cử hành với trọn cả con người không, hay chúng ta chỉ hiện diện ở đó với thân xác c̣n tâm trí tinh thần th́ ở chỗ khác?

Nếu một người là tu sĩ, nếu họ không phải lo về cơm ăn áo mặc, mà họ cũng không lo t́m kiếm Thiên Chúa và những sự thuộc về Thiên Chúa, th́ cuộc đời họ có ư nghĩa ǵ? th́ họ đi tu, sống đời dâng hiến để làm ǵ? nếu như vậy th́ c̣n tệ hơn cả một người ngoài đời!

3.Tin tưởng phó thác

Chúa Giêsu trách người ta không tin tưởng vào Thiên Chúa khi họ qúa lo về thân xác, khi họ không chú ư và t́m kiếm điều quan trọng và cần thiết. Tôi, ngày hôm nay, có phạm vào lỗi lầm mà Chúa đă trách người xưa không?

Tôi thực sự đă không tin tưởng vào Thiên Chúa nếu tôi đă không chấp nhận:

·        con người của tôi như hồng ân Chúa ban, với thân xác h́nh dáng dung mạo, cũng như giới hạn về khả năng thể lư hay tinh thần;

·        nguồn gốc của tôi, thành phần gia đ́nh của tôi: ông bà cha mẹ anh chị em và ngay cả họ hàng;

·        môi trường sống như cộng đoàn ḍng tu, cộng đoàn giáo xứ, địa phận, đất nước;

·        tôi là người, với những thử thách và cám dỗ trong cuộc sống.

Tâm sự

Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, để một khi cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh, chúng ta có thể phó thác tương lai đời ḿnh cho Thiên Chúa, và như vậy chúng ta sẽ sống trong b́nh an hạnh phúc, v́ được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.

21. B́nh Tâm (LT 23)

Khung cảnh

Như thể ḿnh hiện diện trong buổi chiều đó trên đồi Canvê, nh́n Chúa chết thê thảm.

Ơn xin

Xin cho ḿnh ơn nhận rơ đâu là giá trị đích thực của con người và của đời người, ơn chọn Thiên Chúa trên tất cả và có thái độ thanh thoát với tạo vật.

Điểm

1. Ư nghĩa và mục đích của đời người

Con người được sinh ra để làm ǵ? Đâu là cứu cánh của con người? Tại sao con người phải đau khổ nhiều như vậy?

Có những luận thuyết cho rằng:

·        con người t́nh cờ hiện hữu, đời sống con người chẳng có ư nghĩa ǵ;

·        con người chỉ là vật chất tiến hóa, chết là hết;

·        con người là tṛ chơi của Tạo Hóa “Con Tạo đành hanh,” nếu làm hài ḷng Ngài th́ hạnh phúc c̣n nếu làm mất ḷng Ngài th́ đau khổ.

Mặc khải Kitô giáo cho chúng ta biết: Thiên Chúa tạo dựng con người để con người được sống và sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa. Thiên Chúa không hề muốn con người đau khổ, đau khổ là do con người mà ra!

Tôi có tin điều đă được mặc khải không?

2. Tạo vật là phương tiện

Con người được tạo dựng cuối cùng. Thiên Chúa đă tạo dựng vạn sự vạn vật để phục vụ con người, nhằm giúp con người đến với Thiên Chúa.         Tiền bạc danh vọng chức quyền, không làm con người hạnh phúc! “Dù ai giầu ruộng sâu trái núi, đụn lúa kho tiền, bất qúa cũng thủ tài chi lỗ.”

3. B́nh tâm

Thái độ của con người phải như thế nào trong tương quan với Thiên Chúa và tạo vật?

Nếu Thiên Chúa là cứu cánh và cùng đích của con người, th́ con người phải đặt Thiên Chúa lên trên hết, và phải chọn những ǵ thuộc về Thiên Chúa ưu tiên trên những sự khác: lấy Thiên Chúa và tương quan với Ngài là ưu tiên một, luôn t́m kiếm và lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.

Nếu tạo vật chỉ là phương tiện, th́ ta chỉ được dùng tạo vật trong mức độ nó giúp ta đến với Thiên Chúa, và phải bỏ nó khi nó ngăn đường cản lối. Như vậy, nếu điều ǵ giúp tôi làm vinh danh Chúa hơn th́ tôi làm, c̣n nếu điều ǵ “làm vinh danh Chúa” ngang nhau th́ sao cũng được dù đó là nghèo khó hay giầu sang, bị sỉ nhục khinh chê hay được trọng vọng vinh dự, sống lâu hay chết yểu, thông minh hay ngu dốt, v.v.!

B́nh tâm, không chỉ là không muốn điều này hơn điều kia khi chúng làm vinh danh Chúa ngang nhau, nhưng chủ yếu là chọn Thiên Chúa và ư định của Ngài trên tất cả ngay cả trong trường hợp những điều đó trái ư ḿnh.

Tâm sự

Sau mỗi điểm, hăy nói chuyện thân thưa với Chúa dựa theo hiện trạng của ḿnh, xin Chúa cho ḿnh thấy rơ Chúa mới đáng là tất cả của ḿnh, và tạo vật chỉ là phương tiện, để ḿnh không qúa quyến luyến nó và không bị lầm lẫn trong từng hành vi chọn lựa của ḿnh trong cuộc sống mỗi ngày.

22. Hồi niệm (năm bài: từ bài 11 đến bài 21)

Khung cảnh

Như trong bài 21.

Ơn xin

Xin được ơn cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, nhờ đó ḿnh b́nh tâm và tin tưởng phó thác đời ḿnh cho Thiên Chúa, hầu được b́nh an thư thái hạnh phúc.

Điểm

·        Dừng lại những chỗ trong những bài trước ḿnh đă cảm nghiệm được ít nhiều an ủi, t́nh cảm thiêng liêng, hay hiểu biết, để cảm nghiệm sâu hơn nữa;

·        Dừng lại những chỗ trong những bài trước ḿnh đă bị sầu khổ, để hiểu ḿnh hơn

Tâm sự

Nói với Chúa như ḿnh thấy về ḿnh và những ơn ḿnh nhận được.

         

 


B. TỘI

Những bài cầu nguyện được chỉ dẫn kỹ lưỡng đầu tiên trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô, là những bài về tội: về ba tội, về tội tôi, và về hỏa ngục.

Vào thời gian khởi đầu giúp đỡ các linh hồn, thánh Inhaxiô giúp Linh Thao cho riêng từng người một, và tùy người tập Linh Thao đạt yêu cầu của tuần thứ nhất mau hay chậm mà người đó sẽ qua tuần thứ hai.

1. Mục đích và yêu cầu

Tôi là ai? Tôi là ai đối với Thiên Chúa và tha nhân? Mục đích và yêu cầu của những bài cầu nguyện về tội là ǵ? Như thế nào th́ được coi là đạt yêu cầu của tuần thứ nhất này?

Tôi là một tội nhân nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng! Chúng ta sẽ xét về hai phương diện: trí và tâm.

a. Trí

Làm sao để mỗi người thấy sự xấu xa ác hại của tội và nhận biết thực sự rằng ḿnh là tội nhân.

i.Nhận biết ḿnh là tội nhân

Nhận biết rơ về chính ḿnh và thân phận hèn yếu của ḿnh không phải là chuyện dễ dàng. Có người cho rằng ḿnh không có tội, ḿnh chẳng phạm tội ǵ! Có người cũng cho rằng ḿnh là một tội nhân, nhưng ai mà không phạm tội, bản tính[16] con người mà?!

Nếu người nào suy nghĩ như vậy, th́ họ sai lầm! Tội là hành vi tự do của con người, tôi cố t́nh làm điều tôi thấy tôi không nên làm và không được phép làm.

ii. Nhận biết sự xấu xa và ác hại của tội

Chính hành vi tự do “cố t́nh làm điều tôi không được phép làm,” đă làm biến dạng con người tôi, khiến tôi không c̣n đẹp như trước nữa, khiến tôi không c̣n dễ thương và đáng yêu như trước nữa. Do phạm tội, tôi đă làm mất phẩm giá con người ḿnh, và làm tôi “xấu như qủy.”

Tội không phải là thực tại ngoài ḿnh, nhưng do ḿnh mà ra, là chọn lựa tự do của ḿnh. T́nh trạng tội là hậu qủa chọn lựa cố t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm thành.

Thiên Chúa muốn con người luôn sống yêu thương, để mỗi ngày một đẹp hơn, dễ thương hơn và tự do hạnh phúc hơn. Không làm theo ư Thiên Chúa là tội. Không làm theo những ǵ lương tâm thấy là đúng là tốt cho ḿnh, là không làm theo ư Thiên Chúa.

Tội là không vâng lời Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ là không vâng lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc phạm đến Thiên Chúa, không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh và muốn làm những điều tốt lành cho ḿnh.

b. Tâm

Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là tội nhân (Rm 5:8). Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh và ao ước trở về với Ngài, là yêu cầu mà mỗi người làm Linh Thao phải đạt được trong tuần thứ nhất.

i. Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha thứ

Tội là hành vi từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu thương thuận phục Thiên Chúa nữa.

Hai người yêu nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau, họ không muốn làm trái ư nhau; chỉ một hành vi làm người kia buồn, là họ đă lo lắng và muốn chuộc lại lỗi lầm, cho dù đó chỉ là xúc phạm nhỏ. Cũng vậy người ta chỉ cảm thấy tội ḿnh thực nặng nề và muốn trở về với Thiên Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu thương nên Ngài luôn trông chờ chúng ta trở lại với Người, và Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta thống hối.

Những bài cầu nguyện về tội không nhằm làm chúng ta bị tê liệt hay bị dằn vặt hoặc mặc cảm, nhưng để giúp chúng ta thấy được t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa khi Ngài tha thứ tội lỗi cho chúng ta.

ii. Khao khát trở về với Thiên Chúa

Đứng trước t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa và thấy ḿnh tội lỗi thấp hèn như vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ?

Thái độ của chúng ta là sám hối xin Thiên Chúa thứ tha, và ao ước khao khát bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa.

Khao khát yêu mến Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, ao ước bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa, là tâm t́nh của một người thống hối thật sự.

Cảm nhận ḿnh là tội nhân, thấy ḿnh được Thiên Chúa yêu thương vô cùng dù ḿnh tội lỗi nặng nề, khao khát ao ước trở về bắt đầu một đời sống mới với Thiên Chúa, là đạt yêu cầu của tuần thứ nhất.

2. Những đoạn Kinh Thánh dùng cầu nguyện

Có nhiều đoạn Kinh Thánh có thể dùng để cầu nguyện trong tuần thứ nhất này, ở đây chỉ xin liệt kê một vài bản văn:

Tội Adam và Eva (St 3:1tt);

Tội Cain (St 4:1-16);

Dân Do-thái thờ ḅ vàng (Xh 32);

Dân Do-thái vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);

Bất công (Am 8:4-10);

Israel bất trung (Gr 3:1-4:4);

Tội dân Do-thái (Br 1:15-3:8);

Tội dân ngoại (Rm 1:18-32);

Không yêu thương là tội (Mt 25:31-46);

Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt);

Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30);

Tôi là tội nhân (I Ga 1:8-2:11);

Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);

Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36-50);

Lời nguyện thống hối (Tv 51/50);

Thiên Chúa là cha nhân từ (Lc 15:11-24).

3. Ghi chú

a. Cầu nguyện

Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói chuyện thân thưa với Ngài như một người bạn với một người bạn, như tṛ đối với thầy, như tôi tớ đối với chủ, như người con đối với cha ḿnh, và như một tạo vật đối với Thiên Chúa.

Những bước cầu nguyện được tŕnh bày dưới đây, nhằm giúp người ta dễ dàng cầu nguyện hơn; nhưng một khi gặp gỡ được Thiên Chúa rồi, th́ những bước cầu nguyện không c̣n cần thiết nữa.

i. Ư thức Chúa hiện diện và chào Chúa

Để nói chuyện với ai, cần họ hiện diện với ḿnh một cách nào đó; cũng vậy, để nói chuyện với Thiên Chúa, cần ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.

Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n xem, yêu thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện diện với chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy về phương diện con người, chúng ta vẫn cần ư thức Ngài hiện diện để có thể nói chuyện với Ngài.

ii. Xin Chúa ban Thánh Thần
Để Ngài thanh tẩy tâm hồn ḿnh

Khó có thể nói chuyện thân t́nh với ai, nếu người đó đang thù hận với họ. Cũng tương tự như vậy, chúng ta không thể gặp gỡ nói chuyện với Thiên Chúa, nếu chúng ta đang ở trong t́nh trạng thù nghịch với Ngài.

Trước khi cầu nguyện, chúng ta hăy xin Thánh Thần tẩy luyện thánh hóa con người chúng ta, để chúng ta có thể gặp gỡ thân t́nh với Ngài.

Để Ngài giúp ḿnh gạt bỏ mọi vướng bận

Nếu chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư tới lời nói của người đang nói chuyện với ḿnh, th́ không thể nói chuyện thân mật với người đó được. Cũng tương tự như vậy, nếu chúng ta không đặt Thiên Chúa lên trên hết, nếu chúng ta không gạt bỏ mọi vướng bận, th́ chúng ta cũng không thể nói chuyện thân mật với Ngài được.

Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi chia trí đến trong đầu chúng ta, và để hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.

Để Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa

Để gặp một nhân vật quan trọng, chúng ta phải xin gặp, và nếu được ưng thuận chúng ta sẽ được hẹn giờ. Không phải bất cứ lúc nào ḿnh muốn, đều có thể gặp được họ.

Cũng tương tự như vậy, gặp gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà chúng ta cần ư thức để trân trọng. Chỉ có điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ ḿnh v́ Ngài yêu thương ḿnh; tuy vậy, được gặp gỡ Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một hồng ân đặc biệt.

iii. Hội nhập khung cảnh

Trí tưởng tượng rất quan trọng đối với con người. Phần lớn hành vi phạm tội của chúng ta đều có sự đóng góp của trí tưởng tượng. Tương tự như vậy, để nên thánh, chúng ta cũng dùng trí tưởng tượng. Thân xác cũng góp phần giúp chúng ta nên thánh, như nó đă góp phần trong hành vi tội của chúng ta.

H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và đặt ḿnh trong bối cảnh và trường hợp đó, giúp chúng ta dễ cầu nguyện hơn.

iv. Ơn xin của bài cầu nguyện

Mỗi bài cầu nguyện đều có một yêu cầu cần đạt được, đó thường là “ơn xin” của bài cầu nguyện.

Ở tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta hiểu biết sâu xa về tội và những tác hại của tội, cho chúng ta nhận biết ḿnh là tội nhân và ơn được trở về với Người.

Ở tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được hiểu Ngôi Lời Nhập Thể hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.

Ở tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta được đồng h́nh đồng dạng với Ngài; cụ thể trong tuần ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được chia sẻ với Ngài trong đau khổ và sỉ nhục, được thông phần với Ngài trong cuộc thống khổ; và trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho được chia sẻ niềm vui và hân hoan của Chúa Phục Sinh.

v. Điểm cầu nguyện

Mỗi bài cầu nguyện có một hay nhiều điểm cầu nguyện. Điểm cầu nguyện là những gợi ư, nhằm giúp ḿnh có chất liệu để suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Tuy mỗi bài có thể có nhiều điểm cầu nguyện, nhưng mỗi người chỉ dùng một số điểm ḿnh thấy ích lợi, trừ phi người hướng dẫn nói khác trong trường hợp cụ thể.

vi. Tâm sự

Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Thiên Chúa, khi đối diện với Thiên Chúa và biết rơ về ḿnh hơn.

Tâm sự là phần chính của bài cầu nguyện, dù người hướng dẫn chỉ nhắc một vài câu về điều này.

b. Xét gẫm như nhận định thiêng liêng

Nhận định thiêng liêng rất cần thiết để tiến bộ trong đời sống tinh thần. Gần cuối sách Linh Thao, thánh Inhaxiô viết hai bộ quy luật nhận định các thần, một dành cho tuần thứ nhất và một cho tuần thứ hai.

i. Nguyên tắc chính yếu
Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc

Thiên Chúa tạo dựng con người để con người được sống hạnh phúc với Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con người, Ngài không bao giờ muốn con người phạm tội[17] dù Ngài ban cho con người được tự do.

Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc không chỉ ở đời sau nhưng ngay cả ở đời này nữa; Ngài không chỉ muốn con người hạnh phúc trong cầu nguyện mà c̣n cả trong cuộc sống thường ngày nữa.

Thiên Chúa muốn con người cảm nghiệm hạnh phúc khi sống đặc biệt với Ngài. Cụ thể trong cầu nguyện, Ngài muốn con người được b́nh an thư thái, được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.

Các thần lành giúp tôi sống như Thiên Chúa muốn

Các thần lành là các vị sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa, các ngài sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các ngài cũng muốn con người sống trong t́nh yêu và hạnh phúc như các ngài.

Thần dữ không muốn tôi sống hạnh phúc với Thiên Chúa

Thần dữ là các thiên thần kiêu ngạo chống đối Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa, thần dữ c̣n t́m mọi cách để tôi xa ĺa và chống đối Thiên Chúa.

ii. Áp dụng cụ thể

Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc, trong cuộc sống thường ngày và đặc biệt trong giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi được b́nh an thư thái trong cuộc sống và trong giờ cầu nguyện.

An ủi

An ủi là t́nh trạng b́nh thường trong giờ cầu nguyện nếu chúng ta sống tương quan tốt với Thiên Chúa.

Thánh Inhaxiô viết: “Gọi là an ủi khi trong tâm hồn có một thúc đẩy nội tâm, làm linh hồn cảm thấy bùng cháy lửa yêu mến Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy không c̣n có thể yêu mến bất cứ tạo vật nào trên mặt đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong Đấng Tạo Hóa mà thôi.

Tương tự, khi linh hồn chảy nước mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm nghiệm tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm cuộc thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm những sự khác hướng về việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa.

Sau cùng, gọi là an ủi khi linh hồn cảm nghiệm sự gia tăng đức cậy đức tin và đức mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời gọi và lôi kéo đến những sự trên trời và phần rỗi của linh hồn, làm linh hồn cảm thấy thư thái và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 316).

Phần lớn khi được an ủi là do thần lành hướng dẫn[18] (LT 318), và nếu khi xét gẫm ḿnh đă nhận ra đó là ơn Chúa th́ hăy tạ ơn Chúa.

Sầu khổ

Sầu khổ là do tác động của thần dữ (LT 318).

Thánh Inhaxiô viết: “Gọi là sầu khổ tất cả những ǵ trái ngược với quy tắc thứ ba. Chẳng hạn, sự tối tăm trong tâm hồn, xao xuyến bên trong, thúc đẩy về những ǵ thấp hèn và phàm tục, bất an trước những xáo động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy lười biếng, khô nhạt, buồn rầu và như bị ĺa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh” (LT 317).

Cách thức chống trả

V́ sầu khổ là do tác động của thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó th́ không thể đến với Thiên Chúa được; thế nên “chúng ta luôn luôn làm ngược lại điều ác quỷ hay thần dữ muốn” (LT 351).

 Nếu thần dữ muốn chúng ta bỏ cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi quyết định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm ngược lại điều thần dữ muốn, nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi mở lương tâm với những người đạo đức (LT 326).

Nếu nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không được tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về những vướng bận hay lệch lạc nào đó, hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải lo thống hối và hoán cải (LT 321bc).

4. Gợi ư cầu nguyện về tội

23. Tội (LT 45-53)

Khung cảnh

Như thể thấy Đức Giêsu bị đánh đ̣n, Ngài cảm thấy rất đau. Người ta đă hành hạ và cố t́nh làm Ngài đau khổ ...

Ơn xin

Xin cho ḿnh ơn nhận biết bản chất của tội, và ơn xấu hổ ngượng ngùng v́ bao nhiêu tội ḿnh đă phạm.

Điểm

1. Không phục tùng Thiên Chúa

Thiên thần được tạo dựng trong ân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng có một số thiên thần không tùng phục Thiên Chúa, họ muốn độc lập với Thiên Chúa, họ muốn thành tuyệt đối và tự do tuyệt đối, họ muốn bằng Thiên Chúa, họ coi Thiên Chúa là đối thủ của họ: đó là kiêu ngạo và phản loạn, và như thế là tội.

Các thiên thần ư thức việc họ làm, một cách tự do và không hối tiếc về việc họ làm, họ chọn điều họ đă chọn một cách dứt khoát. Ngay “bây giờ,” ác quỷ cũng không hối hận việc họ đă làm, và họ vẫn đang tiếp tục chọn điều họ đă chọn “ngày xưa.”

Ngày nay, ác quỷ vẫn thù ghét và chống đối Thiên Chúa như ngày xưa, và hậu qủa là hỏa ngục. Tội và hỏa ngục[19] liên hệ với nhau, đi liền với nhau như thể bóng với h́nh, không thể tách khỏi nhau được.

2. Không tin vào Thiên Chúa nữa (St 3:1tt)

Tội, không chỉ là không vâng lời khi ăn trái bị cấm, mà chủ yếu là không tin vào Thiên Chúa nữa, tin vào ác quỷ hơn tin vào Thiên Chúa (St 3:4-5), không tin Thiên Chúa yêu ḿnh và muốn điều tốt cho ḿnh.

Không tin vào Thiên Chúa, không trông cậy và chờ đợi ǵ nơi Thiên Chúa, từ chối t́nh yêu Thiên Chúa dành cho ḿnh, đó là tội.

Khi con người không tin vào Thiên Chúa, th́ con người cũng không thể tin vào nhau, và nh́n nhau với cặp mắt nghi kỵ (St 3:12-13). “Không Trời ai sống được với ai!” Adam trách Evà, Evà đổ tội cho con rắn.

Sau khi phạm tội, con người muốn trốn Thiên Chúa; không muốn nhận sự thật về chính ḿnh, đổ tội cho người khác; t́m lư do biện minh.

3. Từ chối thúc đẩy của Thánh Thần mời gọi hoán cải

Nếu ai đó chỉ phạm một tội thôi, một cách ư thức tự do và dứt khoát, không hối hận cho đến giờ chết, th́ người đó phải sa hỏa ngục, và đáng sa hỏa ngục.

Thực ra khi phạm tội như vậy, dù người đó chưa sa “hỏa ngục,” nhưng họ cũng đang ở hỏa ngục rồi, nghĩa là, người đó đang bất hạnh và không muốn thoát khỏi t́nh trạng đó, dù Thiên Chúa đă bao lần đề nghị, thúc đẩy người đó trở lại với Ngài.

Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, Ngài muốn con người hạnh phúc. Chính con người tạo hỏa ngục cho ḿnh, cho dù Thánh Thần Thiên Chúa đă bao lần thúc đẩy mời gọi họ trở lại với Thiên Chúa.

Tâm sự

Nh́n Chúa Giêsu chết trên thập giá, t́m hỏi tại sao Ngài đă nhập thể, sinh ra nghèo hèn, sống đơn sơ đạm bạc, rao giảng trong cảnh nghèo, và cuối cùng chết ô nhục trên thập giá như vậy, rồi xem tôi đă làm ǵ cho Chúa, tôi đang làm ǵ cho Chúa và tôi sẽ làm ǵ cho Chúa?

Hăy nói với Chúa những ǵ ḿnh phải thân thưa với Chúa.

24. Tội tôi (LT 55-61)

Khung cảnh

“Tinh thần th́ lanh lẹ nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Nh́n vào chính con người ḿnh và ư thức rơ: tôi là tinh thần với thể xác, xác thịt có những đ̣i hỏi của xác thịt, và có nhiều lúc tôi phải rất vất vả để vượt qua.

Ơn xin

Khao khát xin ơn cảm nhận rơ ḿnh là tội nhân, và ơn cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, để ḿnh trở lại với Chúa và thuộc trọn về Chúa.

Điểm

Theo sát chỉ dẫn của thánh Inhaxiô để cầu nguyện bài này, và đây là bài cầu nguyện phải cầu nguyện đủ năm điểm như thánh Inhaxiô chỉ, đặc biệt là điểm thứ năm.

Tâm sự

Thân thưa với Thiên Chúa T́nh Yêu, Đấng yêu thương tha thứ mọi lỗi lầm cho chúng ta.

31. Hồi niệm (hai bài Tội và Tội tôi)

Khung cảnh

Như thể hiện diện trên đồi Calvê buổi chiều hôm đó, nh́n Chúa chết thảm khốc cho tôi v́ yêu tôi.

Ơn xin

Khao khát xin ơn nhận rơ về con người thực của ḿnh, ơn cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh, ơn trở lại và khao khát thuộc trọn về Thiên Chúa.

Điểm và Tâm sự

Như thánh Inhaxiô chỉ trong LT 62-63.

Lưu ư về quyến luyến lệch lạc:

Quyến luyến lệch lạc là gắn bó với một tạo vật nào đó không như Thiên Chúa muốn, nó có thể dẫn chúng ta tới tội nếu chúng ta dứt khoát từ bỏ nó, chẳng hạn ḿnh gắn bó qúa với ai đó, vật ǵ đó, địa sở, chức vị hay nghề nghiệp nào đó, v.v.

32. Dửng dưng trước nỗi khổ của tha nhân (Mt 25:31 tt)

Khung cảnh

Như thể hiện diện trong ngày Chúa quang lâm cùng các thiên thần, thấy Chúa phân tách kẻ dữ người lành như thể người ta phân tách dê khỏi chiên.

Ơn xin

Khiêm tốn nhận thực rằng ḿnh là tội nhân, đă không sống giống Thiên Chúa, không sống như Thiên Chúa muốn. Xin cho ḿnh ḷng thống hối, khao khát bắt đầu một đời sống mới, sống như Thiên Chúa muốn, sống như những người con giống Cha của ḿnh là Thiên Chúa.

Điểm

1. Thiên Chúa là T́nh Yêu

Thánh Gioan tông đồ diễn tả “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Ga 4:8.16). Thiên Chúa là Đấng chỉ biết yêu, hay đúng hơn: Ngài làm tất cả v́ t́nh yêu. Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người, Ngài muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được hạnh phúc, ở đời sau và ngay cả ở đời này nữa.

Vậy giải thích làm sao “Thiên Chúa là t́nh yêu,” khi Ngài tạo hỏa ngục để phạt các thần dữ và con người không phục tùng Người? Không loại trừ hỏa ngục là nơi để các thần dữ và bè lũ của nó phải đau khổ ở trong đó; nhưng nếu chỉ hiểu hỏa ngục là một ngục đầy lửa để phạt các thiên thần dữ, th́ hiểu làm sao khi “đối thủ của anh em là ác quỷ như sư tử rống, nó lượn ŕnh t́m sao nuốt được một ai” (1Pr 5:8). Nếu ác quỷ là thiêng liêng, th́ lửa hữu h́nh đâu có tác động ǵ? Hơn nữa, nếu Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, th́ trong hỏa ngục Thiên Chúa cũng hiện diện, phải chăng hỏa ngục cũng đốt Thiên Chúa?
Hỏa ngục c̣n được hiểu như một t́nh trạng đau khổ bất hạnh cho một ngôi vị, dù đó là thiên thần hay con người chống đối Thiên Chúa hay phủ nhận t́nh yêu của Ngài. Cũng tương tự hai người thù ghét nhau th́ bất hạnh và đau khổ khi họ ở gần nhau, những người thù ghét Thiên Chúa cảm thấy đau khổ bất hạnh v́ Thiên Chúa luôn luôn hiện diện ở khắp nơi. Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục để phạt các thiên thần dữ và con người phản bội, chính họ tạo ra hỏa ngục cho chính họ.

2. Đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những người khốn cùng, nghèo hèn nhất

Khi Phaolô trên đường đi Đama t́m bắt các kitô-hữu để đem về Giêrusalem, dọc đường ông bị té ngựa, và có tiếng từ trời “Sa-ul, Sa-ul, sao ngươi bắt bớ Ta?” Sa-ul hỏi: “Thưa Ngài, Ngài là ai?;” Tiếng đáp rằng: “Ta là Giêsu, ngươi đang t́m bắt” (Cv 9:5). Phaolô lúc đó đâu có t́m bắt đức Giêsu, ông đang t́m bắt các kitô-hữu, tức những người tin vào đức Giêsu thôi; nhưng ở câu trả lời, đức Giêsu đă đồng hóa ḿnh với các kitô-hữu đang bị bắt bớ.

C̣n trong tŕnh thuật của Mt 25:31-46 này, đức Giêsu đồng hóa ḿnh với những kẻ khốn nạn nghèo hèn nhất, những người cần chúng ta giúp đỡ nhất (Mt 25:40.45). Ai làm cho một trong những kẻ nghèo hèn này, là làm cho chính Chúa Giêsu.

3. Tiêu chuẩn Thiên Chúa phán xét ngày Ngài quang lâm: yêu thương

Thiên Chúa không phán xét dựa vào công việc người đó làm, hay chức vụ người đó giữ, hay nơi chốn người đó ở, hay địa vị người đó có; nhưng Ngài phán xét con người dựa vào ḷng yêu thương người đó có đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Thiên Chúa phán xét, xem tôi có yêu thương tha nhân, những người khốn cùng cần đến sự giúp đỡ của tôi không?

Những người cần đến tôi là ai?

·        Trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, là kẻ bị đánh nằm dọc đường;

·        Trong cộng đoàn của tôi, là những người cảm thấy bị cô độc bỏ rơi, là những người có ác cảm với tôi mà họ không vượt thắng được chính họ, là những người đang bị khủng hoảng;

·        Trong môi trường của tôi, là những kẻ cần tới sự giúp đỡ của tôi để phát triển, để trưởng thành hơn, để hạnh phúc hơn.

Đức Giêsu, trong buổi tối cuối cùng, Ngài đă nói: “các con hăy yêu thương nhau, như Thầy đă yêu thương các con” (Ga 13:34), “người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau” (Ga 13:35). Mười giới răn của Thiên Chúa tóm lại trong hai điều “trước kính mến Chúa trên hết mọi sự, sau là yêu anh em như ḿnh ta vậy,” nói tóm lại, mười giới răn của Thiên Chúa cũng chỉ tóm lại trong một giới răn yêu thương mà thôi.

Ai yêu thương th́ nên giống Thiên Chúa, ai thù ghét anh em th́ nên giống ác quỷ. Thiên Chúa là T́nh Yêu, là Đấng chỉ biết yêu thương; và ai yêu thương, th́ là con cái Thiên Chúa, v́ họ giống Thiên Chúa. Ai nói ḿnh yêu Thiên Chúa, mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga 4:20).

Tâm sự

Xin Chúa cho ḿnh nhận ra con người thực của ḿnh, đă bao phen hành xử không giống Thiên Chúa là Cha của ḿnh. Xin cho ḿnh ḷng ăn năn thống hối thật, để từ đây ḿnh yêu Thiên Chúa hơn và yêu anh em hơn, để ḿnh được giống Thiên Chúa hơn và hạnh phúc hơn.

33. Chung Thủy[20]

Khung cảnh

Nhớ lại ngày khấn long trọng nhất của ḿnh, và tâm trạng thái độ sống đời dâng hiến của ḿnh lúc bấy giờ.

Ơn xin

Xin cho ḿnh nhận ra con người thật của ḿnh: một người không chung thủy giữ lời ḿnh đă khấn hứa với Thiên Chúa; xin cho ḿnh cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, Ngài đang mời gọi ḿnh trở lại với Ngài, và xin cho ḿnh ơn thống hối trở lại với Ngài để sống một đời sống mới thuộc trọn về Thiên Chúa hơn.

Điểm

1. Ư nghĩa đời sống dâng hiến

Khi hai người yêu nhau, họ cho nhau những ǵ họ có; và tột đỉnh, họ cho nhau chính con người họ và cuộc đời nhau.

Sống đời dâng hiến, chúng ta dâng tặng cái ǵ và cho ai? Chúng ta dâng tặng chính con người của chúng ta, đời sống của chúng ta cho Thiên Chúa một cách hoàn toàn ư thức và tự do.

Chúng ta dâng hiến đời chúng ta cho Thiên Chúa bằng khấn ba lời khấn khó nghèo, trinh khiết và vâng lời; chúng ta tự nguyện chết cho chính ḿnh và với thế gian khi thề hứa những lời khấn trên.

Dâng hiến hàm chứa tự nguyện. Tôi sống đời sống dâng hiến với thái độ tự do tự hiến hay như một bắt buộc?

2. Lời khấn khó nghèo

Ai cũng có quyền sở hữu và sử dụng của cải, v́ đây là quyền tự nhiên của con người.

Với lời khấn thanh bần, chúng ta tự nguyện muốn bắt chước ChúaGiêsu, tự do với tất cả của cải vật chất.

Chúng ta đă sống điều chúng ta khấn hứa thế nào? Phải chăng mỗi năm, chúng ta lại chẳng lấy lại một số điều chúng ta đă tự nguyện bỏ? Mỗi dịp về nhà, mỗi khi người thân quen lên thăm, người này cho người kia cho, tôi đă từ bỏ hay đă giữ lại để dùng cho chính bản thân ḿnh? hay đă dùng theo ư riêng ḿnh dù không chỉ cho riêng ḿnh?

Tại sao tôi lấy lại một cách không chính đáng điều mà tôi đă tự nguyện bỏ, mà chính sự lấy lại này làm tôi không được tự do và trở thành nhỏ nhen ích kỷ?

3. Lời khấn trinh khiết

Ai cũng có quyền yêu và được yêu, được có một gia đ́nh xứng hợp.

Là tu sĩ với lời khấn trinh khiết, chúng ta tự nguyện từ bỏ quyền yêu riêng một người và từ bỏ quyền lập gia đ́nh, trong đó vợ chồng con cái nâng đỡ nhau để sống triển nở và hạnh phúc hơn. Không ai bắt chúng ta làm điều đó; sở dĩ chúng ta làm điều đó, bởi v́ mỗi người chúng ta cảm nhận một lời mời gọi để sống riêng với Chúa và thuộc trọn về Ngài, và chúng ta đă tự nguyện đáp lời.

Và chúng ta đă sống lời đoan nguyện của chúng ta thế nào? Tại sao với thời gian, chúng ta đă t́m và lấy lại điều ḿnh đă tự do từ bỏ? Tại sao tôi đi t́m t́nh cảm của người này người kia? Tại sao tôi muốn được người này yêu người kia thương? Tại sao tôi đi t́m những điều đó, khi chính tôi đă tự nguyện từ bỏ lúc tôi hoàn toàn có quyền được có, và tôi có dư khả năng để có, bởi v́ lúc đó đă có bao người thương yêu tôi? Lúc đó, tôi đă quảng đại vượt lên chính con người của ḿnh và đă thấy ḿnh trưởng thành hơn, cao thượng hơn; vậy tại sao bây giờ tôi lại cư xử như vậy, tại sao tôi lại sống như vậy, khi điều này làm tôi trở thành kẻ lường gạt, kẻ nói dối, không trung thực với chính ḿnh và với người khác?!

4. Lời khấn vâng phục

Không phải v́ tôi không có khả năng quyết định về cuộc đời tôi mà tôi khấn lời khấn vâng phục! Cũng không phải v́ tôi không có lập trường, không thông minh bằng bề trên mà tôi khấn vâng phục bề trên. Có thể tôi có lập trường, và lập trường của tôi c̣n vững chắc và có lư hơn lập trường của bề trên, và không chừng một cách tổng quát, tôi c̣n thông minh hơn cả bề trên nữa, nhưng tôi vẫn khấn lời khấn vâng phục, bởi v́ tôi muốn hiến trọn đời tôi cho Chúa, và để Chúa điều khiển tôi qua bề trên.

Hôm nay tôi đă sống lời khấn vâng phục thế nào? Tại sao hôm nay tôi lại muốn bề trên phải theo ư tôi? Tại sao hôm nay tôi “càm ràm” than trách khi bề trên không làm điều hợp ư ḿnh? Tại sao tôi c̣n “ngoi ngóp” muốn sống khi chính tôi đă tự nguyện chết? Tôi đă không nhất quán với chính tôí! Tại sao tôi nói một đàng qua lời khấn, rồi tôi lại muốn và làm một điều khác? Quá tệ!

5. Đời sống cộng đoàn

Chúng ta, những người sống dâng hiến theo cùng một linh đạo, sống cộng đoàn để nâng đỡ nhau về mọi mặt, để giúp nhau thuộc trọn về Chúa và phục vụ tha nhân hữu hiệu hơn. Trên nguyên tắc, chúng ta đă từ bỏ tất cả và thậm chí đến cả con người chúng ta, nên chúng ta phải thương yêu nhau, và trở thành chứng nhân cho Thiên Chúa.

Trên thực tế chúng ta đă sống đời sống cộng đoàn thế nào, chúng ta đă sống đời sống chứng tá như thế nào, khi chúng ta dạy người khác phải sống yêu thương nhau như Chúa dạy?

Đă đành mỗi người mỗi tính nết và có những người không hợp tính nết của nhau, nhưng nếu không sống được với nhau th́ qủa là “qúa dổm” và phản chứng. Nếu chúng ta không sống thoải mái được với nhau, đó là dấu chỉ cho thấy chúng ta chưa từ bỏ ḿnh thực sự. Người bạn trong cộng đoàn của chúng ta, là bản thử nghiệm cho thấy chúng ta đă sống đời sống dâng hiến thế nào!

Tôi có sống được với người bạn trong cộng đoàn của tôi không? Tôi có hạnh phúc thoải mái trong đời sống cộng đoàn không? Nếu không, e rằng tôi chưa thực sự sống đời sống dâng hiến!

Tâm sự

Thân thưa với Chúa khi đă thấy con người thật của ḿnh, xin Chúa cho ḿnh ao ước bắt đầu một đời sống mới, thuộc trọn về Chúa hơn, bằng những hành vi từ bỏ chính ḿnh.

34. Người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)

Khung cảnh

Như thể ḿnh hiện diện với đức Giêsu và các tông đồ trong biến cố Chúa làm cho anh mù ngồi bên vệ đường ăn xin, được sáng. 

Ơn xin

Khao khát xin ơn nhận biết ḿnh với những tật mù “thành kiến” và “tiêu chuẩn là con người và sự khôn ngoan theo con người,” làm ḿnh không thấy được sự thật và nét đẹp của Thiên Chúa và anh em. Xin ơn thống hối và khao khát thuộc trọn về Thiên Chúa.

Điểm

1. Tật mù của người biệt phái

Đức Giêsu đă làm phép lạ chữa lành người mù trong ngày sabbat; đối với người biệt phái, đó là điều không được phép v́ họ cho rằng như thế là vi phạm ngày sabbat.

Đầu tiên, họ không muốn tin rằng phép lạ đó đă thực sự được làm, nên họ đă gọi cha mẹ người mù tới để kiểm chứng, và sau khi cha mẹ người mù xác nhận, họ đành chịu (Ga 9:18-21).

Phải có thái độ và lập trường nào đối với đức Giêsu đây? Đức Giêsu là người thuộc về Thiên Chúa hay là người tội lỗi? Nếu nói đức Giêsu là người tội lỗi th́ làm sao giải thích được phép lạ Ngài làm, c̣n nếu nói đức Giêsu là người của Thiên Chúa th́ làm sao giải thích việc đức Giêsu không giữ ngày sabbat? (Ga 9:16).

Cuối cùng họ đă thống nhất với nhau, cho rằng đức Giêsu là người tội lỗi (Ga 9:24).

Tại sao người biệt phái không thể nhận ra được rằng đức Giêsu từ Thiên Chúa mà tới, Ngài là thánh? Phải chăng v́ họ có thành kiến, v́ họ không khiêm tốn đủ để nhận ra sự thật, phải chăng họ bị mù “thiêng liêng?”

2. Cha mẹ người mù “khôn qúa” nên không dám nói sự thực

Phải chăng cha mẹ người mù không được anh mù kể lại và không biết người chữa lành mắt con ḿnh là đức Giêsu khi họ trả lời biệt phái: “Chúng tôi xác nhận nó là con của chúng tôi, và nó sinh ra đă mù, c̣n làm sao nó sáng được th́ xin các ông hỏi nó, nó khôn lớn rồi và có thể nói năng về ḿnh được” (Ga 9:20-21)?

Cha mẹ nó nói thế v́ sợ người biệt phái đuổi họ ra khỏi hội đường (Ga 9:22-23)!

“Kẻ nào chối Ta trước mặt người đời, th́ con người cũng chối nó trước mặt Cha Ta, kẻ nào tuyên xưng Ta trước mặt người đời th́ Con Người cũng tuyên xưng kẻ ấy trước mặt Cha Ta Đấng ở trên trời” (Mt 10:32-33). Trong cuộc sống thường ngày, tôi có khôn như cha mẹ người mù không? Tôi có dám nói sự thực dù những bất lợi có thể xảy tới cho tôi không?

3. Thái độ của người mù

Mới thoạt nh́n, chúng ta tưởng anh mù là người nhu nhược không có lập trường khi anh ta để cho đức Giêsu nhổ nước bọt làm bùn xức vào mắt anh ta, và đi rửa mắt trong ao Siloam! Nhưng thực tế không phải vậy.

Khi người biệt phái buộc anh ta phải tuyên bố đức Giêsu là người tội lỗi, anh ta đă tỏ thái độ dứt khoát và thông minh; không những thế, anh ta c̣n có thể cho những người biệt phái thấy rằng họ sai lầm (Ga 9:25-34).

Dễ dạy với Thánh Thần và sẵn sàng làm những ǵ Thiên Chúa thúc đẩy, sẽ làm một người trở thành người có lập trường và can đảm trưởng thành. Tôi có luôn ngoan ngùy với thúc đẩy của Thánh Thần và thực hiện Ư Thiên Chúa trong đời tôi không?

Tâm sự

Hăy thân thưa với Chúa như ḿnh thấy về chính ḿnh: xin Chúa cho ḿnh nhận biết rơ ḿnh có những tật mù “thiêng liêng,” và xin Chúa giải phóng ḿnh khỏi những tật mù này, xin cho ḿnh ơn trở về với Chúa thực sự, để ḿnh được sáng và nhận ra nét đẹp của Thiên Chúa và của anh em ḿnh.

41. Chị phụ nữ thống hối (Lc 7:36tt)

Khung cảnh

Như thể ḿnh đang hiện diện với đức Giêsu và người biệt phái trong bữa tiệc, và mục kích cung cách cư xử của chị phụ nữ.

Ơn xin

Ơn cảm nhận ḿnh là tội nhân, ḷng thống hối mănh liệt trước Thiên Chúa là Đấng yêu thương ḿnh vô cùng; ơn khao khát trở về với Chúa thực sự.

Điểm

1. Tâm t́nh và cung cách hành xử của chị phụ nữ

Nh́n nghe quan sát cung cách hành xử của chị phụ nữ: khóc lóc nức nở, lấy tóc lau chân đức Giêsu, hôn chân Ngài.

Tại sao chị phụ nữ này đă làm như vậy? Hành vi thái độ này diễn tả điều ǵ trong tâm hồn chị? Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy chị ta hành xử như vậy là ǵ?

Để làm được điều này, chị đă phải vượt qua ngưỡng cửa nhà người biệt phái: điều này đ̣i chị phải rất can đảm, v́ người biệt phái coi chị là người tội lỗi, và họ không muốn tiếp xúc với người tội lỗi; nếu chị bị chặn lại và đuổi ra th́ sao? Tự ái của ḿnh bị xúc phạm th́ sao? Thầy Giêsu không thông cảm th́ sao? Tại sao chị không chờ Thầy Giêsu ra khỏi nhà người biệt phái đó, rồi chị hăy tỏ ḷng thống hối? Và hơn nữa, thầy Giêsu hiểu ḷng chị mà, tại sao phải làm vậy? Có bao nhiêu lư do để ngăn cản chị ta, nhưng tại sao chị ta đă hành xử như chị ta đă làm, thâm sâu và đáng nói trong hành động này là ǵ?

Chính Thiên Chúa đang thúc đẩy nơi tâm hồn của chị, và chị đă làm như ḿnh được thúc đẩy.

2. Thái độ của người biệt phái

Người biệt phái không nói thành lời nhưng nói trong ḷng ông ta: “Ông này, nếu qủa thực là một tiên tri, ắt phải biết người đàn bà rờ đến ḿnh kia là ai và thuộc hạng nào chứ: một đứa tội lỗi” (Lc 7:39).

Có lẽ vào địa vị ông, ông sẽ không cho chị phụ nữ được đụng chạm vào người ông, v́ chị ta không đáng, v́ chị ta là đứa tội lỗi. Trong câu nói, cho thấy ông ta coi thường, khinh bỉ chị phụ nữ này; và v́ đức Giêsu đối xử với chị phụ nữ này như vậy, nên dường như ông ta không c̣n coi đức Giêsu là một tiên tri nữa.

Cái nh́n lệch lạc về con người, ngay cả đối với người “tội lỗi,” cũng ngăn cản người ta hiểu đúng về đức Giêsu và về Thiên Chúa.

3. Tâm t́nh và thái độ của đức Giêsu

Từ đầu, đức Giêsu có vẻ không bận tâm về sự xuất hiện của chị phụ nữ, và chúng ta không thấy Ngài phản ứng sao trước cách đối xử của chị phụ nữ. Thế nhưng, khi biết ư nghĩ trong ḷng của người biệt phái, đức Giêsu đă bênh vực chị phụ nữ, và nhờ đó chúng ta thấy Ngài đă lưu ư và không bỏ sót một hành vi cử chỉ nào của chị phụ nữ thống hối này, và cả những ǵ sâu kín nơi con người của chị.

Đức Giêsu đă đón nhận chị, đă chấp nhận con người và cách hành xử cùng tâm t́nh thái độ của chị. “Chị yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).

Tâm sự

Chị phụ nữ có thể có nhiều tội hơn tôi, nhưng kể từ giây phút đó, chị đă đổi đời, không bao giờ chị c̣n trở lại đường cũ nữa; c̣n tôi, tôi thiếu tâm t́nh thống hối như chị, tôi chưa ư thức được về con người tôi như chính chị đă ư thức về con người chị, và v́ vậy tôi cứ ́ ạch như con người hiện tại; xin Chúa ban cho ḿnh ơn biết rơ ḿnh là con người tội lỗi, và ơn thống hối thực sự, để từ đây ḿnh không bao giờ làm buồn ḷng Chúa nữa.

42. David thống hối (Tv 51/50)

Khung cảnh

Như thấy David mặc áo nhặm ăn chay, thống hối tội lỗi, xin Chúa tha thứ.

Ơn xin

Xin Chúa cho ḿnh ơn nhận biết ḿnh tội lỗi, và ơn cảm nhận t́nh Chúa yêu thương, để ḿnh thống hối thật sự, và khao khát bắt đầu một đời sống mới với Chúa.

Điểm và tâm sự

Đọc chậm Thánh Vịnh, dừng lại suy nghĩ, và cầu nguyện với Chúa như ḿnh thấy cần.

 


C. LỜI MỜI GỌI CỦA VUA HẰNG SỐNG

“Tiếng gọi Vua Đời Tạm giúp chiêm ngắm đời sống Vua Vĩnh Cửu,” là bài cầu nguyện nằm giữa tuần nhất và tuần hai. Bài cầu nguyện này xác định thái độ cần thiết để có thể cầu nguyện tốt những bài cầu nguyện tiếp theo sau.

1. Mục đích và yêu cầu

Ơn xin của bài cầu nguyện này: “xin ơn đừng giả điếc trước lời mời gọi của Chúa nhưng mau mắn thi thành thánh ư Ngài.”

Dù chúng ta tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu thương tha thứ tội lỗi và mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài để chinh phục thế gian, để làm cho con người nhận biết t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta có sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa không?

Chọn Thiên Chúa và đặt thánh ư Ngài trên tất cả, kết hiệp với thánh ư Thiên Chúa,[21] sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Ngài dù thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó nghèo khổ nhục, là yêu cầu của bài cầu nguyện này.[22]

2. Những đoạn Kinh Thánh có thể dùng

Yêu cầu của bài Tiếng Gọi Vua Hằng Sống, được hàm chứa trong nhiều đoạn Kinh Thánh.

Có thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau để cầu nguyện:

Lời mời (Lc 5:1-11);

Hăy là thánh (Lv 19:2);

Sứ mạng (Ga 20:21);

Ơn gọi Abraham (St 12:1-9);

Đáp trả trong vâng phục đức tin (St 22:1-10);

Ơn gọi Môsê (Xh 3:1-12);

Ơn gọi Samuel (I Sm 3:1-21);

Ơn gọi Ysaya (Is 6:1-13);

Ơn gọi Yêrêmya (Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);

Người tôi tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49; 50; 52);

Ơn gọi Phaolô (Cv 9); v.v.

3. Ghi chú

Cầu nguyện là ư thức sống với Chúa, cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh, dâng lên Chúa những tâm t́nh ḿnh có: lời cảm tạ tri ân, lời tán dương, cảm nghiệm hạnh phúc với Chúa, lời khẩn cầu khi ư thức ḿnh bất lực, v.v.

a. Cầu nguyện chủ yếu là tâm sự

Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là tâm sự. Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng quan trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là phần quan trọng nhất.

i. Cảm nghiệm (LT 2)

Để hướng dẫn người giúp Linh Thao, thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện ngắn gọn và trung thực, để giúp người tập Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ “không phải sự hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh hồn, nhưng chính sự cảm nếm bên trong mới làm thỏa măn linh hồn” (LT 2).

Trong cầu nguyện và đặc biệt trong tâm sự, chúng ta có thời gian để sống với Thiên Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta. Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể nói cầu nguyện là giờ phút cảm nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.

ii. Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện

Những điểm gợi ư cầu nguyện, chỉ là những gợi ư, là phương tiện giúp chúng ta cầu nguyện; nó chỉ có giá trị tương đối và “rất là tương đối.” Chính v́ thế, chúng ta chỉ dùng những điểm gợi ư trong mức độ nó giúp chúng ta cầu nguyện, và chỉ dùng số điểm nào đó như chúng ta thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả mọi điểm đă được gợi ư (LT 2.76.228).[23]

Về tư thế khi cầu nguyện, tư thế nào (ngồi, đứng, qùy, phủ phục, v.v.) giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́ ḿnh dùng tư thế đó; Và một khi dùng tư thế đó mà gặp được Chúa, th́ không nên thay đổi (LT 76).

iii. Tâm sự

Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa như một người bạn với một người bạn, như một người tôi tớ với chủ ḿnh.

Được coi là tâm sự,

·        khi thân thưa với Thiên Chúa về chính con người và nhu cầu của ḿnh,

·        khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa,

·        khi xin một ơn,

·        khi xin tha thứ lỗi lầm,

·        khi phó thác công việc hay trọn cả con người cho Thiên Chúa,

·        khi xin dạy bảo hay hướng dẫn (LT 54.61.109.199.224).

Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng giờ để tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.

Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa bằng cả con người với tất cả tâm t́nh, là ở lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.

Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy nghĩ và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện. Những gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư để giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và về Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự với Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă thấy hoặc được soi sáng.

b. Xét gẫm như nhận định thiêng liêng

“Sau khi cầu nguyện xong, trong khoảng một khắc, hoặc ngồi hoặc đi đi lại lại, xem giờ chiêm niệm hoặc suy niệm đă diễn ra thế nào. Nếu dở, xem đâu là nguyên do, và một khi đă thấy th́ hối hận và sửa đổi trong tương lai. Nếu tốt, tạ ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta, và lần khác cứ làm như vậy” (LT 77).

Mười lăm phút xét gẫm, là 15 phút nhận định thiêng liêng và cầu nguyện, là những phút phản tỉnh để biết ḿnh hơn và biết Thiên Chúa hơn.

Việc xét gẫm rất quan trọng để giúp ḿnh tiến bộ hơn, chính v́ thế phải làm rất nghiêm túc.

i. Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về điều này

Có thể có những lúc trong đời, chúng ta cảm thấy ḿnh bị cám dỗ nhiều, và cảm thấy bị cám dỗ nhiều về điều này hơn điều kia. Tại sao vậy?

Đây là điểm yếu của tôi

Có thể đó là điểm yếu của tôi.

Thánh Inhaxiô viết: “Thần dữ xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những ǵ nó muốn. Bởi v́, một vị chỉ huy hoặc thủ lănh của một đạo quân, sau khi đặt doanh trại và quan sát lực lượng hay cách bố trí của một thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất.

Cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người cũng lượn quanh để quan sát các nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và luân lư, và nơi nào nó nhận thấy ta yếu nhất và dễ nguy hiểm nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó để cố hạ ta” (LT 327).

Nếu tôi bị tấn công nhiều ở điểm nào, có thể đó là điểm yếu (nhược điểm) nhất của tôi chăng?

Tôi chưa dứt khoát chống trả

Nếu tôi bị tấn công hay bị cám dỗ dữ dội ở điểm nào đó, có thể tại v́ tôi chưa dứt khoát thái độ ở điểm này, tại tôi chưa dứt khoát chống trả ác quỷ và những chước cám dỗ của nó chăng?

Thánh Inhaxiô viết: “Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ nó yếu khi ta chống trả, và nó mạnh khi ta buông xuôi. Thực vậy, đặc điểm của đàn bà khi gây gỗ với đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi đàn ông thẳng tay chống trả. C̣n ngược lại nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, th́ cơn giận sự trả thù và sự hung dữ của đàn bà thật lớn và không sao lường được.

Cũng vậy, đặc điểm của kẻ thù là yếu nhược và mất can đảm cùng chạy trốn với những cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đường thiêng liêng thẳng tay chống trả các chước cám dỗ của kẻ thù và làm ngược lại với các cám dỗ. Nhưng trái lại nếu kẻ bắt đầu tập tành trên đường nhân đức lại sợ hăi và mất can đảm trước cuộc tấn công của cám dỗ, th́ trên mặt đất này không có con vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người nhằm theo đuổi ư hướng xấu xa và vô cùng đồi tệä của nó” (LT 325).

T́nh yêu với Chúa đă bị suy giảm

Khi tôi bị cám dỗ nhiều hoặc mạnh, cũng có thể Thiên Chúa để tôi bị cám dỗ nhiều, để tôi có nhiều dịp lập công và trưởng thành cùng cứng cáp hơn chăng (LT 33-34.322b); nhưng có thể đó là dấu chỉ cho thấy ḷng mến của tôi đối với Thiên Chúa đă bị giảm sút chăng?

ii. Biểu hiện của t́nh yêu

Chúng ta hăy xem t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa như thế nào.

Khao khát nên thánh

Yêu là hành vi tự do. Sống theo bản năng, không được lư trí hướng dẫn, th́ không phải là hành vi tự do, và như vậy không là yêu thương.

Khao khát nên thánh,[24] ao ước thuộc trọn về Thiên Chúa, là hành vi t́nh yêu.

Cứ xem chúng ta khao khát thuộc về Chúa, khao khát nên thánh đến mức độ nào, để chúng ta biết chúng ta yêu Chúa như thế nào. Nếu khi xét gẫm mà chúng ta nhận thấy chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa hay thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.

Xin được yêu Chúa, đó là điều chúng ta cần khiêm tốn nài xin liên lỉ (Xem LT 234).

Quảng đại trong từng chọn lựa thường ngày

Từ ngữ “T́nh yêu” là từ ngữ trừu tượng. Dù là từ ngữ trừu tượng, nó vẫn diễn tả một thực tại vô cùng phong phú được biểu lộ bằng nhiều hành vi cụ thể.

Yêu Thiên Chúa, là sẵn sàng để tùy Ngài muốn xếp đặt như thế nào về con người và cuộc đời của ḿnh cũng được. Sẵn sàng dâng tất cả cho Chúa, để Chúa hoàn toàn tự do quyết định.

Yêu Thiên Chúa, là chọn Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Thiên Chúa trên hết. Chẳng hạn trong thời gian Linh Thao, dành tất cả thời giờ cho Thiên Chúa và cụ thể là cầu nguyện; luôn sống với ư thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, luôn sống trong tâm t́nh của chủ đề ḿnh đang cầu nguyện; luôn giữ ǵn ngũ quan để dễ dàng tập trung cầu nguyện và không làm người khác bị phân tâm chia trí; hy sinh hăm ḿnh như dấu chỉ muốn thuộc về Thiên Chúa hơn nữa.

4. Gợi ư cầu nguyện về tiếng gọi Vua Hằng Sống

43. Lời mời (Lc 5:1-11)

Khung cảnh

Cùng với dân chúng theo đức Giêsu ra bờ hồ để nghe Ngài rao giảng.

Ơn xin

Xin ơn đừng giả điếc làm ngơ trước lời mời gọi của Chúa, nhưng mau mắn lắng nghe và đáp trả tiếng Ngài.

Điểm

Cách cầu nguyện bây giờ là chiêm niệm, nghĩa là, chúng ta nh́n rồi suy nghĩ rút ích lợi, nghe rồi suy nghĩ rút ích lợi, quan sát rồi suy nghĩ rút ích lợi.

1. Simon đă thả lưới

Nh́n nghe quan sát đức Giêsu để rút ích lợi.

Simon đă nhận lời để đức Giêsu lên thuyền của ḿnh, và giữ thuyền cho đức Giêsu giảng dạy. Không chỉ thế, Simon c̣n chăm chú lắng nghe đức Giêsu.

Sau khi nghe giảng dạy, Simon đă vâng lời đức Giêsu ra khơi buông lưới, dù với kinh nghiệm con người, làm sao đức Giêsu có chuyên môn về chài lưới bằng Simon!

Tất cả những điều đó cho thấy thái độ của Simon lúc này đang mở ra với Thiên Chúa và với con người, cụ thể là với đức Giêsu.

2. Từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới người

Mẻ cá bất ngờ và vượt tất cả mọi kinh nghiệm trong đời của ḿnh. Và không phải chỉ được một ơn vật chất là mẻ cá lớn, Simon c̣n nhận được một ơn lớn hơn nhiều: nhận ra ḿnh là tội nhân và không xứng đáng ở gần đức Giêsu: “Lạy Thầy, xin xa tôi ra, v́ tôi là kẻ tội lỗi” (Lc 5:8).

Và khi Simon khiêm tốn phủ phục dưới chân đức Giêsu, th́ ông c̣n nhận được một ơn khác nữa: đức Giêsu mời gọi ông cộng tác với Ngài: “từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới bắt người” (Lc 5:10).

Không phải v́ tốt hơn người khác mà Simon được gọi, nhưng chính khi ư thức ḿnh là tội nhân và bất xứng với Thiên Chúa th́ Simon được gọi.

3. Họ đă bỏ tất cả mà theo Ngài

Trước lời mời của đức Giêsu đối với Simon và các bạn, họ đă bỏ tất cả để theo đức Giêsu không một chút luyến tiếc.

Không bận tâm giải quyết hai thuyền đầy cá, dù rằng trước đó không lâu họ đă bận tâm nhiều để làm sao có được nhiều cá; sẵn sàng từ bỏ thuyền, chài và lưới, nghề nghiệp và thói quen; sẵn sàng từ bỏ cha mẹ anh chị em và cả vợ con để theo đức Giêsu.

Tôi có thái độ sẵn sàng như các tông đồ tiên khởi này không? Phải chăng lúc đầu tôi cũng đă quảng đại sẵn sàng từ bỏ tất cả, nhưng c̣n những năm tháng sau đó và bây giờ? Hay tôi đă lấy lại tất cả điều tôi đă từ bỏ trong những năm tháng vừa qua?

Hôm nay và bây giờ, Chúa mời gọi ǵ nơi tôi? Phải chăng Chúa vẫn tiếp tục mời gọi tôi từ bỏ tất cả để đi theo Chúa, và từ bỏ cả những ǵ tôi đă lấy lại trên đường theo Chúa, như ngày nào thuở ban đầu Chúa đă mời gọi tôi?

Tâm sự

Hăy thân thưa với Chúa như tôi thấy về hiện trạng của tôi. Xin cho tôi được quảng đại với Ngài không chỉ như mà c̣n hơn ngày đầu mới theo Ngài.

Làm sao để có tâm t́nh thái độ của lời nguyện xin trong LT 97-98, lời nguyện của những kẻ muốn trổi trang trong việc phụng sự Thiên Chúa.

44. Hăy là thánh (Lv 19:2)

Khung cảnh

Như thể ḿnh hiện diện và thấy đức Giêsu chiến đấu đổ mồ hôi máu trong vườn dầu.

Ơn xin

Quảng đại đáp trả lời mời gọi của Chúa: nên thánh, thuộc trọn về Chúa, bằng vượt lên trên những khuynh chiều của thân xác ḿnh, bằng đời sống yêu thương.

Điểm

1. Hăy nên thánh, v́ Ta là thánh

“Hăy là thánh v́ Ta là thánh, Ta, Yavê Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19:2). Thiên Chúa đă truyền lệnh nhân danh chính Ngài, v́ chính Ngài chứ không v́ bất cứ điều ǵ khác; điều này cho thấy mức độ quan trọng của lệnh truyền.

Thánh, nghĩa là sao?

Chỉ có Thiên Chúa là Đấng Thánh, là Đấng ba lần thánh: “Thánh, chí thánh, ngàn trùng chí thánh.” Ngoài Thiên Chúa không ai là thánh cả.

Ở một nghĩa loại suy, các tạo vật được gọi là thánh v́ được dành cho Thiên Chúa, chẳng hạn: bàn thánh, đĩa thánh, khăn thánh, v.v.; và nơi con người, một người được gọi là thánh v́ người đó thuộc về Thiên Chúa.

Với những sách tu đức xưa, người ta thường tŕnh bày các thánh nhân như những người làm phép lạ, như những người khi cầu nguyện thường được ngất trí. Tŕnh bày h́nh ảnh của một vị thánh như vậy dễ làm cho người ta thấy xa lạ và không ao ước nên thánh. Đúng ra, thánh nhân là người luôn thuộc về Thiên Chúa, luôn lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẵn sàng từ bỏ ḿnh để thực hiện ư định của Thiên Chúa. Thánh nhân, là những người sống đời b́nh thường một cách rất phi thường.

2. Thân phận con người

Con người là tinh thần qua thân xác.

Với thân xác, con người có những khuynh chiều thuộc thân xác như đói cần ăn khát cần uống, khuynh chiều thỏa măn sinh lư, khuynh chiều đ̣i được tôn trọng và muốn thống trị người khác, v.v.! Nơi con vật, chúng ta cũng thấy những khuynh chiều này, nhưng dưới trạng thái thô sơ hơn.

Con người có khuynh chiều thân xác, nhưng con người tự do, con người có thể không thỏa măn những khuynh chiều của thân xác.

Nếu một người cảm thấy nơi ḿnh có khuynh chiều thân xác hạ đẳng, th́ chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên và buồn phiền.

Cảm thấy nơi ḿnh có khuynh chiều hạ đẳng, không có nghĩa rằng ḿnh xấu xa hèn kém. Chúng ta chỉ hèn kém khi chúng ta chiều theo những khuynh chiều thấp hèn đó, c̣n nếu chúng ta chống trả, th́ giá trị con người chúng ta càng cao.

Nếu bị cám dỗ mà chống trả, ḿnh có công phúc trước mặt Thiên Chúa; và nếu càng bị cám dỗ nhiều mà lại càng chống trả mănh liệt đến khi nó chịu thua, th́ công phúc của ḿnh lại càng lớn (LT 33-34).

3. Siêu vượt

Nên thánh, là không dừng lại ở b́nh diện vật chất, nhưng vượt lên trên vật chất để vươn tới Thiên Chúa.

Qua những dấu chỉ là các tạo vật hữu h́nh, con người trở thành “tinh thần” khi nhận ra Thiên Chúa hiện hữu. Để trở thành tinh thần trong hành vi nhận thức, con người phải làm một bước nhẩy.

Để trở thành tinh thần trong đời sống thường ngày, con người được mời gọi vượt qua chính ḿnh với những khuynh chiều của ḿnh bằng hành vi yêu thương, v́ chỉ có con người mới có thể yêu thương. Yêu thương là làm theo điều lư trí thấy đúng và tốt, cho ḿnh và cho tha nhân, dù ḿnh phải từ bỏ, phải hy sinh thời giờ và sức lực. Yêu thương là sống vượt lên trên những khuynh chiều hạ đẳng, vượt lên trên thú tính của ḿnh.

Một ngày, chúng ta có rất nhiều dịp để nên thánh. Càng bị thử thách và cám dỗ, chúng ta càng có nhiều dịp để lập công và nên thánh. Thánh Phaolô đă ba lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt ngài, nhưng Thiên Chúa phán: “ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12:8-9).

Khi bị cám dỗ và thử thách nhiều, đừng chán nản thất vọng, nhưng hăy tin tưởng vào đức Giêsu. Đức Giêsu đă bị cám dỗ và thử thách trăm chiều (Mt 4:1-11; Mc 14:34; 15:34), nhưng Ngài đă chiến thắng để ta cũng được chiến thắng với Ngài (Ga 16:33).

Tâm sự

Hăy thân thưa với Chúa như ḿnh thấy con người của ḿnh. Xin cho ḿnh ơn quảng đại với Chúa, để ḿnh luôn vượt qua chính ḿnh trong mọi giây phút của cuộc sống thường ngày.

 

51. Sứ Mạng (Ga 20:21)

Khung cảnh

Những nơi và những con đường tại đất nước Do Thái nối từ làng này qua làng kia, những con đường ven biển, trên đó đức Giêsu đă rong ruổi rao giảng Nước Thiên Chúa.

Ơn xin

Đừng làm ngơ giả điếc trước lời mời gọi của Chúa, nhưng mau mắn lắng nghe và quảng đại thực thi Ư Chúa trong từng giây phút của cuộc đời.

Điểm

1. Sứ mạng của Đức Giêsu

Sứ mạng của đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập thể là ǵ?

Sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể là chuộc tội, là cứu độ, là giải phóng con người khỏi nô lệ tạo vật (dù là qủy dữ hay đam mê của xác thịt ḿnh). Câu trả lời này hoàn toàn đúng, nhưng người ta cũng có thể nói: sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể là làm chứng cho t́nh yêu.

Làm sao để con người biết Thiên Chúa yêu thương họ, và rung động trước t́nh yêu của Thiên Chúa, để rồi họ đáp trả.

Tội là không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, là tin vào qủy dữ hơn tin vào Thiên Chúa, là không trông cậy vào Thiên Chúa nữa. Nhưng nếu con người rung động trước t́nh yêu Thiên Chúa, và sẵn sàng phó thác đời sống ḿnh cho Thiên Chúa để tùy Thiên Chúa muốn làm ǵ tùy Ngài, th́ con người sẽ b́nh an và hạnh phúc thực sự.

Làm sao để con người tin nhận và đáp trả t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh, đó là sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể, của đức Giêsu.

2. Cách thế đức Giêsu thực hiện sứ mạng

Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người để thực hiện sứ mạng Cha trao phó.

Nhập thể, thành xác phàm, nghĩa là phải đói phải khát, có thể bị sỉ nhục khinh chê, và có thể bị giết. Ngôi Lời Thiên Chúa đă chấp nhận cái cùng cực của kiếp người để thực hiện sứ mạng được trao phó:

·        chấp nhận nhập thể và ở trong cung ḷng một người nữ (Gl 4:4-6);

·        chấp nhận ḿnh có một người cha người mẹ ở giai cấp thường dân như mọi người khác;

·        sinh ra trong chuồng súc vật;

·        sống như một người nghèo và b́nh thường ở Nadarét;

·        hành nghề thợ mộc, một nghề thường như bao nghề khác;

·        đi rao giảng trong khó nghèo (Lc 21:37);

·        chết ô nhục và đau đớn trên thập giá.

Đức Giêsu đă yêu thương con người đến chết v́ con người (Ga 15:13), đến ban thịt máu Ngài làm của ăn của uống cho con người (Mc 14:22-25). Đức Giêsu đă làm mọi sự để con người nhận biết Ngài yêu mến họ và Thiên Chúa cũng yêu mến họ. Ngài mong ước con người đáp trả t́nh yêu của Ngài và cũng là t́nh yêu của Thiên Chúa (Ga 15:9; 17:23).

Đức Giêsu đă mặc khải cho con người biết Ngài là Thiên Chúa dù v́ mặc khải đó Ngài phải chết. Sở dĩ Ngài phải làm vậy, v́ nếu con người biết Ngài là Thiên Chúa, th́ con người cũng biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Để con người biết Thiên Chúa yêu thương họ, đức Giêsu đă phải chết. Ngài chết để làm chứng cho t́nh yêu.

3. Sứ mạng và cách thế thực hiện sứ mạng của chúng ta

“Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21).

Cùng một sứ mạng Thiên Chúa Cha đă trao cho đức Giêsu, đức Giêsu cũng trao cho các tông đồ và qua các tông đồ Ngài trao cho chúng ta; cùng một cách thế đức Giêsu thực hiện sứ mạng, th́ chúng ta cũng thực hiện sứ mạng đó.

Làm sao chúng ta có thể làm cho người ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương họ, nếu chính chúng ta không hoặc chưa cảm được t́nh yêu Thiên Chúa đối với chúng ta?

Làm sao chúng ta có thể làm cho con người tin và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương họ, nếu chính chúng ta không yêu thương họ?

Con đường diễn tả t́nh yêu, là con đường thập giá. Chính khi ḿnh phải gian nan để yêu thương người ta, người ta mới dễ nhận ra t́nh yêu của ḿnh đối với họ; và khi họ nhận ra ḿnh yêu thương họ, họ dễ tin vào lời ḿnh nói với họ hơn, và họ dễ tin rằng Thiên Chúa yêu thương họ hơn.

Tâm sự

Xin Chúa cho ḿnh xác tín và cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh, để ḿnh có thể trở thành chứng nhân t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người ngày hôm nay.

 


D. LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ

Chúng ta đang ở trong tuần thứ hai của Linh Thao: cầu nguyện về Ngôi Lời nhập thể, từ mầu nhiệm nhập thể cho đến ngày đức Giêsu được rước vào thành Giêrusalem cách long trọng.

1. Mục đích và yêu cầu

“Xin hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104).

a. Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn

Vô tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́ sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết ở đây không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng chủ yếu là cái biết thâm sâu do được cảm nghiệm.

Thiên Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến độ nhập thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp trả được t́nh yêu.

T́nh yêu được diễn tả cách cụ thể, chính Thiên Chúa đă nhập thể để phục vụ con người: “con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45); c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.

b. Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn

Hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó là cách nói khác của cùng nội dung “để trở nên đồng h́nh đồng dạng với đức Giêsu Kitô” (Pl 3:10), “nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người, nếu ta cùng đau khổ với Người, ta sẽ cùng thống trị với Người,” “tôi sống nhưng không c̣n phải tôi sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài sống trong tôi” (Gl 2:20).

Nên giống Chúa Giêsu hơn, v́ Chúa Giêsu là người mẫu của chúng ta, Ngài là thần tượng, là Đấng mà chúng ta phải bắt chước và quy chiếu về. Yêu thương là trở nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn.

2. Những bản văn dùng cầu nguyện

a. Mầu nhiệm nhập thể

·        Lời đă thành xác phàm (Ga 1:1-18);

·        Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11);

·        Sinh bởi người nữ (Gl 4:4-6);

·        LT 101-109

b. Đời b́nh thường “phi thường”

·        Lời nhập thể được giáng sinh (Lc 2:1-20);

·        Lời Thiên Chúa Nhập Thể được cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);

·        Đức Giêsu được dâng trong đền thờ (Lc 2:22-40);

·        Trốn sang Ai-cập (Mt 2:13-23);

·        Đức Giêsu thời thơ ấu (Lc 2:39-40);

·        Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41-50);

·        Đức Giêsu sống một thời gian rất dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).

c. Con đường đức Giêsu đi

·        Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13);

·        Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11);

·        Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39);

·        Đức Giêsu luôn t́m và thực hiện Thánh Ư Cha (Ga 4:34);

·        Mối phúc thật (Mt 5:1-12);

·        Thái độ của dân chúng đối với đức Giêsu (Mc 1:32-3:12);

·        Thái độ của người thân, kư lục và biệt phái đối với đức Giêsu (Mc3:20-30);

·        Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4);

·        Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29);

·        Loan báo tin mừng bằng trừ qủy (Mc 5-6);

·        Các tông đồ không hiểu đường lối của đức Giêsu (Mc 4;6);

·        Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30);

·        Con đường đức Giêsu đi là con đường thập giá (Mc 8:31-33);

·        Ai muốn theo tôi phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);

·        Con đường đức Giêsu đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);

·        Con đường đức Giêsu đi: phục vụ (Mc 9:33-37);

·        Con đường đức Giêsu đi: yêu thương (Mc 12:28-34);

·        Tinh thần của đức Giêsu (Mc 9:38-41);

·        Không muốn hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45);

·        Người mù được sáng (Mc 10:46-52);

·        Những người không chấp nhận con đường đức Giêsu đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);

·        Đức Giêsu, con người tự do (với bạc tiền, danh vọng, t́nh duyên);

3. Ghi chú

Chúng ta t́m hiểu thêm về cầu nguyện và nhận định thần loại. Trước tiên chúng ta t́m hiểu cầu nguyện như chiêm niệm, sau đó t́m hiểu về các quy luật nhận định thần loại tuần thứ hai.

a. Cầu nguyện như chiêm niệm

Trong những bài cầu nguyện về mầu nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều chỉ cách chiêm niệm.

i. Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi

Nh́n đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Nghe đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Quan sát cung cách hành xử của đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu nguyện “chiêm niệm.”

Có những đề tài cầu nguyện không thể chiêm niệm được, nhưng nếu đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́ có thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.

ii. Để nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu hơn

Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong những trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống đức Giêsu hơn.

Trở nên giống đức Giêsu hơn, nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện thiêng liêng: có con tim “nhân từ, bao dung, thương yêu” như Chúa, có ánh mắt “nhân từ, trong sáng, cảm thông” như Chúa, có cung cách hành xử “độ lượng, kiên nhẫn, cương quyết dứt khoát” như Chúa.

Chúa Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và bắt chước: quan điểm lập trường của Ngài, cách sống của Ngài. “Để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục đích của những bài cầu nguyện tuần thứ hai này.

b. Nhận định thần loại

Thiên Chúa muốn con người được sống trong t́nh yêu và hạnh phúc với Ngài; các thần lành cũng muốn chúng ta sống trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các ngài; c̣n các thần dữ th́ luôn chống đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để làm con người sống xa Thiên Chúa.

Khi có nguyên do, cả thần lành lẫn thần dữ đều có thể “an ủi,” nhưng nhằm mục đích trái ngược (LT 331).

i. An ủi không cần trung gian

Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tác động trực tiếp trên con người không cần trung gian; Điểm đặc biệt của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người đến với Ngài không qua trung gian, mà con người hoàn toàn tự do (LT 330).

Chỉ có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do con người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một người, xin cho người nào đó trở lại. Làm một người trở lại, đó là khả năng chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự do).

Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến đổi một người, và Ngài cũng có thể biến đổi một người không cần dùng trung gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do.[25]

ii. Cầu nguyện bị giảm sút hay bất an

Đối với một người đang tiến tới trên đàng thiêng liêng, nếu người đó biết điều ǵ đó là do ác quỷ th́ chắc chắn người đó sẽ không theo; như vậy, để làm con người đi theo đường lối tà vạy của ḿnh, ác quỷ thường hay giả dạng thần lành để dẫn đưa người đó theo lối đồi tệ của nó (LT 332).

Nếu một ư tưởng hay một điều nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh thiện, nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu nguyện không được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút, chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư tưởng hay điều đó là do ác quỷ (LT 333); chúng ta hăy duyệt xét lại để rút kinh nghiệm cho lần tới, để không trúng bẫy ác quỷ nữa (LT 334).

4. Gợi ư cầu nguyện Ngôi Lời Thực Hiện Sứ Mạng

52. Nhập Thể (Lc 1:26-38)

Khung cảnh

Căn nhà đức Maria sống với thân phụ thân mẫu tại làng Nadarét.

Ơn xin

Hiểu biết thâm sâu về Ngôi Lời Nhập Thể hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài.

Điểm

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

1. Con người trong t́nh trạng tội

Nh́n nghe quan sát con người trên khắp thế giới đang sống trong t́nh trạng tội lỗi, không vâng phục Thiên Chúa qua lương tâm và luôn thù ghét làm hại nhau.

Sống trong tội, con người đặt lợi danh quyền hành của họ lên hàng đầu, và những sự khác, ngay cả “nhân vị con người” cũng chỉ là phương tiện để phục vụ cho con người ích kỷ với những tham vọng của họ.

Con người phạm tội, luôn sống trong t́nh trạng bất hạnh. Họ sống không b́nh an, và những người sống với họ cũng luôn cảm thấy bị đe dọa; v́ không ǵ bảo đảm họ sẽ không làm hại những người này.

2. Thiên Chúa quyết định cứu độ con người

Thiên Chúa từ thuở đời đời, thấy rơ con người bất hạnh và khốn cùng khi từ chối Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài.

Thiên Chúa muốn cứu độ con người, Ngài đă quyết định từ thuở đời đời rằng Ngôi Lời sẽ nhập thể để cứu độ con người.

Không phải khi Adam và Evà phạm tội, Thiên Chúa mới biết và mới quyết định rằng Ngôi Lời sẽ nhập thể, nhưng Thiên Chúa đă biết từ thuở đời rằng con người sẽ phản bội chống đối Ngài.

Tuy Thiên Chúa biết trước con người sẽ phạm tội như vậy, nhưng không v́ thế mà con người mất tự do: con người vẫn luôn được tự do, cũng tương tự như trường hợp hai người bạn thân biết “trước phần nào” cung cách cư xử của nhau và như người mẹ biết “trước phần nào” cung cách cư xử và phản ứng của con ḿnh.

Với kiểu nói nhân h́nh, Thiên Chúa biết con người sẽ phạm tội nhưng Thiên Chúa không hề muốn con người phạm tội; Sở dĩ như vậy v́ Thiên Chúa ban cho con người tự do: Thiên Chúa ban cho con người khả năng làm trái ư Thiên Chúa nếu con người muốn; Và khi con người làm trái ư Thiên Chúa: đó là tội.

3. Xin vâng

Khi tới thời tới buổi (Gl 4:4-6), Thiên Chúa đă sai sứ thần Gabriel đến truyền tin cho đức Maria, hỏi xem đức Maria có sẵn sàng vâng phục ư định Thiên Chúa: thụ thai một con người rất đặc biệt không?

Đức Maria đă thưa tiếng “xin vâng” với Thiên Chúa về chương tŕnh của Ngài nhằm cứu độ con người.

Để có thể thưa tiếng xin vâng, đức Maria đă đặt

·        t́nh yêu Thiên Chúa trên t́nh yêu riêng (đối với thánh Giuse);

·        ư định Thiên Chúa trên danh dự gia đ́nh;

·        niềm tin vào Thiên Chúa hơn là chính con người của ḿnh.

Đức Maria đă đính hôn với Giuse trước khi thiên thần truyền tin (Lc 1:27), hàm chứa đức Maria đă thân quen và yêu thánh Giuse trước. Đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, đức Maria đă chọn Thiên Chúa trên hết, đă sẵn sàng hy sinh t́nh yêu riêng để làm theo ư định của Thiên Chúa. Nếu Giuse không hiểu và không thông cảm, th́ đức Maria cũng sẵn sàng chịu, ư Thiên Chúa được coi là trên hết đối với đức Maria.

Nếu Giuse không chịu hiểu, và nếu chuyện tai tiếng xảy tới cho gia đ́nh, làm sao thánh Gioan-Kim và thánh Anna có thể chịu đựng được điều như vậy? Đức Maria chấp nhận tất cả điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho gia đ́nh cha mẹ và họ hàng, ư định của Thiên Chúa phải được coi là trên hết.

Nếu Giuse không hiểu và không thông cảm, nếu Giuse tố cáo công khai th́ sao, Maria có thể bị ném đá chết như một phụ nữ phạm tội ngoại t́nh! Nếu chuyện xảy ra như vậy, th́ việc nhận lời thụ thai nào có ích lợi ǵ? Không, đức Maria vẫn hoàn toàn tin tưởng và phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm tất cả những ǵ, và Ngài có thể làm cho thành sự những ǵ Ngài đă khởi đầu. Chỉ khi phó thác như vậy, đức Maria mới có thể thưa tiếng xin vâng đối với Thiên Chúa.

Đức Maria đă thưa tiếng xin vâng với Thiên Chúa, dù Mẹ chưa thấy rơ hoàn toàn tương lai của ḿnh. Chưa thấy rơ, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa: “Phúc cho em là kẻ đaơ tin rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện” (Lc 1:45). Lúc này, những ǵ Thiên Chúa nói với Mẹ chưa được thực hiện, nhưng Mẹ tin chúng sẽ được thực hiện. Đức tin của Mẹ thật tuyệt vời.

Kể từ khi đức Maria thưa tiếng “xin vâng,” Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể trong cung ḷng đức Maria.

Chúng ta hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự

Thân thưa với Thiên Chúa Cha, với Ngôi Lời Nhập Thể, như chúng ta thấy nơi ḷng ḿnh. Xin cho ḿnh biết tự hủy trong sứ mạng làm chứng cho t́nh yêu như Ngôi Lời.

53. Giáng Sinh và Dâng Chúa Giêsu (Lc 2:1-40)

Khung cảnh

Con đường từ Nadarét tới Giêrusalem và Bêlem, chuồng chiên cừu, đền thờ. Như thể ḿnh đang hiện diện trong chuồng chiên cừu để chiêm ngắm Ngôi Lời Nhập Thể giáng sinh.

Ơn xin

Ơn hiểu biết thâm sâu về Ngôi Lời Nhập Thể hơn, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.

Điểm

1. Ngôi Lời Nhập Thể được giáng sinh

Nh́n nghe quan sát, cố hiểu phản ứng và tâm t́nh của từng vị, suy nghĩ và rút ích lợi:

·        đức Maria và thánh Giuse trên đường từ Nadarét tới Bêlem; lúc này thai nhi đă hơn chín tháng nên đức Maria rất vất vả;

·        thánh Giuse vất vả ngược xuôi t́m nhà trú đêm cho đức Maria;

·        đức Maria sinh con trong chuồng chiên cừu;

·        hài nhi được sinh hạ là Ngôi Lời Nhập Thể.

2. Thiên Chúa tỏ ḿnh cho những người nghèo

Thiên thần Chúa đă hiện ra báo tin cho các mục đồng.

Dấu chỉ để nhận biết “Đấng Cứu Thế Chúa được giáng sinh cho các ngươi trong thành Davit,” là hài nhi ḿnh vấn tă được đặt nằm trong máng cỏ.

Dấu chỉ quá tầm thường, tầm thường đến độ không ai có thể ngờ. Dân ở Bêlem không thể nhận ra hai vợ chồng trẻ nghèo xin ngủ nhờ qua đêm lại là những người “mang” Thiên Chúa đến với họ, nên họ đă không tiếp nhận, và không được diễm phúc nhận biết Ngôi Lời Nhập Thể; c̣n những mục đồng đă tin dù dấu chỉ rất đơn sơ và tầm thường, nên đă được diện kiến Ngôi Lời Nhập Thể.

Hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ rút ích lợi.

3. Cắt b́ và đặt tên

Hài nhi được cắt b́ và đặt tên. Cắt b́ là nghi thức tôn giáo, cắt da quy đầu của em bé trai.

Hài nhi cảm thấy đau đớn, dẫy dụa và khóc thét trong nghi lễ này. Hăy nh́n nghe quan sát mầu nhiệm, suy nghĩ và rút ích lợi.

Ngôi Lời Nhập Thể nên giống chúng ta, là “người” hoàn toàn, trừ tội (Hr 2:17; 4:15).

4. Dâng đức Giêsu vào đền thờ

Đức Giêsu được dâng cho Thiên Chúa trong đền thờ. Đức Maria được tẩy uế theo luật.

Đức Giêsu là Thiên Chúa, luôn hướng về Cha (Ga 1:1), vậy tại sao phải “dâng” trong đền thờ? Đức Maria sinh hạ Thiên Chúa Nhập Thể, đâu có “dơ” để mà phải tẩy uế?

Đức Maria và thánh Giuse đă đại diện con người, xin Thiên Chúa Cha cho Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, được ở lại với con người.

5. Như dao sắc thâu qua ḷng

Đức Maria vẫn không hiểu lời hai tiên tri Simêon và Anna; Mẹ suy nghĩ và giữ kỹ trong ḷng.

Mẹ Maria cũng luôn đi t́m thánh ư Thiên Chúa trong đức tin.

6.Đức Giêsu sống thời thơ ấu tại Nadarét

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Đức Giêsu đă sống thời thơ ấu tại Nadarét như bao em bé khác. Ngài cũng được bú mớm, được ấp yêu cưng chiều, tập lẫy tập ḅ tập đi, học nói học viết học làm việc. Cũng chơi, và lớn lên với chúng bạn và nhờ chúng bạn.

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:

·        đức Giêsu ở sáu tháng tuổi;

·        ở ba năm tuổi;

·        ở sáu năm tuổi;

·        ở tám, mười, và mười một năm tuổi.

Cách thức người thời đó đối xử với đức Giêsu, là cách đối xử của họ với Thiên Chúa Nhập Thể. Cách thức hôm nay tôi đối xử với các em thơ bé, có thể là cách thức tôi đối xử với đức Giêsu.

Tâm sự

Nói chuyện thân thưa với Chúa Cha, với Ngôi Lời Nhập Thể, và với Thánh Thần Thiên Chúa, như chúng ta thấy nơi ḷng; cũng có thể tâm sự với Mẹ và với thánh Giuse nữa.

54. Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41tt)

Khung cảnh

Con đường từ Nadarét tới Giêrusalem, đền thờ và nơi đức Giêsu ngồi với các thầy dạy tại Giêrusalem.

Ơn xin

Ơn hiểu biết thâm sâu về Chúa, để yêu mến Chúa hơn và theo Ngài. Hiểu tại sao Ngài ở lại đền thờ mà không báo cho mẹ Ngài hay, để mẹ Ngài phải cực khổ t́m Ngài như vậy!

Điểm

1. Đức Giêsu ở lại đền thờ

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:

·        Đức Maria, thánh Giuse và đức Giêsu trước ngày đi lên Giêrusalem dự lễ Vượt Qua;

·        Dân làng Nadarét tập trung đi với nhau lên Giêrusalem, họ đi thành từng nhóm[26] với nhau, và có thể đàn ông riêng, đàn bà riêng, và trẻ em riêng;

·        Đức Giêsu ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Ngài không hay biết.

Đức Giêsu ở lại Giêrusalem, v́ có lẽ Ngài được thúc đẩy đến độ quên không báo hoặc không c̣n giờ hoặc dịp để báo cho mẹ hoặc cha Ngài.

Đức Giêsu luôn đặt Thiên Chúa, ư định cũng như công việc của Thiên Chúa lên trên tất cả. Đó là điều chúng ta phải học đức Giêsu trong biến cố Ngài ở lại Giêrusalem này.

2. Đức Giêsu sống một thời gian dài tại Nadarét

Kể từ biến cố đó trở đi, đức Giêsu hằng luôn tùng phục hai ông bà (Lc 2:51-52).

Đức Giêsu đă sống những năm tháng dài ở Nadarét, như một em bé đồng trang lứa tuổi bất kỳ nào đó. Ngài đă sống những năm 13 tuổi, 14 tuổi, 15, 16, 17, 18, 19, 20 tuổi, 21, 21, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 tuổi; Những tháng năm dài, mà chỉ kể số năm thôi chúng ta đă thấy lâu và không đủ kiên nhẫn rồi, huống hồ là sống!

Xem cách đức Giêsu đối xử với những người tới đặt đức Giêsu làm việc; xem cách Ngài đối xử với bạn trai bạn gái; xem cách Ngài đối xử với kẻ dưới người trên. Để mỗi người chúng ta được nên giống Ngài hơn.

Cuộc đời đức Giêsu có giá trị và ư nghĩa sâu xa. Hăy nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Tâm sự

Thân thưa với Chúa Giêsu như thể Ngài đang trong đời sống ẩn dật tại Nadarét, xin Ngài dạy chúng ta cách sống và đối xử với người khác như Ngài.

61. Hồi niệm

Khung cảnh

Nơi hài nhi được sinh ra; và căn nhà, nơi đức Giêsu sống với đức Maria và thánh Giuse tại Nadarét. Cũng nh́n nơi đức Giêsu đă ở khi Ngài lưu lại tại Giêrusalem. “Xưởng mộc” của đức Giêsu.

Ơn xin

Xin hiểu thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài.

Điểm

Dừng lại ở những chỗ đă được đánh động hoặc an ủi; cũng dừng lại những chỗ ḿnh đă bị sầu khổ hoặc ḿnh muốn trốn tránh.

Tâm sự với Chúa như ḿnh thấy.

62. Thanh Tẩy Và Bị Cám Dỗ (Mt 3:13- 4:11)

Khung cảnh

Chỗ đức Giêsu được thanh tẩy và nơi đức Giêsu ăn chay cầu nguyện và bị cám dỗ; có lẽ dưới một ṿm cây hay trong một hốc đá nào đó.

Ơn xin

Xin hiểu Chúa hơn để yêu Chúa và theo Chúa hơn.

Điểm

Đức Giêsu vô tội, vậy tại sao Ngài phải chịu thanh tẩy? Đức Giêsu là Thiên Chúa Nhập Thể, vậy tại sao Ngài lại bị cám dỗ?

1. Đức Giêsu được thanh tẩy

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi:

·        đức Giêsu chào Mẹ để lên đường đi Giêrusalem;

·        đức Giêsu trên đường tới nơi Gioan rao giảng;

·        đức Giêsu trước khi được thanh tẩy và sau khi được thanh tẩy.

Khiêm tốn không là giả bộ, cũng không là làm điều ǵ trái sự thực với mục đích chỉ để làm gương. Ai sống theo sự thật mới có thể làm gương sáng thực sự. Đức Giêsu đă không chịu thanh tẩy chỉ nhằm để làm gương, nếu thực sự Ngài không thấy Ngài cần phải được thanh tẩy.

Đức Giêsu ư thức Ngài “gánh tội trần gian” như Gioan Tẩy Giả làm chứng (Ga 1:29). Chính v́ gánh tội của con người, nên đức Giêsu thấy Ngài cần được thanh tẩy, và Ngài đă chịu thanh tẩy.

Thiên Chúa đă chứng thực cho hành vi khiêm tốn của Ngài bằng tiếng phán từ trời và Thánh Thần như chim câu đáp xuống trên Ngài.

2. Đức Giêsu bị cám dỗ

Thần Khí Thiên Chúa dẫn Ngài vào hoang địa để chịu ác quỷ cám dỗ (Mt 4,1).

i. Biến đá thành bánh

Đức Giêsu cảm thấy đói, và ác quỷ gợi ư cách thỏa măn nhu cầu bằng cách biến đá thành bánh.

Đức Giêsu đă từ chối! Tại sao?

Tự bản chất ác quỷ không muốn điều ǵ tốt lành cho con người; điều mà ác quỷ gợi ư đó, chắc chắn không tốt thực cho tôi.

Một điều c̣n quan trọng hơn việc ăn uống đối với con người, đó là lắng nghe Lời Chúa. Người đời thường cho rằng “có thực mới vực được đạo,” nhưng con người c̣n nhu cầu tinh thần, và nhu cầu này c̣n quan trọng và khẩn thiết hơn cả nhu cầu về cơm ăn áo mặc.

Ngày nay, những cám dỗ thuộc loại này c̣n xuất hiện trong đời của tôi không? và thường dưới dạng thức nào?

ii. Nhảy xuống từ đỉnh đền thờ

Nếu đức Giêsu nhảy từ đỉnh đền thờ xuống, chắc chắn có nhiều người kính phục Ngài; và nếu sau đó Ngài giảng dạy dân chúng, th́ chắc có nhiều người nghe lời Ngài. Vậy tại sao Ngài không làm?

Điều ác quỷ muốn, chắc chắn không tốt thực cho tôi.

Cách thế của Thiên Chúa là chinh phục con người bằng t́nh yêu; Ngài luôn để con người tự do hoàn toàn; Ngài không dùng bất cứ một áp lực nào, dù áp lực đó không phải là vũ lực. Sự thật và t́nh yêu, đó là những nét đặc trưng của cách thế Thiên Chúa dùng.

Ngày nay, cám dỗ ham danh vọng và mong muốn trổi trang được ngụy trang dưới h́nh thức nào và chiêu bài nào đối với tôi?

iii. Quyền trên tất cả nếu bái lạy ác quỷ

“Tôi sẽ cho Ngài tất cả nếu Ngài phục ḿnh bái lạy tôi” (Mt 4:9). Cám dỗ có quyền hành trên kẻ khác, muốn làm chủ người khác bằng vũ lực, vẫn là cám dỗ mănh liệt đối với con người ngày hôm nay. Đức Giêsu cũng không được miễn trừ khỏi cám dỗ này.

“Chỉ phải thờ lạy một Thiên Chúa mà thôi.” Không được chọn lựa hay đánh đổi điều ǵ với Thiên Chúa cả. Chỉ có Thiên Chúa có quyền trên con người, c̣n chúng ta, chúng ta phải tôn trọng con người, tôn trọng Thiên Chúa. Chúng ta không được điều khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh, nhưng ngược lại, chúng ta phải thuận theo ư muốn của Thiên Chúa.

Ngày này, cám dỗ về quyền hành được thấy qua những h́nh thức nào?

3. Bản chất con người không hàm chứa “phạm tội”

Đức Giêsu đă chiến thắng ác quỷ, Ngài đă không sa chước cám dỗ. Theo niềm tin kitô giáo, đức Maria cũng không vương tội nguyên tổ và tội riêng. Như vậy, bản chất con người đâu có hàm chứa: “con người không thể tránh phạm tội.”

Con người có thể không phạm tội; nhưng thực tế không ai lại không phạm tội[27]. “Hăy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn thử thách, tâm thần tuy sẵn sàng nhưng xác thịt th́ yếu nhược” (Mc 14:38). Nếu chúng ta cậy dựa vào sức riêng của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ sa ngă; nhưng nếu chúng ta cậy dựa vào Thiên Chúa và vào đức Giêsu, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng ác quỷ và con người hạ đẳng của ḿnh, bởi v́ Chúa đă phán: “Anh em hăy tin tưởng, Thầy đă thắng thế gian” (Ga 16:33).

Tâm sự

Nói chuyện thân thưa với Chúa Giêsu, Đấng đă bị cám dỗ khủng khiếp, không chỉ nơi hoang địa như chúng ta thấy trong bài cầu nguyện vừa qua, mà c̣n trong suốt đời đức Giêsu, thậm chí ngay ở giây phút cuối đời Ngài, và ngay cả về đức tin đối với Thiên Chúa. Hăy xin Chúa cho ḿnh ḷng quảng đại, để ḿnh có thể vượt qua cám dỗ trong mỗi ngày sống và trong suốt đời ḿnh.

63. Mối phúc thật (Mt 5:1-12)

Khung cảnh

Đức Giêsu lên một ngọn đồi,[28] các môn đệ và dân chúng theo Ngài. Ngài ngồi xuống, các môn đệ ngồi xung quanh, và dân chúng bao quanh các vị. Như thể ḿnh đang hiện diện ở đó để nghe đức Giêsu rao giảng.

Ơn xin

Xin cho ḿnh hiểu biết thâm sâu về Chúa, để ḿnh yêu Chúa hơn, và theo Ngài hơn. Xin cho ḿnh thấy rơ Chúa sống điều Chúa dạy như thế nào, để ḿnh nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

Điểm

Trong mỗi điểm của bài cầu nguyện này, chúng ta tuần tự làm theo bốn bước nhỏ:

·        Ư nghĩa của từng mối phúc;

·        Đức Giêsu đă sống mối phúc đó thế nào?

·        Tôi đă sống mối phúc đó thế nào?

·        Tâm sự với Chúa như tôi thấy, để nên giống Chúa hơn.

1. Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó

Ư nghĩa của mối phúc

Ngày xưa người ta cũng đă biết hối lộ. Người giầu thời các tiên tri đă biết dùng tiền để mua chuộc quan ṭa, để các quan toà xử cho họ được thắng kiện.

Những người nghèo là những người không có tiền của để đút lót cho quan ṭa, họ không thể bám víu vào của cải mà cũng không thể trông cậy ǵ nơi con người, v́ các quan toà đă nhận tiền của người giầu, họ chỉ có thể và chỉ biết bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.

Những người nghèo được chúc phúc là những người không trông cậy ǵ nơi tạo vật, nhưng chỉ biết trông cậy và bám víu vào Thiên Chúa mà thôi.

Cũng có những người giầu, nhưng họ không bám víu vào của cải, họ chỉ bám víu vào Thiên Chúa, th́ những người này cũng được coi là những người có tinh thần nghèo khó, và họ cũng là những người được chúc phúc. Nhưng cũng có những người nghèo tiền của, nhưng họ cho rằng với tiền của, con người có thể làm mọi chuyện; những người này không có “tinh thần nghèo khó” v́ họ đặt trông cậy nơi tiền của.

Đức Giêsu đă sống mối phúc này thế nào?

Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người, đă chọn cho ḿnh một người cha một người mẹ nghèo, đă được sinh ra nghèo hèn trong chuồng chiên cừu, đă sống ở Nadarét như những người nghèo nhất, đă làm nghề của những người nghèo (thợ mộc).

Đức Giêsu đă đi rao giảng trong sự khó nghèo và dạy các tông đồ sống như Ngài (Mt 10:10); đức Giêsu thường ngủ ngoài trời (Lc 21:37); chết trần trụi trên thập giá; chôn nhờ huyệt của người ta (Mt 27:60).

Tôi đă sống mối phúc này thế nào?

Tôi đă sống mối phúc nghèo này thế nào, ở quá khứ và trong hiện tại?

Hiện tại, tôi có tin thực rằng nghèo là một mối phúc? Tôi có ao ước sống nghèo, được trở nên nghèo?

Nếu tôi không tin nghèo là phúc thật, nếu tôi không ao ước trở nên nghèo, th́:

·        phải chăng tôi đă không tin rằng lời nói của đức Giêsu là chân lư?

·        phải chăng tôi đă tin tôi hơn tin đức Giêsu?

·        đức Giêsu có thực sự là lư tưởng của tôi, Ngài có thực sự là Thiên Chúa đối với tôi?

Có thể ngoài môi miệng tôi nói rằng tôi tin đức Giêsu, tôi tin những lời Ngài nói là chân lư; nhưng trong thực tế, trong chọn lựa thường ngày của tôi, tôi đă không coi nghèo khó là một mối phúc lành!

Tâm sự với Chúa

Thân thưa với Chúa như ḿnh thấy về chính ḿnh với những khiếm khuyết đă chưa tin yêu Chúa thực sự.

2. Phúc cho các ngươi khi người ta sỉ nhục các ngươi

Ư nghĩa của mối phúc

“Phúc cho những kẻ bị bắt bớ v́ sự công chính ...; phúc cho các ngươi khi người ta sỉ nhục các ngươi, bắt bớ, đặt điều nói xấu các ngươi” (Mt 5:10-11).

Đức Giêsu đă sống mối phúc này thế nào?

Ngay từ nhỏ, đức Giêsu đă bị Hêrôđê coi như người muốn tranh dành ngôi vua (Mt 2:1-18); Khi đi rao giảng, đức Giêsu đă bị những người thân quen coi như người mất trí (Mc 3:21), người ta coi Ngài như một người dối trá (Ga 8:57.59), như một người tội lỗi (Ga 9:24), như một người phạm thượng đáng chết (Mc 2:7; Ga 10:33; Mc 14:64).

Đức Giêsu đă bị đóng đinh thập giá, chết trần truồng ô nhục, chết giữa những người tội lỗi, giữa những người đáng bị nguyền rủa.

Tại sao đức Giêsu đă bị truy lùng, bắt bớ như vậy? Hăy nh́n nghe quan sát đức Giêsu để nên giống Ngài hơn.

Tôi đă sống mối phúc này thế nào

Tại sao bị bắt bớ và sỉ nhục lại là mối phúc cho chúng ta? Phải chăng trong cuộc sống thường ngày, tôi thường lẩn trốn mối phúc này, tôi thường coi đó là mối họa hơn là mối phúc?

Nếu tôi không coi đây là mối phúc, th́ e rằng tôi chưa tin đức Giêsu và chưa trân trọng Lời Ngài!

Thập giá là con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Thập giá giúp chúng ta nhận biết con người thực của ḿnh, giúp chúng ta cậy dựa và phó thác vào Thiên Chúa.

Tâm sự với Chúa

Xin Chúa giúp ḿnh coi sỉ nhục khinh chê là mối phúc thật, và xin cho ḿnh ao ước mối phúc này. Xin cho ḿnh có cùng cảm nghĩ với Chúa, và được trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

3. Các mối phúc khác

Nếu thời giờ cho phép, chúng ta có thể cầu nguyện với từng mối phúc theo cách thức đă chỉ ở trên. Mỗi mối phúc có thể là một điểm cầu nguyện.

Tâm sự

Thân thưa với Chúa và xin Ngài cho chúng ta những ǵ chúng ta c̣n thiếu sót. Xin cho chúng ta yêu Chúa và ao ước nên giống Ngài. Có lẽ chỉ có một mối phúc thôi: nên giống Chúa Giêsu Kitô, đồng h́nh đồng dạng với Ngài.


E. NGÀY YNHĂ

Trong “ngày thứ tư của tuần thứ hai” (LT 136) thánh Inhaxiô đề nghị một số bài cầu nguyện (Hai Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người, Ba Bậc Khiêm Nhường) và việc “chọn lựa bậc sống.” Tuy không phải tất cả những điều trên được làm trong một ngày, nhưng chúng ta cứ quy ước gọi tạm là “ngày Inhă.”

1. Mục đích yêu cầu

Thánh Inhaxiô muốn ǵ khi gợi ư những bài cầu nguyện nêu trên?

Trong tất cả các bài cầu nguyện này, thánh Inhaxiô đều dạy chúng ta làm ba cuộc tâm sự: một với Đức Mẹ, một với Chúa Con và một với Chúa Cha, nài xin cho ḿnh được đứng vào dưới cờ của Chúa Giêsu bằng:

·        ơn được nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả được ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa được tôn vinh hơn;

·        ơn chịu sỉ nhục và khinh chê để bắt chước Chúa hơn nếu điều này không gây dịp tội cho ai và không làm mất ḷng Chúa.

a. Nhận thức, chọn và được chọn

Trong bài cầu nguyện về Hai Cờ, thánh Inhaxiô dạy chúng ta xin ơn nhận biết mưu mô của kẻ thù và ơn trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để bắt chước (LT 139). Trong bài Ba Mẫu Người, chúng ta xin ơn chọn điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT 152). Trong suy gẫm về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh để ḿnh bắt chước và phục vụ Chúa hơn (LT 168).

Như vậy chúng ta thấy, tiến tŕnh ơn xin của các bài cầu nguyện Inhaxiô đi từ xin cho ḿnh nhận thức, đến xin cho ḿnh chọn, và sau đó xin Chúa chọn ḿnh vào đời sống nghèo và sỉ nhục khinh chê.

b. Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh

Các bài cầu nguyện ngày Inhă cho chúng ta hiểu biết hơn về con người của chúng ta: xem chúng ta đă nhận thức về con đường của đức Giêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn theo đức Giêsu nghèo và bị sỉ nhục không, xem chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Giêsu đă sống không?

2. Những bản văn Kinh Thánh có thể dùng cầu nguyện

Hai con đường (Tv 1);

Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31);

Định mạng đức Giêsu (Mc 10:32-34);

Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga 15:18-25);

Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28).

3. Chọn lựa

Từ muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài c̣n để ư lưu tâm đến từng cử chỉ hành vi biến cố của tôi (Tv 139; Lc 12:6-7), chính v́ thế trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi “Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?”

Nếu ngay cả việc “đi đứng nghỉ ngơi” Chúa đều biết, th́ huống hồ về bậc sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa đă có chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn gọi và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă tạo dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.

Lời mời gọi “sống đời sống nào đó” có thể được biểu lộ nơi ḷng ao ước sống đời sống đó, hoặc có những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa muốn. Nếu một người khao khát sống bậc sống dâng hiến với ư hướng ngay lành,[29] ḷng khao khát đó có thể là dấu chỉ cho thấy Chúa gọi người đó. Nếu khát vọng này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́ càng cho thấy “người đó được Chúa gọi” cách chắc chắn hơn. Nếu trong đời người đó có những biến cố khách quan mà người đó xác tín rằng đó chính là Chúa bảo vệ để gọi họ, th́ càng chắc chắn hơn nữa rằng “Chúa gọi họ.”

a. Lựa chọn theo thánh Inhaxiô

Lựa chọn theo thánh Inhaxiô, không phải là quyết định theo ư thích của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên Chúa về ḿnh.

Lựa chọn bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó,[30] nhưng Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó.

b. Điều kiện để làm việc lựa chọn tốt

Trong sách Linh Thao, thánh Inhaxiô đề cập đến ba thời để làm việc lựa chọn; trong thời thứ ba, thánh Ynhă nói tới hai cách làm việc lựa chọn. Tuy vậy chúng ta nên cẩn thận, không phải ai cũng làm việc lựa chọn “đúng đắn” được, nhưng chỉ những người có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người và vũ trụ, cũng như họ phải b́nh tâm thực sự, th́ họ mới có thể lựa chọn “đúng đắn” được.[31]

i. Nhận thức đúng đắn về mục đích đời người

Để làm việc lựa chọn tốt, cần ư thức rơ mục đích đời người: Thiên Chúa tạo dựng con người để con người sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn sự được tạo dựng như phương tiện để giúp con người đi tới với Thiên Chúa.

ii. B́nh Tâm

B́nh tâm là một điều kiện cần thiết để làm việc lựa chọn đúng đắn và chính xác: chọn lựa theo điều Chúa muốn chứ không phải theo ư riêng ḿnh thích.

Nếu không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa đúng đắn được. Như vậy, chỉ nên cho những người “b́nh tâm” được làm chọn lựa, tức là những người chỉ muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc muốn làm theo ư ḿnh.[32]

c. Lựa chọn[33]

Đă là người, sống th́ phải lựa chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư chí.

i.Nhận ra ư Chúa về đời ḿnh

Con người có lư trí.

Để sống hạnh phúc, đối với chính ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong tương quan với Thiên Chúa con người cần thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.

Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu thương và luôn muốn con người sống hạnh phúc.

Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi thấy bậc sống này giúp tôi sống triển nở và hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu xa con người tôi mà bậc sống khác không thể đáp ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa gọi tôi.

ii. Dứt khoát chọn

Biết và làm, đôi khi không trùng khít với nhau nơi nhiều người. “Tri hành bất nhất,” làm cho con người không được hạnh phúc.

Thiên Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả năng thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa muốn ai thực hiện điều ǵ đó, th́ người đó không thể nói “lực bất ṭng tâm.” Như vậy, nếu một người thấy rơ ḿnh không thể làm điều ǵ đó, hoặc không thểå tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có khả năng làm điều đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn điều đó cho họ.

Khả năng sống điều ḿnh xác tín, cho thấy điều xác tín có thể là Ư Chúa đối với họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay thấy rằng) họ được Thiên Chúa gọi sống đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc sống cụ thể họ phải cảm thấy sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống dâng hiến. Không có khả năng sống đời sống dâng hiến “một cách triển nở và hạnh phúc,”[34] là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn người đó sống đời dâng hiến.

d. Dấu chỉ việc lựa chọn được làm đúng

Nếu chúng ta làm việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu chúng ta chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản ánh tương quan tốt với Thiên Chúa.

Một cách cụ thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt, chúng ta sẽ:

·        cầu nguyện tốt, ít nhất là bằng thời gian trước khi chọn lựa;[35]

·        vui hơn;

·        b́nh an, thư thái, hạnh phúc hơn.

4. Xét gẫm

Xét gẫm cũng giúp chúng ta biết ḿnh hơn, biết tương quan của ḿnh với Chúa đang như thế nào, để ḿnh không ảo tưởng về ḿnh, và để ḿnh cải thiện t́nh trạng hiện tại.

a. B́nh Tâm

Khi cầu nguyện về Nguyên Lư và Nền Tảng trong ngày đầu tiên, chúng ta đă xin ơn B́nh Tâm: chọn Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết, c̣n những sự khác th́ sao cũng được, dù là giữa nghèo và giầu, danh vọng hay sỉ nhục! Hôm nay khi cầu nguyện về “ngày Inhă,” chúng ta đă biết giầu có, danh vọng và kiêu ngạo là những cạm bẫy của ác quỷ; và nghèo khổ, sỉ nhục là con đường đích thực mà Chúa Giêsu dạy chúng ta.

Chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được yêu Chúa Giêsu đến độ xin chọn nghèo và sỉ nhục với Ngài chưa?

b. Thái độ của tôi đối với nghèo và sỉ nhục

Nghèo tinh thần là không bám víu vào tạo vật, dù là tiền bạc hay ai đó; Xin ơn nghèo tinh thần, tức là xin Chúa ơn không bám víu vào tiền bạc hay bất cứ một tạo vật nào.

Con người có bản năng được tôn trọng. Xin ơn được sỉ nhục,[36] là tự hủy, là từ bỏ chính ḿnh với ư riêng và tất cả con người của ḿnh.

Chúa Giêsu nói: “phúc cho các ngươi là kẻ nghèo ... khốn cho các ngươi là kẻ giầu” (Lc 6:20.24), “phúc cho các ngươi khi người ta xỉ mạ, nói xấu các người đủ điều v́ cớ Ta và v́ Tin Mừng, hăy hân hoan v́ phần thưởng của các ngươi lớn thật ở trên trời” (Mt 5:11-12; Lc 6:22).

Chúng ta có tin lời đức Giêsu là chân lư, và chúng ta có muốn sống theo Lời Ngài không? Nếu chúng ta tin thật, ắt chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được ơn sỉ nhục và ơn nghèo thực sự! Nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều th́ chắc chúng ta đă dám xin cho được đồng h́nh đồng dạng với Ngài, ngay cả trong nghèo và sỉ nhục khinh chê.

c. Dứt khoát với quyến luyến lệch lạc

Cái ǵ là mười ngàn dollars của tôi?

Mười ngàn dollars của tôi có thể không là tiền bạc, nhưng có thể là tương quan với ai đó, hay một địa sở, một nghề nghiệp, một công việc, một tặng vật nào đó, v.v.

Trong qúa khứ tôi ở mẫu người thứ mấy?

Và hiện tại tôi ở mẫu người thứ ba không?

d. Mức độ t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa

Không phạm tội trọng, không muốn làm mất ḷng Chúa và b́nh tâm, yêu Chúa đến độ muốn trở nên giống Chúa trong khó nghèo khổ nhục: đó là ba cấp độ của t́nh yêu (LT 165-167). Tôi có muốn được liệt vào số những người muốn trổi trang trong việc phụng sự Chúa, tức những người yêu Chúa trong cấp độ khiêm nhường thứ ba không? Tôi có chọn nên giống Chúa Giêsu hơn không, nghĩa là chọn nghèo với Chúa nghèo hơn là được giầu sang, chọn bị sỉ nhục và khinh chê với Đức Giêsu bị sỉ nhục và khinh chê hơn là được tôn trọng, chọn bị coi là ngu dại với Chúa Kitô bị coi là ngu dại hơn là được coi là khôn ngoan thông thái ở đời không?

5. Gợi ư cầu nguyện ngày Inhă

64. Hai Cờ Hiệu

Như thánh Inhaxiô đă chỉ trong sách Linh Thao (LT 136-148).

Cần lưu ư:

·        ác quỷ là thực tại vô h́nh, không như con người chúng ta;

·        để nói về những thực tại đó, người ta không thể không dùng những h́nh ảnh,[37] hoặc những ư niệm[38] và từ ngữ để diễn tả;

·        có người cho rằng những h́nh ảnh thánh Inhaxiô dùng cho bài cầu nguyện này không c̣n thích hợp với năo trạng con người ngày nay. Nếu như vậy, họ có thể dùng những h́nh ảnh khác.

1. Mưu chước của ác quỷ

Ma qủy cám dỗ con người, làm con người tham muốn của cải vật chất, và sau đó ham muốn vinh hoa thế gian; và hậu qủa là tính kiêu ngạo tự măn!

Điều thánh Inhaxiô nói về mưu chước của ác quỷ rất chính xác, v́:

·        Người xưa cũng nói “có tiền mua tiên cũng được,” “kim ngân phá lề luật;” ngày nay người ta nói “đồng tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, sức khoẻ của tuổi già, cái đà của danh vọng, cái lọng để che thân, cán cân của công lư;”

·        Những người có tiền thường được tôn trọng, được kính trọng “qúa mức.” Có tiền thường dễ có địa vị; người ta có thể mua công danh chức tước;

·        Với tiền bạc, người ta làm được nhiều chuyện đến độ người ta nghĩ rằng họ có thể làm được mọi chuyện với tiền bạc; và như vậy người ta dễ đi đến tự măn kiêu ngạo.

Tôi có cho rằng “giầu có danh vọng chức quyền” là con đường ác quỷ dùng để trói buộc con người không? Trong cuộc sống thường ngày tôi có đồng lơa và đi theo đường lối của ác quỷ không?

2. Đường lối của Chúa

Đức Giêsu khuyên bảo các môn đệ của Ngài hăy t́m cách giúp con người sống nghèo khó trong ḷng tột bực, và ngay cả chấp nhận nghèo khó cụ thể nếu Chúa muốn và nếu Chúa được phụng sự hơn; thứ đến giúp họ ao ước chịu sỉ nhục và khinh chê; và từ hai điều đó sẽ có đức khiêm nhường.

Sở dĩ như vậy, v́ nghèo giúp người ta dễ trông cậy vào Chúa hơn; và một khi nghèo, con người dễ bị khinh khi coi thường; và như vậy, sẽ giúp người ta dễ nhận ra sự thật về chính ḿnh “không là ǵ cả,” và giúp người ta khiêm nhường thực sự.

Tôi có chấp nhận lời huấn dụ và con đường của Chúa không? Tôi có sẵn sàng sống theo đường Người chỉ dạy không?

Tâm sự

Xin cho ḿnh được nghèo và sỉ nhục, để được đứng vào dưới cờ thập giá của đức Giêsu Kitô, để được nên giống Chúa Kitô hơn.

71. Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31)

Khung cảnh

Như thể chúng ta hiện diện tại chỗ gặp gỡ giữa đức Giêsu và người thanh niên giầu có: “nhằm lúc Ngài ra đi lên đàng” (Mc 10:17).

Ơn xin

Nhận ra lời mời gọi của Chúa và mau mắn quảng đại đáp trả tiếng gọi của Ngài.

Điểm

Cách cầu nguyện của chúng ta trong bài này là chiêm niệm, tức là “nh́n nghe quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi.”

1. Có ǵ đem bán mà cho kẻ khó

Anh thanh niên này rất tốt, anh đă giữ thập giới từ thuở bé; không chỉ thế, anh c̣n bận tâm khao khát sự sống đời đời.

Anh ta kính trọng đức Giêsu, điều này được thấy qua cung cách bái chào. Anh ta đặt hy vọng nhiều nơi đức Giêsu, chính v́ thế anh ta mới t́m hỏi khao khát của anh ta nơi Ngài. C̣n đức Giêsu, Ngài thương anh ta cách đặc biệt “đức Giêsu nh́n người ấy đem ḷng yêu mến.”

“Ngươi chỉ thiếu một điều. Đi đi, có ǵ th́ đem bán mà cho kẻ khó, và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời, rồi đến theo Ta” (Mc 10:21). Lời mời gọi này, cho anh thanh niên giầu có này thấy con người thực của anh ta hơn. Anh bỏ đi buồn rầu, v́ anh không thể dứt bỏ được của cải. Anh không đáp lại lời mời gọi của đức Giêsu.

Đâu là kho tàng của tôi mà Chúa mời gọi tôi dứt bỏ? Tôi có sẵn sàng dứt bỏ để đi theo Ngài không? Nếu tôi không dứt bỏ, tôi không thể theo Ngài được!

2. Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao

Như thể đức Giêsu chữa thẹn mà Ngài nói “những người có của khó vào được Nước Thiên Chúa biết bao,” nhưng sự thực là như lời đức Giêsu nói; các tông đồ phản ứng bằng thái độ kinh ngạc “ngẩn người ra.” Đức Giêsu nói lại điều Ngài đă nói một cách rơ ràng hơn: “Này các con, khó vào được Nước Thiên Chúa biết bao! Lạc đà qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giầu có vào Nước Thiên Chúa;” các tông đồ tỏ thái độ bằng lời nói: “vậy th́ c̣n ai có thể được cứu?” Và đức Giêsu dứt khoát hơn bằng cả lời nói lẫn thái độ và cái nh́n: “nơi loài người th́ không thể được, nhưng không thế nơi Thiên Chúa, v́ mọi sự đều là có thể nơi Thiên Chúa.”

Thái độ của tôi đối với của cải như thế nào? Tôi đă thực sự coi giầu có là một mối họa không, hay tôi đă coi nó là một mối phúc?

3. Này chúng tôi đă bỏ tất cả mà theo Thầy

Tuy dù các tông đồ là những người nghèo, nhưng những điều các vị bỏ cũng là tất cả với các ngài: cha mẹ, anh chị em, con cái,v.v.

Để theo Chúa, các tông đồ đă từ bỏ tất cả. Tôi có sẵn sàng từ bỏ tất cả để theo đức Giêsu không? Tôi có sẵn sàng từ bỏ những ǵ “qúy nhất” đối với tôi, để theo Ngài không?

Tâm sự

Thân thưa với Chúa về kho tàng của tôi, về những ǵ ngăn cản tôi tới với Chúa, và xin Chúa giúp ḿnh quảng đại với Chúa hơn.

72. Ba mẫu người

Khung cảnh và Ơn xin như thánh Inhaxiô chỉ trong sách Linh Thao (LT 149-157).

Điểm

1. Đâu là mười ngàn dollars của tôi?

Đâu là quyến luyến lệch lạc của tôi? Có thể đó là một kỷ vật, một chỗ ở, một công việc, một nghề nghiệp, một tương quan với người đồng phái hay khác phái, v.v.

Nếu chú ư, chúng ta đă có thể nhận ra quyến luyến lệch lạc hay “kho tàng” của ḿnh qua những chia trí trong giờ cầu nguyện.[39]

2. Tôi thuộc mẫu người thứ mấy?

Trong quá khứ, tôi đă thuộc mẫu người thứ mấy? Hiện tại, tôi thuộc mẫu người thứ mấy? Nếu tôi chưa thuộc mẫu người thứ ba, tôi có ao ước cho tôi được thuộc mẫu người thứ ba không?

Mẫu người thứ nhất mới chỉ muốn bỏ quyến luyến lệch lạc, chứ họ không chịu dùng phương thế để bỏ nó.

Mẫu người thứ hai muốn bỏ ḷng quyến luyến lệch lạc nhưng lại muốn giữ lại cái mà họ quyến luyến.

Mẫu người thứ ba muốn không c̣n quyến luyến lệch lạc nữa, nên sẵn sàng bỏ cả cái mà ḿnh quyến luyến; Họ sẵn sàng đến độ chỉ giữ lại cái đó nếu thấy rơ rằng Chúa muốn họ giữ lại cái đó; c̣n nếu không thấy rơ Chúa muốn họ giữ, th́ họ bỏ; trong khi chờ đợi để biết Chúa muốn họ thế nào, họ coi như ḿnh đă bỏ.

Tâm sự

Nói chuyện thân thưa với Chúa khi nh́n thấy rơ về con người của ḿnh; xin Chúa giúp ḿnh yêu Chúa bằng hành động, bằng chính đời sống cụ thể và từ bỏ của ḿnh.

73. Đức Giêsu luôn thực hiện Ư Cha

Khung cảnh:

Bên bờ giếng Yacob, đức Giêsu mỏi mệt, đói và khát. Đức Giêsu khẳng định: “của ăn của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta” (Ga 4:34).

Ơn xin:

Xin cho con hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và theo Chúa hơn. Xin cho con luôn biết lắng nghe và thực hiện Lời Chúa trong từng giây phút của đời sống con như Chúa đă luôn t́m và thực hiện thánh ư Chúa Cha trong suốt cuộc sống tại thế.

Điểm:

1. Này con xin đến, để thực thi Ư Chúa

Đức Giêsu là Ngôi Lời Nhập Thể. Thiên Chúa nhập thể để thực hiện chương tŕnh cứu độ con người, làm cho con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người, để con người đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, và như vậy con người được hạnh phúc.

Ngôi Lời Thiên Chúa đă chấp nhận người cha người mẹ thuộc giai cấp b́nh dân nghèo nàn, và chấp nhận để ḿnh được sinh ra trong cảnh nghèo hèn cùng cực nơi chuồng chiên cừu.

Thiên Chúa Nhập Thể đă sống rất b́nh thường tại Nadarét, tập lẫy tập ḅ tập đứng tập đi, học ăn học nói học gói học mở, học đọc học viết, học làm nghề thợ mộc với thánh Giuse.

Đức Giêsu đă sống b́nh thường như một em bé ở Nadarét, được đối xử như mọi em bé khác cùng tuổi không có ǵ ưu tiên. Có lẽ về khả năng thông minh, đức Giêsu cũng b́nh thường như bao người, bởi v́ Ngài giống chúng ta mọi đàng trừ tội (Hr 2:17; 4:15).

Năm được 12 tuổi, v́ được Thánh Thần thúc đẩy nên Ngài đă sẵn sàng ở lại đền thờ dù không kịp báo cho cha mẹ.

Đức Giêsu luôn sống dưới tác động của Thánh Thần. Một khi nhận ra Thánh Ư Thiên Chúa th́ Ngài vâng phục, dù ư định đó như thế nào đối với Ngài chăng nữa.

2. Của ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta

Trong cuộc đời công khai, đức Giêsu miệt mài rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Khi người ta muốn giữ Ngài lại, Ngài nói: “Ta phải đi để rao giảng ở nơi khác nữa, chính v́ thế mà Ta đến thế gian” (Mc 1:38).

Khởi đầu cuộc sống công khai, “Thần Khí Thiên Chúa dẫn Ngài vào hoang địa để Ngài ăn chay, và ở đó Ngài bị ác quỷ cám dỗ” (Mt 4:1). Đức Giêsu luôn sống dưới tác động của Thánh Thần.

Trên đường từ Giuđê về Galilê, mệt mỏi và đói khát, đức Giêsu và các tông đồ đă dừng chân bên bờ giếng Yacob; và trong khi chờ đợi các môn đồ mua thức ăn, đức Giêsu đă xin nước nơi chị phụ nữ để uống. Và dịp tới, đức Giêsu đă miệt mài nói về Thiên Chúa đến quên cả đói: “Của ăn của Ta là làm theo Ư Đấng đă sai Ta” (Ga 4:34).

Ngay cả trong việc làm phép lạ, đức Giêsu cũng luôn t́m ư Thiên Chúa Cha; và một khi Ngài thấy ư Thiên Chúa Cha, th́ Ngài thực hiện. Chẳng hạn trong cuộc gặp gỡ với chị phụ nữ người Syri-phênici[40] (Mc 7:24-30).

Trong cuộc đời rao giảng Nước Thiên Chúa, khi được thúc đẩy phải nói điều ǵ đó, th́ Ngài nói dù bị hiểu lầm và chống đối, thậm chí phải chết:

·        “tội của ngươi đă được tha” (Mc 2:7);

·        “trước khi có Abraham, đă có Ta” (Ga 8:57-58);

·        “Ta và Cha Ta là một” (Ga 10:30);

·        “Và các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Quyền Năng và đến với mây trời” (Mc 14:62).

3. Xin đừng theo Ư Con, nhưng Ư Cha

Đức Giêsu luôn làm theo Ư Cha.

Trong vườn dầu, đức Giêsu nói: “xin đừng theo Ư Con nhưng là Ư Cha” (Mc 14:36). Trên thập giá, dù bị cám dỗ rằng Thiên Chúa đă bỏ rơi Ngài “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34), nhưng Ngài vẫn một niềm tin tưởng “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46), và Ngài sẵn sàng chấp nhận tất cả những ǵ Thiên Chúa cho xảy tới với Ngài “Đă hoàn tất” (Ga 19:30).

Tâm sự

Đức Giêsu là Thiên Chúa mà Ngài luôn t́m kiếm và thực hiện Ư Cha trong từng biến cố của đời Ngài, xin cho ḿnh cũng được nên giống Ngài, luôn t́m kiếm và thực hiện Thánh Ư Thiên Chúa.

74. Ba mức độ yêu thương (LT 165-167)

Khung cảnh

Nh́n đức Giêsu chết thê thảm trên đồi Calvê, và Ngài bị coi như người tội lỗi.

Ơn xin

Cảm nghiệm Chúa yêu thương ḿnh vô cùng, và xin cho ḿnh yêu Chúa đến độ ao ước trở nên giống Ngài, đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

Điểm

1.Tôi yêu Chúa ở mức độ nào

Trong quá khứ tôi ở bậc khiêm nhường nào? Và hiện tại tôi ở mức độ nào?

Mức độ khiêm nhường thứ nhất: “thà chết hay được tất cả thế gian, tôi cũng không phạm một tội trọng.”

Mức độ khiêm nhường thứ hai: “b́nh tâm, thà chết cũng không phạm một tội nhẹ;”[41] nghĩa là, điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm, c̣n trong trường hợp cả hai đều làm vinh danh Thiên Chúa ngang nhau th́ tôi không nghiêng chiều về điều này hơn điều kia.[42]

Mức độ khiêm nhường thứ ba: “yêu Chúa đến độ muốn nên giống Chúa, muốn được đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô.” Ở mức độ t́nh yêu thứ ba này, nếu điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ tôi làm; nhưng nếu trong cả hai trường hợp đều làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ để nên giống Chúa Giêsu hơn, để trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài hơn, tôi chọn trở nên nghèo với đức Giêsu nghèo hơn là giầu, tôi chọn bị coi là sỉ nhục với đức Giêsu bị sỉ nhục hơn là được kính trọng, tôi chọn bị coi là điên dại với đức Giêsu bị coi là điên dại hơn được coi là khôn ngoan thông thái trên đời.

2.Có muốn đồng h́nh đồng dạng với Ngài không

Tôi vẫn thường nói rằng tôi yêu mến Chúa! Nếu tôi yêu mến Chúa thực, chắc tôi đă xin được đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

Nếu tôi đă không dám xin được yêu Chúa ở mức độ khiêm nhường thứ ba, đó là dấu chỉ cho thấy tôi chưa yêu Chúa nhiều lắm, tôi chưa tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa, tôi chưa tin rằng Thiên Chúa yêu tôi vô cùng. Nếu như vậy, hăy khiêm tốn xin Chúa củng cố đức tin cho ḿnh, xin Chúa làm cho ḿnh yêu Chúa, và xin cho ḿnh yêu Chúa đến độ ao ước trở nên giống Chúa, đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

Tâm sự

Làm ba cuộc tâm sự, một với đức Maria, một với Chúa Giêsu Phục Sinh đang ngự bên hữu Thiên Chúa, một với Thiên Chúa Cha. Xin cho ḿnh được đứng dưới cờ thập giá của đức Giêsu bằng hành động:

·        ao ước sống nghèo khó tinh thần tột bậc và thái độ sẵn sàng nghèo thực sự nếu Chúa muốn;

·        ao ước chịu sỉ nhục khinh chê với Chúa hơn là được vinh vang trần thế.

81. CHỌN LỰA BẬC SỐNG

Làm lựa chọn bậc sống theo chỉ dẫn của sách Linh Thao (LT 178-183).

Chọn lựa bậc sống là việc rất quan trọng, nên hăy làm hết sức cẩn thận. Nếu ta làm việc chọn lựa bậc sống tốt, ta sẽ sống hạnh phúc hơn.

82. Những bước đường t́nh yêu

Khung cảnh

Như ḿnh đang hiện diện trước tôn nhan Chúa và triều đ́nh thần thánh trên trời. Các thánh và các thiên thần đang cầu bầu cho tôi.

Ơn xin

Cảm nhận Chúa yêu ḿnh nên đă can thiệp vào đời ḿnh, để ǵn giữ ḿnh, và làm ḿnh thuộc trọn về Chúa.

Điểm

1. Chúa có gọi tôi sống đời dâng hiến không

Ngày xưa, tại sao tôi đi tu?

Lúc mới đi tu, tôi có ư thức Chúa gọi tôi không? Lúc đó, tôi đi tu v́ tôi muốn, hay tôi thấy Chúa gọi tôi nên tôi đi?

C̣n bây giờ, tôi có xác tín Chúa gọi tôi sống đời dâng hiến không?

2. Dấu chỉ khách quan cho thấy Chúa gọi tôi

Có dấu chỉ khách quan[43] nào trong suốt đời tôi, cho thấy Chúa đă can thiệp vào đời tôi, để ǵn giữ tôi cho tới bây giờ, để làm tôi thuộc về Chúa cho tới ngày hôm nay?

Tâm sự

Thân thưa với Chúa, Đấng đă yêu thương tôi vô cùng. Cảm tạ v́ bao hồng ân Chúa ban cho ḿnh trong suốt đời.

 


F. ĐƯỜNG T̀NH YÊU

Tuần thứ ba của Linh Thao cầu nguyện về đức Giêsu chịu khổ h́nh. Đức Giêsu đối diện biến cố khổ nạn với tất cả sự run en sợ sệt như chúng ta mọi đàng, nhưng Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu thương Cha và yêu thương con người.

Cố gắng đi vào tâm t́nh của đức Giêsu trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời tại thế này. Ngài tê tái ḷng biết bao khi thấy một người thân yêu sẽ phản bội và nộp Ngài: t́nh yêu của Ngài bị từ khước, bị phản bội. Ngài đă ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt trong vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho đến chết mà không một lời oán than. Hăy đi vào tâm t́nh của đức Giêsu, và ư thức rằng: chính v́ tôi và cho tôi mà đức Giêsu đă chấp nhận tất cả những sự ấy.

T́nh yêu không hoàn toàn được diễn tả bằng lời nói nhưng chủ yếu bằng việc làm. Trong cuộc sống tại thế này, dường như thập giá gắn liền với t́nh yêu: thập giá là cách thế tuyệt diệu diễn tả t́nh yêu. Không thể hiểu được thập giá nếu không nh́n trong nhăn quan t́nh yêu.

1. Mục đích yêu cầu

Hiểu Chúa, để yêu Chúa và theo Chúa hơn. Chúa đă chết v́ yêu tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái độ nào đối với Người yêu tôi dường ấy?

Xin cho ḿnh hiểu nỗi đau buồn của Chúa (Ga 13; Mc 14)? tại sao Chúa phải chịu đau khổ cô đơn[44] như vậy? Phải chăng Chúa chịu tất cả những điều đó v́ yêu thương tôi vô cùng?

Xin cho ḿnh cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa đối với ḿnh; xin cho ḿnh yêu lại Chúa đến độ ao ước được chia sẻ nỗi đau buồn của Chúa, muốn được đồng h́nh đồng dạng với Đấng yêu thương ḿnh vô cùng như vậy.

Thánh Inhaxiô dạy: “xin cho ḿnh được đau đớn, hối hận và xấu hổ, v́ chính bởi tội tôi mà Chúa phải bị khổ h́nh như vậy” (LT 193); “xin cho ḿnh được đau đớn với Chúa Kitô thống khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô tan nát tâm hồn, được ơn khóc lóc và đau đớn trong ḷng v́ bao đau đớn mà Chúa Kitô đă chịu v́ tôi” (LT 203).

2. Bản văn Kinh Thánh được dùng

Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh sau, hoặc dùng những đoạn nào theo như ḿnh thấy thích hợp:

·        Âm mưu giết đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);

·        Làm sao Ta có thể quên ngươi (Hs 11:1-9);

·        Ta tự ḿnh hiến mạng sống Ta (Ga 10:17-31);

·        Yêu thương là phục vụ (Ga 13:1-17);

·        Yêu thương là hiến dâng (Lc 22:14-20);

·        Hăy tin Thầy, hăy yêu Thầy (Ga 14:1-15:8);

·        Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17);

·        Báo trước Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31);

·        Đức Giêsu chiến đấu với chính ḿnh ở vườn dầu (Mc 14:32tt);

·        Giuđa nộp Thầy bằng “dấu chỉ t́nh yêu” (Mc 14:43-52);

·        Đức Giêsu bị xử trước ṭa Do Thái (Mc 14:53-65);

·        Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72);

·        Đức Giêsu bị xử trước ṭa Roma (Ga 18:28-19:16);

·        Đức Giêsu trước ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);

·        Con đường t́nh yêu (Mc 15:15-32);

·        Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41);

·        Đức Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27);

·        Chứng nhân thinh lặng;

·        Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47);

·        Tâm t́nh của những người yêu thương đức Giêsu trong những ngày khổ nạn;

·        Tv 22;

·        Đức Giêsu, người tôi tớ chết thay nhiều người (Is 52:13-53:12);

·        Đức Giêsu chu toàn sứ mạng dù phải chết thập giá (Pl 2:6-11).

3. Gợi ư cầu nguyện về đường t́nh yêu

83. Yêu thương là phục vụ và dâng hiến

Khung cảnh

Đức Giêsu và các tông đồ trong một căn pḥng trên gác, nơi ăn tiệc Vượt Qua.

Ơn xin

Xin hiểu đức Giêsu hơn, hiểu tâm t́nh của Ngài lúc này, để yêu Ngài hơn, và ao ước chia sẻ nỗi buồn sầu của Ngài, cũng như để theo Ngài, đồng h́nh đồng dạng với Ngài, bắt chước sống theo cung cách của Ngài.

Điểm

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi; cố gắng đi vào tâm t́nh của Ngài, xem Ngài đă phải chịu cực khổ v́ yêu tôi như thế nào, và Ngài c̣n sẵn sàng chịu tất cả những ǵ có thể xảy đến như thế nào nữa, v́ yêu tôi?

1. Đức Giêsu yêu các tông đồ vô cùng

“Đức Giêsu, biết đă đến giờ Ngài phải qua khỏi thế gian mà đến cùng Cha, đă yêu mến những kẻ thuộc về Ngài c̣n trong thế gian, th́ Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1).

Đức Giêsu không chỉ yêu chúng ta bằng t́nh yêu của một người yêu một người, nhưng bằng t́nh yêu của Thiên Chúa đối với Thiên Chúa: “Như Cha đă yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em; Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy” (Ga 15:9).

Tâm t́nh của đức Giêsu trong bữa tiệc Vượt Qua này, là tâm t́nh của người yêu phải xa người ḿnh yêu. Chúng ta phải đọc những hành động và lời nói của đức Giêsu trong bầu khí và tâm t́nh trên.

2. Đức Giêsu rửa chân cho các tông đồ

Các tông đồ tranh luận xem ai giữa họ là người đứng đầu, và đức Giêsu đă dạy: “Ai muốn làm người đứng đầu, th́ phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Một lần khác, hai con ông Giêbêđê, xin Ngài cho họ một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Ngài; các môn đệ khác bực tức với họ; đức Giêsu đă dạy: “ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm người phục vụ anh em; và ai muốn làm đầu anh em th́ phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10:43-44).

Trong bầu khí “tranh nhau làm đầu” đó mà đức Giêsu đă dạy các tông đồ bài học khiêm tốn phục vụ bằng hành động (Ga 13:1-17) chứ không bằng lời như trước nữa.

Đức Giêsu đă nêu gương phục vụ cho các tông đồ. Ngài đă yêu các tông đồ vô cùng, nhưng đă thành người phục vụ, thành đầy tớ trong hành vi rửa chân cho các ông. T́nh yêu đ̣i chúng ta phải có tinh thần phục vụ: “Thầy đă làm gương, để anh em cũng sống như Thầy.”

3. Này là Ḿnh Ta, sẽ bị nộp v́ các con

Trong t́nh yêu, người ta có nhiều sáng kiến. Đức Giêsu là người yêu phải xa người ḿnh yêu “cách nhân loại,” và Ngài đă có một sáng kiến tuyệt vời để ở gần măi người ḿnh yêu, đó là “bí tích Thánh Thể.”

Đức Giêsu đă biến bánh rượu thành ḿnh và máu Ngài, để trở thành thần lương nuôi sống chúng ta. Ngày xưa Ngài đă từ chối biến đá thành bánh để phục vụ Ngài, th́ nay Ngài đă biến bánh rượu thành thịt máu Ngài để nuôi con người.

Khi yêu, người ta cho nhau tất cả, và cao điểm là chính bản thân ḿnh. Đức Giêsu đă yêu chúng ta vô cùng, và Ngài đă hiến ḿnh Ngài cho Chúa Cha và cho con người chúng ta. Yêu thương là đời sống của những người sống đời dâng hiến, và những người sống đời dâng hiến phải là những người luôn yêu thương.

Với hành vi tự hiến qua bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy rơ t́nh yêu tự nguyện hiến thân của đức Giêsu trong ngày thứ sáu hôm sau.

Tâm sự

Hăy nói chuyện thân thưa với Chúa như chúng ta thấy. Xin Chúa cho ḿnh yêu Chúa đến độ muốn chia sẻ niềm đau nỗi buồn của Ngài.

84. Vườn dầu (Mc 14:32-52)

Khung cảnh

Vườn dầu, nơi đức Giêsu trải qua cơn chiến đấu với chính ḿnh.

Ơn xin

Xin hiểu Chúa hơn, hiểu nỗi lo sợ kinh hoàng và buồn sầu của Ngài; Xin cho ḿnh yêu Chúa, được chia sẻ nỗi buồn đau của Ngài, và xin cho ḿnh được sẵn sàng nên giống Ngài trong khó nghèo khổ nhục.

Điểm

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi. Cố gắng đi vào tâm hồn Ngài, để yêu và nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

1. Xin cho giờ này qua đi khỏi Con

Đức Giêsu xưa nay vẫn được hiểu như người luôn trầm tĩnh và không bao giờ run sợ trước mọi biến cố; thế nhưng đoạn Tin Mừng Mc 14:32-42 cho thấy “đức Giêsu hăi hùng xao xuyến” và “buồn đến chết được,” c̣n thánh Luca cho thấy “mồ hôi Ngài như những giọt máu nhỏ xuống đất” (Lc 22:44).

Giờ phút đức Giêsu ở Vườn Dầu, có lẽ là giờ phút khủng khiếp nhất đối với đức Giêsu; bởi v́ đây là cuộc chiến đấu nội tâm, và với chính ḿnh.

Có lẽ giờ phút này đức Giêsu cảm thấy “tội của tất cả loài người” đè nặng trên Ngài, và có lẽ Ngài cũng thấy trước những ǵ sắp xảy đến cho Ngài.

2. Anh dùng cái hôn để nộp con người sao

Làm sao để bắt đức Giêsu cách chính xác giữa một nhóm đông 12 người? Giuđa và đồng bọn đă nghĩ ra được một cách rất chính xác: “ôm hôn!”

Nỗi đau của đức Giêsu tăng thêm khi thấy Giuđa đă “dùng dấu chỉ t́nh yêu” để nộp “Người” đă đồng hành với ḿnh suốt ba năm trời: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn để nộp con người sao?” (Lc 22:48). Có lẽ Giuđa đă qúa táng tận lương tâm khi dám hành xử như vậy.

Đức Giêsu đă thành “phạm nhân” khi bị bắt, và chắc chắn người ta đă đối xử với Ngài cách thậm tệ: Thiên Chúa mà bị người ta trói và dẫn đi một cách bất kính như vậy sao?

Tâm sự

Thân thưa với Chúa như chúng ta thấy nơi ḷng ḿnh. Xin cho ḿnh yêu Chúa đến độ ao ước được chia sẻ nỗi đau và sỉ nhục của Ngài, v́ Ngài đă yêu chúng ta mà Ngài phải chịu những sự đó.

91. Đức Giêsu bị xử án

Khung cảnh

Đức Giêsu trước toà Công Nghị Do Thái và trước toà Roma.

Ơn xin

Xin ơn hiểu và cảm nhận những đau đớn và sỉ nhục đức Giêsu đă chịu; và xin được tan nát cơi ḷng với đức Giêsu tan nát tâm hồn.

Điểm

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi: con người mà dám xét xử Thiên Chúa!

1.Tất cả đều lên án Ngài đáng chết

Công nghị được triệu tập để kết án tử h́nh đức Giêsu (Mc 14:1.55), nhưng với những lư do được đưa ra, không đủ để họ kết án đức Giêsu.

Thượng tế đă hỏi đức Giêsu về chân tính của Ngài, và câu trả lời đă làm cho Ngài bị kết án tử: “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Quyền Năng mà đến trên mây trời” (Mc 14:62).

Đức Giêsu có biết nếu Ngài trả lời như vậy, Ngài sẽ phải chết không? Chắc đức Giêsu biết, v́ Ngài không phải là người kém thông minh (Lc 2:47). Nếu đức Giêsu biết nếu Ngài nói như vậy, Ngài sẽ phải chết, th́ tại sao Ngài lại dại dột nói lên điều đó?

Câu nói làm đức Giêsu phải chết, là câu nói vô cùng quan trọng, mặc khải cho chúng ta thấy chân tính và nguồn gốc của đức Giêsu; và nhờ đó, chúng ta biết Thiên Chúa yêu con người vô cùng; và nhờ đó, con người có thể tin tưởng sống b́nh an hạnh phúc.

Đức Giêsu là chứng nhân t́nh yêu: Ngài tới để làm chứng cho con người ngày nay biết là Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Nếu đức Giêsu không nói sự thực, và sự thực đó làm Ngài phải chết, th́ e rằng con người không thể nhận biết chắc chắn tuyệt đối rằng Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

Đối với người Do Thái, đức Giêsu đă phạm một tội rất nặng “phạm thượng,” là người mà dám cho ḿnh ngang bằng Thiên Chúa; chính v́ thế mà tất cả công nghị đều nhất trí kết án tử h́nh đức Giêsu; hơn nữa khi Philatô hỏi dân chúng xem họ muốn ông phóng thích ai, Barabba hay Giêsu, th́ dân chúng đă chọn tha Barabba, v́ đối với họ, lúc đó, đức Giêsu đă phạm một tội quá nặng “dám cho ḿnh ngang bằng Thiên Chúa,” và tội này đáng ghê tởm hơn mọi thứ tội, và như vậy, đức Giêsu ngàn lần đáng chết hơn Barabba.

2.Ta không thấy lư do để kết tội ông ấy

Dân Do Thái lúc đó là dân tộc bị trị, và người Roma đă không cho phép họ được quyền xử tử h́nh ai cả; một người chỉ có thể bị xử tử h́nh cách hợp pháp bởi toà án của người Roma, do tổng trấn xét xử. Chính v́ thế những người lănh đạo dân Do Thái đă đưa đức Giêsu sang xin Philatô xét xử, khi họ thấy phải xử tử h́nh Ngài(Mc 14:64 Ga 19:7).

Philatô thấy đức Giêsu vô tội và bị vu cáo, nên ông muốn tha đức Giêsu nhiều lần (Ga 18:38; 19:4.6.12), nhưng, v́ sợ mất địa vị chức quyền nên Philatô nhu nhược, đă nhân nhượng và đồng ư giết đức Giêsu.

Thiên Chúa phải là Đấng xét xử con người, thế mà nay lại bị con người xét xử. Tại sao đức Giêsu lại phải chịu như vậy, phải chăng v́ yêu tôi? Tôi phải đối xử với Ngài như thế nào đây?

Tâm sự

Cố gắng đi vào tâm hồn của đức Giêsu trong những giờ phút này, để thấy những nhục nhằn đức Giêsu phải chịu, đặc biệt nơi toà án của Herode (Lc 23:8-12), và xin cho ḿnh được yêu Chúa và ao ước chia sẻ nỗi niềm đau buồn tủi khổ với Chúa.

92. Đường t́nh yêu

Khung cảnh

Con đường đức Giêsu đă vác thập giá đi qua: con đường từ nơi đức Giêsu bị đánh đ̣n cho tới đồi Golgotha.

Ơn xin

Xin ơn hiểu Chúa, hiểu nỗi tủi nhục đau buồn của Chúa; xin cho ḿnh ơn được yêu Chúa đến độ khao khát chia sẻ đau khổ của Ngài, xin cho ḿnh đồng h́nh đồng dạng với Ngài.

Điểm

Có thể dựa vào đường thánh giá như chúng ta vẫn có thói quen làm để cầu nguyện. Cũng có thể dùng những gợi ư sau đây.

1. Đức Giêsu bị đánh đ̣n

Nh́n nghe quan sát đức Giêsu bị đánh đ̣n, suy nghĩ và rút ích lợi.

Nh́n đức Giêsu bị lột trần, bị trói, bị đánh và không được kiêng chừa chỗ nào khỏi bị đánh; thấy đức Giêsu quằn quoại đau đớn; thấy vết roi và những lằn rướm máu.

Nghe tiếng roi. Đức Giêsu có kêu la không? Nghe xem đức Giêsu nghĩ ǵ trong ḷng lúc đó?

Quan sát kỹ đức Giêsu. Ngài có bị xỉu không? Aùnh mắt của Ngài thế nào, lộ lên sự thù hằn, hay thương hại và tha thứ những người đă hành hạ Ngài?

Suy nghĩ và rút ích lợi. V́ yêu tôi mà Chúa đă phải chịu tất cả những sự ấy.

2. Đức Giêsu bị đội mạo gai

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

3. Đường thập giá

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Đức Giêsu đă đuối sức lắm rồi, Ngài té ngă. Ngài cảm nhận giới hạn của thân xác như chúng ta. Lực bất ṭng tâm, “tinh thần lanh lẹ nhưng xác thịt th́ yếu đuối:” đức Giêsu đă ngă v́ Ngài không gượng nổi nữa. Đức Giêsu nói ǵ với Thiên Chúa Cha trong giờ phút này? Tâm t́nh của Ngài đối với con người thế nào?

Nh́n đức Maria chạy tới gặp con của Mẹ. Làm sao để gặp con, khi bao nhiều người hiếu kỳ bu chung quanh? Có lẽ Mẹ đă phải chạy tới trước chỗ đức Giêsu sẽ đi ngang qua. Tâm t́nh thái độ của Mẹ lúc đó ra sao? Mẹ nói ǵ với Thiên Chúa? Mẹ có bị cám dỗ về đức tin vào Thiên Chúa không khi nh́n con Mẹ như vậy và nghĩ về lời Thiên Chúa nói qua thiên thần truyền tin?

4. Đóng đinh

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Hăy cảm nghiệm đau đớn của đức Giêsu, của Mẹ khi thấy con bị hành xử như vậy: “như dao sắc thâu qua ḷng” (Lc 2:35).

Tâm sự

Thân thưa với Chúa, Đấng đă yêu tôi đến chết khốn khổ như vậy v́ tôi. Tôi phải làm ǵ để đáp trả lại t́nh yêu của Ngài bây giờ?

93. Ba vị trên đồi Calvê

Khung cảnh

Đồi Calvê trong buổi chiều thứ sáu hôm đó: đức Giêsu chết treo khổ giá giữa những người tội lỗi; và thực sự Ngài bị coi là người tội lỗi nặng nề.

Ơn xin

Chia sẻ cảm thông với Chúa, Đấng đă chết v́ yêu tôi. Xin cho con ao ước được nghèo khó và sỉ nhục, để cùng chia phần với Ngài. Xin cho con được đồng h́nh đồng dạng với Chúa Giêsu.

Điểm

1.Đức Giêsu trên đồi Calvê

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.

Đức Giêsu bị đóng đinh; Ngài quằn quại không? Tâm hồn Ngài thế nào? Chúng ta sẽ dựa vào những lời nói của đức Giêsu để hiểu tâm t́nh của Ngài.

“Xin Cha tha cho chúng, v́ chúng lầm chẳng biết” (Lc 23:34). Những người giết Ngài thực sự không biết Ngài là Thiên Chúa! Đức Giêsu đă hiểu biết điều đó, và đă cầu xin Thiên Chúa Cha tha thứ lỗi lầm của họ đối với Ngài.

“Thật, hôm nay ta sẽ cho anh được ở trên thiên đàng với ta” (Lc 23:43). Đức Giêsu vẫn c̣n bận tâm tới thao thức và hạnh phúc của người khác, Ngài không bận tâm cho chính Ngài.

“Này là con bà, này là Mẹ con” (Ga 19:26-27). Đức Giêsu vẫn c̣n giờ và tâm huyết để nhớ và lo cho những người thân, dù Ngài chỉ c̣n ít thời gian nữa trên cuộc sống dương gian.

“Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?” (Mc 15:34). Khủng khiếp biết bao, đức Giêsu mà c̣n bị cám dỗ cả về “đức tin vào Thiên Chúa,” và ngay cả trong giờ phút cuối đời của Ngài. Đức Giêsu không chỉ bị cám dỗ trong hoang địa, nhưng trong suốt đời Ngài, kể cả trên thập giá.

“Lạy Chúa, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Đức Giêsu bị cám dỗ như thể Thiên Chúa bỏ rơi Ngài, nhưng thực tế đức Giêsu không chiều theo, đức Giêsu luôn tin tưởng phó thác tất cả tương lai đời ḿnh cho Thiên Chúa, dù hiện tại ra sao chăng nữa.

“Ta khát” (Ga 19:28). Giây phút này đức Giêsu không chỉ khát nước, nhưng thực sự Ngài khao khát t́nh yêu của con người; Ngài đă để trái tim của Ngài được mở ra và chảy đến giọt nước và giọt máu cuối cùng: Ngài đă yêu thương con người đến cùng t́nh yêu của Ngài (Ga 13:1), Ngài đă yêu thương con người như Cha đă yêu thương Ngài.

“Đă hoàn tất” (Ga 19:30). Thế là xong; Ngài không thể làm ǵ được nữa và không thể làm ǵ hơn được nữa; Ngài chấp nhận thân phận con người đến tận cùng, đó là “không là ǵ cả và không làm được ǵ cả;” Ngài chấp nhận và Ngài phó thác tất cả cho Thiên Chúa.

2.Đức Maria đứng dưới chân thập giá

Đức Maria đă theo Con suốt chặng đường Con Mẹ vác thánh giá; và trên đồi Calvê, Mẹ đau khổ chứng kiến cái chết của Con ḿnh mà không thể làm ǵ được cho Con; lời Thiên Chúa nói với Mẹ năm xưa khi thiên thần truyền tin, liệu c̣n được Thiên Chúa giữ lời không? hay Thiên Chúa đă quên lời hứa? mà nếu Người nhớ th́ làm sao c̣n có thể thực hiện được nữa nếu đức Giêsu chết?

Mẹ nghĩ ǵ và nói ǵ trong những giây phút này? Dù bị thử thách và cám dỗ trăm chiều, Mẹ vẫn luôn tin tưởng phó thác tất cả cho Thiên Chúa dù Mẹ không biết Lời Chúa có thể thực hiện làm sao đây: “phúc cho em là kẻ đă tin rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện” (Lc 1:45).

Mẹ đứng đó dưới chân thập giá, đau khổ, bị khủng hoảng về đức tin biết bao! Nhưng như Con của Mẹ, Mẹ hoàn toàn phó thác. Mẹ xứng đáng là Mẹ những kẻ tin, là Nữ vương các thánh tử đạo.

3.Chúa Cha thinh lặng nh́n Con của Ngài

Ba ngôi Thiên Chúa yêu thương nhau vô cùng, vậy tại sao Thiên Chúa Cha nỡ để Con của Ngài là đức Giêsu phải đau khổ và thử thách như vậy?

Tại sao Thiên Chúa không tru diệt ngay kẻ dữ? Tại sao Thiên Chúa lại để cho họ hành hạ bao người lành như vậy?

Nếu Thiên Chúa làm theo điều tôi cầu xin: tru diệt ngay người dữ để họ đừng làm khổ bao người lành, th́ cái ǵ xảy ra? Lúc đó, tôi là người phải bị tru diệt đầu tiên, và sau đó là tất cả. Nếu Thiên Chúa áp dụng điều đó, th́ chắc bây giờ chẳng c̣n ai trên dương thế, v́ có ai đă không phạm tội?[45]

Thiên Chúa đă không phạt người dữ ngay, là để kẻ dữ c̣n có thời gian và cơ may mà sám hối. Tạ ơn Thiên Chúa đă yêu thương con người vô cùng!

Tâm sự

Thân thưa với Chúa Giêsu trên thập giá, với đức Maria dưới chân thập giá, và với Chúa Cha đang thinh lặng đau đớn[46] nh́n Con của Ngài. Xin cho chúng ta biết chấp nhận thập giá trong cuộc đời mỗi người, để chúng ta mỗi ngày một nên giống Chúa Giêsu hơn.

 

 


G. PHỤC SINH

Chúng ta bước sang tuần thứ tư của Linh Thao: cầu nguyện về đức Giêsu Phục Sinh.

Khi đức Giêsu c̣n tại thế và trước cuộc khổ nạn, chưa có ai biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa. Dù Ngài đă ba lần loan báo rằng Ngài sẽ bị bắt, bị đánh đ̣n, bị giết và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại; nhưng khi Ngài bị bắt và chết, không có ai tin Ngài sẽ sống lại; thậm chí khi Ngài đă sống lại và hiện ra cho các phụ nữ, và họ đi báo tin cho các tông đồ, thế mà các tông đồ cũng không tin (Mc 16:9-11).

Để tin đức Giêsu đă sống lại, có lẽ không tuyệt đối cần các tông đồ[47]; nhưng để tin đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc chắn cần lời chứng của các tông đồ.[48]

Chính nhờ tin vào đức Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa: nhờ Thánh Thần đức Giêsu trao ban khi Ngài hiện ra cho các tông đồ (Ga 20:22) mà các tông đồ nhận biết đức Giêsu là Thiên Chúa, và cũng nhờ đức Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa.

1. Mục đích yêu cầu

Thánh Inhaxiô viết trong LT 221: “Xin điều tôi ao ước. Ở đây xin ơn để cảm nghiệm sâu xa và mănh liệt niềm hân hoan và vui mừng v́ vinh quang và vui mừng của đức Kitô Chúa chúng ta.”

Niềm vui mừng và hân hoan ở đây là niềm vui mừng và hân hoan tận thâm sâu trong tâm hồn, do cảm nghiệm Chúa đă phục sinh, nhờ đó niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng Trung Tín được củng cố; và một khi tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa, con người chúng ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và như vậy chúng ta hân hoan và vui mừng.

Niềm hân hoan và vui mừng này không ai có thể lấy mất được, v́ “dù thiên thần thiên phủ, dù hiện tại tương lai, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, không có ǵ có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Rm 8:38-39).

2. Bản văn Kinh Thánh được dùng

Dù Kinh Thánh không nói Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ Maria, nhưng thánh Inhaxiô đề nghị chiêm niệm “Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ” (LT 218-225). Nếu ai chấp nhận quan điểm của thánh Inhaxiô, th́ có thể cầu nguyện dựa vào bài chiêm niệm trên và những đoạn Kinh Thánh sau, c̣n nếu không chấp nhận th́ có thể chỉ dùng những bản văn Kinh Thánh để cầu nguyện mà thôi.

Các bản văn Kinh Thánh được đề nghị:

·        Chúa Phục Sinh hiện ra với chị Maria Magdala (Ga 20:11-18);

·        Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ và trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);

·        Chúa Phục Sinh đổi đời hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35);

·        Chúa Phục Sinh củng cố đức tin của Thomas (Ga 20:24-29);

·        Chúa Phục Sinh chăm sóc các tông đồ bên bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);

·        Cứng ḷng và ngoan cố trước biến cố Đức Giêsu Phục Sinh (Mt 28:11-15);

·        Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:6-11);

·        Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20);

·        Chúa Phục Sinh hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);

·        Thánh Thần sẽ làm chứng về Ta (Ga 15:26-16:15);

·        Thánh Thần tỏ hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-41);

·        Nhân danh đức Giêsu Nadarét, anh hăy đứng dậy mà đi (Cv 3:1-26);

·        Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh trước chính quyền (Cv 1-22);

·        Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tôi coi tất cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).

3. Gợi ư cầu nguyện về Chúa Phục Sinh

94. Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ và cho chị Maria Magdala

Khung cảnh

Khung cảnh mồ nơi táng xác đức Giêsu, và nơi đức Maria ở trong những ngày này.

Ơn xin

Xin tin thật đức Giêsu đă phục sinh, cũng như niềm hân hoan vui mừng thực sự, được biểu lộ trong cung cách thái độ sống và cả trên gương mặt.

Điểm

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi. Xem thiên tính trong biến cố thương khó đă có vẻ như ẩn, nay tỏ hiện vinh quang như thế nào!

1.Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho đức Maria

Tâm t́nh của đức Maria là ǵ khi thấy đức Giêsu thân h́nh tiều tụy dưới ách thập tự giá? Mẹ suy nghĩ ǵ khi đứng dưới chân thập giá, nh́n con ḿnh chết thê thảm như vậy?

Lời Thiên Chúa phán cùng Mẹ trong biến cố thiên thần truyền tin, liệu c̣n có thể được thực hiện không? Phải chăng Thiên Chúa đă quên lời nói của Ngài? Đức Maria ngoài nỗi đau khổ và thất vọng khi thấy Con của ḿnh là người công chính phải chết, c̣n cảm thấy cám dỗ "về đức tin" đối với Thiên Chúa! Phải chăng Thiên Chúa không trung thành?

"Phúc cho em là kẻ đă tin rằng Lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện" (Lc 1:45). Những ư tưởng và t́nh cảm đó, chỉ là cám dỗ đối với đức Maria, Ngài không bao giờ ưng thuận với những điều đó.

Có lẽ đức Maria luôn cầu nguyện với Thiên Chúa! Mẹ tin rằng chắc chắn Lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ được thực hiện, nhưng Mẹ không biết Lời Chúa phán cùng Mẹ sẽ được thực hiện bằng cách nào đây? Cám dỗ liên lỉ về đức tin vào Thiên Chúa! Chỉ khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ, Mẹ mới thấy Lời Chúa phán cùng Mẹ nơi biến cố thiên thần truyền tin mới được thực hiện hoàn toàn.[49]

Nh́n nghe quan sát Mẹ, thấy Mẹ âu sầu như thế nào trước khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ; và khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho Mẹ, Mẹ vui mừng hân hoan như thế nào!

2.Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala (Ga 20:1-18)

Nếu ai không tin Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ, th́ có thể chiêm niệm Chúa Phục Sinh hiện ra cho chị Maria Magdala.

Nh́n nghe quan sát chị Maria Magdala trước biến cố Chúa Phục Sinh hiện ra cho chị. Tại sao chị lại ra mồ sớm như vậy? Tại sao chị lại buồn đến độ như vậy? C̣n khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho chị, chị vui mừng hân hoan như thế nào?

T́nh yêu của chị đối với đức Giêsu Phục Sinh, đă được đức Giêsu Phục Sinh đáp trả khi hiện ra cho chị.

Tâm sự

Thân thưa với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Ngài cho chúng ta tin vào Ngài, để chúng ta cũng được vui mừng và hân hoan, hạnh phúc trong suốt cuộc sống.

101. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ

Khung cảnh

Như thể ḿnh đang hiện diện tại nơi các tông đồ ở trong ngày Chúa Giêsu được chôn táng; xem nơi chốn đó như thế nào, và bài trí ra sao.

Ơn xin

Xin ơn có được niềm vui và hân hoan v́ Chúa đă phục sinh; ước ǵ niềm hoan lạc này mănh liệt đến độ được bày tỏ nơi cả thân xác.

Điểm

1. Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười tông đồ (Ga 20:19-24)

Kể từ khi đức Giêsu bị bắt, và đặc biệt sau khi Ngài bị giết chết, các tông đồ hoang mang, kinh hoàng và thất vọng tột cùng. Chúng ta hăy nh́n nghe quan sát các tông đồ:

·        dáng điệu mệt mỏi chán chường;

·        những tiếng thở dài ảo năo;

·        chán nản cùng cực, như thể tuyệt vọng.

Các tông đồ không tin lời chị Maria Magdala nói với họ rằng, chị đă được gặp Chúa Phục Sinh (Mc 16:9-13). Tuy đă ba lần đức Giêsu báo cho các tông đồ hay rằng Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ, và sẽ bị giết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại, thế nhưng khi Ngài phục sinh và hiện ra cho các chị phụ nữ, và các chị này về loan tin cho các ông, nhưng các ông cũng chẳng tin.

Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ, các ngài vui mừng và hân hoan như thế nào? Tưởng chừng như tuyệt vọng, niềm hy vọng trông cậy như sống lại! Hăy xem các tông đồ hân hoan vui mừng như thế nào?

2. Chúa Phục Sinh hiện ra cho mười một tông đồ (Ga 20:25-29)

Khi Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, ông Thomas không có mặt. Khi ông trở về, các tông đồ khác đă "loan tin mừng Chúa Phục Sinh" cho ông, nhưng ông không tin.

Tại sao Thomas cứng ḷng tin như vậy?

Làm sao tin được một người đă chết sống lại? Nếu Thầy đă sống lại, th́ hiện tại Thầy đang ở đâu? Các tông đồ, và kể cả các chị phụ nữ không thể chỉ chỗ ở hiện tại của đức Giêsu, và đó là lư do Thomas không tin vào các chị phụ nữ và cả các tông đồ nữa. Nếu Thầy đă phục sinh, tôi sẽ tới gặp Thầy! Nhưng Thomas đâu có biết rằng đức Giêsu bây giờ đâu có như xưa, đâu có bị các định luật vật lư chi phối!

Nguyên thời gian cả một tuần, đức Giêsu Phục Sinh ở đâu, mà Thomas không thấy? Ngài có biết những suy nghĩ và thái độ của Thomas không?

Thời gian Chúa Phục Sinh chưa hiện ra cho Thomas, tâm t́nh và thái độ của Thomas như thế nào? Hoang mang, chán nản! Thái độ của các tông đồ như thế nào khi Thomas cứng ḷng không tin những ǵ các ngài nói với ông?

Thái độ của Thomas phản ánh thái độ của con người tự nhận là "khoa học" ngày nay: đ̣i kiểm chứng thực nghiệm mới tin. Nhưng nếu kiểm chứng được th́ đâu cần phải tin nữa!? Thái độ cứng tin của Thomas ngày xưa, giúp con người ngày nay có thể trả lời dễ dàng lập trường phê b́nh: "các tông đồ hoang tưởng nên tin rằng Ngài đă phục sinh" "tin Đức Giêsu phục sinh là hành vi hoang tưởng tập thể;” bởi v́ như tin mừng cho thấy thánh Thomas không dễ dàng tin Chúa đă phục sinh. Tám ngày sau Thomas mới tin Chúa Phục Sinh, và không phải do nghe nói nhưng là do chính kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh của Thomas.

V́ yêu, Thiên Chúa đă thua sự ngoan cố của con người. Ngài phải cho Thomas có kinh nghiệm gặp gỡ Ngài, để Thomas có thể làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

Nh́n nghe quan sát xem Thomas được biến đổi như thế nào khi được gặp gỡ Chúa Phục Sinh?

3. Tôi có thực sự tin Chúa đă phục sinh không

Tôi có thực sự tin Chúa Giêsu Phục Sinh không? Hay tôi mới chỉ nói là tôi tin Ngài đă phục sinh mà thôi, c̣n tận thâm sâu th́ tôi lại không tin?

Nếu tôi tin Chúa Giêsu thực sự đă phục sinh, th́ tôi đă thực sự hân hoan vui mừng trong suốt đời tôi! Nếu tôi tin Chúa đă phục sinh, và nếu tôi tin Ngài là Thiên Chúa thực, th́ tôi đă biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng, và như vậy tôi đă dám phó thác đời tôi cho Thiên Chúa!

Tâm sự

Thân thưa với Chúa Phục Sinh như tôi thấy nơi ḷng ḿnh.

102. Chúa Phục Sinh được siêu tôn

Khung cảnh

Như thể ḿnh đang hiện diện tại núi cây dầu cùng với các tông đồ trong biến cố đức Giêsu được nhắc lên trời.

Ơn xin

Xin ơn tin Chúa đă phục sinh thực sự; tin Chúa Phục Sinh là Thiên Chúa; tin Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

Điểm

1. Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời[50] (Cv 1:1-11)

Nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi mầu nhiệm đức Giêsu Phục Sinh thăng thiên tại núi cây dầu.

Suốt bốn mươi ngày, Ngài đă dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các tông đồ thấy rằng Ngài vẫn sống sau khi chịu khổ h́nh (Cv 1:3). Và sau đó, Ngài đă dẫn các tông đồ ra nơi gọi là núi cây dầu, và lên trời trước mắt các ông.

2. Chúa Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa

Để tin đức Giêsu đă phục sinh, không tuyệt đối cần nhờ các tông đồ, nếu người đó tin vào "các chị phụ nữ được Chúa Phục Sinh hiện ra cho;” thế nhưng để tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, thiết yếu phải nhờ các tông đồ, v́ các tông đồ là những người tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa[51] đầu tiên!

Tại sao các tông đồ là những người biết đức Giêsu là Thiên Chúa đầu tiên, chứ không phải ai khác, như đức Maria chẳng hạn?

Nếu đức Maria biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa, chắc Mẹ dễ dàng thưa tiếng “xin vâng" với Thiên Chúa qua sứ thần, và phải chăng như vậy, "ai thưa mà chẳng được?.” Nếu đức Maria biết rơ đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ có lẽ Mẹ dễ chấp nhận hài nhi được sinh ra trong hang chiên cừu hơn, và chắc Mẹ và thánh Giuse đă không đau khổ nhiều trong biến cố đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:48), và chắc Mẹ cũng chẳng đau khổ ǵ trong biến cố đức Giêsu chịu khổ h́nh, và như vậy Mẹ đâu xứng đáng với tước hiệu "Nữ Vương các thánh tử đạo.” Và nếu như vậy, Thiên Chúa Nhập Thể đâu có hoàn toàn giống con người, v́ Ngài vẫn được đối xử đặc biệt và không như tôi!

Tại sao các tông đồ biết đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa?

Trong suốt ba năm theo Thầy, các tông đồ đă được nghe nhiều điều mà những người khác, kể cả đức Maria cũng không được nghe, chẳng hạn:

·        "Tội của ngươi đă được tha" (Mc 2:7);

·        "Trước khi có Abraham, đă có Ta" (Ga 8:56-58);

·        "Ta và Cha Ta là một" (Ga 10:30);

·        "Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Quyền Năng mà đến trên mây trời" (Mc 14:62).

V́ những lời nói trên, biệt phái và kư lục muốn giết đức Giêsu hay ném đá Ngài, v́ đó là "lời phạm thượng:” "là người mà dám cho ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa;” nhưng sau khi Chúa Phục Sinh, nhờ các lời đó, các tông đồ nhận ra đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, v́ nếu Ngài gian dối, th́ Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài! Và nếu Thiên Chúa đă phục sinh Ngài từ cơi chết, hàm chứa những ǵ Ngài nói là chân thực, tức Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa.

3. Hệ qủa thực tại "đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa"

Nếu đức Giêsu không là Thiên Chúa, việc đức Giêsu được phục sinh có liên quan ǵ đến tôi? Tôi được ǵ khi Ngài được phục sinh từ cơi chết?

C̣n nếu đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, th́ tôi biết Thiên Chúa yêu thương con người, yêu thương tôi vô cùng. V́ nếu Thiên Chúa không yêu thương con người th́ tại sao Thiên Chúa lại nhập thể làm người như vậy, tại sao Thiên Chúa Nhập Thể phải nghèo hèn, phải sinh trong hang chiên cừu, phải sống làm nghề thợ mộc, phải chết thê thảm như vậy?

Nếu đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, tôi biết Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Và nếu Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n sợ ǵ nữa bây giờ? "Nếu Thiên Chúa pḥ tôi, ai có thể chống lại tôi?" (Rm 8:31). "Ai có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa?" (Rm 8:35-39). Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi có thể sống b́nh an, tin tưởng ḿnh sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu với Người.

Tâm sự

Thân thưa với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Ngài củng cố đức tin của tôi vào Chúa Giêsu Phục Sinh và vào Thiên Chúa, để tôi hân hoan sống b́nh an hạnh phúc trong t́nh yêu của Ngài.

 

103. Thánh Thần tỏ hiện quyền năng

Khung cảnh

Như thể hiện diện nơi các tông đồ hội họp với nhau ngày lễ năm mươi, và thấy những lưỡi như thể là lửa trên đầu các tông đồ.

Ơn xin

Tin thật Thánh Thần là Thiên Chúa; xin Chúa Thánh Thần biến đổi con người ḿnh thành con người mới như Ngài đă biến đổi các tông đồ xưa.

Điểm

1. Thánh Thần tỏ hiện quyền năng (Cv 2:1-17.32tt)

Nh́n nghe quan sát các tông đồ trước và sau biến cố Chúa Phục Sinh, trước và sau biến cố Thánh Thần tỏ hiện quyền năng: từ buồn sầu thất vọng chán nản đến tin tưởng hân hoan vui mừng.

Buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Phục Sinh đă hiện ra cho các tông đồ. Trong biến cố hiện ra lần đầu này, Chúa Phục Sinh đă thổi hơi ban Thánh Thần cho các tông đồ (Ga 20:22). Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà các tông đồ đă nhận biết đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.

Mười ngày sau biến cố Chúa Thăng Thiên, Thánh Thần đă tỏ hiện quyền năng của Ngài trong ngày lễ Ngũ Tuần. Thánh Thần đă biến đổi các tông đồ, làm cho các ngài can đảm đứng ra làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh. Cũng chính Thánh Thần làm cho người ta tuôn đến nghe các tông đồ rao giảng, và cũng chính Thánh Thần làm cho người ta tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, và làm cho người ta nhận lănh phép rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô.

2. Thánh Thần là Thiên Chúa

Các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa khi nào?

Sau khi nhận biết Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, các tông đồ nhớ lại rằng, khi c̣n sống tại thế, đức Giêsu đă có nhiều lần đề cập tới một vị, được gọi "Đấng Bầu Chữa" khác. Vị này cũng có nguồn gốc nơi Thiên Chúa, là Thánh Thần, Đấng được Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu ban cho các tông đồ (Ga 14:16.26; 15:26); Thánh Thần sẽ ở luôn với các tông đồ và sẽ dạy các tông đồ mọi sự (Ga 14:16; 16:13), sẽ làm chứng cho đức Giêsu (Ga 15:26).

Nhờ Thánh Thần, các tông đồ nhận biết đức Giêsu là Thiên Chúa. Và một khi nhận biết đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa, cùng với ơn trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa dựa vào những lời đức Giêsu đă nói với các tông đồ khi Ngài c̣n sống với các ông.

3. Thánh Thần luôn hoạt động trong Hội Thánh

Thánh Thần được sai tới để ở măi với các tông đồ và ở với những kẻ nhờ lời các tông đồ mà tin vào đức Giêsu (Ga 17:20).

Nhờ Thánh Thần, các tông đồ tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa; cũng chính nhờ Thánh Thần mà các tông đồ can đảm rao giảng tuyên xưng đức Giêsu Phục Sinh. Không chỉ thế, Chúa Thánh Thần vẫn luôn hoạt động trong suốt ḍng lịch sử và trong Hội Thánh, làm con người tin nhận đức Giêsu đă phục sinh và tin đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa. "Không ai có thể tuyên xưng đức Giêsu là Chúa mà không bởi Thánh Thần" (1Cr 12:3). Thánh Thần luôn tác động trong tâm hồn mỗi người, giúp mỗi người phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh em, giúp con người trở về với Thiên Chúa.

Tâm sự

Thân thưa với Thánh Thần, Đấng luôn bầu chữa và thánh hóa chúng ta, làm chúng ta luôn thuộc trọn về Thiên Chúa và về anh em; Xin cho ḿnh luôn sống thân thiết với Ngài và luôn lắng nghe lời Ngài dạy dỗ chúng ta.


H. CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU

Đây là bài cầu nguyện cuối cùng trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô.

1. Mục đích yêu cầu

“Xin ơn nhận biết thâm sâu về tất cả ơn lành ḿnh đă lănh nhận, để rồi một khi đă nhận ra th́ ḿnh có thể yêu mến và phụng sự Chúa Chí Tôn trong mọi sự” (LT 233).

Làm sao để cảm nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh trong từng giây phút của cuộc sống, để rồi ḿnh yêu lại Chúa và phục vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc, đó là mục đích của bài cầu nguyện này.

2. Xin Chúa làm cho con yêu Chúa

Yêu là trao tặng người yêu những ǵ ḿnh có (LT 231). Nếu Thiên Chúa đă tặng ban cho chúng ta tất cả, ngay cả những ǵ qúy nhất với Ngài là Chúa Con và Chúa Thánh Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?

Với “kinh dâng hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta dâng tất cả cho Thiên Chúa, và chỉ xin Ngài một điều duy nhất “XIN LÀM CHO CON YÊU CHÚA, và ơn đó là đủ cho con” (LT 234).

3. Bài cầu nguyện kết thúc

104. Chiêm niệm để được t́nh yêu

Dựa vào sách Linh Thao để cầu nguyện bài chiêm niệm để được t́nh yêu này (LT 230-237).

1. Nhớ lại những ơn lành ḿnh đă lănh nhận, và một khi nhận biết sâu xa về bao ơn lành Chúa đă ban cho tôi, tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên Chúa đối với tôi bây giờ? Nếu v́ yêu Thiên Chúa đă cho tôi tất cả, th́ tôi phải dâng ǵ để đáp trả t́nh yêu?

Theo lẽ công bằng, tôi phải dâng tất cả con người tôi cho Chúa, và tôi chỉ xin Chúa duy một điều: "làm cho con yêu Chúa, thế là đủ cho con.”

2. Xem Chúa hiện hữu trong các tạo vật theo mức độ: nơi đất đá, nơi thực vật, nơi động vật, và một cách rất đặc biệt nơi con người. Con người là h́nh ảnh của Thiên Chúa, là đền thờ của Ngôi Ba và cũng là đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nếu v́ yêu tôi, Thiên Chúa đă hiện diện nơi tôi cách đặc biệt như thế, tôi phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?

3. Thiên Chúa đang quan pḥng ǵn giữ các tạo vật như quà tặng cho tôi, để phục vụ tôi. Như thể một người vun xới một cây để nó nở hoa, và người đó lấy bông hoa đó làm qùa tặng cho người yêu, th́ Thiên Chúa cũng làm tương tự đối với tôi như vậy.

Nếu Thiên Chúa đối xử với tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp trả lại t́nh yêu của Ngài đây?

4. Nh́n vào chính con người tôi, để nhận ra những nét hay nét đẹp nơi tôi, để rồi nhận ra đó là những qùa tặng Thiên Chúa ban cho tôi, để rồi tôi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Nếu tất cả những nét hay nét đẹp mà tôi có đó, là qùa tặng Thiên Chúa ban cho tôi, th́ tại sao tôi lại vênh vang về điều đó và coi thường anh chị em tôi khi họ không có được như tôi?

Xin tạ ơn Chúa. Xin cho con luôn khiêm tốn để nhận biết con người thực của con, để con luôn tôn trọng Thiên Chúa và anh em con, ngơ hầu con được b́nh an và hạnh phúc hơn.

 

 


ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO

Một bận tâm của người làm Linh Thao “đạt kết qủa” là, làm sao để duy tŕ và phát triển ơn Linh Thao?

Đây là một bận tâm rất chính đáng!

Linh Thao không là kết thúc hay điểm cực đại của đời sống thiêng liêng, nhưng nó là khởi đầu của một giai đoạn sống mới thân thiết hơn với Chúa và quảng đại hơn với anh chị em.

Nguyên tắc tổng quát: mỗi ngày tiếp tục làm điều đă tập trong thời gian Linh Thao. Một cách cụ thể, luôn sống với ư thức Chúa đang hiện diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, chấp nhận mọi biến cố xảy tới với ḿnh trong niềm tin “Thiên Chúa có thể làm nó thành tốt đối với ḿnh,” hy sinh liên lỉ nhất là giữ ǵn ngũ quan để luôn kết hiệp với Chúa.

1. Luôn sống đời sống thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh

Tâm t́nh của Thánh Vịnh 139 (138): Thiên Chúa luôn yêu thương và nh́n xem săn sóc ḿnh. Chúa Giêsu dạy: “Chúa Cha và Ngài luôn ở với chúng ta” và “Thánh Thần luôn ở với chúng ta” (Ga 14:23.16). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta v́ Ngài yêu thương ta. Chúng ta cần ư thức rơ điều này, để luôn sống với tâm t́nh Thiên Chúa luôn hiện diện với ḿnh.

Nếu Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, chúng ta đâu c̣n cô đơn nữa; cho dù tất cả có bỏ chúng ta th́ Thiên Chúa vẫn không bao giờ bỏ chúng ta: Người luôn yêu thương chúng ta.

Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta c̣n sợ ǵ nữa? Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta không cảm thấy yên tâm và hạnh phúc sao?

Sống tâm t́nh Chúa luôn hiện diện, là đă khởi đầu giờ cầu nguyện liên lỉ.

2. Vui nhận Ư Chúa làm ư ḿnh

Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta mỗi ngày bằng nhiều h́nh thức khác nhau: qua lương tâm, những ǵ lư trí nhận thấy qua những biến cố, ngay cả những biến cố trái ư ḿnh, lời nói của người này người kia, trang sách này tập vở kia. Như vậy, chúng ta phải lắng nghe Chúa qua mọi dấu chỉ trong cuộc sống, trong từng biến cố của cuộc sống thường ngày.

Lắng nghe và thực hiện Ư Chúa, chấp nhận và lấy Ư Chúa làm ư ḿnh, đó là kết hiệp với Thiên Chúa trong hành động.

Giờ cầu nguyện chính thức là cao điểm của giờ cầu nguyện liên lỉ suốt này; kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện là cao điểm của tiến tŕnh kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày.

3. Hy sinh hăm ḿnh liên lỉ

Từ bỏ ḿnh liên lỉ, quảng đại với Chúa, sẽ giúp ḿnh dễ dàng cầu nguyện hơn, dễ dàng gặp Thiên Chúa hơn.

Từ bỏ ḿnh, chấp nhận trái ư v́ ích lợi của tha nhân, giữ ǵn ngũ quan để luôn sống thân thiết với Thiên Chúa, luôn vâng phục thánh ư Chúa trong từng biến cố nhỏ, chọn Thiên Chúa trên hết, là dấu chỉ cho thấy ḿnh đang thuộc về Thiên Chúa.

Linh Thao chỉ là khởi đầu của một giai đoạn mới trong đời sống thiêng liêng. Xin Chúa giúp chúng ta quảng đại với Chúa, để chúng ta tăng trưởng mỗi ngày một hơn về đời sống thiết thân với Chúa, bằng:

·        ư thức liên lỉ Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với chúng ta,

·        sẵn sàng vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa,

·        từ bỏ ḿnh,

·        xét ḿnh và xét gẫm mỗi ngày.

 

CHO VINH DANH CHÚA HƠN

AMDG

AD MAJOREM DEI GLORIAM

 

 


THƯ MỤC

Barry, William A. & Connolly, William J. The Practice of Spiritual Direction. New York: Seabury, 1982. Bản dịch từ ấn bản lần hai năm 2009: Thực Hành Linh Hướng. Dịch giả: Trần Quốc Anh & Giang Trung Kiên. Sài G̣n: Tủ sách Linh Đạo I-nhă, 2013.

Fleming, David L., S.J. Ed. The Christian Ministry of Spiritual Direction. 2nd Ed. St Louis, MO: Review for Religious, 1996.

Gallagher, Timothy M., O.M.V. The Discernment of Spirits. New York: Crossroad books, 2005.

Gallagher, Timothy M., O.M.V. Spiritual Consolation. New York: Crossroad, 2007.

Gallagher, Timothy M., O.M.V. A Handbook for Spiritual Directors. New York: Crossroad, 2017

Gioan Phaolô II. Pastores Dabo Vobis. Vatican: Vatican Press, 1992.

Houdek, Frank J., S.J. Guided by the Spirit: A Jesuit Perspective on Spiritual Direction. Chicago: Loyola Press, 1996.

Phạm Thanh Liêm, S.J. Linh Thao Trong Cuộc Sống. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1984

Phạm Thanh Liêm, S.J. Bạn Đồng Hành. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1997

Phạm Thanh Liêm, S.J. Hiện Tại Mới Quan Trọng. Sài G̣n: Lưu hành nội bộ, 1995

Thánh Bộ Giáo Sĩ. Linh Mục, Thừa Tác Viên của Ḷng Thương Xót: tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh hướng. Vatican: Vatican Press, 2011. Bản dịch của Phêrô Đặng Xuân Thành. Hà Nội: Lưu hành nội bộ, 2012.

Toner, Jules J., S.J. Discernment of Spirits. St Louis, Missouri: Institute of Jesuit Sources, 1982.


 



[1] Ḍng Tên được thánh Inhaxiô Loyola, thánh Phanxicô Xavier, thánh Phêrô Favre và mấy bạn khác nhận định để thành lập vào mùa chay năm 1539, và được đức giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn bằng trọng sắc Regimini ngày 27.09.1540.

Ḍng này được gọi là Ḍng Tên v́ cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) thuộc Ḍng Tên, và các bạn thừa sai khác cũng thuộc Ḍng Tên, đă thích nghi cách gọi Ḍng theo nền văn hóa dân tộc Việt Nam khi các Ngài tới truyền giáo ở Việt Nam. Sát nghĩa th́ Ḍng này phải được gọi là Ḍng Giêsu (Societas Iesu, Society of Jesus, Compagnie de Jésus), nhưng v́ người Việt Nam không có thói quen gọi tên tục một người đáng kính, nên các cha thừa sai “Việt Nam hóa” tự giới thiệu họ là những người thuộc Ḍng Tên.

Các thừa sai Ḍng Tên tới Việt Nam vào năm 1615, c̣n cha Đắc Lộ tới miền Nam Việt Nam vào ngày 27.12.1624 (Xem Lm. Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền Giáo ở Việt Nam, q.1: Các cha thừa sai Ḍng Tên 1615-1665, HIiện Tại 1959, trang 92.94).

 

[2]Nếu không có điều này, th́ đây là cuộc tĩnh tâm hay cấm pḥng “ít người” chứ không phải là Linh Thao. Linh Thao là cuộc tĩnh tâm có hướng dẫn theo phương pháp của thánh Inhaxiô.

Khi nói như vậy, người viết không hề có ư muốn nói: “cuộc tĩnh tâm đó không có nhiều ích lợi,” và cũng không hề có tư tưởng đánh gía thấp các cuộc tĩnh tâm đó một chút nào. Cuộc tĩnh tâm đó có thể rất tốt.

[3]Linh hướng là một nghệ thuật, một nghệ thuật vượt các nghệ thuật (l’art des arts). Xem Joseph Stierli, SJ, L’art de la direction spirituelle, trong L’accompagnement spirituel, tạp chí CHRISTUS số 153 hors série, Paris 1992, trang 39.

[4] Tự ḿnh và do ḿnh: tự do ḿnh.

[5] Quan niệm dân gian Việt Nam cũng không đồng ư quan điểm này, v́ “Đức nhân thắng số.” Một người ăn ở có đức có thể đổi được “số mạng.” Mà nếu có thể đổi số mạng, th́ không c̣n là tất định nữa! Quan niệm “Đức nhân thắng số,” là quan niệm đúng đắn, bảo vệ tự do của con người.

[6] Có người nghĩ rằng nếu Thiên Chúa biết rơ con người sẽ chống lại Ngài th́ con người đâu c̣n tự do nữa! Trước vấn nạn này chúng ta cần xác định rơ: Thiên Chúa muốn, Thiên Chúa biết, nhưng con người vẫn tự do. “Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4): Thiên Chúa không muốn con người phạm tội nhưng con người vẫn có thể phạm tội v́ con người tự do. Thiên Chúa toàn năng toàn tri, nhưng con người vẫn tự do. Hai mệnh đề trên không mâu thuẫn nhau!

[7] “Lạy Thiên Chúa, sao Ngài nỡ bỏ con?” (Mc 15:34)

“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46).

[8] “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn măi”( Ga 14:16).

[9] “Yêu là cùng nh́n về một hướng”

T́nh yêu bao hàm t́nh bạn: vợ chồng gọi nhau là “bạn đời.”

[10] Các bước gợi ư cho một lần cầu nguyện:

1.    Sau khi đă chọn địa điểm tốt nhất để cầu nguyện như ḿnh thấy, đến chỗ đó, và ư thức ḿnh hiện diện trước Thiên Chúa Ba Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).

2.    Xin Chúa Cha ban Thánh Thần của Chúa Giêsu Phục Sinh cho ḿnh, để Ngài thanh tẩy ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ những vướng bận đặc biệt trong giờ cầu nguyện này, và xin Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa.

3.    Đặt khung cảnh (v́ thân phận con người, chúng ta đến với Thiên Chúa qua những ǵ hữu h́nh).

4.    Ơn xin (Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn xin; Thao viên cần khao khát điều này trước khi xin).

5.    Điểm

6.    Tâm sự với Chúa (Sau mỗi điểm, chúng ta nên tâm sự với Chúa, chứ không nhất thiết phải chờ đến cuối giờ cầu nguyện, v́ các điểm gợi ư chỉ là phương tiện giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự cùng sống hạnh phúc với Chúa ).

[11] Gợi ư giúp xét gẫm:

1. Tôi được ǵ trong giờ cầu nguyện vừa qua?

B́nh an? Thư thái hạnh phúc? Sốt sắng? Được đánh động ở điểm ǵ nhất? Được ơn ǵ đặc biệt?

2. Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện không?

3. Nguyên do làm tôi không hài ḷng lắm với giờ cầu nguyện?

·        Bị chia trí? Chia trí về điều ǵ? Nó có phản ánh một vướng bận hay quyến luyến lệch lạc của tôi không?

·        Thiếu quảng đại? Do thiếu t́nh yêu?

·        Mất b́nh an? Dấu chỉ có trục trặc cần sửa chính ḿnh?

4. Tâm sự với Chúa dựa vào những ơn ḿnh nhận được hay do những lỗi lầm ḿnh mắc phải.

[12] Giờ cầu nguyện không tốt, tốt, hay tốt lắm, là đánh giá chủ quan hay khách quan của người cầu nguyện hay của người hướng dẫn.

[13] Gợi ư giúp xét ḿnh:

1. Ư thức ḿnh hiện diện trước nhan Chúa và kính cẩn chào Chúa

2. Xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để Ngài giúp ḿnh ...

3. Ơn lành

·        Xin ơn nhận ra những ơn lành ḿnh đă nhận lănh từ lần xét ḿnh lần trước cho tới bây giờ

·        Xét ḿnh để nhận ra những ơn lành đă lănh nhận

·        Tạ ơn Chúa

4. Lỗi lầm

·        Xin ơn để nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm

·        Xét ḿnh để nhận ra lỗi lầm của ḿnh từ lần xét ḿnh lần trước cho tới bây giờ

·        Ăn năn thống hối xin lỗi Chúa

5. Tâm sự thân thưa với Chúa dựa vào những ơn lành ḿnh đă nhận và những lỗi lầm khuyết điểm ḿnh đă phạm.

[14] Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn xin, có thể coi như yêu cầu của bài cầu nguyện.

[15] Nếu tôi là một tu sĩ, th́ tôi đă t́m kiếm điều ǵ

trước khi tôi đi tu?
khi tôi mới bắt đầu đi tu?
sau khi tôi đi tu một thời gian?

[16] Thực ra, tội không thuộc bản tính con người. Con người có thể không phạm tội. Phạm tội hay không là tùy tự do mỗi người.

[17] “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 33:11).

“Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4).

[18] Cũng xảy ra trường hợp có veû được an ủi, nhưng không phải là an ủi thực; trường hợp này là do ác quỷ giả dạng thần lành để đánh lừa người ta (2Cr 11:14), làm người ta đi theo đường của nó, nhưng nếu theo nó, người ta sẽ cảm thấy bất an bối rối, v́ không đi trên con đường Thiên Chúa muốn (LT 332-333).

[19] Hỏa ngục ở đây muốn chỉ t́nh trạng đau khổ bất hạnh hơn là một cái ngục đầy lửa, v́ thiên thần th́ thiêng liêng; và nếu muốn hiểu hỏa ngục là một ngục đầy lửa, th́ cũng phải hiểu hỏa ngục “thiêng liêng” trong trường hợp dành cho ác quỷ này.

[20] Nếu không là tu sĩ, th́ bỏ bài này.

[21] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.

[22] Xem ghi chú của FranVois Courel, sj, trong Saint Ignace de Loyola, Exercices Spirituels, Desclée de Brouwer 1960, p.65 note 2.

[23] Tuy vậy cần lưu ư về t́nh trạng biếng lười của ḿnh; có người không muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ cầu nguyện.

Cũng có bài cầu nguyện cần dùng tất cả số điểm được cho, như trường hợp bài cầu nguyện về “Tội tôi” (LT 55 tt).

[24] Khao khát nên thánh, là hành vi đă được lư trí tự do hướng dẫn.

[25] Với tác động của Thiên Chúa, tự do của con người luôn được bảo toàn.

“Xin thánh ... làm cho người em con trở lại.” Thánh... không thể làm được điều này nếu “em con” không đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm được mà người “em con” vẫn hoàn toàn tự do.

[26] Có thế, chúng ta mới hiểu tại sao đức Giêsu ở lại Giêrusalem từ sáng mà chiều tối đức Maria và thánh Giuse mới nhận ra.

[27] trừ Chúa và Mẹ.

[28] Có thể gọi là núi so với mặt biển, nhưng nếu ḿnh đang ở trên núi, th́ nó lại là đồi.

[29] Không vị lợi, có cái nh́n trưởng thành về đời sống gia đ́nh và dâng hiến, không bị quyến luyến lệch lạc chi phối.

[30] Lấy con người cảm tính của ḿnh làm tiêu chuẩn chọn lựa.

[31] Như vậy không nên lạm dụng cách chọn lựa theo thánh Inhaxiô, như thể cứ làm theo cách thức đó, th́ đă là làm việc lựa chọn đúng đắn!

[32] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm lựa chọn, th́ cuộc chọn lựa đó không được coi là cuộc chọn lựa có giá trị.

[33] Ở một nghĩa nào đó, không quyết định cũng là quyết định, không chọn lựa cũng là chọn lựa.

Nếu không thấy rơ th́ đừng quyết định. Cụ thể, trong trường hợp lựa chọn bậc sống, nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc sống khác, th́ cứ sống trong bậc sống ḿnh đang sống.

[34] Điều này không muốn nói rằng người đó không bị đau khổ hoặc thập giá trong cuộc sống.

[35] Đương nhiên phải hiểu là nếu chúng ta vẫn quảng đại với Chúa: vẫn luôn kết hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống, vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.

Nếu sau chọn lựa mà chúng ta cầu nguyện dở hơn trước dù chúng ta vẫn quảng đại với Chúa như trước, th́ phải t́m nguyên do, cũng có thể tại ḿnh chọn điều Chúa không muốn.

[36] Xin nghèo là từ bỏ những ǵ ngoài ḿnh; xin sỉ nhục khinh chê là từ bỏ chính ḿnh. Nhiều người có thể xin được nghèo nhưng không dám xin được sỉ nhục với Chúa.

[37] như trong hội họa và điêu khắc.

[38] ư niệm, tiếng Hy Lạp là eidos: h́nh ảnh.

[39] Xem LT 327

[40] Ban đầu đức Giêsu không muốn làm phép lạ v́ Ngài nghĩ rằng “không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó,” nhưng khi Ngài thấy đức tin của chị ta- mà đức tin là hồng ân của Thiên Chúa- dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa muốn, th́ Ngài đă cho chị ta được như chị ta xin.

[41] Ở đây luôn hiểu là tội cố t́nh.

[42] Có thể nói: “sao cũng được;” nhưng, người như vậy không có nghĩa là người “ba phải.”

[43] Ở đây hiểu là dấu chỉ “khách quan” đối với đương sự. Dấu chỉ khách quan này có thể rất chủ quan.

[44] Như thể Chúa Cha cũng bỏ Ngài (Mc 15:34).

[45] Trừ Mẹ và Chúa.

[46] Chỉ có thể nói như vậy, khi dùng kiểu nói nhân h́nh và b́nh dân.

[47] Nếu ai đó tin lời chị Maria Magdala (Yn.20:18), th́ biết đức Giêsu đă sống lại, mà không cần nhờ lời chứng của các tông đồ.

[48] Chính v́ thế, Hội Thánh Công Giáo tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” “Hội Thánh được xây trên nền tảng các tông đồ,” dĩ nhiên khi nói như vậy, vẫn phải hiểu: Hội Thánh có nền tảng là chính Thiên Chúa.

[49] Chính v́ vậy, Mẹ rất cần được đức Giêsu Phục Sinh hiện ra cho Mẹ.

[50] Tại sao đức Giêsu cần ra núi cây dầu để lên trời? Phải chăng ở trong nhà Ngài không thể lên trời được? Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, đâu cần lên trời để ngự bên hữu Thiên Chúa? Hơn nữa, Thiên Chúa đâu có phải có trái như chúng ta, vậy tại sao lại "lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa?”

Câu cuối cùng của Tin Mừng theo thánh Matthêu chúng ta đọc thấy: "này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20), và trong Mt 18:18: "nơi nào có hai hay ba người họp nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở giữa họ,” như vậy phải chăng đức Giêsu không lên trời? Thực ra chỉ có hai tin mừng Luca và Maccô mới nói Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời, c̣n hai tin mừng Matthêu và Gioan th́ không thấy nói tới.

Như vậy phải chăng "lên trời" hay "thăng thiên" là cách nói, muốn diễn tả sự thực “đức Giêsu được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa, đức Giêsu là Thiên Chúa?”

[51] Chính v́ vậy mà Hội Thánh tuyên xưng: "tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Trong sách Phụng Vụ Các Giờ Kinh, ngày lễ các thánh tông đồ, Hội Thánh dạy: Hội Thánh được xây trên nền móng 12 tông đồ. Có lẽ, nếu nhờ đức Maria hoặc các chị phụ nữ mà Hội Thánh tin Chúa Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa (hiểu như là những người nhờ đó mà đức tin được loan truyền, v́ họ biết đầu tiên), th́ Hội Thánh đă phải tuyên xưng "Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và 'đức Mẹ truyền' hoặc 'phụ nữ truyền',” chứ không phải là tông truyền như chúng ta vẫn tuyên xưng.

 

 

 

 

HOME    LỜI CHÚA    ĐỨC TIN    LINH ĐẠO    THẦN HỌC    ĐỜI SỐNG     IN ENGLISH    VỀ TÁC GI

Sách Linh Thao     T Thuật Của Thánh Inhaxiô     Phân Định Thiêng Liêng     Đồng Hành Thiêng Liêng     Như Thấy Đấng Vô H́nh      Hiện Tại Mới Quan Trọng     Để T Do  Hạnh Phúc Hơn     Bạn Đường Của Người Làm Linh Thao      Linh Thao Mười Ngày     Linh Thao Trong Cuộc Sống      Đặc Sủng Ḍng Tên