HOME LỜI
CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
ÂN SỦNG VÀ BIỂU TƯỢNG
Giuse
Phạm Thanh Liêm, S.J.
PHẦN
I: ƠN CỨU ĐỘ CHO NGƯỜI NGOÀI KITÔ GIÁO
c). “Ngoài Giáo Hội không có ơn
cứu độ”
b). Người ngoài kitô giáo
được cứu độ (Vatican II)
c). Tương quan giữa ân
sủng và tự nhiên
PHẦN
II: ÂN SỦNG CỨU ĐỘ QUA BIỂU TƯỢNG TRONG
CÁC TÔN GIÁO
A. CƠ CẤU CON NGƯỜI
Đ̉I DẤU CHỈ
B. ĐỨC YÊU: DẤU CHỈ
CỨU ĐỘ NGUỒN
b). Đức Yêsu- bí tích nguyên
thủy nguồn
a). Giáo Hội- dấu chỉ
Đức Yêsu hiện diện
b). Giáo Hội- dấu chỉ t́nh yêu
Thiên Chúa
D. ÂN SỦNG QUA BIỂU TƯỢNG
NGOÀI KITÔ GIÁO
b). Biểu tượng- ngôn ngữ
tôn giáo
Ân sủng cứu độ qua
biểu tượng trong các tôn giáo
PHẦN
III: TƯƠNG QUAN GIỮA CÔNG GIÁO VÀ TÔN GIÁO KHÔNG KITÔ
b). Qua việc thờ phượng
trong tôn giáo
B. BÍ TÍCH CÔNG GIÁO VÀ BIỂU
TƯỢNG TÔN GIÁO KHÔNG KITÔ
a). Đặc tính của bí tích Công
Giáo
b). Biểu tượng ban ân
sủng nơi tôn giáo không kitô
Thay
lời kết: BIỂU TƯỢNG, ÂN SỦNG VÀ THÁNH
THẦN
AG Ad
Gentes. Sắc lệnh Truyền giáo của Công Đồng
Vatican II.
Art Articulus Bài
Art.
Cit. Articulo
citato Bài đă
dẫn
AUG Augustinô
DS DENZINGER-SCHONMETZER,
Enchiridion Symbolorum Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum,
HERDER MCMLXIII
Ep Epistula Thư
ET K.
Rahner, Ecrits Théologiques
FV Coll.
FOI VIVANTE
Ibid. Ibidem Cùng
vậy
LG Lumen
Gentium Hiến Chế Giáo Hội
NAe Nostra
Aetate. Tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II về liên
lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô
op.
cit. Opere
citato Sách
đă dẫn
p
(pp) Trang
(các trang)
PG J.
P. MIGNE, Patrologiae cursus completus, Series graeca, PARISIIS 1857 seq.
PL J.
P. MIGNE, Patrologiae cursus completus, Series prima Latina, PARISIIS 1844 sqq.
R ROUET
DE JOURNEL, Enchiridion patristicum, HERDER MCMLXV
ST St.
Thomas, Summa Theologiae
Kư hiệu Kinh Thánh dùng
theo bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Một số trích
đoạn Kinh Thánh theo bản dịch của cha Nguyễn
Thế Thuấn (D̉NG CHÚA CỨU THẾ, 1976) và một số
trích đoạn theo bản dịch của Các Giờ Kinh
Phụng Vụ.
Kư hiệu của Công
Đồng Vatican II dùng theo bản tiếng Latin.
Ai trong chúng ta cũng
biết đại đa số dân tộc châu Á sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô, như trong Ấn-độ giáo,
Phật giáo, Khổng giáo, Lăo giáo, Cao đài, Hồi giáo.
Trước sự kiện này, những Kitô hữu bản
xứ có tâm huyết và đặc biệt những nhà
truyền giáo trong vùng, thường bận tâm đặt
vấn đề về:
· phần rỗi của người sống trong tôn
giáo ngoài Kitô,
· giá trị cứu độ của các tôn giáo ngoài Kitô
này.
Công Đồng Vatican II
trong tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô, đă khuyến khích
Kitô hữu đối thoại[1] với tín đồ các tôn giáo ngoài Kitô (NAe
2). Công Đồng cũng minh nhiên nh́n nhận nơi tôn giáo
ngoài Kitô có những điều chân thật và thánh thiện
(NAe 2).
Những người
sống trong các tôn giáo ngoài Kitô có được cứu
độ không?
Nếu được
th́ những người này được cứu
độ qua phương tiện ǵ? Các tôn giáo ngoài Kitô có là
phương tiện Thiên Chúa dùng cứu độ con
người không?
Phải chăng các tôn
giáo ngoài Kitô có những “biểu tượng” Thiên Chúa dùng
để ban ân sủng cứu độ?
Trong tinh thần vâng
phục Giáo Hội, nhiều ḍng tu khuyến khích các thành
viên ḍng hội nhập văn hóa, nhằm loan báo tin mừng
Đức Giêsu một cách có kết quả hơn;[2] sở dĩ vậy v́ con
người dễ đón nhận chân lư được
diễn tả qua nền văn hóa dân tộc ḿnh hơn.
Tác phẩm này là một
cố gắng đáp trả lời mời gọi của
Giáo Hội, nhằm đóng góp một viên đá trong công
cuộc đối thoại tôn giáo, giúp cho việc loan báo
tin mừng Đức Giêsu được dễ chấp
nhận hơn nhờ loan báo Tin Mừng qua những
biểu tượng và ngôn ngữ thích hợp với dân
tộc được truyền giáo. Đây cũng là
một nỗ lực nhằm đưa ra cách giải thích
về ơn cứu độ cho người sống trong
các tôn giáo ngoài Kitô. Vấn đề này c̣n đang
được các nhà thần học tranh căi.[3] Trong tâm t́nh kính mến cùng vâng phục Chúa
Giêsu Kitô và Huấn Quyền Giáo Hội, tác giả hoàn toàn
vâng phục tất cả những ǵ Giáo Hội phán dạy
về vấn đề này.
Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ
Thiên Chúa có ban ân sủng
cứu độ cho những người ngoài Kitô giáo không?[4] Nếu Thiên Chúa ban ân
sủng cứu độ cho những người ngoài Kitô
giáo, đặc biệt với những người
sống trong tôn giáo ngoài Kitô, th́ Ngài ban ân sủng cứu
độ cho họ qua phương tiện ǵ?
Đó là những vấn
đề gây bận tâm nhiều đối với các nhà
truyền giáo và những Kitô hữu của những
nước có nền văn hóa cổ kính mà phần đông
dân tộc họ sống trong các tôn giáo ngoài Kitô!
Để trả
lời hai vấn đề nêu trên,
· đầu tiên sẽ xét vấn đề ân sủng
cứu độ cho Kitô hữu và cả cho người
ngoài Kitô giáo;
· kế đó cho thấy Thiên Chúa ban ân sủng cứu
độ qua biểu tượng Kitô giáo: Đức Giêsu
là bí tích nguồn và Giáo Hội là bí tích phổ quát;
· sau đó cho thấy Thiên Chúa ban ân sủng cứu
độ qua biểu tượng tôn giáo ngoài Kitô;
· và cuối cùng sẽ bàn đến tương quan
giữa biểu tượng nơi Công giáo và nơi tôn giáo
ngoài Kitô, cụ thể tương quan giữa bí tích công
giáo và biểu tượng qua đó ơn sủng
được ban trong các tôn giáo ngoài Kitô.
Được giải
thoát khỏi mọi đau khổ buồn phiền,
được hạnh phúc vĩnh cửu, là điều
mọi người đều ao ước.[5]
Kitô hữu tin rằng:
con người được Thiên Chúa tạo dựng
để thông chia hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên
Chúa; nhưng con người đă phản loạn từ
chối t́nh yêu Thiên Chúa và sự sống thần linh, do
đó con người đă sống đau khổ cả
thể xác lẫn tinh thần; để lại
được sống hạnh phúc với Thiên Chúa, con
người cần được Thiên Chúa thứ tha
tội lỗi.
Như vậy, hạnh
phúc đích thực không hoàn toàn tùy thuộc
tầm tay của con người!
Sau khi phạm tội
phản nghịch chống lại Thiên Chúa, con người
c̣n có thể làm những điều tốt lành không?
a. Hoàn toàn do con người
(Pélage)
Pélage (350-420)
người gốc Bretagne đă sống ở Rôma cuối
thế kỷ IV và sống ở Palestin vào đầu
thế kỷ V, là đan sĩ. Pélage và những
người chia sẻ lập trường của ông cho
rằng: Adam được tạo dựng như chúng ta
hiện tại, nghĩa là khả tử ngay cả trường
hợp Adam không phạm tội. Tội của Adam chỉ
làm hại, ảnh hưởng trên Adam thôi chứ không trên
con cháu, nghĩa là chúng ta chết là chuyện “tự nhiên”
chứ không phải tại tội nguyên tổ Adam.[6]
Con người- ngay
cả sau khi Adam phạm tội- có khả năng làm lành
lánh dữ mà không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Nếu phải nói tới ân sủng th́ đó là chính
hồng ân tự nhiên, sự tự do chọn lựa,
luật luân lư, gương mẫu của Đức Kitô,
giáo lư của Ngài qua sự tha thứ tội lỗi.[7] Ân sủng là chung cho hết
mọi lương dân cũng như cho Kitô hữu, cho
người đạo đức cũng như cho
người bất chính.[8] Nếu phải nói ân sủng đặc
biệt cho Kitô hữu, th́ đó là lời giảng dạy
của Đức Kitô mà thôi.[9]
ii.
Không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa
Pélage chủ
trương con người có khả năng tránh tội và
giữ các giới răn của Thiên Chúa mà không cần
sự trợ giúp đặc biệt ǵ của Thiên Chúa ngoài
những hồng ân tự nhiên là tạo dựng, ư chí
tự do, lương tâm. Như vậy, được
cứu độ hay không là do con người hoàn toàn, do con
người có muốn hay không, không cần sự trợ
giúp hay ân sủng của Thiên Chúa. Nói theo E. Portalié, hệ
thống của Pélage đặt nền trên sự
độc lập tuyệt đối của tự do
cũng như quyền năng vô hạn của tự do
để làm lành lánh dữ.[10] Như vậy có thể nói, cứu
độ không là một ơn, nhưng là do tôi có muốn
hay không mà thôi!
Thánh Augustin (354-430)
giải quyết vấn đề ơn cứu độ
của con người bằng phạm trù chỉ thực
tại “nguyên tội” và “ân sủng tiền định.”
Thiên Chúa không tạo
dựng con người trong t́nh trạng khả tử
như chúng ta thấy hiện nay; chết là hậu quả
của tội; Adam và con cháu ông chết bởi v́ Adam đă
phạm tội![11] Sau khi Adam sa ngă, tất cả con
người làm thành một tập thể bị kết án,[12] nghĩa là tất cả
đều ở trong t́nh trạng khả tử,[13] ư chí tự do bị suy
yếu,[14] và tất cả
đều ở trong t́nh trạng tội lỗi.[15]
Nói tóm lại, sau khi Adam
phạm tội, cả ông lẫn con cháu ông đều
đáng và phải bị kết án, nghĩa là không
được tham dự sự sống với Thiên Chúa nữa!
Con người cần được Thiên Chúa cứu
độ th́ mới được hạnh phúc vĩnh
cửu!
Nếu tất cả
đều đă phạm tội nơi Adam, th́ ai
được cứu độ?
Theo thánh Augustin, nếu
cứ theo lẽ công bằng th́ tất cả đều
phải sa hỏa ngục,[16] nhưng Thiên Chúa là Đấng hay
thương xót, nên từ đời đời Ngài đă
quyết định cứu một số người
được chọn khỏi hố thẳm bằng ân
sủng;[17] c̣n những ngựi khác
tự kết án ḿnh khi bỏ Thiên Chúa.[18]
Số người
được tuyển chọn đă được xác
định,[19] không phải cứ là Kitô
hữu th́ được cứu độ[20] dù rằng đức tin là hồng ân
của Thiên Chúa.[21] Đối với những người
đă được tiền định, họ có thể
lầm lạc trong một thời gian nào đó, nhưng
không bao giờ lầm lạc lúc cuối đời.[22] Việc bền đỗ
đến cùng này là một hồng ân mà con người
không đáng được, nhưng con người có
thể nhận được nhờ lời cầu
nguyện.[23] Không ai trong chúng ta biết
ai được cứu ai không được cứu, v́
điều này không thuộc thẩm quyền của chúng
ta; điều chắc là việc này rất công b́nh và chân
thực chứ không do một quyền năng mù quáng và tùy
tiện.[24]
Augustin cũng cho
rằng ân sủng không được ban cho hết tất
cả mọi người, v́ nếu vậy ân sủng không
c̣n tính nhưng không nữa.[25] Việc tiền định của Thiên
Chúa cho người này được cứu độ
không hàm chứa việc tiền định kết án
người khác, nhưng đơn thuần là họ không
được chọn.[26]
Với nhăn quan về
ơn cứu độ như được tŕnh bày ở
trên, thánh Augustin kết luận: tất cả công tŕnh
của dân ngoại là tội;[27] v́ ư chí tự do bị nô lệ tội
không thể làm ǵ khác hơn sự dữ.[28] Ngay những trẻ em (chưa chịu
phép rửa) phải chịu đau khổ mà chết
cũng không được cứu độ, tuy nhiên các em
đó cũng không bị kết án, mà có chỗ riêng.[29] Sở dĩ thánh nhân
lập luận như vậy v́ Ngài cho rằng, trên nguyên
tắc dân ngoại thiếu ân sủng v́ không nhận
biết Đức Kitô!
Tuy vậy cũng
thấy thánh Augustin khẳng định: có những hành
động tốt nơi dân ngoại;[30] Ngài khẳng định điều này
ngay cả trong cuộc bút chiến với Pélage. Augustin
cũng không cho rằng tất cả điều tội
nhân Kitô giáo làm đều xấu.[31]
Khách quan mà nói, nhăn quan
của Augustin về ơn cứu độ dành cho dân
ngoại là bi quan!
Trước hai lập
trường trái ngược nhau của Pélage và Augustin, Giáo
hội có thái độ rơ ràng qua công đồng địa
phương ở Carthage năm 418, và công đồng này
đă được Giáo Hoàng Zosimus phê chuẩn.
Công Đồng khẳng
định:
· sự hiện hữu của tội nguyên tổ
nơi con người hiện tại, nên trẻ em mới
sinh cũng cần chịu phép rửa tội (DS 223);
· Adam chết là v́ tội (DS 222);
· ân sủng không những tha thứ tội lỗi
để con người được công chính mà c̣n giúp
con người tránh tội nữa (DS 225).
Công Đồng cũng
kết án:
· những người cho rằng ân sủng giúp con
người tránh tội chỉ theo nghĩa giúp con
người hiểu các giới răn mà ḿnh phải tránh
chứ không giúp chúng ta yêu và thực hành (DS 226);
· những người cho rằng ân sủng chỉ giúp
chúng ta tránh tội được dễ dàng, c̣n nếu ân
sủng không được ban th́ chúng ta cũng có thể
giữ các giới răn được tuy rằng không
dễ dàng (DS 227).[32]
Với những
điều này, chúng ta thấy Giáo Hội đă chấp
nhận phần lớn lập trường của Augustin:
dùng phạm trù “tội nguyên tổ” và “ân sủng” để
hiểu vấn đề ơn cứu độ. Cứu
độ là một ơn Thiên Chúa ban cho con người
với sự ưng thuận của con người,
chứ không phải chỉ nằm trong ư chí tự do
của con người.
Công Đồng không
giải quyết vấn đề dân ngoại có
được cứu độ hay không!
Khi người ta
đọc thư của Augustin gởi cho phó tế Sixte
(sẽ làm giáo hoàng năm 432) tại tu viện Hadrumète, các
tu sĩ cho rằng nếu vậy th́ không thể bảo
vệ ân sủng mà không phủ nhận tự do.[33]
Nếu ân sủng
của Thiên Chúa có thể thay đổi ḷng người,
tại sao Thiên Chúa không ban ân sủng cho tất cả
mọi người để họ yêu Chúa và tránh khỏi
bị kết án? Nếu ân sủng của Thiên Chúa có
khả năng biến đổi con người, và
nếu từ đời đời Thiên Chúa đă tuyển
chọn ai đó, th́ làm sao họ c̣n tự do?[34]
Thánh Augustin nhấn
mạnh rất nhiều về sự siêu việt của
Thiên Chúa. Thiên Chúa ở trong chúng ta là nguồn của
tất cả hữu thể, tất cả chân lư và mọi
sự tốt lành.[35] Tất cả những sự tốt lành
đều từ Thiên Chúa, c̣n từ con người chỉ
có dối trá và tội lỗi.[36] Thánh nhân nhấn mạnh đến
sự siêu việt của Thiên Chúa đến độ, có
chỗ người ta tưởng ngài cho rằng con
người không c̣n tự do nữa sau khi Adam phạm
tội.[37] Thực ra Augustin cho
rằng ân sủng Thiên Chúa ban, không hủy diệt nhưng
trái lại đă làm kiên vững ư chí tự do.[38] Hơn nữa Thiên Chúa không đ̣i con
người làm điều ǵ quá sức con người,
Ngài muốn con người làm điều ḿnh có thể làm
và xin điều ḿnh không có thể.[39]
Với Augustin, Thiên Chúa
toàn năng có thể ban ân sủng cho những người
được tiền định, để họ
được cứu độ; nhưng đồng
thời, cũng theo thánh Augustin, con người vẫn hoàn
toàn tự do. Sau khi Adam phạm tội, con người
bị nô lệ tội nhưng vẫn c̣n ư chí tự do
lựa chọn. Tự do đối với Augustin là yêu
mến sự thiện, hài ḷng và thỏa măn trong sự công
chính, là t́nh trạng yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự.[40]
Nơi Thiên Chúa chỉ là
hiện tại, không có cái gọi là quá khứ hay
tương lai, chính v́ thế việc tiền định
người này được cứu độ hay
người kia phải kết án không làm mất tự do
của con người.[41]
b. Con người khởi
đầu, Thiên Chúa trợ giúp (Semi-Pélagianisme)
Phản ứng lại
quan niệm nhấn mạnh tính siêu việt của ân
sủng Thiên Chúa trên con người nơi thánh Augustin,
cũng như để bảo vệ sự tự do
của con người mà họ lầm tưởng rằng
thánh Augustin cho rằng đă bị mất bởi nguyên
tội, những tu sĩ tại Marseille chủ
trương:
· đức tin và những việc làm tốt,
được con người khởi đầu với ư
chí tự do của ḿnh,
· rồi Thiên Chúa mới trợ giúp bằng ân sủng
của Ngài sau.
Quan niệm này
được các nhà tranh luận ở thế kỷ XVI
gọi là Semi-pélagianisme. Những người tiêu biểu
cho quan niệm Semi-pélagianisme này là Vicent de Lérins, Fauste giám
mục tại Riez; c̣n những người bảo vệ
lập trường của Augustin là Prosper d'Aquitaine, Hilaire,
Fulgence giám mục tại Ruspe và Césaire tổng giám mục
tại Arles.[42]
Césaire, tổng giám
mục tại Arles đă họp với 13 giám mục khác
trong một công đồng địa phương tại
Orange (529) và đă đưa ra 25 qui phạm đức tin.
Công Đồng này đă được Đức Giáo Hoàng
Bonifacius II phê chuẩn năm 531.
Công Đồng vẫn
lấy lại quan điểm của Augustin cho rằng:
· con người chẳng có thể làm ǵ tốt
độc lập với Thiên Chúa;
· nếu con người có làm điều ǵ tốt, th́
chính Thiên Chúa đă làm điều tốt đó nơi con
người;[43]
· khả năng nghe và đáp trả lời Chúa, sự
chuyển biến từ vô tín đến đức tin,
cũng đều là ân sủng của Thiên Chúa, đều
nhờ Thiên Chúa qua Thánh Thần của Ngài.[44]
Như vậy chúng ta
thấy công đồng không đồng quan niệm với
những tu sĩ tại Marseille cho rằng ư chí tự do con
người đi trước ân sủng của Thiên Chúa.
Công Đồng không thấy nơi lập trường
của Augustin có sự đối nghịch giữa tự
do và ân sủng, giữa tự do và tiền định
được cứu độ!
3. “Ngoài Giáo Hội không
có ơn cứu độ”
Con người
được cứu độ nhờ Đức Giêsu qua
Giáo Hội.
“Ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ.[45]” Mệnh đề này đă được
thánh Cyprianus khẳng định, và trong ḍng lịch sử
đă trở thành khẳng định truyền thống
của Giáo Hội Công Giáo. Vấn đề
được đặt ra là: những người không
là Kitô hữu, và ngay cả những Kitô hữu không
thuộc Giáo Hội Công Giáo có được cứu
độ không?
Khi khẳng định
“ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ,” thánh
Cyprianus cũng như giáo quyền không phải là không
biết:
· Adam đă được cứu độ v́
được tha thứ tội lỗi (St 3; Kn 10:1);
· Abel dâng lễ tế làm đẹp ḷng Thiên Chúa (St 4:4);
· Henok được Thiên Chúa cất đi v́ đă
bước đi với Thiên Chúa (St 5:24);
· Noe đă được ân nghĩa trước
mặt Thiên Chúa, ông là người công chính (St 6:8-10), và
đă được Thiên Chúa cứu khỏi bị tiêu
diệt, cùng kư giao ước với ông và ḍng dơi loài
người (St 6-9);
· Menchisedek được coi là tư tế của Thiên
Chúa tối cao (St 14:18tt);
· Balaam là tiên tri của dân ngoại nhưng đă
được Thiên Chúa dùng để chúc phúc cho dân Ngài (Ds
22-24).
Những người
được nêu trên không là Kitô hữu, không thuộc
về dân tộc Do Thái, nhưng họ đă sống trong ân
nghĩa của Thiên Chúa, nghĩa là, họ được
cứu độ.
Thánh Cyprianus cũng
như giáo quyền biết rơ khẳng định trong Tân
ước: “Thiên Chúa muốn cho mọi người
được cứu và được nhận biết
chân lư” (1Tm 2:4). “Hăy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin
Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin cùng chịu thanh
tẩy th́ sẽ được cứu thoát, c̣n ai không tin
sẽ bị án phạt” (Mc 16:15tt).
B. ƠN CỨU ĐỘ CHO
NGƯỜI NGOÀI KITÔ GIÁO
Chúng ta phải hiểu
mệnh đề “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu
độ” như thế nào?
“Ngoài Giáo Hội,”
phải chăng là những người không
được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo?
Khoảng năm 525, Fulgence de Ruspe cũng đă nói: “không nên
nghi ngờ rằng không chỉ những lương dân,
nhưng cả các người Do Thái, các người
lạc giáo và ly giáo chết ngoài Giáo Hội Công Giáo,
đều đi vào lửa vĩnh cửu đă chuẩn
bị sẵn cho quỷ dữ và các thần của nó.”[46] Trong qúa khứ phần
lớn người ta đă hiểu mệnh đề
“Salus extra Ecclesiam non est” theo nghĩa hẹp! Vậy phải
chăng Giáo Hội Công Giáo cho rằng mọi hành vi của
dân ngoại đều là tội như Augustin chủ
trương? Và như vậy phải chăng dân ngoại
không được cứu độ?
Không có ân sủng của
Thiên Chúa con người không thể làm ǵ tốt, liệu có
thể khẳng định “dân ngoại sống không có ân
sủng của Thiên Chúa” không?[47]
Vấn đề ơn
cứu độ của Kitô hữu lẫn của dân
ngoại, được thần học sau thời thánh
Augustin bàn đến. Vấn đề này liên hệ đến
những đề tài: nguyên tội, tự do và ân sủng,
tiền định, v.v. Chúng ta tiếp tục lược
sơ qua những vấn đề này trong ḍng lịch sử
để biết rơ quan điểm của Giáo Hội
về vấn đề ơn cứu độ cho dân
ngoại.
a. Con người tự ḿnh
có thể làm điều tốt (Abélard, +1142)
Vào thế kỷ XII,
Phêrô Abélard chủ trương “con người với ư chí
tự do đủ để làm điều tốt lành.” Ư
kiến này đă bị công đồng ở Sens và
Đức Giáo Hoàng Innocent II kết án năm 1140.[48]
Quá duy lư Abélard đă
rơi vào lầm lỗi của Pélage dù ông biết rơ
lập trường của Pélage đă bị Giáo Hội
kết án. Nguyên tội đối với chúng ta, theo Abélard,
chỉ là h́nh phạt chứ không là tội.[49]
Chúng ta nhận thấy
các lập trường đề cao ư chí tự do bị
Giáo Hội kết án đều hàm chứa ư con
người muốn độc lập với Thiên Chúa trong
việc thực hành điều tốt; nhưng không có ǵ
tốt lành ngoài Thiên Chúa; độc lập với Thiên Chúa
chỉ có tội ác!
b. Con người không thể
làm ǵ tốt sau nguyên tội (Luther, +1546)
Đầu thế
kỷ XVI, Luther và sau đó những người Tin lành
chủ trương:
· ư chí tự do con người đă bị hủy
hoại bởi nguyên tội,
· con người không thể làm ǵ tốt.[50]
Công Đồng Trentô
đă đưa ra giáo lư về nguyên tội, về công chính
hóa. Công Đồng giữ lập trường truyền
thống của Giáo Hội, và kết án những
người chủ trương rằng với công
việc bằng sức lực tự nhiên của con
người, hoặc bằng việc biết luật không
cần ân sủng, con người vẫn có thể
được công chính hóa trước mặt Thiên Chúa.[51] Đây là lập
trường của Giáo Hội Công Giáo chống lại giáo
lư của Pélage và của các tu sĩ tại Marseille ở
thế kỷ V-VI đề cao tự do của con người
cách tuyệt đối. Khi kết án những người
đề cao tự do như một quyền năng
tuyệt đối, Giáo Hội không có ư khẳng
định tự do con người bị hủy hoại
hoàn toàn hoặc không c̣n tự do nữa!
Công Đồng cũng
kết án những người cho rằng con người
không c̣n tự do trước ân sủng của Thiên Chúa,[52] nghĩa là con người
không thể cưỡng lại lời mời của Thiên
Chúa ngay cả khi con người không muốn. Qua lời
kết án này chúng ta thấy Giáo Hội chủ trương
con người có tự do chống lại Thiên Chúa và
từ chối ân sủng của Ngài, nếu con
người muốn.
Công Đồng cũng
kết án những người cho rằng con người
không c̣n tự do nữa kể từ khi Adam phạm
tội,[53] hoặc những
người chủ trương rằng Thiên Chúa không
chỉ làm điều tốt nơi con người
nhưng c̣n làm cả điều xấu nữa (không
chỉ cho phép nó xảy ra).[54] Qua lời kết án này, chúng ta thấy
công đồng muốn bảo vệ giáo lư truyền
thống về tiền định: Thiên Chúa không tiền
định ai xuống hỏa ngục, hiểu như Thiên
Chúa muốn họ xuống hỏa ngục!
Công Đồng cũng
kết án những người chủ trương rằng
trước khi được công chính hóa, mọi công
việc dù được làm bởi bất kỳ lư do nào
(của những người chưa được công
chính hóa này) đều là tội và bị Thiên Chúa tởm
gớm.[55] Lập trường này
mới thoạt nh́n tưởng như trái với lập
trường của thánh Augustin cho rằng mọi hành vi
của dân ngoại đều là tội! Nhưng chúng ta
phải hiểu lập trường của thánh Augustin
trong giả sử “dân ngoại không có ân sủng của
Thiên Chúa.” Nếu thật sự dân ngoại không có ân
sủng của Thiên Chúa th́ lời khẳng định
của thánh nhân đúng, nhưng thực tế không như vậy
v́ Thiên Chúa vẫn có thể ban và vẫn ban ân sủng cho
những người chưa được công chính hóa và
những người chưa tin Đức Giêsu.
c. Mọi công việc của
dân ngoại đều là tội (Baius, +1589)
Ba năm sau khi kết
thúc công đồng Trentô, tức là năm 1567, Đức
Giáo Hoàng Piô V đă kết án một số mệnh
đề của Baius (1513-1589) chủ trương sai lầm
về tự do của con người và những hành vi
của dân ngoại. Baius chủ trương:
· “Tất cả mọi công việc của dân ngoại
đều là tội và các nhân đức của hiền
nhân là lỗi lầm;”[56]
· “Tự do của con người, nếu không có sự
trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, không thể làm ǵ ngoài
tội.”[57]
Những mệnh
đề của Baius này giống những mệnh
đề của Augustin, nhưng bầu khí của thời
đại làm người ta hiểu khác!
Mỗi người
được cứu độ hay không là tùy thuộc Thiên
Chúa tiền định, nhưng phải chăng Thiên Chúa
không muốn mọi người được cứu
độ?
Dù Corneille Jansen (1585-1638)
giám mục giáo phận Ypres đă chết năm 1638
nhưng Đức Giáo Hoàng Innocent X vẫn kết án giáo lư
của Jansen[58] trong hiến chế Cum
Occasione ngày 31.05.1653.[59]
Những người
chủ trương theo giáo lư của Jansen đă gây xáo
trộn trong Giáo Hội, và Đức Giáo Hoàng Alexander VIII
đă kết án những sai lầm của phái này ngày 07.12.1690.
Phái Jansenisme chủ trương:
· Trong mọi công việc, lương dân đều
phạm tội (DS 2308);
· Tất cả những cái không bởi đức tin
Kitô siêu nhiên đều là tội (DS 2311).[60]
Năm 1713 Giáo Hoàng Clemens
XI kết án các mệnh đề của Paschasius Quesnel trong
hiến chế Unigenitus Dei Filius (DS 2400-2502). Về vấn
đề ơn cứu độ, Quesnel chủ
trương:
· Ân sủng không được ban ngoài Giáo hội (DS
2429);
· Ư muốn mà ân sủng không ưu thắng, không có ánh
sáng ǵ ngoài lầm lạc, không có sự hăng hái nào ngoài sa
ngă, không có sức mạnh nào ngoài làm tổn thương
chính ḿnh. Ư muốn có khả năng làm mọi sự dữ
nhưng không có khả năng làm sự lành nào (DS 2439).[61]
Nh́n chung, giáo lư về
ơn cứu độ của trường phái Jansénisme
rất bi quan. Họ chủ trương Thiên Chúa chỉ
cứu độ một số ít người, và Đức
Kitô cũng chỉ chết cho một số người
được chọn. Ân sủng không được ban
ngoài Giáo Hội, nghĩa là lương dân không có ân sủng,
và nếu không có ân sủng th́ ư chí tự do chỉ là nghiêng
chiều về sự tội, và như vậy không có ơn
cứu độ cho lương dân!
Về ân sủng cứu
độ cho những người ngoài Kitô giáo, Đức
Giáo Hoàng Piô IX trong Singulari quadam ngày 09.12.1854 nói: chúng ta
phải giữ đức tin cho rằng ngoài Giáo Hội
tông truyền Roma không có ai được cứu v́ chỉ
có một con tàu cứu độ mà bất cứ ai nếu
không vào th́ phải hư mất trong nước; nhưng
cũng chắc chắn rằng những người làm
việc dưới sự vô tri bất khả ngoài tôn giáo
chân thực, không có lỗi về vấn đề này
dưới con mắt của Chúa.[62]
Cuối thế kỷ
XVI và sang đầu thế kỷ XVII, vấn đề
ơn cứu độ được hàm chứa trong
vấn đề tiền định.
i.
Tiền định, ân sủng và tự do
Chỉ những ai
được tuyển chọn và được tiền
định mới được cứu độ.
Nhưng phải chăng
việc Thiên Chúa tiền định cho người này
được cứu độ người khác không
được cứu độ là hoàn toàn theo “sở thích”
của Thiên Chúa? Nếu đúng như vậy th́ c̣n đâu:
· “Thiên Chúa là Đấng nhân từ và muốn cho mọi
người được cứu độ” (x. 1Tm 2:4);
· Tự do của con người để chống
lại ư Chúa hoặc thuận theo ư Chúa.
Nếu Thiên Chúa nhân
từ và quyền năng vô cùng, th́:
· không có hỏa ngục trong trường hợp Ngài
tiền định tất cả được cứu
độ; nhưng như vậy dường như con
người chẳng c̣n tự do!
· chẳng có hỏa ngục nếu Thiên Chúa thực
sự nhân từ!
Nếu con người
có tự do để chống lại Thiên Chúa và từ
chối ân sủng của Ngài, th́ e rằng Thiên Chúa không toàn
năng và ân sủng của Ngài không kiến hiệu!
Giả sử như
Thiên Chúa toàn năng có thể biến đổi ḷng
người bằng ân sủng của Ngài, và giả sử
con người có tự do chống lại ân sủng
của Thiên Chúa hoặc thánh ư Chúa, th́ Thiên Chúa dựa vào
đâu để tiền định cho người này
được cứu độ, người khác không?
Phải chăng Thiên Chúa dựa vào công nghiệp của
mỗi người, hoặc dựa vào thái độ
của mỗi người đối với ân sủng
của Thiên Chúa mà tiền định?
· Có một lập trường cho rằng Thiên Chúa
tiền định dựa vào công nghiệp hoặc thái
độ của mỗi người đối với ân
sủng của Thiên Chúa được Ngài thấy
trước từ thuở đời đời.[63] Lập trường này
bảo vệ được sự tự do của
mọi người và sự hợp lư của việc Thiên
Chúa tiền định, nhưng không cho thấy Thiên Chúa
toàn năng qua ân sủng của Ngài!
· Một lập trường khác cho rằng Thiên Chúa
tiền định người này được cứu
độ người kia không, là hoàn toàn do ư muốn Thiên
Chúa chứ không do công trạng hoặc việc thấy
trước công trạng mỗi người.[64] Lập trường này đề cao
sự siêu việt và toàn năng của Thiên Chúa, nhưng
không cho thấy con người c̣n tự do.
iii.
Ân sủng đủ và ân sủng hữu hiệu
Để giải thích
con người có tự do cũng như quyền năng
của ân sủng Thiên Chúa, các thần học gia đă
tạo ra những “từ” mới, như: ân sủng
đủ (grâce suffisante), ân sủng hữu hiệu (grâce
efficace)! Hai từ ngữ biểu lộ hai lập
trường quan điểm khác nhau, một khởi từ
con người và một khởi từ Thiên Chúa! Cả hai
lập trường đều không sai nhưng bổ túc
cho nhau:[65] mỗi người
được cứu độ hay không tùy thuộc thánh ư
Thiên Chúa tiền định nhưng cũng tùy ở tự
do con người có chấp nhận ân sủng của Thiên
Chúa hay không.
2. Người ngoài Kitô
giáo được cứu độ (Vatican II)
Ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ. Đây là giáo lư truyền thống
của Giáo Hội Công Giáo, nhưng chúng ta không
được hiểu mệnh đề trên một cách tự
ư, mà phải theo giáo huấn của Giáo Hội.
Trong thư gởi
Tổng Giám mục Boston, Thánh Bộ với sự
đồng ư của Giáo Hoàng Piô XII, đă phủ nhận
lập trường cho rằng, những người không
Công giáo- trừ những người dự ṭng có ư rơ ràng
gia nhập Giáo Hội Công Giáo- không được ơn
cứu độ.[66]
Công Đồng Vatican II
trong hiến chế Giáo Hội (Lumen Gentium) số 16 đă
giải quyết dứt khoát và rơ ràng vấn đề
ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô
giáo:
“Sau cùng, những ai
chưa lănh nhận Phúc âm cũng được an bài
bằng nhiều cách để thuộc về dân Thiên Chúa.
Trước tiên phải kể dân tộc đă lănh lời
hứa và giao ước, mà bởi dân ấy, Chúa Kitô đă
sinh ra theo thể xác (x. Rm 9:5). Họ là dân rất
được yêu quư, bởi đă được
tuyển chọn v́ cha ông họ: Thiên Chúa đă không ân
hận ǵ v́ đă ban ơn và kêu gọi họ (x. Rm 11:28-29).
Nhưng kế hoạch cứu độ cũng c̣n bao hàm
những ai nhận biết Đấng Tạo Hóa: trước
tiên phải kể người Hồi giáo, họ xưng
rằng họ giữ đức tin của Abraham; cùng
với chúng ta họ thờ phượng Thiên Chúa duy
nhất, nhân từ, Đấng sẽ phán xét loài
người trong ngày sau hết. Và những kẻ đang
t́m kiếm Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng,
Thiên Chúa mà họ không biết, cả những kẻ
ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi v́ chính Ngài ban cho
mọi người sự sống, hơi thở và tất
cả mọi sự (x. Cv 17:25-28). Và v́ là Đấng
Cứu Thế Ngài muốn mọi người đều
được cứu rỗi (x. 1Tm 2:4). Thực vậy
những kẻ vô t́nh không nhận biết Phúc âm của Chúa
Kitô và Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm t́m
kiếm Thiên Chúa trong công việc ḿnh theo sự hướng
dẫn của lương tâm th́ họ có thể
được cứu rỗi. Cả những kẻ vô t́nh
chưa nhận biết Thiên Chúa cách rơ ràng, nhưng nhờ ơn
Chúa cố gắng sống đời chính trực, th́ Chúa
Quan Pḥng không từ chối ban ơn trợ giúp cần
thiết để họ được cứu rỗi.
Thực vậy Giáo Hội xem những ǵ là chân thiện
nơi ho, như để chuẩn bị họ lănh
nhận Phúc âm, và như một ân huệ mà Đấng soi
sáng mọi người ban cho hầu cuối cùng họ
được sống. Nhưng thường con
người bị ma quỷ gạt gẫm, làm sai lạc
phán đoán của ḿnh khiến họ đánh đổi
chân lư Thiên Chúa lấy sự giả dối, khiến họ
phụng sự tạo vật hơn là phụng sự
Đấng Tạo Hóa (x. Rm 1:21.25); hoặc v́ họ
sống chết như không có Thiên Chúa trên đời này, nên
liều ḿnh rơi vào sự thất vọng tột
độ. V́ hằng quan tâm làm vinh danh Thiên Chúa, và cứu
rỗi tất cả những người ấy và
hằng nhớ lời Chúa truyền: “Hăy rao giảng Phúc âm
cho mọi tạo vật” (Mc 16:15), nên Giáo Hội tận tâm
lo lắng và cổ vơ việc truyền giáo.”
Trong số
được trích dẫn trên của hiến chế
về Giáo Hội, Công Đồng có cái nh́n rất thoáng
về từ ngữ “thuộc về Giáo Hội:” không
những anh em ly khai mà cả những người sống
trong tôn giáo ngoài Kitô, những người vô thần[67] cũng có thể
được kể như “thuộc về Giáo Hội.”
Với quan niệm này của Công Đồng, thành ngữ
“ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” đă
được giải thích dứt khoát và mở ra cái nh́n
lạc quan về ơn cứu độ.
Có thể nói vấn
đề “ơn cứu độ cho những người
ngoài Kitô giáo” là vấn đề “ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ,” cho nên lịch sử thần
học về vấn đề ơn cứu độ cho
dân ngoại là lịch sử giải thích thành ngữ “ngoài
Giáo Hội không có ơn cứu độ.” Vấn
đề này liên hệ đến những vấn
đề ân sủng, tội nguyên tổ, và bí tích- xét
như những phương thế giao ḥa con người
với Thiên Chúa và xóa tội nguyên tổ cũng như
tội riêng.
Tín điều tội
nguyên tổ là một yếu tố giải thích thành
ngữ “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ.”
Nhưng phải chăng tất cả mọi người
chấp nhận nguyên tội đều có cái nh́n bi quan
về ơn cứu độ cho lương dân như
Fulgence de Ruspe, như Luther và phần lớn anh em Tin lành,
như C. Jansen và những người thuộc quan
điểm Jansénisme, và như Léonard Feeney ở thế
kỷ XX này? Lịch sử thần học cho thấy không
như vậy.
Theo thiển ư, có
nhiều sai lầm trong vấn đề này v́ người
ta đă đặt vấn đề không khéo. Người
ta thường đặt vấn đề: “Không có ân
sủng con người có thể làm ǵ?” “Không có ân sủng,
con người có thể làm những hành vi tốt
để được cứu độ không?” Dù
rằng đặt vấn đề như vậy
người ta vẫn có thể trả lời
được và vẫn có thể trả lời đúng,
nhưng thực tế có khi nào con người sống mà
không có ân sủng của Thiên Chúa đâu! Ngày nay các thần
học gia thường đặt vấn đề
“tương quan giữa ân sủng và tự nhiên” để
giải quyết vấn đề nguyên tội, nguyên
sủng, ân sủng, và vấn đề ơn cứu
độ cho những người ngoài Kitô giáo.
3. Tương quan
giữa ân sủng và tự nhiên
Thánh Augustin đă
từng chủ trương ân sủng không được
ban cho tất cả mọi người.[68] Nhưng nếu ân sủng không
được ban cho tất cả mọi người, th́
số phận của những người không có ân
sủng sẽ ra sao, đặc biệt những
người sống ngoài Kitô giáo?[69] Từ quan điểm này phát sinh vấn
đề: không có ân sủng người ta có thể làm ǵ
và không thể làm ǵ? Cách đặt vấn đề như
vậy tồn tại trong suốt ḍng lịch sử
thần học cho tới ngày nay.[70]
Cách đặt vấn
đề “không ân sủng con người có thể làm ǵ và
không thể làm ǵ” phản ánh quan niệm về con
người:
· Đầu tiên Thiên Chúa tạo dựng con người
trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên (pura natura);
· và rồi Ngài ban ân sủng cho con người: ân
sủng thánh hóa và các ơn ngoại nhiên;
· Adam và Eva phạm tội, con người mất ân
sủng thánh hóa và ơn sủng ngoại nhiên;
· con người ở trong t́nh trạng tội do
tội nguyên tổ.
Sau khi Adam phạm
tội, con người sống trong t́nh trạng không ân
sủng, nói cách khác, trong t́nh trạng “tự nhiên,” hay
đúng hơn t́nh trạng “tự nhiên sa đọa.” Để
có thể được cứu độ và có thể làm
những hành vi cứu rỗi, con người phải
sống trong t́nh trạng ân sủng được ban
lại nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô và chịu phép
rửa trong Giáo Hội Người. Đối với
những người không sống trong t́nh trạng ân
sủng, họ có được cứu độ không?
Họ có thể làm những hành vi cứu độ không?
Với nhăn quan này, ơn cứu độ của dân
ngoại thật mong manh và bi quan! Cái nh́n này đă tồn
tại lâu dài và ưu thắng trong lịch sử thần
học.
Thời Trung cổ, thánh
Bonaventura (1221-1274) đă đưa ra lư thuyết hai con
đường cứu độ: một qua bí tích và
một không qua bí tích, nhưng phần lớn được
áp dụng cho Kitô hữu.
Hồng y Nicola de Cusa
(1401-1464) cũng chủ trương những người
ngoại được cứu độ và những tôn
giáo ngoài Kitô cũng là những phương tiện Thiên Chúa
dùng để cứu độ dân ngoại.[71] Nhưng quan điểm này không ảnh
hưởng ngay trên nền thần học thời bấy
giờ.
Nói chung, quan điểm
“tự nhiên thuần túy- ân sủng thêm vào cho tự nhiên-
trở lại t́nh trạng tự nhiên không ân sủng”
đă ảnh hưởng quá sâu vào thần học kể
từ thánh Augustin, và đă chi phối quan niệm ơn
cứu độ cho lương dân. Quan điểm về
con người như trên khó cho ta cái nh́n đúng đắn
và chính xác về ơn cứu độ của những
người ngoài Kitô giáo.
Vào đầu thế
kỷ này Ripalda cho rằng, con người được
tạo dựng hướng về trật tự siêu nhiên, thế
nên mọi hành vi của con người đều có
thể mang ơn cứu độ hay đúng hơn
đều có tính cứu độ.[72]
Đặc biệt
với K. Rahner (1904-1984), cái nh́n nhân học của ngài giúp
hiểu rơ và hiểu chính xác hơn quan điểm của
Giáo Hội về ơn cứu độ cho những
người ngoài Kitô giáo. Karl Rahner lấy lại tư
tưởng của J. Maréchal cho rằng con người có
ước muốn tự nhiên hưởng kiến hạnh
phúc. Ước muốn này tuy bị điều kiện hóa
nhưng vẫn là một khao khát tuyệt đối.
Ước muốn hưởng kiến hạnh phúc này,
được gọi là tự nhiên v́ nếu con
người cố ư gạt bỏ nó, con người
sẽ không đạt được sự triển
nở toàn vẹn và hạnh phúc.[73]
Con người là
thể xác và tinh thần, là tinh thần nhập thể, là
hữu thể cho Thiên Chúa, nghĩa là con người có
khả năng đáp trả lời mời của Thiên
Chúa; và tùy mức độ con người đáp trả
lời mời gọi của Thiên Chúa con người
trở nên hoàn toàn hơn, hạnh phúc hơn, triển nở
trọn vẹn hơn. Hiểu như vậy, chương
tŕnh tạo dựng con người và tạo dựng con
người để con người được
hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa, là một
chương tŕnh liên tục nơi Thiên Chúa; không phải
đầu tiên con người được tạo
dựng trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên (pura natura),
sau đó mới được nâng lên t́nh trạng siêu nhiên
(surnatura). Thiên Chúa tạo dựng con người, là
để con người được hưởng
sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con
người giống h́nh ảnh Thiên Chúa ngay từ lúc
tạo dựng con người, chứ không phải Ngài
tạo dựng con người giống cái ǵ khác,
trước khi giống h́nh ảnh Thiên Chúa.
Khái niệm “thuần túy
tự nhiên” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVI sau
cuộc tranh luận với Baius. Nơi thánh Thomas
người ta cũng thấy tư tưởng cho rằng
Thiên Chúa có thể không ban tính bất tử, t́nh trạng an
b́nh và ơn hưởng kiến cho con người;
nhưng chỉ ở thế kỷ XVI người ta
mới nói một cách rơ ràng: trên nguyên tắc Thiên Chúa có
thể tạo dựng con người mà không cho con
người được hưởng kiến Thiên Chúa.[74]
Con người thuần
túy tự nhiên là một giả sử không có thực. Nói
theo P. Schoonenberg, cách nói “con người trong t́nh trạng
thuần túy tự nhiên,” chỉ cho thấy rơ tính nhưng
không của ân sủng, cũng tương tự như cách
nói “không ân sủng của Thiên Chúa con người có thể
làm ǵ?”[75] Con người hiện
tại luôn luôn sống trong lời mời gọi thông chia
sự sống với Thiên Chúa, không bao giờ con
người hiện tại sống trong t́nh trạng con
người thuần túy tự nhiên. Nhưng t́nh trạng
con người hiện tại cũng không “tự nhiên,” mà đă
là ân sủng, nghĩa là được ban “nhưng không” cho
con người. Khi nói con người ở trong t́nh
trạng thuần túy tự nhiên, hay trên nguyên tắc có
thể ở trong t́nh trạng thuần túy tự nhiên, cho
thấy “con người được gọi chia sẻ
sự sống của Thiên Chúa” là một hồng ân, chứ
không có nghĩa “Thiên Chúa phải ban sự sống vĩnh
cửu cho con người.”
Ân sủng là t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người
được biểu lộ qua việc:
· tạo dựng và mời gọi con người thông
chia sự sống của Thiên Chúa;
· ban những đặc ân cho con người trong
những hoàn cảnh cụ thể;
· tha thứ và giao ḥa khi con người phản bội;
· ban Con Một Ngài là Đức Giêsu cùng với Thánh
Thần, làm con người trở nên dễ thương,
dễ yêu và “đầy ơn phước.”
Nếu con người
được tạo dựng do t́nh yêu và cho t́nh yêu, th́ làm
ǵ có trường hợp một ai đó sống ngoài ân
sủng của Thiên Chúa? Như vậy, chúng ta không nên
đặt vấn đề “không có ân sủng, con
người có thể làm ǵ và không thể làm ǵ?” cũng
không nên nói “con người trong t́nh trạng thuần túy
tự nhiên” v́ thực tế không có như vậy; và
nếu chúng ta đề cập vấn đề như
vậy, chúng ta phải hiểu đây chỉ là giả
thiết; và khi đặt vấn đề như vậy,
chúng ta có ư làm nổi bật tính “nhưng không” của t́nh
yêu và ân sủng Thiên Chúa đối với con người.
Nếu con người
được tạo dựng v́ t́nh yêu và cho t́nh yêu,
nghĩa là để thông chia sự sống vĩnh cửu
với Thiên Chúa, để hưởng kiến Thiên Chúa- th́
ơn cứu độ là chuyện trong tầm tay của
mỗi người, v́ đó là điều Thiên Chúa
muốn: “Thiên Chúa muốn mọi người
được cứu và nhận biết chân lư” (1Tm 2:4).
Thiên Chúa muốn; và Ngài toàn năng cùng rất mực khôn
ngoan để thực hiện ư định và chương
tŕnh cứu độ của Ngài; nên nếu ai không từ
chối lời mời gọi của Ngài đều
được cứu độ. Hiểu như vậy,
ơn cứu độ được ban cho tất cả
mọi người kể cả những người
đang sống ngoài Kitô giáo, v́ thực sự họ vẫn
thuộc về Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô
một cách nào đó, nếu họ tin vào chân lư và thể
hiện niềm tin này bằng chính cuộc sống của
họ, khi họ sống cho chân lư, cho t́nh yêu.
Trong thần học
người ta phân biệt ân sủng bất tạo và ân
sủng thụ tạo; ân sủng thụ tạo lại
được phân ra thường sủng[76] và hiện sủng; hiện sủng c̣n
được phân ra ân sủng đủ, ân sủng
kiến hiệu, ân sủng trợ giúp, ân sủng chữa
trị v.v. Nhưng tất cả mọi ân sủng dù là ân
sủng này hay đặc sủng kia, ân sủng trợ giúp
hay chữa trị, ân sủng kiến hiệu hay
đủ, v.v., tất cả đều hướng
tới ơn cứu độ; nghĩa là làm cho chúng ta
được làm con Thiên Chúa, được sống trong
t́nh yêu của Thiên Chúa, được hạnh phúc vĩnh
cửu với Thiên Chúa.
Có thể nói lịch
sử đời người là lịch sử t́nh yêu và ân
sủng của Thiên Chúa đối với con người;
nói cách khác lịch sử mỗi người là lịch
sử Thiên Chúa cứu độ người đó. Mọi
biến cố xảy ra trong cuộc đời đều
là biến cố t́nh yêu, ân sủng, cứu độ.
Chỉ khi nào con người, dù là Kitô hữu hay
lương dân, cố t́nh từ khước t́nh yêu và ân
sủng của Thiên Chúa, con người mới bị
kết án mà thôi!
Thiên Chúa vui ḷng ban ân
sủng cứu độ cho tất cả mọi
người, kể cả những người không mang
danh Kitô hữu. Đây là chân lư đă được
lịch sử thần học soi sáng, các suy tư thần
học và huấn quyền Giáo Hội trong mọi thời
đại và đặc biệt trong thế kỷ XX
khẳng định. Vấn đề c̣n lại là: đâu
là phương tiện Thiên Chúa dùng để ban ân sủng
cứu độ cho những người sống không mang
danh Kitô hữu. Chúng ta sẽ bàn vấn đề này trong
những trang tiếp theo.
II. ÂN SỦNG
CỨU ĐỘ QUA BIỂU TƯỢNG TRONG CÁC TÔN GIÁO
Kitô hữu tin rằng
các bí tích Kitô giáo là phương tiện Thiên Chúa dùng ban ân
sủng công chính hóa, ân sủng cứu độ. Vậy
những người không sống trong Kitô giáo, qua
phương tiện nào họ nhận lănh ân sủng
cứu độ?
Trong phần này chúng ta
sẽ lần lượt đề cập đến:
· cơ cấu con người đ̣i dấu chỉ;
· Đức Giêsu dấu chỉ cứu độ
nguồn;
· Thiên Chúa dùng những dấu chỉ hay biểu
tượng trong các tôn giáo ngoại để ban ân sủng
cho những người sống trong các tôn giáo đó.
A. CƠ CẤU CON NGƯỜI
Đ̉I DẤU CHỈ
Con người chỉ
triển nở khi sống với tha nhân.
Trong tương giao
với người khác, con người diễn tả tâm
tư t́nh cảm, nguyện vọng, ao ước khao khát
của ḿnh cũng như của người khác qua trung
gian dấu chỉ. Mọi hành vi: nói, viết, vẽ,
điêu khắc, chơi âm nhạc, khiêu vũ, kịch câm,
nheo mắt, giơ tay, siết tay, cười, nh́n cách này
hay cách khác, và ngay cả thinh lặng, hoặc nghiêm nét
mặt, v.v., cũng đều diễn tả tâm tư t́nh
cảm, thái độ của con người.[77] Qua hành vi và cách thức diễn tả
của họ, chúng ta có thể hiểu về người
đó, về vũ trụ quan và cả về Thiên Chúa quan
của họ nữa.
Con người là tinh
thần nhập thể, là hồn và xác. Trong điều
kiện tại thế, không có thân xác, không thể là
người trọn vẹn. Để diễn tả con người
của ḿnh, con người phải diễn tả bằng
thân xác và qua “thân xác.” Trong ư nghĩa này, chúng ta có thể
nói: cơ cấu con người đ̣i dấu
chỉ. Tính “dấu chỉ” thuộc bản chất con
người tại thế, thuộc yếu tính, chứ
không chỉ là tùy phụ.
Con người là
hồn và xác. Con người tiếp xúc gặp gỡ tha
nhân qua những biểu lộ của thân xác: cử
chỉ, hành động. Ngay chính Thiên Chúa, Đấng
tạo nên con người, khi gặp gỡ con
người, cũng thường gặp gỡ họ qua
thân xác hoặc qua những dấu chỉ khả giác mà con
người có thể tiếp nhận được.[78] L. Monden nói rất mạnh:
“cái thiêng liêng chỉ có thể đến
với con người qua cái khả giác.”[79] Mọi tiếp xúc giữa Thiên Chúa và con
người được thực hiện nhờ các
biểu tượng. Biểu tượng giúp con
người vượt qua khoảng cách vô tận phân cách
cái hoàn toàn tinh thần và cái không bao giờ hoàn toàn rời
lănh vực khả giác.
Con người muốn
biết Thiên Chúa, muốn đạt đến Ngài bằng
lời cầu nguyện hay lễ vật, muốn loan báo
Ngài cho những người khác, v.v., con người luôn
luôn phải trở về với những h́nh ảnh
tương tự. C̣n chính Thiên Chúa th́ Ngài diễn tả
Ngài và làm cho con người nhận biết Ngài qua việc
tạo dựng và bằng chính tạo thành khả thụ
đối với giác quan.[80]
Với K. Rahner, con
người ngay trong cái thâm sâu nhất của những hành
vi thiêng liêng cũng luôn luôn hành xử như một hữu
thể là thân xác và linh hồn, đến độ
những hành vi thiêng liêng nhất cũng luôn luôn bén rễ
trong thân xác tính. Nói một cách thô thiển hơn, vẫn
theo ngôn từ của K. Rahner, ngay cả chuyển
động cao thượng nhất của t́nh yêu siêu nhiên
nhất đối với Thiên Chúa trong tận thâm sâu
của ngôi vị thiêng liêng cũng liên hệ với
tiến tŕnh điện vật lư của bộ năo.
Tiến tŕnh này thuộc lănh vực vật chất, mỗi
yếu tố đều phụ thuộc vào những
yếu tố khác và góp phần vào việc xác định
những yếu tố và biến chuyển ấy.[81] Như vậy, ân sủng
của Thiên Chúa cũng luôn luôn mang tính nhập thể.
Ân sủng là hành vi t́nh
yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Cũng như thân xác là hiện thể và cách thế
biểu lộ của linh hồn trong không gian và thời
gian và như vậy trong lịch sử, th́ ân sủng
cũng t́m thấy cách diễn tả thân xác tính trong mỗi
hành vi ân sủng. Hiểu như vậy tất cả ân
sủng siêu nhiên trong hiện thể đều có khía
cạnh nhập thể và lịch sử: chính trong khía
cạnh nhập thể và lịch sử này mà ân sủng làm
cho ḿnh hiện diện và tỏ lộ. Tóm lại ân
sủng có cơ cấu gần như bí tích trong trật
tự hiện tại.[82]
Đi thêm một
bước nữa, K. Rahner cho rằng, ân sủng và
đặc biệt ân sủng của Đức Kitô- xét
như cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con
người- mang cơ cấu xă hội, bởi v́ ân
sủng của Đức Kitô được mang xuống
cho toàn thể nhân loại xét như một cộng đoàn,
và nó đạt đến từng cá nhân xét như cá nhân là
phần tử của cộng đoàn, và nguời
được thánh hóa cùng người thánh hóa đều
từ một chủng tộc.[83]
Với cái nh́n tổng
quát chúng ta thấy rằng: ư kiến chung của các
thần học gia mọi thời đều cho rằng con
người cần dấu chỉ để diễn
đạt, lănh hội và tương giao với con người
và với cả thế giới vô h́nh nữa. Các ư kiến
này bắt nguồn từ kinh nghiệm sống và những
suy tư trên chính con người: con người là hồn
và xác. Chính Thiên Chúa- Đấng tạo dựng nên con
người là hồn và xác- khi Ngài tiếp xúc và thông
hiệp với con nguời, Ngài vẫn tôn trọng cơ
cấu con người: Ngài tiếp xúc với con
người với cả thể xác lẫn linh hồn qua
các dấu chỉ khả giác.
Nhằm thấy rơ
hơn cơ cấu con người đ̣i dấu chỉ,
chúng ta sẽ đi t́m luận chứng dựa trên hữu
thể học và trên lịch sử cứu độ.
Trước tiên chúng ta
xác định rơ hơn về ư niệm dấu chỉ,
biểu tượng.
Dấu chỉ- tiếng
Latin là signum, và tiếng Hylạp là shmeion:
· P. Foulquié định nghĩa: (dấu chỉ là) cái cho
phép phán đoán hay thấy trước hoặc biết
trước cái ǵ đó, hoặc, cái tiêu biểu hay hành
động khả giác cho biết ư tưởng hoặc
tỏ lộ điều ao ước.[84]
· L. Leahy định nghĩa cách đơn sơ hơn:
“gọi là dấu chỉ mọi thực tại khả giác
mang ư nghĩa.”[85]
Một số
người cho rằng dấu chỉ thuộc về
sự vật, và sự vật nội tại nơi
dấu chỉ, tuy nhiên sự vật và dấu chỉ không
cùng hiện hữu và trùng khít nhau cách hoàn toàn và chính xác.[86]
L. Leahy cho rằng
dấu chỉ được cấu thành trong cơ
cấu nội tại bởi một yếu tố khả
giác và một ư nghĩa, bởi một yếu tố
khả giác và một yếu tố siêu khả giác là ư
nghĩa; ư nghĩa này làm một với cái khả giác
nhưng xác định và vượt trên cái khả giác.[87]
Biểu tượng,
đôi khi được gọi là biểu hiệu, dấu
hiệu.
· A. Drexel định nghĩa: biểu tượng là
dấu chỉ của một vật ǵ đó, chẳng
hạn trái tim là biểu tượng của t́nh yêu.[88]
· L. Leahy cho rằng: biểu tượng là một
dấu chỉ loại suy mà ư nghĩa đầu tiên th́ rơ
ràng, nhưng ư nghĩa thứ hai cần được
giải thích th́ mới rơ.[89] Chẳng hạn chữ phép rửa
(baptême): nghĩa đầu tiên là d́m xuống nước,
và nghĩa thứ hai biểu hiệu cái chết và phục
sinh của Kitô hữu được tham dự cái chết
và sự phục sinh của Đức Kitô.
· Với A-M. Roguet, biểu tượng là một
hữu thể cụ thể có thực, là một bản
chất tự nó có giá trị, nhưng được tháp
nhập vào nó một tương quan chỉ một khách
thể hoàn toàn khác; nói cách khác biểu tượng là
một dấu chỉ khả giác một dấu chỉ suy
lư.[90] Cũng theo A-M. Rouguet,
sự phân biệt giữa dấu chỉ và biểu
tượng không hoàn toàn rơ ràng.[91]
· Theo lời đầu của quyển Symbole trong
Recherches et débats, biểu tượng đầu tiên không là
một sự vật nhưng là dấu chỉ của
sự vật được diễn dịch cách trừu
tượng hoặc giả tưởng trong một
trật tự khác trật tự của nó. Chẳng
hạn cái vô h́nh, cái ở xa, cái thiêng liêng được chỉ
thị nghĩa là được loan báo và tỏ lộ
trong những biểu tượng khả giác, gần
gũi, được tưởng tượng và có
thể tưởng tượng h́nh dung được,
như vậy tư tưởng được biểu
thị bởi ngôn ngữ, linh hồn được
biểu thị bởi thân xác nhưng tư tưởng
không là ngôn ngữ và hồn cũng không là xác.[92]
· Ernst Cassirer cho rằng không thể giản lược
biểu tượng vào dấu chỉ v́ dấu chỉ và
biểu tượng thuộc hai thế giới khác nhau:
dấu chỉ thuộc thế giới vật lư, c̣n
biểu tượng thuộc thế giới nhân linh.[93] Biểu tượng là
thế giới của con người, chứ loài vật
không biết đến biểu tượng.[94]
V́ những bất
đồng của các tác giả về việc xác
định đâu là dấu chỉ và đâu là biểu
tượng, các tác giả hay đúng hơn những
người chịu trách nhiệm ra số Symbole trong
Recherches et Débats (1959) đă đề nghị dành riêng chữ
biểu tượng cho những dấu chỉ mà bản
chất bí ẩn của những cái được chỉ
chống lại những phân tích rời rạc, chẳng
hạn như thần thoại, ẩn dụ thi ca, cử
chỉ và lời thánh. Và như vậy không dùng từ
biểu tượng để chỉ những dấu
chỉ nhân tạo, và những cái mà dấu chỉ và cái
được chỉ chỉ có tương quan ngoại
diện hoặc do thói quen hoặc do quy ước.[95] Như vậy biểu
tượng là dấu chỉ mà cái được chỉ
thuộc về một trật tự khác, chẳng hạn
cái vô h́nh, thiêng liêng. Nếu chấp nhận đề
nghị này, tất cả bí tích Kitô giáo đều là
biểu tượng, nhưng c̣n hơn biểu
tượng nữa; nói theo ngôn từ của K. Rahner th́ các
bí tích là những biểu tượng thực! Nhưng
một điều chúng ta phải biết; không phải
mọi người đều chấp nhận điều
này, và như vậy, có những tác giả dùng từ
“dấu chỉ” mà những tác giả khác lại dùng từ
“biểu tượng” nhưng cả hai đều là
một thực tại!
K. Rahner cho rằng
hữu thể tự ḿnh thiết yếu có tính biểu
tượng v́ hữu thể thiết yếu phải
tự diễn tả để t́m được yếu
tính của ḿnh.[96] Thực vậy, hữu thể có tính
đơn nhất và đa phức, trong tính đơn
nhất này, đa phức diễn tả hữu thể.
Thường trong khoa
hữu thể học, người ta cho rằng tính đa
phức là đặc tính của hữu thể hữu
hạn; nhưng với tính đơn nhất của Thiên
Chúa, chúng ta vẫn thấy sự phân biệt thực các
ngôi vị- dù rằng chỉ là sự phân biệt
tương quan- và như vậy dưới khía cạnh nào
đó vẫn có tính đa phức nơi Thiên Chúa, nghĩa là
nơi hữu thể trọn vẹn tṛn đầy[97] vẫn có tính đa
phức.
Như vậy chúng ta
thấy tính đa phức của hữu thể không là
một giới hạn của hữu thể nhưng
ngược lại- với gương mẫu của Ba
ngôi Thiên Chúa- tính đơn nhất của hữu thể
được thể hiện tṛn đầy trong yếu
tố đa phức. Những yếu tố đa phức
của hữu thể có sự tương hợp sâu xa
với nhau trong tính đơn nhất của hữu
thể, bởi v́ chúng liên kết với nhau nhờ tính
đơn nhất này.[98]
Hữu thể
được nói là đơn nhất không phải do
nhiều yếu tố đa phức nơi hữu thể
được đặt cạnh bên nhau, nhưng do chính
cái một nguyên thủy liên kết tất cả những
yếu tố đa phức “tương hợp” với
nhau, diễn tả nhau, bởi v́ tất cả chúng cùng
được liên kết trong cái một, tính đơn
nhất của hữu thể.
Hiểu sự
tương hợp của những yếu tố đa
phức trong hữu thể như là biểu tượng
của nhau và của chính hữu thể, chúng ta có thể
đi đến kết luận: hữu thể có tính
biểu tượng do chính nó, bởi v́ nó thiết yếu
diễn tả chính ḿnh.[99]
Ta có thể tóm những
lư luận trên như sau: đa phức đến từ
đơn nhất như sự thống nhất uyên nguyên-
xét như hữu thể tự biểu lộ trong
đơn nhất tính- hoàn thành hữu thể; đa
phức xét như đến từ đơn nhất uyên
nguyên, tương hợp với nhau cách nào đó và biểu
lộ hữu thể. Như vậy hữu thể- với
tính đơn nhất và đa phức- có tính biểu
tượng, v́ hữu thể- với tư cách là hữu
thể- phải diễn tả và hoàn thành chính ḿnh!
Hữu thể là một
phạm trù dị nghĩa. Nó không hoàn toàn giống nhau.
Hữu thể có những mức độ hiện hữu
khác nhau tùy mức độ phản tỉnh trên chính nó. Nói
cách khác, hữu thể nhận biết và được
nhận biết tùy mức độ hữu thể thể
hiện (in tantum est ens cognoscens et cognitum in quantum est ens actu).
Trong mức độ hữu thể có và thể hiện
hữu thể của ḿnh, hữu thể có tính “biểu
tượng” đối với chính ḿnh. Nghĩa là hữu
thể diễn tả và phản tỉnh trở về trên
chính nó.
Như vậy tính
“biểu tượng” không chỉ được quan
niệm như sự tương hợp giữa hai hữu
thể khác nhau do một quan sát viên thứ ba khẳng định
có sự tương hợp giữa hai hữu thể,
nhưng đúng hơn tính biểu tượng nơi
hữu thể chủ yếu hệ tại hữu thể
trở thành khác ḿnh nhưng vẫn là ḿnh trong sự
nhận thức và t́nh yêu. Sự diễn tả ḿnh- và là cái
tính biểu tượng của hữu thể diễn
tả ḿnh- là một cách nhận biết về chính ḿnh,
khám phá ra ḿnh.[100]
Bây giờ xét đến
một hữu thể được nhận biết
bởi một chủ thể khác. Việc một chủ
thể nhận biết một hữu thể khác, không
chỉ hệ tại nơi chủ thể nhận
biết, nhưng c̣n hệ tại nơi hữu thể
được nhận biết nữa: ens est cognitum et
cognoscibile in quantum ipsum est actu. Nghĩa là hữu thể
được nhận biết bởi v́ nó có tính biểu
hiệu không chỉ đối với nó nhưng c̣n đối
với hữu thể khác nữa.[101]
Đến đây chúng ta
có thể nói: biểu hiệu thực, là sự hoàn thành
chính ḿnh của một hữu thể nơi một hữu
thể khác, sự hoàn thành này là chính cấu tố của
hữu thể.[102]
Với quan niệm
về biểu tượng như là cách diễn tả và
sự thể hiện của hữu thể, của
hiện sinh như trên, chúng ta có thể đi đến kết
luận:
· Agere sequitur esse. Nếu hữu thể vừa thiêng
liêng vừa thể xác, th́ hoạt động cũng
vừa thuộc trí tuệ vừa thuộc khả giác.
Chủ thể không thể hoạt động trong một
lănh vực mà nó không thuộc trật tự này cách hữu
thể.[103]
· Hành vi cứu độ của Thiên Chúa đối
với con người, từ lúc khởi đầu cho
đến lúc kết thúc, luôn được thực
hiện như thế này: Thiên Chúa là thực tại cứu
độ được ban cho con người và
được con người lănh nhận trong biểu
tượng. Và hơn nữa biểu tượng không tiêu
biểu cho thực tại như vắng mặt, nhưng
thực tại hiện diện và được biểu
lộ bởi biểu tượng (mà chính thực tại
đă tạo thành biểu tượng).[104]
Tắt một tiếng,
với suy luận về hữu thể chúng ta khẳng
định được rằng con người cần
biểu tượng để diễn tả và lănh hội
chủ thể và tha thể, thực tại khả giác cũng
như thiêng liêng, và ngay cả ơn cứu độ.
Luận chứng
lịch sử cứu độ về cơ cấu con
người đ̣i dấu chỉ, nghĩa là, Thiên Chúa ban
ơn cứu độ cho con người qua các dấu
chỉ, không có ư muốn nói chúng ta chứng minh điều
này, nhưng đúng hơn giúp chúng ta thấy trong lịch sử
cứu độ, Thiên Chúa đă nói với con
người qua các dấu chỉ, và con người
đă đáp lại tiếng nói của Thiên Chúa qua dấu
chỉ hoặc biểu tượng bằng đức tin,
nghĩa là Thiên Chúa cứu độ con người qua
dấu chỉ.
Tương giao qua cơ
cấu khả giác
Vào thế kỷ thứ
IV-V, thánh Augustin cho rằng cơ cấu bí tích cần
thiết và là phương thế Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người, ngay cả trong thời
Cựu ước. Ngài viết:”Đừng tưởng
trước khi lập phép cắt b́, Thiên Chúa đă không dùng
một bí tích nào để trợ giúp, v́ ngay trong thời
kỳ này, con người cũng đă tin vào một
Đấng trung gian phải đến; tuy nhiên bí tích này là
ǵ Kinh Thánh không muốn nói tới.”[105]
Thánh Thomas vào thể
kỷ XIII cho rằng “con người cần cơ cấu
bí tích v́ ba lư do, lư do thứ nhất là theo bản tính con
người: cái riêng của bản tính con người
là nhờ vào thể xác và cái khả giác mà đi vào cái
thiêng liêng.”[106] Tuy nhiên thánh Thomas
cho rằng con người chỉ cần cơ cấu
bí tích sau khi con người phạm tội dù trước
lẫn sau Đức Giêsu,[107] c̣n trước khi con người
phạm tội th́ không cần cơ cấu bí tích;
Sở dĩ như vậy v́ Ngài coi bí tích như
phương dược tẩy rửa tội, nên không
có tội th́ không cần bí tích.[108]
Để hiểu rơ
hơn về khái niệm biểu tượng- bí tích,
chúng ta xét tới sự kiện mặc
khải. Mặc khải là hành vi Thiên Chúa tỏ lộ
chính Ngài và chương tŕnh cứu độ con
người của Ngài cho con người. Có thể nói,
ngay công tŕnh tạo dựng cũng là dấu chỉ
Thiên Chúa hiện hữu, dấu chỉ của t́nh yêu
Thiên Chúa đối với vũ hoàn và đặc biệt
là con người.
Kinh Thánh cũng nói
về việc Thiên Chúa mặc khải qua tự nhiên:
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh
không kể ra sự nghiệp tay Người; Ngày này nhắc
nhở cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm
kia” (Tv 18:2-5).
Dân ngoại cũng có
thể biết về Thiên Chúa qua thiên nhiên. Thánh Phao lô
viết: “V́ chưng những ǵ có thể biết về
Thiên Chúa th́ đă nên hiển nhiên nơi họ rồi,
bởi chính Thiên Chúa đă tỏ cho họ thấy.
Từ khi vũ trụ được tạo thành,
những điều ẩn khuất
nơi Người, họ có thể lấy trí khôn mà chiêm
ngắm được nơi các công việc của
Người quyền phép vô thủy vô chung và thần tính
của Người...” (Rm 1:19-20).
Thiên Chúa mặc khải
cho con người, Ngài cũng luôn mặc khải qua các
dấu chỉ khả giác. Nói cách khác, chính qua những
dấu chỉ khả giác này mà con người nhận
biết Thiên Chúa và chương tŕnh của Thiên Chúa
đối với con người. Những dấu chỉ
khả giác chỉ thực tại siêu việt, có thể
được một số đông người
coi như biểu tượng. Thiên nhiên, tạo thành,
trở thành dấu chỉ của Thiên Chúa, cho thấy
Thiên Chúa hiện hữu, Thiên Chúa yêu con người.
Con người không
chỉ nhận biết Thiên Chúa và t́nh yêu của
Ngài đối với con người qua dấu chỉ
khả giác, nhưng ngay thái độ tâm t́nh của con
người đối với Thiên Chúa cũng
được diễn tả qua những hành vi khả
giác, chẳng hạn như qua việc thờ
lạy, thái độ cung kính, việc dâng lễ
vật tế lễ.
Mặc khải đặc
biệt trước Abraham
Abel và Cain dâng lễ
vật cho Thiên Chúa là hoa quả mùa màng và chiên cừu, Noe
cũng dâng lễ vật để tỏ tâm t́nh tạ
ơn và thờ lạy Thiên Chúa (St 1-11).[109] Như
vậy, Kinh Thánh đă nói về việc Thiên Chúa tỏ
lộ chính Ngài và chương tŕnh của Ngài cho con
người trước khi Thiên Chúa tuyển chọn và
gọi Abraham, và cũng cho thấy con người
diễn tả tâm t́nh thái độ của ḿnh đối
với Thiên Chúa.
Trong tương quan hai
chiều này, cả Thiên Chúa lẫn con người
đều dùng những dấu chỉ khả giác; sở
dĩ vậy để con người có thể lănh hội
được điều Thiên Chúa muốn diễn tả,
và v́ con người phải diễn tả tâm t́nh thái
độ của ḿnh bằng những cử chỉ và
những ǵ khả giác.
Mặc khải cho Abraham và dân
Do Thái
Bây giờ chúng ta xét
đến thời điểm Thiên Chúa tuyển chọn
Abraham để h́nh thành một dân tộc, chuẩn
bị cho Lời Thiên Chúa nhập thể cứu độ
con người.
Dân Israel tin rằng Thiên
Chúa đă tuyển chọn và gọi tổ phụ
Abraham, đă giải phóng họ khỏi ách nô
lệ Aicập, và vẫn hằng hiện diện và nói
với họ qua các biến cố và tiên tri trong ḍng
lịch sử.
Với những
người đặc biệt như Abraham, Isaac, Giacóp,
Môsê và các tiên tri, các vị này vẫn tiếp
xúc với Thiên Chúa qua trung gian khả giác:
· Giavê Thiên Chúa đă hiện ra cho Abraham dưới
dạng ba người và đă được ông thiết
tiệc (St 18);[110]
· Môsê gặp gỡ Thiên Chúa qua bụi gai bốc lửa
nhưng không tàn (Xh 3:1tt.).
Cắt b́ (St 17:9tt; Lv
12:3; Gs 5:2.) được những người thời
sau này coi như một bí tích đối với dân
Israel.[111] Cắt b́ là dấu giao
ước giữa Thiên Chúa và Abraham cùng miêu duệ ông
(St 17:11), là dấu chỉ việc Abraham cùng con cháu ông
thuộc về Thiên Chúa, dân tộc tư tế và
thánh thiện của Thiên Chúa. Trong Cựu Ước
không phải chỉ có cắt b́ nhưng c̣n có những
nghi thức khác cũng có thể được coi
như dấu chỉ của ơn thánh vô h́nh như
những nghi lễ tế tự, nghi lễ xá tội, v.v.
Biến cố xuất
hành là biến cố làm nên dân tộc Israel. Biến cố
ra khỏi Aicập, đi qua biển đỏ khô chân, giao
ước trên núi Sinai, là dấu chỉ lớn cho dân
thấy Thiên Chúa vẫn tiếp tục trung thành với
lời hứa Ngài đă ban cho các tổ phụ Abraham,
Isaac, và Giacóp: Thiên Chúa yêu thương họ nên đă nghe
lời họ kêu van (Xh 3:7), Ngài sai Môsê giải phóng họ
ra khỏi đất nô lệ Aicập bằng
những điềm thiêng dấu lạ. Nơi cuộc
hành tŕnh của dân Do Thái trong sa mạc, Thiên Chúa vẫn
hiện diện với dân qua cột mây và cột
lửa (Xh 13:21), và sau đó nơi ḥm bia giao ước,
nhà tạm (Xh 40:34t).
Biến cố vào
đất hứa là biến cố cho dân Israel tin rằng
Thiên Chúa đứng về phía dân và chính Ngài đă ban
đất Canaan cho dân.
Với các tiên tri trong
ḍng lịch sử cũng như với biến cố
lưu đày, dân Israel tin rằng Thiên Chúa Giavê vẫn
hiện diện với họ, Ngài trừng phạt khi
họ ĺa bỏ Ngài và tha thứ khi họ ăn năn
thống hối. Cây “thức sớm” (Gr 1:11), cái
nồi (Gr 1:13), tiên tri mang ách (Gr 27), chính cuộc
sống của tiên tri (Hôsê), đă thành biểu
tượng cho dân và cho cả tiên tri nữa.
Qua ḍng lịch sử dân
tộc Israel như Cựu Ước cho thấy: Thiên Chúa
vẫn tiếp tục tỏ ḿnh cho Abraham và miêu duệ ông;
Ngài nói với dân qua các biến cố và qua các tiên tri như
sứ giả của Thiên Chúa. Dân chúng đáp lại
mặc khải của Thiên Chúa Giavê bằng ḷng tin, thái
độ thờ phượng tôn kính qua việc tế
tự (hy tế tạ tội, hy tế kỳ an, hy tế
toàn thiêu). Với dân Do Thái, các biến cố và tiên tri là
những dấu chỉ- biểu tượng qua
đó Thiên Chúa nói với dân, cho dân hiểu biết
Thiên Chúa là Đấng yêu thương và giải phóng
cùng ở với dân trong mọi hoàn cảnh và t́nh
huống, cho dân nhận thấy ư định cứu
độ của Ngài.
Như vậy khi xét những
hành vi tỏ ḿnh của Thiên Chúa, chúng ta đi đến
kết luận:
· Thiên Chúa vẫn tỏ ḿnh ra cho con người qua
những dấu chỉ khả giác;
· con người và đặc biệt dân Israel cũng
đáp trả lại mặc khải của Thiên Chúa
bằng ḷng tin được biểu lộ qua những
dấu chỉ như cắt b́, những nghi thức
tế tự, v.v.
B. ĐỨC YÊU: BÍ TÍCH CỨU
ĐỘ NGUỒN
“Chỉ có một Thiên
Chúa và cũng chỉ có một Đấng trung gian
giữa Thiên Chúa và nhân loại: Đức Giêsu,
Đấng đă thí ḿnh làm giá chuộc thay cho mọi
người” (1Tm 2:5-6).
Xét dưới khía
cạnh hữu thể, để làm trung gian giữa Thiên
Chúa và con người, ngôi vị trung gian đó phải
vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Đức
Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể: “Lời đă ở
nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa... Lời đă thành xác
phàm và đă lưu trú nơi chúng tôi” (Ga 1:1.14). Như
thế, Đức Giêsu xét như Thiên Chúa nhập thể,
theo bản tính, là trung gian giữa Thiên Chúa và con
người cách tuyệt hảo.
Khi khẳng định
mầu nhiệm Đức Giêsu có hai bản tính- thiên
tính và nhân tính, Huấn Quyền cũng trích dẫn 1Tm
2:5 và khẳng định Đức Giêsu là Đấng
Trung Gian, v́ Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con
người.[112] Truyền thống giáo phụ cũng có
những luận chứng theo khía cạnh hữu
thể[113] về Đức Giêsu là
trung gian.
“Mọi sự
đều đă được Cha ta trao phó cho Ta, và không ai
biết được Con trừ phi có Cha; và cũng
không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ
được Con khấng mặc khải cho” (Mt 11:27).
Đức Giêsu là trung gian mặc khải, Ngài là
Đấng mặc khải Thiên Chúa Cha và chương
tŕnh cứu độ con người.
Con người có
thể diễn tả tâm t́nh ư định qua hành vi
cử chỉ, hoặc bằng cái nheo mắt hoặc
nụ cười hoặc bằng cử điệu,
và bằng lời nói của ḿnh. C̣n Thiên Chúa, Ngài đă
mặc khải cho chúng ta về chính Ngài và chương
tŕnh của Ngài qua ngôi Lời, là ngôi vị Thiên Chúa.
“Ngày xưa nhiều lần và nhiều cách Thiên Chúa đă nói
với cha ông nơi các tiên tri, nhưng đến
thời sau hết- tức là trong những ngày này-
Người đă nói với chúng ta nơi Người Con”
(Hr 1:1). Đức Giêsu là chóp đỉnh mặc khải v́
Ngài là Lời Thiên Chúa.
Với Đức Giêsu,
Thiên Chúa đă cho chúng ta thấy:
· Thiên Chúa là t́nh yêu (1Ga 4:8.16), và Thiên Chúa đă yêu
thế gian đến độ ban Con Một
Người cho chúng ta (Ga 3:16);
· ư định từ muôn đời muôn thuở là
thu tóm vạn sự vạn vật dưới một
đầu mối là Đức Giêsu (Ep 1:9tt);
· ư định cứu độ mọi người
(1Tm 2:4);
· Đức Giêsu là đường dẫn chúng ta
tới với Thiên Chúa Cha; Ngài chính là sự thật và
sự sống. Ngài nói: “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Ga
14:6.9). Sự sống đời đời và hạnh phúc
vĩnh cữu là được sống với Thiên
Chúa, được hiệp thông với Người,
thế mà Đức Giêsu nói: Ai thấy Ta là thấy Cha,
không ai đến được với Cha mà lại
không qua Ta- chúng ta thấy rơ thêm một lần nữa Ngài
là Trung Gian cứu độ duy nhất. Không nhờ Ngài
th́ không ai được cứu độ.
Tác giả thư gởi
tín hữu Do Thái cho chúng ta biết thêm: Đức
Giêsu là trung gian giữa Thiên Chúa và con người như
là vị Thượng Tế, trung gian của Giao
Ước mới (Hr 9:15; 4:14).
Con người
đến với Thiên Chúa qua các trung gian. Trong Cựu
Ước chúng ta đă thấy Môisê, Aarôn, các tiên tri và
các tư tế đóng vai tṛ trung gian này; đặc
biệt trong lănh vực tế tự, con
người diễn tả tâm t́nh thái độ của
ḿnh lên Thiên Chúa qua các lễ vật hy tế. Tư
tế đóng vai đại diện Thiên Chúa và con
người, dâng những lễ tế này v́ đă
được chọn bởi chính việc được
sinh trong ḍng họ Lêvi. Và Thiên Chúa đă ban ân sủng
của Ngài qua những trung gian này.
Ngày nay “máu của
Đức Kitô nhờ Thần Khí hằng có mà hiến ḿnh
làm hy lễ sinh vô t́ tích dâng lên Thiên Chúa, sẽ tẩy
sạch lương tâm ta hơn biết mấy khỏi
các việc chết, mà c̣n phụng sự Thiên
Chúa hằng sống” (Hr 9:14).
Trong bí tích thánh thể,
Đức Giêsu vừa là của lễ, vừa
là thượng tế dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Khi
truyền phép trong Thánh Thể, linh mục chủ tế
làm nhân danh Đức Giêsu, với tư cách là
ngôi vị Đức Kitô (in persona Christi).
Đức Giêsu là trung
gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Không
có Ngài con người không được cứu độ
v́ Ngài là nguyên nhân cứu cánh của cả hoàn vũ.
Tất cả mọi người khi được
cứu độ, được lănh ơn làm con Thiên
Chúa, đều được cứu độ
nhờ bởi Đức Giêsu Kitô, dù người đó
là Do Thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, là Kitô hữu
hay không. Ngay cả những người không tin
Đức Giêsu, thậm chí không tin Thiên Chúa hiện
hữu- nếu họ được cứu độ- th́
những người này vẫn được
cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô, trong
Đức Giêsu Kitô, và qua Đức Giêsu Kitô.
“Ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ.”
“Đức Giêsu Kitô là
trung gian cứu độ duy nhất giữa Thiên Chúa và
con người.”
Thế nhưng những
người sống trong các tôn giáo khác, những
người không tin Đức Giêsu, những
người vô thần, vẫn có thể được
cứu độ, và những người này khi
được cứu độ, vẫn được
cứu độ trong Giáo Hội của Đức
Giêsu Kitô và nhờ Đức Giêsu Kitô. Nói cách khác, tất
cả những người được
cứu độ này đều thuộc về Giáo
Hội Đức Giêsu Kitô cách nào đó, và vẫn nhờ
Đức Giêsu Kitô để được cứu
độ dù họ biết hay không biết.
2. Đức Giêsu- bí tích
nguyên thủy nguồn
Với đức tin
Kitô giáo, Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể (Ga
1:14), là Thiên Chúa làm người.
Ngôi Lời là Thiên Chúa,
hằng hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1-3); Ngôi Lời
là diễn tả của Thiên Chúa, là cách diễn
tả của Thiên Chúa, là biểu tượng của
Thiên Chúa.[114] Khi Thiên Chúa diễn
tả, Ngài diễn tả bằng Lời; Lời là
biểu hiệu, biểu tượng, là ngôn từ
của Thiên Chúa.
Lời đă thành xác phàm
(Ga 1:14). Cái vô h́nh thành cái hữu h́nh, vô hạn thành
hữu hạn; Đấng không thể diễn tả
nổi là Thiên Chúa nay đă thành khả giác vật chất,
được diễn tả.
Lời Thiên Chúa đă
thành thân xác khả giác khả tử. Nói cách khác,
Thiên Chúa đă diễn tả chính Ngài bằng cái ǵ
khả giác khả tiếp thu đối với con
người. Đức Giêsu là mặc khải tột
đỉnh của Thiên Chúa, không những cho con
người mà cho mọi tạo thành nữa,
v́ Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa; nếu có tạo
thành nào muốn hiểu Thiên Chúa th́ phải hiểu qua
Lời Ngài.[115] Không qua Lời, tạo
thành không thể hiểu, và không thể thông giao với
Thiên Chúa.
Đức Giêsu là h́nh
ảnh của Thiên Chúa vô h́nh (Cl 1:15). Ngài là h́nh ảnh, là
dấu chỉ, là biểu tượng của Thiên Chúa;
nhưng Ngài không đơn thuần là dấu chỉ
hiểu theo nghĩa dấu chỉ không bao giờ là
thực tại, Ngài cũng không chỉ là biểu
tượng hiểu theo nghĩa biểu tượng là
cái ǵ không hoàn toàn là thực tại; trái lại Ngài là
thực tại, là biểu tượng thực, là dấu
chỉ đồng thời là chính thực tại!
Đức Giêsu là
Lời của Thiên Chúa, là h́nh ảnh của Thiên Chúa,
là biểu tượng thực của Thiên
Chúa; đến độ Ngài nói: “Thầy là
đường, là sự thật và là sự
sống... Ai thấy Ta là thấy Cha” (Ga 14:6.9). Nói
một cách khác, Đức Giêsu vừa là phương
tiện vừa là cứu cánh, vừa là phương
tiện mặc khải vừa là chính thực tại
được mặc khải, là Sự Thật.
Đức Giêsu là
Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23). Nơi
Đức Giêsu, Thiên Chúa nhập thể là một
người giữa chúng ta, Thiên Chúa dứt khoát ở
với con người. Đức Giêsu là dấu chỉ
Thiên Chúa hiện diện với con người; Thiên Chúa
không bao giờ bỏ con người và như thế con
người không c̣n có thể nghi ngờ về t́nh yêu
và sự hiện diện của Ngài nữa, v́ Đức
Giêsu chính là Thiên Chúa làm người. Thiên Chúa đă làm
người, Ngài măi măi là người và không bao giờ
Ngài ngừng là người.[116]
Đức Giêsu, xét
như Thiên Chúa nhập thể, là quà tặng Thiên Chúa ban
cho con người. Những quà tặng khác là những
ǵ ngoài Thiên Chúa, c̣n với Đức Giêsu quà tặng chính là
Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến độ ban Con
Một Ngài cho thế gian” (Ga 3:16). Thánh Luca cũng nói:
“Hôm nay Cứu Chúa đă được sinh ra cho các
ngươi” (Lc 2:11).
Đức Giêsu là
dấu chứng cho biết Thiên Chúa yêu thương
con người, nhưng không chỉ thế, Ngài c̣n là
bảo chứng t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với con người. Đức Giêsu là bảo
đảm cho phần rỗi chúng ta. Nói một cách b́nh
dân của giới bài bạc: khi Thiên Chúa ban tặng cho
con người chính Đức Giêsu, th́ con người
như người chơi bài với Thiên Chúa, và đă
nắm được con tẩy của Ngài!
Lề luật th́
được ban qua Môsê, nhưng chân lư và ân sủng th́
được ban qua Đức Giêsu (Ga 1:17). Có thể
nói, qua Đức Giêsu, Thiên Chúa không c̣n từ chối
với con người điều ǵ nữa; và Ngài ban
cho con người tất cả nơi Đức Giêsu.
Thiên Chúa ban cho con
người tất cả trong Đức Giêsu và nhờ
Đức Giêsu. Đức Giêsu là dấu chỉ t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người.
Như vậy chúng ta có thể nói: Đức Giêsu là bí tích
nguồn, v́:
· Chính nhờ Đức Giêsu mà chúng ta
được ban hết ơn này đến ơn khác,
và đặc biệt ơn tha thứ tội khiên,
ơn được giao ḥa với Thiên Chúa, ơn
được trở nên con Thiên Chúa.[117]
· Chính trong Đức Giêsu chúng ta
nhận lănh mọi ân sủng, ngay cả ơn
được thông hưởng sự sống của
Thiên Chúa, chúng ta cũng lănh nhận qua Đức Giêsu.
Không có Đức Giêsu,
con người không được yêu và không có ân
sủng; và chỉ với Đức Giêsu, nhờ
Đức Giêsu và qua Đức Giêsu mà chúng ta được
lănh nhận, và được yêu. Nói cách khác, Thiên Chúa yêu
chúng ta nơi Con Một của Ngài là Đức Giêsu.
Tuy nhiên Đức Giêsu vừa là bí tích vừa là chính
thực tại bí tích.
Chúa Kitô nhờ Thánh
Thần, đă thiết lập thân thể Người là
Giáo Hội như bí tích phổ quát ban ơn cứu
rỗi (LG 48.9; GS 45; AG 5).
Giáo Hội là Israel
mới. Lịch sử dân Israel qua Kinh Thánh cho
thấy, như Abraham là dấu chỉ chúc phúc cho mọi
dân tộc (St 12:3), Israel cũng là nguồn vui,
nguồn vinh quang, và dấu chỉ chúc phúc cho các dân
tộc. Israel là dấu chỉ được
giương cao giữa các dân tộc;[118] và một cách nào đó có thể nói:
Israel cũng là dấu chỉ ơn cứu độ, là bí
tích.
1. Giáo Hội- dấu
chỉ Đức Giêsu hiện diện
Giáo hội là bí tích v́
Giáo Hội được Đức Kitô thiết lập
để tiếp tục công tŕnh cứu độ
của Người nơi trần gian; và như
vậy Giáo Hội là dấu chỉ Đức Kitô
hiện diện, dấu chỉ t́nh yêu nhân ái của
Thiên Chúa đối với con người.[119]
Như nơi Đức
Giêsu, Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người,
thiên tính và nhân tính không pha trộn và không phân cách; cũng
vậy nơi Giáo Hội, dấu chỉ và thực tại,
yếu tố lịch sử và Thánh Linh, cũng không phân
tách và không lẫn lộn.[120] Như thiên tính không bao giờ rời
bỏ nhân tính nơi Đức Giêsu, th́ Thánh Thần
của Đức Giêsu cũng không bao giờ rời bỏ
Giáo Hội.[121]
Giáo Hội
được Đức Kitô thiết lập để
thi hành công cuộc cứu độ con người
nơi trần gian. Giáo Hội vừa là bí tích cứu
độ hiểu như dấu chỉ sự hiện
diện của Đức Kitô nơi trần gian, vừa là
bí tích hiểu như phương tiện cứu
độ được thực hiện bởi
Đức Kitô. Xét như sự hiện diện cứu
độ của Đức Kitô nơi trần gian và
phương tiện cứu độ được Đức
Kitô thiết lập, Giáo Hội đại diện
Đức Kitô ban các bí tích như những phương
tiện cứu độ. Nói cách khác Đức Kitô cứu
độ nhân loại qua các bí tích mà Ngài đă thiết
lập qua Giáo Hội.
2. Giáo Hội- dấu
chỉ t́nh yêu Thiên Chúa
Giáo Hội là dấu
chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con
người, và như vậy là dấu chỉ ân
sủng. Thiên Chúa vô h́nh đă nên hữu h́nh khả giác
với con người qua mầu nhiệm nhập
thể; và cũng phần nào tương tự
như vậy, ân sủng cứu độ của Thiên
Chúa, của Đức Giêsu Kitô, mang khía cạnh nhập
thể nhờ mầu nhiệm Giáo Hội- dấu chỉ
sự hiện diện yêu thương của
Đức Giêsu nơi trần gian.
Giáo Hội thể
hiện ân sủng qua những hành vi của ḿnh. Ân sủng
như chân lư, được thể hiện qua lời
giảng dạy của Giáo Hội, được thích ứng
tùy thời và tùy tŕnh độ thiêng liêng của con
người, để dẫn đưa con
người vào chân lư trọn vẹn của Đức
Kitô. Ân sủng như việc hiến thánh con
người, được thể hiện qua việc ban
các bí tích. Và ân sủng như hy tế dâng lên Thiên Chúa,
được thể hiện qua việc cử hành
thánh lễ mỗi ngày.[122]
Giáo Hội là dấu
chỉ ân sủng t́nh yêu của Thiên Chúa cho
con người. Giáo Hội thể hiện ân sủng
của Đức Giêsu Kitô trong thời điểm
hiện tại qua bí tích mà Giáo Hội cử hành cách
đặc biệt đại diện Đức Kitô.
Bây giờ chúng ta xét kỹ hơn về bí tích Kitô giáo.
Giáo lư về bí tích Kitô
giáo chỉ được h́nh thành rơ ràng vào
cuối thế kỷ XII, nhưng những quan niệm
về bí tích cách cơ bản đă có ngay từ
thời đầu.[123] Chữ bí tích hiểu theo nghĩa Công
giáo được dịch từ chữ sacramentum
của tiếng Latinh, và chữ sacramentum này cũng
được dịch từ chữ musthrion tiếng Hylạp.
Chữ musthrion tiếng Hylạp,
· trong lănh vực phượng tự của các tôn giáo
ngoài Kitô, chỉ việc cúng hiến một
người nào đó cho thần linh qua việc nhập giáo
với những nghi thức bí mật;
· với nghĩa về tri thức, nó chỉ những
giáo thuyết bí mật ít người biết
đến;
· với nghĩa thông thường nó chỉ tất
cả những ǵ bí mật ít người hiểu,
cả trong lănh vực tôn giáo cũng như trong những ǵ
thế tục;[124]
· trong bản dịch Kinh Thánh LXX chữ musthrion được dùng
để chỉ những nghi lễ dân ngoại (St
14:15-23), và cũng được dùng để
chỉ ư định mầu nhiệm của Thiên Chúa mà
con người không thể biết nếu không có
mặc khải;
· trong Tân Ước chữ musthrion mang nghĩa tri thức,
như “các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cr 4:1);[125]
· vào thời các giáo phụ đầu tiên,
đặc biệt trường Alexandria với
Clément d'Alexandria và Origène, cũng đă dùng chữ musthrion để chỉ
phép rửa và tiệc Thánh Thể.[126]
Chữ Sacramentum do
động tự sacrare và danh từ sacrum tiếng Latinh,
· được dùng chỉ lời thề của lính
Roma;
· được dùng chỉ lời hứa của tín
hữu buộc giữ các giới răn của Thiên
Chúa;
· được dùng để dịch nghĩa
chữ musthrion tiếng Hylạp (từ thế kỷ II sau
Công nguyên);[127]
· được Tertullien dùng để gọi các
nghi lễ dân ngoại cũng như phép rửa và tiệc
Thánh Thể của Kitô giáo, v́ ông cho rằng có sự
giống nhau giữa lời thề hứa của lính
Roma với lời thề của tín hữu khi lănh phép
rửa; Ambrosio cũng dùng chữ sacramentum để
chỉ các nghi thức rửa tội, thêm sức và thánh
thể. Riêng thánh Augustin, Ngài đă góp nhiều công trong
việc sử dụng từ sacramentum cũng như
việc t́m hiểu và đào sâu ư nghĩa của
việc gọi này.[128]
Bí tích của Công Giáo,
· theo Augustin, là dấu chỉ của thực tại
thánh;[129]
· theo Pierre Lombard (chết khoảng 1160), là dấu
hiệu của ơn Chúa và là h́nh thái của ơn vô
h́nh, đến nỗi bí tích mang h́nh ảnh của
ơn vô h́nh đó và làm phát sinh chính ơn đó
nữa. Vào cuối thế kỷ XII này, các nhà tiền
kinh viện đă nhận biết hậu quả do
sự (ex opere operato) của bí tích;[130]
· theo Thomas, là dấu chỉ của thực tại
thánh theo mức độ nó thánh hóa con người;[131]
· với công đồng Trentô, là h́nh thức hữu h́nh
của ân sủng vô h́nh và có khả năng ban ơn
cứu rỗi;[132]
· theo cha Antôn Drexel, là “hành vi biểu tượng
có tính tôn giáo của Chúa Kitô và Giáo Hội, nhờ
được Chúa Kitô thiết lập nên biểu
thị ơn thánh hóa con người và ban ơn đó một cách
do sự, cho những ai không cản trở;”[133] K. Rahner lấy lại tư tưởng
của truyền thống, cho rằng bí tích là những
dấu chỉ thánh của ân sủng Thiên Chúa- và hiểu
theo mạch văn ngài viết- là những biểu
tượng, phát sinh cái mà nó chỉ và chỉ cái nó phát
sinh.[134]
Nét đặc trưng
của bí tích Kitô giáo, theo đức tin Công Giáo,
là hậu quả do sự (ex opere operato). Sở dĩ bí
tích Công Giáo có kết quả ban ân sủng do sự, bởi
v́ Đức Giêsu Kitô đă thiết lập và
đă muốn như vậy. Ngài đă thiết lập
Giáo Hội như bí tích ban ân sủng cứu độ
cho con người, và đă thiết lập các dấu
chỉ- hoặc thiết lập chúng qua trung gian Giáo
Hội- để ban ân sủng cứu độ
trong Giáo Hội.
Bí tích, dấu chỉ ban
ân sủng cứu độ, sinh hậu quả do sự
khi được thực hiện theo ư Đức
Giêsu, cụ thể là theo ư Giáo Hội, ư thừa tác viên
đại diện Giáo Hội, và ư muốn ngay lành của
thụ nhân.
ii.
Do sự nhờ Đức Giêsu Kitô và trong Giáo Hội
Đức Giêsu là trung
gian cứu độ duy nhất giữa Thiên Chúa và
con người, v́ “hẳn không có ơn cứu
độ nơi một người nào khác nữa.
V́ dưới gầm trời này, không có một danh nào
khác đă được ban xuống cho nhân loại
để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông
được ơn cứu thoát” (Cv 4:12). Như
vậy, khi nói “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ,”
hoặc nói, “Giáo Hội là bí tích nguyên thủy hay phổ
quát,” chúng ta phải hiểu Giáo Hội là phương
tiện cứu độ, là bí tích cứu độ
nhờ Đức Giêsu Kitô.
Giáo Hội là bí tích
cứu độ v́ Đức Giêsu là bí tích
cứu độ, là bí tích nguồn, là nguyên nhân Thiên Chúa
ban ơn cứu độ cho con người, là nguyên
nhân qua đó và trong đó Thiên Chúa yêu thương con
người.
Khi chúng ta nói bí tích là phương
tiện cần thiết để được công
chính hóa hay được cứu độ,[135] chúng ta hiểu đó là những
phương tiện cần thiết tùy thuộc
chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa trong
Đức Giêsu Kitô, nhờ Đức Giêsu Kitô và do
Đức Giêsu Kitô.
Khi chúng ta nói các bí tích có
hiệu quả do sự (ex opere operato), hay theo ngôn
từ của K. Rahner “các biểu tượng thực,”
nghĩa là bí tích sinh cái chúng chỉ và chỉ cái chúng phát
sinh ra,[136] chúng ta phải hiểu:
các bí tích Công Giáo có kết quả như vậy là do ư
định của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.
Ngài muốn các dấu chỉ Ngài thiết lập sinh
ơn thánh. Và như vậy hàm chứa, các dấu chỉ
này chỉ sinh ơn thánh khi nó được cử
hành theo ư Chúa Kitô, thể hiện qua ư Giáo Hội, và
cụ thể nữa là theo ư thừa tác viên đại
diện và nhân danh Giáo Hội.
Chúng ta đă t́m hiểu
về ư định cứu độ hết mọi
người của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô,
đă t́m hiểu về con người trong chiều kích
được mời gọi tham dự sự sống
thần linh của Thiên Chúa, và chúng ta đă thấy Thiên
Chúa tạo dựng con người là hồn và xác; và chính
trong cơ cấu “tinh thần qua thể xác” này mà Thiên
Chúa ban ân sủng cứu độ con người.
Đến đây chúng ta có thể kết luận:
· không ǵ bắt buộc Thiên Chúa phải ban ân sủng
cứu độ con người qua các dấu chỉ
khả giác nếu ta nh́n vấn đề cách tiên thiên;
· nhưng thực tế Thiên Chúa đă tạo dựng
con người là hồn và xác; Ngài muốn con
người là con người trong cơ cấu “thể xác
tinh thần” này, nên Ngài đă dùng cơ cấu dấu
chỉ để biểu lộ t́nh yêu ân sủng
của Ngài đối với con người; Ngài cũng
muốn con người diễn tả thái độ
sống của con người đối với Ngài và
đối với nhau qua cơ cấu “thể xác tinh
thần.”
III. ÂN
SỦNG QUA BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ GIÁO
Chúng ta đă cùng nhau
lược qua lịch sử thần học và xác tín, Thiên
Chúa vui ḷng ban ân sủng cứu độ cho những
người sống ngoài Kitô giáo, nghĩa là hàm chứa
cho những người hiện nay sống trong các tôn giáo
ngoài Kitô, và ngay cả những người không biết
hoặc từ chối Đức Giêsu và Thiên Chúa mà không
phải lỗi tại họ.
Chúng ta cũng đă t́m
hiểu và nhận thấy Thiên Chúa ban ân sủng cứu
độ cho con người hợp với cơ
cấu “hồn-xác” của con người, nghĩa là qua
dấu chỉ hoặc biểu tượng.
Chúng ta cũng đă t́m
hiểu và khẳng định: dù là bất cứ ai
nếu được cứu độ, đều
được cứu độ nhờ Đức Kitô và
Giáo Hội của Người.
Bây giờ chúng ta sẽ
xét đặc biệt tới những người đang
sống trong các tôn giáo không phải Kitô giáo, cụ
thể những người không tin Đức Giêsu
nhưng không phải do lỗi lầm của họ.
Vấn đề đặt ra: các nghi lễ, dấu
chỉ và biểu tượng nơi các tôn giáo họ
đang sống trong đó, có là những phương tiện
Thiên Chúa dùng để ban ân sủng cứu độ cho
họ không?
Trong mục này chúng ta
sẽ xem xét để có lập trường về các tôn
giáo ngoài Kitô, sau đó t́m hiểu hơn về biểu
tượng thực tại vô h́nh, và cuối cùng sẽ
đưa ra kết luận về các dấu chỉ
hoặc biểu tượng của các tôn giáo ngoài Kitô.
Tôn giáo là một
định chế đặc biệt có mục đích
thờ phượng tôn kính Thiên Chúa như Ngài đáng
được. Tôn giáo là một tổ chức xă
hội với những phẩm trật, lề luật và
truyền thống, có những tín điều mà các tín
hữu phải tin và tuyên xưng, cũng như có
những nghi thức biểu lộ tâm t́nh thờ kính, tùng
phục yêu mến đối với Thiên Chúa ngơ hầu
tín hữu được cứu độ.[137]
Tôn giáo cũng
được coi như một kinh nghiệm về
Đấng không bị điều kiện hóa, nhưng
kinh nghiệm này được nhận qua một hệ thống
biểu tượng thuộc về một nền văn
hóa.[138] Nói đơn sơ
hơn, tôn giáo là kinh nghiệm đối với
Tuyệt Đối; kinh nghiệm này có nhờ Tuyệt
Đối diễn tả ḿnh qua nền văn hóa của người
nhận; và người có kinh nghiệm với Tuyệt
Đối cũng diễn tả tâm t́nh thái độ
của ḿnh đối với Tuyệt Đối qua
nền văn hóa của ḿnh.
Có thể nói lịch
sử các tôn giáo được cấu thành bởi
những cuộc thần hiển, nghĩa là bởi
những cuộc tỏ lộ của thực tại
thần linh. Thực tại thần linh đây là cái ǵ
hoàn toàn khác, một thực tại không thuộc về
thế giới của chúng ta.
Vật thần hiển
rất là đa phức, có thể là cục đá, cái
cây, hoặc các tinh tú như mặt trời, mặt
trăng hoặc ngôi sao, hoặc một ḍng nước,
và cũng có thể là con vật, hoặc ngay cả
một người.[139]
2. Biểu tượng
diễn tả kinh nghiệm tôn giáo
Kinh nghiệm với
Cái-Hoàn-Toàn-Khác qua những cuộc thần hiển,
hoặc với Tuyệt Đối qua những lần
“mặc khải,” không thuộc hoàn toàn do ḿnh, nghĩa là,
không phải ḿnh muốn là được. Hơn nữa,
Cái-Hoàn-Toàn-Khác hoặc Tuyệt Đối được cảm
nghiệm, là cái ǵ khôn ḍ, không thể diễn tả
nổi và không thể diễn tả hết bằng ngôn
ngữ. Những người có kinh nghiệm với
Đấng Hoàn Toàn Khác cố gắng diễn tả
Thực Tại này qua những h́nh ảnh, dấu
chỉ khả giác, nghĩa là qua các
biểu tượng.
3. Biểu tượng
được hiểu trong nền văn hóa
Nói đến cách
diễn tả của con người qua biểu
tượng, qua h́nh ảnh, ta phải nghĩ ngay
đến “nền văn hóa” con người sống trong
đó, v́ con người khi diễn tả, phải
diễn tả bằng nền văn hóa ḿnh sống
với những h́nh ảnh, ngôn từ, biểu
tượng. Như vậy để hiểu
được phần nào Đấng Hoàn Toàn Khác qua kinh
nghiệm thần hiển, được diễn
tả bằng ngôn ngữ biểu tượng
hoặc thần thoại xét như một văn
loại diễn tả kinh nghiệm với Thực
Tại Hoàn Toàn Khác, chúng ta phải t́m hiểu kinh nghiệm
này qua các biểu tượng trong nền văn
hóa h́nh thành các biểu tượng.
Nếu chúng ta nh́n tôn giáo
là kinh nghiệm với Đấng Hoàn Toàn
Khác được diễn tả qua những biểu
tượng và thái độ tâm t́nh đối
với Đấng Hoàn Toàn Khác được diễn
tả qua các nghi thức hợp
với nền văn hóa của những người có
kinh nghiệm này, th́ việc t́m hiểu ư nghĩa các
biểu tượng thật cần thiết để
hiểu kinh nghiệm của các tôn giáo!
B. Nhăn quan tiêu CỰC VỀ TÔN
GIÁO NGOÀI KITÔ[140]
Lịch sử thần
học cho thấy có nhiều tác giả chủ
trương các tôn giáo ngoài Kitô không là phương
tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người, nhưng trái lại là công tŕnh của con
người, và c̣n tệ hơn là công tŕnh của ma
quỷ.
Một số họ
dựa vào các đoạn Kinh Thánh sau để nói rằng
các tác giả linh ứng có câu trả lời tiêu cực
về giá trị cứu độ của các tôn giáo
ngoại: 1V 11:1-13; Gr 2:26-29; 10:1-16; Br 6:7-72; Is 40:18-20;
44:9-20; 46:6tt; Tv 105; 113:10-16; Kn 13:1-14.20; 15:6-19; 1Mac 1:41-64; 2Mac
4:1-11.[141]
Đầu tiên chúng ta
phải nhận rằng vấn đề các tôn giáo ngoài
Kitô không là một vấn đề được các
tác giả linh ứng nhắm bàn cách trực tiếp; hơn
nữa, để xem thực sự tác giả Kinh Thánh có
muốn khẳng định rằng các tôn giáo ngoài Kitô
không có giá trị cứu độ hay không, chúng ta
phải hỏi những chuyên gia về khoa chú giải Kinh
Thánh.
Riêng về 1V 11-13,
bản văn nói về việc Salomon mê con gái các dân
ngoại và để ḷng mê theo các thần ngoại lai, chính
v́ lư do đó mà Thiên Chúa đă chia cắt xứ sở ra
làm hai. Bản văn này coi các thần dân ngoại
thờ kính đối nghịch với Giavê Thiên Chúa
của Israel, chẳng hạn thần sản lực
Astartê-Astoret của dân Canaan, thần Milkom-Molek
của dân Ammon. Ngày nay người ta không ngây thơ
đồng hóa đức Phật với Đức Giêsu,
nhưng Đấng Tuyệt Đối chỉ là một dù
được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Như
vậy, Đấng Tuyệt Đối của đạo
Cao Đài và Đức Allah của đạo Hồi...
cũng là Chúa tể vạn vật, như Giavê của dân Do
Thái và Thiên Chúa của Kitô hữu.
C̣n bản văn Gr
2:26-29; 10:1-16 châm biếm các ngẫu tượng
của dân ngoại bằng gỗ bằng bạc
bằng vàng. Chúng ta hiểu được điều
này dễ dàng v́ đây chính là điều Giavê Thiên Chúa
cấm dân Israel không được làm h́nh
tượng Giavê (Xh 20:4), và khi con dân Israel làm
ḅ vàng để thờ rồi cho đó là Đấng
đă dẫn họ ra khỏi Aicập th́ YHWH
đă nổi giận dân (Xh 32). Ngày nay chẳng ai trong
các tôn giáo ngoài Kitô thờ kính khúc gỗ, ngẫu
tượng do người phàm làm ra; nếu họ cúi
ḿnh trước những ảnh tượng th́ không phải
những ảnh tượng là đối tượng
tôn thờ, nhưng đối tượng tôn thờ là cái
ǵ siêu vượt trên cái đó. Tương tự
như vậy, người Công giáo cũng không tôn thờ
ảnh tượng, nhưng ảnh tượng là
biểu tượng của thực tại siêu
vượt.
Một số tác giả
dựa vào thơ thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma để
kết án các tôn giáo ngoài Kitô. “Quả vậy, từ
trời sự thịnh nộ của Thiên Chúa
được mặc khải ra trên mọi sự vô
đạo và bất chính của những kẻ lấy
bất chính hăm cầm sự thật. V́ chưng lộ
hiện rồi nơi họ những ǵ biết
được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày
tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo thành vũ
trụ, những ǵ nơi Người, mắt xác
thịt không thể thấy th́ trí khôn nh́n ngắm
được nơi công việc Người làm:
quyền năng hằng có và thần tính của
Người, khiến họ vô phương chữa
ḿnh. V́ rằng họ đă biết Thiên Chúa, họ lại
đă không tôn vinh Người như Thiên Chúa, hay không
tạ ơn Người, nhưng họ đă ra hư
luống trong các suy tưởng của họ, và ḷng ngu
muội của họ đă ra tối tăm. Trong khi
họ huênh hoang ḿnh khôn ngoan, th́ họ đă ra điên
rồ. Và họ đă tráo đổi vinh quang Thiên Chúa
bất hoại với loài người hư nát, và bao
cầm thú, cùng rắn rít (Rm 1:18-23).” Ở đây thánh
Phaolô bàn về tội lỗi của con người, đă
không theo đường lối của Thiên Chúa nhưng
bẻ quặt đường lối của Ngài theo
kiểu của ḿnh; cũng tương tự, tác
giả sách Sáng Thế (St 3, 1tt) cho rằng tội của
Adam là muốn trở nên thần linh bằng sức riêng
của ḿnh, độc lập với Thiên Chúa; nhưng
vấn đề hệ tại t́m hiểu xem các tôn giáo
ngoài Kitô là công tŕnh của Thiên Chúa hay của con
người, nếu các tôn giáo ngoài Kitô là công tŕnh của
con người th́ vấn đề đă
được giải quyết; cụ thể cho
đến giờ chúng ta không chứng minh được
như vậy.
Lịch sử cho
thấy, nhiều tôn giáo xuất hiện trước Do Thái
giáo và Kitô giáo, và các Kitô hữu cũng đă sống
chung đụng với những tín hữu của các
tôn giáo này; thời đầu tiên trong Cựu
Ước và Tân Ước các tác giả không bàn
trực tiếp về các tôn giáo ngoài Kitô, nếu có dịp
th́ các tác giả chỉ nhắc qua thôi; thời các giáo
phụ cũng vậy; việc nghiên cứu về các
tôn giáo ngoài Kitô chỉ xuất hiện trong những thế
kỷ gần đây.[142]
Dù các giáo phụ không
đặt câu hỏi về các tôn giáo như chúng
ta đang đặt hôm nay, nhưng đôi khi các ngài
cũng bàn về khía cạnh chân lư trong các tôn giáo ngoài
Kitô. H. Kraemer đă tóm tắt lập trường
của các giáo phụ như sau:
· Lập trường thứ nhất cho rằng các
điều hay và tốt nơi các tôn giáo là do công tŕnh
của logos spermatikos.
· Lập truờng thứ hai chủ trương
rằng những ǵ tốt đẹp và chân
thật nơi các tôn giáo khác là do các tôn giáo ấy
lấy những ǵ tốt đẹp và chân thật
nơi Do Thái giáo hoặc Kitô giáo.
· Lập truờng thứ ba cho rằng những ǵ
được coi là chân thiện mỹ nơi các tôn
giáo khác chỉ có vẻ là chân thiện mỹ thôi, chứ
thực ra đó là công tŕnh của ma quỷ, v́ không có
chân thiện mỹ nơi các tôn giáo ngoài Kitô.[143]
Trong thời sơ khai
của Hội thánh, có kẻ khi tiếp xúc với các
tôn giáo ngoại đă có khuynh hướng “hoá đồng
tôn giáo,” họ cho rằng Zarathoustra, đức Phật
và đức Kitô chỉ là một thực tại.
Hội Thánh Byzantine đă kết án những
người chủ trương như vậy: “coi
là ngoại đạo những ai nói rằng Zarathoustra,
Phật, Kitô, Mani và Mặt Trời là một và cùng là
một sự. Coi là ngoại đạo những ai
nhận thuyết luân hồi, nghĩa là sự
chuyển di linh hồn của một thân xác này vào
một thân xác khác.”[144]
Giáo phụ Tatien sinh
khoảng năm 120 tại Assyrie, là môn đệ
thánh Justin ở Roma, được huấn luyện
về văn chương và triết lư tại
đó. Tatien không bàn về tôn giáo nhưng qua thái
độ của ông đối với triết gia, ta
thấy ông rất nghiêm khắc; ông kết án các triết
gia, cho rằng họ đă rơi vào mọi loại
tật xấu, sai lầm và mâu thuẫn.
Théophile d' Antioche cũng
vậy, Ngài bài bác các triết gia bằng cách chưng ra
những sai lầm và nghịch lư của họ.[145]
Thái độ của các
ngài chúng ta cũng có thể hiểu được nếu
chúng ta đặt ḿnh vào bầu khí hộ giáo lúc đó:
các triết gia ngoại giáo đang châm biếm và
đả phá Kitô giáo; v́ thế các Ngài bênh
vực đạo giáo và cho thấy những sai lầm
của họ đứng từ lập trường
của ḿnh. Sở dĩ chúng ta đưa hai ngài vào
lập trường những người có câu trả
lời tiêu cực cho vấn đề thần học các
tôn giáo, v́ nếu thái độ của các ngài
đối với các triết gia c̣n vậy, huống
hồ là đối với các tôn giáo ngoài Kitô.
Thánh Augustin, thần
học gia lỗi lạc vào bậc nhất của
Hội Thánh, sinh khoảng năm 354 ở Numide tại
Tagaste, cho rằng các triết lư có những giá trị đích
thực, nhưng nó có được như vậy là do
nó chiếm đoạt cách bất chính những giá trị
đích thực của Kitô giáo. Dựa vào quan niệm
này của Augustin, nhiều người cho rằng
những tôn giáo ngoài Kitô cũng có những giá trị tôn giáo
đích thực, nhưng giá trị đó là do các tôn giáo
ngoài Kitô chiếm đoạt cách bất chính nơi
Hội Thánh Kitô giáo.[146] Để nhận định lời nói
trên của Augustin cách đúng đắn, chúng ta
phải nhớ rằng ngài đă có thời gian khá dài
sống theo hết các triết lư này đến
triết lư khác và cuối cùng Ngài mới trở lại tin
đức Kitô, ngài chỉ được rửa tội
năm 387, nghĩa là 33 năm sống trong
lầm lạc.
Đối với
Fulgence de Ruspe, các tôn giáo ngoài Kitô không có giá trị
cứu độ, và thậm chí những người
sống ngoài Giáo Hội Công Giáo đều phải sa
hỏa ngục: “Không có ǵ phải nghi ngờ rằng
không chỉ những lương dân mà tất cả
những người Do Thái, tất cả những người
lạc giáo và ly giáo, những người chết ngoài
Giáo Hội Công Giáo, sẽ sa vào lửa đời
đời đă được sắm sẵn cho
ma quỷ và các thần của nó.”[147] Đọc các lời này của Fulgence de Ruspe,
chúng ta nhớ đến câu châm ngôn thần học “extra
ecclesiam nulla salus.” Câu châm ngôn này đă được Giáo
Hội chính thức giải thích như chúng ta đă
thấy ở trên.
Thánh Thomas, một
thần học gia vĩ đại của Giáo Hội Công
Giáo sinh năm 1225 tại Roccasecca, đă đặt
vấn đề về nghi lễ của dân ngoại.
Theo thánh nhân, các nghi lễ của dân ngoại không có sự
thật cũng không có lợi ích chút nào, nhưng
để có một ích lợi lớn hơn th́ có
thể dung thứ các nghi lễ của dân ngoại với
mức độ.[148]
Một số
người dựa vào nguyên tắc của thánh Thomas “bonum
ex integra causa, malum ex quocumque defectu” để kết
luận rằng: mọi tôn giáo ngoài Kitô tự bản chất
là xấu, nghĩa là nó không nằm trong chương
tŕnh của Thiên Chúa, và do đó không là
phương tiện Thiên Chúa dùng cứu độ con
người.[149]
Luther và những
người thuộc phe cải cách chủ trương
tất cả các tôn giáo kể cả Công giáo,
đều xấu v́ đó là nỗ lực của sức
con người nhằm đặt đến sự
cứu độ.[150] Luther đă theo nguyên tắc: chỉ
do sức con người th́ không thể đạt tới
sự cứu độ. Adam và Evà xưa cũng
muốn trở thành thần minh độc lập với
Thiên Chúa, và như thế hai ông bà đă phạm tội.
Nếu tôn giáo chỉ là nỗ
lực của con người để đạt
tới sự cứu độ, th́ tôn giáo không là
phương tiện cứu độ, mà hơn nữa
đó c̣n là một tội. Điều cần lưu ư:
những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô vẫn
chờ mong sự cứu độ như cái ǵ ngoài
ḿnh.
Vào thế kỷ XIX, theo
Gustave Thils, một số tác giả coi tôn giáo ngoại là các
tôn giáo tôn thờ ngẫu tượng, chẳng hạn
như:
P. Aubry: “Văn minh Trung
hoa dưới mọi quan điểm, gần như là
một sự dị hợm, không chỉ phản Kitô giáo
nhưng c̣n phản nhân bản nữa. Tôn giáo của
người Trung Hoa thật kỳ quặc, phi lư, lố
bịch nhất thế giới. Các tu sĩ là giai cấp
đê tiện, bị khinh bỉ, vô tri, hư thối! Các
nghệ thuật không được biết, nó không
hiện hữu. Trong các chùa và các lâu đài, có vài h́nh
tượng được vẽ hay điêu khắc
về ma quỷ và các con vật kinh khủng, kỳ quái;”[151]
J. Witte cũng coi tôn giáo
ngoài Kitô là sai lầm, tội lỗi và hư vong;[152]
Một số nhà
truyền giáo cũng có cái nh́n tiêu cực về các tôn giáo
ngoại. Những người này đi rao giảng và
thường gặp sức phản kháng chống tin
mừng Đức Giêsu Kitô từ các tôn giáo. Nói cách khác, các
tôn giáo ngoại ngăn cản người ta tiếp
nhận và đến với Đức Giêsu Kitô.[153]
Ở thế kỷ XX
này, một số anh em Tin lành như Karl Barth và H. Kraemer
lấy lại quan điểm về các tôn giáo của
Luther:
“Tất cả các tôn giáo
xuất hiện như một toan tính tự công chính hóa và
tự cứu rỗi của con người. Nói cách khác, tôn
giáo là những nỗ lực của con người
nhằm xác định ḿnh trước Thiên Chúa và nhằm
từ chối hay cho thấy ḿnh không thể nhận ân
sủng của Thiên Chúa là Đấng ban sự công chính cho
kẻ vô đạo. Mặc khải lột mặt nạ
tất cả các tôn giáo, vạch cho thấy sự không
cần thiết của mọi tôn giáo, nghĩa là sự
bất lực bẩm sinh của con người nhằm
đẻ ra chân lư, nỗi bất lực này sự phát
triển tôn giáo của con người xác chuẩn. Như
vậy, mọi tôn giáo đều là h́nh thức thờ
ngẫu tượng hay nỗ lực tự công chính hóa
nhờ việc làm, là sự kiêu ngạo. Những
điều này là những cây mọc trên đất Kitô
giáo.”[154]
Sau đây chúng ta tóm
lại những luận chứng cho rằng các tôn giáo ngoài
Kitô không là phương tiện Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người sống trong các tôn giáo đó:
· Các tôn giáo ngoài Kitô ngăn cản người ta
tiếp nhận và đến với Đức Giêsu Kitô.
Quan niệm này thường đến từ những nhà
truyền giáo. Hiện tượng tiêu biểu là
đạo Hồi.[155]
· Tôn giáo ngoài Kitô hoàn toàn là công tŕnh của con
người muốn tự ḿnh công chính hóa, nghĩa là con
người muốn độc lập với Thiên Chúa.[156]
· Giáo lư sai lầm không thể dung hợp với giáo lư
Kitô giáo, chẳng hạn thuyết luân hồi, v.v. Những
việc làm “vô luân” nếu nh́n dưới nhăn quan Kitô giáo,
chẳng hạn việc giao cấu với nữ tế
trong các tôn giáo Hylạp, hoặc việc dâng người
để tế thần.
Trên đây chúng ta đă
xét những luận chứng nhằm khẳng định
các tôn giáo ngoài Kitô không có giá trị cứu độ;
nhưng nếu chấp nhận kết luận này chúng ta
thấy vẫn c̣n những dữ kiện khó giải thích,
chẳng hạn có những nhà thần bí nơi các tôn giáo
ngoài Kitô,[157] cũng như những
điểm tương đồng về giáo lư của
những tôn giáo ngoài Kitô với Kitô giáo, chẳng hạn
niềm tin vào Đấng Tuyệt Đối, khẳng
định con người cần được cứu
độ, dạy con người phải làm lành lánh
dữ, v.v. Chính những điểm này đă làm phát sinh quan
điểm tích cực về các tôn giáo ngoài Kitô trong ḍng
lịch sử thần học.
C. NHĂN QUAN TÍCH CỰC:
Phương tiện cứu độ[158]
Tương tự
như những người chủ trương “tiêu
cực” về các tôn giáo ngoài Kitô đă làm, những
người chủ trương lập trường “tích
cực” cũng nại vào Kinh Thánh để biện minh cho
lập trường của ḿnh.
Kinh Thánh ngay khởi
đầu cho thấy Cain và Abel đă dâng lên Thiên Chúa
những lễ vật là hoa trái của cây cối và thú
vật (St 4:3-4). Các tôn giáo cũng có những nghi lễ
để biểu lộ tâm t́nh thái độ của con
người đối với Thiên Chúa.
Khi Thiên Chúa đă cứu
Noe và gia đ́nh ông thoát khỏi bị tiêu diệt trong
lụt hồng thủy, Ngài nói: “Phần Ta, này Ta lập
giao ước của Ta với các ngươi và ḍng giống các
ngươi đến sau các ngươi, cùng với
mọi sinh mạng sống với các ngươi,
với chim chóc, thú vật, dă thú với các ngươi, tóm
lại mọi vật đă từ tàu đi ra, mọi
sinh vật trên đất. Ta lập giao ước
của Ta với các ngươi: mọi loài có xác sẽ
không c̣n bị nước hồng thủy tiểu
trừ. Sẽ không c̣n có hồng thủy đến hủy
diệt cơi đất. Và Thiên Chúa phán: Này là dấu giao
ước Ta đặt giữa Ta với
các ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với
các ngươi, đời đời măi măi.” (St 9:8-12).
Như vậy chúng ta
thấy giao ước Thiên Chúa kư với Noe ở
đây là giao ước chung cho tất cả mọi
người, mọi sinh vật trên đất chứ
không chỉ với con cái Israel như ta thấy
những giao ước tiếp sau được nói
từ chương thứ 12 sách Sáng Thế
trở đi. Giao ước của Thiên Chúa cho Noe hàm
chứa: ơn cứu độ được ban
cho con người ở ngay trong t́nh trạng này,
nghĩa là trước khi có giao ước với
Abraham và ḍng giống ông. Như vậy trước
khi có Do Thái giáo và Kitô giáo, con người đă
được cứu độ nhờ tôn giáo của
họ, nghĩa là nhờ ḷng tin của họ vào Thiên Chúa và
những hành vi phượng tự họ dâng lên Thiên
Chúa!
Thánh Phaolô trên
đường rao giảng, Ngài tới Athêna và thấy có
một tượng thần người ta thờ kính
với danh hiệu “thần vô danh;” dựa vào đó,
Phao-lô đă nói: “Kính thưa quư vị người Athêna, xét
về mọi mặt tôi nhận thấy các ngài rất
sùng tín. V́ ngang qua, tôi ngước mắt nh́n về các
đồ thờ của các ngài, tôi đă gặp cả
một tế đàn trên đó có khắc: KÍNH THẦN VÔ
DANH. Vậy Đấng các ngài không biết nhưng có
kính thờ, th́ này tôi xin loan báo về Người cho
các ngài. Thiên Chúa tạo thành vũ trụ... Người
đă định thời tiết phân minh và cương
giới nơi chốn họ ở, ngơ hầu họ t́m
kiếm Thiên Chúa và họa may rờ rẫm sao mà gặp
được Người. Và quả thực Người
không xa mỗi chúng ta” (Cv 17:22-24.26-27).
Ở đây, chúng ta
thấy thánh Phao-lô đề cập tới việc
thờ tự của một dân thành có nghi lễ
riêng, đến các tôn giáo. Ngài không kết án các tôn giáo
nhưng muốn dùng chính tôn giáo để dẫn
đưa họ đến với Thiên Chúa đích
thực. Ngài cũng nêu lên những sai lầm của
họ nếu họ nghĩ rằng thần linh
lại giống như vàng, như bạc, như đá,
do nghệ thuật và suy tưởng con người
taọ ra (Cv 17:29).
Chúng ta sơ lược
qua một vài giáo phụ và thần học gia có cái nh́n
thuận lợi cho các tôn giáo ngoài Kitô.
Irénée, giám mục ở
Lyon gốc Tiểu Á sinh sống khoảng 140-202, là
môn đệ của Polycarpe (†155), trong tác phẩm
“chống lạc giáo,” đă viết: “Hăy đến hỡi
những kẻ Cha Ta chúc phúc... Chỉ có một và duy
chỉ có một Thiên Chúa là Cha, và Lời Ngài,
Đấng giúp tất cả theo nhiều
đường (variis quidem dispositionibus), Đấng
hoạt động nhiều, và là Đấng cứu
những người được cứu ngay
từ đầu, những người yêu mến Thiên
Chúa và sống Lời Thiên Chúa theo cách thức của
họ.”[159]
Phải chăng chúng ta
có thể hiểu từ ngữ
“nhiều đường” ở đây như những
đạo, những tôn giáo khác nhau?
Giáo phụ Clément ở
Alexandria sống trong khoảng năm 150-215
đă viết trong những hàng đầu quyển
Stromates: “Thiên Chúa là nguyên nhân của mọi sự lành,
của những sự lành này th́ Ngài là nguyên lư như
Cựu Ước và Tân Ước, của những sự
lành khác như triết lư, th́ Ngài như hậu quả.
Chính Ngài đă ban triết lư cho người Hylạp
trước khi những người này được
gọi. Thực vậy, triết lư dạy những
người Hylạp như cách thức một thầy
giáo, như Lề luật đă dạy dân Do Thái,
hướng về Đức Kitô.
Kinh Thánh nêu lên nhiều
đường cứu độ không chỉ cho
một người nhưng cho nhiều người
công chính theo, như đă viết: đường
người công chính sáng ngời như ánh sáng. Như
vậy có những giới răn, những huấn
thị (propédeutiques), những đường và
những phương lược cứu độ
đi trước.”[160]
Chỗ khác Ngài viết:
“Thiên Chúa chăm sóc tất cả hoàn vũ v́ Ngài là Chúa
của hoàn vũ. Ngài là cứu chúa, không phải là
cứu chúa của người này mà không là cứu chúa
của người khác. Nhưng Ngài đổ tràn hồng
ân của Ngài theo khả năng của từng
người, trên người Hylạp và người
mọi rợ, và cũng như trên người
được gọi vào giờ đă định.”[161]
Chỗ khác nữa Ngài
viết: “Thiên Chúa đă ban cho chúng ta một giao ước
mới. Bởi v́ giao ước liên quan đến
người Do Thái và Hylạp đă là giao
ước cũ. Theo ư kiến tôi, thánh Phao-lô đă
dạy rơ ràng rằng: cùng một Thiên Chúa và duy một
Thiên Chúa đă được biết, bởi người
Hylạp theo cách người ngoại, bởi
người Do Thái theo cách Do Thái giáo, nhưng bởi
chúng ta cách thiêng liêng...
Thiên Chúa đă ban cho chúng
ta hai giao ước, nhưng đồng thời
cho người Hylạp triết lư hylạp, trong đó
Ngài được tôn vinh bởi người Hylạp...
Bởi v́ cũng như
Thiên Chúa muốn cứu những người Do
Thái bằng cách ban cho họ các tiên tri, th́ cũng
vậy Ngài đă chọn những người thanh cao
nhất giữa những người Hylạp, và đă
đặt họ như các tiên tri trong ngôn ngữ
của họ với mức độ nhờ đó họ
có thể nhận biết ḷng nhân từ của Thiên
Chúa.”[162]
Như vậy chúng ta
thấy: thánh Clément thành Alexandria đặt sóng
đôi song đối giữa Do Thái giáo và triết lư
Hylạp; dân Do Thái được cứu độ
với các tiên tri, th́ người Hylạp cũng
được cứu độ với triết lư. Dân
Do Thái nhận ra ḷng nhân từ của Thiên Chúa qua giao
ước và lề luật, th́ người Hylạp
cũng nhận ra ḷng nhân từ của Thiên Chúa qua
sự khôn ngoan triết lư mà Thiên Chúa ban cho họ; nói
cách khác, triết lư cũng là phương lược
cứu độ cho người Hylạp. Nếu
Clément d'Alexandrie đă đặt song đối giữa
triết lư và Do Thái giáo, thiết tưởng chúng ta
cũng có thể đặt song đối giữa các
tôn giáo ngoài Kitô và Do Thái giáo, v́ tôn giáo ngoài Kitô cũng là cách
cho người ngoại tôn vinh Thiên Chúa theo cách của
họ.
Ở thời trung
cổ, chúng ta sẽ xét hai vị khá nổi tiếng,
đặc biệt khi các ngài bàn về hoặc nói
về tôn giáo ngoài Kitô, đó là thánh Bernard và Hồng y
Nicolas de Cusa.
Thánh Bernard (1090-1153) sinh
tại Fontaines les Dijon (Côté d'Or); ngài thiết lập
nhiều tu viện.
Khi bàn về phép rửa
tội, ngài viết: “Ai mà không biết thuở xưa, có
một phương thuốc khác phép rửa
để chống lại tội nguyên tổ.
Đối với
Abraham, và ḍng giống ông, có mầu nhiệm cắt b́ ban
kết quả này cách thần linh.
Đối với các
dân, chúng tôi cho rằng những người sống trong
tín ngưỡng đă được tha thứ,
người lớn bởi đức tin và các hy lễ,
trẻ con th́ bởi đức tin của cha mẹ.”[163]
Với đoạn
văn trên, chúng ta có thể nói thánh Bernard phân
những người được cứu khỏi
tội nguyên tổ làm ba loại: loại thứ
nhất là những Kitô hữu nhờ phép
rửa, loại thứ hai là dân Do Thái với phép
cắt b́, và loại thứ ba là những người
sống trong các tôn giáo khác nhờ đức tin và hy
lễ của họ. Ở đây chúng ta dám nói tới các
tôn giáo ngoài Kitô v́ thánh nhân có nhắc đến
đức tin và hy lễ. Ngoài Do Thái giáo, đă có những
người như Abel, Hênoc, Noê, Melkisêđêc, Balaam, dâng
hy lễ lên Thiên Chúa.
d. Nicolas de Cusa (1401-1464)
Nicolas de Cusa sinh năm
1401, được phong hồng y năm 1448, và mất
năm 1464. Ngài là thần học gia có cái nh́n rất tích
cực về các tôn giáo ngoài Kitô.
Ngài cho rằng: “Thiên Chúa
đă nói với mọi dân tộc qua những ngôn sứ.
Chính các tiến sĩ, tiên tri này dạy cho mỗi tôn
giáo học thuyết và nghi lễ của họ.
Những sự khác biệt này là điều đẹp ḷng
Thiên Chúa và làm rạng ngời vinh quang Thiên Chúa hơn. Tuy
nhiên Kitô giáo hoàn thành cách trọn hảo cái chính yếu
của tôn giáo đích thực: Kitô giáo là cách diễn
tả hoàn hảo nhất của tôn giáo đích thực
này.”[164]
Lời tóm trên của
Gustave Thils rất chính xác và đúng đắn, chúng ta
cùng nhau đọc tiếp một lời
nguyện nữa của hồng y Nicolas de Cusa
để rơ hơn cái nh́n của ngài:
“Lạy Chúa, Ngài biết
một số lớn sống với nhiều điều
trái ngược, và hầu như tất cả mọi
người sống đời khổ cực, lo lắng,
đau khổ và dưới ách thống trị của
những vua chúa; v́ thế có rất ít người
giữa họ có giờ để đạt tới cái
biết về chính họ như họ muốn. Họ
bị thúc đẩy bởi những mối lo và những
công việc trần thế và không thể t́m Ngài, vị
Thiên Chúa ẩn ḿnh. Chính v́ thế Ngài đă gởi xuống
cho dân Ngài những vị vua, những nhà thấu
thị, được gọi là các tiên tri. Một số
lớn trong họ khi hoàn thành trách nhiệm và nhân danh
Ngài, đă qui định những hành vi tôn giáo và
những luật lệ, và đă dạy dỗ dân vô tri. Và
họ đă nhận các luật này như thể Ngài
đă nói với họ mặt đối mặt, như
vị Vua của các vua. Họ đă nhận trong
niềm tin rằng họ nghe những luật này, th́
không phải là nghe các tiên tri nhưng là nghe Ngài trong các
tiên tri.
Với những
dân tộc khác nhau, Ngài đă gởi các tiên tri và
những tiến sĩ (thầy dạy) khác nhau,
người này ở giai đoạn này, kẻ
khác ở giai đoạn khác. Những điều này ở
trong điều kiện con người, sau thói quen lâu
dài đă trở nên như bản chất không thể
đổi, được bảo vệ như chân lư.
Chính v́ thế đă nảy sinh ra những điều
mâu thuẫn đối chọi nhau, khi mà mỗi nhóm quí
chuộng niềm tin của ḿnh hơn niềm tin
của nhóm khác.”[165]
Qua những bản
văn được trích trên, chúng ta thấy rơ cái nh́n và
lập trường của hồng y Nicolas de Cusa.
Với Ngài, các tôn giáo hiện diện cho những dân tộc
khác nhau, và các tôn giáo này nằm trong chương tŕnh
của Thiên Chúa. Nói cách khác, các tôn giáo- dù ngoài Kitô giáo-
vẫn có giá trị cứu độ, vẫn là
phương tiện cứu độ của Thiên
Chúa cho con người trong những dân tộc và hoàn
cảnh sống, cùng nền văn hóa khác nhau.
Giá trị cứu
độ của các tôn giáo ngoài Kitô là một vấn
đề có tầm quan trọng đặc biệt với
các nước phương đông như châu Á, nhưng
nó vẫn c̣n là vấn đề thần học khá mới
và chưa được nhiều người bàn
tới. Ở đây chúng ta chỉ xét một vài tác giả
đặc biệt.
e. Romano Guardini (1885-1968)
Tiền bán thế
kỷ XX, Romano Guardini cho rằng: “Đức Giêsu có
những tiền hô, trong thế giới Hy lạp có Socrate,
ở phương đông có đức Phật cũng
như Gioan tiền hô ở xứ Do Thái.”[166]
Quan niệm coi
Đức Phật là tiền hô của Đức Giêsu hàm
chứa rằng các tôn giáo do những vị đó
khởi lập sẽ tiếp nhận Đức Giêsu. Và
chúng ta cũng đă biết: tất cả những ǵ
giúp nhận ra Đức Giêsu là Kitô, là Con Thiên Chúa, là
Thiên Chúa đều là công tŕnh của Thánh Thần (1Cr 12:3).
Như vậy các tôn giáo ngoài Kitô có giá trị cứu
độ.
f. Đức giáo hoàng Piô XII
(+1958)
Đức Giáo hoàng Piô
XII trong bài nói chuyện với các “cô đỡ”
ngày 29.10.1951:
“Một hành vi t́nh yêu có
thể đủ cho một người trưởng thành
nhận ân sủng thánh hóa và bù đắp việc không
có phép rửa.”[167]
Trong sứ điệp
gởi qua hệ thống truyền thanh cho hội nghị
tại Ernakulam ngày 31.12.1952, Ngài nói:
“Các con hăy làm cho thấy
rơ, tất cả những ǵ là chân thật và tốt
đẹp trong các tôn giáo khác đều t́m thấy ư
nghĩa sâu xa và sự bổ túc hoàn hảo nơi
Đức Kitô.”[168]
Yves Congar, thần
học gia nổi tiếng, đă trích dẫn câu
của Th. Ohm: “Không có tôn giáo ngoài Kitô nào mà ở đó
người ta không t́m thấy một loại, một
dấu vết của t́nh yêu Thiên Chúa.”[169] Chẳng hạn trong
Ấn độ giáo cũng có một giáo phái lấy
đức ái (Bakti) làm con đường căn
bản phải thực hành để được
cứu độ.
Karl Rahner, thần
học gia có tầm vóc vào loại lớn nhất của
thế kỷ XX, cũng có quan niệm tích cực
về các tôn giáo ngoài Kitô, đặc biệt những tôn
giáo ngoài Kitô tiền Kitô giáo.
Chúng ta có thể tóm
tắt lập luận của K. Rahner như sau:
Con người là sinh
vật xă hội, nên tín ngưỡng của
con người cũng được diễn tả
cách xă hội, nghĩa là các tôn giáo như chúng ta thấy
ngày nay; có các tôn giáo ngoài Kitô hiện hữu trước Do
Thái giáo và Kitô giáo là chuyện tự nhiên.
Thiên Chúa muốn con
người được cứu độ cách siêu
nhiên, nghĩa là, chủ quan được ân sủng
hướng dẫn và khách quan qua phượng tự và
các luật luân lư.
Như vậy các tôn giáo
ngoài Kitô nằm trong chương tŕnh cứu độ
của Thiên Chúa. Tuy nhiên những tôn giáo ngoài Kitô này không
có những khách quan tính của lịch sử cứu
độ như nhau.[170]
3. Lập trường
tích cực dựa vào lịch sử cứu độ
H. R. Schlette, trong tác
phẩm Die Religionen als Thema der Theologie xuất bản
bởi Herder năm 1963 và được dịch ra
tiếng Anh bởi W. J. O'Hara năm 1966 với tựa đề
Towards a theology of Religions, đă bảo vệ
lập trường coi các tôn giáo ngoài Kitô nằm trong
chương tŕnh Thiên Chúa cứu độ con
người.
Tác giả phân biệt
lịch sử cứu độ thông thường và
lịch sử cứu độ đặc biệt khi
bàn về lịch sử cứu độ. Bởi v́:
· con người có tính lịch sử,
· lịch sử thế trần được nhận
là lịch sử thế trần nếu đứng trên quan
điểm lịch sử cứu độ, và cũng
chính lịch sử thế trần được nhận
ra là lịch sử thánh cũng nhờ đứng trên
quan điểm lịch sử cứu độ.
· Lịch sử thánh, mà nhờ lịch sử này và
đứng trên quan điểm của lịch
sử này mà nh́n lịch sử thế trần và
nhận ra đó là lịch sử thánh, là lịch sử
thánh đặc biệt.
Với lập luận
của Schlette về các tôn giáo ngoài Kitô, sự khác biệt
giữa lịch sử thánh thông thường và lịch
sử thánh đặc biệt là điểm quyết
định!
H. R. Schlette cũng
dựa vào 11 chương đầu của sách Khởi
Nguyên và cụ thể là ḍng truyền thống Y
để chứng minh cho lập trường của ông.
Tác giả cũng nhận rằng tŕnh thuật này có
tính tâm nguyện, nhằm nối kết lịch sử
dân Israel với nguồn gốc tuyệt đối
của vũ trụ, và những tŕnh thuật này cho
chúng ta thấy có những kinh nghiệm tôn giáo hiện
hữu ngoài Israel.
Dựa vào giao
ước Noê, tác giả cho rằng tương quan giao
ước không chỉ hiện hữu giữa Thiên Chúa
và Israel nhưng cũng đă hiện hữu với
những người không phải là Israel, hơn
nữa với mọi người và ngay cả với
mọi sinh vật trên đất nữa. Như vậy
khi suy nghĩ về giao ước Noê, chúng ta thấy
ơn cứu độ có thể được
đạt tới với t́nh trạng của giao
ước này, nghĩa là t́nh trạng “ngoại.”
Lập luận của
H. R. Schlette:
· Con người là một sinh vật xă hội, nên
mọi sinh hoạt của con người đều
mang tính xă hội, kể cả hành vi tôn giáo, và những hành
vi tôn giáo với tính xă hội này phải có tính cứu
độ trừ phi chúng ta chứng minh chắc
chắn rằng ngược lại.
· Lịch sử thánh thông thường (so với
lịch sử thánh đặc biệt khởi
đầu với dân Israel) có thể và phải
được coi là Thiên Chúa muốn, nên các tôn giáo ngoài
Kitô phải được coi là điều Thiên Chúa
muốn và thánh hóa, ngay cả với t́nh trạng
hiện tại của các tôn giáo đó.[171]
Gút lại ư kiến
của H. R. Schlette: các tôn giáo ngoài Kitô là cách diễn tả
xă hội của việc con người t́m
kiếm Thiên Chúa được Thiên Chúa muốn, nên
cũng nằm trong chương tŕnh cứu độ
và là hồng ân của Thiên Chúa. Các tôn giáo ngoài Kitô là
những con đường cứu độ, những con
đường cứu độ trong lịch sử
thánh thông thường (so với con đường cứu
độ đặc biệt là Giáo Hội trong lịch
sử thánh đặc biệt).[172]
D. Lập trường tích
cực từ nhăn quan mặc khải
Với quan điểm
Kitô giáo, chúng ta nhận thấy nơi các tôn giáo ngoài Kitô
có những điểm sau:
· những điểm tích cực như tin vào Tuyệt
Đối; dạy ăn ngay ở lành; có nhiều
điều đúng và hay,
· có những nhà thần bí kết hiệp với
Tuyệt Đối,
· nhưng cũng có nhiều điều sai lầm không
thể dung hợp với đức tin Kitô giáo,
chẳng hạn như thuyết luân hồi nơi đạo
Phật và đặc biệt hiện tượng
Hồi giáo phá hủy các cộng đoàn Kitô hữu ở
Đông Phương cũng như việc coi Mahomet trên
Đức Giêsu; các tôn giáo ngoài Kitô dường như
ngăn cản người ta tin nhận Đức Giêsu.
Lập trường tiêu
cực về các tôn giáo ngoài Kitô lấy những
điểm không tích cực làm luận chứng chính,
thế nhưng không giải thích được cách ổn
thỏa những điểm tích cực nơi các tôn
giáo ngoài Kitô. Lập trường tích cực như chúng
ta đă xét từ trước tới giờ, giải
thích tạm ổn những nét tích cực nơi các tôn
giáo ngoài Kitô, nhưng vẫn chưa giải thích thỏa
đáng những sai lầm nơi các tôn giáo ngoài Kitô và
đặc biệt hiện tượng Hồi giáo.
Với nhăn quan mặc
khải nh́n các tôn giáo ngoài Kitô, hy vọng đóng góp
phần nào vào nỗ lực giải thích hiện
tượng các tôn giáo ngoài Kitô, theo quan điểm Kitô giáo,
có những điểm tích cực cũng như tiêu
cực.
Những bước
chính của lập luận này như sau:
· Thiên Chúa muốn cứu độ con người, Ngài
đă mặc khải để cứu độ
con người. Mặc khải là hành vi cứu
độ.
· Nếu tôn giáo ngoài Kitô có mặc khải, th́ tôn giáo
ngoài Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người.
· Với ánh sáng về Do Thái giáo và với giáo huấn
về việc lưu truyền và bảo vệ mặc
khải nơi Kitô giáo, chúng ta giải thích được
những sai lầm nơi các tôn giáo ngoài Kitô và hiện
tượng Hồi giáo.
Thiên Chúa muốn tất
cả mọi người được cứu
độ và nhận biết chân lư (1Tm 2:4).
Để thực thi
chương tŕnh cứu độ con người, Thiên Chúa
đă mặc khải chính Ngài và chương tŕnh cứu
độ loài người cho con người. Thiên Chúa
mặc khải để cứu độ con
người; và nếu không có mặc khải th́ không có
cứu độ; hành vi mặc khải của Thiên Chúa
cũng là hành vi Thiên Chúa cứu độ con
người.
Như vậy,
để biết các tôn giáo ngoài Kitô có là phương
tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người hay không- hay nói cách khác các tôn giáo ngoài Kitô có
nằm trong chương tŕnh Thiên Chúa cứu độ con
người hay không- chúng ta t́m hiểu xem các tôn giáo ngoài
Kitô có mặc khải không. Nếu chúng ta chứng minh
được có mặc khải trong các tôn giáo ngoài Kitô,
chúng ta có thể kết luận các tôn giáo ngoài Kitô
nằm trong chương tŕnh cứu độ con
người của Thiên Chúa, hay nói cách khác, các tôn giáo
ngoài Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ những người sống
trong các tôn giáo đó.
2. Con người có
thể tiếp nhận mặc khải
Con người có
khả năng tiếp nhận mặc khải của Thiên
Chúa, bởi v́ Thiên Chúa đă tạo dựng nên con
người để con người được sống
hạnh phúc với Thiên Chúa, để con người
được thông giao với Thiên Chúa.
Con người tự
bản chất có khả năng khai mở về Tuyệt
Đối và khả năng này vô hạn. Nếu con
người tự đóng kín với chính ḿnh hay những ǵ
phàm trần mà không vươn lên, con người không
đạt được chính ḿnh, không trở nên
như ḿnh phải là, nghĩa là không đạt đến
mức độ thành toàn.
Khi Thiên Chúa tạo dựng
nên con người, Ngài đă tạo dựng để con
người được trở nên giống Ngài. Nói
cách khác, khi tạo dựng nên con người, Ngài đă
sống tương quan thân thiết với con
người, nghĩa là không ngừng mở ra với
con người, không ngừng mặc khải cho con
người. Hiểu như vậy, Thiên Chúa luôn luôn mặc
khải cho con người!
Những người
sống trong các tôn giáo ngoài Kitô tin rằng Tuyệt
Đối đă mặc khải cho họ qua tôn giáo họ
đang sống. Nói cách khác họ tin rằng tôn giáo của
họ là tôn giáo mặc khải. Chẳng hạn những
người theo đạo Balamôn coi Rig-Veda là Çruti,
nghĩa là Lời mặc khải, người sống trong
Do Thái giáo tin rằng Ngũ Kinh của họ
được mặc khải, người Hồi giáo
tin rằng kinh Coran là Kinh Thánh.[173]
Mặc khải cũng
có nhiều cấp độ, chúng ta có thể tạm chia
làm 3 cấp độ:
Nghĩa là qua tự nhiên
thiên nhiên, con người có thể nhận ra sự
hiện diện của Thiên Chúa. Chẳng hạn:
“Vinh quang Thiên Chúa
trời xanh vang lời kể lể, ṿm cao xanh thuật
lại việc Người làm, ngày ngày thổ lộ
nên lời, đêm với đêm tỉ tê rằng biết; nhưng
chẳng rằng cũng chẳng nói năng, không vang
một tiếng ḥng lọt thấu tai mà ḱa vạn lư
thấy toàn cơi đất, và từ ngữ đạt
tới mút cùng dương gian” (Tv 18:2-5). Hoặc: “V́
chưng lộ hiện rồi những ǵ biết
được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày
tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo thành vũ
trụ, những ǵ nơi Người, mắt xác
thịt không thể thấy, th́ trí khôn nh́n ngắm
được nơi công việc Người làm” (Rm
1:19-21).
Chúng ta có thể nói:
mặc khải tự nhiên này được ban cho
tất cả mọi người, và nếu không nhận
được mặc khải nào đặc biệt hơn,
con người vẫn phải đáp trả mặc
khải tự nhiên này bằng đức tin “tự
nhiên.” Lương tâm cũng được coi là mặc
khải tự nhiên, v́ được coi là “tiếng
Chúa” nói với mỗi người.
b. Mặc khải cá biệt
hoặc thần bí
Mặc khải thần
bí là mặc khải được ban cho một
số người đặc biệt, chẳng hạn
cho các nhà thần bí. Có thể coi những người khởi
lập nên tôn giáo được mặc khải này-
nếu họ được mặc khải thực, v́
mặc khải gắn liền với con
người, mà con người có tính xă hội, nên khi
một người được mặc khải,
họ thường chia sẻ kinh nghiệm về
Tuyệt Đối họ gặp được cho
những người thân, cho những người xung quanh.
Và như vậy một tôn giáo được
khởi lập, bởi v́ với những mặc
khải họ nhận được (và sau đó
những người cùng chia sẻ niềm tin với
họ), họ có thái độ đối với Tuyệt
Đối được biểu lộ qua những hành vi
cá nhân (khi chỉ có một người) hay qua hành vi tập
thể (khi có nhiều người cùng chia sẻ niềm
tin).[174]
c. Mặc khải đặc
biệt nơi Kitô giáo
Mặc khải
đặc biệt nơi Kitô giáo với Đức Giêsu là
Lời Nhập Thể!
4. Có mặc khải trong
các tôn giáo ngoài Kitô
Kinh Thánh Kitô giáo cũng
chấp nhận sự kiện Thiên Chúa mặc khải
cho những người ngoài Kitô giáo, những
người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô.
Ngay sau khi con
người đầu tiên phản bội, Thiên Chúa đă
đi t́m con người và ngỏ lời với con
người đầu tiên, dù rằng con người
lẫn tránh Thiên Chúa (St 3:9-10). Trong lần gặp gỡ
này, ơn cứu độ đă được
hứa ban cho con người (St 3:15).
Hênok được Kinh
Thánh ca ngợi, cho rằng ông đă bước đi
với Thiên Chúa (St 5:22-24).
Như vậy chúng ta
thấy Thiên Chúa không ngừng hiện diện và
tương quan với con người.
Trong giao ước
Thiên Chúa kư kết với Noe và gia đ́nh ông, giao
ước này không chỉ gồm Noe và gia đ́nh,
nhưng bao gồm tất cả sinh vật sống với
họ: “Này đây là dấu Ta đặt giữa Ta và các
ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với các
ngươi, đời đời măi măi” (St 9:12.15-17).
c. Cho Balaam tiên tri dân ngoại
Tương quan giữa
Thiên Chúa và con người đă được chính Thiên
Chúa quyết định, Ngài không ngừng ngỏ
lời, đối thoại và tỏ hiện với con
người để cứu độ con
người. Sau biến cố Thiên Chúa gọi Abraham,
Ngài vẫn tỏ ḿnh cho những người ngoại
như trong trường hợp Balaam. Balaam là tiên tri
của dân ngoại bên bờ sông Phơrat, ông đă có
tương quan khá mật thiết với Thiên Chúa dù ông
không phải người Israel. Thiên Chúa đă phán
dạy ông không được trù ẻo dân Israel, v́ Israel là
dân đă được Thiên Chúa Giavê chúc phúc, và ông
đă vâng lời Thiên Chúa (Ds 22:2-14). Với tŕnh thuật
của Kinh Thánh về Balaam, chúng ta thấy Thiên Chúa
đă tỏ ḿnh cho tiên tri dân ngoại để can
thiệp vào vận số của con dân Israel. Nếu
Balaam đă có tương quan mật thiết với Thiên
Chúa như vậy, chắc chắn ông cũng đă
truyền đạt kinh nghiệm của ông với Thiên
Chúa cũng như những ư định của Thiên Chúa
mà ông đă lănh nhận cho những người ông
gặp, dù đó là những người lân cận sống
với ông hay những người tới thỉnh
cầu ư kiến ông từ xa.
Với Kyrô xứ
Batư, tiên tri Isaia nói là Thiên Chúa đă xức dầu
phong vương để ông giải phóng dân Israel
khỏi bị lưu đày ở Babylon, Kyrô là một
người ngoại làm vua dân ngoại, nhưng Thiên Chúa
đă gọi ông, tuyển chọn ông, đă nói với
ông (Is 44:28; 45:1). Kyrô được Thiên Chúa phong
vương, nhờ ông mà dân Israel được
trở về từ nơi phải lưu đày, ông
đă thực hiện ư định của Thiên Chúa nơi
dân Israel. Như vậy không có lư ǵ buộc ta phải
phủ nhận ư kiến cho rằng cũng chính vua
được xức dầu này đă thực hiện ư
Chúa nơi dân tộc ông tức dân Batư. Có thể nói
qua vị vua “được xức dầu” này, Thiên Chúa
đă nói và cai trị, không những với dân Israel mà
thôi, nhưng c̣n với cả dân Batư nữa.
Thiên Chúa đă nói với
những người trong Do Thái giáo. Không ai trong chúng ta
phủ nhận Do Thái giáo là tôn giáo được mặc
khải, thế nhưng tại sao đa số thành viên
của Do Thái không đón nhận tin mừng Đức Giêsu
Kitô?
Do Thái giáo là tôn giáo
được mặc khải, nằm trong chương
tŕnh cứu độ con người của Thiên Chúa,
thế mà tại sao Do Thái giáo vẫn chống đối Đức
Giêsu, chống đối Công Giáo? Tại sao Do Thái giáo bách
hại Giáo Hội sơ khai, giết chết Stêphanô?
Tại sao các thành viên Do Thái giáo như Saul bách hại các Kitô
hữu? v.v.
Nếu những tôn giáo
ngoài Kitô cũng có những yếu tố được
mặc khải, cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng
cứu độ những người sống trong
đó, th́ tại sao có những sai lầm không thể
dung hợp với đức tin Kitô giáo,
chẳng hạn:
· đạo Cao Đài cho rằng đạo Công Giáo
cũng chỉ như những đạo khác,
Đức Giêsu chỉ là một vị tiên tri lớn
như bao vị tiên tri lớn khác mà thôi?
· đạo Phật chủ trương luân hồi,
nghĩa là chết có thể đầu thai làm
người lại hoặc làm con vật nếu họ
không đuợc giải thoát lên cơi niết bàn?
· Hồi giáo coi Đức Giêsu là một tiên tri lớn
nhưng không phải là Thiên Chúa.
Để trả
lời, chúng ta xem gương người Do Thái. Họ cùng
với chúng ta tin Cựu Ước là Lời Thiên Chúa nói
với con người, và như vậy không thể
sai lầm. Chính Đức Giêsu cũng tin như
vậy: “Trước khi trời đất qua đi
th́ một chấm một phết cũng sẽ không qua
khỏi lề luật, trước khi mọi
sự đă xảy ra” (Mt 5:18). Nhưng nơi
người Do Thái, chúng ta thấy không chỉ có Kinh Thánh
mà người ta c̣n có tập tục tiền nhân, và
lắm khi người ta c̣n coi tập tục của
tiền nhân trên cả lệnh truyền của Thiên Chúa.
Đức Giêsu đă tố cáo việc này (Mt 15:1-20).
Người Do Thái đă quá nô lệ vào lề luật vào
chữ viết, và không hiểu đúng lệnh
truyền của Thiên Chúa; chẳng hạn họ coi con
người được tạo dựng v́ lề
luật, chứ không phải lề luật v́
con người (Mt 12, 1-14). Khi họ giải thích lề
luật như vậy, giải thích Lời Chúa như
vậy, họ đă đem ư họ làm ư Chúa, và như
vậy là sai lầm. Hậu quả là họ không tin
nhận Đức Giêsu!
Với ánh sáng của
người Do Thái giáo, chúng ta có thể trả lời:
Các tôn giáo ngoài Kitô có
những sai lầm và cũng có những chân lư, có
những yếu tố mặc khải;
những yếu tố
mặc khải và chân lư đến từ Thiên Chúa nhưng
những điều sai lầm đến từ con
người, là công tŕnh của con người.
Sở dĩ có
trường hợp như vậy một phần v́ con
người đă đi quá những điều Thiên
Chúa muốn mặc khải, con người muốn có
một hệ thống hợp lư và chắc chắn;
phần khác v́ con người chưa b́nh tâm lắng nghe
Thánh Thần và không được đặc ân lưu
truyền mặc khải cách vẹn toàn như Giáo Hội
Công Giáo.
Như vậy, với ư
định Thiên Chúa muốn cứu độ mọi
người, cùng với những đoạn Kinh Thánh
cho thấy Thiên Chúa đă nói với dân ngoại và ngay
cả tiên tri của dân ngoại, cùng với những
kinh nghiệm về Thiên Chúa mà chúng ta thấy nơi các
tôn giáo ngoài Kitô những kinh nghiệm rất sâu xa
và những điều chân thật.[175] Chúng ta có thể kết luận: Thiên
Chúa không chỉ mặc khải cho dân ngoại và cho
những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô qua
việc tạo dựng, qua lương tâm, qua sự khôn
ngoan do lư trí t́m kiếm, nhưng Ngài c̣n mặc khải
cho họ qua lời hoặc qua chính cuộc sống và
con người của người mà Thiên Chúa đă và bày
tỏ ư định của Ngài, cách đặc biệt
nơi các vị sáng lập tôn giáo và những thành viên
được mặc khải riêng đặc biệt.
E. Biểu tượng- ngôn
ngữ tôn giáo
Nếu chúng ta hiểu
biểu tượng là dấu chỉ của thực
tại vô h́nh, và dấu chỉ là thực tại
khả giác mang ư nghĩa, th́ biểu tượng là thực tại
khả giác mang ư nghĩa của thực tại vô h́nh.[176]
Dựa
vào tương quan giữa thực tại
được biểu tượng và thực tại
biểu tượng, người ta đă phân làm ba
loại: biểu tượng quy ước, biểu
tượng tự nhiên và biểu tượng thực.
Chẳng hạn trong lănh
vực tôn giáo,
· biểu tượng quy ước: cái hào quang trên
đầu ai đó là biểu tượng người
đó thuộc về Thiên Chúa, là thánh;
· biểu tượng tự nhiên: trái tim Đức
Giêsu là biểu tượng t́nh yêu của Thiên Chúa
hoặc của chính Đức Giêsu đối với
con người;
· biểu tượng thực: các bí tích Kitô giáo như
phép rửa, Thánh Thể, v.v. Gọi là biểu
tượng thực, v́ nó vừa là
biểu tượng vừa là thực tại
được biểu tượng.
Biểu tượng- xét
như dấu chỉ của thực tại vô h́nh- là cây
cầu giữa cái khả kiến và cái vô h́nh, giữa
thời gian và vĩnh cửu, giữa hữu hạn và
vô cùng. Dưới một khía cạnh nào đó, có thể
coi thiên nhiên như tỏ lộ của Thiên Chúa, và
như vậy chỉ cần nh́n thiên nhiên, và thấy
nơi những ǵ hữu h́nh này dấu chỉ
về thực tại vô h́nh, dấu chỉ của Thiên
Chúa. Thiên nhiên là biểu tượng của Thiên Chúa.[177] Đây là những biểu
tượng tự nhiên mà đă là người, với
bất cứ nền văn hóa nào, cũng có thể lănh
hội được. Ngay cả cục đá, cái cây,
một lịch sử, một người, cũng có
thể trở thành biểu tượng của Thiên Chúa cho
những người có kinh nghiệm hoặc những
người chấp nhận chia sẻ niềm tin
của những người được kinh
nghiệm.[178]
Biểu tượng xét
như là một dấu chỉ của thực tại vô
h́nh là ngôn ngữ của tôn giáo. Nói đến tôn giáo là
nói đến thực tại vô h́nh, một “thực
tại hoàn toàn khác” không thuộc thế giới của
chúng ta, là nói đến kinh nghiệm về thực
tại vô h́nh và nỗ lực diễn tả chính
thực tại hoàn toàn khác này, là nói đến
thái độ của con người đối với
thực tại siêu việt này.
Người có kinh
nghiệm về thực tại hoàn toàn khác này, có thể
diễn tả những kinh nghiệm ḿnh có
với thực tại cũng như chính thực
tại bằng ngôn ngữ triết học và thần
học, hoặc bằng các h́nh ảnh nghệ thuật,
nhưng ngôn ngữ thích hợp nhất đối
với đối tượng “thực tại hoàn toàn khác”
này là ngôn ngữ biểu tượng.[179]
V́ thực tại
được kinh nghiệm thuộc về thế
giới khác, nên chỉ diễn tả được
phần nào, chỉ diễn tả được khía
cạnh nào đó của thực tại siêu việt
thôi. Ngay cả với biểu tượng- ngôn ngữ
đặc biệt của tôn giáo- cũng chịu
giới hạn này: một đàng giúp hiểu thực
tại siêu việt nhưng đàng khác cũng che
dấu chính thực tại này.[180]
Biểu tượng
không là thực tại đó, không trùng khít với thực
tại siêu việt mà biểu tượng diễn
tả;[181] tự bản
tính, biểu tượng mời gọi con người
vượt biểu tượng để đi
đến chính thực tại siêu vượt mà
biểu tượng diễn tả. Trường
hợp Đức Giêsu là đặc biệt, Ngài vừa là
h́nh ảnh, biểu tượng của Thiên Chúa,
nhưng Ngài cũng chính là Thiên Chúa nữa. Ngài là
biểu tượng thực: vừa là biểu
tượng vừa là chính thực tại siêu việt.[182]
b. Diễn tả kinh nghiệm
với Đấng Siêu việt
Kinh nghiệm với
Đấng Hoàn Toàn Khác, với Đấng siêu việt
của cá nhân hay của một tập thể (khi tập
thể này chia sẻ cái biết, niềm tin, và cách diễn
tả đối với Thực Tại Siêu
Vượt của một cá nhân), được diễn
tả đầu tiên bằng ngôn ngữ của
biểu tượng, dù thuộc lănh vực tri thức
hay thái độ sống, thuộc lănh vực giáo lư hay
nghi lễ. Chẳng hạn đức tin của các Kitô
hữu “Tôi tin một Thiên Chúa là Cha toàn năng, tôi tin
Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa là Chúa chúng tôi, tôi
tin Thánh Thần,...” đầu tiên được
gọi là biểu tín (biểu tượng của
đức tin) nghĩa là cái qua đó diễn tả
thực tại ḿnh tin.[183]
Từ ngữ Cha
để chỉ Thiên Chúa, và từ ngữ Con Một
để chỉ Ngôi Lời, cũng được coi
là những từ ngữ biểu tượng; v́ rằng
nếu không hiểu theo nghĩa biểu tượng
người ta sẽ luôn luôn hiểu Cha có trước Con,
và Con hiện hữu sau Cha, bé hơn Cha; nhưng
đối với đức tin của chúng ta: Cha và Con
bằng nhau, không ai lớn hơn ai, Cha không có
trước Con và Con không có sau Cha. Như vậy nếu
hiểu theo nghĩa b́nh thường, chúng ta thấy
đầy dẫy mâu thuẫn trong niềm tin của
chúng ta và khó có thể chấp nhận
được; nhưng nếu chúng ta hiểu từ
ngữ này như những từ ngữ biểu
tượng, diễn tả Thực Tại Siêu Việt, th́
chúng ta có thể hiểu được phần nào Thực
Tại, và có thể chấp nhận cùng tin
được. Lấy thêm thí dụ, chẳng hạn khi
người ta thờ trời và bầu trời
được coi là biểu tượng của Thiên Chúa.
Trong trường hợp này người ta không tôn
thờ khoảng không ở trên đầu,
nhưng người ta tôn thờ Thực Tại
Siêu Vượt mà khoảng không “trời” ở trên
đầu người ta diễn tả những thuôc
tính của Ngài, như thực sự siêu vượt
cao vời trên con người, sự vô cùng; và như
vậy người ta tôn thờ thực tại mà
bầu trời biểu hiện! Cũng tương tự
như vậy khi người ta tôn thờ thần Cây
Đa, thần Cục Đá; người ta không thờ v́
chúng là Đá là Cây, nhưng người ta tôn thờ Thực
Tại ẩn giấu sau những biểu
tượng Đá Cây đó.[184]
Biểu tượng
gắn liền với kinh nghiệm “thánh thiêng” của
một cá nhân hay một tập thể nào đó, như
vậy biểu tượng gắn liền với nền
văn hóa của tập thể kinh nghiệm về
thực tại hoàn toàn khác này.[185]
Biểu tượng
không có gía trị như nhau. Có biểu tượng diễn
tả thực tại siêu việt trong suốt hơn,
và cũng có những biểu tượng diễn tả
“thực tại hoàn toàn khác” kém rơ ràng hơn.
V́ gắn liền
với nền văn hóa, nên có biểu tượng mất
dần ư nghĩa hoặc tác dụng theo thời gian và
tùy theo thế hệ. Ngay với một người, theo
thời gian, biểu tượng cũng có thể biến
nghĩa.[186] Nói như vậy không
muốn nói tất cả mọi biểu tượng
đều mai một theo thời gian; có những
biểu tượng gắn liền với kinh nghiệm
của một tập thể và tôn giáo, và biểu
tượng này chỉ mất nếu không c̣n tôn giáo đó
nữa!
Qua biểu tượng,
con người có thể gặp lại kinh nghiệm
của những người đi trước, có
thể có kinh nghiệm với thực tại siêu
việt như những người và tập thể
xưa đó.
3. Ân sủng cứu
độ qua biểu tượng tôn giáo
Trong những trang trên,
chúng ta đă t́m hiểu và đi đến khẳng
định:
· Thiên Chúa vui ḷng ban ân sủng cứu độ cho
tất cả mọi người, không những cho Kitô
hữu, mà c̣n cho cả những người sống
trong các tôn giáo ngoài Kitô và cho cả những người
chưa nhận biết Thiên Chúa- trừ phi lỗi tại
họ cố t́nh từ chối Tin Mừng Đức Giêsu
Kitô.
· Thiên Chúa tạo dựng con người là hồn và
xác, và Ngài thường ban ân sủng cho con người theo
cơ cấu “xác hồn.”
· Các tôn giáo ngoài Kitô có những biểu tượng
như dấu chỉ của thực tại siêu việt vô
h́nh. Các tôn giáo ngoài Kitô này diễn tả kinh nghiệm
với những hiểu biết của ḿnh về Thực
Tại Siêu Việt cũng như thái độ của
ḿnh với Tuyệt Đối bằng những biểu
tượng. Biểu tượng ở đây có thể là
những h́nh ảnh nghệ thuật, hoặc
thực tại qua đó có hiện tượng thần
hiển, hoặc những từ ngữ, những biểu tín
như giáo lư phải tin, hoặc những nghi thức
tế tự con người dâng lên Thiên Chúa, v.v.
· Những người sống trong tôn giáo ngoài Kitô này,
qua các biểu tượng, có thể gặp lại
kinh nghiệm của người xưa (cá nhân hay
tập thể), và có thể có những kinh nghiệm và
sự hiểu biết mới về Tuyệt Đối
cũng như thái độ phải có đối với
Ngài nữa. Lịch sử các tôn giáo ngoài Kitô cho chúng ta
thấy điều này qua những bậc thánh, tăng
và các nhà thần bí.
· Những biểu tượng, cũng như những
tôn giáo ngoài Kitô này, không là công tŕnh hoàn toàn do con
người xét như con người độc lập
với Thiên Chúa, nhưng là công tŕnh của con
người với sự trợ giúp của Thiên Chúa trong
t́nh yêu của Ngài.[187] Nghĩa là có những biểu
tượng trong các tôn giáo ngoài Kitô là công tŕnh của
Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể ban ân
sủng cho con người mà không cần dấu
chỉ,[188] đây là trường
hợp “đặc biệt” có thể áp dụng cho
tất cả mọi người dù người đó
thuộc bất cứ tôn giáo nào. Sự thường, Thiên
Chúa ban ân sủng cho con người qua trung gian dấu
chỉ hoặc biểu tượng, v́ đó là ư
định của Thiên Chúa. Sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa
tạo dựng con người là hồn và thân xác, tinh
thần và vật chất, là tinh thần nhập
thể. Nói cách khác, ân sủng của Thiên Chúa là t́nh yêu
của Ngài đối với con người
được diễn tả và biểu lộ qua
những dấu chỉ khả giác, và tương tự con
người đáp trả bằng t́nh yêu đối
với Thiên Chúa cũng được diễn tả và biểu
lộ qua những dấu chỉ khả giác.[189]
Vậy chúng ta có thể
kết luận: Thiên Chúa muốn và vui ḷng ban ân sủng
cứu độ cho những người sống trong
tôn giáo ngoài Kitô qua những biểu tượng,
những dấu chỉ khả giác mang ư nghĩa của
thực tại vô h́nh có trong các tôn giáo đó, phần nào
giống như Ngài muốn ban ân sủng cho những Kitô
hữu qua những biểu tượng có trong Kitô giáo.[190]
IV.
TƯƠNG QUAN GIỮA CÔNG GIÁO VÀ TÔN GIÁO KHÔNG KITÔ
Tất cả mọi
người- nếu họ được cứu
độ, dù chưa nhận biết Thiên Chúa hoặc
đang sống trong các tôn giáo ngoài Kitô- đều được
cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô và Giáo
hội của Người, v́ chỉ có
một Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa
và con người (1Tm 2:5) và v́ dưới gầm
trời này không có một Danh nào khác đă được
ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào
đó mà chúng ta trông được ơn cứu thoát (Cv
4:12), cũng như v́ ngoài Giáo Hội không có ơn
cứu rỗi.
Kitô hữu
được cứu độ nhờ:
· tin vào Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô, v́ “không có
đức tin, th́ vô phương làm đẹp ḷng Thiên
Chúa” (Hr 11:6);
· lănh nhận bí tích rửa tội và các bí tích khác;
· ăn ngay ở lành, sống giới răn yêu
thương như Thiên Chúa truyền cho chúng ta.
C̣n với những
người không sống trong một tôn giáo nào, họ
chưa nhận biết Thiên Chúa cách rơ ràng, nghĩa là
họ chưa tin và không lănh nhận các bí tích như chúng
ta, phải chăng họ được cứu độ
chỉ nhờ ăn ngay ở lành, sống theo lương
tâm? hay họ vẫn được cứu nhờ
đức tin, qua các biểu tượng xét như dấu
chỉ của thực tại vô h́nh? Cũng vậy
đối với những người sống trong các tôn
giáo ngoài Kitô, họ có được cứu bởi
đức tin không? và đức tin nào? và các biểu
tượng giúp họ nhận ân sủng
cứu độ như thế nào?
Trong phần tương
quan giữa Công Giáo và các tôn giáo ngoài Kitô này, chúng ta sẽ xét
về:
đức tin;
tương quan giữa
bí tích Công Giáo và biểu tượng ban ân sủng nơi các
tôn giáo ngoài Kitô;
công giáo tính của Giáo
Hội thể hiện qua việc truyền giáo.
Thánh Phaolô trong thư
gởi tính hữu Do Thái khẳng định: “Không
đức tin th́ vô phương làm đẹp ḷng Thiên
Chúa” (Hr 11:6).
Vậy đức tin là
ǵ? Để chỉ điều này tiếng Do Thái dùng
những chữ:
· Aman gợi lên sự chắc chắn, vững chăi;
với từ ngữ này bản LXX dịch bằng
chữ PistiV, Pisteuw, Alhqeia, và bản phổ thông
dịch bằng chữ fides, credere, veritas;
· Batah gợi lên sự bảo đảm, tín thác;
bản LXX dịch bằng ElpiV, Elpizw, Pepoiqa; bản phổ thông dịch
bởi spes, sperare, confide.[191]
Tin là một hành vi nhân
linh, nghĩa là với tất cả tự do và ư chí,
chấp nhận một ai đó, cho những
điều họ nói là thật, chắc chắn, trông
cậy được.[192] Hiểu như vậy, tin là sự
gặp gỡ giữa hai ngôi vị, là một cách biết,
là sự thông hiệp giữa hai ngôi
vị. Đối với Kitô hữu trong lănh vực tôn
giáo, tin là biết Thiên Chúa hiện hữu, chấp
nhận tất cả những ǵ Ngài mặc khải, thông
hiệp với Thiên Chúa trong t́nh yêu.
Đối tượng
đức tin không phải là một sự vật nhưng
là một ngôi vị. Người ta không bao giờ tin
vào cái ǵ, nhưng tin vào ai đó, với đối
tượng là một sự vật, người ta có
thể xác tín, chứ không tin, không đặt
niềm tin tưởng vào một sự vật.[193]
Tin không chỉ chấp
nhận ai đó hiện hữu, nhưng c̣n là tin
tưởng phó thác trông cậy nơi người
đó. Tôi tin vào một ngân hàng, là tin vào người lănh
đạo ngân hàng đó có khả năng đáp ứng
những đ̣i hỏi cũng như hy vọng của tôi.[194] Một người
mẹ tin vào con ḿnh dù đă bao lần làm cho bà thất
vọng, không phải v́ bà đơn sơ hy vọng hăo
hoặc ảo tưởng nơi người con, nhưng
c̣n v́ cái sâu xa khác nữa. Như vậy đức
tin là hành vi qua đó con người phải dấn thân, và
như vậy cũng có thể nói, có tính chất như
một cuộc đánh cá phần nào, đ̣i
con người tin phải liều lĩnh, liều
lĩnh nhưng vẫn có sự chắc chắn nào đó.
c. Đức tin cần
thiết để được cứu độ
Với lời khẳng
định của công đồng Vatican II trong hiến
chế Lumen Gentium 16, chúng ta giải thích làm sao lời
kết án của Đức Giáo Hoàng Innccentê XI năm 1679
về những mệnh đề của những
người chủ trương nền luân lư “rộng răi?”
Mệnh đề bị kết án chủ trương:
· “Đức tin Thiên Chúa duy nhất được coi
là cần thiết, sự cần thiết
phương tiện, không phải đức tin rơ ràng
Thiên Chúa Đấng thưởng phạt” (DS 2122);
· “Đức tin theo nghĩa rộng, từ chứng
từ các tạo vật hay bởi nguyên do tương
tự đủ để được công chính hóa” (DS
2123).
LG 16 cho rằng, không
những người tin Thiên Chúa hiện hữu nhưng
cả những người chưa nhận biết Ngài
cũng có thể được cứu rỗi. Sở
dĩ những người chủ trương nền
luân lư rộng răi bị kết án v́ họ cho rằng
chỉ cần tin có Thiên Chúa là đủ để
được cứu độ, và như vậy hàm
chứa phủ nhận sự cần thiết của
việc mặc khải trong ḍng lịch sử. Lập
trường chủ trương như vậy rơ ràng là
sai lầm!
i.
Trường hợp không tin không có tội
Lời kết án của
Đức Giáo Hoàng Innocentê XI ở trên không áp dụng
cho những người không nhận biết Thiên Chúa
khi họ không thấy rơ phải tin; v́ người ta chỉ
bị buộc cách luân lư phải tin khi người ta
thấy rơ sự khả tín,[195] c̣n nếu không thấy rơ th́ không buộc
phải tin.
Ai cũng biết là
mọi người đều được hưởng
mặc khải tự nhiên qua tạo vật, lương
tâm. Nếu con người cố t́nh từ chối khi
thấy rơ phải tin, người đó có lỗi và
như vậy coi như cố t́nh từ chối ơn
cứu độ; nhưng nếu người đó không
thấy rơ phải tin, có thể v́ một lư do nào đó
như ảnh hưởng nền giáo dục và xă hội,
v́ hiểu sai về Thiên Chúa,[196] v.v., người đó không buộc
phải tin; và như vậy khi người đó không
tin, người đó không có lỗi; trường hợp
sau này là trường hợp được công
đồng nói tới.
Dầu ngày nay vẫn có
những người chủ trương vô thần,
nhưng thời gian gần đây có những tác
phẩm nói về Thiên Chúa của người vô thần.[197] Chúng ta không biết họ
trả lời thế nào trước Thiên Chúa về
khẳng định vô thần của ḿnh, có thể họ
không có lỗi và nếu vậy họ là đối
tượng của lời cầu trong kinh nguyện
Thánh Thể: “chỉ một ḿnh Chúa biết ḷng tin
của họ.”[198]
Những người vô
thần, những người chưa nhận biết Thiên
Chúa, và cả những người nhận biết Thiên
Chúa hiện hữu nhưng không sống trong một tôn
giáo nào, tất cả những người này đều
lănh nhận mặc khải tự nhiên như vũ
trụ vạn vật, lương tâm và bao dấu chỉ
tự nhiên trong cuộc sống con người. Có
thể họ không đọc ra ư nghĩa của biểu
tượng “thực tại thiêng liêng” này, dù những
dấu chỉ hay biểu tượng này vẫn hiện diện
đối với họ:
· vũ trụ đẹp tươi là dấu chỉ
cho thấy phải có Đấng sáng tạo tuyệt
vời;
· t́nh yêu giữa con người với nhau như t́nh
yêu nam nữ, t́nh yêu vợ chồng, t́nh yêu con cái, t́nh
người, t́nh bạn, v.v., là dấu chỉ cho thấy
có một Đấng yêu họ vô cùng;
· sự chân thật, trung thành, quảng đại mà
họ gặp trong cuộc sống thường ngày
cũng là dấu chỉ biểu tượng cho thấy
chân, thiện, mỹ của Đấng đă thông ban
những sự đó cho con người;
· lương tâm như tiếng nói nhủ bảo
họ ăn ngay ở lành, làm lành lánh dữ nhưng có
thể họ không nhận ra tiếng nói luôn trung thành dơi
theo họ là của Thượng Đế, dù trong
cuộc sống họ vẫn tùng phục vâng lời.
Mặc khải tự
nhiên vẫn luôn là hiện tại cho những người
vô thần, cho những người đă nhận
biết Tuyệt Đối nhưng không sống trong
một tôn giáo nào, cũng như cho tất cả
mọi người kể cả những người
sống trong các tôn giáo ngoài Kitô và trong Kitô giáo. Bổn
phận chúng ta, tất cả mọi người không
trừ ai, đều phải đáp trả mặc khải
này của Thiên Chúa, nếu không chúng ta sẽ mắc
lỗi. Trong cuộc sống thường ngày chúng ta đă
thấy bao nhiêu người tự xưng là vô thần
đă sống đáp trả những biểu
tượng hay dấu chỉ tự nhiên
của thực tại vô h́nh một cách rất chu
đáo tốt đẹp; nghĩa là họ đă
đang sống đức tin, đang biểu lộ
đời sống đức tin bằng chính cuộc
sống hằng ngày mà họ không biết, và như
vậy họ vẫn được cứu độ.
Đức tin phải
được biểu lộ qua việc làm. Thánh Giacôbê
tông đồ nói: “Đức tin không có việc làm là
đức tin chết” (Gc 2:17). Đức tin là
lời đáp lại mặc khải của Thiên Chúa.
Nếu Thiên Chúa không mặc khải, th́ con người
không thể biết về Thiên Chúa, và như vậy không thể
tin vào Thiên Chúa.[199] Ngày nay Thiên Chúa vẫn tiếp tục
mặc khải cho con người qua trung gian những
người rao giảng, và con người
vẫn đáp ứng bằng đức tin, bằng sự
vâng phục đức tin: “Làm sao kêu lên Đấng mà
người ta không tin? làm sao tin Đấng mà
người ta không được nghe? làm sao nghe
nếu không có người rao giảng?” (Rm 10:14).
Đức tin có
được là do mặc khải. V́ con người là
tinh thần và thân xác, là tinh thần nhập thể, nên
Thiên Chúa mặc khải cho con người qua những
dấu chỉ khả giác, và rồi con người
đáp trả bằng ḷng tin được biểu
lộ qua lời nói, qua việc làm, qua những dấu
chỉ khả giác.
Cũng như trong lănh
vực t́nh yêu, người ta không chỉ yêu bằng
lời nói nhưng c̣n bằng cả việc làm, nếu
chỉ nói yêu mà không có hành động cụ thể
đi theo, e rằng người ta không yêu thật (1Ga
3:11-18). Nếu ta chỉ nói ta tin, mà không diễn tả
đức tin bằng hành động, th́ e rằng chúng
ta cũng không tin thật. Thánh Giacôbê tông đồ nói: “Hăy
cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh,
và tôi sẽ lấy việc làm của tôi mà cho anh
thấy đức tin của tôi... cũng như thể xác
không hồn là thây chết” (Gc 2:18.26).
Chỉ qua dấu
chỉ mà hữu thể nhân linh mới có thể gặp
gỡ nhau, và nếu không qua dấu chỉ, không có
cuộc gặp gỡ đích thực giữa con
người.[200] Chính v́ vậy Thiên Chúa đă nhập
thể, cần phải có người đi rao
giảng, và cũng cùng lư do mà con người diễn
tả đức tin của ḿnh qua những
dấu chỉ, qua lời nói và qua chính cuộc sống
của ḿnh với những việc làm. Trong mục này
chúng ta t́m hiểu đức tin của những người
chưa nhận biết Thiên Chúa, và đức tin
của những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô
được diễn tả qua cuộc sống
thường ngày.
Ở đây chúng ta
đề cập đặc biệt đến
người chưa nhận biết Thiên Chúa, hoặc
những người cũng tin có sự hiện hữu
của một Đấng Tuyệt Đối
nhưng họ không sống trong một tôn giáo nào.
Với những
người vô thần, công đồng Vatican II dạy:
“Cả những kẻ chưa nhận biết Thiên Chúa cách
rơ ràng nhưng nhờ ơn Chúa, họ cố gắng
sống đời chính trực, th́ Chúa quan pḥng không từ
chối ban ơn trợ lực cần thiết
để họ được cứu rỗi” (LG
16). Lời dạy của công đồng hoàn toàn phù
hợp với truyền thống của Giáo Hội:
“Thiên Chúa không từ chối ân sủng cho những
người làm điều họ phải làm.”[201] Trong lịch sử
thần học chúng ta thấy Giáo Hội dạy những
người chết trong t́nh trạng nguyên tội không
được thừa hưởng Nước Trời,
thế nhưng điều này không hàm chứa khẳng
định “một người chết không chịu phép
rửa tự bản chất phải loại khỏi
Nước Trời.”[202] Đức Giáo Hoàng Innocente III khi nói
về các con trẻ chết trong t́nh trạng không
được lănh phép rửa, Ngài nói: “Thiên Chúa không
thể nào lại để cho bao nhiêu con
trẻ phải hư mất đời đời.”[203]
Sau đây, chúng ta sẽ
t́m hiểu sâu hơn về lựa chọn căn bản-
một lựa chọn quyết định theo
đường lành hay đường dữ, theo sự
ác hay sự thiện, theo đường tà hay nẻo chính,
theo Thiên Chúa hay ác quỷ.
Lựa chọn căn
bản xảy ra khi một người đến tuổi
khôn, có thể phân biệt sự thiện sự ác, có
khả năng suy nghĩ và quyết định khi có
dịp, và chọn sự thiện v́ chính sự
thiện chứ không phải v́ một lư do nào khác. Không
phải tất cả mọi hành vi tự do của con
người đều là lựa chọn căn bản.
Lựa chọn căn bản chi phối hầu như
tất cả những hành vi luân lư của người
đó, trừ phi nó được chọn
lựa ngược lại.
Chẳng hạn, một
em bé ra khỏi t́nh trạng trẻ con chưa biết ǵ
bằng hành vi tự do đầu tiên của ḿnh, khi
dịp đến em quyết định không nói dối
v́ đó là điều xấu chứ không phải v́ cha
mẹ không muốn, cũng không phải v́ em sợ
bị phạt hoặc sợ sẽ bị phát giác là đă
nói dối; nghĩa là em quyết định bằng
một chọn lựa đầu tiên trong đời
cách tự do hoàn toàn, không làm điều xấu v́ nó là
điều xấu. Và cả cuộc đời em sẽ
được chi phối bởi lựa chọn căn
bản đầu tiên này, trừ phi nó được thay
đổi bằng một lựa chọn tương tự.[204]
Một em bé sống trong
gia đ́nh ngoài Kitô giáo hoặc không tôn giáo, em không
biết Thiên Chúa cách rơ ràng, nhưng khi làm
cuộc lựa chọn căn bản bằng việc
làm điều thiện v́ đó là điều thiện
chứ không v́ một lư do nào khác, em đă chọn Thiên
Chúa qua hành vi lựa chọn điều thiện này.
Giả sử như sau này em trở thành Kitô hữu, th́ hành
vi đức tin đầu tiên sẽ hàm chứa và làm
mới lại lựa chọn ban đầu; như vậy
có thể nói, lựa chọn luân lư và lựa chọn
thần học tự nền tảng là một; cái khác
là đi từ mặc nhiên đến minh nhiên.
Với một em bé sinh
trong một gia đ́nh Kitô giáo, em được nghe nói
về Thiên Chúa, biết Thiên Chúa. Hành vi tự do
đầu tiên của em là sự lựa chọn Thiên
Chúa. Hành vi tự do lựa chọn đầu tiên này cũng
hàm chứa lựa chọn sự thiện.[205]
Lựa chọn căn
bản cũng có thể là lựa chọn điều
dữ! Và nếu vậy suốt cuộc đời
của người này vẫn chịu ảnh hưởng
của quyết định lựa chọn này,
trừ phi người đó chọn lựa lại.
i.
Được thể hiện trong cuộc sống
Bằng hành vi lựa
chọn căn bản- lựa chọn điều
thiện- một người có thể lănh nhận
ơn công chính hóa, dù người đó sống trong tôn giáo
ngoài Kitô hay trong một gia đ́nh không nhận biết Thiên
Chúa. Lựa chọn căn bản là một hành vi tin
nhận hoặc từ chối Thiên Chúa được
thể hiện qua hành động của ḿnh, một
cách dứt khoát.
Nếu một
người chọn sự thiện v́ đó là sự
thiện, th́ ngay cả khi họ chưa tuyên xưng
nhận biết Thiên Chúa họ đă biểu lộ
đức tin mặc nhiên vào Thiên Chúa rồi. Và nếu
họ chết trong t́nh trạng này, họ được
cứu độ. Những quyết định và hành
động trong cuộc sống thường ngày là
những diễn tả đức tin của ḿnh!
Đức Piô XII
trong bài diễn văn nói với các “cô đỡ” ngày
29.10.1951, đă nói: “một hành vi t́nh yêu có thể
đủ cho một người trưởng thành
nhận lănh ân sủng thánh hóa và bù lại sự không có
bí tích thanh tẩy.”[206]
Nếu vậy, trong
đời sống hằng ngày của một người,
có bao nhiêu dịp để nhận lănh hồng ân
cứu độ của Thiên Chúa! “Dù xây chín đợt
phù đồ,
không bằng làm phúc cứu cho một người.”
Những người
nghèo luôn có bên chúng ta, những người thiếu
thốn đau khổ về tinh thần đầy
dẫy trên mặt đất này, như vậy có rất nhiều
dịp cho con người thực thi bác ái để
nhận lănh ơn cứu độ!
Nếu người nào
đó làm một hành vi bác ái v́ đó là điều
tốt điều thiện điều nên làm và
phải làm, th́ người đó lập lại
chọn lựa căn bản ḿnh đă chọn
trước. Qua việc sống theo tiếng lương
tâm- tiếng Thiên Chúa nói qua lư trí này, người đó
biểu lộ đức tin vào Thiên Chúa cho dù
họ không nhận biết Ngài cách rơ ràng; và rồi qua
hành vi tin vào Thiên Chúa cách minh nhiên hay ngay cả mặc
nhiên này, ân sủng thánh hóa có thể được ban cho
người đó!
Trong đời sống
gia đ́nh, tương quan giữa cha mẹ, vợ
chồng con cái đều phải là tương quan t́nh
yêu; mà t́nh yêu không bao giờ thiếu những hy sinh
triền miên phát xuất từ sự cảm thông, tha
thứ, quảng đại chịu đựng trong
cuộc sống giao tiếp hằng ngày. Nếu chúng
ta sống đời gia đ́nh trong cuộc sống
hằng ngày cách ư thức và tự do, sống t́nh yêu v́
t́nh yêu, th́ chúng ta cũng lănh nhận ân sủng của
Thiên Chúa cho dù có thể chúng ta chưa nhận biết Ngài,
v́ “Thiên Chúa là t́nh yêu, và ai sống trong t́nh yêu là sống trong
Thiên Chúa” (1Ga 4:8.16).
Những đức tính
tốt của bao người chúng ta gặp trong cuộc
sống thường ngày, như sự thật thà, trung
thực, thành tín, quảng đại, yêu thương,
có thể trở thành những tấm gương, thôi
thúc chúng ta sống tốt hơn, thành tín trung thực
hơn, quảng đại hơn, yêu thương
hơn! Dưới một khía cạnh nào đó, chúng là
những biểu tượng, dấu chỉ của
thực tại vô h́nh mà qua đó Thiên Chúa dùng để ban
ơn cho những người không sống trong bất
cứ một tôn giáo nào hoặc ngay cả những
người chưa nhận biết Thiên Chúa.
Tóm lại, nếu
một người chọn “điều tốt” cho
tất cả cuộc sống, hoặc trong cuộc
sống hằng ngày họ sống ăn ngay ở lành theo
tiếng lương tâm, th́ Thiên Chúa vui ḷng ban ân
sủng công chính hóa cho họ.
Những phong cảnh
thiên nhiên, những người tốt việc tốt ta
gặp trong cuộc sống hằng ngày như sự
trung tín thật thà, ḷng quảng đại, t́nh yêu dành
cho nhau trong gia đ́nh hay nơi bạn bè hay nơi nam
nữ, đều là biểu tượng, dấu chỉ
qua đó Thiên Chúa mặc khải và ban ơn cho con
người, ngay cả cho những người chưa
nhận biết Ngài cách minh nhiên.
3. Qua việc thờ
phượng trong tôn giáo
Mọi tín hữu
của bất cứ tôn giáo nào, ngay cả Kitô giáo,
cũng đều phải sống tốt và vâng
phục tiếng lương tâm, đáp trả những
điều Thượng Đế nói với ḿnh qua các
biểu tượng tự nhiên, như t́nh yêu giữa con
người với nhau, t́nh yêu giữa vợ chồng
con cái, ḷng chân thành của con người mà chúng ta
gặp trong cuộc sống hằng ngày! Tín hữu của
bất cứ tôn giáo nào cố t́nh không đáp trả
những “mặc khải qua các biểu
tượng tự nhiên” này, e rằng họ cũng
không đáp trả mặc khải qua các
biểu tượng nơi tôn giáo họ!
Người chưa
biết Thiên Chúa hoặc không sống trong một tôn
giáo, không có điều mà các tín hữu của mọi
tôn giáo có: những điều phải tin nhận được
diễn tả qua các biểu tượng.[207] Qua những biểu tín này, tín hữu có
thể gặp gỡ Tuyệt Đối; rồi qua các nghi
lễ xét như cách diễn tả hữu h́nh của
đức tin, tín hữu dâng lên Thượng Đế
những lời ngợi khen cùng tấm ḷng tôn kính bái
thờ; và qua những dấu chỉ hữu h́nh này, Thiên
Chúa sẵn ḷng biểu lộ t́nh yêu của Ngài đối
với họ, hoặc ban cho họ ân sủng thánh hóa,
hoặc ban cho họ những ân đặc biệt trong
cuộc sống, như ơn được bền
đỗ, ơn dễ dàng sống tốt hơn, sẵn
sàng đáp trả mọi “mặc khải” qua những
biểu tượng tự nhiên và đặc biệt trong
cuộc sống hằng ngày.
Một điều khác
cần ư thức khi nói đến các biểu tượng
nơi mọi tôn giáo: các biểu tượng- nếu
không là biểu tượng thực như Đức Giêsu-
đều là dấu chỉ của thực tại vô h́nh,
nên không trùng khít với thực tại; nó chỉ là
dấu chỉ, nên nó vừa tỏ lộ Thực Tại
nhưng lại vừa che dấu thực tại.[208] Nếu coi những
biểu tượng này là thực tại, là người ta
tôn thờ ngẫu tượng; mệnh lệnh cấm
làm h́nh tượng Thiên Chúa Giavê trong Cựu Ước,
là cấm theo nghĩa này!
Các biểu tượng
có tính cách hàm hồ- trừ biểu tượng thực là
Đức Giêsu Kitô- nên nếu không được
hiểu đúng đắn sẽ che dấu thực
tại, tuy vậy người ta cũng không thể bỏ
biểu tượng v́ nếu vậy thực tại không
được diễn tả và không thể
được hiểu; do vậy người ta đă dùng
cách phủ định, để cố gắng diễn
tả và lại gần thực tại hơn;[209] hiểu trong nghĩa này,
một cao tăng nói: “ngón tay chỉ, hăy nh́n điều
ngón tay chỉ chứ đừng nh́n ngón tay,” một danh
sĩ đạo Lăo dạy “bè để qua sông, qua sông hăy
bỏ bè.”
Thực Tại Tuyệt
Đối có nhiều tên gọi như Trời, Thiên Chúa,
Thượng Đế, Đấng Tối Cao,
Tuyệt Đối, v.v., nhưng mỗi tên gọi chỉ
có thể diễn tả một khía cạnh nào đó
của thực tại. Những tên gọi này cũng
được coi như những biểu tượng
của Tuyệt Đối!
Các biểu tượng
cũng không có giá trị như nhau; có biểu tượng
thích hợp hơn để diễn tả thực
tại thiêng liêng nhưng cũng có những biểu
tượng diễn tả kém, có biểu tượng thích hợp
cho nhóm người này nhưng không thích hợp cho nhóm khác,
có biểu tượng thích hợp cho thời này nhưng
không thích hợp cho thời khác.[210] Đó là lư do tại sao có hiện
tượng biểu tượng mai một với
thời gian, và cũng có những biểu tượng
mới xuất hiện.[211]
Với những lưu ư
trên, chúng ta đi vào những biểu tượng
nơi các tôn giáo ngoài Kitô. Chúng ta chỉ đưa vài nét
đại cương, v́ để làm điều này
cách thích đáng, chúng ta phải nghiên cứu kỹ
lưỡng và thấu đáo hơn.
Với tín đồ
đạo Phật, đức Phật là một biểu
tượng, và hơn nữa là một biểu
tượng lịch sử.[212] Đức Phật là biểu
tượng người tu hành đắc đạo, giác
ngộ, đă đạt cơi phúc. Đức Phật không
nhận ḿnh là Tuyệt Đối, và tín đồ Phật
giáo cũng không tôn thờ Đức Phật như
Tuyệt Đối. Đức Phật nói: “Ta là Phật
đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành; hết
thảy mọi loài miễn là có cảm giác hay hiểu
biết, đều sẽ thành Phật trong một mai
sau.”[213]
V́ có những học tṛ
lầm lẫn coi Đức Phật cũng như
tượng Phật là tuyệt đối, nên một
vị tổ sư trong đạo, muốn phá trừ thành
kiến chật hẹp của học tṛ, đă chẻ
tượng Phật ra cho vào lửa làm củi.[214]
Với tín
đồ Phật giáo, cây bồ đề cũng là
biểu tượng của sự giác ngộ. V́ vậy
Phật tử không cầu xin ân huệ vật chất hay
tinh thần khi đảnh lễ Phật mà chỉ bày
tỏ ḷng tôn kính ngưỡng mộ lư tưởng siêu
việt mà bức tượng tiêu biểu. Phật tử
cũng đảnh lễ cây bồ đề, không phải
để tỏ ḷng tôn sùng thờ lậy cái cây, mà xem
đó là tượng trưng của sự giác ngộ.
Dầu có nhiều nghi thức lễ bái trong các buổi
lễ, tín đồ Phật giáo không tôn sùng Đức
Phật như một thần linh[215].
Khi đứng
trước tượng Phật hay dưới gốc
bồ đề, Phật tử nhớ lại
vị thầy đi trước đă được
giải thoát, đă giác ngộ, đă đạt hạnh
phúc; Phật tử cũng nhớ lại con
đường đức Phật đă đi, cũng
như khả thể thành Phật của mỗi người;
và có thể nhờ đó Phật tử ước
muốn sống tốt hơn, muốn sống từ
bi hỷ xả hơn, muốn thực thi hành vi bác ái
hơn; nghĩa là, muốn bắt chước Đức
Phật và mong ước được giải thoát,
được giác ngộ, được hạnh phúc.
Khi hành lễ, bái
lạy, xá hương, Phật tử cũng có tâm t́nh
được nên giống Phật, có tâm t́nh ao ước
giải thoát và được hạnh phúc miên trường.
Trong đạo Phật
c̣n có những biểu tượng khác nữa, nhưng
hiện tại với giới hạn của bài
cũng như với khả năng, không tiện
đề cập tới. Những điều
được nói ở đây về Đức
Phật xét như biểu tượng, qua đó những
người Phật giáo có thể gặp gỡ
Thực tại Tuyệt Đối, cũng đúng cho các
biểu tượng tương tự nơi các tôn giáo
ngoài Kitô khác.
Qua những biểu
tượng trong các tôn giáo ngoài Kitô, tín hữu vượt
qua những dấu chỉ khả giác để vươn
tới thực tại vô h́nh, và họ có thể
được gặp gỡ thực tại vô h́nh; qua ngôn
ngữ biểu tượng này họ hướng ḷng
lên những sự thuộc về thế giới khác,
về Tuyệt Đối; họ muốn sống
tốt hơn, muốn trở thành con người toàn
diện hơn! Trước những điều này chúng ta
phải chân nhận Thiên Chúa đă và đang hoạt
động, đă và đang ban ân sủng qua các biểu
tượng, v́ tất cả điều
tốt đều đến từ Thiên Chúa.[216]
Kierkegaard cho rằng
“lời cầu nguyện cũng có thể là không chân
thực khi cầu nguyện với Thiên Chúa chân
thực, nhưng người ta cũng có thể cầu
nguyện trong chân lư mặc dù người ta dâng lời
cầu nguyện trước một “ngẫu
tượng.””[217] Một điều chúng ta nên biết rơ,
nếu một biểu tượng không là biểu
tượng thực, mà người ta coi biểu
tượng đó là Thực Tại, biểu
tượng đó trở thành ngẫu tượng.
Điều này đúng cả cho những biểu
tượng trong Kitô giáo; chính v́ vậy Giavê Thiên Chúa ra
lệnh cho con dân Israel không được làm h́nh
tượng Giavê để thờ (Tl 4:15-20). Nếu
một người ngoại, họ nh́n các biểu
tượng như một biểu tượng, nghĩa là
như dấu chỉ của thực tại vô h́nh, th́
biểu tượng đó không là ngẫu tượng
đối với người ngoại này. Nếu
hiểu như vậy chúng ta có thể đồng ư với
Raymond Panikkar và Paradkar cho rằng “người Ấn
giáo được cứu bởi Đức Kitô nhưng
qua các bí tích của Ấn giáo.”[218]
Tóm lại, niềm tin
của những người sống trong các tôn giáo ngoài
Kitô được diễn tả qua các biểu
tượng nơi các tôn giáo của họ; khi họ nghĩ
hay nh́n tới những biểu tượng này, hoặc khi
họ đáp trả bằng niềm tin được
biểu lộ qua những hành vi tôn giáo như cúng tế
bái lạy, họ có thể nhận lănh ân sủng cứu
độ của Thiên Chúa, cũng như họ có
thể được gặp gỡ Thiên Chúa như
Thực Tại của biểu tượng tôn giáo họ
sống, Đấng mà họ không gọi cùng một tên
với Kitô hữu.
B. BÍ TÍCH CÔNG GIÁO VÀ BIỂU
TƯỢNG TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ
Bí tích là một từ
ngữ đa nghĩa,
· nó dùng để chỉ bảy “dấu chỉ hữu
hiệu của ân sủng” của Giáo Hội Công
Giáo (nghĩa là bảy bí tích theo nghĩa vẫn
được dùng);
· nó cũng được dùng với nghĩa dấu
chỉ của “thực tại vô h́nh” như “Đức
Kitô là bí tích nguồn” và “Giáo Hội là bí tích nguyên
thủy;”[219]
· nó cũng được dùng, đặc biệt
ở đây, để chỉ những biểu
tượng, tức là dấu chỉ của thực
tại vô h́nh, trong các tôn giáo ngoài Kitô.
Một số tác
giả, chẳng hạn như Karl Rahner, đă coi các bí tích
Kitô giáo là những biểu tượng thực;[220] đức Kitô là biểu
tượng thực uyên nguyên, v́ Ngài vừa là biểu
tượng vừa là thực tại của biểu
tượng. Như vậy, biểu tượng
được gọi là bí tích theo nghĩa rộng; và
chúng ta có thể gọi các biểu tượng ngoài Kitô là
bí tích của các tôn giáo ngoài Kitô, và bí tích của Giáo
Hội Công Giáo là biểu tượng thực.
Để thấy
tương quan dị đồng giữa bí tích Công Giáo và
bí tích các tôn giáo ngoài Kitô, chúng ta sẽ xét những
đặc điểm của bí tích Công giáo và sau đó
của các bí tích ngoài Kitô giáo.
1. Đặc tính của
bí tích Công Giáo
K. Rahner định
nghĩa bí tích là lời của Đức Kitô đặt
nơi miệng Giáo Hội, và Lời này sinh ân sủng
do sự.[221] Quan niệm “bí tích là
hữu hiệu” này bắt nguồn từ những suy
tư về Lời Chúa của K. Rahner. Ngài cho rằng:
· Lời Chúa được kư thác cho Giáo Hội
bảo tồn và lưu truyền;
· bí tích cũng là lời, một lời hữu
hiệu.[222]
Khi nói bí tích là
lời hữu hiệu tác giả đă cho thấy dấu
chỉ và biểu tượng cũng thuộc về
lời.
a. Sinh ân sủng do sự (ex
opere operato)
Đức Giêsu nói: “Hăy
đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho
mọi loài thọ tạo. Ai tin cùng chịu Thanh Tẩy
th́ sẽ được cứu, c̣n ai không tin sẽ
bị luận tội” (Mc 16:15-16). Đây là mệnh
lệnh của Đức Giêsu sau khi Ngài đă
phục sinh! Nhưng ngay khi Đức Giêsu bắt
đầu rao giảng, Ngài đă dạy các môn
đệ làm thanh tẩy cho dân chúng (Ga 3:22.26). Vâng
lệnh Đức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ
cũng rao giảng và ban phép thánh tẩy như
trường hợp cho hoạn quan (Cv 8:38tt), cho gia đ́nh
Cornêliô (Cv 10:47-48).
Chúng ta được
thanh tẩy trong Đức Giêsu Kitô, chính trong cái
chết của Ngài mà ta được thánh tẩy. Như
vậy nhờ thánh tẩy, chúng ta đă được mai
táng làm một với Đức Kitô trong sự
chết, ngơ hầu như Đức Kitô nhờ bởi vinh
quang Cha, đă được sống lại từ cơi
chết, th́ cả ta nữa, ta cũng bước đi
trong đời sống mới (Rm 6:3-4).
Thanh tẩy là một bí
tích, nghĩa là một dấu chỉ ban ân thánh do việc
cử hành dấu chỉ này. Bí tích có hiệu lực do
sự (ex epere eperato) v́:
· Thiên Chúa là nguyên nhân chính, nhờ cuộc khổ
nạn của Chúa Kitô là nguyên nhân ban công nghiệp và
nhờ đức tin của Giáo Hội;[223]
· Đức Giêsu đă thiết lập những dấu
chỉ này, và Ngài muốn những dấu chỉ này ban
ân thánh khi được cử hành theo ư và nhân danh Ngài.
Bí tích nếu chỉ là
một dấu chỉ của thực tại thiêng liêng,
th́ cũng có giá trị như những biểu
tượng khác, hoặc trong Kitô giáo hoặc trong các tôn
giáo ngoài Kitô. Điểm khác biệt giữa bí tích Công Giáo
và các biểu tượng khác trong Giáo Hội Công Giáo và
trong các tôn giáo ngoài Kitô, là các bí tích Công giáo có hiệu
quả do sự (ex opere operato).
Cái làm cho bí tích Công Giáo có
hiệu quả do sự, là chúng được
Đức Giêsu Kitô thiết lập, và được
thiết lập để ban ân thánh cho con người.
Khi Đức Kitô cử hành những dấu chỉ này,
chẳng hạn như Ngài ḥa nước bọt vào bùn và
xức cho người mù, th́ những dấu chỉ
hành vi này ban cho người mù được sáng và
được ơn công chính.
i.
Giáo Hội đại diện Chúa Giêsu
Đức Kitô thiết
lập Giáo Hội để tiếp tục công việc
cứu thế của Ngài nơi trần gian, nên khi Giáo
Hội cử hành các dấu chỉ này, cũng là Đức
Kitô cử hành, và như vậy các dấu chỉ sinh
hiệu quả do chính việc cử hành, nghĩa là “do
sự.”
Suy luận tương
tự, để các bí tích sinh hiệu quả do
sự, các bí tích phải được thừa tác viên
cử hành đại diện Giáo Hội nhân danh
Đức Kitô; và xét dưới khía cạnh chủ thể
lănh nhận bí tích, chủ thể này phải hội
đủ yếu tố mà nếu đức Kitô làm,
đức Kitô đ̣i hỏi để Ngài làm những
dấu chỉ này; hiểu như vậy, chủ
thể lănh nhận phải hội đủ yếu tố
Giáo Hội quy định xét như đại
diện Đức Kitô tại trần gian.
Nơi thừa tác viên
cử hành bí tích, họ phải là
người đại diện Giáo Hội của
Đức Kitô, và do đó phải làm theo ư Đức Kitô nơi
Giáo Hội, cụ thể thi hành điều Giáo Hội xét
như đại diện của Ngài nơi trần
thế dạy phải làm.
Nơi chủ thể
lănh nhận bí tích, thụ nhân phải có đức tin,
và hội đủ những điều kiện
Đức Kitô đ̣i hỏi qua Giáo Hội[224] đại diện Ngài.
2. Ân sủng
được ban qua biểu tượng tôn giáo không Kitô
Như đă nói
trên, nét đặc trưng của bí tích Kitô giáo là có
hiệu quả do sự (ex opere operato), thế c̣n bí tích
nơi các tôn giáo ngoài Kitô? Khi nào hay do đâu các bí tích,
biểu tượng nơi các tôn giáo ngoài Kitô ban ân sủng
và đặc biệt ân sủng công chính hóa cho những
người sống trong tôn giáo ngoài Kitô đó?
Để giải
quyết vấn đề này, đầu tiên sẽ xét ân
sủng công chính được ban cho Kitô hữu ngoài bí
tích, rồi tới những người dự ṭng, và
sau đó những tín hữu nơi các tôn giáo ngoài Kitô. Chính
nhờ ánh sáng Kitô giáo mà chúng ta có thể giải đáp
câu hỏi về đặc tính của bí tích các tôn giáo ngoài
Kitô.
a. Ơn công chính ngoài bí tích cho
Kitô hữu
Sách giáo lư của Giáo
Hội Công Giáo dạy, ta có thể được lại
ân sủng thánh hóa nhờ ăn năn tội cách
trọn.[225]
Các thần học gia
trường phái Thomas cho rằng chỉ có một con
đường để được ơn công
chính hóa, và coi bí tích như một yếu tố không thể
thiếu trong tiến tŕnh lănh ơn công chính hóa này.[226] C̣n Duns Scott cho rằng có
hai con đường cứu độ khác nhau,
đường này độc lập với
đường kia, một là ngoài bí tích như việc
thống hối ăn năn cách trọn, và một khác
là bằng bí tích phát sinh ơn công chính do sự (ex opere
operato), nhưng không phải con đường thứ
nhất làm cho việc lănh nhận bí tích thành dư thừa
v́ việc này dựa vào quyền Thiên Chúa theo đó ư
hướng thú tội là yếu tố không thể
miễn trừ của tất cả hối nhân đích
thực.[227] Theo Duns Scott việc có
hai con đường công chính hóa cho tội nhân, là một
dấu chỉ cho thấy ḷng nhân từ của Thiên
Chúa, hơn là chỉ có một con đường.[228] Cũng theo ông, con
đường bí tích là con đường dễ hơn
con đường kia.[229]
Với K. Rahner không có hai
con đường cứu độ nhưng chỉ có
một con đường cứu độ và như
vậy không thể đặt vấn đề nên theo con
đường này hay theo con đường kia. Theo
ông, có hai thời điểm chứ không phải hai
đường của cùng một biến cố
cứu độ:[230] tương tự như “Lời duy
nhất có tính cứu độ và hữu hiệu
của Thiên Chúa” có một lịch sử nhưng có
những thời điểm khác nhau, mỗi thời
điểm có giá trị tương ứng với toàn
thể và thời điểm sau không làm thời
điểm trước mất giá trị, th́ cũng
vậy biến cố cứu độ nơi mỗi
cá nhân .[231]
i.
Do nhân (ex opere operantis)
Để lănh nhận bí
tích, để bí tích có thể sinh hiệu quả do
sự cho thụ nhân, chủ thể lănh nhận phải
hội đủ những điều kiện do Giáo
Hội đại diện Chúa Kitô quy định. Chẳng
hạn nơi bí tích ḥa giải, để có thể lănh
nhận ân sủng công chính hóa sau khi phạm
tội, thụ nhân phải có ḷng thống hối;
nếu thiếu ḷng thống hối này, bí tích không sinh
hiệu quả, nghĩa là không ban ơn công chính hóa cho
họ. Như vậy ngay nơi bí tích,
yếu tố chủ thể lănh nhận cũng rất
quan trọng. “Thiên Chúa đă sinh ta chúng ta không hỏi ư
kiến chúng ta nhưng Ngài không thể cứu
độ chúng ta nếu chúng ta không đồng ư;” chính
yếu tố chủ thể (ex opere operantis) làm cho chủ
thể được ân sủng công chính hóa.[232]
Khi một Kitô hữu
lănh nhận ân sủng công chính hóa trước khi
lănh nhận bí tích, không hàm chứa rằng việc lănh
nhận bí tích là dư thừa hoặc không cần
thiết, bởi v́ các bí tích là biểu lộ của
đức tin.[233] Hành vi thống hối đă là tác
động của ân sủng, và nó không chỉ thuần
túy là thái độ nội tâm nhưng c̣n được
biểu lộ ra bên ngoài qua việc quỳ gối cầu
nguyện, nghĩa là, nó đă được diễn
tả qua hành động.[234] Việc lănh nhận ân sủng công chính
ngoài bí tích, cũng vẫn là lănh nhận ân sủng này
trong Giáo Hội; và nếu xét chủ thể lănh nhận
như thành phần của Giáo Hội th́ hậu quả
cũng được biểu lộ nơi Giáo
Hội, cụ thể nơi thụ nhân lănh nhận ân
sủng, và cao điểm là lănh nhận bí tích.[235]
Các bí tích th́ ban ân
sủng “do sự;” c̣n trường hợp ân sủng
được ban “do nhân,” là ân sủng được
ban nhờ thái độ của thụ nhân; có thái
độ này, là nhờ các biểu tượng ngoài bí
tích; và thái độ này cũng được diễn
tả qua những hành vi biểu tượng như cầu
nguyện, làm việc bác ái.
“Do sự” khác “do nhân”
ở chỗ, cũng tương tự như
trước khi Đức Giêsu Kitô xuất hiện, con
người cũng được ân sủng thánh hóa,
cũng được cứu độ nhưng con
người vẫn phải chờ biến cố
Đức Giêsu dù họ không biết, và chỉ với
biến cố Đức Giêsu Kitô con người
mới biết rơ ḿnh đă được cứu
độ và được cứu độ nhờ
Đức Giêsu Kitô; con người có thể
được ơn công chính hóa trước khi lănh
nhận bí tích nhưng con người vẫn chưa
biết rơ ḿnh được điều này, và chỉ
khi lănh nhận bí tích, người ta mới biết rơ
ḿnh đă được công chính hóa.[236]
Ân sủng của Thiên
Chúa đă hoạt động nơi con người khi
lănh nhận bí tích; và tùy thuộc thái độ của
thụ nhân, ân sủng c̣n được biểu lộ cách
hữu h́nh ra bên ngoài, và người lănh nhận bí tích
có sự chắc chắn chủ quan lẫn khách quan về
ân sủng ḿnh nhận được. C̣n khi người
ta nhận lănh ơn công chính ngoài bí tích,[237] ân sủng của Thiên Chúa cũng
hoạt động nơi người ấy, giúp
người ấy chuẩn bị lănh nhận ân sủng
công chính hóa, và chính Thiên Chúa ban ân sủng công chính hóa khi
Ngài thấy được, và rồi ân sủng này
cũng được biểu lộ ra qua những
dấu chỉ biểu tượng bên ngoài.
Người nhận lănh ân sủng thánh hóa ngoài bí tích, có
thể có sự chắc chắn chủ quan nhưng sự
chắc chắn này có thể không hoàn toàn.
ii.
Bởi ḷng nhân hậu của Thiên Chúa (ex divina decreta eterna)
Một người lănh
nhận ân sủng công chính ngoài bí tích hay đúng hơn
là trước bí tích, là do ḷng thương xót nhân
từ của Thiên Chúa và nhờ thái độ thống
hối được biểu lộ qua việc
đọc kinh cầu nguyện, công tác bác ái. Chúng ta dùng
từ ngữ “do nhân” (ex opere operantis) để chỉ
đặc tính trường hợp được ân
sủng công chính ngoài hoặc trước bí tích.
Người dự ṭng
có thể đă được ân sủng công chính hóa
trước khi lănh nhận bí tích Rửa Tội do thái
độ của họ (ex opere operantis), và như vậy
nếu họ chết trước khi lănh nhận bí
tích rửa tội, họ được cứu
độ. Các nhà thần học và ngay cả huấn
quyền giải thích việc lănh nhận ân sủng công
chính hóa trưóc khi lănh bí tích rửa tội bằng
phép rửa bởi Thánh Thần, bằng ḷng ao
ước lănh bí tích (votum sacramenti), bằng hành vi bác ái.
Trẻ con chết
trước khi lănh nhận bí tích rửa tội, dù cho
cha mẹ là Kitô hữu hay lương dân, nếu c̣n
mắc tội tổ tông các em cũng không
được hưởng tôn nhan Chúa, nhưng chắc
chắn “Thiên Chúa không thể nào để cho bao nhiêu
trẻ con phải hư mất đời đời.”[238] Như vậy phải
chăng Thiên Chúa nhân từ tha thứ tội tổ tông cho
các em v́ đức tin của Giáo Hội?
Vấn đề này liên
hệ đến quan niệm về tội tổ tông,
về tiến tŕnh thành người của thai nhi,
về ḷng nhân từ của Thiên Chúa. Những trẻ
chết khi Hêrôđê muốn giết hài nhi
Giêsu, được gọi là các thánh anh hài; các em
nhỏ được rửa tội trong gia đ́nh
Công giáo nhờ đức tin của cha mẹ,
được lên thiên đàng; c̣n các em nhỏ khác th́
sao? đức tin của Giáo Hội có tác động
đến các em không? Thiên Chúa có thua ḷng nhân từ của
chúng ta không, nếu chỉ là người mà chúng ta c̣n
nghĩ rằng các em đó phải được
hưởng kiến Thiên Chúa?
Trong quan niệm nhân
học cho rằng ơn gọi con người là
được sống hạnh phúc với Thiên Chúa, ngay
cả trong t́nh trạng sa ngă hiện tại? Và nếu
Giáo Hội khẳng định những
người chưa rửa tội có thể
được cứu độ khi họ sống theo
lương tâm ăn ở ngay lành, c̣n các em bé và các thai
nhi- các em chưa thể biểu lộ đức tin
của ḿnh qua hành động, đó không là lỗi tại
các em- như vậy chúng ta có lư để cho rằng các em
có thể được cứu độ. Các em
được cứu độ v́ Thiên Chúa là Đấng
vô cùng nhân từ và công bằng, v́ Đức Kitô đă
chết cho tất cả mọi người, kể cả
các thai nhi trong bụng mẹ. Nếu quả các em
được cứu độ, các em được
cứu độ không cần nhận lănh bí tích và
cũng không cần qua biểu tượng nữa, dù là
biểu tượng tự nhiên.
b. Người Do Thái giáo
thời Cựu Ước và hiện tại
Kitô hữu tin rằng
những tín hữu Do Thái giáo thời Cựu Ước
được cứu độ nhờ ḷng tin vào Thiên
Chúa (St 15:6), nhờ việc thực thi lề luật
như cách thể hiện đức tin vào Thiên Chúa,
nhờ phép cắt b́ như bí tích xóa tội nguyên tổ[239] cũng như nhờ các
bí tích khác,[240] và đặc biệt vẫn nhờ
Đức Giêsu Kitô và trong Giáo Hội.
Cũng như
người Công giáo được lại ân sủng thánh
hóa sau phạm tội nhờ lănh bí tích ḥa giải hoặc
nhờ ḷng thống hối thật, tín hữu Do Thái
giáo sau khi cắt b́ mà phạm tội lănh nhận
ân sủng thánh hóa nhờ nghi lễ xá tội trong ngày
lễ xá tội hằng năm (Lv 16:33) hoặc nhờ
các nghi lễ hay qua các biểu tượng khác.
Thiên Chúa cho dân Israel
từ lưu đày trở về, đó là biểu
hiệu Thiên Chúa đă tha thứ tội lỗi v́ dân đă
thật t́nh sám hối (Br 1:15- 3:8).
Tiên tri Natan và câu
chuyện dụ ngôn của tiên tri là lời biểu
tượng để vua David nhận biết lỗi
lầm và thống hối; và chính ḷng thống hối đă
làm Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của David (2Sm
11:13).
Những lời của
tiên tri Natan và biến cố lưu đày của
dân Israel, cho thấy Thiên Chúa đă ban ân sủng
qua lời biểu tượng hoặc qua biến
cố biểu tượng. Qua những biểu
tượng này, David nhận ra lỗi lầm của
ḿnh để thống hối, và biết Thiên Chúa đă tha
tội cho ḿnh qua lời tiên tri; Qua biến cố lưu
đày, Thiên Chúa đă giúp dân nhận biết lỗi
lầm, và như vậy biến cố lưu đày
trở thành phương tiện giúp dân thống hối
và đón nhận ân sủng được ban; biến
cố được trở về quê hương trở
thành biểu tượng cho thấy Thiên Chúa tha thứ
tội lỗi cho dân.
Những biến cố,
biểu tượng, và ân sủng, được ban cho dân
Israel; và cũng tương tự vậy
được ban cho người ngoài Do Thái giáo, và rồi
cho những người sống trong tôn giáo ngoài Kitô ngày
nay. Những biểu tượng này tuy không có tính ban ân
sủng do sự (ex opere operato), nhưng cũng là
phương tiện để Thiên Chúa ban ân sủng cho
những tâm hồn xứng đáng (ex opere operantis).
c. Người sống trong
tôn giáo ngoài Kitô
Tương tự
như Kitô hữu nhận lănh ân sủng công chính hóa ngoài bí
tích, và tín hữu Do Thái giáo nhận lănh ân sủng công
chính hóa trong nhiệm cục cứu độ tiền Kitô
giáo, ân sủng Thiên Chúa tác động nơi những
người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô qua các
biểu tượng nơi các tôn giáo họ sống
hoặc qua những biểu tượng tự nhiên,
để họ có tâm t́nh thống hối và thái
độ xứng hợp, hầu Thiên Chúa ban ân sủng công
chính hóa cho họ khi Ngài muốn.
ii.
Do chủ thể (ex opere operantis)
Khác với bí tích Kitô
giáo, v́ là dấu chỉ được Đức Giêsu Kitô
thiết lập và Ngài muốn những biểu
tượng này ban ân sủng do việc cử hành
(ex opere operato), các biểu tượng nơi các tôn giáo
ngoài Kitô là phương tiện ban ân sủng cho
những người sống trong các tôn giáo này tùy thuộc
thái độ của họ (ex opere operantis).
iii.
Do ư định Thiên Chúa (ex divina decreta eterna)
Các biểu tượng
của các tôn giáo ngoài Kitô ban ân sủng cho những
người sống trong các tôn giáo này tùy ở thái
độ của họ (ex opere operantis), tùy Thiên Chúa theo
ư muốn và dự định của Ngài (ex divina decreta
eterna).
Những người
lănh nhận ơn công chính hóa ngoài bí tích Kitô giáo, có thể có
sự xác tín chủ quan về ân sủng nhận
được; và sự xác tín khách quan có thể có khi ân
sủng công chính hóa được biểu lộ ra bên
ngoài qua các biểu tượng, chẳng hạn hành vi bác
ái, đời sống lương thiện, yêu mến
tha nhân đồng loại, những cảm
nghiệm về Tuyệt Đối.
Trong nhăn quan Kitô và
nhân bản không bị lệch lạc, nhận lănh
ân sủng công chính hóa qua bí tích Kitô giáo là
con đường đơn sơ và dễ dàng
nhất, và thụ nhân có sự xác tín chủ quan lẫn
khách quan về ân sủng ḿnh được nhận.
Đối với Kitô
hữu, truyền giáo là loan báo cho muôn dân biết
Thiên Chúa yêu thương con người, và Ngài muốn
cho tất cả được thông dự sự
sống vĩnh cửu của Ngài.
Thiên Chúa yêu thương
con người đến độ ban Con Một
của Ngài cho con người, tức là Đức Giêsu Kitô
(Ga 3:16). Với biến cố Giêsu Kitô, tất cả
được biến đổi. Con người, nhờ
Đức Giêsu Kitô, đă thấy rơ ư nghĩa cuộc
sống của ḿnh, biết rằng ḿnh được
Thiên Chúa yêu thương, biết rằng ḿnh sẽ
được cứu độ, sẽ
được thông phần hạnh phúc vĩnh cửu
của Thiên Chúa nếu ḿnh tin vào Đức Giêsu Kitô (Ga
3:16).
Truyền giáo là loan báo
tin mừng Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô chính
là Tin Mừng cho tất cả nhân loại; không có Ngài, không
có ơn cứu độ; và có Ngài tất cả
được đổi mới, tất cả
được hạnh phúc, tất cả
được tham dự sự sống Thiên Chúa.
Truyền giáo có thực
sự cần thiết không khi các tôn giáo ngoài Kitô cũng có
những biểu tượng, qua đó Thiên Chúa ban ân
sủng cứu độ cho những người
thuộc tôn giáo đó?
Câu trả lời
thật đơn sơ rơ ràng: dù các tôn giáo ngoài Kitô có là
phương tiện cứu độ cho
những người sống trong đó, dù các tôn giáo
ngoài Kitô có những biểu tượng qua đó Thiên
Chúa vẫn dùng để ban ân sủng cứu độ cho
họ, th́ việc truyền giáo “loan báo Đức Giêsu
cho những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô” là
một chuyện rất cần thiết và không thể
miễn trừ. Sau đây là những lư do buộc các Kitô
hữu phải truyền giáo.
Kitô hữu là người
có niềm vui lớn lao vô cùng: “Đức Giêsu là Thiên Chúa
nhập thể làm người v́ yêu thương chúng
ta, Ngài đă chết và sống lại để chúng ta
cũng được sống lại với Ngài, Ngài
muốn cho con người được thông chia
sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.” Khi một
người có niềm vui, họ thường đem
chia sẻ với những người xung quanh, với
những người thân, với những người
họ yêu mến. Như vậy nếu một Kitô
hữu xác tín niềm tin của ḿnh, chắc chắn họ
phải chia sẻ Tin Mừng này cho những
người họ yêu, cho những người thân, cho
những người xung quanh họ. Nếu họ không
chia sẻ Tin này, th́ e rằng đây không phải là
một Tin Mừng thật, hoặc họ không có t́nh yêu
đối với những người xung quanh và
với những người thân, và nếu vậy
họ không giống Thiên Chúa là Đấng yêu
thương mọi người và muốn chia sẻ
niềm vui, sự sống của Ngài với con
người.
b. Mệnh lệnh của Chúa
Giêsu phục sinh
Đức Giêsu Kitô sau
phục sinh, đă truyền cho các môn đệ mệnh
lệnh “các con hăy đi khắp cả thiên hạ rao
giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin cùng
chịu thanh tẩy sẽ được cứu, c̣n ai
không tin sẽ bị luận tội” (Mc 16:15-16//).
Thánh Thần của
Đức Giêsu Phục Sinh cũng đă tách riêng Phaolô
và Barnaba để sai các ngài đi rao giảng tin
mừng Đức Giêsu cho người Do Thái, và sau
đó cho dân ngoại (Cv 13:2.46). Phaolô đă xác tín ơn
gọi rao giảng Tin Mừng của Ngài: “khốn
cho tôi, nếu tôn không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9:16).
Mệnh lệnh đi
rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc, làm thành tính
công giáo của Giáo Hội: “Vậy các con hăy đi
thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng
nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy chúng tuân giữ
hết mọi điều thầy đă truyền cho
các con” (Mt 28:18-19). Giáo Hội đă nhận lănh sứ
mạng như Đức Giêsu nhận lănh từ Cha:
“như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai các
con” (Ga 20:21).
Đức Giêsu Kitô là
Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con
người (1Tm 2:5), Ngài là Lời Thiên Chúa nhập thể
làm người (Ga 1:14), nên Ngài là bí tích nguồn ban ân
sủng cho con người (Ga 1:18). Giáo Hội,
được Thánh Thần Đức Giêsu Kitô
hướng dẫn, là bí tích phổ quát ban ơn cứu
độ cho con người,[241] cho tất cả mọi người
thuộc mọi quốc gia mọi ngôn ngữ. Nếu
Giáo Hội không truyền giáo, Giáo Hội không c̣n tư cách
đại diện Chúa Kitô nữa, không c̣n là bí tích
phổ quát nữa, và như vậy Giáo Hội không c̣n
là Giáo Hội nữa.
Chúng ta vẫn phải
truyền giáo, bởi v́
· chính trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Đức Giêsu
Kitô mà các tôn giáo ngoài Kitô trở thành phương
tiện cứu độ;
· chính trong Giáo Hội- ngoài Giáo Hội không có ơn
cứu độ- mà ân sủng được ban
cho những người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô,
hay những người không theo một tôn giáo nào,
hoặc ngay cả những người vô t́nh không
tin nhận Thiên Chúa, dù qua các biểu tượng trong
tôn giáo ngoài Kitô hoặc qua các biểu tượng tự
nhiên.
· Hơn nữa, chúng ta cũng đă thấy ở trên,
các tôn giáo ngoài Kitô vẫn có những sai lầm v́ có
những yếu tố thuần túy con người, v́ các tôn
giáo ngoài Kitô không được Thánh Thần bảo
đảm việc lưu truyền kinh nghiệm
với Tuyệt Đối, và v́ các biểu tượng tôn
giáo ngoài Kitô vẫn có nhiều nét hàm hồ không phản ánh
tinh ṛng Thực Tại Vô H́nh, và đôi khi c̣n làm cho con
người hiểu sai lệch về Tuyệt
Đối.
Truyền giáo không là
truyền bá văn hóa Do Thái hay Hy lạp hay tây phương,
nhưng là rao giảng tin mừng Đức Giêsu
Phục Sinh.
Giáo Hội không
truyền bá một ư thức hệ với những
giải thích về vũ trụ, Thiên Chúa và con
người, nhưng rao giảng tin mừng Đức
Giêsu Kitô; như vậy Giáo Hội thích hợp với
mọi người và với mọi nền văn hóa
của mọi dân tộc và mọi thời đại.
Giáo Hội là Công Giáo, nên
Giáo Hội ḥa hợp với mọi dị biệt
của những nền văn hóa khác nhau, nên Giáo Hội
phải t́m hiểu cách suy nghĩ, diễn tả của
từng dân tộc, của từng nền văn hóa,
để loan báo tin mừng Đức Giêsu Kitô một cách
thích đáng, và để mọi người dễ tin
nhận hơn.
Hội nhập văn
hóa là t́m hiểu cách suy nghĩ và diễn tả của
từng dân tộc, để tŕnh bày tin mừng
Đức Giêsu Kitô theo cách thức suy nghĩ và diễn
tả của dân tộc đó. Nếu chúng ta không hội
nhập văn hóa, không tŕnh bày Tin Mừng theo văn hóa
của dân tộc được rao giảng Tin Mừng,
sẽ làm người ta dễ hiểu lầm Tin
Mừng, và hậu qủa là đa số từ chối
Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
Đặc biệt
với những dân tộc châu Á, có nền văn hóa
rất khác với những nước châu Âu, nếu
Tin Mừng không được rao giảng bằng ngôn
ngữ văn hóa các nước châu Á, e rằng không có
bao người tiếp nhận Tin Mừng. Chẳng
hạn việc “thờ cúng tổ tiên,” nếu những
người Công Giáo làm cho người Việt Nam nghĩ
rằng theo đạo là bất hiếu, phải bỏ ông
bà, th́ thường họ không chấp nhận
theo đạo; thực sự người Công Giáo tôn
kính ông bà cách khác, chúng ta không bất hiếu, chúng ta
vẫn nhớ cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên, cha
mẹ chúng ta trong những giờ kinh nguyện; tuy
vậy, chúng ta phải để cho người Việt
Nam tôn kính ông bà theo kiểu của họ, th́ tin mừng
Đức Giêsu Kitô mới dễ được nhiều
người chấp nhận; chúng ta chỉ ngăn cản
khi những hành vi tôn kính này đi ngược lại
đức tin mà thôi. Người Công Giáo Việt Nam nói
về ḷng tôn kính ông bà tổ tiên theo cách thức, theo
nền văn hóa của người Việt Nam; và
điều chúng ta nói về ḷng tôn kính tổ tiên
cũng đúng cho những vấn đề khác; đó
là công tác hội nhập văn hóa của Giáo Hội khi thi
hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu
Kitô cho mọi dân tộc.
Giáo hội khẳng
định lập trường với công
đồng Vatican II qua tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài
Kitô: “Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận
những ǵ là chân thật và thánh thiện nơi các tôn
giáo ngoài Kitô. Với ḷng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét
thấy những phương thức hành động và
lối sống, những huấn giới và giáo
thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm
khác với chủ trương mà Giáo Hội duy tŕ,
nhưng cũng thường đem lại ánh sáng
của Chân Lư, Chân Lư chiếu soi cho hết mọi
người; v́ thế, Giáo Hội khuyến khích con cái
ḿnh nh́n nhận, duy tŕ và cổ động cho những
thiện ích thiêng liêng cũng như luân lư và những
giá trị xă hội văn hóa của các tín đồ
thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường
đối thoại hợp tác cách thận trọng và bác ái
với tín đồ các tôn giáo ấy mà vẫn là
chứng tá của đức tin và đời
sống Kitô giáo.”[242]
Như vậy chúng ta
thấy, Giáo Hội chấp nhận những ǵ chân thật
và tốt lành nơi các tôn giáo ngoài Kitô, và cổ vơ
việc đối thoại. Việc đối thoại
hàm chứa niềm tin rằng các tôn giáo ngoài Kitô có những
chân lư, có những điều tốt lành. V́ nếu Giáo
Hội nhận rơ các tôn giáo ngoài Kitô là phương tiện
của ác quỷ, hoặc là công tŕnh của con
người xét như một thế lực chống
lại Thiên Chúa như một số người
trong anh em Tin Lành chủ trương, th́ chắc Giáo
Hội đă thẳng thắn bài bác và không bao giờ
khuyến khích con cái ḿnh đối thoại cả.
Việc đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô
hàm chứa phần nào niềm tin rằng các tôn giáo ngoài
Kitô cũng là phương tiện Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người, nếu không việc
đối thoại chỉ là giả h́nh và thuần túy
“ngoại giao.”
Đối thoại
với các tôn giáo ngoài Kitô là để thấy rơ
những giá trị của tôn giáo ngoài Kitô, thấy rơ
điều hay điều tốt và cả
những điều không thể dung hợp với
đức tin Kitô giáo nữa, hiểu biết
hơn về các tôn giáo ngoài Kitô, cũng như những
biểu tượng đức tin và những hành vi
biểu lộ niềm tin của họ, hiểu biết
cách diễn tả thực tại thiêng liêng theo
nền văn hóa của dân tộc theo tôn giáo này, và
như vậy chúng ta có thể tŕnh bày Đức Giêsu cho
những người theo tôn giáo đó cũng như cho
dân tộc này cách thích hợp hơn.
Việc t́m hiểu
các tôn giáo ngoài Kitô rất quan trọng trong việc
truyền giáo, trong việc loan báo Tin Mừng Đức
Giêsu Phục Sinh, bởi v́ khi đă thấy rơ giá trị
và ư nghĩa các biểu tượng của các tôn giáo ngoài
Kitô cũng như cách diễn tả tâm t́nh tôn gíáo của
dân tộc với nền văn hóa riêng, chúng ta có
thể rao giảng tin mừng Đức Giêsu theo
những biểu tượng về thực tại thiêng
liêng mà ta đă biết. Nói một cách khác, chúng ta Kitô hóa
các biểu tượng[243] nơi các tôn giáo ngoài Kitô nếu có
thể được.
THAY LỜI
KẾT: BIỂU TƯỢNG, ÂN SỦNG VÀ THÁNH THẦN
Nói về biểu
tượng và ân sủng mà không đề cập tới
Thánh Thần là một thiếu sót lớn, bởi v́ ân
sủng là t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người,
làm cho con người được nên giống Thiên Chúa.
Thánh Thần là ngôi
vị thứ ba của Thiên Chúa, Ngài là “hơi thở”
của Cha và Con, nhiệm xuất từ Cha và Con, là t́nh yêu
giữa Cha và Con. Ngài được biệt gán cho nhiệm
vụ thánh hóa con người và toàn thể vũ trụ!
Khi trở về cùng Cha, Đức Giêsu đă gởi Thánh
Thần của Ngài trên các tông đồ và toàn thể Giáo
Hội, để Thánh Thần tiếp tục và hoàn
tất chương tŕnh cứu chuộc loài người
của Chúa Cha, được Chúa Con nhập thể thi
hành. Có thể nói tất cả những hướng
chiều đi lên với Thiên Chúa của con người,
đều là tác động của Thánh Thần.
Ân sủng là tác
động của Thiên Chúa nhằm cứu độ con
người, luôn đi trước thái độ và lời
đáp trả của con người! Không phải chúng
ta yêu Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đă yêu chúng ta
trước và đă phó mạng sống ḿnh v́ ta (1Ga 4:19.10).
Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta
không lôi kéo nó (Ga 6:44); không ai có thể tuyên xưng Giêsu là Chúa
mà không bởi Thánh Thần (1Cr 12:3).
Thiên Chúa yêu thương
thế gian vô cùng, Ngài muốn cứu độ tất
cả mọi người (1Tm 2:4), muốn mọi
người được nên giống Ngài,
được tham dự sự sống vĩnh cửu
của Ngài. T́nh yêu của Thiên Chúa chan ḥa vũ trụ và
tràn ngập ḷng người, và Thánh Thần T́nh Yêu luôn
luôn hoạt động nơi ḷng mỗi người
để lôi kéo họ tới với Thiên Chúa, để họ
được cứu độ nhờ Đức Giêsu
Kitô. Như trước khi tạo dựng vũ trụ,
Thiên Chúa đă yêu thương từng người chúng ta,
cũng vậy trước khi t́nh yêu ân sủng
được biểu lộ cụ thể, th́ Thiên Chúa
đă yêu thương ta trong Thánh Thần. T́nh yêu đi
trước bí tích, biểu tượng.
T́nh yêu là tương quan
liên vị nên cần phải được diễn tả
và biểu lộ. Với con người v́ là hồn và xác,
nên t́nh yêu cần và phải được diễn tả
qua những dấu chỉ. Thiên Chúa đă biểu
lộ t́nh yêu của Ngài khi ban Con Một cho loài
người (Ga 3:16); Đức Giêsu Con Thiên Chúa nhập
thể, cũng đă chấp nhận chết nhục nhă
trên thập giá để biểu lộ t́nh yêu của Ngài
và của Cha cho con người; và Đức Giêsu đă
thiết lập Giáo Hội như đại diện
hữu h́nh của Ngài nơi trần gian, để trở
thành dấu chỉ cứu độ cho con người,
bằng việc loan báo Lời Chúa và cử hành các biểu
tượng ban ân thánh hữu hiệu.
Thánh Thần Thiên Chúa luôn
hoạt động khắp nơi và trong ḷng mỗi
người, nên tất cả mọi hành vi tốt của
con người đều là hành vi siêu nhiên và có giá trị
cứu độ. Mọi hành vi tốt đều là ân sủng
của Thiên Chúa.[244] Thánh Thần hoạt động rất
tự do, không bị giới hạn trong những cơ
cấu và định chế: “khí muốn đâu th́
thổi, ông nghe được tiếng, nhưng nào có
biết từ đâu mà đến hay lại đi đâu?
cũng vậy với mọi kẻ sinh bởi Thần Khí”
(Ga 3:8). Hoạt động của Thánh Thần nơi con
người cũng được biểu lộ ra bên
ngoài, chẳng hạn Thánh Thần đă tỏ lộ
hoạt động trong ngày lễ ngũ tuần (Cv 2:1tt)
dù rằng con người, cụ thể các tông đồ
đă nhận lănh Thánh Thần ngay trong ngày Đức Giêsu
phục sinh (Ga 20:22). Như vậy ân sủng, t́nh yêu
của Thiên Chúa được cụ thể hóa, cũng
được diễn tả qua các dấu chỉ biểu
tượng.
Tất cả là ân
sủng.[245] Hoạt động
của Thánh Thần T́nh Yêu Thiên Chúa bao phủ tất
cả hoàn vũ và tận trong thâm sâu con người. Chính
Thánh Thần tác động để con người
vươn lên, nhận ra những điều tốt lành
thiện hảo cũng như những điều không
hợp với bản tính con người, lôi kéo con
người đến với Thiên Chúa, và giúp con
người biểu lộ tâm t́nh của ḿnh qua các
biểu tượng, dấu chỉ thực tại
thiêng liêng. Không có ǵ tốt lành thánh thiện mà ở
ngoài Thiên Chúa, mà lại không được Thánh
Thần tác động và hướng dẫn! Những
ǵ tốt lành thánh thiện, những ǵ giúp con người
vươn lên với Thiên Chúa ngay cả trong các tôn giáo ngoài
kitô, đều là hoa trái của Thánh Thần. Chính Thánh
Thần đă giúp những người sống trong các
tôn giáo ngoài kitô gặp gỡ Thực Tại Tuyệt
Đối qua các biểu tượng, thánh hóa và ban cho
họ hồng ân vô giá “trở nên đền thờ
Thiên Chúa Ba Ngôi” ngay cả khi họ không ư thức.
TẤT CẢ CHO VINH DANH CHÚA HƠN
14.12.52
06.02.33
Ở
đây chỉ ghi những sách hoặc những bài báo đă
được trích dẫn.
Balchand, A. The salvific value
of non-christian religions according to Asian Christian Theologians’
Writtings, in Asian Published Theological Journals 1965-1970. Manila:
EAPI, 1973.
Baumgartner, Ch. La Grâce du
Christ, Coll. LE MYSTÈRE CHRÉTIEN. Belgium: Desclée, 1963.
Bihlmeyer, C et Tuchle,
H. Histoire de l'Eglise, t. I. Salvator 1962.
Blackman, E. C. “Faith-
Faithfulness,” INTERPRETER'S DICTIONARY OF THE BIBLE, vol. II. New York:
Abingdon Press, 1962.
Boff, Leonardo. “Le sacrement de
mariage,” CONCILIUM 87 (1973), pp. 21-31.
Cassirer, E. An essay on
man. Yale University Press 1962.
Congar, Y. Vaste monde ma
paroisse: Vérité et dimensions du salut, Témoignage Chrétien 1968- FV.27.
Cornélis, Étienne. Valeurs
chrétiennes des religions non-chrétiennes. Cerf 1965.
Davy, M-M. “Les symboles et
l'histoire,” Le symbole, Col. RECHERCHES ET DÉBATS n. 29. Paris 1959.
De Finance, Joseph. Connaissance
de l'être, Traité d'ontologie. Paris: DDB, 1966.
De Lubac, Henri. Dieu se dit
dans l'histoire, Col. FV.159. Cerf 1974.
Dominici, Gildo. Notes
de théologie morale: Les vertus thélogale. Đà Lạt: GHHV,
sans date ni lieu.
Drexel, Anton. Bí tích
đại cương. Đà Lạt: GHHV, không ngày.
Drexel Anton. Traité de
la grâce du Christ ou L'homme dans le Christ. Đà lạt: Collège
Pontifical Saint Pie X, 1972.
Éliade, Mircea. Le sacré
et le profane. Gallimard 1965.
Foulquié, Paul et Raymond
Saint-Jean. Dictionnaire de la langue philosophique. Paris:
PUF, 1962.
Gaudel, A. “Péché eriginel,” DTC
XII/1. Paris 1933.
Heinrichs, M. Théologie
catholique et pensée asiatique. Casterman 1965.
Huyền Chân. Đạo
Phật. Nha Trang: Phật Học Viện Trung Phần,
1965.
Kraemer, H. Foi chrétienne et
les religions non-chrétinnes. Neuchatel 1956,
Leahy, Louis. Philosophie
de l'homme. Đà Lạt: Collèce Pontifical St. Pie X, 1974
éd. Léon- Dufour, Xavier. Vocabulaire
de théologie biblique. Paris: Cerf, 1966.
Lăo Tử. Đạo
Đức Kinh, bản dịch Nguyễn Duy Cần. Sài G̣n:
Khai Trí, 1961.
Marcel, Gabriel. Foi et
réalité, FV. 38. Aubier 1967.
Maurier, Henri. Essai
d'une théologie du paganism. Paris: L’Orante, 1965.
Millet, Louis. “Le pouvoir du
symbolisme,” Le Symbole, RECHERCHES ET DÉBATS n.29. Paris 1959.
Moden, Louis. Le miracle- signe
du salut. DDB 1960.
Muschalex, G. La création de
l'alliance, Problème des rapports entre la nature et la grâce, MYSTERIUM
SALUTIS VI. Burns and Oates 1969.
Narada Maha Thera. The Buddha
and his teachings, bản dịch của Phạm Kim Khánh,
Đức Phật và Phật pháp. Sài G̣n: Hạnh Phúc, 1971.
Parrinder, Geoffrey. “Revelation
in other Scriptures,” STUDIA MISSIONALIA, vol.20 (1971), éd. M. Dhavamony,
SJ. Roma: Gregoriana, 1971.
Phạm Thanh Liêm,
Giuse. Thần học các tôn giáo ngoài kitô. Đà
Lạt: bđm, 1982.
Portalié, É. “Augustin,”
DTC I/1. Paris 1923.
Portalié, É. “Abélard,”
DTC I/1. Paris 1923.
POSCHMANN, B. Pénitance et
onction des maladies, Coll. HISTOIRE DES DOGMES. Cerf 1966.
Rahner, Karl. Piété personnelle
et piété sacramentelle, ÉCRITS THÉOLOGIQUES, t. II. DDB 1960
Rahner, Karl. La nature et la
grâce, QUESTIONS THÉOLOGIQUES AUJOURD'HUI, t. II. Paris: DDB, 1963.
Rahner, K. Pour la théologie du
symbole, ECRITS THÉOLOGIQUES, t. IX. DDB 1968.
Rahner, r. Parole et
Eucharistie, ECRITS THÉOLOGIQUES, t. IX. DDB 1968.
Rahner, r. Eglise et Sacrements,
QUESTIONES DISPUTATAE 10. DDB 1970
Roguet, A-M. “Renseignements
techniques,” Thomas D’AQUIN, S.T. III, q.60-65, bản dịch của
A-M. Roguet, pp.255-380. Paris: Desclée et Cie, 1945.
Rondet, Henri. Gratia
Christi. Paris: Beauchesne et ses Fils, 1964.
Rondet, H. Essais sur la
théologie de la Grâce. Paris: Beauchesne, 1964.
Roqueplo. La foi d' un
mal croyant. Paris: Cerf, 1969, p. 169;
Schillebeeckx, E. Le Christ
sacrement de la rencontre de Dieu, FV. 133. Cerf 1960.
Schlette, Heinz Robert. Towards
a Theology of Religions, bản dịch của W.J. O'Hara, Coll.
QUESTIONES DISPUTATAE 14. Freiburg: Herder, 1966.
Schoonenberg, P. L'home dans le
péché, MYSTERIUM SALUTIS VIII. Cerf 1970.
Semmeilroth, Otto. “Mediatorship,”
SACRAMENTUM MUNDI. Burns and Oates 1969.
Siewerth, Gustav. L'home
et son corps. Paris: Plon, 1957.
Thils, Gustave. Propos et
problèmes de la théologie des religions non-chrétiennes. Casterman 1966.
Thomas d'Aquin. Summa
Theologiae. Marietti 1952.
Tillich, Paul.
Aux frontières de la religion et de la science. Centurion 1970.
Trouillard, Jean. “Symbole et
distance,” Le Symbole, RECHERCHES ET DÉBATS n. 29. Paris 1959.
Van Der Meersch, J. “Grâce,”
DTC VI/2.
Walgrave, Jan-Hendrik. Un salut
aux dimensions du monde, bản dịch từ tiếng Hà Lan
bởi Emmanuel Brutsaert. Paris: Cerf, 1970.
Zaehner, R. C. Hindu and Muslim mysticism.
London: Athlone Press, 1957
[1] Không
thể đối thoại nếu cho rằng các tôn giáo
ngoài Kitô hoàn toàn sai lầm và không có giá trị cứu
độ!
[2] Chẳng
hạn nơi Ḍng Tên. Xem Tổng Hội 32, 4, 53-56; 5, 1-2;
Tổng Hội 33, 1, 37.41
[3] Chúng
ta hiểu tại sao quyển sách của H. R. Schlette, Towards
a Theology of religions, bản dịch của W. J. O’Hara,
Freiburg: Herder, 1966 được xuất bản trong bộ
QUESTIONES DISPUTATAE.
[4] Những
Kitô hữu bản xứ tự hỏi “ông bà tổ tiên ḿnh
là người ngoại, sống trong các tôn giáo ngoài Kitô,
liệu có được cứu độ không?”
[5] Anh
em duy vật cho rằng tất cả đều do vật
chất mà có, thế nên không có thần thánh
Thượng Đế chi cả. Chết là hết
đối với con người, không có đời sau
hoặc kiếp sau, không có ǵ phải mong hoặc hy
vọng sau cái chết. Tuy quan niệm như vậy
nhưng người duy vật vô thần vẫn ao
ước khao khát hạnh phúc: hạnh phúc cá nhân và
tập thể, dù nó hoàn toàn tại thế. Người
duy vật vô thần ao ước một
thế giới đại đồng, trong đó không
c̣n cảnh người bóc lột người,
và như thế là hạnh phúc, v́ mọi người
vẫn làm theo khả năng nhưng sẽ được
hưởng theo nhu cầu của ḿnh. Để có
được thế giới đại đồng-
nơi trong đó con người sống hạnh phúc- con
người không được mong đợi một
sự trợ giúp nào của thần thánh hoặc
Thượng Đế (v́ làm ǵ có thần thánh
thượng đế), nhưng con người
phải tự cứu lấy ḿnh, phải đứng lên
tự giải phóng ḿnh khỏi cảnh áp bức bóc
lột. Chỉ có con người mới cứu
được con người. Chỉ có con
người mới làm cho con người được
hạnh phúc. Với anh em duy vật vô thần, không có
vấn dề hạnh phúc vĩnh cửu, không có
việc cứu độ hiểu như sự cứu
độ từ trên, và như vậy cũng không có
vấn đề ân sủng.
Anh
em Phật tử cho rằng đời là bể khổ:
sinh- lăo- bệnh- tử. Để được
hạnh phúc thật, nghĩa là thoát khỏi cảnh luân
hồi nghiệp chướng, con người phải
diệt dục để có thể đi vào cơi
thường hằng hạnh phúc chốn niết bàn.
Với quan niệm của đức Phật: không ai
có thể cứu người khác khỏi cảnh luân
hồi khổ ải nếu không phải là chính
người đó. Mỗi người phải tự
cứu lấy ḿnh bằng diệt dục, thực thi
bát chính đạo và giữ các giới luật. Với
thời gian trong ḍng lịch sử, Phật tử
đă cầu nguyện với đức Phật và các
vị bồ tát để giúp ḿnh chóng được
giác ngộ, mau được siêu thoát, v.v. Về
điểm này đạo Phật đă tiến triển:
coi việc giác ngộ, giải thoát không chỉ hoàn toàn
do ḿnh, nhưng cũng cần sự trợ giúp của
chư Phật thập phương và các vị bồ
tát.
Anh
em Ấn Độ giáo tin vào Tuyệt Đối Brahman và
cho rằng: con người được giải thoát
khỏi nghiệp chướng và biết bao điều
kiềm tỏa khác nhờ biết Brahman. V́ vậy
họ đă khẩn cầu để được
dẫn tới ánh sáng, tới sự sống và tới
cái chân thực, và nhờ ân sủng họ
được nh́n thấy Đức Chúa.
[6] C.
BIHLMEYER- H. TUCHLE, Histoire de l'Eglise, t.1, p. 362
[7] cf.
Augustinus, Epist. 194, 8 PL.33, 877
Augustin,
De gratia Christi et de peccato originali I, 3 PL.44, 361
cf. H.
Rondet, Gratia Christi, pp. 118-119
[8] cf.
Augustin, Epist.186,1 PL.33, 816
[9] cf.
Augustin, De Gratia Christi, 33, PL.44, 376
[10] cf.
E. PORATLIÉ, art. Augustin, trong DTC., t. I/1, col. 2381 trích bởi H.
Rondet, op. cit., p. 113
[11] Augustin,
Ad Simplicianum, l.1, q.2, 20 PL.40, 125; l.1, q.1, 10 PL.40, 106
[12] Ibidem,
q.1, 11 PL.40, 107
[13] Ibid.,
q.1, 10 PL.40, col.106
[14] Ibid.,
q.1, 11, PL.40, 107
[15] Ibid.,
l.1, q.2, 16 PL.40, 121
[16] Augustinus,
De divers. quaest. ad Simpli. I, 16 PL.40, 121
In
Joannem, tract.109, n. 2 PL.35, 1918
Serm.22,
9-10 PL.38, 153-154
Serm.27,
2-3 PL.38, 178-179
Epist.194,
14 PL.33, 879
In Joannem,
tract. 87, n. 3 PL.35, 1853
[17] Augustin,
De civitate Dei, 21, 12 PL.41, 727
cf.
H. Rondet, op.cit., pp. 133-135
[18] Augustin,
Contra duas epist. Pelag. I, 6-7 PL.44, 553
De corrept.
et gratia 42 PL.44, 942
[19] Ibidem
39 PL.44, 940
[20] Ibid.,
40 PL.44, 940
[21] Augustin,
De praedestinatione sanctorum 7 PL.44, 964
[22] Augustin,
In Joannem, tract. 45, n. 13 PL.35, 1725
De
corrept. et gratia 14 PL.44, 941
[23] Augustin,
De corrept. et gratia 10 PL.44, 921
trích
bởi H. Rondet, De gratia Christi, pp. 133-135
[24] Augustin,
Ad Simplicianum I, 2, 16-22 PL.40, 120-128 trích bởi A. GAUDEL, art.
“Péché originel” trong DTC. XII/1, col. 379
[25] Augustin,
De dono perseverantiae, 16 PL.45,1002
cf.
H. Rondet, op. cit., p.140: “Cur, inquit, gratia Dei non secundum
merita datur? Respondeo: quoniam Deus misericors est. Cur, ergo,
inquit, non omnibus? Et hic respondeo: quoniam Deus judex est. Ac per
hoc et gratis ab eo datur gratia, et justo ejus in aliis
judicio demonstratur quid in eis quibus datur conferat gratia.”
[26] Ibid.,
PL.45, 925
[27] Augustin,
Contra Juli., IV, 3, 14 sq PL.44, 743sq.
[28] Augustin,
Contra duas epist. Pelag., 3, 24; 2,9 PL.44, 607. 577
De
spir. et lit., 3, 5 PL.44, 203
De
Gratia Christi 26, 27 PL.44, 374
Tưởng
cũng cần phải nói ở đây: Giáo Hội đă
kết án Baius v́ những mệnh đề tương
tự. Xem DS 1927.1928. cf.CH. Baumgartner, La grace du Christ, pp.
60-61
[29] Augustin,
De libero arbitrio, III, 23, 66 PL.32, 1303 sq
Không phải
v́ trẻ phải đau khổ mà được cứu
độ (Ibidem, III, 23, 68 PL.32,1304)
trích
bởi A. GUDEL, art. “Péché originel” trong DTC XII/1, Paris 1933,
col.376-377
[30] Augustin,
De spir. et lit. 28, 48 PL.44, 230
[31] Augustin,
De pecc. mer. et rem. 18, 31 PL.44, 169
Ad
Simplic. I, 2 PL.40, 111-112
[32] Thật
sự trong những quy phạm này, công đồng kết
án chứ không khẳng định, những kết án
cũng là một cách khẳng định.
DS
225 cf. Augustin, Epist.175, 2 PL.33, 760: gratia Dei qua christiani
sumus, qua et ipsum nostrae voluntatis arbitrium vere fit librum! C̣n các
đối thủ của Augustin lại nói: dicunt
gratiam Dei ad hoc tantum valere, ut peccata praeterita dimittentur,
non ut futura vitentur (apud Augustin, De gratia et lib. arbit., I,
26 PL.44, 896-897);
DS
227 cf. Augustin, Serm., 156, 13 PL.38, 856: iam ergo dicunt adiutricem esse
gratiam Dei ad facillius facienda. Ista sunt verba eorum: ad hoc dedit
Deus gratiam suam hominibus ut quod facere iubentur per liberum arbitrium
facilius possint implere per gratiam.
[33] H.
Rondet, Gratia Christi, Paris 1948, p. 124
cf.
Augustin, Epist.214, 1-2, PL.33, 969. Các tu sĩ cho rằng
nếu Thiên Chúa điều khiển ư muốn chúng ta,
th́ khi chúng ta phạm tội chúng ta đâu có lỗi và
như vậy chúng ta đâu đáng trách mắng,
người ta chỉ cần xin Thiên Chúa ban ơn cho
chúng ta thôi (apud Augustin, De correptione et gratia, 4-5 PL.44,918)
[34] H.
Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, Paris 1964, trg.232
[35] Augustin,
De civitate Dei, VIII, 10 PL.41, 235: ab uno vero Deo atque optimo et
naturam esse qua facti ad ejus imaginem sumus, et doctrinam qua eum nosque
novermus, et gratiam qua illi cohaerendo beati sumus.
Augustin,
De libero arbitrio, II, 54 PL.32, 1270: “Omme bonum ex Deo sed quoniam non
sicut homo sponte cecidit, ita etiam sponte surgere potest, per rectam nobis
desuper dexteram Dei, id est Dminum nostrum Jesum Christum fide firma
teneamus.”
cf.
H. Rondet, Gratia Christi, p.107.110
[36] Augustin,
Retract. I, 9, 6 PL.32, 598: “Quia omnia bona, sicut dictum est, et magna et
media et minima a Deo sunt, sequitur ut ex Deo sit etiam bonus usus liberae
voluntatis.”
Augustin,
In Joannem, V, 1 PL.35, 1414: Qui lequitur mendacium, de suo loquitur.
Nemo habet de suo nisi mendacium atque peccatum. Si quid autem homo habet
veritatis atque justitiae, ab illo fonte est, quem debemus sitire in hac
eremo, ut ex eo quasi guttis quibusdam irrorati et in hac peregrinatione
interim consolati, ne deficiamus in via, venire ad ejus requiem
satietatemque possimus.
[37] Augustin,
Epist.217, 4, 12 PL.983: “nous avons perdu le libre arbitre pour aimer Dieu par
suite de la grandeur du premier péché. cf. Ch. Baumgartner, La Grâce du Christ,
p. 60
Augustin,
Enchir., 30 PL.40, 246: “Libero arbitrio male utens homo, et se perdidit
et ipsum... cum libero peccaretur arbitrio, victore peccato amissum est liberum
arbitrium.” Cf. H. Rondet, op. cit., p. 105-106
[38] Augustin,
De spiritu et littera, 52, PL.44, 23 cf. H. Rondet, op. cit., pp. 122-123
[39] Augustin,
De natura et gratia, 50 PL.44, 271 cf. DS 1536; H. Rondet, ibid.
[40] CH.
Baumgartner, La Grâce du Christ, p. 60
[41] Augustin,
De divers. quaest. 17, PL.40, 15
Confess.
XI, 16 PL.32, 815
De
divers. quaest. ad Simplici., II, 2, 2 PL.40, 138-139
cf.
H. Rondet, op. cit., p.141 ghi chú 1.
[42] cf.
C. Bihlmeyer- H. Tuchle, Histoire de l'Eglise, t.I, pp. 365-370
[43] DS
390 cf. Augustin, Contra duas epis. Pelag., II, c. 9 n.21 PL.44, 586
DS
392 cf. Augustin, In Evangelium Johann., tract. V, 1 PL.35, 1414
[44] Xem
25 quy phạm (canon) của công đồng Orange II năm
529, đặc biệt quy phạm 3-7; cf. DS 373-377
[45] Cyprianus
Carthag., Ep. ad Iubaianum c.21, PL.3, 1169A Công Đồng Latêranô, De
fide catholica, c.1, DS 802
Thư
của Thánh Bộ gởi TGM. Boston, DS 3866-3873
[46] Fulgence
De Ruspe, De fide ad Petrum, 38, 79
Xem
Y. Congar, Vaste monde ma paroisse, p. 111
[47] Tôi e
rằng không thể đặt vấn đề “không có ân
sủng của Thiên Chúa, con người có thể làm ǵ?” v́
ân sủng của Thiên Chúa bao trùm tất cả, thâm nhập
tất cả vũ trụ này!
[48] “Quod
liberum arbitrium per se sufficit ad aliquod bonum”
cf.
DS 725; cf. E. Portalié, art. “Abélard,” trong DTC. I/1 Paris 1923, col.
36-55. 47
[49] E.
Portalié, Ibid.
[50] Melanchthon,
Loci com., trong CORP. REF., t.XXI, col. 88.92: Nulla est voluntatis
nostrae libertas..., internos affectus prorsus nego in potestate nostrae esse.
[51] DS
1551-1553
[52] DS
1554
[53] DS
1555
[54] DS
1556
[55] DS
1557
[56] DS
1925
[57] DS
1927
[58] Jansen
chủ trương “Thiên Chúa không muốn cứu độ
tất cả mọi người và Đức Kitô không
chết cho tất cả mọi người.”
[59] Giáo
lư này hàm chứa trong mệnh đề của Corneille Jansen
và được phái mang tên ông trích dẫn nhiều:
“Semipelagianum est dicere, Christum pro omnibus omnino hominibus mortuum
esse aut sanguinem fudisse” (DS 2005).
[60] DS 2308:
Necesse est, infidelem in omni opere peccare.
DS
2311: Omne, quod non est ex fide christiana supernaturali, quae per dilectionem
operatur, peccatum est.
[61] DS
2429: Extra Ecclesiam nulla conceditur gratia.
DS
2439: Voluntas, quam gratia non praevenit, nihil habet luminis nisi
ad aberrandum, ardoris nisi ad se praecipitandum, virium nisi ad
se vulnerandum est capax omnis mali et incapax ad omne bonum.
[62] Cf.
H. R. Schlette, Towards a theology of religions, p.16
[63] Đây
là lập trường của Louis Molina (1536-1600) và
đặc biệt của Léonard Lessius (1554-1623), các ngài
chủ trương Thiên Chúa tiền định ex
praevisis meritis, nghĩa là post praevisa merita.
cf.
H. Rondet, Essais sur la théologie de la grâce, pp. 210 seq.;
Gratia Christi, pp.306 seq.
[64] Đây
là lập trường của Hồng y giám mục Robert
Bellarmin (1542-1621) và của Francois Suarez (1548-1617). Các ngài
chủ trương Thiên Chúa tiền định ante
pravisa merita. cf H. Rondet, Essais sur la théologie de la grace, pp. 211
seq.
Petau
cho rằng chỉ có tiền định ante praevisa merita là
của Augustin cf. H. Rondet, Gratia Christi, p. 330
Hai
lập trường này đều được những
người thuộc ḍng Tên bảo vệ, và để
tránh những tranh luận gây gương xấu, bề trên
cả ḍng Tên là Aquaviva đă truyền ḍng chấp
nhận lập trường tiền định
ante praevisa merita của Suarez và Bellarmin.
[65] H.
Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, pp.215 seq.
[66] Ep.
S. Officii ad archiep. Bostoniensem ngày 08.08.1949 cf. DS 3866-3873.
[67] Không
do lỗi của họ, nghĩa là những người vô
thần “vô tri bất khả thắng.”
[68] Augustin,
De dono perseverantiae, 16 PL.45, 1002:
“Cur,
inquit, gratia Dei non secundum merita datur? Respondeo: quoniam
Deus misericors est. Cur ergo, inquit, non omnibus? Et hic respondeo:
quoniam Deus judex est. Ac per hoc et gratis ab eo datur gratia et justo
ejus in aliis judicio demonstratur quid in eis quibus datur conferat
gratia.”
cf.
H. Rondet, op. cit., p. 140
[69] Trên
nguyên tắc những người này thiếu ân sủng v́
họ không biết Đức Kitô. Có chỗ Augustin cho
rằng tất cả hành động của lương
dân là tội (Augustin, Jul., IV, 3, 14 sq. PL.44, 743sq. etc.);
nhưng cũng có chỗ thánh nhân cho rằng nơi
lương dân cũng có những hành vi tốt (cf.
Augustin, De spir. et lit., 28, 48 PL.44, 230).
[70] ST.
Thomas, S.T., Ia-IIae, q.109, a.1-10
V.
D. Meersch, art. “Grâce,” trong DTC.VI/2, col.1571-1594
A. Drexel,
Traité de la Grâce, pp. 64-98
[71] G.
Thils, Propos et problèmes de la théologie des religions non-chrétiennes,
p. 73
G.
Phạm Thanh Liêm, Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, trg.12
[72] Cf.
H. Rondet, Essais sur la théologie de la Grâce, trg 49 ghi chú 27
[73] K.
Rahner, La nature et la grâce, trang 18-19.
Theo
G. Muschalek, Cajetan đă phủ nhận lập trường
cho rằng con người có ước vọng tự
nhiên hưởng kiến Thiên Chúa. Cũng theo Muschalek,
trong tư tưởng của thánh Thomas có nói con
người có ước ao hưởng kiến Thiên
Chúa trực tiếp. Ước muốn này có cơ cấu của
bản tính con người được tạo dựng.
Tuy
vậy đối với thánh Thomas, việc hưởng
kiến trực tiếp Thiên Chúa vẫn là một hồng
ân nhưng không, mà con người không thể tự ḿnh
đạt được. Hồng ân này con người
không chấp nhận nó như từ ngoài hoặc không
quan trọng với ḿnh, nhưng ngược lại như
một hồng ân mà con người ao ước khao
khát từ chính tâm hồn ḿnh.
(Xem
G. Muschalex, La création et l'alliance: problème des rapports entre la
nature et la grâce, trg.337-354.344).
J-H.
Walgrave coi con người là một hữu thể cho Thiên
Chúa. cf. Jan- Hendrik Walgrave, un salut aux dimensions du monde,
pp.43-44.
[74] G.
Muschalex, op.cit, p. 343
[75] P.
Schoonenberg, L'home dans le péché, p. 45
[76] Thường
sủng hay thánh sủng là ân sủng làm cho con người
được làm con Thiên Chúa, được sống trong
tương giao thiết thân với Thiên Chúa.
[77] L.
Leahy, Philosophie de l'homme, pp. II/1-2
Xem
G. Siewerth, L'homme et son corps, p. 100
[78] Cf.
P. Benoit. Editorial của CONCILIUM 40 (1968), p. 7
[79] L.
Monden, sj, Le miracle- signe de salut, p. 42
[80] Ibidem,
p. 43
[81] K.
Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, p. 129
[82] Ibidem,
p. 130-131
[83] Ibidem,
p. 131
[84] P.
Foulquié, Dictionnaire de la langue philosophique, p. 672-674.
[85] L.
Leahy, Philosophie de l'homme, p. II/6
A-M.
Roguet, Renseignements techniques, trong Les Sacrements, p. 314:
“Le
signe c'est la pure relation de signification, abstraction faite de la
chose qui le soutend, c’est une pure mesure du substitut par le signifié.”
[86] Xem
phần Liminaire của Symbole, p. 8 trong RECHERCHES ET
DÉBATS XII (1959)
[87] L.
Leahy, Philosophie de l'home, p. II/6.
[88] A.
Drexel, Bí tích đại cương, p. 16-17.
[89] L.
Leahy, Ibid.
[90] A- M.
Roguet, Renseignements techniques, p. 315
[91] Ibidem,
p. 314: “Le signe, de même, si on le prend très rigoureusement, c'est
l'extrême pointe du symbole, c'est le point par où le symbole n'est que
signe, abstraction faite de sa nature propre. Pris plus largement, le
signe, c'est le symbole lui-même en tant qu'il exerce la fonction de
signifier, qu'il est sujet de la relation de signification. Et le symbole,
de son côté, n'est symbole que parce qu'il se termine en signe...
Le signe
pris au sens précis de signification peut encore désigner soit une
signification, proprement dite, soit un symbolisme...
La
distinction entre signe et symbole que nous voudrions établir n'est pas
une distinction totale.”
[92] Xem
Liminaire của quyển Symbole, trang 7 trong RECHERCHES
ET DÉBATS XII (1959).
[93] Ernst
Cassirer, An essay on man, pp. 32-36.
[94] Ibidem,
p. 33.
[95] Xem
phần Liminaire của Symbole, p. 8-9 trong RECHERCHES ET DÉBATS
(1959)
[96] Xem
K. Rahner, Pour la théologie du symbole, p. 13
[97] Ibidem,
p. 16
[98] Ibidem,
p. 17
[99] Ibidem,
pp. 18-19
[100] Ibidem,
pp. 19-20
[101] Ibidem,
p. 21
[102] Ibidem,
p. 25
[103] J. De
Finance, Connaissance de l'être- Traité d'ontologie, pp. 405-406
[104] K.
Rahner, Pour la théologie du symbole, p. 39
Ghi
chú 1: Même la réception du salut de la part de l'esprit libre de l'homme
est un acte de tout l'homme, donc aussi corporel: il
s'accomplit donc toujours aussi dans le symbole (acte qui est donc
toujours aussi historique et social), donc encore “ecclésial.”
[105] Augustinus,
Contra Julianum, 5, 11, 45 R. 1909 (Chữ bí tích ở
đây được dùng là sacramentum, nó c̣n có nghĩa là
dấu chỉ hoặc biểu tượng). Xem A.
Drexel, Bí tích Đại cương, p. 128
[106] ST.
Thomas, Summa Theologiae, III, q. 61, a.1: “Respondeo dicendum quod
sacramenta sunt necessaria ad humanam salutem triplici ratione. Quarum
prima sumenda est ex conditione humanae naturae, cujus proprium est ut per
corporalia et sensibilia in spiritualia et intelligibilia deducatur. Pertinet
autem ad divinam providentiam ut unicuique rei provideat secundum
modum suae conditionis. Et ideo convenienter divina sapientia
homini auxilia salutis confert sub quibusdam corporalibus
et sensibilibus signis, quae sacramenta dicuntur.”
[107] ST.
Thomas, Summa theologiae, III, q.61, a. 3 et 4
[108] Ibidem,
a. 2
Nếu
chúng ta quan niệm bí tích (dấu chỉ, biểu
tượng của ơn thánh vô h́nh) như cơ cấu
con người đ̣i hỏi- con người là xác và
hồn- th́ bí tích vẫn cần thiết để con
người gặp gỡ Thiên Chúa.
[109] Những
người sống trong các tôn giáo ngoài Kitô tin rằng:
Đấng Tối Cao đă mặc khải cho họ,
và họ cũng dùng những nghi thức tôn
giáo để diễn tả tâm t́nh, thái độ
sống với Thiên Chúa mà họ tin thờ.
[110] Giavê
Thiên Chúa đă hiện ra cho Hagar dưới dạng
“thiên thần.” Thiên thần được dùng trong Kinh
Thánh Cựu ước, khi th́ để chỉ
người được Thiên Chúa sai đến với
con người (St 16, 7), khi th́ chỉ chính Thiên Chúa (St
16,13; 22,15). Xem ghi chú nơi St 16,7 trong bản dịch
của Cha Nguyễn Thế Thuấn.
[111] Ư
kiến của Augustin (R 1646,1875), Gregôriô Cả (R
2306), Thomas (ST. III, q.37, a.1 ad 1), Innocente (DS 780),
Frirenze (DS 1310.1347), Trentô (DS 1602).
[112] Ep.
“Lectis dilectionis tuae” ad Flavianum epis. Constantinopolitanum, sive “Tomus
(I) Leonis,” 13 Jun. 449
DS
293/143/
[113] Otto
Semmelroth, art. “Mediatorship,” trong Sacramentum Mundi, Burns and Oates 1969
[114] Xem
K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 27tt.
[115] Khi
Ngôi Lời nhập thể, các thiên thần hiểu hơn
về Thiên Chúa. Mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể
đă được dấu kín từ đời
đời, chỉ được tỏ ra vào thời
điểm của nó. Cf. Ep 1:3tt.
[116] Nhập
thể theo Kitô giáo không là một hóa thân (avatar) trong
Ấn giáo.
[117] Điều
này vẫn đúng trước khi Chúa Giêsu
được sinh ra v́ biến cố Giêsu Kitô đă là
nguyên nhân cứu cánh trong việc tạo dựng của
Thiên Chúa.
[118] W.
Bulst, “Israel als signum levatum in Nationes...” trong Zeitschrift fuer
Katholische Theologie 74 (1952), pp. 167-204
[119] Đức
Giêsu thiết lập Giáo Hội: Ngài đă chọn và
gọi nhóm mười hai (Mc 3:13tt; 6:7tt), cho nhóm 12
ngồi trên ṭa xét xử 12 chi tộc Israel (Mt 19:28), trao
quyền ch́a khóa cho các tông đồ và đặc biệt
cho Phêrô (Ga 20:22-23; Mt 16:16tt).
Giáo
Hội là dấu chỉ của Đức Kitô: xem K. Rahner,
Eglise et sacrements, p. 24tt.
[120] K.
Rahner, Eglise et sacrements, p. 25
[121] K.
Rahner, Eglise et sacrements, p. 24
[122] K.
Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle,
trong
ET., t.II, DDB. 1960, p. 133
[123] Xem
A. Drexel, Bí Tích Đại Cương, p. 14
[124] A.
Drexel, op. cit., p. 10
[125] Ibidem,
p. 10-11
[126] Ibidem,
p. 11
[127] Ibidem,
pp. 11-12
[128] A.
Drexel, Bí Tích Đại Cương, pp. 12-13
[129] Augustin,
Epist., 138, 1 PL.33, 527: Sacramentum est sacrae rei signum.
Từ Augustin
đến thế kỷ XII đều cho rằng: bí tích là
h́nh thức hữu h́nh của ơn thánh vô h́nh. Xem A.
Drexel, op. cit, p. 13
[130] Pierre
Lombard, IV Sent., d.1, n.2
Cf.
A. Drexel, op. cit, pp. 13-14
[131] A.
ADrexel. op. cit, p. 14
[132] Leonardo
Boff, art. “Le sacrement de mariage,” trong CONCILIUM 87 (1973), trang 23:
“Le sacrement est la forme visible de la grâce invisible, et capable
d'opérer le salut (Trento, DS 1639).”
Sách
Giáo Lư công đồng Trentô, phần 2, chương 1, số
11: “Bí tích là một sự khả giác nhờ
được Thiên Chúa thiết lập mà có khả năng
biểu thị và sinh ra sự thánh thiện và sự
công chính.” Xem A. Drexel, op. cit, p. 20.
[133] A.
Drexel, op. cit, pp. 20-21.
[134] Xem
K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 34-35. “Sacramenta efficiunt quod
significant et significant quod efficiunt.
[135] DS
1604. 1864. 2536
[136] Xem
K. Rahner, Pour la théologie du symbole, pp. 34-35. “Sacramenta efficiunt quod
significant et significant quod efficiunt.
[137] P.
Foulquié & Raymond Saint-Jean, Dictionnaire de la
langue philosophique, chữ religion.
Tự
điển Petit Larousse, Paris 1952, chữ “religion.”
[138] Fernand
Chapey, trong Introduction của P. Tillich, Aux frontières de la
religion et de la science, p. 21-23.
[139] H.
Maurier, Essai d'une théologie du paganisme, pp. 84-85 trích dẫn M.
Éliade, Mythes, rêves et mystères, p. 167.
H.
Maurier cho rằng việc nhập thể nơi
Đức Giêsu là thần hiển tối cao.
[140] Phần
lớn trong mục này được lấy lại trong
G.
Phạm Thanh Liêm, Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, pp.
3-6.
[141] H. R.
Schlette, Towards a theology of religions, p. 25, ghi chú 9.
[142] Xem
M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, p. 79.
[143] H.
Kraemer, Religion and Christian faith, Londres 1956, pp. 54-56 trích
bởi G. Thils, Propos et problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, pp. 44-45.
[144] PG.
1, 1466 cf. M. Heinrichs, op. cit., p. 79 ghi chú 11.
[145] F.
Cayré, Précis de patrologie, t.I, p. 124.
cf.
G. Thils, Propos et problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 140.
[146] Augustinus,
De doctrina christiana, l.II, c.40, n. 60 PL.34, col.65 cf. G. Thils, op.
cit., p. 43.
[147] Fulgence
De Ruspe, De fide ad Petrum, 38. 39
trích
bởi Y. Congar, Vaste monde ma paroisse (vérite et dimension du
salut), p. 111
[148] Thomas,
S.T., IIa-IIae, q.10, a.11 cf. G. Thils, op. cit., p. 41.
[149] Thomas,
S.T., Ia-IIae, q.18, a.4, ad 3 cf. G. Thils, op. cit, p. 42.
[150] H.
Kraemer, op. cit., pp. 67-68 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 45
[151] G.
Thils, op. cit., p. 42 trích dẫn P. Aubry, Les chinois chez eux, DDB
1889
[152] J.
Witte, Die Christusbotschaft und die Religionen, Gottingen 1963, p. 75
[153] Jacques
Dournes trong UNAM SANCTAM 61, trang 84. Nhưng theo H. R. Schlette,
thần học truyền giáo không chỉ đạo
thần học về các tôn giáo ngoài Kitô mà đúng ra
phải ngược lại v́ thần học truyền giáo
chỉ xuất hiện ở một thời điểm
của lịch sử cứu độ (H.R. Schlette, op. cit.,
p. 26)
[154] H.
Kraemer, Foi chrétienne et les religions non-chrétinnes, Neuchatel 1956,
pp. 76-77 trích bởi G. Thils, op. cit., pp. 46-47.
[155] Đạo
Hồi với Mahomet đă phá hủy nhiều lư thuyết
tích cực về tôn giáo, chẳng hạn lập
trường coi các tôn giáo như là chuẩn bị cho
việc con người đón nhận tin mừng
Đức Giêsu Kitô.
Đạo
Hồi xuất hiện khá trễ trong lịch
sử (Mahomet sinh khoảng năm 570 tại La Mecque) và
đă phá hủy nhiều thánh đường và
cộng đoàn Kitô giáo tại phương Đông.
Đạo Hồi coi Đức Giêsu chỉ là
một tiên tri và thời của Đức Giêsu đă
chấm dứt, Mahomet khai trương kỷ nguyên sau
cùng.
V́
chủ trương như vậy, nên phần nào sự
kiện đạo Hồi cũng làm lung lay quan niệm
coi các tôn giáo ngoài Kitô là công tŕnh của logos spermatikos,
hoặc quan niệm coi các tôn giáo ngoài Kitô có điểm
tới là Kitô giáo.
Xem
M. Heinrichs, op. cit., p. 81.
H.
Lammens, Mahomet fut- il sincère, trong RECH. SCIENCCES RELIG., 2 (1911),
pp. 25-53.140-166 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 42.
[156] Lập
trường này dựa vào quan điểm về công chính
hóa, ân sủng và nguyên tội của Luther cùng những
người Tin lành.
H.
R. Schlette cho rằng không có khẳng định nào
của Kinh Thánh nâng đỡ cho quan điểm này. Cf. H. R.
Schlette, op. cit., p. 29.
Theo
K. Rahner, lịch sử của các tôn giáo không chỉ là thành
quả của lư trí và của tội, nhưng cũng
c̣n là hoa trái của ân sủng nữa. Cf. K. Rahner, art.
“La nature et la grâce,” trong Questions théologiques aujourd’hui, t.II,
DDB 1963, p. 33.
[157] La
Combe Olivier, Râmânuja, Approches de l'Inde, trong CAHIER DU
SUD 1949 Ma
Mystique naturelle et l'Inde, trong REVUE THOMAISTE 1951.
R.
C. Zaehner, Hindu and Muslim mysticism, London: Athlone Press, 1957
Mysticism
sacred and profane, Oxford: Clarendon Press, 1957.
L.
Massignon, La passion de Al-Hallâj, martyr mystique de l'Islam, 2 vol., Paris
1922.
[158] Mục
này phần lớn lấy lại trong G. Phạm Thanh Liêm,
Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, Đà Lạt: bđm,
1982, pp. 7-30.
[159] Irénée,
Adversus Haereses, 4, 28, 2 PG.7, 1062
trích
bởi G. Thils, op. cit., p. 65.
[160] Clément
D’Alexandrie, Stromates, I, 5 PG.8, 717-720 trích bởi G. Thils, op.
cit., p. 66
[161] Clément
D’Alexandrie, Stromates, VII, 2 PG.9, 409-410 trích bởi G. Thils,
op. cit., p. 66
[162] Clément
D'Alexandrie, Stromates, VI, 3 PG.9, 262 sq., trích bởi M.
Heinrichs, op. cit, p. 106
[163] St.
Bernard, Tractatus de Baptismo, cap.1, n.4 PL.182, 1034, trích
bởi G. Thils, op. cit., p. 73
[164] G.
Thils, op. cit., p. 50. Cf. Br. Decker, Nikolaus van Cues und Friede unter
den Religionen, trong J. Koch, Studien und Texte zur Geistesgeschichte des
Mittesalters, t.III, Lieden-Cologne 1953
[165] Nikolaus
Von Kues, Ueber den Frieden in Glauben, Leipzig 1943, p. 91, trích
bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 81 ghi chú 17
[166] R.
Guardini, Der Herr, Wurzburg 1949, p. 355, trích bởi M. Heinrichs, op.
cit., p. 106
[167] PIÔ
XII, Diễn từ cho các cô đỡ, ngày 29.10.1951, DC.1951,
col.1480, trích bởi Y. Congar, Vaste monde ma paroisse, trang
141, FV.27
[168] Xem
Y. Congar, op. cit., p. 40, note 1
[169] Th.
Ohm, Die Liebe zu Gott in den nichtchristlichen Religionen. Die Tatsachen
der Religionensgeschichte und die christliche Theologie, Krailing Vor Munchen
1950, p. 442 cf. Y. Congar, op. cit., p. 141
[170] K.
Rahner, art. “Mensch,” trong Lex. F. Und K., col. 292 trích
bởi Étienne Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions
non-chrétinenes, trang 46.
[171] H. R.
Schlette, Towards a Theology of Religions, p. 78-81.
Hiển
nhiên chúng ta phải hiểu, các tôn giáo ngoài Kitô- xét như
những hành động phượng tự của con
người dưới tác động của ân sủng
được biểu lộ cách xă hội- là
điều Thiên Chúa muốn, và như vậy con
người được cứu qua những hành
động phượng tự đó. Nhưng nếu tôn
giáo hiện tại, xét như một hệ thống tự
coi ḿnh là đủ (autosuffisant) và đóng kín với Tin
Mừng Đức Giêsu Kitô, th́ không thể coi
là điều Thiên Chúa muốn được.
[172] Những
điều được tóm về lập trường
của H. R. Schlette, xem đặc biệt H. R. Schlette,
op. cit., pp. 30, 36-37.67.70-72.74.76-81
[173] A. M.
Wensinck, The Muslim Creed, 2nd. édition, London: Cass, 1965, p. 189,
trích bởi G. Parrinder, art. “Revelation in other Scriptures,” trong
STUDIA MISSIONALIA, vol.20, pp. 101-102: “Coran là Lời Thiên
Chúa, được viết trong sách, được ǵn
giữ trong trí nhớ, được lập lại
bằng lưỡi, được mặc khải cho
vị tiên tri. Những lời loan báo, việc sao chép,
việc đọc lại kinh Coran của chúng ta là
được tạo thành, c̣n Coran th́ không được
tạo thành.”
É.
Cornélis, Valeurs chrétiennes des Religions non-chrétiennes, p. 31, trích
bởi G. Thils, op. cit., p. 109
[174] Xin
đọc thêm về vấn đề này trong G. Phạm
Thanh Liêm, Thần học các tôn giáo ngoài Kitô, pp. 21-25
[175] Xem
G. Phạm Thanh Liêm, op. cit., p. 21-25
[176] Xem
Lời đầu Liminaire trong quyển Symbole,
trong bộ RECHERCHES ET DÉBATS XII (1959), pp. 7-9: biểu
tượng là dấu chỉ của thực tại vô
h́nh.
L.
Leahy, Philosophie de l'homme, p. II/6: dấu chỉ là thực
tại khả giác mang ư nghĩa.
[177] M-M.
Davy, “Les symboles et l'histoire,” p. 32
[178] Nếu
cục đá, cái cây này, và lịch sử này đă là
phương tiện thần hiển (hierophanie).
[179] P.
Tillich, Aux frontières de la religion et de la science, p. 169
Liminaire
trong Le Symbole, RECHERCHES ET DÉBATS (1959), p. 8
Thực
ra, mọi ngôn ngữ diễn tả “thực tại hoàn
toàn khác” đểu là ngôn ngữ biểu tượng, có
tính biểu tượng.
[180] Phần
Liminaire trong Le Symbole, Ibid., p. 8
[181] Xem
J. TROUILLARD, “Symbole et distance,” p. 42
[182] Xem
Louis Millet, “Le pouvoir du symbole,” p. 19-20
P.
TILLICH, op. cit., p. 162-163
[183] DS
1-5, 6 tt.
[184] H.
Maurier, Essai d'une théologie du paganisme, p. 85-86.
M.
Éliade, Le sacré et le profane, p. 15
[185] Fernand,
trong “Introduction” cho P.Tillich, op. cit., pp. 21-22
[186] M-M.
Davy, art. cit., trong Le Symbole, p. 34
Fernand,
“Introduction” cho P. Tillich, op. cit., pp. 21-22
[187] Xem
mục ư kiến về các tôn giáo ngoài Kitô, ở trên, trang
30-43.
Ngay
cả khi chúng ta nghe ai mà không nói lời nào, chúng ta vẫn
không ngừng nói với chính chúng ta. Bởi v́ bài dạy
của giáo sư, bài giảng của vị giảng
thuyết, lời nói của xướng ngôn viên cũng
gợi lên trong chúng ta những suy nghĩ, chấp
nhận, nghi vấn, bài bác, diễu cợt và ngay cả
những châm biếm chua cay. V́ không thể nói lên
lời, chúng ta đành nói một ḿnh với chúng ta.
Đó là hiện tượng ngôn ngữ nội tâm.
Khi
đọc một tác phẩm, chúng ta không
ngừng đối thoại với tác giả, tuy không
nói nên lời nhưng vẫn mănh liệt.
L.
Leahy, Philosophy de l'home, p. II/2
[188] St.
Ignace, Exercises Spirituels, bản dịch của Francois
Courel, n. 330, p. 174
[189] Điều
này chúng ta cũng đă t́m hiểu ở trên, đặc
biệt mục về cơ cấu con người
đ̣i dấu chỉ. Ân sủng- xét như t́nh yêu-
cần được biểu lộ qua những
dấu chỉ khả giác đối với con
người. V́ nếu không được biểu lộ
qua dấu chỉ khả giác, con người không thể
biết, không thể đáp trả, và như vậy
không được cứu độ. Điều này
trái với ư định của Thiên Chúa.
[190] Các
bí tích trong Kitô giáo là những biểu tượng thực,
vừa khác lại vừa giống với những
biểu tượng khác trong Kitô giáo.
[191] Vocabulaire
de théologie biblique, ed. X. Léon Dufour, art. “Foi,” col.389
E.
C. Blackman, art. “Faith-Faithfulness” trong INTERPRETER' S DICTIONARY
OF THE BIBLE, vol. II, pp. 222-223
[192] G.
Dominici, Notes de théologie morale- Vertus théologales, pp. 15.17
[193] G.
Dominici, op. cit., p.10
G.
Marcel, Foi et la réalité, pp. 95- 100
G.
Marcel cho rằng có sự khác nhau sâu xa giữa ư kiến, xác
tín, và đức tin. Cf. G. Marcel, op. cit., pp. 93.96-97.
[194] G.
Marcel, Ibidem
[195] G.
Dominici, op. cit., p. 45.46.50
[196] Những
người không nhận biết Thiên Chúa, và đặc
biệt những người chủ trương vô
thần thường dựa vào ư niệm nào đó
về Thiên Chúa và với lư luận họ khẳng
định “niềm tin vô thần” của họ; chẳng
hạn họ lư luận: nếu Thiên Chúa hiện
hữu th́ Ngài có những phẩm tính này phẩm
tính nọ, và nếu vậy th́ phải như vầy
như vầy, nhưng thực tế th́ không có như
vậy, vậy không có Thiên Chúa.
Cf.
G. Marcel, Foi et réalité, Aubier 1967, FV 38, p. 91. Chẳng hạn
nếu Thiên Chúa nhân lành và toàn năng th́ tại sao có sự
dữ? Mà chúng ta thấy sự dữ hiện diện
đầy tràn, vậy Thiên Chúa không hiện hữu.
Nếu
Thiên Chúa toàn tri th́ con người đâu có tự do!
[197] Xem
Robert Coffy, Dieu des athées, France: Chronique social de France
[198] Kinh
Nguyện Thánh Thể IV trong Sách Lễ Giáo Dân, Sài G̣n
1972, trg. 1415
[199] H. De
Lubac, Dieu se dit dans l'histoire, p.85
[200] Roqueplo,
La foi d' un mal croyant, Paris: Cerf, 1969, p. 169;
J.
Mouroux, Je crois en Toi, Paris: Cerf, 1968, p. 25tt trích bởi G.
Dominici, op. cit., p. 9
[201] Facienti
quod in se est, Deus non denegat gratiam; trích bởi G. Thils, op.
cit., p. 16
[202] E.
Schillebeeckx, Le Christ- sacrement de la rencontre de Dieu, p. 160
[203] Cf.
A. Drexel, op. cit., p. 128
[204] G.
Dominici, op. cit., pp. 47-48; Cf. J. Maritain, Neuf lecons sur
les notions premières de la philosophie morale, pp. 119-121.
J.
Maritain, L'opzione fondamentale della vita morale e la
grazia, GREGORIANUM 41 (1960), pp. 601-603.
J.
De Finance, Ethica generalis, Roma: PUG 1959, pp. 155-162
[205] G.
Dominici, op. cit., pp. 49-50
[206] Trong
D.C. 1951 col.1480 trích bởi Y. Congar, op. cit., p. 141
[207] Nơi
các Kitô hữu đầu tiên, lời tuyên xưng “Tôi tin
một Thiên Chúa là Cha toàn năng, và Đức Giêsu Kitô Con
Một Thiên Chúa” được gọi là các biểu
tượng đức tin (biểu tín).
Xem
DS 1-5.6tt
[208] RECHERCHES
ET DÉBATS (1969), Le Symbole, trg. 8
[209] J.
Trouillard, art. “Symbole et distance” Le Symbole, trang 40-41
[210] P.
Tillich, Aux frontières de la religion et de la science, pp. 19-20
[211] Fernand
Chapey trong P. Tillich, op. cit., p, 22
[212] P.
Tillich, op. cit., p. 162-163
Đức
Kitô cũng là biểu tượng lịch sử.
[213] Huyền
Chân, Đạo Phật, trg. 16
[214] Huyền
Chân, op. cit., trg. 45
[215] Naràda
M. T., Buddha and his teachings, bản dịch của Phạm Kim
Khánh, Đức Phật và Phật pháp, trg. 289-290
[216] Cf.
L. Monden, Le miracle- signe du salut, p. 121
[217] É.
Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions non- chrétiennes, p. 58
[218] Raymond
Panikkar, “Confrontation between Hinduism and Christ,” trong LOGOS X (June
1969), p. 48, 43.
Paradkar,
Christian Encounter, p. 33, trích bởi Asandas Balchand, SJ, The
salvific value of non- christian religions according to Asian Christian
Theologians Writings in Asian Published Theological Journals 1965-1970,
Manila: EAPI 1973, p. 37
[219] Cf.
E. Schillebeeckz, Le Christ- sacrement de la rencontre de Dieu, Cf. A.
Drexel, Bí tích đại cương.
[220] K.
Rahner, Pour la thélogie du symbole, p. 34-35
[221] K.
Rahner, Parole et Eucharistie, p. 74
[222] K.
Rahner, op. cit., pp. 67-68
[223] A.
Drexel, Bí tích đại cương, trg. 62, trích dẫn
Gabriel Biel, In 4 S., d. 3, q. unica, a. 2
St.
Thomas, S.T., III, 62,
St.
Thomas, 4 S, d.1, q.2, a. 6
St.
Augustin, In Jon. tract., 80, 3 PL.35, 1840
[224] Với
bí tích thánh tẩy, chúng ta thấy rơ điều này; nhưng
c̣n với các bí tích khác? Một điều chúng ta
lưu ư: người Công Giáo tin có bảy bí tích, nhưng anh
em Tin Lành không tin truyền chức và xức dầu là bí
tích! Anh em Chính Thống coi bí tích Rửa tội và bí tích
Thêm sức là một! Những bất đồng giữa
Chính thống giáo, Công Giáo và Tin Lành, là số bí tích; và hàm
chứa vấn đề: Đức Kitô có thiết
lập những bí tích mà các giáo phái khác nhau- đều
là Kitô giáo- không tin nhận không?! Vấn đề này chúng ta
không bàn đến trong phạm vi bài này.
[225] Giáo
Lư Công Giáo, Sài G̣n: Tân Định Thiện Bản, 1967,
số 150, trg. 60.
Sách
Bổn dạy những lẽ đạo cần cho
được rỗi linh hồn, Địa Phận
Hà Nội- Hiện Tại 1957, phần II, đoạn V,
điều 2, trg. 76
[226] B.
Poshmann, Pénitance et onction des malades, p. 168
[227] Duns
Scott, Ox., IV, dist.17, q.1, n.11 cf.B. Poshmann, op. cit., p. 63
[228] DUNS
SCOTT, Ox., IV, dist.14, q. 4, n. 6 cf. B. POSHMANN, op. cit., p.163
[229] Ibidem,
n. 7
[230] K.
Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, trg. 120
K.
Rahner, Parole et Eucharistie, p. 83
[231] Ibidem,
trg. 83
[232] K.
Rahner, Piété personnelle et piété sacramentelle, p. 124
[233] Đây
là quan niệm của thánh Thomas d'Aquin
K.
Rahner, op. cit., p. 125
[234] V́ ân
sủng cũng có tính cách nhập thể, biểu
lộ qua thân xác.
[235] K.
Rahner, op. cit., pp. 135.138-139.141-142
[236] Xem
K. Rahner, Eglise et Sacrements, p. 38-39.
[237] Không
hàm ư loại trừ việc lănh bí tích.
[238] Innocentius
III, Ep. “Maiores Ecclesiae causas” ad Ymbertum archiep. Arelat., exeunte
a.1201; DS 780/410/
E.
Schillebeeckx, op. cit., p.160
[239] DS
780
[240] DS
1310.1348.1602
[241] Vatican
II, Sắc lệnh Truyền giáo, số 1
[242] Vatican
II, Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các
tôn giáo ngoài Kitô, số 2
[243] Theo
thiển kiến, khái niệm Đạo nơi đạo
Lăo là một biểu tượng có thể Kitô hóa:
“Đạo khả Đạo phi
thường Đạo. Danh khả phi thường
Danh.” Cf. Lăo Tử, Đạo Đức Kinh, IA, trg. 37
[244] Cf.
K. Rahner, La nature et la grâce, p. 33
[245] K.
Rahner cho rằng ân sủng là chính Thiên Chúa và không
thể hiểu ân sủng bằng phạm trù “sự
vật” dù rằng lịch sử triết học và
thần học có diễn tả ân sủng như
một thực tại, như một tính chất, như một tùy
thể, như một t́nh trạng.
Sở
dĩ lịch sử triết học và thần học
phải dùng phạm trù hữu thể để
nói về ân sủng, bởi v́ có ǵ “thực” hơn t́nh
yêu Thiên Chúa, có ǵ có thể biến đổi con
người hữu hiệu bằng t́nh yêu Thiên Chúa, và
bởi v́ chúng ta phải diễn tả những thực
tại cao siêu bằng những hạn từ trừu
tượng, nên phải trong tinh thần đó chúng ta
mới hiểu được những ǵ triết học
và thần học thời trung cổ nói về ân
sủng. Xem K. Rahner, Ibid., p. 28-29.32.
Cf.
CH. Baumgartner, La grâce du christ, Belgium: Desclée, 1963, p. 164-166
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH
ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI
SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
Chúc
bạn an vui hạnh phúc.
phamthanhliem