HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
MẶC KHẢI
a. Chủ trương không có
khả năng biết
b. Chủ trương Thiên Chúa không
hiện hữu
ii. Lập luận chủ
trương không có Thiên Chúa
a. Con người có thể
biết Thiên Chúa
c. Tự do- cấu tố làm nên
lịch sử
1. Tri thức của con
người tại thế
2. Lời- phương tiện và
môi trường mặc khải
b. Mặc khải như biến
cố lịch sử
PHẦN
II: MẶC KHẢI TRONG KINH THÁNH
a. Thiên Chúa tạo dựng tất
cả đều tốt đẹp
b. Tương quan giữa Thiên Chúa
và con người
iii. Lời trong thị kiến,
trong mộng
3. Thiên Chúa can thiệp vào ḍng
lịch sử
iii. Lời- phương tiện
mặc khải
b. Tiêu chuẩn nhận biết tiên
tri thật
ii. Tương quan giữa con
người và Thiên Chúa
a. Khôn ngoan- nguồn hạnh phúc
a. Đức Giêsu Nazareth phục sinh
ii. Mồ trống và những
lần hiện ra
iv. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
iii. Hội Thánh tiếp tục công
tŕnh của Ngài
4. Chúa Phục Sinh Sẽ Trở
Lại Vinh Quang
a. Đức Giêsu nói về ngày quang lâm
b. Phaolô đề cập
đến ngày quang lâm
c. Chúa quang lâm để con
người được hạnh phúc trọn vẹn
PHẦN
III: TRONG D̉NG LỊCH SỬ HỘI THÁNH
a. Đức Giêsu- Lời Thiên Chúa
mặc khải
b. Cần ơn soi sáng để
nhận biết chân lư
b. Con người- h́nh ảnh Thiên
Chúa
d. Đức Giêsu Kitô- đường
dẫn đến với Thiên Chúa Cha
ii. Đức Kitô- lữ hành và phúc nhân
i. Giáo lư của những anh em Tin
Lành
ii. Nhận xét về lập
trường của anh em Tin Lành
i. Một vài tác giả tin lành và
thần giáo
B. ĐỨC GIÊSU- DẤU CHỨNG T̀NH
YÊU
b. Lịch sử- nét đặc
biệt của mặc khải kitô giáo
2. T́nh yêu được bày tỏ
và chứng thực qua Lời
3. Đức Giêsu Kitô, biểu
tượng t́nh yêu
DS Denzinger–Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum. Herder, 1963.
Tên
sách Kinh Thánh được viết tắt theo bản
dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Tên
các văn kiện Công Đồng Vaticanô II được
viết tắt theo bản gốc tiếng Latin.
Trích
đoạn Kinh Thánh từ bản dịch của cha
Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc từ bản
dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Giáo
tŕnh mặc khải thuộc thần học căn bản.
Thần học căn
bản được hiểu là những giáo tŕnh thần
học nghiên cứu những thực tại đầu tiên
và căn bản của Kitô giáo, được giảng
dạy ở năm đầu của chương tŕnh
thần học.[1] Theo
nghĩa này thần học căn bản gồm những
giáo tŕnh: Dẫn Nhập Thần Học, Mặc Khải,
Linh Ứng, Huấn Quyền, Đức Tin.
Thần học căn
bản cũng được hiểu như chức
năng phê b́nh và biện minh của thần học,
nhằm cho thấy tính hợp lư và khả tín của
mặc khải.[2] Theo
nghĩa này, giáo tŕnh mặc khải này sẽ bàn về
khả thể mặc khải.
Thứ tự sắp
xếp của giáo tŕnh
này:
Phần I: Khả
thể mặc khải
Phần II: Mặc
khải nơi Kinh Thánh
Phần III: Mặc
khải trong lịch sử Hội Thánh
Phần IV: Suy tư
tổng hợp về mặc khải.
Giáo tŕnh "mặc
khải" này được soạn nhằm giúp sinh viên
thần học, với mong ước đóng góp chút ǵ trong
việc xây dựng Hội Thánh.
Mặc khải là từ
ngữ Hán Việt dùng để dịch chữ revelatio
tiếng latinh và chữ Apokaluyiς tiếng Hy Lạp.[3]
Mặc khải là ǵ?
Mặc khải, theo
tự điển của Thanh Nghị, có nghĩa:
"sự gợi cho biết một cách thầm kín và không
thể dùng lư trí để giảng giải
được.”[4]
Một số thần
học gia đă trả lời câu "Mặc khải là
ǵ?" bằng những lời khác nhau:
Với N. Jung,
"Mặc khải là Lời Thiên Chúa dạy dỗ và
chứng thực;"[5]
Theo R. Garrigou- Lagrange,
mặc khải là "Lời Chúa tỏ lộ mầu
nhiệm siêu nhiên và các chân lư tự nhiên của tôn giáo;"[6]
Bouillard: "Mặc
khải là sự tỏ lộ của Thiên Chúa về Thiên
Chúa và chương tŕnh cứu độ của
Người trong lịch sử và bởi lịch sử
được giải thích trung thực;"[7]
Theo thần học gia
tin lành Karl Barth, "mặc khải là hành vi tối
thượng của ân sủng Thiên Chúa, ở đó Ngài
tự thông ban chính Ngài cho con người biết;"[8]
S. Thornton: "Mặc
khải là một cách của hành động thần linh,
qua đó Đấng Tạo Hoá thông ban chính ḿnh Ngài cho con
người, và khi làm như vậy, Ngài mời gọi con người
đáp trả và cùng hoạt động;"[9]
Theo Geoffrey Parrinder, khuynh
hướng thời đại ngày nay cho rằng
"Mặc khải là hành vi hay sự tỏ lộ chính ḿnh
của Thiên Chúa;"[10]
Với J. Alfaro,
"Mặc khải là sự tự trao ban chính ḿnh;"[11]
Theo H. Fries, "Mặc
khải là sự thông truyền siêu nhiên và tự do của
Thiên Chúa trong lời, hành động, và biến cố;"[12]
Với A. Dulles,
"Mặc khải là sự tỏ lộ tự do của
Thiên Chúa về cái nằm ngoài tầm với b́nh
thường của con người; Nó là hành động
khởi đầu, qua đó Thiên Chúa ra khỏi sự
ẩn dấu của Ngài, kêu gọi và mời họ đi
vào một hiện hữu giao ước;"[13]
Với R. Latourelle,
"Mặc khải là Lời Thiên Chúa nói với con
người, là thực tại đầu tiên; tất
cả chương tŕnh cứu độ đều
tựa trên mầu nhiệm "Thiên Chúa tỏ lộ chính
ḿnh trong tin yêu;" mặc khải là mầu nhiệm
khởi đầu, mặc khải thông truyền cho chúng ta
các mặc khải khác; mặc khải là sự tỏ bày
chương tŕnh cứu độ mà Thiên Chúa đă ngẫm
nghĩ từ đời đời, và Ngài đă thực
hiện nơi Đức Giêsu Kitô (Ep 1:9-10; Rm 16:25-27);"[14]
C̣n với đức
giáo hoàng Phaolô VI, trong thông điệp Ecclesiam Suam, Ngài nói:
"Mặc khải là tương quan siêu nhiên mà Thiên Chúa
đă có sáng kiến thiết lập với nhân loại, nó
được diễn tả như một cuộc
đối thoại, trong đó Lời Thiên Chúa biểu
lộ qua việc nhập thể, và tiếp theo là bằng
Tin Mừng..."[15]
Gút lại, mặc
khải là hành vi tỏ lộ và trao ban chính ḿnh của Thiên
Chúa cho con người trong ḍng lịch sử.
Giáo tŕnh mặc khải
này chỉ bàn về mặc khải nơi Kitô giáo và gác qua
một bên những vấn đề mặc khải nơi
các tôn giáo ngoài kitô giáo.[16] Trong
những phần tiếp sau, sẽ lần lượt xem
xét vấn đề khả thể mặc khải, mặc
khải theo Kinh Thánh, mặc khải trong ḍng lịch sử
Hội Thánh, và phần cuối là suy tư thần học
về mặc khải. Trong phần thứ nhất về
khả thể mặc khải, v́ nhằm cho thấy tính
hợp lư và khả tín của mặc khải, nên sẽ dùng
thuần lư trí để xét vấn đề mặc
khải và không nại đến Kinh Thánh và Huấn
Quyền như chuẩn mực đức tin.
Mặc khải là hành vi
Thiên Chúa tỏ lộ cho con người trong ḍng lịch
sử qua những dấu chỉ khả giác, đặc
biệt là nơi Lời nhập thể, về Thiên Chúa và
chương tŕnh cứu độ con người của
Ngài.
Không có mặc khải
nếu không có Thiên Chúa; cũng không có mặc khải
nếu Thiên Chúa tự do không muốn tỏ lộ cho con
người; và cũng chẳng có mặc khải nếu con
người không có khả năng hiểu được
Thiên Chúa hoặc không hiểu được mặc
khải. Nói cách khác, vấn đề khả hữu
mặc khải hàm chứa vấn đề Thiên Chúa
hiện hữu và vấn đề khả năng tri
thức Thiên Chúa của con người. C̣n vấn
đề Thiên Chúa tự do có mặc khải cho con
người hay không, tiên thiên mà nói th́ điều này tùy
thuộc Thiên Chúa tự do.
Trong phần này sẽ
cố gắng minh chứng "con người có khả
năng biết Thiên Chúa,” sau đó sẽ bàn đến
khả thể mặc khải, và cuối cùng là môi trường
mặc khải.
Nếu thực sự
Thiên Chúa hiện hữu, mà con người phủ nhận,
cho rằng Ngài không hiện hữu, th́ Ngài vẫn hiện
hữu. Nói cách khác, nếu Thiên Chúa hiện hữu th́ Ngài
hiện hữu khách quan không tùy thuộc con người.[17]
Nếu thực sự
Thiên Chúa hiện hữu và con người biết Ngài
hiện hữu, th́ điều này hàm chứa con
người có khả năng biết Thiên Chúa. Nói cách khác,
nếu minh chứng được Thiên Chúa hiện hữu
thực sự, là chứng minh được "con
ngưới có khả năng biết Thiên Chúa.”
a. Chủ trương không có
khả năng biết
"Thiên Chúa hiện
hữu,” điều này không được tất cả
chấp nhận. Lược sơ qua lịch sử tư
tưởng, người ta ghi nhận có những lập
trường khác biệt.
Gorgias chủ
trương "không có ǵ cả,” v́ hư vô và hữu
thể đều không thể là những dữ kiện cho
cảm giác được; giả như có ǵ đi
nữa, người ta cũng không thể biết
được; giả như có biết được ǵ
đi nữa, người ta cũng không thể diễn
tả chúng nổi.[18]
Như vậy Gorgias
phủ nhận tri thức ngoài tri thức giác quan; phủ
nhận tương quan giữa hữu thể, phủ
nhận tương quan giữa lư trí và vạn sự vạn
vật, giữa ngôn ngữ và hữu thể.
Những người
theo chủ thuyết hoài nghi chấp nhận có sự
chắc chắn chủ quan, nhưng họ cho rằng không
thể chứng minh giá trị khách quan của phán đoán,
và như vậy không thể có sự chắc chắn
tuyệt đối rằng một phán đoán là đúng.[19]
Agrippa tóm luận lư
của những người theo thuyết hoài nghi bằng
năm mệnh đề như sau:
1. Nếu một người theo thuyết giáo
điều khẳng định một điều, th́ luôn
luôn người khác có thể phủ nhận nó (mâu
thuẫn);
2. Nếu người ta muốn chứng minh nó bằng
một nguyên tắc khác, th́ người khác có thể
phủ nhận nguyên tắc này, và cứ như vậy
(diễn tiến đến vô cùng);
3. Nếu người ta cho rằng một trong những
nguyên tắc này là hiển nhiên không cần chứng minh,
như vậy nguyên tắc đó chỉ có vẻ chân
thực thôi, nếu không th́ phải chứng minh (tính
tương đối);
4. Nếu người ta từ chối chứng minh nó,
th́ nguyên tắc đó chỉ là một giả thiết có
thể được tranh căi;
5. Nếu người ta muốn chứng minh nguyên
tắc đó, th́ phải có một tiêu chuẩn để
chứng minh nó, và người ta lại phủ nhận tiêu
chuẩn này. Như vậy lại trở lại như
khởi đầu.[20]
Chủ thuyết hoài nghi
không chấp nhận cái ǵ là thật, không chấp nhận
một tiêu chuẩn nào để phán đoán.
Không thể chấp
nhận nguyên tắc của những người theo
thuyết hoài nghi. Để phản bác thuyết hoài nghi, thánh
Augustin đă cố gắng chứng minh một chân lư, để
qua đó chứng minh thuyết hoài nghi là sai lầm.
Chứng minh của thánh nhân như sau: "Tôi sai lầm,
vậy tôi hiện hữu.” Sau này Descartes cũng làm
tương tự: "Tôi suy tư, vậy tôi hiện
hữu."[21] Nói cho
cùng, những người theo chủ thuyết hoài nghi
vẫn không chấp nhận lập luận của thánh
Augustin và của Descartes, v́ họ đâu có chấp nhận
sự kiện "tôi sai lầm" hoặc "tôi suy
tư.” Họ hồ nghi cả sự kiện đó!
Những người
theo chủ thuyết hoài nghi khi đứng trên quan
điểm này, khi đứng trên quan điểm khác
để phê b́nh. Đây là những người đ̣i
người khác phải dùng lư luận, c̣n chính họ
lại không bao giờ chấp nhận tiêu chuẩn nền
tảng để lư luận của người khác! Đây là
lập luận và yêu sách không nghiêm chỉnh. Đối với
họ, không có tri thức chắc chắn chân thực, cao
nhất là có phần chắc (probable) đúng.
Kant (1724-1804) bị
đánh động mạnh về sự kiện:
· các khoa học tự nhiên tiến bộ rất
nhiều c̣n khoa siêu h́nh lại dẫm chân tại chỗ,
· hơn nữa trong khoa siêu h́nh, có nhiều lập
trường mâu thuẫn nhau! Tại sao?
Trong tác phẩm "phê
b́nh lư trí thuần túy,” Kant đă chứng minh "lư trí
thuần túy không thể bàn về vấn đề siêu
h́nh,” nói cách khác "lănh vực siêu h́nh vượt ngoài khả
năng của lư trí thuần túy.” Lư trí thuần túy đă
được sử dụng trong lănh vực ngoài khả
năng của nó.
Khi phân biệt phán
đoán phân tích và phán đoán tổng hợp, Kant đă
thực hiện theo mẫu một quan niệm khoa học
tự nhiên, và mặc nhiên loại trừ quan niệm khoa học
hiểu như hệ thống chân lư được suy
diễn từ chân lư hiển nhiên (kiểu Aristote). Khi tách
biệt đối tượng hiện tượng (objet
phénoménal) và đối tượng tự thân (objet réel,
noumène), Kant đă cắt đứt tương quan giữa
tự thân (noumène) và hiện tượng (phénomène), giữa
sự vật và siêu h́nh. Sự phân biệt này cũng
nằm trong chọn lựa và giải quyết của Kant:
lănh vực siêu h́nh không nằm trong khả năng của lư
trí thuần túy.[22]
Lư trí thuần tuư không
thể biết đối tượng tự thân (noumène)
nhưng chỉ biết đối tượng hiện
tượng, tức đối tượng "cho chúng
ta."[23] Đối
tượng tự thân là thực tại hiện hữu
hiển nhiên phải giả sử khi chấp nhận tri
thức khoa học tự nhiên.[24]
Thiên Chúa, linh hồn
bất tử, tự do là những thực tại phải
được chấp nhận v́ hiện hữu mệnh
lệnh tuyệt đối "làm lành lánh dữ,"
"phải làm điều này mà không được làm
điều kia." Nói cách khác, không thể chứng minh
bằng lư trí thuần túy sự hiện hữu của Thiên
Chúa, linh hồn bất tử, con người tự do.
Những điều này, được đề nghị
chấp nhận không phải v́ chúng được
chứng minh bởi lư trí thuần lư, nhưng v́ nếu không
chấp nhận th́ không thể lư giải nổi tại sao
lại có mệnh lệnh tuyệt đối luân lư kia.
Nhận xét và phê b́nh:
Theo Kant, lư trí thuần
túy không thể khẳng định cách có giá trị, sự
hiện hữu của Thiên Chúa, sự tự do, linh hồn
bất tử, và những thực tại siêu h́nh khác; v́ khi
làm như vậy, nó đă làm điều vượt ra ngoài
khả năng của nó. Nhưng khi Kant khẳng
định giới hạn của lư trí thuần túy như
vậy, phải chăng Kant cũng đă làm điều mà
Kant cho rằng làm như vậy là vượt ngoài phạm
vi của lư trí thuần túy?
Với Kant, lương
tâm chứ không phải mặc khải, mới thực
sự là tiếng nói của Thiên Chúa trong chúng ta. Mặc
khải, Đức Giêsu và Giáo hội không cần thiết. Kitô
giáo được giản trừ thành tôn giáo dạy cách
cư xử tốt; Đức Giêsu là người mẫu v́
Ngài là người thành toàn về luân lư và có tâm hồn
đặt nơi Thiên Chúa.[25]
Tiên đề của
Kant hủy hoại siêu h́nh, cắt đứt tương
quan giữa hữu thể hiện tượng và hữu
thể siêu h́nh.
Theo một nghĩa
rộng, người ta dùng "bất khả tri[26]"
để chỉ những trường phái chủ
trương không thể biết đối tượng
ngoài tầm giác quan.[27] Bất
khả tri là một h́nh thái đặc thù của thuyết
hoài nghi. Thuyết hoài nghi nghi ngờ mọi khả năng
tri thức, c̣n thuyết bất khả tri cho rằng không
thể có tri thức ngoài tầm của giác quan, và như
vậy nó phủ nhận siêu h́nh như một khoa học,
và cho rằng không thể biết Thiên Chúa. Thường
thường bất khả tri là lập trường
của các nhà duy thực nghiệm, duy nghiệm.[28]
Thần học công giáo
phủ nhận và bài bác mọi h́nh thái bất khả tri,
thần học công giáo không những chỉ phủ nhận
chủ trương cho rằng con người không thể
biết những thực tại ngoài tầm với của
giác quan, mà c̣n phủ nhận cả chủ trương cho rằng
tuy con người có thể biết Thiên Chúa nhưng không
thể chứng minh sự hiện hữu của Ngài
bằng lư trí qua những thực tại hữu h́nh.[29]
b. Chủ trương Thiên
Chúa không hiện hữu
Một số
người cho rằng Thiên Chúa không hiện hữu, như
Feuerbach, K. Marx, A. Camus, J-P. Sartre, v.v.
Những người
phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu không hề phủ
nhận ư niệm "Thiên Chúa." Khi phủ nhận Thiên
Chúa hiện hữu, là hàm chứa khẳng định có ư
niệm Thiên Chúa nơi họ và nơi những
người khác.
Những người
phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu cho rằng ư
niệm Thiên Chúa không phản ánh thực tại khách quan.
Họ cho rằng ư niệm Thiên Chúa là hữu thể của
lư trí; Thiên Chúa là ư niệm, là tùy thể chứ không là
hữu thể khách quan độc lập với lư trí con
người.
Từ "ư
niệm" (hữu thể của lư trí) đến
thực tại (hữu thể khách quan độc lập
với lư trí con người), là cả một đoạn
đường dài vô tận! Ư niệm có phản ánh
thực tại khách quan không? Ư niệm có là thực tại
khách quan không?
· Những người theo thuyết duy danh (nominalisme)
cho rằng ư niệm phổ quát là danh từ chỉ một
nhóm cá thể đặc thù.[30] Những
đại biểu của trường phái này có thể
kể Roscelin (1050-1120) và Guillaume d'Occam (1300-1349).
· Những người theo thuyết duy niệm (c̣n
được gọi duy danh ôn ḥa, so với duy danh cực
đoan trên) cho rằng có những ư niệm phổ quát trong
trí, nhưng những ư niệm này không tương ứng ǵ
với thực tại.[31] Triết
gia tiêu biểu là Abébard (1079-1142).[32]
· Những người theo thuyết duy thực ôn ḥa cho
rằng những ǵ ư niệm phổ quát chỉ, có nơi
sự vật, có tương quan với thực tại.[33]
· Những người theo thuyết duy thực cực
đoan cho rằng ư niệm phổ quát có thực, hiện
hữu độc lập với cái cụ thể
đặc thù nữa.[34]
Hữu thể của lư
trí và hữu thể khách quan độc lập với lư trí
con người, là hai cấp độ hữu thể khác
nhau. Từ "ư niệm" đến "thực
tại khách quan" có cả một khoảng cách xa
vời!
· Với Feuerbach, con người tạo ra Thiên Chúa, v́
"Thiên Chúa" là ư niệm của lư trí con người
chứ không có "Thiên Chúa hiện hữu như thực
tại khách quan."
· Với Platon và Descartes, con người có ư niệm
Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện hữu đích thực như
thực tại khách quan v́ ư niệm phản ánh thực
tại.
· Với Ansèlme (1033-1109), ư niệm trọn hảo
đ̣i hỏi hiện hữu, v́ bất cứ cái ǵ dù
tốt đến đâu mà chỉ là sản phẩm
của trí khôn th́ đâu đă là tốt trọn hảo! V́
vậy, ư niệm "Thiên Chúa" hiểu "Thiên
Chúa" là thực tại tuyệt đối, tuyệt
hảo, tốt trên tất cả sự tốt, nên
"Thiên Chúa" phải hiện hữu; nghĩa là ư
niệm Thiên Chúa phải phản ánh Thiên Chúa thực
tại, v́ nếu không, Thiên Chúa không phải là cái
tuyệt hảo. Không hiện hữu, th́ chưa tốt
lắm; cái tuyệt hảo, phải là cái hiện hữu.[35]
Hữu thể của lư
trí, do lư trí tạo ra trong tương quan với thực
tại, đó là những ư niệm. C̣n ư niệm "Thiên
Chúa?" Nếu ai chấp nhận lập trường quan
điểm của Feuerbach, th́ vẫn c̣n câu hỏi
"tại sao con người lại có khuynh hướng
phóng chiếu như vậy?” phải chăng cơ cấu
của lư trí con người là như vậy? phải
chăng con người được tạo thành
để hướng về Thiên Chúa?
ii. Lập luận chủ
trương không có Thiên Chúa
Với Feuerbach, Thiên Chúa
chỉ là phóng chiếu của con người; con
người phóng chiếu những ǵ là tốt lành trọn
hảo nơi ḿnh lên cái gọi là Thiên Chúa. Thiên Chúa không hiện
hữu khách quan như một thực tại.
K. Marx chủ
trương duy vật: từ đời đời đă
có vật chất, tinh thần là kết quả của
sự biến dịch và chuyển biến từ
lượng đến phẩm. Vật chất có mâu
thuẫn nội tại, và những mâu thuẫn này là nguyên
nhân của sự thay đổi biến dịch, v́ thế
vật chất không cần nại vào nguyên lư kinh viện
"quidquid movetur ab alio movetur."[36]
Albert Camus chứng minh
Thiên Chúa không hiện hữu bằng sự hiện hữu
của sự ác. Thiên Chúa là Đấng tốt lành và quyền
năng vô cùng;[37] thế
mà sự ác và đau khổ hiện diện tràn lan trên
mặt đất; vậy phải kết luận hoặc
Thiên Chúa không toàn năng hoặc Thiên Chúa không tốt lành, và
như vậy Thiên Chúa không hiện hữu.
Jean-Paul Sartre cũng
chứng minh Thiên Chúa không hiện hữu! Thiên Chúa là
Đấng quyền năng, toàn tri, và quan pḥng tất cả;
nếu Thiên Chúa toàn tri th́ con người đâu c̣n tự do
nữa, mà nếu con người tự do th́ Thiên Chúa
đâu có toàn tri! Mà thực sự con người có tự
do, vậy phải kết luận rằng Thiên Chúa không
hiện hữu.
Người ta chỉ
chứng minh dựa vào một tiêu chuẩn nào đó.
Nếu người ta chứng minh được Thiên Chúa
hiện hữu, th́ Thiên Chúa cũng thuộc về cùng một
b́nh diện được chứng minh.
Nếu muốn nói
chứng minh Thiên Chúa hiện hữu, th́ phải hiểu
đây chỉ là những dấu chỉ, cho thấy Thiên
Chúa hiện hữu. Biết Thiên Chúa hiện hữu, đó
thuộc b́nh diện tin.
a. Con người có thể
biết Thiên Chúa
Có nhiều hệ
thống triết lư nhằm giải thích vũ trụ
vạn vật, và tất cả đều hàm chứa
một quan niệm về tri thức. Quan niệm nào
đúng? quan niệm nào phản ánh đúng sự thật
nhất?
Platon (428-348), là học
tṛ trực tiếp của Socrate; động lực suy
tư của Platon chính là cái đă làm Socrate bận tâm.
Socrate đă coi nguồn
gốc tội nơi con người là sự ngu dốt, và
ông nỗ lực làm cho mọi người hiểu
biết; phương châm của Socrate là "hăy biết
ḿnh."[38]
Platon và Socrate đều
chịu ảnh hưởng của trào lưu tư
tưởng đương thời:
"con người là
thước đo vạn vật" của Protagoras,[39]
"tất cả là
biến dịch" của Héraclite,
"chỉ có hữu
thể, ngoài ra không có ǵ cả" của Parménide.[40]
Bận tâm của Platon
là làm sao biết đúng để sống tốt.[41] Nếu
mỗi người là thước đo vạn vật th́
đâu là chân lư khách quan. Đối với Platon, con
người có tri thức là điều tự nhiên không
thể chối căi, vấn đề chính:
làm sao giải thích tri
thức này,
làm sao dung ḥa tư
tưởng của Héraclite và Parménide.
Tiên đề của
Platon là thế giới ư niệm. Con người biết,
biết cái tổng quát lẫn cái đặc thù, v́ linh
hồn con người đă tiền hữu ở thế
giới ư niệm; con người biết v́ linh hồn
nhớ lại những ǵ đă biết khi ở trên
thế giới ư niệm, v́ những ǵ vô thường
biến dịch ở thế giới khả giác này
đều là phản ánh của thế giới ư niệm
thường hằng.
Khởi từ sự
kiện con người có thể biết những
đồ vật chung quanh bằng các giác quan, và qua tri
thức giác quan này người ta có tri thức trí tuệ
(phản tỉnh và siêu vượt). Khi nói lư trí con
người có thể biết các hữu thể, hàm
chứa các hữu thể có tương quan hữu cơ
với nhau; nghĩa là, con người và các hữu thể
có tương quan với nhau; nói chi tiết hơn, giữa
lư trí cũng như ngôn ngữ con người có
tương quan hữu cơ bền vững với các
hữu thể khác.
Nếu phủ nhận
tương quan giữa các hữu thể, tức phải
phủ nhận tri thức của con người. Không có
tương quan hữu thể, th́ lư trí không thể biết
các sự vật, không thể biết các quy luật chi
phối chúng.
Khoa
siêu h́nh nói về điều này bằng phạm trù
"hữu thể khả tri" (l'être est intelligible).
Platon cho biết quan
niệm của Parménide "tư duy và hữu thể là
một." "Tự bản chất, hữu thể
khả tri và hợp lư."[42]
Aristote cho rằng
"cái càng hiện hữu, th́ càng thật."[43]
Thánh Thomas Aquinô cũng
nói "bất cứ cái ǵ có thể hiện hữu, th́ có
thể hiểu được."[44]
Thời kinh viện,
người ta nói "Hữu thể, chân lư, thiện
hảo, hoán chuyển được lẫn nhau”[45] và
"mọi hữu thể đều chân thực.”[46]
K. Rahner phát biểu
"hữu thể tự bản chất tỏa sáng.”[47]
Cái ǵ có và xảy ra
đều có một lư do giải thích thỏa đáng
tại sao nó có và xảy đến.[48] Điều
này được các nhà siêu h́nh gọi là nguyên lư túc lư.
Hiện
hữu, là có thể được tra vấn. Người
ta không thể tra vấn cái ǵ đó mà người ta không
thể biết, hoặc không biết chút ǵ về cái đó.[49] Nếu
hữu thể không khả tri th́ ta không thể đặt
vấn đề khả tri của hữu thể. Mệnh
đề "hữu thể bất khả tri" là
một mệnh đề mâu thuẫn.[50]
Cái mà lư trí tri nhận
đầu tiên, là hữu thể.[51] Người
ta thường nói: "có cái ǵ đó,” "cái ǵ hiện
hữu.” Khi nói như vậy hàm chứa, "hiện
hữu" là cái được tri nhận đầu tiên;
và "cái ǵ" (yếu tính), là cái có thể
được tra vấn. Hiện hữu, xét như hành vi
hiện hữu, là cái mà nhờ đó yếu tính
được xác định.[52]
Khái niệm chân lư không là
khái niệm trực tiếp,[53] nhưng
là khái niệm phản tỉnh. Đầu tiên lư trí tri nhận
hiện hữu, sau mới tới tính chân thực.[54]
Các mệnh đề
"ens verum bonum convertuntur," "omne ens est verum," và
mệnh đề "hữu thể là tri thể"
của K. Rahner, không được hiểu theo nghĩa
của thuyết duy tâm với Hegel "hữu thể và tri
thể luôn đồng nhất;"[55] nhưng
phải được hiểu: hữu thể là tri
thể theo mức độ hiện thể sở hữu
hữu thể.[56] Hữu
thể khả tri theo mức độ hữu thể, theo
mức độ hiện thể sở hữu hữu
thể, theo mức độ hiện thể có khả
năng hiện diện với ḿnh, trở lại trên chính
ḿnh.[57]
Hiện thể hiện
hữu theo những mức độ tham dự hữu
thể khác nhau. Mức độ hữu thể khác nhau
cũng c̣n có thể được gọi là tỷ lệ
hữu thể, loại suy hữu thể. Sự trở
về lại chính ḿnh, hiện diện với ḿnh, là nguyên
tắc cấu thành những mức độ hữu
thể khác nhau. Một hữu thể càng khả tri càng tham
dự vào hữu thể. Mức độ khả tri
tỷ lệ với mức độ hữu thể.[58]
Tri thức nhân loại
như thường được quan niệm, hàm chứa
tất cả hữu thể có một tương quan
hữu cơ; v́ nếu lư trí, ngôn ngữ và thực tại,
không có tương quan hữu thể nào đó, th́ con
người không thể biết sự vật và cũng
không thể diễn tả hoặc thông đạt chúng.
Lập trường quan điểm này khác với:
· Gorgias, v́ Gorgias đặt tương quan hữu
thể khả giác với thế giới ư niệm hơn
là giữa các hữu thể với nhau;
· những người theo chủ thuyết hoài nghi, v́
họ chỉ nhận tri thức giác quan và phủ nhận
tương quan hữu thể, cụ thể là phủ
nhận tương quan của lư trí với vạn sự.
· Kant, v́ Kant chỉ giới hạn khả năng
của lư trí vào hữu thể khả giác và loại trừ
khả năng của lư trí thuần lư vươn tới
thực tại siêu h́nh (nếu có). Cũng tương
tự như vậy đối với những
người chủ trương "bất khả
tri;"
· Hegel và Marx, v́ cả hai đều có cái nh́n không
đúng đắn và trung thực về con người và
về thế giới; Hegel đặt nặng tinh thần
và giản lược vật chất, c̣n Marx lại quá
đặt nặng vật chất và phủ nhận
hữu thể tinh thần;
· Camus và Sartre, v́ cả hai có cái nh́n "hẹp"
về hữu thể (phủ nhận hữu thể siêu
vượt tuyệt đối).
Trung thực mà nói, quan
niệm về tri thức giả thiết tri thức
về con người. Một cái nh́n đúng đắn và
trung thực về con người, sẽ giúp có quan
niệm đúng đắn và chân thực về tri thức
của con người và về vạn sự vạn
vật.
Tôi là một hiện
hữu bất tất.
Đó là cái nh́n nền
tảng về con người, về nhân học. Tôi không
thiết yếu phải có trên đời, giả như
không có tôi, cũng có những người khác. "Có mợ
th́ chợ cũng đông, không mợ th́ chợ vẫn không
vắng người."
Nếu "tôi là một
hiện hữu bất tất," th́ phải có một
hiện hữu tất yếu. Nếu không có hữu
thể tất yếu, th́ đă không có hữu thể
bất tất. Bất cứ khi nào khẳng định
một hiện hữu bất tất, hàm chứa khẳng
định một hiện hữu tất yếu. Nếu
khẳng định một hiện hữu bất tất
mà không khẳng định một hiện hữu tất
yếu, là phủ nhận lư trí, phủ nhận khả
năng tri thức của lư trí.
Ở đây bỏ qua
chuỗi mắt xích cần thiết tương đối[59] để
theo lư luận vượt lên tới hiện hữu tất
yếu. Nói rơ hơn, một hiện hữu bất tất
hàm chứa hiện hữu tất yếu tuyệt
đối.
Một hữu thể
bất tất hiện hữu, theo lư luận hàm chứa
một hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
Giả như chứng minh được có nhiều
hiện hữu bất tất độc lập với
nhau tuyệt đối, hàm chứa có nhiều hiện
hữu tất yếu tuyệt đối; nhưng
điều này không được chứng minh, mà trái
lại những hữu thể bất tất đều
liên hệ với nhau.[60] Cứ
theo luận lư, có thể có những hiện hữu tất
yếu tuyệt đối, nhưng đây chỉ là có
thể, không đồng nghĩa với khẳng
định "thực có nhiều hiện hữu tất
yếu."[61]
Bởi một hữu
thể tất yếu, có thể có nhiều hữu thể
bất tất. Những hiện hữu bất tất
như con người biết, đều tùy phụ vào
nhau; như vậy theo lư luận hàm chứa một hiện
hữu tất yếu tuyệt đối. Hiện hữu
tất yếu tuyệt đối có thể
được gọi bằng nhiều tên như Thiên Chúa,
Đấng tuyệt đối, Đấng tự hữu, v.v.
Với lư trí, con
người có thể khẳng định sự hiện
hữu của Thiên Chúa như hữu thể tất yếu
tuyệt đối; nghĩa là, con người có khả
năng tri thức Thiên Chúa.
Thiên Chúa là một tên
gọi khác của hiện hữu tất yếu tuyệt
đối. Hiện hữu tất yếu tuyệt
đối là hiện hữu nhờ đó hiện hữu
bất tất "tôi" hiện hữu.
Khi khẳng định
tôi là hiện hữu bất tất, hàm chứa khẳng
định hiện hữu tất yếu tự
do thực hiện hành vi, qua đó hữu thể
bất tất hiện hữu. Hiện hữu tất
yếu tuyệt đối, thực hiện hành vi
"hữu thể bất tất" hiện hữu hay
không, là tự ngài do ngài, tự
do ngài. Hiện Hữu Tất Yếu Tuyệt
Đối là Hiện Hữu Tự Do, là Hiện Hữu Tự
Do Tuyệt Đối.
Với tri thức đă
giả sử như tiên đề, chúng ta thấy vật
thể[62] không
có tự do; chúng tất yếu phải tuân theo các
định luật thiên nhiên, và không thể không theo các
luật thiên nhiên đó.
Giác thể[63] cũng
không có tự do, v́ chúng cũng phải theo những
định luật, những bản năng cách tất
yếu, chẳng hạn như bản năng sinh tồn,
bản năng tính dục, v.v.; những hữu thể
thuần giác quan[64] không
thể cưỡng lại những đ̣i hỏi của
bản năng, chúng tất yếu phải sống và hành
động như vậy.
Con người, có tri
thức và có tự do làm hay không làm điều này hay
điều kia, và có thể không theo những bản năng
của con người, chẳng hạn bản năng sinh
tồn, khi họ dám hiến mạng sống ḿnh cho
người khác, sẵn sàng chết để kẻ khác
được sống.[65] Như
vậy, chỉ có hữu thể sở hữu tri thức
siêu vượt mới là hữu thể tự do.
Hữu thể tự do
là hữu thể tri thức chính ḿnh, hữu thể
phản tỉnh và siêu vượt.[66] Con
vật cũng có tri thức giác quan, nhưng không có tri
thức phản tỉnh, tri thức chính ḿnh (phán đoán
về chính ḿnh).
Nếu gọi hiện
hữu tự do là tinh thần, th́ hiện hữu tất
yếu[67] c̣n
được gọi là tinh thần tuyệt đối.[68] Nói
cách khác, tinh thần là hiện hữu tự do, có tri
thức chính ḿnh- phản tỉnh, trở về với
chính ḿnh- và siêu vượt.
Vật thể tuân theo
những quy luật tự nhiên cách tất yếu. Cả
với những sinh vật sống theo bản năng, nó
luôn sống theo bản năng và không thể làm khác v́ nó không
là hữu thể tự do. Tất cả những hiện
hữu này không có tự do, và như vậy người ta
có thể biết những ǵ sẽ xảy ra nơi chúng khi
người ta biết các định luật-vật lư hay
tâm lư- chi phối chúng.
c. Tự do- cấu tố làm
nên lịch sử
Chuỗi hành động
của hữu thể tự do là lịch sử. Với
hiện hữu tuyệt đối tự do, không thể
lường trước được những hành vi Ngài
thực hiện. Ngài hành động rồi con người
mới biết. Chẳng hạn không ǵ buộc Ngài phải
tạo dựng vũ trụ hoặc con người,
chỉ khi Ngài thực hiện hành vi để những
hiện hữu bất tất hiện hữu, con
người mới biết Ngài đă thực hiện
những điều đó.
Mỗi hành vi tự do
của hữu thể tự do, đều tỏ lộ
về hữu thể tự do. Hiện hữu tự do,
tự bản chất, luôn luôn mới, luôn luôn tạo ra
lịch sử.[69]
Khi hiện hữu
tất yếu tự do tạo dựng hiện hữu
"người" như một ngôi vị, hiện
hữu tự do tỏ cho thấy hiện hữu tự do
là hiện hữu t́nh yêu.[70]
Hiện hữu tự do
luôn luôn có thể thực hiện một hành vi bất
tất mà người ta không thể biết trước
được, và như vậy hiện hữu tự do
luôn luôn là một mầu nhiệm. Hiện hữu tự do
có thể rất "mới”[71] khi
thực hiện một hành vi bất tất.
Hiện hữu tất
yếu tự do, là hiện hữu luôn luôn mới. Nếu
Ngài mặc khải, con người hiểu biết hơn
về Ngài, nhưng không bao giờ hiểu trọn vẹn
về Ngài, v́ Ngài là hiện hữu tự do. Mỗi hành vi
của Ngài đều là hành vi mặc khải, và qua đó
cho thấy Ngài là hiện hữu tất yếu tự do
"mới," trong sáng và tuyệt mỹ hơn
trước.
Nếu hiện hữu
tất yếu tự do không thực hiện hành vi tạo
dựng con người, con người không hiện
hữu và không biết về Ngài. Ngài cũng có
thể chỉ tạo dựng con người
và không tiếp tục mặc khải cho con người, v́
Ngài là hiện hữu tuyệt đối tự do. Nói theo
ngôn từ của K. Rahner, Thiên Chúa là Đấng tốt lành và
thánh thiện, nhưng điều này không hàm chứa Thiên
Chúa phải cứu độ con người.[72]
Khởi từ sự
kiện con người có tri thức về những
vật thể qua giác quan, và với khả năng của
lư trí, con người đă vươn lên nhận biết
sự hiện hữu của hữu thể tất yếu
tuyệt đối.
1. Tri thức của con
người tại thế
Một lư giải về
lư trí và tri thức.
Trí khôn hay lư trí là yếu
tố cấu thành của con người xét như tinh
thần nhập thể. Nói theo ngôn từ của thánh Thomas
Aquinô, lư trí là mô thể lập hữu.[73] Trí
khôn có nhiều khả năng (trí năng) như nhớ (trí
nhớ), tưởng tượng (trí tưởng
tượng), suy luận (lư trí) để đi tới phán
quyết.[74] Phán
quyết này có thể:
tạo thành tri thức
giác quan như khi khẳng định "cái bàn này
trắng," v.v.
hoặc có thể
tạo thành tri thức siêu việt do suy luận, như
"tôi là hữu thể bất tất, vậy phải hàm
chứa có hiện hữu tất yếu, v́ nếu không, đâu
có hiện hữu bất tất là tôi,"
hoặc làm thành tiếng
lương tâm khi phán quyết về chính hành vi cư
xử của ḿnh như "tôi không được làm
như vậy v́ làm như vậy là trái phẩm giá con người,
tôi phải làm điều kia v́ như vậy tôi mới
sống xứng đáng làm con Chúa, v.v.”
Trí tưởng
tượng (phantasia) vận hành với những ảnh
tượng (phantasma, phantasmata) và thường ở t́nh
trạng vô thức. Các vật thể được
tiếp nhận qua giác quan và h́nh thành các ảnh
tượng (phantasma, phantasmata) nơi trí năo. Lư trí trừu
xuất từ những ảnh tượng này, để
có những ảnh niệm.[75] Ảnh
niệm (species intelligibilis) có thể được
hiểu là ư niệm (eidos),[76] dùng
để chỉ cái phổ quát đă được
trừu xuất từ những vật cụ thể. Qua
trung gian những ảnh niệm, lư trí với khả
năng suy luận tạo thành những ư niệm mới
hoặc những quan niệm, chẳng hạn tự do, công
bằng, bác ái.[77]
Không sai lầm với
ảnh tượng, ảnh niệm. Sai lầm và chân
thực chỉ có khi phán đoán; chẳng hạn khi
khẳng định "đó là cái bàn," "cái bàn này
màu trắng," "anh đó là người bác ái,"
v.v.! Chỉ có tinh thần, mới có thể tự phán
đoán hay đánh giá ḿnh đúng sai. Đánh giá đúng sai, là phán
đoán về phán đoán của con người,[78] kể
cả ḿnh.
K. Rahner trích dẫn tác
phẩm thánh Thomas chú giải Aristote "linh hồn không có
tri thức trí tuệ nếu không trở lại với
ảnh tượng.”[79] Thánh
Thomas cho rằng yếu tính của lư trí con người
phải được xác định khởi từ
việc kết hợp với thân xác, và sự kết
hợp này được diễn tả trong conversio
intellectus ad phantasma, nghĩa là trở lại với trí
tưởng tượng.[80]
K. Rahner đă thấy
vấn đề trở về với ảnh tượng
(conversio ad phantasma) là vấn đề khả thể
của siêu h́nh học, và K. Rahner cho rằng có thể xây
nền siêu h́nh học của ḿnh dựa trên S.T. I, q. 84, a.7:
"Liệu lư trí có thể biết nhờ những ảnh
niệm có nơi ḿnh, mà không trở về với ảnh
tượng không (Utrum intellectus possit actu intelligere per species
intelligibilis quas penes se habet, non convertendo se ad phantasma)?”[81]
Theo thánh Thomas, ảnh
tượng là khởi đầu của tri thức con
người v́ khởi từ nó lư trí hoạt động.[82] Đối
tượng của lư trí là ảnh tượng,[83] nhưng
đối tượng riêng của lư trí là yếu tính
của sự vật như được trừu
xuất và không tách rời khỏi sự vật khả
giác.[84] Ảnh
tượng là cái tương tự của sự vật
khả giác.[85]
Ảnh niệm (species
intelligibilis), theo thánh Thomas, không là đối tượng
của lư trí, nhưng là cái nhờ đó mà lư trí biết.[86] Ảnh
niệm không có nghĩa là một "h́nh ảnh hữu
ư" nào đó, nhưng là sự hoàn hảo hữu thể
của tinh thần xét như hiện thể,[87] là
yếu tố làm tri thức có nền tảng khả
hữu nội tại.[88]
Trừu xuất
(abstractio), trở lại với ảnh tượng
(conversio ad phantasma), và siêu vượt (excessus), là những
khả năng của lư trí (intellectus), là những tiến
tŕnh để tri thức.
Trừu xuất, xét
như nó là sự thủ đắc ư niệm phổ quát,
là thực hiện việc trở lại của chủ
thể với chính ḿnh (reditio subjecti in seipsum).[89] Bởi
trừu xuất, con người nắm bắt cái tổng
quát trong cái đặc thù, và nhờ đó có phán đoán.[90] Khả
năng trở lại hoàn toàn với chính ḿnh, là nét
đặc trưng cơ bản của lư trí.[91]
Trở lại với
ảnh tượng (conversio ad phantasma) là tính chất riêng và
nội tại của chính hành vi trừu xuất.[92] Trừu
xuất và trở lại với ảnh tượng, không
được coi là hai thời kế tiếp nhau, nhưng
cả hai đều là điều kiện hỗ
tương, và tạo thành tri thức duy nhất của con
người.[93] Tuy
chúng được đề cập kế tiếp nhau, và
được xét như những tiến tŕnh kế
tiếp nhau, nhưng thật sự chúng là một
để làm thành tri thức nơi con người.
Siêu vượt ở
đây là từ ngữ dùng để dịch chữ la-tinh
excessus, nhưng chữ siêu vượt (hay siêu việt)
thường được dùng để dịch chữ
transcendance (tiếng Anh và Pháp). Với K. Rahner, tiền
dự (anticipation, Der Vorgriff) là siêu vượt.[94]
Theo thánh Thomas, siêu
vượt (excessus) cần thiết để lănh hội
các đối tượng của khoa siêu h́nh, mặc
dầu cái khả giác vẫn được coi như vùng đất
thường trực của tri thức con người.[95] Ở
một chỗ khác, siêu vượt và phủ nhận
(remotio) xuất hiện như những điều kiện
thủ đắc đối tượng siêu h́nh.[96]
Theo K. Rahner, tiền
dự là sự siêu vượt của tinh thần, nhờ
đó mà tinh thần lănh hội cái đặc thù, bằng
việc nh́n vượt qua nó hướng về khoảng
tuyệt đối của các đối tượng có
thể có.[97] Để
hiểu một yếu tính phổ quát tự bản
chất là vô giới hạn, dù rằng yếu tính phổ
quát này được kinh nghiệm trong cái khả giác, th́
đầu tiên lư trí phải lănh hội rằng yếu tính
này được giới hạn trong và nhờ cái
khả giác này. Nhưng để ư thức về sự
giới hạn này, th́ hành vi lănh hội cái khả giác
đặc thù này phải siêu vượt nó để
hướng về cái ǵ hơn nữa. Cái ǵ hơn nữa
này không thể là một đối tượng đặc
thù cùng loại, v́ nếu không, lại phải siêu
vượt qua nó nữa. Như vậy khi lănh hội
một đối tượng đặc thù, ư thức vượt
lên trên cái đối tượng đặc thù, và lănh
hội nó không chỉ trong cái này (giới
hạn và riêng rẽ) mà c̣n trong tính hữu hạn của
nó, cũng như trong tương quan của nó với cái
toàn thể của những đối tượng có
thể có.[98]
Khả năng của lư
trí để trừu xuất (abstractio, reditio in seipsum) và
siêu vượt (transcendance, tiền dự anticipation)
gọi là lư trí tác động ((intellectus agens). Lư trí tác động
là khả năng nhận biết đối tượng trực
giác qua giác quan như thực tại giới hạn và
cụ thể, và như vậy lư trí tác động phổ
quát hóa mô thể nơi cái khả giác, và giải phóng mô
thể khỏi cái đặc thù vật chất.[99] Lư
trí tác động là nền tảng của mọi nguyên
tắc, là nền tảng của tri thức.[100]
Thể tri không là sự
tiếp xúc của lư trí với sự vật,[101] không
là một hành động (sản phẩm của hành vi lănh
hội) nhưng là một hiển thể, nghĩa là
một thực tại hiện diện với chính ḿnh.[102] Thể
tri là hiện diện với chính ḿnh, là t́nh trạng
phản tỉnh trên chính ḿnh của một hữu thể
có khả năng được xác định.[103]
Theo thánh Thomas, thể tri[104] là
sự trở lại chính ḿnh của tri thể[105] và
như vậy, là hiện diện với chính ḿnh.[106] Tri
thể (cognoscens) và cái được biết (cognitum) là
một trong hiển thể.[107] Lư
trí và cái được biết
là một.[108] Cái
được biết là sự trọn hảo của tri
thể.[109] Như
vậy cái được biết luôn luôn là hữu thể
của tri thể.[110]
Tri thức, một cách
tổng quát, là hiện diện với ḿnh của hữu
thể, là hữu thể phản tỉnh, là sự trở
về trên chính ḿnh (reditio in seipsum). Nhưng đối
với con người, tri thức hàm chứa phải
hiện diện với thế giới, phải ở
nơi tha thể trong giác thể.[111]
Thánh Thomas diễn tả
điều này trong ST. I, q. 84, a. 7, corp.: "impossibile est
intellectum nostrum, secundum praesentis vitae statum, quo passibili corpori
conjungitur, aliquid intelligere in actu, nisi convertendo se ad
phantasmata."[112]
Tri thức hệ
tại phán đoán. Cái riêng của lư trí là khẳng
định hoặc phủ định;[113] và
chỉ lư trí mới biết chân hoặc giả, chân lư hoặc
sai lầm.[114] Và
như ở trên đă thấy, lư trí không thể biết ǵ
nếu không nhờ ảnh tượng. Chính quan niệm này
giúp xác định môi trường mặc khải.
2. Lời- phương
tiện và môi trường mặc khải
Thiên Chúa tự do, Ngài
tự do mặc khải, hoặc tự do không mặc
khải. Mặc khải hay không, là hoàn toàn tùy thuộc Thiên
Chúa.[115] Trên
b́nh diện thuần lư trí, trước khi Thiên Chúa mặc
khải cho con người, lư trí không biết Thiên Chúa có
mặc khải cho con người hay không. Hữu thể
tự do luôn là một mầu nhiệm, hữu thể
tự do luôn luôn mới, mỗi hành vi hành động
của hữu thể tự do đều là những sáng
tạo bất ngờ.[116]
Giả như Thiên Chúa
mặc khải cho con người, th́ đâu là môi
trường, đâu là phương tiện Ngài dùng
để mặc khải cho con người?
V́ Thiên Chúa là hữu
thể tự do, nên không thể định trước cho
Ngài môi trường, cách thức hay phương tiện.
Những điều này, hoàn toàn tùy thuộc Ngài. Nhưng
nếu Ngài mặc khải cho con người th́ Ngài chỉ
mặc khải những điều con người có
thể lănh hội được.[117] Nếu
cứ ở điều kiện hiện tại, tức
điều kiện cấu thành con người hiện
tại,[118] người
ta có thể dựa vào cơ cấu con người hiện
tại để xác định môi trường mặc
khải, nếu có và thực sự đă có, của Thiên
Chúa cho con người.
Lời, theo tiếng Hy
lạp, có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là lư trí,
nghĩa thứ hai là lời; và từ hai nghĩa chính này,
chúng ta thấy có nhiều nghĩa khác.[119] Lời
(DABAR), theo tiếng Do thái, có nghĩa là lời nói, sự
vật, và cả lư trí nữa.[120] Lời
là tên làm cho sự vật có thể hiểu được.[121] Như
vậy, lời (Logos, Dabar) là lời nói, là sự vật, là
lư trí.
Lời là thực
tại làm cho con người có thể hiểu một
thực tại. Như vậy, tất cả những ǵ làm
cho con người, làm cho lư trí con người có thể
hiểu một thực tại đều được
gọi là lời.[122]
Bao lâu con người
chưa được hưởng kiến trực
tiếp Thiên Chúa, th́ mặc khải được thực
hiện qua lời,[123] v́
ở điều kiện hiện tại của con
người, con người tri thức nhờ các ư
niệm, ảnh tượng, các sự vật khả giác.
"Lời" ở đây không chỉ là dấu chỉ
của sự vật khả giác nhưng c̣n là dấu
chỉ của tinh thần.[124]
b. Mặc khải như
biến cố lịch sử
Lịch sử là một
chuỗi biến cố của một hay nhiều hiện
hữu tự do; nếu không có tự do, không có lịch
sử. Ở đâu có tự do, th́ ở đó luôn luôn có
một chuỗi biến cố mà người ta không có
thể tính toán và diễn dịch khởi từ một
nguyên tắc tổng quát.[125]
Hiểu lịch sử
như vậy, những hiện hữu bất tất tùy
thuộc hiện hữu tuyệt đối tự do
đều là những dấu chỉ, là lời để
con người tri thức, là lời để con
người nhận biết hiện hữu tuyệt
đối tất yếu. Tương tự thế,
những hành vi tự do của một ngôi vị tự do,
cho con người biết hơn về ngôi vị ấy;
cũng vậy, những hành động của hiện hữu
tất yếu mà con người có thể tri thức
được, cũng giúp con người có thể
biết hơn về hiện hữu tất yếu
tuyệt đối tự do.
Như vậy, lịch
sử xét như là lời, giúp con người tri thức
về hiện hữu tuyệt đối. Nói cách khác,
nếu Thiên Chúa mặc khải cho con người trong hoàn
cảnh điều kiện tại thế, tạo thành
lịch sử,[126] th́
con người có thể ngang qua lịch sử đó
-tức là lời, nhận biết được thực
tại mặc khải. Nói như vậy không có nghĩa,
tất cả những ǵ Thiên Chúa hành động con
người cũng biết; v́ tri thức con người
phải qua giác quan và những vật khả giác, nên con người
chỉ có thể biết khi Thiên Chúa muốn mặc
khải, và Ngài mặc khải qua lời.
Như vậy, mặc
khải hay không, tùy thuộc hoàn toàn nơi Thiên Chúa, v́ Ngài là
hiện hữu tuyệt đối tự do; và nếu Thiên
Chúa mặc khải cho con người, th́ lịch sử là
nơi Thiên Chúa mặc khải cho con người, và con
người phải luôn lắng nghe và để ư tới
lịch sử, v́ đây chính là môi trường Thiên Chúa
mặc khải cho con người.[127]
Khởi từ tri
thức về vạn sự vạn vật qua giác quan và
với khả năng suy luận của lư trí, con
người nhận ra hữu thể có một tương
quan mật thiết với nhau. Cũng từ tri thức
giác quan và với khả năng suy luận, con người
nhận ra ḿnh là hiện hữu bất tất, và từ
đó nhận biết Hữu Thể Tất Yếu Tự
Do.
Tất cả
đều hiện hữu, nhưng các hữu thể
hiện hữu theo những mức độ khác nhau.
Hữu thể sở hữu hữu thể tùy mức
độ tri thức, theo mức độ hữu thể
hiện diện với chính ḿnh.[128]
Hữu thể
được gọi là vật thể, khi hữu thể
này khả tri với hữu thể khác nhưng lại
ẩn dấu với chính nó, nó không thể trở lại
chính ḿnh. Hữu thể được gọi là giác
thể, khi tri thức của hữu thể có đối
tượng trước tiên là vật thể.[129] Hữu
thể được gọi là tinh thần khi hữu
thể có thể trở về chính ḿnh.
Con người không
chỉ là giác thể, tức là có tri thức vật thể
bằng hành vi hiện hiện nơi tha thể, nhưng con
người c̣n là tinh thần, v́ con người có khả
năng trở về chính ḿnh (reditio completa in seipsum).[130] Chính
trong thân xác và qua thân xác mà con người là tinh thần. Con
người là tinh thần nhập thể.[131]
Con người, ngoài tri
thức giác quan c̣n có khả năng suy tư trên cái biết
giác quan. Chẳng hạn nh́n trái táo rơi, con người
có thể suy tư t́m hiểu để khám phá ra
định luật chi phối vật thể. Dầu
vậy tri thức này cũng chỉ nằm ở b́nh
diện sự vật.
Ngủ mơ thấy
ḿnh là bướm, tỉnh dậy không biết có phải
ḿnh là bướm đang mơ? Lúc đó là mơ hay lúc này
mới là mơ, bây giờ là mơ hay thực! (Trang
Tử).
Tôi sai lầm, vậy tôi
hiện hữu (Augustin).
Tôi suy tư, vậy tôi
hiện hữu (Descartes).
Cái tuyệt hảo,
phải hiện hữu; v́ nếu không hiện hữu th́
không là tuyệt hảo (Anselme).
Tôi là hiện hữu
bất tất, vậy phải có hiện hữu tất
yếu.
Trên đây là những tri
thức, nhưng những tri thức này không c̣n thuộc
b́nh diện vật thể. Những tri thức này khởi
từ tri thức vật thể giác quan, nhưng đă không
dừng lại mà vượt trên b́nh diện vật
thể. Với tri thức này, con người trở thành
tinh thần, con người đă qua tri thức giác quan
để trở về chính ḿnh, con người không
dừng lại nơi sự vật, nhưng vươn lên
cái siêu vượt. Con người trở thành tinh thần
tự do. Con người có thể chỉ dừng
lại nơi sự vật, hoặc con người có
thể vươn lên hiện hữu tất yếu.
Người ta thường
nghe nói "con người tự do" "ư chí tự do,”
nhưng dường như không nghe nói "tri thức
tự do." Người ta thường cho rằng
tự do và lư trí không liên hệ với nhau, nhưng thực
sự tri thức cũng liên hệ tới tự do v́ lư trí
cũng bị ảnh hưởng bởi ư chí tự do. Khi nói
tri thức tự do, phải hiểu theo văn mạch này.[132]
Con người là tinh
thần, theo K. Rahner, nghĩa là, con người trong
cuộc sống luôn hướng về tuyệt
đối, luôn khai mở với Thiên Chúa.[133] Con
người là tinh thần nhập thể, nghĩa là, con
người hiện diện với ḿnh, trở về
với ḿnh qua việc quy về ảnh tượng
(phantasma). Con người hiện diện với chính ḿnh
qua vật thể chứ không lệ thuộc vật
thể.[134]
Tự do, đối
với K. Rahner, là vượt trên tri thức giác quan,
vượt trên cảm tính; đó là tự do của tinh
thần. Tự do theo nghĩa này, là một tên gọi khác
của tiền dự (anticipation), là khả năng
vượt qua tri thức vật thể để
hướng về hữu thể tất yếu.[135] Con
người không dừng lại nơi vật thể, nhưng
luôn vươn lên vượt trên vật thể, đó
mới là tinh thần; lúc đó tri thức của con
người là tri thức tự do. Nếu tri thức
của con người chỉ dừng lại
nơi vật thể th́ tri thức đó không tự do, hay
nói đúng hơn, con người đó không tự do.
Con người có
thể trở về với ḿnh bằng tri thức
phản tỉnh, có thể vươn lên khỏi vật
thể để hướng tới siêu việt thể,
đó là tinh thần. Con người là tinh thần, nghĩa
là có thể dừng lại nơi vật thể hay
vươn lên siêu việt thể. Lư trí không chỉ dừng
lại nơi sự vật nhưng vươn lên siêu việt
thể, đó là lư trí tự do. Bây giờ chúng ta sẽ xét
về ư chí nơi con người.
Ư chí hay ư muốn, là hành
vi của hiện hữu mà nếu không có hành vi này, một
hữu thể bất tất không thể hiện hữu.
Ư chí là hành vi tự do
của hiện hữu, là hành vi tự do của hữu
thể tinh thần. Nếu một hữu thể bất
tất có thể hiện hữu nhờ
một "hiện hữu,”[136] hàm
chứa "hiện hữu này" tự do. Nghĩa là,
hiện hữu này là tinh thần, có trở về chính ḿnh,
có tri thức phản tỉnh về chính ḿnh, và siêu
vượt.
Đối với hiện
hữu tất yếu tuyệt đối,[137] hành
vi tri thức và hành vi ư muốn là một; c̣n đối
với tinh thần nhập thể, tức con người,
ư muốn đi theo tri thức.[138] Khi
nói ư muốn đi theo tri thức, điều này đúng khi
tri thức là tri thức tự do, nghĩa là tinh thần
nhập thể vượt lên trên tri giác sự vật
để hướng tới hiện hữu tuyệt
đối. C̣n đối với tinh thần "không
tự do,” tức không hướng tới tuyệt
đối, cả lư trí lẫn ư chí đều không tự
do, đều dừng lại nơi vật thể.
Ư muốn là hoạt
động của tinh thần, là hành vi của hiện
hữu sở hữu tri thức tự do. Ư muốn tự
do, theo nghĩa siêu h́nh, là ư muốn đi theo lư trí tự do,
tức lư trí vượt qua tri thức vật thể
để vươn lên tuyệt đối. Ư muốn không
tự do, theo nghĩa siêu h́nh nhưng vẫn là ư muốn
tự do hiểu theo nghĩa tự ư, khi tuân theo lư trí không
tự do, tức lư trí chỉ dừng lại nơi vật
thể, không vượt lên trên tri thức vật thể.
Một cách b́nh
thường, chúng ta vẫn nói ư chí tự do, v́ ư chí là hành
vi tự do của tinh thần tự do, thực hiện
chính hành vi muốn đó hay không, là tùy nơi hiện
hữu tự do này.
Theo Thánh Thomas, ư chí là tham
dục trí tuệ tuân theo sự nhận thức của lư
trí. Thánh Thomas chia tham dục làm ba cấp độ:
vọng dục, nộ dục, và ư chí.[139] Tham
dục tự nhiên là khuynh hướng tuân theo mô thể
tự nhiên; tham dục cảm giác là khuynh hướng tuân
theo mô thể cảm giác; tham dục trí tuệ (trí dục)
là khuynh hướng tuân theo mô thể tri thức.[140]
Theo Aristote, "tham
dục là khuynh hướng hoạt động của
mọi hữu thể hướng về thiện hảo
của ḿnh." Sở dĩ như vậy, v́ "mọi
cái hoạt động đều hoạt động
hướng về mục đích," và mục đích
đây là cái thiện hảo.[141]
Theo K. Rahner, thái
độ tuyệt đối cần thiết mà hiện
hữu bất tất phải có là ư chí.[142] Khởi
từ nhận định con người đặt
vấn nạn về hữu thể, K. Rahner lư luận:
"trong mức độ con người tự vấn
về hữu thể, con người khẳng định
tính hữu hạn bất tất của ḿnh, và trong mức
độ con người phải tra vấn,
con người khẳng định cách tất
yếu hữu thể bất tất của ḿnh.
Điều này hàm chứa, đối với hiện hữu
hữu hạn bất tất của ḿnh, con người
phải có một thái độ; nói cách khác, con người
phải có thái độ cần thiết đối với
hiện hữu bất tất của ḿnh. Và thái độ
tuyệt đối của hiện hữu bất tất
này là ư chí."[143]
Thiện hảo là
điều mọi hiện hữu nghiêng chiều về,
thế nhưng mức độ hiện hữu nơi
mỗi hữu thể khác nhau,[144] nên
cái thiện hảo của mỗi hiện hữu nghiêng
chiều về cũng ở những mức độ khác
nhau. Vật thể tự nhiên nghiêng chiều theo luật
tự nhiên, vật thể giác quan nghiêng chiều về cái
thiện hảo của nó theo bản năng, và hiện
hữu tinh thần nghiêng chiều về thiện hảo
được nhận thức bởi lư trí.
Nơi các hiện
hữu không là tinh thần, nghiêng chiều này không thể
chống cưỡng được; c̣n với hiện
hữu tinh thần, dù đây là nghiêng chiều tất yếu
nhưng là tất yếu theo bản tính được lư
trí nhận ra, th́ tinh thần vẫn tự do. Nói theo cách
vẫn thường được dùng, ư chí tự do.
Chẳng hạn nghiêng chiều hướng về hiện
hữu tất yếu tuyệt đối, hiện diện
nơi mọi hiện hữu bất tất- cụ thể
là nơi con người, thế nhưng con người
vẫn tự do, con người tự do vươn lên hay
ở lại nơi sự vật.
Nói tới con
người là phải nói tới t́nh yêu, cũng như nói
tới con người là phải nói tới tri thức. T́nh
yêu là tư thái căn bản của con người. Vậy
t́nh yêu là ǵ?
Người ta ham mê
tiền bạc danh vọng, chứ người ta không yêu
tiền bạc danh vọng, yêu là hành vi tương quan
giữa người với người, giữa ngôi
vị và ngôi vị, chứ không là tương quan giữa
người và đồ vật, giữa ngôi vị và
vật thể. T́nh yêu là tương quan liên vị.
T́nh yêu là nghiêng chiều
của một ngôi vị về một ngôi vị. T́nh yêu là
ư muốn có đối tượng là ngôi vị.[145] Ư chí
con người luôn luôn tự do. T́nh yêu là hành vi tự do,
nghĩa là con người luôn luôn có thể cưỡng
lại được. Nếu "yêu" ai tới
mức độ không thể cưỡng lại
được, th́ đó không là t́nh yêu mà là thèm muốn
đam mê. Khi ấy, người đó không tự do mà
đang sống trong t́nh trạng bản năng. Đối
tượng của bản năng không là ngôi vị
nhưng là vật thể, hoặc giác thể.
Con người có
thể cưỡng lại t́nh yêu; nhưng con
người không được phép cưỡng
lại t́nh yêu v́ con người là hiện hữu tự do;
nếu con người cưỡng lại t́nh yêu, con
người không tự do đích thực.
Tương quan giữa ngôi vị và ngôi vị, giữa
người với người, phải là tương quan
t́nh yêu; nếu không là tương quan t́nh yêu, đó không là
hành vi của những hiện hữu tự do đích
thực. T́nh yêu là hành vi tự do, là ư muốn hướng
tới ngôi vị.
Con người tự do lắng nghe mặc khải
Con người với
lư trí nhận biết sự vật qua giác quan, nhận
biết chính ḿnh, và hơn nữa có thể vượt trên
sự vật khả giác để nhận biết
hiện hữu tất yếu tuyệt đối tự
do. Với khả năng siêu vượt, con người là
tinh thần nhập thể tự do.
Con người là tinh
thần tự do. Điều này được nhận
thấy khi con người biết ḿnh có thể chọn làm
điều này hay điều kia. Đành rằng con người
có nhiều giới hạn và tùy thuộc nhiều yếu
tố, nhưng con người vẫn cảm thấy và
biết ḿnh tự do. Con người biết ḿnh có thể
làm hay thực hiện một hành vi bất tất.[146]
Thường
người ta nói ư muốn tự do chứ không nói lư trí
tự do, thế nhưng chính lư trí cũng có thể là lư trí
tự do hay không. Ư muốn tùy thuộc lư trí, nhưng chúng ta
trong kinh nghiệm cũng thấy có những khi muốn
không theo lư trí, lúc này con người vẫn tự do
nhưng thực sự nó không tự do đích thực. Con
người tự do đích thực khi con người theo
những ǵ lư trí thấy là đúng.
Con người tự do
đích thực, sống theo lư trí, không dừng lại
ở b́nh diện sự vật nhưng vươn lên, siêu
vượt lên khỏi vật chất để
hướng tới hiện hữu tất yếu tuyệt
đối tự do. Lư trí không tự do khi lư trí chỉ
dừng lại nơi sự vật, không vươn
khỏi sự vật để hướng tới
hiện hữu tuyệt đối, nhưng theo bản
năng, theo những ǵ thuộc về vật chất. Lúc
này voluntas non sequitur intellectum, mà intellectus sequitur voluntatem. Và ư
muốn lại theo bản năng chứ không theo lư trí. Lư
trí theo ư muốn, theo bản năng, theo những ǵ là
vật chất, không vươn lên thực tại siêu
việt, là lư trí không tự do. Lúc đó con người không
c̣n là tinh thần nữa, dù thực sự con người
vẫn có khả năng là tinh thần (hiểu theo
nghĩa, con người vẫn có thể siêu vượt
khỏi cái khả giác). Chỉ khi nào con người
với lư trí vượt lên trên cái khả giác, vươn
tới hiện hữu tất yếu, con người
mới là tinh thần đích thực, lư trí con người
mới tự do đích thực.
Dù có nỗ lực
giải thích lư do tại sao "lư trí không tự do"
nơi một số người hoặc nơi mỗi
người trong một số thời điểm khác nhau
trong cuộc đời, th́ yếu tố chính yếu
vẫn thấy, luôn nằm trong mọi hành vi "không
tự do,” là con người luôn luôn tự do. Con
người có tự do thực sự hay không, là do chính
mỗi người.
Thiên Chúa có thể
mặc khải cho con người trong lịch sử, và
thực sự Ngài đă mặc khải.[147] Về
phía con người, v́ là tinh thần nhập thể tự
do, con người vẫn tự do, tự do lắng nghe và
đáp trả.
PHẦN II: MẶC KHẢI TRONG
KINH THÁNH
Đau
khổ, sự dữ là sự kiện và vấn đề
gây nhiều bức xúc cho con người. Con người
thường bị dằn vặt với những tra
vấn:
con người từ đâu tới? con người đi
về đâu?
tại sao con người đau khổ? làm sao để
con người hạnh phúc?
Khao khát hạnh phúc-
hiện tại và vĩnh cửu, luôn là một vấn
đề, luôn là điều làm con người bận tâm.
Từ ngàn xưa, con
người đă khổ công đi t́m hạnh phúc, đi
t́m phương thuốc làm con người có thể
sống trường sinh bất tử! Bao nhiêu tôn giáo xuất
hiện nhằm chỉ cho con người con
đường giải thoát khỏi những đau
khổ và đạt tới cơi vĩnh phúc.
Hạnh phúc đích
thực và vĩnh cửu không hoàn toàn nằm trong tầm tay
của con người, nó là một ơn, là sự chia
sẻ và thông hiệp giữa Thiên Chúa và con người, là
chính sự sống của Thiên Chúa, là t́nh yêu của Thiên
Chúa đối với con người và của con
người đối với Thiên Chúa.
Từ thuở xa xưa cho đến nay, con
người không đặt nặng "biết"
bằng "sống,” và nhất là sống hạnh phúc.
Chính đời sống hạnh phúc sẽ chi phối cái
nh́n về mặc khải.
Sách Sáng Thế
chương 1-11, nói về tạo dựng và tương
quan giữa Thiên Chúa và con người trước khi Abram
xuất hiện.[148]
a. Thiên Chúa tạo dựng
tất cả đều tốt đẹp
St 1-11 cho biết cái nh́n
của truyền thống Do Thái về thời kỳ
tiền-Abraham.
Tŕnh thuật St 1:1- 2:4a
cho thấy Thiên Chúa tạo dựng tất cả bằng
lời (Ngài phán, và vạn sự vạn vật hiện
hữu); Ngài tạo dựng con người giống h́nh
ảnh Ngài, Ngài ban quyền thống trị muôn loài vạn
vật cho con người; Ngài tạo dựng con
người như chóp đỉnh của muôn loài vạn
sự. Theo truyền thống tư tế (P) của tŕnh
thuật này, Thiên Chúa hài ḷng v́ những điều Ngài
tạo dựng tốt lành quá đỗi (St 1:31). Thiên Chúa
tạo dựng và Ngài yêu thương con người.
Tŕnh thuật St 2:4b-25
cũng cho cái nh́n về nguồn gốc con người
trong tương quan với Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo
dựng con người không chỉ từ bùn đất, nhưng
c̣n bởi chính hơi thở của Ngài (St 2:7). Con
người được hưởng dùng tất cả
mọi hoa trái trên đất, kể cả cây sự
sống, chỉ trừ cây biết tốt xấu; con
người bá chủ[149] vạn
vật.
Ở lần san
định Ngũ kinh vào khoảng năm 400 trước
công nguyên, tác giả đă lấy hai truyền thống
tư tế P và truyền thống Y[150] về
tạo dựng để làm thành phần đầu
của quyển sách Kinh Thánh đầu tiên.
Trong cái nh́n truyền
thống Do Thái này, thời đầu con người
sống trong t́nh thương yêu của Thiên Chúa; con
người sống trong hạnh phúc, sống trong sự
ḥa hợp thân mật với Thiên Chúa và với nhau. Thiên Chúa
săn sóc con người (St 2:20tt), con người khắn
khít với nhau (St 2:24) và không bị dằn vặt đau
khổ (St 2:25). Thuở đầu, khi Thiên Chúa tạo
dựng con người, không có đau khổ v́ Thiên Chúa
tạo dựng tất cả đều tốt lành.
Đau khổ chỉ có
từ khi con người phạm tội (St 3:16-17); và
đau khổ tột cùng là cái chết (St 3:19). Tương
quan tốt lành giữa Thiên Chúa và con người bị găy
đổ (St 3:23-24.8) bởi con người đă ăn
trái cây bị cấm (St 3:11). Vấn đề ở đây
không là ăn một trái cây, nhưng là lỗi một
mệnh lệnh, và hơn thế nữa, nghi ngờ t́nh yêu
Thiên Chúa, tin vào con rắn hơn tin vào Thiên Chúa (St 3:4tt).
Điều đáng lưu ư
ở đây, không phải là con người muốn nên
một trong những vị thần linh (St 3:5), nhưng là
con người muốn độc lập với Thiên Chúa.[151]
Từ khi con
người phạm tội, con người cảm
thấy xấu hổ và đổ lỗi cho nhau (St 3:12),
con người không c̣n thấy tha nhân và Thiên Chúa mang lại
hạnh phúc cho ḿnh nữa (St 2:23; 3:8-9).
Hạnh phúc đích
thực chỉ có khi con người sống trong Thiên Chúa,
trong t́nh yêu của Thiên Chúa, sống trong tương quan
tốt với Thiên Chúa. Khi con người sống trong
tương quan tốt với Thiên Chúa, con người sẽ
sống hạnh phúc với nhau.
Truyền thống Do Thái
qua các tác giả san định Ngũ Kinh lần cuối cho
thấy vấn đề sống (đau khổ hay
hạnh phúc) tùy thuộc siêu h́nh, tùy thuộc quan niệm
về nguồn gốc vũ trụ và con người.
Cuộc sống (hiện sinh) đặt vấn đề,
siêu h́nh (tri thức) giúp hiểu biết vấn đề
tận ngọn nguồn, và rồi con người giải
quyết bằng chính cuộc sống. Chỉ trong nhăn quan
này, mới thấy việc nghiên cứu mặc khải là
hữu ích, là liên hệ tới cuộc sống, là giúp con
người sống hạnh phúc, giúp con người
vươn tới ơn cứu độ.
Hạnh phúc đă
mất khi con người phạm tội. Tương quan
tốt lành giữa con người và Thiên Chúa cũng như
giữa con người với nhau, đă bị con
người phá hủy khi phạm tội; nhưng Thiên Chúa
đă nói một lời gây lạc quan hy vọng cho con người
(St 3:15). Thiên Chúa đi t́m con người ngay khi con
người trốn Ngài (St 3:9). Thiên Chúa không muốn
cắt đứt liên lạc với con người, Ngài
vẫn muốn đối thoại với con người;
Ngài chủ động nối lại tương quan
với con người dù tương quan này đă bị con
người phá hủy.
St 4-11 cho thấy cái nh́n
về tương quan giữa Thiên Chúa và con người
cũng như giữa con người với nhau. Tương
quan giữa con người với nhau cũng ảnh
hưởng đến tương quan giữa con
người và Thiên Chúa.
Tŕnh thuật St 4 cho
thấy Abel bị Cain giết và Yahweh đă can thiệp (St
4:9tt). Phạm tội là chống lại Trời, con
người và cả đất nữa. Đau khổ gia tăng,
con người không chỉ phải vất vả mới có
của ăn (St 3:19), nhưng c̣n hơn thế, đất
đai không c̣n cho hoa trái nữa (St 4:12).
Tội lỗi càng ngày
càng gia tăng (St 4:23) đến độ đời
sống con người giảm tuổi thọ (St 6:3); và
hơn nữa "Yahweh đă thấy sự dữ của
loài người đă ra nhiều trên đất... và Yahweh
đă hối tiếc v́ đă làm ra con người trên
đất, và Người đă phải đau phiền
trong ḷng Người" (St 6:5-6). Lụt hồng thủy
là hậu quả của tội (St 6:7). Nhưng Thiên Chúa là
Đấng giàu ḷng thương xót, Ngài vẫn muốn cứu
độ con người qua Noe (St 6:8tt).
Truyền thống Do Thái
ngay trong 11 chương đầu của sách Sáng Thế cho
thấy Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ, là Đấng vẫn
yêu thương con người ngay cả lúc con
người đang nhận lănh h́nh phạt như hậu
quả của tội:
khi Adam phạm tội,
Thiên Chúa có lời hứa cứu độ (St 3:15);
khi Cain giết em,
lời hứa Cain không bị giết trả thù (St 4:15);
khi loài người quá
tội lỗi và bị phạt hồng thủy, Thiên Chúa
cứu độ Noe và thiết lập giao ước
với ông, và qua ông với cả loài người (St 9:8-17).
Thiên Chúa cứu
độ con người, để con người
được sống và sống hạnh phúc với Thiên
Chúa và với nhau.
Trong thời kỳ
trước Abraham, Thiên Chúa tỏ lộ như Đấng
tạo dựng vũ trụ vạn vật và Nguồn
hạnh phúc. Thiên Chúa là sự sống và là Đấng làm cho muôn
vật được sống; ở ngoài Thiên Chúa,
độc lập với Thiên Chúa, chỉ là diệt vong.
C̣n với Abraham, Thiên
Chúa tỏ lộ cho thấy Ngài là Đấng kêu gọi ông,
đề nghị ông đi tới nơi Ngài sẽ chỉ
cho ông, hứa sẽ cho ông có con nối ḍng[152] và
sẽ cho con cháu ông trở thành một dân lớn, làm ông trở
thành nguồn chúc phúc và bảo vệ ông.
Abram
là con của Têrakh, quê ở xứ Kanđê. Têrakh đă
đưa con cái ḿnh xuống Haran (St 11:27.31).
Thiên Chúa đă phán
với Abram:[153] "hăy
đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán
ngươi, khỏi nhà cha ngươi, đến
đất Ta sẽ chỉ cho ngươi; Ta sẽ cho
ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc lành cho
ngươi, và Ta sẽ cho danh ngươi nên lớn lao,
ngươi sẽ là một mối chúc lành. Ta sẽ chúc
lành cho những ai chúc lành cho ngươi, ai mà nói
động đến ngươi, Ta sẽ chúc dữ,
mọi thị tộc trên trần sẽ lấy
ngươi mà cầu chúc cho nhau" (St 12:1-3).
Lời hứa này
thật quan trọng đối với Abraham, v́ Sara không có
con; và không con là một tội lớn đối với năo
trạng đông phương: tuyệt tự! Lời Thiên
Chúa phán với ông, bảo đảm rằng ông sẽ có
con nối ḍng, và ḍng giống từ nơi ông sẽ thành
một dân lớn mạnh.
Thiên Chúa và lời
hứa của Ngài đối với Abraham, chi phối
trọn đời Abraham. Abraham đă đi theo lời Chúa
phán bảo ông (St 12:4). Ông trở thành người sống dựa
vào lời hứa của Thiên Chúa, nghĩa là ông tựa vào
Thiên Chúa. Thiên Chúa đă hiện ra và phán bảo Abraham:
"Ta sẽ ban xứ này cho ḍng giống ngươi"
(St 12:7).
Thiên Chúa hứa ban
đất cho ḍng giống Abraham! C̣n với Abraham? "Hăy
ngước mắt lên và từ chỗ ngươi
đứng, hăy nh́n từ phía: Bắc, Nam, Đông, Đoài. V́ toàn xứ
ngươi thấy đó, Ta sẽ ban cho ngươi và ḍng
giống ngươi cho đến vạn đại... Hăy
chỗi dậy rảo khắp xứ chiều ngang
chiều dọc, v́ Ta sẽ ban đất ấy cho
ngươi (St 13:14-17). Thiên Chúa đă ban đất vùng này
cho Abraham, nhưng cho tới khi Sara chết, Abraham c̣n
phải mua đất để chôn vợ (St 23:4tt); và khi
Abraham chết ông cũng được chôn cất tại
chốn này (St 25:10).
Lời Chúa hứa
với Abraham đang được thực hiện,
nghĩa là lời hứa này chưa hoàn toàn thành tựu; v́
thế Thiên Chúa vẫn thường lập lại lời hứa
này với Abraham:
"Sau các điều
ấy, lời của Yahweh đến với Abram trong
thị kiến mà rằng: Đừng sợ, Abram, Ta là khiên
mộc cho ngươi; phần thưởng ngươi
sẽ bội hậu. Abram thưa: Lạy Chúa Yahweh,
người sẽ ban ǵ cho tôi, trong khi tôi vô hậu ra đi
c̣n kẻ thừa tự gia đ́nh tôi lại là Êliêzer,
người ở Dama...
Và này lời Yahweh phán
với ông rằng: Nó sẽ không thừa kế ngươi
đâu, những kẻ sẽ phát xuất từ ḷng dạ
ngươi sẽ kế thừa ngươi.
Người đă
dẫn ông ra ngoài trời và phán: Hăy nh́n lên trời, và hăy
đếm tinh sao, nếu ngươi có tài đếm
được chúng. Đoạn người phán bảo ông:
Ḍng giống ngươi sẽ như thế. Và Abram đă
tin vào Yahweh và sự ấy Người đă kể cho ông
như sự công chính (St 15:1-6)."
Lời hứa ban
phần đất cho Abraham và con cháu ông cũng
được lập lại:
"Người đă
phán với ông: Ta, Yahweh, Ta đă đem ngươi ra
khỏi Ur của dân Kanđê, để ban cho ngươi
đất này làm cơ nghiệp" (St 15:7).
"Ngày hôm ấy Yahweh
đă kết ước với Abram rằng: cho ḍng
giống người, Ta sẽ ban thửa đất này
từ sông Ai cập cho đến sông Cả, sông Phơrát..."
(St 15:18).
Giao ước là lời
thề hứa long trọng có điều kiện kèm theo.
Năm Abram[154] được
99 tuổi, Thiên Chúa đă kư kết giao ước với
Abram, và đổi tên ông thành Abraham (St 17:5), đổi tên
Saray thành Sara (St 17:15).
Sáng Thế tŕnh bày giao
ước này trong chương 17:
"Khi Abram
được 99 tuổi, th́ Yahweh đă hiện ra cho ông và
phán với ông: Ta là El-Shadday, hăy bước đi
trước mặt Ta và ở cho trọn lành. Ta sẽ ban
giao ước giữa Ta và ngươi, Ta sẽ cho
ngươi sinh sôi đông lắm, đông lắm.
(Và) Abram phục ḿnh
sấp mặt xuống.
Và Thiên Chúa phán bảo ông
rằng:
Phần Ta, này giao
ước của Ta với ngươi:
ngươi sẽ là cha
của hằng hà sa số dân tộc...
Ta sẽ lập giao
ước giữa Ta và ngươi, và ḍng giống
ngươi sau ngươi qua các thế hệ, làm giao ước
vạn đại,
ngơ hầu Ta là Thiên Chúa
của ngươi và của ḍng giống ngươi sau
ngươi.
Và Ta sẽ ban cho
ngươi và ḍng giống ngươi sau ngươi
đất ngươi nương ngụ, toàn cơi
đất Canaan, làm sở hữu vạn đại, và Ta
sẽ là Thiên Chúa của chúng.
(Và) Thiên Chúa phán với
Abram:
C̣n ngươi,
ngươi sẽ giữ lấy giao ước của Ta,
ngươi và ḍng giống ngươi sau ngươi, qua
các thế hệ. Này là giao ước các ngươi sẽ
giữ lấy, giữa Ta và các ngươi, và ḍng giống
ngươi sau ngươi: mọi nam nhân trong các
ngươi đều sẽ chịu cắt b́" (St
17:10).
b. Tương quan giữa
Thiên Chúa và con người
Tương quan giữa
Thiên Chúa và Abraham, cũng chính là tương quan giữa Thiên
Chúa và con người.
Trong những
đoạn St 12 và St 15 cùng St 17, Thiên Chúa là Đấng ban cho
Abraham lời hứa và giao ước; c̣n trong St 18 Thiên Chúa
cư xử thật thân t́nh đối với Abraham:
Thiên Chúa đă hiện ra
cho Abraham nơi cây sồi Mamrê dưới dạng ba
người (St 18:1); Thiên Chúa đă chấp nhận
để được Abraham hầu hạ phục
vụ (St 18:3-5); Yahweh đă tỏ cho Abraham biết
những điều kín, những điều Người sắp
làm (St 18:16-21) sau khi đă thăm hỏi tṛ chuyện
với Abraham về những chuyện riêng của ông
như gia đ́nh vợ con (St 18:9-15);
Abraham đă nài nỉ xin
Chúa đừng phạt dân Sođôm nếu ở đó
chỉ có 10 người công chính.
Yahweh đối xử
với Abraham thật thân thiết (St 18). Ngài là Đấng
bảo vệ Abraham và những quyền lợi của ông.
Ngài sẵn sàng nghe lời Abraham cầu xin[155] (St
20:7.17-18).
Yahweh Thiên Chúa không
chỉ là Đấng ban lời hứa và kư kết giao
ước với Abraham, Ngài c̣n là Đấng đ̣i hỏi con
người phải tin tưởng tuyệt đối vào
Ngài. Chính Thiên Chúa đă phán với Abraham: "nơi Isaac,
ngươi sẽ có ḍng giống đội tên
ngươi" (St 22:2); nhưng cũng chính Thiên Chúa đă
phán cùng ông: "Abraham, ngươi hăy lấy con
ngươi, con một ngươi, ngươi yêu dấu
tức là Isaac, mà đi tới đất Moriyah và ở
đó, hăy dâng nó làm của lễ thượng tiến trên
một quả núi Ta sẽ tỏ cho ngươi" (St
22:2).
Abraham đă làm theo
lời Chúa phán cùng ông! "Khi họ đến nơi Thiên
Chúa phán cùng ông, th́ Abraham xây tế đàn ở đó,
rồi sắp củi, và trói Isaac con ông mà đặt lên tế
đàn, trên đống củi, đoạn Abraham giơ tay
cầm lấy dao phay để tế sát con" (St 22:9-10).
Nhưng thần sứ Giavê từ trời phán bảo ông:
"Abraham, Abraham,
đừng giơ tay hại đứa trẻ,
đừng làm ǵ đến nó, v́ bây giờ ta biết
ngươi là người kính sợ Thiên Chúa: con một
ngươi, ngươi đă không từ chối với
Ta" (St 22:11-12). Và Thiên Chúa lại tái xác nhận lời
hứa Ngài đă ban cho ông một cách long trọng, Thiên Chúa
đă thề:
"Lần thứ hai
thần sứ Yahweh gọi Abraham từ trời và phán: Ta
lấy ḿnh Ta, Ta thề, sấm của Yahweh: v́ ngươi
đă làm điều ấy, và đă không từ chối
(với Ta) con một ngươi, th́ Ta sẽ ban phúc chúc
lành cho ngươi, Ta sẽ làm cho ḍng giống ngươi
nên đông, nên nhiều như sao trên trời, như cát băi
biển, và ḍng giống ngươi sẽ chiếm cửa
thành quân địch. Mọi dân thiên hạ sẽ lấy
ḍng giống ngươi mà cầu phúc cho nhau, bởi v́
ngươi đă vâng nghe tiếng Ta" (St 22:15-18).
Mặc khải là hành vi
Thiên Chúa cứu độ con người! Ngài tỏ cho con
người biết Ngài là ai và con người là ai (St 1-2),
Ngài cũng tỏ cho Abraham và qua Abraham cho tất cả
mọi người, biết: Ngài đă tuyển chọn
Abraham, Ngài trở thành Đấng ban lời hứa và Đấng
bảo vệ Abraham trong suốt đời ông.
Thiên Chúa là Đấng
tuyển chọn Abraham, là Đấng ban lời hứa, là
Đấng bảo vệ Abraham. Nhưng nếu Abraham không
biết th́ Abraham đă không thể đáp trả
lời mời gọi và những đ̣i hỏi của Thiên
Chúa, và nếu vậy Abraham đă không được cứu,
và như vậy việc Thiên Chúa tuyển chọn Abraham có
ích ǵ cho ông? Con người chỉ là người trọn
vẹn khi con người hành động một cách tự
do, có ư thức. Chính v́ thế Thiên Chúa đă tỏ lộ
cho con người biết về Thiên Chúa, về chính con
người, và về cả vũ trụ nữa.
St 12:1 cho biết
"Yahweh phán với Abram.” Nhưng bằng cách nào? qua trung
gian nào?
Thiên Chúa th́ vô h́nh; c̣n con
người là tinh thần và thân xác; con người
thiết yếu biết qua trung gian khả giác. Ở
đây không thấy Kinh Thánh đề cập đến
bằng cách nào Abram biết được là Chúa phán
với ông; nhưng một điều Kinh Thánh khẳng
định: "Yahweh phán với Abram," Abram đă ư
thức điều này với tất cả sự chắc
chắn, không có một chút xíu nghi ngờ.
St 12:7: "Và Yahweh đă
hiện ra cho Abram và phán bảo ông ...." Ở đây
cũng không thấy Kinh Thánh nói Yahweh đă hiện ra cho
Abram như thế nào, dưới h́nh ǵ (x. St 17:1).
St 18:1-2: "Yahweh đă
hiện ra cho ông nơi cây sồi Mamrê... ông ngước
mắt lên, th́ này: có ba người đứng bên ông."
Ở đây Kinh Thánh cho biết: Thiên Chúa đă hiện ra
cho Abraham dưới dạng h́nh người. Hai trong ba
người Abraham đă thấy, được gọi là
thần sứ (St 19:1), c̣n Yahweh vẫn đứng lại
trước mặt Abraham (St 18:22).
St 16:7-13 cho thấy
thần sứ của Yahweh đă phán với Hagar, thị
tỳ của Sara. Và sau đó Hagar cho là Yahweh đă phán
với nàng: "Và nàng gọi danh Yahweh Đấng phán với
nàng: "Người là El-Roy”[156] (St
16:13). Nơi các bản văn xưa, thần sứ của
Yahweh không là tạo vật khác với Thiên Chúa.[157]
iii. Lời trong thị
kiến, trong mộng
St 15:1: "Sau các
điều ấy, lời của Yahweh đến với
Abram trong thị kiến mà rằng....” Kinh Thánh nói
"lời đến trong thị kiến," nhưng
không thấy qua trung gian người nói hay nhờ trung gian
nào khác.
St 20:3: "Thiên Chúa
đến với Abimêlek trong mộng ban đêm và phán
bảo ông ...." Theo ghi chú trong bản dịch của cha
Nguyễn Thế Thuấn: mộng báo ban đêm là một
đặc điểm của nguồn văn E (St 28:11;
31:11-14; 37:5tt; 40:5tt; 41:1tt; 46:2); đó là một cách tả
thần hiện được coi là xứng đáng hơn
với tính siêu việt của Thiên Chúa.
Lời hứa Thiên Chúa
đă ban cho Abraham, Ngài lập lại với Isaac:
"Đừng xuống Ai cập; hăy ở lại trong
xứ, ta sẽ nói cho ngươi. Hăy ngụ lại trong
xứ này: Ta sẽ ở với ngươi, Ta sẽ chúc
lành cho người và Ta sẽ ban cho ngươi, và ḍng
giống ngươi tất cả xứ này. Ta sẽ
giữ lời Ta thề với Abraham cha ngươi. Ta
sẽ cho ḍng giống ngươi nên đông đảo
như sao trên trời, Ta sẽ ban cho ḍng giống
ngươi tất cả các xứ này. Mọi dân thiên
hạ sẽ lấy ḍng giống ngươi mà cầu phúc
cho nhau, bởi chưng Abraham đă vâng nghe Lời Ta và
đă giữ trọn đạo với Ta, các luật
điều, các thánh chỉ của Ta" (St 26:2-5).
Cũng tại Ghêrar này,
"Yahweh đă hiện ra cho ông chính đêm ấy và phán: Ta
là Thiên Chúa của Abraham, cha ngươi. Đừng sợ, v́
Ta ở với ngươi! Ta sẽ chúc lành cho ngươi,
Ta sẽ cho ḍng giống ngươi nên đông đảo,
v́ Abraham tôi tớ của Ta" (St 26:24).
Trong hai lần mặc
khải cho Isaac được trích ở trên, Kinh Thánh nói
Thiên Chúa hiện ra và phán (St
26:2. 24); ở câu 24: Thiên Chúa hiện ra vào ban đêm. Cả
trong hai lần hiện ra, Thiên Chúa đều hứa:
"Ta sẽ ở với ngươi." Thiên Chúa ở
với ai, người đó sẽ được chúc phúc.
Lời chúc phúc ở đây thật cụ thể: ḍng
giống đông đảo, và có đất làm phần
cơ nghiệp (St 26:3. 4).
Trong hai lần hiện
ra, Thiên Chúa đều nhắc tới Abraham; ngoài những
tên để chỉ Thiên Chúa như El-Roy, El-Shadday, c̣n
thấy xuất hiện một cách để chỉ Thiên
Chúa, đó là: Thiên Chúa của Abraham (St 26:24).
Những điều
Thiên Chúa đă hứa với Abraham và Isaac, th́ Ngài cũng
lập lại với Giacóp. Thiên Chúa đă hiện ra
với Giacóp trên đường ông tới Haran: "Giacóp
chiêm bao: th́ này có một thang cấp dựng trên đất,
nhưng chóp đỉnh thấu trời. Và này có những
thần sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên
đó. Và này Yahweh đứng bên chàng. Người phán: Ta là
Yahweh, Thiên Chúa của Abraham cha ngươi, Thiên Chúa của
Isaac. Đất ngươi đang nằm, Ta sẽ ban cho
ngươi và ḍng giống ngươi. Ḍng giống
ngươi sẽ đông như cát bụi bành
trướng ra Đông Tây Nam Bắc. Mọi tông tộc trên
trần sẽ lấy ngươi mà cầu phúc cho nhau. Và
này Ta sẽ ở cùng ngươi, Ta sẽ ǵn giữ
ngươi khắp nơi ngươi đi, Ta sẽ
đem ngươi về lại đất đai này, v́ Ta
sẽ không bỏ ngươi, sao cho đến lúc Ta hoàn
tất các điều Ta phán với ngươi" (St
28:12-15).
"Giacóp đă tỉnh
giấc và nói: hẳn thật có Yahweh ở chốn này mà tôi
không biết" (St 28:16).
"Giacóp đă khấn
với Chúa rằng: Nếu Thiên Chúa ở cùng tôi, và ǵn
giữ tôi trên đường tôi đang đi, nếu
người cho tôi có bánh ăn, áo mặc, nếu tôi được
trở về nhà cha tôi b́nh an vô sự, th́ Yahweh sẽ là
Thiên Chúa của tôi và viên đá tôi đă dựng làm thạch
trụ sẽ là nhà của Thiên Chúa. Và trên mọi
điều Người ban cho tôi, tôi sẽ trích thập
phân dâng Người" (St 28:20-22).
Đọc các tŕnh thuật
ghi lại cuộc đời của Giacóp, người ta
thấy quả thực Thiên Chúa đă dẫn dắt ông,
đă đưa ông đi và dẫn ông về. Sau khi Giacóp
đă có vợ con và tài sản, chính Thiên Chúa đă ra
lệnh cho ông trở về: "Yahweh phán bảo Giacóp: Hăy
trở về đất cha ông ngươi ở, về quê
quán của ngươi và Ta sẽ ở cùng
ngươi" (St 31:3).
Thiên Chúa cũng đă can
thiệp với Laban để ông không đụng chạm
ǵ tới Giacóp (St 31:24. 29). Giacóp cũng được Thiên
Chúa đổi tên thành Israel, như Thiên Chúa đă
đổi tên cho Abram và Sara (St 32:29; 35:10).
Yahweh Thiên Chúa đă
hứa Ngài sẽ ở với ông, và điều này thể
hiện qua cuộc đời của ông, qua những may
mắn ông gặp trên đời, qua những tài sản ông
kiếm được. Điều này chính Giacóp cũng đă
thấy khi ông đến Bêthel dâng lời tạ ơn Thiên
Chúa: "hăy khử bỏ các thần xa lạ khỏi
giữa các ngươi, hăy thanh tẩy ḿnh và thay y phục.
Rồi ta hăy chổi dậy đi lên Bêthel. Ở đó tôi
sẽ làm tế đàn kính Thiên Chúa, Đấng đă nhậm
lời tôi trong ngày quân bách, Đấng đă ở
với tôi trên đường tôi đi" (St 35:2-3).
Thiên Chúa đă ở
với Giacóp để giải cứu ông, để
độ tŕ ông làm ăn phát đạt. Yahweh đă thành
nguồn hạnh phúc của Giacóp.
3. Thiên Chúa can thiệp
vào ḍng lịch sử
Yahweh Thiên Chúa đă
hiện ra cho Môsê nơi bụi gai bốc cháy nhưng không
tàn, và Người phán: "khi ngươi dẫn dân ra
khỏi Ai cập... các ngươi sẽ thờ Thiên Chúa
trên núi này" (Xh 3:12). Biến cố Xuất Hành đi
liền với giao ước trên núi Sinai, biến cố
xuất hành hướng về giao ước tại Sinai.
Ở đây t́m hiểu khía cạnh mặc khải trong
biến cố xuất hành- giao ước này.
Trong tŕnh thuật ơn
gọi Môsê ở Xh 3, Thiên Chúa tự giới thiệu Ngài là
"Thiên Chúa của Cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham,
Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp" (Xh 3:6).
Thiên Chúa là Đấng
thương cảm dân Người: "Ta thấy rơ
nổi khổ của dân Ta bên Ai cập, và Ta đă nghe
tiếng than chúng kêu lên trước mặt đốc công,
quả Ta đă biết các khổ đau của chúng"
(Xh 3:7).[158] Và
Thiên Chúa quyết định: "Nên Ta xuống giựt
chúng thoát tay Ai cập và dẫn chúng ra khỏi xứ
ấy, lên xứ vừa đẹp vừa rộng, lên
xứ chan ḥa sữa mật. Vậy bây giờ ngươi
hăy đi. Ta sai ngươi đến với Pharaô;
ngươi hăy đem dân của Ta, con cái Israel ra khỏi Ai
cập" (Xh 3:8. 10).
Thiên Chúa giải phóng con
dân Israel ra khỏi Ai cập, bởi v́ "Thiên Chúa đă
nhớ lại giao ước của Người với
Abraham, với Isaac, với Giacóp" (Xh 3:7.10; 5:1.7; 7:16.26).
Thiên Chúa đă thương yêu và tuyển chọn Abraham cùng
ḍng dơi ông, chính v́ vậy Ngài đă hướng dẫn
cuộc đời của các tổ phụ, đă ở
với các ngài, đă cho các ngài gặp may mắn trên
đời, và bây giờ Ngài quyết định giải
phóng con cái Israel ra khỏi Ai Cập. Không phải v́ con dân
Israel luôn vâng theo lời Chúa mà Chúa giải phóng họ,[159] nhưng
v́ Ngài yêu thương và tuyển chọn họ. Môsê
được chọn làm người đưa dân Israel
ra khỏi Ai Cập, v́ Thiên Chúa yêu thương dân
Người, chứ không phải v́ Môsê.[160]
Yahweh phán với Môsê
ở Madian: Đi đi! Hăy trở về Ai cập[161]...
Môsê đă cho dân biết
cuộc gặp gỡ của ông với Thiên Chúa và những
điều Ngài nói với ông về tương lai dân Ngài,
nhưng không phải tất cả đều tin và nghe (Xh
4:31; 5:21; 6:9.12).
Thái độ của
Pharaô đối với việc con dân Israel ra đi:
Thiên Chúa biết Pharaô
không để dân đi[162] (Xh
3:19-20; 4:21b; Xh 5:2; 6:1; 7:13). Môsê cũng đoán
được điều này: "Này con cái Israel đă
chẳng nghe tôi! Th́ làm sao Pharaô lại sẽ nghe tôi, một
kẻ cứng môi cứng miệng" (Xh 6:12). Do vậy
Yahweh Thiên Chúa đă cho Môsê có thể làm những dấu
lạ như gậy biến thành rắn (Xh 7:10tt),
nước hóa thành máu (Xh 7:17tt), ếch nhái (Xh.7:26tt),
ruồi muỗi (Xh 8:12tt), ruồi ṃng (Xh 8:16tt), ôn dịch
(Xh 9:1tt), ung nhọt (Xh 9:8tt), mưa đá (Xh 9:13tt), châu chấu
(Xh 10:1tt), tối tăm (Xh 10:21); thế nhưng Pharaô
vẫn cứng ḷng (Xh 7:13.14; 8:11.15.28; 9:7.12.35; 10:20.27).
Dấu lạ cuối cùng là các con trưởng của Ai
cập bị chết (Xh 11).
Các dấu lạ gây
thiệt hại tài sản dân Ai cập, là do tại sự
cứng ḷng của vua Pharaô; kể cả cái chết các con
đầu ḷng của người Ai cập cũng là do
tội của Pharaô và toàn dân Ai cập không chịu vâng
phục ư Chúa, không "để dân Ngài ra đi thờ
phượng Ngài." Mạng sống con người là
tuyệt đối đối với con người, con
người không được phép xúc phạm mạng
sống của ḿnh và của anh em ḿnh; nhưng mệnh
lệnh của Thiên Chúa là tuyệt đối đối
với mọi sự: ai bất tuân th́ phải chết.[163] Và
không phải chỉ các con đầu ḷng phải chết,
mà những ai cứng ḷng muốn bất tuân lệnh Chúa,
sẽ phải chết do chính lỗi của ḿnh, khi
đuổi theo dân Israel qua biển đỏ (Xh 14).
Trong biến cố
xuất hành khỏi Ai cập, Yahweh Thiên Chúa là Đấng
quyết định giải phóng dân Ngài khỏi ách nô
lệ Ai Cập; chính Ngài đă tuyển chọn Môsê làm
người dẫn dân Ngài ra khỏi Ai cập, và cũng
chính Ngài đưa ra lư lẽ để nói với Pharaô:
"Yahweh, Thiên Chúa của dân Hipri đă cho chúng tôi gặp
Người. Vậy bây giờ, xin cho chúng tôi đi ba ngày
đàng vào sa mạc tế lễ cho Yahweh Thiên Chúa của
chúng tôi" (Xh 3:18). Thiên Chúa Yahweh là lá cờ giương
cao của dân Israel trong biến cố giải phóng dân
khỏi Ai cập: "Yahweh Thiên Chúa của Israel phán
thế này: Hăy thả cho dân Ta đi, để chúng trẩy
lễ mừng Ta trong sa mạc" (Xh 5:1.3; 7:16.26; 8:4.16;
9:1.13; 10:3; 12:31).
Thiên Chúa đă giải
phóng con dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập bằng
nhiều điềm thiêng dấu lạ, thế nhưng con
dân Israel vẫn chưa tin tưởng phó thác tương
lai và cuộc sống trong tay Yahweh Thiên Chúa. Họ vẫn
nói những lời tỏ vẻ vô ơn và bất cần
Thiên Chúa: "Phải chi chúng tôi chết đi bởi tay Yahweh
trong đất Ai cập, khi c̣n ngồi bên niêu thịt và
được ăn bánh thỏa thuê. Thật các ông đă
đem chúng tôi ra sa mạc này để làm cả lũ
chết đói ở đây" (Xh 16:28).
Những ǵ Yahweh
truyền dạy dân qua Môsê, con dân Israel cũng không tuân
lệnh. Yahweh đă phán với Môsê: "Cho đến bao
giờ nữa, các ngươi sẽ từ khước,
không giữ lệnh truyền và luật điều của
Ta?" (Xh 16:28). Ở Massah và Mêribah, họ c̣n thử thách
Yahweh: "Có Yahweh ở giữa chúng ta hay không?" (Xh 17:7).
Dầu tất cả
những điều ấy, Yahweh Thiên Chúa vẫn muôn ngàn
đời thành tín, Ngài trung thành với chính Ngài, với
điều Ngài đă hứa dù khi con người phản
bội Ngài. Ngài vẫn kư kết với dân một giao
ước, theo điều Ngài đă hứa với Abraham,
với Isaac và với Giacóp: "Ta sẽ lấy các
ngươi làm một dân thờ Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa các
ngươi, và các ngươi sẽ biết Ta là Yahweh, Thiên
Chúa của các ngươi, Đấng đem các ngươi ra
từ dưới ách khổ dịch của Ai cập"
(Xh 6:7).
Giao ước là một
lời hứa có điều kiện kèm theo lời thề!
Lời hứa có thể đến từ một bên,
tức đơn phương; thế nhưng giao
ước luôn luôn phải được sự ưng thuận
của cả đôi bên, tức song phương.
Trước khi có chữ viết, giao ước là sự
đồng ư của hai bên được tuyên bố
bằng lời trước mặt những nhân chứng,
với lời thề và lời nguyền rủa theo nghi
thức tế tự. Sau này khi có chữ viết, bản
văn thay thế người chứng.
Người thề
hứa phải trung thành với những ǵ ḿnh giao
ước, không phải v́ người chứng nhưng v́
thần linh, họ sợ thần linh và sợ năng lực
lời họ đă thề theo công thức nguyền
rủa.[164]
Tŕnh thuật trong sách
Xuất hành, chương 19-24 cho thấy giao ước
giữa Thiên Chúa và con dân Israel được kư kết:
· Giới thiệu ngày tháng nơi kư kết giao
ước (Xh 19:1-2);
· Cuộc đàm phán trao đổi giữa dân và Thiên
Chúa qua Môsê (Xh 19:3-15)
về nội dung giao
ước (điều kiện bảo đảm) (Xh
19:3-8)
về
việc chuẩn bị và thời gian kư kết (Xh 19:9-15).
· Kư kết giao ước (Xh 19:16-24:8).
Toàn
dân nghinh đón Thiên Chúa và Thiên Chúa hiện diện (Xh
19:16tt);
Điều
kiện giao ước: thập giới (Xh 20:1-21. 22tt).
Toàn
dân ưng thuận (Xh 24:3).
Kư
kết: "Này là máu của giao ước đă kư kết
với các ngươi, thể theo mọi lời
ấy" (Xh 24:8.4-8).
Đây là bảo đảm
của Thiên Chúa đối với con dân Israel, trong giao
ước Người kư kết với dân: "Vậy,
bây giờ, nếu các ngươi quyết nghe tiếng Ta mà
giữ giao ước của Ta, th́ các ngươi sẽ là
sở hữu của Ta giữa các dân hết thảy, v́
toàn cơi đất đều là của Ta. C̣n các
ngươi, các ngươi sẽ là một vương
quốc tư tế cho Ta, một dân thánh" (Xh 19:5-6).
Theo một số
học giả, giao ước là nguyên lư thống nhất
quy tụ dân Israel xét như là một dân; v́ vào thời quan
án và quân chủ tiên khởi của Israel, có nhiều nhóm dân
với những nguồn gốc khác nhau đă không chia
sẻ kinh nghiệm xuất hành; v́ thế, họ tháp
nhập vào dân Israel qua việc chấp nhận giao
ước với Yahweh của Israel. Truyền thống
về những hành vi cứu độ dân Israel trở nên
truyền thống của cả nhóm, và những
điều khoản giao ước trở thành quy luật,
đặc biệt điều khoản chỉ thờ
Yahweh thôi. M. Noth giải thích Gs 24 như là một lễ nghi
tôn giáo, trong đó các nhóm khác nhau kư kết hiệp
ước chung quanh thánh tích. Các bộ lạc là những
chư hầu của Yahweh, và phải giữ ḥa b́nh với
nhau; họ không được giao ước với
bất cứ dân tộc hay thần linh nào khác.[165]
Thập giới là
điều khoản của giao ước Sinai giữa
Yahweh và toàn dân Israel. Thập giới không là luật theo
nghĩa b́nh thường đối với người
thời xưa hoặc ngay cả với người
thời nay: thập giới tỏ lộ ư định
của Thiên Chúa cho con người, và là nền tảng
của mọi luật lệ.[166] Luật
thập giới tỏ lộ ư định của Yahweh cho
toàn dân Israel, là điều khoản căn bản của
giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài; như vậy, giữ
thập giới là giữ giao ước giữa Thiên Chúa và
Israel, không giữ thập giới là hủy bỏ giao
ước giữa Thiên Chúa và Israel.[167]
Với biến cố
xuất hành khỏi Ai Cập và giao ước trên núi Sinai,
Thiên Chúa mặc khải Ngài yêu thương và tuyển
chọn dân Israel giữa các dân:
· Ngài đă can thiệp vào ḍng lịch sử, Ngài
điều khiển ḍng lịch sử: Ngài đă giải
phóng dân Israel khỏi Ai cập! Qua lịch sử, con dân
Israel và mọi dân tộc khác có thể nhận ra bàn tay
của Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn dân Israel;
· Ngài là Đấng bảo trợ dân, kư giao ước
với dân Israel, để biến dân Israel thành dân riêng
của Ngài, thành dân thánh và dân tư tế. Israel
được chọn làm dân riêng và được Thiên
Chúa kết ước với, không phải v́ dân Israel tài
đức hơn các dân tộc khác, nhưng v́ Thiên Chúa yêu
thương[168] và
tuyển chọn dân, v́ Thiên Chúa yêu thương và tuyển
chọn Abraham, Isaac, và Giacóp;
· Thiên Chúa là Đấng ban luật cho Israel; Luật Yahweh
Thiên Chúa ban cho dân, nếu dân tuân giữ, sẽ là bảo
đảm dân là sở hữu của Thiên Chúa; và hơn
như vậy nữa, luật Yahweh ban cho dân Israel trong giao
ước, sẽ giúp dân trở nên giống Thiên Chúa là
Đấng Thánh, làm cho dân trở thành dân thánh của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đă mặc
khải tên Ngài cho Môsê, và việc mặc khải này là
khởi đầu cho việc mặc khải Ngài là
Đấng tuyển chọn và giải phóng dân Israel khỏi Ai
cập.
Thiên Chúa đă nói với
dân qua Môsê, và qua trung gian Môsê Thiên Chúa cũng nói với Pharaô
và triều đ́nh Ai cập (Xh 19:19.21-25; 20:18-21). C̣n với
chính Môsê, Thiên Chúa đă nói với ông qua trung gian bụi gai
gốc cháy nhưng không tàn (Xh 3). Sau đó, Môsê sống rất
thân mật với Thiên Chúa và thường được
Thiên Chúa phán bảo ông, nhưng Kinh Thánh không cho biết Thiên
Chúa phán bảo với ông qua trung gian nào.
Qua tŕnh thuật Xh
33:18-23; 34:6-7, con người và ngay cả Môsê, không thể
nh́n thấy Yahweh Thiên Chúa được; cũng trong
lần tỏ hiện này, Yahweh Thiên Chúa mặc khải Ngài là
"Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và
đầy nhân nghĩa, tín thành. Ngài giữ nghĩa cho
đến ngàn đời, chịu đựng lỗi
lầm quá phạm, nhưng không coi tội như thể vô
can. Ngài trị tội cha trên con cháu ba bốn
đời" (Xh 34:6-7). Thiên Chúa Yahweh là Thiên Chúa t́nh yêu,
kiên nhẫn và tha thứ.
Thời kỳ thẩm
phán kéo dài khoảng trên 200 năm, từ sau khi Giôsuê
đưa dân vào đất hứa cho tới thời Israel
có vua (khoảng từ 1210 đến 1000 trước công
nguyên). Những thẩm phán được sách thẩm phán
đề cập tới, là những vị được
Thiên Chúa ở với họ cách đặc biệt (Tl 3:10);
họ là cứu tinh của dân tộc (Tl 3:9.15) chứ không
phải là những người được đặt
để theo thói thường (Xh 18:13-26).
Sách thẩm phán tŕnh bày
tương quan giữa Thiên Chúa và Israel vào thời dân Israel
đă được vào đất hứa. Dân Israel liên
tục phản bội Chúa, thờ các thần ngoại; V́
vậy, Ngài đă phó nộp họ vào tay các dân tộc khác!
Khổ cực, họ quay trở về với Chúa, và kêu
xin Người; Thiên Chúa đă thương, và sai các
thẩm phán đến cứu họ thoát khỏi tay
những dân tộc khác.
Sách thẩm phán cho cái
nh́n rất đa dạng về ơn gọi thẩm phán.
Với những thẩm
phán Otniel (Tl 3:7-11), Êhud (Tl 3:12-30) và Shamgar (Tl 3:31), sách không cho
biết quá tŕnh h́nh thành ơn gọi làm thẩm phán;
với Baraq, Thiên Chúa đă nói với ông qua tiên tri Đêbôrah (Tl
4:1-10); c̣n với Ghêđêô, thần sứ Yahweh đă
hiện ra cho ông (Tl 6:11-12) và Yahweh đă trao sứ mạng
cho ông (Tl 6:16tt); với Samson, ơn gọi đă h́nh thành
từ lúc được thụ thai, ông là người
được hiến thánh cho Thiên Chúa từ trong dạ
mẹ "chính trẻ ấy sẽ khởi công cứu
thoát Israel khỏi tay Philitin" (Tl 13:5).
Sau thời thẩm phán,
là thời kỳ vương quyền. Có thể nói vị
thẩm phán cuối cùng là Samuel (1Sm 7:2-17); Samuel c̣n
được coi là tiên tri, v́ Yahweh Thiên Chúa đă nói với
ông, và nói với dân qua ông (1Sm 3:1-21); Samuel cũng là
người đă xức dầu phong vương cho Saul
(1Sm 10:1tt) và cho Đavít (1Sm 16).
Tŕnh thuật 1Sm 3 cho
thấy Yahweh Thiên Chúa gọi Samuel, nhưng lúc đó ông không
nhận ra tiếng Chúa. Theo tŕnh thuật này, Samuel nghe
tiếng nhưng không thấy ǵ, chính v́ vậy cậu
mới chạy lại chỗ thầy Êli, v́ tưởng
thầy gọi. Trong tŕnh thuật này, tưởng có
thể nghĩ rằng Chúa gọi Samuel lúc cậu c̣n
thức. Nghe thấy tiếng Chúa, đó là điều
thường thấy nơi các tiên tri: "Chúa phán...,”
"lời Chúa đến với ...."
Vào thời trước
và sau Samuel, người Israel cũng vẫn có thói quen
thỉnh ư Yahweh Thiên Chúa mỗi khi gặp những
chuyện khó khăn hoặc những điều cần
giải quyết (1Sm 9:1-10; Gs 7:6tt; 1Sm 10:20-21). Thế
nhưng vào thời Samuel, Kinh Thánh nói "Lời Yahweh
hiếm, thị kiến khan" (1Sm 2:1), nên người ta
thường gieo quẻ bốc thăm; chẳng hạn
việc t́m người lỗi luật thần tru bằng
bốc thăm (Gs 7:6tt), hoặc việc chọn vua (1Sm
10:20-21).
Để thấy rơ hơn
việc thỉnh ư Yahweh bằng gieo quẻ bốc thăm,
hăy xem tŕnh thuật sau: "Saul nói: Lạy Yahweh, Thiên Chúa
của Israel, làm sao Người lại không trả lời
cho tôi tớ Người hôm nay? Nếu tội ấy có
ở về phía tôi hay Giônathan con tôi, th́ lạy Yahweh, Thiên
Chúa của Israel, xin ban Urim; c̣n nếu tội ấy có
ở về phía dân của Người là Israel th́ xin ban
Tummin. Và đă bốc thăm trúng Giônathan và Saul, c̣n dân th́
đă thoát. Saul lại nói: hăy gieo thăm giữa tôi và
Giônathan, con tôi: Yahweh để ai trúng thăm, th́
người đó phải chết" (1Sm 14:41-42).
Những dân tộc
đông phương lân cận của dân Israel cũng dùng
những cách như bói toán gieo quẻ để biết ư
định của Thần Linh. Nhưng có sự khác nhau rơ
rệt giữa một thầy chiêm “chân thật” và một
thầy chiêm “giả hiệu” dù ở nơi dân lân cận
hay nơi dân tộc Israel: thầy chiêm giả hiệu
buộc thần linh phải tỏ ư kiến qua việc tuân
giữ các nghi thức, c̣n thầy chiêm chân thực lắng
nghe Thiên Chúa v́ Ngài hoàn toàn tự do. Con dân Israel phải
chờ đợi câu trả lời của Thiên Chúa do ḷng
nhân lành và ư định tự do của Ngài. Việc hỏi
ư kiến này thường thuộc về nhiệm vụ
của các nhà chiêm thị, và của các tư tế (1Sm 1:36;
22:15).
Nhiều
lần dân Israel phản bội Thiên Chúa, không tuân giữ giao
ước, thờ các thần khác ngoài Yahweh; nhưng Yahweh
Thiên Chúa vẫn đáp cứu dân mỗi khi dân quay trở về
với Thiên Chúa. Những tŕnh thuật này cho thấy Thiên
Chúa là Đấng thành tín, kiên nhẫn và tha thứ; c̣n Israel là
dân cứng cổ, bất trung, luôn phản bội.
Không
phải chỉ có dân Israel mới có các tiên tri, nhưng
những dân lân cận, các tôn giáo ngoài Do Thái giáo cũng có các
tiên tri (1V 18:19). Ở Israel, phong trào tiên tri xuất hiện
mạnh từ thế kỷ XI đến thế kỷ V
trước công nguyên. Không kể những người
được Yahweh Thiên Chúa gọi cách đặc biệt
để làm tiên tri, những tiên tri chuyên nghiệp
(những người hành nghề tiên tri để kiếm
sống) thường sống thành từng nhóm, và có nhóm
trưởng (1Sm 10:5tt; 19:20tt).
Tiên tri, người
biết trước; nhưng đúng hơn, tiên tri là
người nói nhân danh Thiên Chúa (ngôn sứ).
Tiên tri là người
của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa
chiếm đoạt, người có kinh nghiệm về
Thiên Chúa đến độ các vị suy nghĩ, nói và hành
động như Thiên Chúa muốn, như thể các vị
đó thấy hay nghe được Thiên Chúa nói (Gr 20:7.9; Am
3:3-8). Tuy nhiên cũng có người cho rằng các ngài là
những người bị bệnh "sùi bọt mép"
(Mk 2:6; Am 7:16), những người điên (Hs 9:7), những
người thiếu sự khôn ngoan tối thiểu (không
biết nói dối dù phải chết (Gr 26:12); không sợ
thế lực người đời dù thế lực đó
là quan quyền hay vua chúa (2V 1:5tt; 18:1tt; 21:20tt)).
Nói tới tiên tri, không
thể không đề cập đến lời, sấm
ngôn.
Lời, tiếng Do Thái
là DABAR. DABAR có hai gốc song song: một có nghĩa là nói, và
một có nghĩa là cái ở đàng sau; như vậy, DABAR
vừa có nghĩa làm cho hiểu biết, vừa có nghĩa
cái ǵ mang sức mạnh.
DABAR là cái ǵ ở
đàng sau, và cũng là cái ǵ được phóng đẩy
ra trước; là cái chuyển-thành-hành-vi điều
đầu tiên ở trong trái tim, trong ḷng. DABAR là cái nền
tảng của một sự vật, là cái nghĩa riêng
của sự vật; và nghĩa này được diễn
tả bằng ngôn từ. Như vậy, mỗi lời
chứa đựng không chỉ ư nghĩa mà c̣n chứa
đựng một năng lực nữa. Theo Kinh Thánh, DABAR
là cái ra khỏi môi miệng (Ds 30:13; Gr 17:16) và là cái có
nguồn gốc trong ḷng con người (St 17:17; Tv 14:1; Gr
3:16). Dabar không chỉ diễn tả một tư
tưởng trừu tượng, nhưng c̣n diễn
tả t́nh trạng một tâm hồn.
Lời là diễn tả
"thân xác" của nội dung "linh hồn;”
đằng sau lời, có một hồn. Nếu một
người có tâm hồn cương nghị phát biểu lời,
th́ lời đó sẽ diễn tả nhiều thực
tại hơn lời của một người có tâm
hồn yếu nhược. Một người nói với
một người khác, là tạo một cái ǵ thuộc tâm
hồn họ nơi tâm hồn của người khác nghe
họ.[169]
Trong ngôn ngữ hiện
tại, Karl Buehler cho thấy:
· Lời có một nội dung; nó diễn tả hay tiêu
biểu cho một vật nào đó; nó đặt tên cho
một vật, diễn tả một tư tưởng,
một phán đoán, kể lại một câu chuyện.
· Lời c̣n là một lời mời gọi; lời
được ngỏ với ai, th́ có khuynh hướng
gợi lên nơi người đó một lời đáp
hay phản ứng.
· Lời mặc khải, bày tỏ một ngôi vị,
bày tỏ tâm t́nh bên trong của người nói, bày tỏ
lập trường của họ.
Như vậy, ba khía
cạnh này của lời tương hợp với ba ngôi
của một động từ: lời diễn tả
ngôi thứ nhất, lời kêu gọi ngôi thứ hai, và lời
tường thuật ngôi thứ ba.
Tóm lại, người
ta có thể định nghĩa: lời là một hành vi
bởi đó một ngôi vị ngỏ lời và diễn
tả ḿnh với một người khác, nhằm truyền
thông và thông cảm lẫn nhau.[170]
Ở Ai cập và
Lưỡng Hà Địa, lời là một thực thể
quyền uy. Lời thần linh, chính là sức lực
của thần linh mà con người không thể chống cưỡng
lại được. Lời của con người
cũng có năng lực, đặc biệt trong những
lời chúc lành hoặc chúc dữ, trong lời hứa,
lời thề! Lời của vua chúa có năng lực
hơn lời của người thường.
Trong Cựu Ước,
t́m thấy nhiều đoạn văn cho thấy năng
lực của lời:
· Isaac chúc lành cho Giacóp. Sự lầm lẫn không làm cho
lời đă nói mất giá trị, Isaac không thể rút
lời đă chúc phúc cho Giacóp (St 27).
· Bà mẹ của Mikayohu phải chúc phúc để hóa
giải lời nguyền rủa bà đă thốt ra
hướng về người ăn cắp, mà bà không
biết người ăn cắp lại là chính con bà (Tl
17:1tt).
· Lời nói của Đavít hướng về một
người bất kỳ nào đó được áp
dụng cho chính ông (2 Sm 12:1-8).
· Lời thề đi kèm theo h́nh phạt, nếu
một người thề gian, lời thề độc
sẽ ứng nghiệm trên người thề gian đó
(Ds 5:12-31).
Năng lực của
lời bắt nguồn từ năng lực của chính
ngôi vị nói. Ư muốn của ngôi vị nói
được chuyển tới thế giới bên ngoài cùng
với tất cả năng lực và tính chất của
lời được nói ra!
Lời của Yahweh là
nhân tố tác tạo trong suốt lịch sử dân Israel,
từ việc sáng tạo (St 1:3) đến việc
dựng lại đền thờ Yêrusalem (Is 44:28). Lời
của Yahweh kêu gọi Abraham, kêu gọi Môsê, đưa dân
Israel ra khỏi Ai cập, dẫn dân vào đất hứa,
gọi Samuel, tuyển chọn Đavít. Lời của Yahweh
là nhân tố chính trong lịch sử dân Israel theo Cựu Ước.
Lời của Yahweh là
một từ ngữ rất thông dụng trong các sách tiên
tri. Lời là đặc sủng của tiên tri, cũng
như Luật (Torah) là đặc sủng của tư
tế, và lời khuyên (khôn ngoan) là đặc sủng
của hiền nhân (Gr 18:18). Lời Yahweh không do tiên tri
nhưng do tự Thiên Chúa Yahweh, chính Ngài bắt tiên tri
phải nói (Am 3:8).
Lời của Yahweh
đối với tiên tri, khi th́ ngọt ngào (Gr 15:16), khi th́
như ngọn lửa đốt trong xương tủy
(Gr 20:7-9), khi th́ trở nên lời giận giữ phải
nói ra (Gr 6:11). Lời của Yahweh là chính Yahweh. Lời Yahweh
mà tiên tri nói có sức lật đổ và phá hủy (Gr
1:9-10). Lời của Yahweh không thể không thành tựu (Is
45:23; 55:10-11; 31:2); hơn nữa, Lời của Yahweh là lời
vĩnh cửu và ứng nghiệm (Is 40:8; Cf. Is 9:8).
Lời của tiên tri
đặt nền tảng trên mặc khải qua biến
cố, và mặc khải qua biến cố dẫn tới
lời. Lời của Thiên Chúa được ban cho con
người như một sứ mạng, như một
lời giáo huấn, như một người hướng
dẫn. Lời của Thiên Chúa là chủ lịch sử,
kiến tạo lịch sử, và vang vọng trong lịch
sử.[171] Phác
họa một lịch sử về Lời Thiên Chúa, là
đồng thời phác họa lịch sử mặc
khải.[172]
iii. Lời- phương
tiện mặc khải
Tất
cả các tiên tri đều có cảm thức đặc
biệt về Lời Chúa. Nhiều tiên tri diễn tả
tương quan với Thiên Chúa bằng thị kiến; các
ngài được Thiên Chúa nói với "trong thị
kiến và trong giấc mơ" (Ds 12:6tt; 1V 22:13-17; Am 1:1;
Ed 1:1; Nk 1:1; Kb 1:1). Một số khác cho rằng ḿnh
được Thiên Chúa nói với, c̣n bằng cách nào th́
không đề cập tới. Có những vị diễn
tả việc ḿnh có Lời Chúa bằng những h́nh
ảnh biểu trưng, chẳng hạn với tiên tri
Giêrêmia, Thiên Chúa đặt Lời Ngài vào miệng tiên tri (Gr
1:9); c̣n với Ezekiel, tiên tri đă ăn sách viết Lời
của Yahweh, sách vừa đắng vừa ngọt
đối với ông (Ed 2:9- 3:3).
b. Tiêu chuẩn nhận
biết tiên tri thật
Xét về phương
diện chủ quan, tiên tri thật là người xác tín
ơn gọi tiên tri của ḿnh, ơn gọi hiển nhiên
đến mức độ không thể nghi ngờ được,
họ cảm thấy bị bó buộc phải nói và hành
động nhân danh Thiên Chúa; sự bó buộc này
thường chống lại khả năng và khuynh
hướng b́nh thường của họ, nó đ̣i
buộc như bị bắt buộc phải nói hoặc
làm. C̣n nơi tiên tri giả, họ cho những điều
họ mơ tưởng và mong ước là mặc
khải, và họ cho ư họ là ư Thiên Chúa (Gr 23:23tt).
Xét về phương
diện khách quan, những điều tiên tri thật nói
phải ứng nghiệm (Đnl 18:21), và có sự
tương hợp giữa lời giảng dạy và
cuộc sống của vị tiên tri (như vâng phục
Thiên Chúa, từ bỏ ḿnh và những ǵ làm thoải mái cho
ḿnh).
Chính v́ lấy ư ḿnh làm ư
Chúa, cho nên tiên tri giả thường có câu trả lời
liền; c̣n tiên tri thật, phải chờ câu trả
lời từ Thiên Chúa (Gr 27-28).
Tiên tri luôn luôn và chính
yếu là người của thời hiện
tại đó, tức là cho những
người đương thời với các tiên tri,
chứ không phải là người cho thời quá khứ
hoặc tương lai.[173] Tiên
tri, người nói nhân danh Thiên Chúa cho dân, về những
điều Thiên Chúa muốn nói với dân.
Là người của
Thiên Chúa, được Thiên Chúa chiếm đoạt, tiên
tri có cái nh́n của Thiên Chúa. Tiên tri nói cho dân biết
tương quan giữa Thiên Chúa và dân, tương quan giữa
Thiên Chúa và vua, giữa Thiên Chúa và tư tế.
Tiên tri thấy rơ chứ
không mù quáng. Ngay khi bên ngoài tất cả dường như
rất trật tự và tốt đẹp, tiên tri vẫn
phân biệt được, nhận định và thấy
sự trống vắng đức tin và t́nh yêu đằng
sau những cái bên ngoài có vẻ tốt đẹp. Tiên tri
nhận ra sự bất hạnh nơi những cái có
vẻ hạnh phúc bên ngoài mà các tiên tri giả nơi
triều đ́nh loan báo. Tiên tri cũng là người loan báo
sự an ủi, và an ủi dân trong những cơn cùng
quẫn, khi bị lưu đày và những khi như thể
tuyệt vọng.[174]
Tiên tri nỗ lực duy
tŕ và củng cố chân lư giao ước, chống lại
mọi cám dỗ trao đổi giao ước của Thiên
Chúa lấy giao ước chính trị.[175] Tiên
tri lưu ư và cảnh cáo vua và các tư tế, để
họ đừng bất trung với giao ước, và
đừng an tâm với những yên ổn giả tạo.
Các tiên tri giải thích các tai ương và các thử thách,
không cho rằng chúng do những nguyên nhân bên ngoài t́nh cờ;
nhưng chúng là h́nh phạt Thiên Chúa trừng trị tội
lỗi của dân; những biến cố đó là những
biến cố mặc khải.
Có thể nói, các tiên tri
là những người nh́n lịch sử dân Israel
dưới cái nh́n giao ước; các ngài lấy giao
ước làm tiêu chuẩn phán đoán xem hành vi cư xử
của một người, của một triều
đại, có tốt hay không? xem họ có để cho ư
Thiên Chúa thể hiện nơi cuộc đời họ,
nơi quốc gia họ hay không?
Nói vậy không có
nghĩa là không biết các tiên tri thế kỷ thứ VIII
như Amos, Hôsêa, Isaia và Mikê, đă không nhắc đến
chữ giao ước. Tuy các vị đó không nhắc đến
chữ giao ước, nhưng các vị đă khai triển
nền thần học giao ước: tính ưu việt
của Yahweh, hành vi cứu độ của Yahweh, chỗ
đứng duy nhất của Israel xét như dân Thiên Chúa và
những đ̣i buộc đối với Yahweh.
Một số học
giả cho rằng, các tiên tri thế kỷ VIII tránh dùng
chữ giao ước, v́ người thời đó dễ
hiểu lầm rằng giao ước đ̣i Yahweh phải
làm tất cả những ǵ dân Israel thích.[176] C̣n
Mendenhall lại cho rằng, các tiên tri thế kỷ VIII không
nhắc đến chữ giao ước v́ trong
vương quốc Giuđa, giao ước với Israel
đă được thay thế bởi giao ước
với nhà Đavít; mà các tiên tri không muốn đồng hóa
giao ước của Yahweh với Israel, với giao
ước của Yahweh với Đavít; tiên tri sợ
rằng nếu các ngài dùng chữ giao ước, dễ
dẫn tới hiểu lầm rằng sự tồn
tại của dân lệ thuộc vào sự tồn tại
của vương triều Đavít.[177]
Với tiên tri Giêrêmia,
chữ giao ước xuất hiện lại. Giêrêmia c̣n nói
tới một giao ước mới, và coi tương lai
của Israel như lệ thuộc vào giao ước này (Gr
31:31-34). Giao ước này đề cao tương quan
của Yahweh với từng người. Giao ước
giữa Yahweh với dân Israel, đặt dân Israel thành dân
Yahweh; cũng vậy giao ước giữa Yahweh với
từng người, đặt mỗi người thành
người của Yahweh.
Cùng thời với
Giêrêmia, sách Đệ Nhị Luật nhấn mạnh nhiều
đến giao ước: người ta được
chúc lành hay chúc dữ là tùy người ta có giữ luật
hay không.
Trong truyền thống P
nơi Ngũ Kinh, giao ước được
đồng hóa với luật; trước đó,
truyền thống P đă tŕnh bày giao ước
dưới dấu hiệu cắt b́ (St 17:10). Truyền
thống P tŕnh bày toàn bộ lịch sử cứu
độ như một chuỗi giao ước, kể
cả giao ước với Nôe.
Các tiên tri nhớ lại
thời Xuất Hành, và coi đó là lư tưởng của xă
hội hiện tại. Tiên tri muốn xây dựng một xă
hội xứng với phẩm giá con dân Thiên Chúa: các
quyền của con người phải được tôn
trọng (1V 21), tất cả đều b́nh đẳng và
sống trong t́nh huynh đệ. Ḷng nhiệt thành với
công b́nh là một biểu lộ của ḷng tin vào Thiên Chúa;
chính Thiên Chúa sẽ nâng đỡ và xây dựng xă hội này
(Is 11:6-9; 19:23-25; Dcr 8).[178]
Các
tiên tri cảnh cáo mọi tầng lớp dân chúng (vua, tư
tế, dân chúng), để họ trở về với
Yahweh, đừng vi phạm giao ước của Yahweh
với Israel nữa. Các tội vi giao ước quy về
hai điều: thờ thần ngoại lai bỏ Yahweh,
bất công phạm đến anh em!
Êlia tố cáo Akhab đă
là nguyên nhân của nạn hạn hán. "Akhab nói với
Êlia: phải chăng chính là ngươi, con người giá
họa cho Israel? Êlia nói: không phải tôi đă giá họa cho
Israel, nhưng là ông và nhà cha ông, bởi đă lỗi
bỏ lịnh truyền của Yahweh, và ông đă
đi theo các Baal" (1V 18:18tt).
Không phải dân đă
bỏ hoàn toàn Yahweh để đi theo Baal, nhưng dân
đă baal hóa Yahweh, coi Yahweh như đồng hội
đồng thuyền với Baal, đến độ họ
đă đặt nữ thần Anat, vợ của Baal bên
cạnh Yahweh.[179] Êlia
đă nói thẳng với họ: Nếu Yahweh là Thiên Chúa, hăy
theo Ngài, c̣n như nếu là Baal, th́ các ngươi hăy theo nó
đi" (1V 18:21).
Tiên tri Giêrêmia cũng
tố cáo dân đă bỏ Yahweh để đi theo các
thần ngoại: "Há có dân nào tráo đổi thần
linh- mà nào chúng đâu phải thần linh, nhưng dân Ta
đă tráo đổi vinh quang của ḿnh với đồ
vô dụng.[180] Trời
ơi, hăy rụng rời trước sự này, hăy rởn
tóc, rất mực kinh hoàng- sấm của Yahweh, v́ dân Ta
đă làm hai điều bất hảo: chúng đă bỏ Ta
mạch nước hằng sống, để đào cho
ḿnh bể nước, nhưng các bể ṛ không chứa
được nước" (Gr 2:11-13).
Tội thờ quấy,
được tiên tri Hôsêa ví như tội ngoại t́nh, và
tiên tri Mikê coi như hành vi làm điếm tế thần
ngoại lai (Mk 1:4-7; Am 3:14tt; 4:4; 5:4.21; Is 1:10.21tt; Hs 4:15tt;
8:5tt; 9:15; 11). Bất công cũng được các tiên tri
phản đối mạnh (Mk 2:1tt; 2:8; 6:11tt; 3:1- 4:9; Am
4:1tt; 5:11; 8:4tt; Is 10:1tt; Hs 4:1tt; 7:1-7; 6:7).
Thiên
Chúa đă mặc khải qua biến cố xuất hành và
giao ước Sinai, Ngài là Thiên Chúa quyền năng, là
Đấng can thiệp vào ḍng lịch sử, Đấng giải
phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập, Đấng bảo
trợ dân, là Thiên Chúa của dân Israel, Đấng làm dân Israel
thành dân tư tế của Thiên Chúa, Đấng kư kết giao
ước với dân Israel, Đấng biến dân Israel thành
sở hữu của Ngài.
Thiên Chúa, trong thời
đại các thẩm phán, các vua và các tiên tri, tỏ cho
thấy Ngài là Thiên Chúa trung thành với giao ước. Dù dân
không giữ giao ước, dù dân phản bội bất
trung, th́ Thiên Chúa vẫn trung thành; Ngài không bỏ giao
ước dù dân đă không tuân giữ. Hơn nữa, Ngài là
người bảo vệ giao ước, giúp dân tuân
giữ giao ước; Ngài đă dùng những phương
tiện khác nhau để giúp dân trung thành với giao
ước, trung thành với Ngài, chẳng hạn như
cơ cấu vương quyền, cơ cấu tư
tế và các tiên tri; và nếu dân vẫn cứng ḷng, Ngài cho
những tai hoạ đến để cảnh cáo dân,
nhất là bằng biến cố lưu đày. Khi những
cơ cấu vương quyền và tư tế, làm dân bê
trễ không giữ giao ước, th́ Ngài băi bỏ
những cơ cấu đó, thậm chí cả ḥm bia,
đền thờ.
Thiên Chúa được
thấy trong giai đoạn này, là Đấng yêu thương
dân Israel vô cùng, và Người không bao giờ nở bỏ
dân:
"Mẹ nào lại
quên con đẻ của ḿnh? cạn ḷng thương
đối với con dạ nó không? cho dù chúng quên
được nữa, th́ phần Ta, Ta sẽ không
hề quên ngươi (Is 49:15).”
"Làm sao Ta nỡ
bỏ ngươi hỡi Ephraim, hay thí hẳn ngươi
đi, hỡi Israel! làm sao ta nỡ bỏ ngươi
như Adma, cho ngươi hóa tựa Xơboim? ḷng ta
đảo lộn trong Ta, và mối chạnh thương
sôi réo cả lên" (Hs 11:8).
Thiên Chúa là Thiên Chúa siêu
việt, Ngài không suy nghĩ và hành động như
người phàm, Ngài không cư xử với Ta như Ta
đáng tội: "Như trời cao hơn đất thế
nào, th́ tư tưởng Ta cũng vượt quá tư
tưởng các ngươi" (Is 55:9), "V́ Ta là Chúa,
chứ không phải người phàm" (Hs 11:9).
ii. Tương quan giữa con
người và Thiên Chúa
Israel được
gọi được chọn, được yêu
thương cưng chiều, là để thành bí tích cho
mọi dân mọi nước, nhằm giúp con người
nhận biết Yahweh là Thiên Chúa, là Đấng yêu thương
tất cả mọi người.
Con người chỉ
là tạo vật; đối với Thiên Chúa, con
người như đất sét với người
thợ gốm (Is 45:9tt). Con người, là tạo vật
được Yahweh Thiên Chúa yêu thương rất
mực, đặc biệt con người đây lại là
dân Israel. Nhưng con người, và đại biểu là
con dân Israel, thật cứng ḷng cứng cổ, luôn bất
trung cùng Thiên Chúa, luôn phản bội Ngài, phản bội
giao ước.
Tương quan giữa
con người và Thiên Chúa cũng là tương quan giữa
dân Israel và Yahweh. Tương quan này được diễn
tả qua một số h́nh ảnh!
· Tương quan "cha con"! Đây không phải là
tương quan tự nhiên theo nghĩa b́nh thường.
Israel không là con "theo bản tính" (phusis) nhưng là con
"được thừa nhận.” Đây là tương quan
t́nh yêu, ḷng sủng mộ, vâng phục.
· Tương quan "chồng vợ." Tương
quan này nhấn mạnh tính nhưng không khởi đầu
của Yahweh, v́ trong Cựu Ước, chồng
thường chọn vợ. Tương quan giữa Yahweh
và Israel là tương quan t́nh yêu; bất trung là phản
bội chống lại Yahweh. Tương quan này
được Hôsêa và Giêrêmia diễn tả cách đặc
biệt.
· Tương quan "chủ chiên đàn cừu.”
Tương quan này cho thấy Yahweh là người bảo
vệ. Đàn cừu tín thác vào người chăn, đi theo
người chăn và sẽ được no thỏa! Tiên
tri Ezekiel dùng h́nh ảnh này.
· Tương quan "họ hàng." Yahweh
được gọi là người báo thù, người
chuộc (Gôel) của Israel. Trong phong tục Do Thái,
người thân phải trả thù máu hoặc phải
bảo vệ tài sản người thân ḿnh. Yahweh không
chỉ xuất hiện như người bảo vệ,
nhưng c̣n như người thân của Israel.
· Tương quan "vua tôi.” Tương quan này hàm chứa
trong quan niệm Thiên Chúa cai trị dân Ngài, trong kiểu
gọi Yahweh là Chúa (Adonai, Kurios) trong giao ước.[181] Theo
truyền thống chấp nhận Israel có vương
quyền, vua cai trị dân thay Thiên Chúa.[182]
Một nét đặc
trưng của mặc khải thời các tiên tri, cho
thấy mặc khải chưa hoàn tất.
Mọi tầng lớp
dân đều ngóng chờ một vị thiên sai. Vị này
có thể là một tiên tri lớn như Môsê (Đnl 18:18),
hoặc một vị vua công chính mà trong nước của
Ngài sẽ có b́nh an hạnh phúc (Is 7; 9; 11), hoặc một
mục tử (tư tế) luôn đi t́m con chiên bị
lạc, băng bó con chiên bị thương, dẫn đàn
chiên đến đồng cỏ xanh tươi,
đến suối nước trong lành (Ed 34), hoặc là
người tôi tớ Yahweh chịu khổ nạn
để công chính hóa nhiều người, để
chuộc tội cho dân (Is 42:1-9; 49:1-6; 50:4-9; 52:13- 53:12),
hoặc con người từ trời xuống (Đn 7).
Giêrêmia cũng loan báo
một giao ước mới: "Sẽ tới ngày Ta
sẽ lập một giao ước mới với nhà Israel
và nhà Yuđa, không phải như giao ước ta đă kư
kết với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay chúng để
đem chúng ra khỏi Ai cập... Ta sẽ đặt
luật của Ta vào bên trong chúng, và Ta sẽ viết trên
trái tim chúng; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, c̣n chúng, chúng
sẽ là dân của Ta ..." (Gr 31:32-33; 32:39-40).
Cũng vào thời
lưu đày, tiên tri Ezekiel đề cập đến
thần khí mới, thần khí mà Thiên Chúa ban cho, sẽ làm
con người được sống. "Ta sẽ ban
Thần Khí của Ta xuống trên các ngươi. Và các
ngươi sẽ được sống" (Ed 37:14.5-6).
"Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm ḷng
mới. Bên trong các ngươi, ta sẽ ban một thần
khí mới, Ta sẽ cất tấm ḷng đá khỏi
thịt ḿnh các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi
một tấm ḷng thịt. Bên trong các ngươi, Ta sẽ
ban xuống Thần Khí của Ta. Và các ngươi sẽ
giữ các phán quyết của Ta, và sẽ thi hành. Các
ngươi sẽ lập cư trên đất Ta đă ban
cho cha ông các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của
Ta. C̣n Ta, ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi" (Ed
36:26-28).
Như luật, tiên tri,
là hiện tượng chung của cả vùng lân cận
của Do Thái, văn chương khôn ngoan và hiền nhân
cũng vậy.[183] Văn
chương khôn ngoan xuất hiện vào thiên niên kỷ
thứ hai nơi những dân tộc lân cận của Do
Thái; c̣n với dân tộc Do Thái, văn chương khôn ngoan
chỉ thịnh hành sau thời lưu đày và là
phương tiện mặc khải.[184]
a. Khôn ngoan- nguồn hạnh
phúc
Khôn ngoan đem lại
cho con người trường sinh bất tử, và cho con
người t́m thấy niềm vui. "Nhờ khôn ngoan, tôi
được trường sinh bất tử, để
lại cho hậu thế lưu niệm muôn đời không
phai... v́ với khôn ngoan, không có ǵ là cay đắng khó
chịu, chung sống với khôn ngoan, không có đau
phiền, trái lại chỉ có hoan lạc mừng vui"
(Kn 8:13.16).
Khổ đau, cực
nhọc, là do con người bỏ đường khôn
ngoan. "Bởi đâu, hỡi Israel, bởi đâu hỡi
Israel, bởi đâu mà ngươi lại ở trên
đất kẻ thù, già đi trên đất xa lạ? là v́
ngươi bỏ mạch khôn ngoan" (Br 3:10.12).
Khôn ngoan được
nhân cách hóa như một người đi rao giảng
ở ngă ba đường hoặc nơi phố chợ
(Cn 1:20tt; 8-9), và ai nghe khôn ngoan sẽ được chúc
phúc, ai t́m khôn ngoan sẽ được sự sống (Cn
8:34.35a), v́ khôn ngoan sẽ hướng dẫn họ trong
mọi hành vi, và ǵn giữ họ (Kn 9:11).
Người ta có thể
học biết khôn ngoan.[185]
Đầu mối của
khôn ngoan (Hc 1:14), gốc rễ của khôn ngoan (Hc.1:20), khôn
ngoan viên măn (Hc.1:16), là kính sợ Chúa.
Để được
khôn ngoan, phải kính sợ Chúa, và phải sống như
người con thảo (Tb 4:3-4; Cn 6:20; 23:20; 28:24; 19:26;
20:20), như người chồng tốt (Cn 5:1-23; 6:20-7:27;
23:27-28), như người cha tốt (Cn 29:13-21), như
một công dân tốt (Cn 25:8-10; 24:21-22). Phải biết vâng
theo lẽ phải (Cn 25:6-7), phải biết nghe lời giáo
huấn (Cn 1:8-9; 3:1; 4:13.20; 5:1; 12:1; 13:1v.v.) phải biết
nhận sự sửa phạt (Cn 13:24; 22:15; 23:13.14),
phải có tư cách đúng đắn (Cn 23:29-35), phải
sống công b́nh (Cn 16:8-11; 23:10.11; 22:23.28).
Con người có
thể trở nên khôn ngoan, có thể trở thành hiền
nhân; nhưng con người không làm chủ khôn ngoan; con
người không sở hữu khôn ngoan như một
vật tự nhiên.
Khôn ngoan không phát sinh do
con người, nhưng từ Thiên Chúa. "Khôn ngoan
nhất nhất đều do tự Chúa, và từ
đời đời hằng ở với
Người" (Hc 1:1).
"Ta (khôn ngoan) đă
xuất tự miệng Đấng tối cao, như áng mây Ta
đă bao trùm trái đất" (Hc 24:3). "Yahweh đă
dựng nên Ta, tiên thường của công tŕnh Người.
Từ trước mọi thời, ngay lúc khởi nguyên,
Người đă dựng nên Ta, và cho đến
đời đời, Danh Ta sẽ không phai” (Hc 24:9).
“Từ đời đời, Ta đă được
tấn phong, ngay từ đầu, trước khi
đất khai sinh" (Cn 8:22-23).
Khôn ngoan có những
phẩm tính của Thiên Chúa: là phản ánh của ánh sáng, là
hào quang phát tự vinh quang Thiên Chúa, là Thần Khí thông minh
thánh thiện. "Khôn ngoan là phản ánh sự sáng hằng
có, là gương không t́ ố rọi lại hoạt
động của Thiên Chúa, là h́nh ảnh của Thiên Chúa
toàn thiện" (Kn 7:26); "Khôn ngoan là khí thiêng xuất
từ quyền phép Thiên Chúa, là hào quang tinh ṛng tự vinh
quang Đấng toàn năng phát hiện, v́ thế không ǵ nhơ
uế lọt vào được trong" (Kn 7:25). "Có
trong khôn ngoan, Thần Khí thông minh thánh thiện, đơn
độc, đa phức, tinh tế, linh động, tinh
ṛng, vô t́ tích, trong suốt, bất khả xâm phạm."
(Kn 7:22). V́ vậy, con người phải nài xin Thiên Chúa ban
khôn ngoan của Ngài cho con người (Cn 2:6; Hc 1:8-10; Kn 9:4;
G 28:12-27).
Luật qua tư tế,
lời qua tiên tri, khôn ngoan qua hiền nhân, đều có nguồn
gốc nơi Thiên Chúa. Tất cả là hồng ân Thiên Chúa
ban cho con người, giúp con người nhận ra t́nh yêu
củaThiên Chúa, giúp con người sống tốt
để trở nên con Thiên Chúa. Các tác giả sách thánh vào
thời văn chương khôn ngoan, đă dung ḥa
được thao thức t́m kiếm khôn ngoan của
người thời đại, với truyền thống
lề luật và lời Thiên Chúa. Sách Huấn Ca đă
đồng nhất ba thực tại trên với nhau:
"Nguồn mạch khôn ngoan chính là lời Thiên
Chúa trên cao, và đường lối của khôn ngoan là lịnh
truyền hằng có” (Hc 1:5). Sự khôn ngoan đích
thực đối với người Do Thái, và sự khôn
ngoan này vượt trên các khôn ngoan của những dân
tộc lân cận, là kính sợ Thiên Chúa và giữ lệnh
truyền (lề luật, lời) của Ngài. Chính
điều này làm cho họ trở thành người khôn
ngoan thực sự, và được trường sinh
bất tử. Luật Thiên Chúa ban trên núi Sinai vẫn là
điều cốt cán với người Do Thái.
Luật,
tiên tri và khôn ngoan, là những thực tại xuất
hiện không chỉ riêng với người Do Thái, nhưng
cũng chung cho các dân tộc vùng cận đông. Điểm
đặc biệt của người Do Thái, là nhận ra
luật Torah như hồng ân Thiên Chúa ban cho những
người Ngài thương yêu tuyển chọn; tiếp
đến với đặc sủng tiên tri, dân Do Thái xác
tín rằng Lời Thiên Chúa được ban cho con
người, để dẫn dắt con người
đi trên đường công chính; và bây giờ với
văn chương khôn ngoan đang thịnh hành ở
phương đông, người Do Thái nhận ra rằng
khôn ngoan là hồng ân Thiên Chúa trao ban cho con người.
Trước
khi bước sang t́m hiểu mặc khải trong Tân
Ước, tóm lại sơ qua cái nh́n của Cựu
Ước xét như mặc khải của Thiên Chúa cho con
người:
Thiên Chúa sáng tạo
vũ trụ vạn vật và con người;
đau khổ và sự
chết là hậu quả của tội chống lại
Thiên Chúa; hạnh phúc đích thực của con người
tùy thuộc tương giao của con người
đối với Thiên Chúa;
Thiên Chúa đă yêu
thương và tuyển chọn Abraham: chính Ngài đă kêu
gọi và lập giao ước với Abraham, trở thành
Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Giacóp;
Thiên Chúa đă giải
phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập, Ngài trở thành
Đấng giải phóng, Đấng bảo trợ, Đấng
cứu chuộc dân;
Thiên Chúa đă lập
giao ước với dân Israel trên núi Sinai, đă ban lề
luật cho dân, đă làm dân Israel thành dân riêng của Ngài,
đă cho dân Israel thành dân tư tế, trở thành dân trung
gian giữa Thiên Chúa và các dân khác, đă làm dân Israel thành dân
qua đó các dân tộc khác được chúc phúc;
Thiên Chúa muôn đời
thành tín. Cho dù dân Israel có phản bội, th́ Ngài vẫn là
Thiên Chúa trung thành; Ngài ban các thẩm phán để cứu
dân, Ngài ban các tiên tri để giúp dân trở lại với
Ngài, để dân tuân giữ giao ước của Ngài
với dân;
Con người và dân
Israel luôn luôn phản bội, nhưng qua đó Thiên Chúa cho
thấy Ngài là Thiên Chúa giàu ḷng thương xót và nhân từ,
Ngài luôn tha thứ cho con người;
Thiên Chúa là Đấng ban
khôn ngoan đích thực cho con người; sự khôn ngoan
đích thực không chỉ nằm trên b́nh diện tri
thức ngọn nguồn sự vật, nhưng chủ
yếu hệ tại cuộc sống; sự khôn ngoan
đích thực là kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ lề
luật giao ước.
Tất cả Tân
Ước đều xây nền trên biến cố tử
nạn phục sinh của Đức Giêsu Nazareth. Đức tin
của mọi kitô hữu cũng đặt nền tảng
trên biến cố tử nạn phục sinh của
Đức Giêsu.
Chính nhờ biến
cố tử nạn phục sinh, mà các tông đồ
nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Các
tông đồ là những chứng nhân về biến cố
tử nạn phục sinh của Đức Giêsu; các ngài
đă đi rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh:
Đức Giêsu đă phục sinh từ cơi chết, Ngài là
Kitô và là Chúa.
Các tông đồ đă
thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Các ngài đă làm
chứng về những điều tai nghe mắt thấy
"Đức Giêsu Phục Sinh.” Các kitô hữu đă tin vào
Đức Giêsu Phục Sinh qua lời rao giảng, qua lời
chứng của các tông đồ. Đức tin của các tông
đồ và của các kitô hữu là một, thời xưa
cũng như thời nay.
Bốn Tin Mừng mang
tên các tông đồ, là đức tin của các tông
đồ, và cũng là đức tin của cộng
đoàn kitô hữu tiên khởi. Các tín hữu tin vào
Đức Giêsu Phục Sinh qua lời rao giảng của
các tông đồ. Họ tụ họp nhau để nghe các
tông đồ kể về Đức Giêsu, về cuộc
đời và những điều Ngài giảng dạy.
Một số tín hữu có học thức ghi lại
những ǵ các tông đồ rao giảng hoặc kể
về Đức Giêsu. Khi phần lớn các tông đồ
chết,[186] các
tín hữu tiên khởi sợ rằng những điều
các tông đồ rao giảng và làm chứng bị mai
một theo thời gian, nên một số người đă
thâu lượm những lời kể của các tông
đồ về Đức Giêsu, cũng như những
lời giáo huấn của Đức Giêsu mà các tông
đồ đă thuật lại, và san định thành sách.
Đó là lịch sử h́nh thành các tin mừng, phản ánh
đức tin của các kitô hữu sơ khai cũng như
đức tin của các tông đồ.
a. Đức Giêsu Nazareth phục
sinh
Biến cố tử
nạn phục sinh của Đức Giêsu Nazareth đều
được bốn tin mừng ghi lại qua tŕnh
thuật thương khó, mồ trống và những lần
hiện ra.
Đức Giêsu đă bị
bắt vào ban đêm tại vườn dầu (Mc 14:32-52; Mt
26:36-56; Lc 22:40-53; Ga 18:1-11). Ngài được dẫn
tới dinh Hanna, là nhạc phụ của thượng
tế Caipha (Ga 18:13); sau đó Ngài được điệu
tới dinh thượng tế Caipha (Ga 18:24) và bị
kết án tử ở ṭa Công Nghị Do Thái (Mc 14:53-65; Mt
26:57-68; Lc 22:54tt). Sáng đến, Ngài được
điệu đến dinh tổng trấn Philatô (Ga 18:28; Mc
15:1; Lc 22:66; Mt 27:1-2); sau đó Ngài được chuyển
đến ṭa của Hêrôđê (Lc 23:8-12); rồi Ngài lại
được chuyển về cho Philatô (Ga 18:38tt; Mc 15:6-15;
Mt 27:15-26; Lc 23:13-25). Ngài bị kết án tử ở ṭa án
Roma bởi Philatô, v́ ṭa công nghị Do Thái không có quyền
kết án tử h́nh.
Ở trước ṭa
công nghị người Do Thái, Đức Giêsu bị kết án
tử h́nh v́ tội phạm thượng (Mc 14:62-64 và //);
nhưng ở trước ṭa án Roma, Đức Giêsu bị cáo
với tội phản loạn xưng vua (Ga 18:12 và //) và bị
kết án tử với tội danh này. Đức Giêsu vác
thập giá (Ga 19:17-24; Mc 15:21-32; Mt 27:32-44), bị đóng
đinh thập giá. Ngài đă chết trên thập giá và
được mai táng bởi Giuse Arimathia (Mc 15:42tt và //).
ii. Mồ trống và những
lần hiện ra
Đức Giêsu đă
chết và được mai táng vào ngày thứ sáu; ngày
thứ bảy là ngày sabat của người Do Thái nên không
có ai ra thăm mộ Ngài; vào sớm ngày thứ nhất trong
tuần,[187] các
chị phụ nữ ra thăm mộ và thấy mồ
trống, không thấy xác Đức Giêsu đâu (Mc 16:1-8; Mt
28:1-8; Lc 24:1-12; Ga 20:1-10).
Đức
Giêsu Nazareth chết trên thập tự và mộ trống, là sự kiện đă được nhiều
người xác nhận, nghĩa là, đây là những
sự kiện đă được kiểm chứng.
Đức Giêsu Phục Sinh
không hiện ra cho tất cả mọi người,
nhưng Ngài chỉ hiện ra cho một số
người. Ngài đă hiện ra cho các tông đồ ngay
chiều ngày thứ nhất trong tuần, nhưng lần
này vắng mặt Thomas (Ga 20:19-25). Không thể tin
được chuyện người chết sống
lại, tông đồ Thomas đă nói: "Nếu nơi tay
Ngài, tôi không thấy các dấu đinh, và tra tay tôi vào lỗ
đanh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi
sẽ không tin" (Ga 20:25). Tám ngày sau, tức cũng vào ngày
thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu lại hiện ra
cho các tông đồ, và lần này có cả Thomas nữa,
Đức Giêsu Phục Sinh đă mời Thomas làm điều
ông muốn để kiểm chứng rằng Ngài đă
sống lại, nhưng Thomas đă thốt lên lời tuyên
xưng: "Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi" (Ga
20:28).
Theo tin mừng Gioan,
Đức Giêsu Phục Sinh c̣n hiện ra và chuẩn bị
bữa sáng cho các tông đồ sau khi các ngài đi đánh cá
ở hồ Tibêria (Ga 21:1 tt). Theo tin mừng Luca, Đức
Giêsu Phục Sinh đă hiện ra cho hai môn đệ trên
đường Emmau, Ngài cũng hiện ra trước
đó cho Simôn, và cho các tông đồ, cùng ăn trước
mặt họ (Lc 24:1 tt). Theo tin mừng Matthêu, Đức Giêsu
đă hiện ra cho nhóm phụ nữ (Mt 28:9tt và //); và Ngài
cũng đă hiện ra cho các tông đồ, cùng dạy
họ đi rao giảng và làm phép rửa nhân danh Ngài (Mt
28:16-20). Với mệnh lệnh đi rao giảng thâu
nạp môn đồ khắp muôn dân này, các tông đồ
đă trở thành nhân chứng của Đức Giêsu
Phục Sinh, và tin mừng "Đức Giêsu phục sinh" đă
được loan truyền khắp thiên hạ.
Tử nạn phục
sinh của Đức Giêsu là sự kiện, nhưng là sự
kiện đức tin, biến cố đức tin.
Đức Giêsu Phục Sinh không hiện ra cho tất cả mọi
người, thế nên để tin Đức Giêsu phục
sinh, người ta cần ân sủng của Thiên Chúa,
cần tác động của Chúa Thánh Thần để tin
vào lời rao giảng của các tông đồ và những
người kế vị các ngài. Mầu nhiệm cứu
độ được thực hiện qua trung gian con
người với ân sủng của Thánh Thần.
Đức tin của kitô
hữu hiện thời, cũng là đức tin của các
kitô hữu tiên khởi, và cũng là đức tin của
các tông đồ. Có thể nói, đức tin của các tông
đồ được diễn tả qua năm bài
giảng được ghi lại trong sách Công Vụ các
tông đồ:
· Lời rao giảng của Phêrô sau khi nhận lănh Thánh
Thần trong ngày lễ ngũ tuần (Cv 2:14-39);
· Lời rao giảng của Phêrô ở đền
thờ sau khi chữa lành người què ở đền
thờ (Cv 3:12-26);
· Lời rao giảng của Phêrô trước công
nghị Do Thái sau khi Ngài chữa lành người què và
bị bắt (Cv 4:9-12);
· Lời giảng của Phêrô trước công nghị
sau khi được thiên thần giải phóng khỏi tù
để tiếp tục rao giảng trong đền
thờ (Cv 5:29-32);
· Lời rao giảng của Phêrô tại nhà Cornêliô (Cv
10:34-43).
Trong sách Công vụ tông
đồ, và đặc biệt trong năm bài giảng,
luôn luôn thấy lặp đi lặp lại khẳng
định: các tông đồ là những chứng nhân phục
sinh của Đức Giêsu Kitô (Cv 1:8.22; 2:32; 3:15; 5:32; 10:39.41;
13:31 v.v.):
· Cv 1:8: Các ngươi là chứng nhân cho Ta ở
Giêrusalem và mút cùng bờ cơi trái đất.
· Cv 2:32: Thiên Chúa đă phục sinh Đức Giêsu. Chúng tôi
là chứng nhân của những điều này, chúng tôi và
Thánh Thần.
· Cv 4:20: Chúng tôi không thể không nói về những
điều đă thấy và đă nghe.
· Cv 10:39: chúng tôi là chứng nhân về những
điều Ngài đă làm trong vùng người Do Thái và ở
Giêrusalem.
Là tông đồ,
nghĩa là, chứng nhân của Đức Giêsu Phục Sinh; v́
vậy tiêu chuẩn để chọn một người
thay thế Giuđa Iscariot, phải là người đă
đồng hành với các tông đồ suốt thời
gian mà Đức Giêsu đă ra vào giữa các Ngài (Cv 1:21-22).
Bây
giờ xét kỹ một bài rao giảng của Phêrô
để thấy rơ trọng tâm lời rao giảng của
các tông đồ, chẳng hạn Cv 2:14-40:
· Cv 2:14-21: lời kêu gọi dân chúng, lư do;
· Cv 2:22-24: nội dung chính của lời rao giảng
"Đức Giêsu, Đấng anh em đă nộp và giết
đi, Thiên Chúa đă làm cho Ngài sống lại;"
· Cv 2:25-28: trích dẫn Tv 16 để minh chứng;
· Cv 2:29-31: chú giải thánh vịnh hướng về
Đức Giêsu;
· Cv 2:32-33: trở lại lời rao giảng và làm rơ
hơn;
· Cv 2:34-35: trích dẫn Tv 110 để minh chứng
khẳng định;
· Cv 2:36: trở lại lời rao giảng, kêu gọi
dân chúng tin vào sự kiện phục sinh của Đức Giêsu
"Thiên Chúa đă đặt làm Chúa và làm Kitô, Đức Giêsu
mà các người đă đóng đinh kia" (Cv 2:32).
Không phải chỉ
một ḿnh Phêrô làm chứng, nhưng tất cả các tông
đồ, tập thể những người đă đi
theo Đức Giêsu, những người đă sống với
Ngài, đă chứng kiến Ngài chịu khổ h́nh, và
cũng là những người đă thấy và sống
với Đức Giêsu Phục Sinh.
Đức Giêsu Phục Sinh
đó, "Thiên Chúa đă đặt làm Chúa và làm Kitô,"
Người mà các ông đă đóng đinh (Cv 2:36), Ngài
"được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa" (Cv
2:33). Đây là cách diễn tả hữu h́nh một thực
tại vô h́nh: "ngự bên hữu Thiên Chúa." Thiên Chúa
là Đấng thiêng liêng! Ngự bên hữu ai, là ngang hàng với
người ấy. Đức Giêsu Phục Sinh được
siêu tôn trên tất cả, để được ngự
bên hữu Thiên Chúa.
Khi Đức Giêsu Nazarét c̣n
sống, Ngài đă được coi là một tiên tri, là
đấng Thiên Sai,[188] là
con Thiên Chúa;[189] c̣n
với biến cố phục sinh, các tông đồ đă
nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa.
Đức Giêsu bắt
đầu sứ mạng của Ngài với cách thức
của một tiên tri. Như Giôna rao giảng thống
hối, và như Gioan tẩy giả, Đức Giêsu bắt đầu
rao giảng: "hăy thống hối và tin vào tin mừng, v́
Nước Trời đă gần đến" (Mc 1:14-15;
Mt 4:17).
Trong hội
đường tại Nazarét, Đức Giêsu đă dùng bản
văn trong sách đệ nhị Isaia nói về vị thiên
sai tiên tri để áp dụng cho chính ḿnh: "Thánh Thần
Chúa ngự trên tôi, Ngài đă sai tôi đi rao giảng tin
mừng cho người nghèo khó" (Lc 4:18-19 cf. Is 61:1 tt).
Dân thành Naim, sau khi thấy Đức Giêsu làm cho con trai bà góa
sống lại, đă đồng thanh nói "một tiên
tri cao cả đă xuất hiện giữa chúng ta" (Lc
7:16). Các tông đồ cũng xác nhận sự kiện dân
chúng cho rằng Đức Giêsu là một tiên tri (Mt 16:14).
Biệt phái và tư tế không dám bắt Ngài khi Ngài đang
rao giảng, v́ dân chúng coi Ngài là một tiên tri (Mt 21:46). Hai
môn đệ Emmau cho rằng Đức Giêsu là vị tiên tri
quyền năng trong lời nói và hành động (Lc 24:19).
Dân chúng cũng cho rằng Đức Giêsu là vị tiên tri
phải đến mà mọi người đợi trông
(Mt 21:10-11 cf. Đnl 18:18).
Tuy Đức Giêsu không
tự nhận ḿnh là một tiên tri, nhưng Ngài tiên đoán
số phận của Ngài là số phận của một
tiên tri: bị khinh khi nơi quê hương xứ sở (Mt
13:57) và bị chết ở Yêrusalem (Lc 13:33).
Xét như người
mặc khải, Ngài lớn hơn Giôna (Mt 12:40), lớn
hơn Môsê và Êlia (cf. Mc 9:2-10; Mt 17:1-13; Lc 9:28-36), lớn
hơn Đavít (Mc 12:35-37 và //), và lớn hơn Gioan tiền
hô[190] (Lc
7:18-23 và //). Đức Giêsu là Đấng kiện toàn lề
luật và các tiên tri (Mt 5:17); Ngài không nói "Yahweh phán..."
như các tiên tri đă thường nói, nhưng Ngài lại
nói: "c̣n ta, Ta bảo các ngươi" (Mt 5:22.28.32);
"Ngài giảng dạy như một Đấng có uy
quyền" (Mc 1:27).
Kitô (CristoV) hay Massiah,[191] có
nghĩa là "được xức dầu." Trong
truyền thống Do Thái, người "được
xức dầu" là:
· vua, được Thiên Chúa trao ban sứ mạng (1Sm
10:1tt; 16:1tt; 1V 1:39; 2V 9:6; 11:12),
· thượng tế (Xh 29:7. 29; Lv 4:3. 5. 16; 8:12 cf. Dcr
4:14) hoặc các tư tế (Xh 30:30; 28:41; 40:15; Lv 7:36; 10:7;
Ds 3:3),
· các tiên tri (Is 61:1tt).
Các vị vua
thường được các tư tế hay tiên tri
xức dầu (cf. 1Sm 16:13; 1V 1:39; 2V 9:6). Aharon và các con ông,
được Môsê xức dầu tấn phong làm tư
tế (Xh 30:30). Các tiên tri, những người của
Thần Khí (Hs 9:7), nên việc xức dầu của tiên tri
cũng là việc của Thần Khí (Is 61:1tt).
Thời Đức Giêsu,
người Do Thái sống dưới ách đô hộ
của người Roma, nên họ vẫn mong Thiên Chúa sai
Đấng Thiên Sai Vua tới để giải phóng họ
khỏi ách thống trị của người Roma.
Niềm khao khát mong muốn có Đấng Thiên Sai Vua rất
mạnh đối với người Do Thái trong thời
điểm này. Điều này có thể được
thấy qua việc Gioan tẩy giả sai người
thỉnh vấn xem Đức Giêsu có phải là Đấng
phải đến không (Lc 7:19-20), và qua biến cố dân
chúng muốn tôn Đức Giêsu làm vua sau khi Ngài làm phép
lạ hóa bánh ra nhiều (Ga 6:15).
Các tông đồ cũng
cho rằng Đức Giêsu là Kitô.[192] Đức
Giêsu chấp nhận đúng là như vậy, nhưng Ngài
không muốn cho dân chúng biết (Mt 16:20), v́ họ
thường hiểu Kitô theo nghĩa Kitô Vua chính trị,
Đấng đến để giải phóng họ khỏi
bị người Roma đô hộ.
Dân chúng khi rước
Đức Giêsu vào thành Giêrusalem long trọng, là tiếp
đón Ngài như một vị vua thiên sai (Mt 21:1-11). Ngài
ngồi trên lưng lừa, theo như tiên tri Zacharia loan báo
(Dcr 9:9), để khẳng định tính vua thiên sai
của Ngài, nhưng không như người ta mong
đợi. Trước ṭa Philatô, chính Đức Giêsu
đă nhận "tôi là vua, chính v́ lẽ này mà tôi sinh ra...
nhưng nước tôi không thuộc về thế gian
này" (Ga 18:37.36).
Đức Giêsu là Kitô, là
Đấng Thiên Sai, là Đấng Giải Phóng; Ngài đến không
phải để giải phóng con người khỏi ách
nô lệ chính trị, nhưng để giải phóng con người
khỏi tội, khỏi làm nô lệ ma quỷ; Ngài là vua,
nhưng là vua trong ḷng mọi người.
Với biến cố
phục sinh của Đức Giêsu, các tông đồ có cái nh́n
mới về Đức Giêsu. Trước các ngài thấy
Đức Giêsu là một tiên tri, là đấng Kitô; nhưng
với biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, và những
lần tiếp xúc với Ngài sau khi Ngài phục sinh, các tông
đồ c̣n thấy cái ǵ hơn nữa. Các tông đồ
đă nhớ lại những lời nói của Ngài,
những việc Ngài đă làm, và đă nhận ra Ngài là Con
Thiên Chúa theo nghĩa rất đặc biệt.
Từ ngữ
"một Thiên Chúa ba ngôi vị" cũng như từ
ngữ "Đức Giêsu đồng bản tính với Thiên
Chúa," là những phạm trù thần học có sau này;
nhưng nội dung đức tin "Đức Giêsu là Thiên
Chúa," đă có nơi các tông đồ với kinh
nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh.
Chỉ có một ḿnh
Thiên Chúa có thể tha tội; thế mà Đức Giêsu đă tha
tội! Đức Giêsu phạm thượng hay Đức Giêsu là
Thiên Chúa? Khi chữa lành người bất toại,
Đức Giêsu nói "tội lỗi của con đă
được tha" (Mc 2:5); và khi bị phản
đối, Ngài nói "để các ông biết con
người có quyền tha tội dưới đất-
Ngài nói với người bất toại- Ta bảo
ngươi, hăy chỗi dậy vác chơng mà về nhà" (Mc
2:9-11). Nếu Đức Giêsu phạm thượng, chắc
chắn Ngài không thể làm phép lạ chữa lành
người bất toại được. Đây cũng là lư
luận của người mù từ thuở mới sinh (Ga
9:1tt); anh ta đă trả lời tương tự như
thế khi người biệt phái và kư lục muốn anh
ta nói rằng Đức Giêsu là người tội lỗi:
"Điều này quả cũng lạ! Các ông lại không
biết ông ấy tự đâu ra! ông ấy đă mở
mắt cho tôi! chúng tôi biết Thiên Chúa không nhậm lời
những hạng tội lỗi, nhưng ai thờ Chúa và làm
theo ư Người, th́ Người nhậm lời kẻ
ấy. Không đời nào thiên hạ đă nghe ai mở
mắt đứa mù từ thuở mới sinh. Nếu ông
ấy không bởi Thiên Chúa mà đến, th́ đă chẳng
làm được ǵ" (Ga 9:30-33).
Đức Giêsu, khi sinh
thời, Ngài đă nói: "Ta và Cha là một."
"Người Do Thái lại lấy đá ném Ngài v́...
lời phạm thượng! ông là người phàm mà dám cho
ḿnh là Thiên Chúa" (Ga 10:30.31.33).
Khi thẩm vấn
Đức Giêsu trước công nghị Do Thái, vị
Thượng Tế hỏi Đức Giêsu: "Ông là Đức
Kitô Con Đấng đáng chúc tụng ư? Đức Giêsu đáp
lại: Chính là tôi! và các ông sẽ thấy Con Người
ngự bên hữu Đấng quyền năng và đến
với mây trời. Thượng tế mới xé toạc
phẩm phục của ḿnh ra và nói: Nào c̣n cần ǵ
đến nhân chứng nữa! Các người vừa nghe
lời phạm thượng! Các ngài thấy sao? Họ
đều quyết nghị Ngài can án chết" (Mc
14:61-64).
"Con người
ngự bên hữu Đấng quyền năng," đây
là lời nói cho thấy Đức Giêsu ư thức thân phận
ḿnh, cao hơn mọi tạo vật, ngang hàng với Thiên
Chúa quyền năng. Chính v́ vậy mà các người trong
công nghị mới cho rằng Đức Giêsu phạm
thượng, và đáng bị kết án tử h́nh.
Với biến cố
Đức Giêsu Phục Sinh, lời Đức Giêsu đă nói khi sinh
thời được bảo đảm là lời chân
thực, được Thiên Chúa bảo đảm. V́
nếu Ngài nói lời gian dối, th́ Thiên Chúa đă chẳng
phục sinh Ngài từ cơi chết; chính biến cố
tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu, làm các tông
đồ nhận ra rằng, Đức Giêsu là Kitô, là Chúa, là
Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa theo
nghĩa rất đặc biệt (tử hệ thần
linh), là Thiên Chúa.
iv. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
Tước hiệu
"con Thiên Chúa" đă được dùng nhiều trong
Cựu Ước. Nó không thiết yếu diễn tả
tử hệ bản tính (nguồn gốc thần linh
của người hay ngôi vị được gọi);
nó có thể chỉ là tử hệ thừa nhận, là kết
quả của việc tuyển chọn của Thiên Chúa
đối với tạo vật trong một tương
quan đặc biệt. Trong nghĩa này, tước
hiệu "con Thiên Chúa" đă được gán cho các
thiên thần (G 1:6; Đnl 32:8), cho dân được
tuyển chọn (Xh 4:22; Kn 18:13; Đnl 1:31; 7:6), cho
người Israel và những người công chính (Đnl
14:1; Hs 2:1 cf. Mt 5:9.45), cho các vị thủ lănh (Tv 82:6), cho
vị vua thiên sai (1Sb 17:13; Tv 2:7; 89:27).
Như vậy,
tước hiệu này không hàm chứa người
được gọi mang thần tính. Trường
hợp Đức Giêsu được gọi là "con Thiên
Chúa," cũng được hiểu như vậy. Không
thể đ̣i hỏi từ ngữ "con Thiên Chúa" mà
Satan gọi Đức Giêsu (Mt 4:3.6), hay các thần ô uế (Mc
3:11; 5:7; Lc 4:41), hay của viên bách quản (Mc 15:39; Lc 23:47),
hàm chứa chỉ Đức Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính.
Và câu hỏi của thượng tế trước ṭa công
nghị (Mt 26:3), cũng không vượt qua ư nghĩa thiên
sai.
Tuy vậy, tước
hiệu "con Thiên Chúa" có thể được
hiểu theo một nghĩa rất đặc biệt,
như tử hệ theo bản chất. Đức Giêsu trong
dụ ngôn những người làm vườn nho giết
người, đă tự nhận ḿnh như người
con thừa tự duy nhất (Mc 12:6; Mt 21:37);
Đức Giêsu có Thiên Chúa là Cha cách rất đặc biệt
(Ga 20:17; Mt 7:21; 10:32-33; 11:27; 12:50); Ngài là con cưng, con chí ái
(Mc 1:11 và //; Mt 3:17; 17:5); Ngài là người con duy nhất có
chỗ đứng đặc biệt và có trách nhiệm
đặc biệt: "không ai biết Con trừ ra Cha, và
không ai biết Cha trừ Con và những người Con
muốn mặc khải cho" (Mt 11:25-27). Động
từ ginoskein và epiginoskein chỉ sự biết bằng kinh nghiệm và
bằng đời sống thân thiết. Những lời
trên, cộng thêm với những lời khác về phẩm
tính thiên sai thần linh của Ngài, và tất cả
được xác chuẩn bởi biến cố phục
sinh, làm cho từ ngữ "con Thiên Chúa" nơi Đức
Giêsu mang ư nghĩa chỉ tử hệ theo bản tính
thần linh.[193]
Chỉ với ánh sáng
của biến cố phục sinh, các tông đồ mới
nhận ra ư nghĩa thâm sâu của tước hiệu
"Con Thiên Chúa" nơi Đức Giêsu.
V́ là Lời nhập
thể, Đức Giêsu đă mặc khải Thiên Chúa cách
tuyệt vời. Không có Đức Giêsu, con người không
thể biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị.
Với ánh sáng phục
sinh, tông đồ Gioan đă nhớ lại lời Đức
Giêsu đă nói với Nicôđêmô vào ban đêm: "Thiên Chúa
đă yêu mến thế gian, đến đỗi đă ban
Con Một của Ngài, ngỏ hầu mọi kẻ tin vào
Ngài th́ không phải hư đi, nhưng được
sự sống đời đời" (Ga 3:16).
Trong lời cầu
nguyện trước khi chịu khổ h́nh, Đức Giêsu
đă nói: "sự sống đời đời là chúng
nhận biết Cha, Thiên Chúa đích thực và độc
nhất, và Đấng Cha sai đến, Giêsu Kitô" (Ga 17:3).
Đức Giêsu là Lời
Thiên Chúa cứu độ con người. Ngài mặc
khải Cha: "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (Ga
14:9), "Không ai biết Cha trừ Con và những người
Con muốn mặc khải cho" (Mt 11:25-27; Ga 14:6-7). Con
người biết ǵ về Thiên Chúa, là biết qua
Đức Giêsu Kitô, và biết trong Đức Giêsu Kitô. Không có
tri thức đích thực về Thiên Chúa nếu không qua
Lời Thiên Chúa, và cụ thể là qua Đức Giêsu Kitô.
Biết Thiên Chúa, là biết Ngài yêu thương con người
vô cùng.
Đức Giêsu đă
mặc khải Thánh Thần. Ngài nói về Thần Khí
như một ngôi vị: "Và ai có nói lời nghịch
đến Con Người, điều đó có thể tha
thứ được cho người ấy; nhưng
nếu ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều
ấy sẽ không tha thứ cho người đó,
đời này cũng như đời sau" (Mt 12:32).
Theo tin mừng Gioan,
Đức Giêsu cho thấy chân tướng của Thánh
Thần. Thánh Thần đến từ Cha, Ngài
được gọi là Đấng Bầu Chữa khác (Ga
14:16). Đấng Bầu Chữa, là Thần Khí Sự Thật,
là quà tặng Thiên Chúa ban cho con người, cũng như
Con Một của Thiên Chúa cũng được ban
tặng con người (Ga 14:16; 3:16), để ở
với con người luôn măi. Thánh Thần, Đấng Bầu
Chữa, được Cha sai đến nhân danh Đức
Giêsu, với sứ mạng dạy và nhắc nhớ:
"Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai nhân
danh Ta, Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và
sẽ nhắc lại cho các ngươi mọi điều
chính Ta đă nói" (Ga 14:26).
Thánh Thần,
được Đức Giêsu gởi tới, để làm
chứng cho Đức Giêsu:
"Đấng Bầu
chữa, khi Ngài đến, Ngài mà Ta sẽ từ nơi Cha
gởi đến, Thần Khí Sự Thật, Đấng
tự Cha mà xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta"
(Ga 15:26);
"C̣n nếu Ta đi,
Ta sẽ sai Ngài đến cùng các ngươi" (Ga 16:7);
sứ mạng của
Thánh Thần là "biện bác thế gian về tội,
về sự công chính, về án xử" (Ga 16:8).
"Ngài sẽ dẫn
các ngươi vào tất cả sự thật... Ngài sẽ
làm Ta được vinh hiển... Ngài sẽ lấy
của Ta mà thông báo cho các ngươi" (Ga 16:13.14).
Thánh Thần có cùng
nguồn gốc với Đức Giêsu, cùng được Cha
sai (Ga 14:26; 17:3). Cả hai cùng được trao ban sứ
mạng. Đức Giêsu luôn lấy ư Cha làm ư ḿnh, làm của
ăn, và Ngài chu toàn công việc Cha giao phó (Mt 26:39 //; Mc 14:36;
Ga 4:34; Ga 17:4). Thánh Thần được sai đến
để ở với con người, để làm
chứng cho Đức Giêsu (Ga 14:16; 15:26).
Sau biến cố
phục sinh, Đức Giêsu Phục Sinh đă ban Thánh Thần
cho các tông đồ (Ga 20:22), và khi tới thời đă
định, Thánh Thần tỏ hiện quyền năng
của Người trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1tt).
iii. Hội Thánh tiếp
tục công tŕnh của Ngài
Thiên Chúa là Đấng yêu
mến thế gian, yêu mến con người đến
cùng cực, Ngài muốn con người được
sống đời đời. Chính để cứu độ
con người, mà ngôi Lời đă nhập thể làm
người, và để tiếp tục công tŕnh cứu
độ, Ngài đă thiết lập Hội Thánh và Thánh
Thần của Ngài vẫn luôn hoạt động nơi
Hội Thánh trên trần gian.
Đức Giêsu đă
tuyển chọn nhóm mười hai, để họ ở
với Ngài và để Ngài sai đi rao giảng (Mc 3:14).
Giữa nhóm mười hai này, Phêrô được chọn
như người đại diện: "C̣n tôi, tôi
bảo ông: ông là Đá (Phêrô) và trên đá ấy tôi sẽ xây
Hội Thánh của tôi, và cửa âm phủ sẽ không
thắng được. Tôi sẽ trao cho ông ch́a khóa
Nước Trời" (Mt 16:18-19).
Simon Phêrô cũng
được Đức Giêsu trao nhiệm vụ củng
cố đức tin của anh em ḿnh: "Simon, Simon, này
Satan đă đ̣i được các ông, để quày cho
một trận như sàng lúa, nhưng tôi đă cầu xin
cho ông, để ḷng tin của ông không bị sờn núng.
Phần ông, khi trở lại rồi th́ lo cho anh em ông
được vững mạnh" (Lc 22:31-32); và hơn
nữa, Phêrô c̣n được trao trọng trách chăn
cả chiên con lẫn chiên mẹ (Ga 21:15.16.17).
Về phần các tông
đồ, Đức Giêsu nói: "Các ông là những
người hằng bền đỗ ở với tôi
giữa các cơn thử thách tôi phải chịu; và tôi cho
các ông thông chia quyền Nước tôi, như Cha tôi đă
thông ban cho tôi, các ông sẽ được ăn uống
nơi bàn tiệc tôi, trong Nước của tôi, và các ông
sẽ được ngự trên ngai mà đoán xét
mười hai chi tộc Israel" (Lc 22:28-30).
Sứ mạng của
các tông đồ cũng được Đức Giêsu lập
lại rơ ràng sau khi Ngài phục sinh: "Cũng như Cha
đă sai Ta, Ta cũng sai các ngươi" (Ga 20:21). Theo tin
mừng Matthêu, lần cuối cùng hiện ra với các tông
đồ, Đức Giêsu cũng nói: "Mọi quyền
năng trên trời dưới đất đă
được trao ban cho Ta. Vậy các ngươi hăy đi
thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng,
nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng giữ hết mọi
điều Ta đă truyền cho các ngươi" (Mt
28:18-20).
Theo tin mừng Gioan, trong
những lời tâm huyết cuối cùng, Đức Giêsu đă
nói về Đấng Bầu chữa, Thánh Thần sự
thật. Đức Giêsu hứa sẽ sai Đấng Bầu
Chữa đến khi Ngài ở bên Cha, và Thần Khí sự
thật sẽ làm chứng cho Ngài (Ga 15:26). Đức Giêsu c̣n
nói thêm: "Và các ngươi cũng sẽ làm chứng, v́
từ ban đầu các ngươi hằng ở với
Ta" (Ga 15:27).
Chỉ với biến
cố Thánh Thần tỏ hiện trong ngày lễ Ngũ
Tuần, các tông đồ và đại diện là Phêrô,
mới can đảm đứng lên rao giảng làm
chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh (Cv 2:1tt). Phải
chăng nếu Thánh Thần không được ban cho các
tông đồ, các tông đồ đă không đủ can
đảm và khôn ngoan làm chứng cho Đức Giêsu Phục
Sinh; cũng có thể nói: chính Thánh Thần đă làm
chứng về Đức Giêsu Phục sinh qua các tông
đồ, qua những người kế vị các Ngài, và
qua những kẻ tin vào Đức Giêsu Phục Sinh. Chính các
tông đồ là những người ư thức về
sứ mạng làm chứng của Thánh Thần ngang qua các
ngài, nên Phêrô đă nói: "và chúng tôi đây xin làm chứng
về các điều ấy cùng với Thánh Thần... (Cv
5:32).”
Lịch sử Hội
Thánh, là lịch sử Thánh Thần hoạt động trong
Hội Thánh nơi mỗi kẻ tin. Sách Công Vụ Tông
Đồ cho thấy những tác động của Thánh
Thần:
· Chính Thần Khí tác động khiến các tông
đồ rao giảng làm chứng cho Đức Giêsu Phục
Sinh, cũng chính Thần Khí sai Barnaba và Saolô đi rao
giảng (Cv 13:2. 4).
· "Không ai có thể nói: Giêsu là Chúa, mà lại không
bởi sức Thánh Thần" (1Cr 12:3).
Thiên Chúa đă làm tất
cả cho con người! Điều con người ngày
xưa ao ước như sống lâu, tồn tại qua con
cháu, hạnh phúc như sung túc về của cải và có đất
sinh nhai,[194] th́
ngày nay, tất cả những điều đó
được hoàn tất nơi Đức Giêsu như bảo
đảm để được sống đời
đời, được sống hạnh phúc v́ có Thiên
Chúa làm gia nghiệp, có Nước Trời là sở hữu
vĩnh cửu (x. Mt 5:2. 4). Có Thiên Chúa là có tất cả, tin
vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu Kitô là được sự
sống đời đời, là được chính Thiên
Chúa là gia nghiệp.
Được yêu
thương như vậy, con người phải có thái
độ sống tương hợp: tin tưởng vào
Thiên Chúa quan pḥng yêu thương (Mt 6:25-34). Tâm t́nh phải có
đối với Thiên Chúa là tâm t́nh cha con, tâm t́nh của
những người được yêu (Mt 6:5-15 và //). Thái
độ đối với anh em: phải yêu thương
nhau như Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta (Mt 5:38-48),
đừng thù hận, hăy ăn chay và bố thí (Mt 6:1-4;
6:16-21), đừng xét đoán (Mt 7:1-5). Thái độ
đối với của cải: xem nó chỉ là
phương tiện, không được coi tiền
của như ông chủ (Mt 6:24.19-21).
Niềm tin của Phaolô
là niềm tin của các kitô hữu sơ khai, và cũng là
niềm tin của các tông đồ.
"Hỡi anh em, tôi xin
nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đă rao giảng cho
anh em... V́ tiên vàn mọi sự, tôi đă truyền cho
anh em điều mà chính tôi đă chịu lấy:
là đức Kitô đă chịu chết v́ tội lỗi
chúng ta, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đă bị chôn cất,
là Ngài đă hiện ra cho Kêpha, đoạn cho nhóm
mười hai... Vậy dù là tôi hay là họ, chúng tôi rao
giảng như thế, và cũng như thế mà anh em
đă tin" (1Cr 15:1-5.11).
Phaolô rao giảng
đức Kitô đă chết, sống lại, và là Thiên Chúa.
Đức Giêsu Kitô là người duy nhất mà mọi sự
phải được quy chiếu về. Nơi Đức
Kitô Giêsu, không có chia rẽ hay hiềm khích. Những hiềm
khích hay chia rẽ nếu có, là tại con người, do
người ta chưa lấy Đức Kitô Giêsu là trung tâm
cuộc sống của ḿnh! "Một khi người ta
nói: tôi, tôi về phe Phaolô; c̣n kẻ khác: tôi, tôi về phe
Apôlô. Vậy th́ Apollô là ǵ? Phaolô là ǵ? V́ nền móng th́ không ai
có thể đặt cái khác, ngoài nền móng đă
đặt rồi, tức là Đức Giêsu Kitô" (1Cr 3:4.
5.11). "Tôi muốn nói là anh em mỗi người, ai
cũng phân phô: tôi về phe Phaolô; tôi, tôi về phe Apollô; c̣n
tôi, tôi về phe Kêpha; và tôi, tôi về phe Đức Kitô! Đức
Kitô bị phân mảnh rồi sao? phải chăng Phaolô
đă đóng đinh thập giá v́ anh em? hay anh em đă
được thanh tẩy nhân danh Phaolô? (1Cr 1:11-12).
Đức Giêsu Kitô là
mối lợi tuyệt vời. Đức Giêsu Kitô là trung tâm
cuộc đời của Phaolô, là cái ǵ quư nhất Phaolô
biết được và ước ao: "tôi c̣n coi
mọi sự hết thảy là thua lỗ bất lợi
cả, v́ cái lợi tuyệt vời là
được biết đức Kitô Giêsu, Chúa tôi. V́ Ngài,
tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả,
để lợi được đức Kitô, và
được thuộc về Ngài" (Pl 3:8-9).
Đức Giêsu Kitô là sự
khôn ngoan. Với những ai được kêu gọi th́
đức Kitô là quyền năng và là sự khôn ngoan
của Thiên Chúa; chính do tự Người (Thiên Chúa) mà anh em
được có trong đức Kitô Giêsu, Đấng do
bởi Thiên Chúa đă nên sự khôn ngoan cho chúng ta, sự
công chính, sự cứu chuộc và thánh thiện ((1Cr 1:24.
30).
Đức Giêsu Kitô là h́nh
ảnh của Thiên Chúa (Cl 1:15; 2Cr 4:4), nhờ Ngài mà mọi
vật được tạo thành (Cl 1:15-17; 1Cr 8:6; Hr 1:3);
Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ con
người.[195] Cứu
độ con người khỏi t́nh trạng khốn
nạn.[196] Ngài
là phương xá tội chúng ta (Rm 3:25), nghĩa là
chúng ta được cứu nhờ tin vào danh Đức Giêsu
Kitô, chứ không phải nhờ vào việc giữ lề
luật, v́ lề luật không có sức cứu độ
con người!
Đức Giêsu Kitô là
nguồn mối chúc lành của chúng ta.
Ep 1:3-14: "Chúc tụng
Thiên Chúa là Cha của Chúa chúng ta Đức Giêsu Kitô, Đấng
đă chúc lành cho ta với tất cả những ǵ là chúc
lành của Thần Khí, ở trên trời trong Đức Kitô...
Người đă chọn ta trong Ngài...Người đă
tiền định cho ta được phúc làm con, nhờ
Đức Giêsu Kitô và v́ Ngài...Trong Ngài ta được ơn
cứu chuộc...Trong Ngài, chúng tôi cũng đă
được hưởng phần dành cho chúng tôi...Trong
Ngài, cả anh em nữa ...." Nhờ Đức Giêsu và trong
Đức Giêsu Kitô, chúng ta được Thiên Chúa ban cho
tất cả.
Đức Giêsu Kitô là mầu
nhiệm được ẩn dấu từ muôn thuở,
nay được tỏ hiện: "Và quả là lớn
lao thật, mầu nhiệm của chân
đạo đă hiển hiện trong xác thịt, chứng
thực nhờ Thần Khí, bày tỏ cho thiên thần, loan
báo giữa muôn dân, tin kính trong hoàn vũ, siêu thăng
chốn vinh quang" (1Tm 3:16). “... mà tôi đă trở thành
người phục vụ mầu nhiệm đă giữ
kín từ muôn thuở, muôn thế hệ, nhưng nay đă
được bày tỏ cho các thánh của Người,
những kẻ đă được Thiên Chúa muốn thông
báo cho biết là ǵ lường phong phú vinh quang của
mầu nhiệm ấy nơi dân ngoại, tức là Đức
Kitô trong anh em, mối hy vọng vinh quang" (Cl 1:26-27).
"... nghĩa là được hiểu biết mầu
nhiệm của Thiên Chúa, tức là đức Kitô, trong Ngài
có ẩn chứa hết thảy mọi kho tàng khôn ngoan thông
thái" (Cl 2:2-3).
Theo Phaolô, Đức Giêsu
Kitô là mặc khải lớn nhất, cao quư nhất:
"Mầu nhiệm đă được ẩn dấu
từ muôn đời nay được mặc
khải" (Rm 16:25-27). Đức Giêsu Kitô không chỉ là
người đă chết v́ tội của chúng ta,
được Thiên Chúa phục sinh từ cơi chết, mà
Ngài là mầu nhiệm Thiên Chúa dấu kín từ muôn thuở
nay bày tỏ cho các thánh của Người, Ngài là Chúa trên
hết các Chúa, là chính Thiên Chúa.
Đức Giêsu là Thiên Chúa,
đây là tột đỉnh của mặc khải.
Điều này hàm chứa trong nhiều bản văn của
Phaolô. Đức Kitô được gọi là Con Thiên Chúa,[197] Con
(riêng) (Rm 8:3. 32), Con của t́nh yêu, Con chí ái (Cl 1:13).
Trong bản văn
"Ai biết được tư tưởng của
Chúa để dạy Ngài?[198] c̣n
chúng tôi, chúng tôi có tư tưởng của Đức Kitô"
(1Cr 2:16), Phaolô đặt sóng đôi giữa Chúa Yahweh[199] và
đức Kitô. Điều này hàm chứa, theo Phaolô, đức
Kitô có thần tính như Yahweh.
Nơi bản văn Rm
9:5 "... và do tự họ, Đức Kitô về phần xác,
Đấng vượt trên mọi sự, Thiên Chúa đáng chúc
tụng cho đến muôn đời," có một số
nhà chú giải cho rằng câu "Thiên Chúa đáng chúc
tụng cho đến muôn đời" không gán cho Đức
Kitô, nhưng là chúc tụng Thiên Chúa Yahweh; nhưng nếu xét
kỹ văn mạch, người ta thấy lời chúc
tụng này hướng về đức Kitô chứ không
về Yahweh.
Phaolô ít dùng từ
ngữ Thiên Chúa để chỉ Đức Giêsu, sở dĩ
vậy v́ Ngài muốn dùng chữ Thiên Chúa (QeoV) để chỉ Cha
(Rm 15:6); hơn nữa Phaolô luôn nghĩ đến
đức Kitô lịch sử "Thiên Chúa làm
người" (Pl 2:5tt; Cl 1:15) nên đức Kitô
được diễn tả như suy phục Chúa Cha (1 Cr
3:23; 11:3) trong công tŕnh tạo dựng (1 Cr 8:6), cũng như
trong việc tái tạo cánh chung (1Cr 15:27tt).
Lời tôn vinh Pl 2:6-11 cho
thấy:
· "Ngài, phận là phận của một v́ Thiên Chúa (morfh Qeou).
· Thiên Chúa đă siêu tôn Ngài, và ban cho Ngài Danh Hiệu
vượt qua mọi danh hiệu, hầu trước danh
hiệu của Đức Giêsu, mọi gối đều
phải qú xuống bái lạy, nơi trời cao... và
mọi miệng lưỡi phải xưng hô: GIÊSU KITÔ LÀ
CHÚA (cc. 9-11). Trong bản dịch LXX của cựu ước,
Thiên Chúa Yahweh được gọi là Chúa (KurioV). Như vậy, khi thánh
Phaolô gọi Đức Giêsu Kitô là Chúa (KurioV), phải chăng Phaolô
muốn nói Đức Giêsu Kitô ngang hàng với Thiên Chúa?
Trước danh hiệu của Đức Giêsu Kitô, mọi
đầu gối phải quỳ xuống bái lạy, không
chỉ trên địa cầu nhưng cả chốn hoàng
thiên và dưới gầm đất! Chỉ có danh Yahweh,
th́ mọi gối mới phải quỳ gối để
tung hô thôi!
"Điều tôi muốn
tôi không làm, c̣n điều tôi không muốn tôi lại làm"
(Rm 7:19). "Ai cứu tôi khỏi t́nh trạng khốn
nạn này" (Rm 7:24). Thiên Chúa Cha cứu độ con
người nhờ Đức Giêsu và Thánh Thần của Ngài.
Thiên Chúa là Cha của
Đức Giêsu Kitô.[200]
Nếu đối
với các tiên tri, Thiên Chúa là Đấng đă giải phóng dân
Israel ra khỏi Aicập, đă kư giao ước cùng ban
lề luật cho dân Do Thái trên núi Sinai; th́ đối
với Phaolô, Thiên Chúa là Đấng đă phục sinh Đức
Giêsu Kitô Con Ngài từ trong kẻ chết.[201]
Thiên Chúa là Đấng đă
phục sinh Đức Giêsu Con Ngài từ trong kẻ chết, và
Ngài cũng sẽ phục sinh chúng ta.[202]
Thiên Chúa, theo Phaolô,
cũng chính là Thiên Chúa cứu độ. Ngài cứu
độ con người qua chính Đức Giêsu Kitô là Con
của Ngài, và hoàn tất chương tŕnh cứu
độ nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng mà Ngài thâu tóm
vạn sự vạn vật (Ep 1:3-14).
Một trong những
điểm chính về mặc khải trong tư
tưởng Phaolô là Thánh Thần. Từ ngữ Thánh
Thần hoặc Thánh Linh, hoặc Thần Khí thánh,
được dịch từ chữ Hylạp Pneuma agion; c̣n từ ngữ Thần
Khí, được dịch từ chữ Pneuma.
Thần Khí của Con
đă được gởi tới trong ḷng chúng ta bởi
Thiên Chúa, để chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha,
Abba (Gl 4:6). Thần Khí của Đức Giêsu làm chúng ta
thuộc về Ngài, nếu chúng ta không có Thần Khí của
Đức Giêsu, chúng ta không thuộc về Ngài (Rm 8:11). Thần
Khí của Con được ban trong ḷng chúng ta; Thần Khí
của Thiên Chúa cũng ở trong chúng ta (Rm 8:9. 11; 1Cr 3:16).
Thần Khí của Thiên
Chúa làm cho chúng ta thành con Thiên Chúa (Rm 8:11).[203]
Thần Khí đỡ
đần sự yếu đuối của chúng ta, cầu
khẩn cho chúng ta (Rm 8:26tt), giúp chúng ta biết những ǵ
ở nơi Thiên Chúa (1Cr 1:11), giúp chúng ta tuyên xưng Đức
Giêsu là Chúa (1 Cr 12:3). Thần Khí công chính hóa chúng ta (1Cr 6:11),
làm chúng ta trở nên những người tự do đích
thực (2 Cr 3:17).
Thần Khí là thực
tại bao phủ tất cả đời sống của
kitô hữu, những người thuộc về Đức
Kitô và Thiên Chúa.
Tư
tưởng của Phaolô lấy Đức Giêsu Kitô làm
trục. Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà chúng ta hiểu
biết hơn về Thiên Chúa, Đấng đă giải phóng
dân Do Thái ra khỏi Ai cập và kư kết giao ước
với dân trên núi Sinai, Đấng nói với dân qua môi miệng
tiên tri và soi sáng mỗi người bằng sự khôn ngoan,
và bây giờ Ngài giải phóng con người khỏi
tội và khỏi nô lệ ma quỷ nhờ Con Ngài là
Đức Giêsu Kitô. Cũng chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà chúng
ta được gọi Thiên Chúa là Cha. Chính nhờ Đức
Giêsu Kitô mà Thánh Thần đă được ban cho mỗi
người, làm mỗi người tự do đích
thực, và chắc chắn rằng ḿnh đă
được và sẽ được cứu độ.
Đức Giêsu là tất
cả đối với Phaolô, và cũng là tất cả
của mỗi người chúng ta. Không có Đức Giêsu Kitô,
những hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa không
trọn vẹn, và chúng ta cũng không được
cứu độ.
Có người cho
rằng tin mừng Gioan và các thư Gioan không là những tác
phẩm của thánh Gioan tông đồ, nhưng đúng
hơn là của các môn đệ thánh nhân. Dù sao chăng nữa,
tin mừng theo Gioan và các thư mang tên Gioan đều
chịu ảnh hưởng rất nhiều của thánh
nhân, đến độ người ta có thể nói thánh
Gioan là tác giả.
Tin Mừng Gioan và các
thư mang tên Ngài là những tác phẩm phản ánh
đức tin của Giáo Hội sơ khai, nó có thể
được coi là những tác phẩm của Hội
Thánh tiên khởi. Hơn nữa, tin mừng và những
thư này, v́ được soạn thảo sau tin mừng
nhất lăm và các thư Phaolô, cũng như nhờ những
suy tư và đời sống thiết thân với Thiên Chúa,
với Đức Giêsu Phục Sinh, nên tin mừng và những
thư mang tên Gioan mang nhiều ư nghĩa thần học sâu
xa. Nói như vậy không muốn nói rằng tin mừng Gioan
không có nhiều sử tính. Với những khám phá hiện
đại, người ta thấy tin mừng Gioan có
rất nhiều sử tính, đến độ không kém tin
mừng Marcô.
Lời đă thành xác phàm
và ở giữa chúng tôi (Ga 1:14). Có thể coi đây là
tột điểm của mặc khải bằng lời.
Phần đông các nhà chú
giải đều cho rằng, lời khởi đầu
"Ga 1:1-18" là kết quả suy tư lâu dài và chịu
ảnh hưởng quan niệm "lời" trong Do Thái
giáo, đặc biệt văn chương tiên tri, và cả
văn chương Hy lạp nữa. Nơi Ga 1:1-18: đă
thấy những chủ đề sẽ được
khai triển trong tin mừng Gioan, chẳng hạn:
Đức Giêsu Kitô là sự
sống (Ga 1:4; cf. Ga 11:1tt)
Đức Giêsu Kitô là ánh sáng
(Ga 1:4.5.9; cf. Ga 9:1tt)
Đức Giêsu Kitô là sự
thật (Ga 1:17; cf. Ga 14:6; 8:32)
Đức Giêsu là Đấng
thanh tẩy trong Thánh Thần (Ga 1:33). Ngài được xác
chuẩn là Đấng Thiên Sai[204] trong
biến cố Ngài nhận phép rửa với Gioan Tẩy
giả.
Đức Giêsu từ
trời xuống, Ngài là Con Một Thiên Chúa (Ga 3:13.16).
Đức Giêsu là Đấng
ban Nước Hằng sống (Ga 4).
Ngài sống tùy thuộc
Cha đến độ "của ăn của tôi dùng là
thi hành ư Đấng đă sai tôi, và chu toàn công việc
Người" (Ga 4:34).
Đức Giêsu mặc
khải cho dân Do Thái biết giữa Ngài và Thiên Chúa có
một tương quan rất đặc biệt: Ngài
gọi Thiên Chúa là Cha; điều này làm người Do Thái
muốn giết Ngài, v́ hàm chứa "cho ḿnh bằng Thiên
Chúa" (Ga 5:18).
Đức Giêsu là Bánh
Hằng Sống, ai ăn sẽ được sống
đời đời (Ga 6:51).
Điều trước kia
Ngài đă tỏ lộ cho Nicôđêmô vào ban đêm (Ga 3:13tt),
th́ nay Đức Giêsu nói với dân chúng: Ngài không thuộc
trần gian này, Ngài được Cha sai đến
trần gian (Ga 7:28tt). Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa
(Ga 8:21-29).
Đức Giêsu là sự sáng
(Ga 8:12). Trong biến cố Đức Giêsu mở mắt
người mù từ thuở mới sinh, điều này
được mặc khải rơ hơn (Ga 9).
Đức Giêsu là sự
thật. Sự thật giải phóng và làm con người
tự do đích thực (Ga 8:32tt; Ga 14:6).
Đức Giêsu là chủ
chiên nhân từ (Ga 10:11).
Đức Giêsu là Con Thiên
Chúa, là một với Thiên Chúa (Ga 10:30).
Trong phép lạ phục
sinh Lazarô từ cơi chết, Đức Giêsu mặc khải Ngài
là sự sống lại và là sự sống, ai sống mà
tin Ngài th́ không phải chết, c̣n ai chết mà tin Ngài th́
sẽ được sống lại (Ga 11:25.26).
Đức Giêsu xử
sự như thể Ngài là vua (Ga 12:12-19) dù rằng khi
người Do thái muốn tôn Ngài làm vua khi Ngài cho họ
ăn no th́ Ngài lại trốn (Ga 6:15).
Đức Giêsu mặc
khải về Thánh Thần (Ga 14-16), và mặc khải Cha
như Đấng sai Ngài và luôn nhận lời Ngài nguyện xin
(Ga 17).
Trong Tin Mừng Gioan,
Đức Giêsu mặc khải về chính ḿnh; và trong
tương quan với Con, Thiên Chúa là Cha được
mặc khải; cũng chính qua Ngài mà Thánh Thần được
sai đến và hoạt động trong thế gian.
Trong lời nguyện
của vị Thượng Tế, Đức Giêsu gọi Thiên
Chúa là Cha (Ga 17:1tt). Sự sống vĩnh cửu hệ
tại nhận biết Cha và Đấng Cha đă sai, Đức
Giêsu Kitô (Ga 17:3).
Trong khi giảng dạy
và đối đáp với dân chúng, Đức Giêsu cũng
khẳng định Ngài đến từ Cha. Chính Thiên Chúa
đă sai Ngài[205] (Ga
5:36).
Thiên Chúa là Đấng
Đức Giêsu luôn luôn tùy thuộc vào, Ngài luôn t́m ư Cha (Ga 5:30),
luôn làm những công việc của Cha (Ga 6:38) luôn nói lời
của Cha ban cho Ngài (Ga 12:49; 14:24), luôn t́m vinh quang của
Đấng đă sai Ngài (Ga 7:18).
Tương quan giữa
Thiên Chúa Cha và Ngài mật thiết đến độ:
· Ai không kính trọng Ngài là không tôn kính Cha, Đấng đă
sai Ngài (Ga 5:23),
· Và ai tin vào Ngài, th́ không chỉ là tin vào Ngài, nhưng là
tin vào Cha, Đấng đă sai Ngài (Ga 12:44),
· Ai tiếp đón Ngài là tiếp đón Đấng đă
sai Ngài (Ga 13:20).
Thiên Chúa là Cha Đức
Giêsu Kitô, là Đấng đă sai Đức Giêsu Kitô, là Đấng mà
Đức Giêsu luôn hướng về.
Một số nhà
thần học hiện đại, căn cứ vào sự
liên quan mật thiết giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa,
đă đi tới kết luận: Đức Giêsu là Thiên Chúa.
Đây là một lư chứng nhằm chứng minh thiên tính
của Đức Giêsu qua sự tùy thuộc hoàn toàn của
Đức Giêsu vào Thiên Chúa Cha.
Thần Khí đă
xuất hiện khi Đức Giêsu lănh phép rửa với Gioan
Tẩy Giả tại sông Yordan: "Tôi đă trông thấy
Thần Khí như chim câu đáp xuống và lưu lại
trên Ngài, nhưng Đấng đă sai tôi đến thanh tẩy
bằng nước, chính Người nói với tôi:
ngươi thấy Thần Khí đáp xuống và lưu
lại trên ai, th́ chính Ngài là Đấng thanh tẩy trong Thánh
Thần và tôi đă được xem thấy, và xin đoan
chứng: chính Ngài là Đấng Thiên Chúa chọn" (Ga 1:32-34).
Thần Khí và Thiên Chúa đă làm chứng cho Đức Giêsu
với Gioan Tẩy giả, và đến lượt Gioan
Tẩy giả, ông cũng làm chứng cho Đức Giêsu.
Thanh tẩy trong Thần
Khí, là sinh lại bởi nước và Thần Khí. Đây là
điều kiện để được vào
nước Thiên Chúa (Ga 3:5-6), v́ kẻ sinh bởi xác
thịt là xác thịt, c̣n ai sinh bởi Thần Khí là thần
khí (Ga 3:6).
Thần Khí, Đấng an
ủi khác, là Thần Khí chân lư, sẽ được Thiên
Chúa ban cho các tông đồ,[206] Thần
Khí này thế gian không thể lănh nhận (Ga 14:17). Thần Khí,
Đấng an ủi, sẽ được gởi tới
nhờ danh Đức Giêsu; Thần Khí sẽ dạy dỗ các
tông đồ (Ga 14:26), sẽ dẫn các tông đồ vào
tất cả sự thật (Ga 16:13). Thần Khí là thực
tại được Đức Giêsu ban cho kẻ tin Ngài (x. Ga
7:37-39).
Thần Khí, Đấng an
ủi, Đấng ở nơi Thiên Chúa Cha, Ngài không chỉ
được Cha sai gởi (Ga 14:17. 26), nhưng c̣n
được Đức Giêsu sai gởi, và Ngài sẽ làm
chứng cho Đức Giêsu (Ga 15:26).
Khi c̣n sống ở
trần gian với thân xác, Đức Giêsu đă hứa ban
Thần Khí cho các tông đồ, và Ngài đă thực
hiện điều này sau khi phục sinh từ cơi chết:
"Đức Giêsu thổi hơi trên họ và nói: các con hăy
nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20:22). Thần Khí
được ban cho các tông đồ, để ở
với các tông đồ măi măi (Ga 14:16), để loan báo cho
các tông đồ những điều sẽ xảy
đến (Ga 16:13), để làm chứng cho Đức Giêsu
(Ga 15:26), và cũng để các tông đồ có thể tha
tội nhân danh Thiên Chúa (Ga 20:22-23).
Con người là
tạo vật được Thiên Chúa yêu thương vô
cùng. V́ yêu, nên Thiên Chúa đă sai gởi Con của Ngài
xuống trần gian (Ga 3:16). Thiên Chúa Cha yêu con người
như yêu Chúa Giêsu (Ga 17:23 cf. Ga 17:20). Chúa Giêsu yêu con
người như chính Cha yêu Chúa Giêsu (Ga 15:9); Ngài yêu con
người đến độ hiến mạng sống
cho con người "không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh
yêu của người hiến mạng sống ḿnh" (Ga
15:13), Ngài biến bánh rượu trở thành thịt máu
Ngài để nuôi con người (Mc 14:22-25), Ngài yêu con
người đến cùng (Ga 13:1tt). Thánh Thần yêu
thương con người đến độ luôn ở
với con người (Ga 14:16), nhắc nhớ và dạy
dỗ con người (Ga 14:26), dẫn con người vào
sự thật trọn vẹn (Ga 16:13).
Niềm tin và cách
sống có tương quan mật thiết với nhau. Tin
vào Thiên Chúa và Đấng-Cha-sai Đức Giêsu, hàm chứa tin
rằng "máu Đức Giêsu, Con của Người, tẩy
sạch ta khỏi mọi tội lỗi" (1Ga 1:7).
Con người có
tội và được Thiên Chúa cứu thoát nhờ máu
Đức Giêsu! Nếu không nhận ḿnh có tội, là phủ
nhận công tŕnh cứu độ của Đức Giêsu,
phủ nhận giá trị nhập thể và cứu
chuộc của Đức Giêsu, và của chính Thiên Chúa.
"Nếu ta nói: ta không có tội, th́ ta tự dối ḿnh,
và sự thật không có ở nơi ta" (1Ga 1:8).
Tin vào Đức Giêsu, hàm
chứa phải giữ giới lệnh yêu thương
của Ngài: "Như Thầy yêu mến anh em, anh em
cũng hăy yêu mến nhau" (Ga 13:34-35).
"Thiên Chúa là t́nh yêu, và
ai ở trong t́nh yêu, th́ ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở
trong kẻ ấy" (1Ga 4:16). Ai ở trong t́nh yêu th́ ở
trong Thiên Chúa, ai yêu thương th́ người đó ở
trong Thiên Chúa, người đó thuộc về Thiên Chúa; c̣n
ai không yêu thương, ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ sát
nhân, và như vậy không có sự sống đời
đời (1Ga 3:14-15).
Thư thứ nhất
của Gioan đặt song song hành vi "tuyên xưng
Đức Giêsu là Con Thiên Chúa" và "ai ở trong t́nh
yêu." Cả hai hành vi đó đều làm cho người
ta "ở trong Thiên Chúa" và "Thiên Chúa ở trong
người đó" (1Ga 4:15-16).
Tin Thiên Chúa và yêu anh em
ḿnh, đây là những hành vi của những người
được cứu độ, những người có
sự sống đời đời.
Toàn
bộ thư và tin mừng theo Gioan được viết
ở thời điểm cuối cùng của bộ Tân
ước. Nhờ có thời gian dài suy tư, và nhất là
nhờ đời sống thiết thân với Đức Giêsu
Phục Sinh cùng Thánh Thần của Người, mặc
khải được tŕnh bày nơi tin mừng và các
thư Gioan thật rơ ràng và sâu sắc.
Đức Giêsu tử
nạn phục sinh là Con của Cha trên trời, Ngài sống
rất thiết thân với Thiên Chúa Cha. Ngài là sự sáng,
sự thật, và sự sống. Ngài là đường
đưa con người về với Cha, cho con
người sống trong vương quốc của Cha.
Ngài đă về với Cha để dọn chỗ cho chúng
ta, và Ngài sẽ trở lại đón chúng ta đi với
Ngài (Ga 14:3).
Thiên Chúa là Cha của
Đức Giêsu; chính Cha đă sai con tới để cứu
những kẻ tin vào Ngài và vào Con (Ga 17:3; 3:16). Cha cũng là
Đấng đă sai gởi Thánh Thần, Đấng sẽ ở
măi măi với các tông đồ, Đấng trở nên chứng
nhân của Đức Giêsu Phục Sinh nơi những con
người c̣n ở trần gian nhưng không thuộc
về trần gian.
Con người là
tạo vật được Thiên Chúa yêu thương; chính
v́ yêu thương nên Thiên Chúa đă gởi Con và Thánh
Thần đến để cứu độ con người.
Dù được yêu thương, nhưng vẫn có
những người từ chối t́nh yêu của Thiên Chúa,
không tiếp nhận và không tin vào người Con mà Ngài
đă sai gởi xuống trần gian; những người
này đứng về phe ma quỷ, không thuộc về Thiên
Chúa. Cuối cùng Thiên Chúa vẫn chiến thắng thế
gian v́ Đức Giêsu đă chiến thắng thế gian (Ga
16:33). Sự sáng đă chiến thắng bóng tối. T́nh yêu
của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu đă
chiến thắng sự chết, đă chiến thắng
tội lỗi và tất cả.
4. Chúa Phục Sinh Sẽ
Trở Lại Vinh Quang
Các tông đồ và
cộng đoàn kitô hữu tiên khởi tin rằng Đức
Giêsu tử nạn thời tổng trấn Philatô, đă
phục sinh từ cơi chết, được siêu tôn bên
hữu Thiên Chúa, và Ngài sẽ trở lại trong vinh quang.
a. Đức Giêsu nói về ngày
quang lâm
Đức Giêsu đă nói
về ngày quang lâm khi giảng dạy[207] các
tông đồ cũng như khi trả lời vị
thượng tế khi Ngài bị tra vấn.[208] Khi
các môn đồ đến gặp riêng Đức Giêsu hỏi
về ngày quang lâm, Ngài trả lời: "Các ngươi
hăy coi chừng đừng để ai lừa gạt các
ngươi. V́ có nhiều kẻ đội danh Ta mà
đến nói rằng: Đức Kitô, chính là Ta. Và họ
sẽ lừa gạt được nhiều
người... V́ cũng như chớp ḷa bên Đông rạng
bên Đoài, th́ cuộc quang lâm của con người cũng
sẽ thế... và người ta sẽ thấy Con
Người đến trên mây trời với quyền
năng và vinh quang cao cả..." (Mt 24:3-4.27.30). Và khi Con
Người đến trong vinh quang, Ngài sẽ phán xét thiên
hạ dựa theo những điều họ làm cho
những người nghèo khó (Mt 25:31-46).
Tin mừng theo Gioan
đề cập đến việc Đức Giêsu về
với Cha, và Ngài sẽ trở lại đón các môn
đệ thân thương của Ngài: "Ḷng các
ngươi chớ rúng động. Hăy tin vào Thiên Chúa, và
cũng hăy tin vào Ta. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở;
chẳng vậy, Ta đâu có nói với các ngươi là Ta
đi dọn chỗ cho các ngươi. Và nếu Ta ra đi
và dọn chỗ cho các ngươi, th́ Ta sẽ đến
lại và đem các ngươi theo Ta, để Ta ở
đâu, các ngươi cũng ở đó" (Ga 14:1-3).
Về ngày của Chúa,
chẳng ai biết được, kể cả các thiên
thần trên trời, cả Con nữa trừ phi là Cha (Mc
13:32; 1Tx 5:2). Vào ngày Chúa quang lâm, những kẻ đă
chết trong Đức Kitô sẽ sống lại, đó là
niềm tin của tất cả kitô hữu.
Đức Giêsu đă cho
những người thuộc bè Sađốc[209] thấy
rằng Thiên Chúa, là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ
không là Thiên Chúa của kẻ chết. Khi Kinh Thánh nói Thiên
Chúa là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacóp- mà
điều Kinh Thánh nói là sự thật-, nên Abraham, Isaac và
Giacóp vẫn c̣n đang sống một cách nào đó.
Theo đức tin kitô,
người chết không đi vào cơi hư vô nhưng
vẫn tồn tại; họ chịu phán xét riêng để
được thưởng hoặc bị phạt, để
hưởng tôn nhan Chúa hay bị sa hỏa ngục. Tuy vậy
hạnh phúc trọn vẹn tràn đầy chỉ
đến khi Chúa Giêsu Kitô quang lâm; ngày đó người
chết sẽ sống lại, và được hạnh
phúc trọn vẹn cả hồn lẫn xác.
Tất cả tin
mừng nhất lăm đều thuật lại tŕnh
thuật Đức Giêsu nói về sự sống lại (Mc
12:18-27; Mt 22:23-33; Lc 20:27-40); c̣n đối với tin
mừng theo Thánh Gioan, Đức Giêsu nói: "Phục sinh và
sự sống, chính là Ta. Ai tin vào Ta th́ dẫu chết
cũng sẽ sống; và mọi kẻ sống cùng tin vào Ta
sẽ không phải chết bao giờ" (Ga 11:25-26).
b. Phaolô đề cập
đến ngày quang lâm
Phaolô cũng đề
cập đến ngày quang lâm của Đức Giêsu Kitô (1Tx
5:23; 4:13tt; 2Tx 2:1tt). Về ngày giờ của Chúa đến
th́ không ai biết, v́ Ngài như kẻ trộm đến
trong đêm tối (1Tx 5:1tt). Phaolô cũng nói về số
phận của những người đi trước,
những người đă chết trước ngày Đức
Kitô quang lâm (1Tx 4:13tt). Khi nói về số phận của
những người đă chết trước khi Đức
Kitô quang lâm (1Tx 4:13tt), Phaolô hy vọng ngài cũng thuộc về
số những kẻ c̣n sống khi Đức Kitô quang lâm.
Những người đă chết trước thời
Đức Kitô quang lâm, sẽ được sống lại và
đi đón Chúa (1Tx 4:16-17). Trong thư thứ hai gởi
Thessalonika, Phaolô chỉnh lại tư tưởng của
một số người cho rằng ngày của Chúa
gần đến (2Tx 2:1 tt), và họ không làm ǵ nữa (2Tx
3:10tt).
Phaolô lư luận chứng
minh người ta sẽ sống lại dựa vào sự
kiện đức tin "Đức Giêsu Kitô đă phục
sinh." "Nếu Đức Kitô đă sống lại
từ cơi chết, th́ làm sao trong anh em lại có kẻ dám
nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu
không có chuyện kẻ chết sống lại, th́ Đức
Kitô cũng đă không sống lại; mà nếu Đức Giêsu
Kitô không sống lại, th́ lời giảng của chúng tôi
thật hư không" (1Cr 15:12-14).
Nếu Đức Kitô không
sống lại, th́:
việc anh em tin là hăo
huyền (1 Cr 15:17),
anh em vẫn c̣n trong
tội lỗi của anh em (c. 17),
chúng ta là kẻ khốn
nạn nhất trong thiên hạ (c. 19),
việc chúng ta chịu
thanh tẩy v́ kẻ chết nào có ích lợi ǵ? (c. 30-31),
Phaolô chiến
đấu với mănh thú tại Êphêsô nào có báo bổ ǵ? (c.
32),
tốt hơn là nên
hưởng lạc thú nếu người chết không
sống lại.
"Nhưng kỳ
thực, Đức Kitô đă sống lại từ cơi chết,
tiên thường của các vong linh. V́ chưng sự
chết do bởi một người. Quả thế,
cũng như nơi Ađam mọi người đều
phải chết, th́ trong đức Kitô, mọi
người cũng sẽ được tác sinh. Nhưng
ai theo thứ tự nấy, tiên thường là Đức Kitô,
rồi đến các kẻ thuộc về Người vào
ngày quang lâm" (1Cr 15:20-23).
c. Chúa quang lâm để con
người được hạnh phúc trọn vẹn
Những chương
khởi đầu của Kinh Thánh cho thấy hạnh phúc
của con người hệ tại đời sống
thân mật với Thiên Chúa, đau khổ và tột điểm
của đau khổ là sự chết hệ tại
tội lỗi, tức là thái độ không tin
tưởng- phó thác- yêu thương Thiên Chúa.
Abraham, người
được yêu thương tuyển chọn, đă
sống lâu và giàu có, trở nên mối phúc lành cho nhiều
người.
Lịch sử dân Israel
cho thấy, nếu dân trung thành với Thiên Chúa, th́ toàn dân
sống trong yên b́nh hạnh phúc; c̣n nếu dân phản
bội Thiên Chúa, không tuân giữ giao ước, th́ dân
sẽ bị các dân tộc khác thống trị (thời quan
án), hoặc sẽ bị đưa đi lưu đày (các
ngôn sứ).
Nơi Đức Giêsu
Phục Sinh, tất cả lời hứa của Thiên Chúa
cho con người đă và đang được hoàn
tất. Nơi Đức Giêsu tử nạn phục sinh,
tất cả lời hứa của Thiên Chúa đối với
con người đă được bảo đảm.
Ơn gọi làm con Thiên Chúa, được chia sẻ
sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa
được bảo chứng bằng máu Đức Giêsu Kitô,
Lời Thiên Chúa nhập thể. Sự sống vĩnh
cửu, đời đời hạnh phúc, đă
được ban nhờ và trong Đức Giêsu Kitô; hạnh
phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ trọn
vẹn vào ngày quang lâm của Đức Giêsu Kitô, ngày Thiên Chúa
làm trọn vẹn mọi sự.
Nơi Abraham và những
người thời cựu ước, của cải là
bằng chứng hạnh phúc; c̣n nơi Đức Giêsu Kitô,
chính Thiên Chúa là gia sản của những kẻ thuộc
về Người; hạnh phúc của con người là
chính Thiên Chúa. Lề luật trong Cựu Ước cho
thấy con người là tội nhân; c̣n với Đức
Giêsu Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể, con người là
tạo vật được yêu! Nơi Đức Giêsu
Kitô, con người được ban dẫy đầy
ơn này đến ơn khác. "Luật được
ban nhờ Môsê, c̣n ân sủng và sự thật th́
được ban nhờ Đức Giêsu Kitô" (Ga 1:17).
Nhờ Đức Giêsu Kitô,
với Đức Giêsu Kitô và trong Đức Giêsu Kitô, con
người được tất cả, đặc
biệt nhất là Thánh Thần.
PHẦN III: TRONG D̉NG LỊCH
SỬ HỘI THÁNH
Không một giáo phụ
nào có ư định soạn thảo một khảo luận
về mặc khải, tuy vậy người ta vẫn t́m
thấy những tư tưởng rải rác trong các tác
phẩm của các ngài để làm một tổng hợp
về chủ đề này.[210]
Khi t́m hiểu tư
tưởng của một tác giả nào đó,
người ta phải đọc bản văn tác giả
để lại trong bầu khí văn chương tư tưởng
thời đại đó, cũng như phải hiểu
bản văn đó trong chính mạch văn của tác
giả. Phải cẩn thận để tránh những sai
lầm mà nhiều người vấp phạm, là
đọc bản văn xưa theo năo trạng hiện
đại, và không để ư đến sự thay
đổi ư nghĩa của từ ngữ theo những
nền văn hóa và thời đại khác nhau.
Thánh Inhaxiô Antiokia
sống vào cuối thế kỷ thứ nhất sang
đầu thế kỷ thứ hai sau công nguyên; Ngài
chết khoảng năm 110 dưới triều hoàng
đế Trajan: bị đưa làm mồi cho thú dữ
ăn thịt. Ngài có biệt danh là "người mang
Thiên Chúa" (Theophoros). Ngài là giám mục của Antiokia. Trên
đường được giải tới Roma
để đem ra xét xử, Ngài đă viết bảy lá
thư cho các giáo đoàn. Chính nhờ những lá thư này mà
người ta biết tư tưởng của thánh nhân.[211]
Vào cuối thế
kỷ thứ nhất sang đầu thế kỷ thứ
hai, dân Do Thái vẫn sống dưới ách đô hộ
của người Roma và bị thù ghét đặc biệt
sau biến cố năm 70. Các kitô hữu, sau biến
cố bị Nêron vu cáo đốt thành Roma, bị nghi
ngờ và căm ghét nhiều hơn.
Vào thời điểm
này, bộ Tân Ước đă h́nh thành trọn vẹn,
đă được lưu truyền và được dùng
trong các cộng đoàn kitô nhưng chưa rơ ràng như
hiện nay.
Các kitô hữu, khi
sống chung với dân ngoại cũng như với
người Do Thái giáo, phải trả lời những câu
hỏi liên quan đến đức tin của ḿnh, cũng
như phải đáp trả những bài bác của
những người theo triết thuyết Hy lạp
hoặc Do thái giáo. Nhờ những nỗ lực nhằm
trả lời này, mà có những tài liệu như hiện
nay.
Trong thư gởi
cộng đoàn Magnesios, thánh Inhaxiô Antiokia viết: "Bởi
v́ các tiên tri đă sống theo Đức Giêsu Kitô, v́ thế các
ngài đă bị hành h́nh; các ngài đă được linh
ứng bởi ân sủng của Người, để những
người không tin được xác tín hoàn toàn rằng
chỉ có một Thiên Chúa, Đấng tỏ lộ bởi
Đức Giêsu Kitô Con Ngài, là Lời của Ngài xuất thân
từ im lặng, Người Con làm hài ḷng Ngài trong mọi
sự" (Ad Magn. 8,2).
Với Inhaxiô Antiokia,
Đức Giêsu Kitô được coi là trung tâm của mặc
khải, ngay cả khi đề cập đến các tiên
tri. Khi người theo Do Thái giáo nại đến Cựu
Ước, Inhaxiô nại đến Đức Giêsu Kitô với
thập giá sự chết và phục sinh của Ngài (Ad
Philadenphenses 8,2).
Với Inhaxiô Antiokia, Tin
Mừng không là những quyển sách, nhưng là Đức Giêsu
Kitô và cuộc khổ nạn cùng phục sinh của Ngài (Ad
Philadenphenses 9,2 ).[212]
Thánh Justin (100-163) sinh
trong một gia đ́nh Hylạp ngoại giáo, là một
triết gia, trở lại. Ngài biện hộ cho
đạo trước các triết gia ngoại cũng
như trước hoàng đế Antoin Le Pieus. Ngài bị
chém đầu v́ đức tin dưới thời hoàng
đế Marc Aurène ở Roma.[213]
Justin sống trong
thời ngộ đạo phát triển và thịnh hành.
Chủ đề mặc khải hàm chứa trong vấn
đề biết Thiên Chúa. Có ǵ khác biệt
giữa mặc khải kitô giáo và cái biết nơi ngộ
giáo?
Trong thế giới
chịu ảnh hưởng văn hóa hy-lạp, kitô hữu
trả lời sao cho những triết gia đại
diện cho năo trạng của đa số dân chúng cho rằng
"Thiên Chúa- Đấng trên cao không thể khám phá, và giả
như khám phá được th́ cũng không thể diễn
tả được?[214]"
Theo triết lư này, quan niệm "Thiên Chúa là Đấng
tuyệt đối cao vời," không thể dung hợp
với đức tin kitô giáo cho rằng: Thiên Chúa là Đấng
tạo dựng tất cả cách tự do, và can thiệp
vào lịch sử!
Vấn đề
được đặt ra: "Tính không thể xác, không
cho phép Thiên Chúa giao tiếp trực tiếp với thế
giới" (Dial. 127,2; Apol. II,7,9). Tatien, một học tṛ
của Justin, giải thích rằng: "đặc tính thiêng
liêng của Thiên Chúa, là lư do làm Ngài không thể
được hiểu cách vật chất được
(Adversus Graecos Oratio, IV, 1). "Làm sao Ngài có thể nói hay
tỏ lộ cho ai ở một góc nào đó trên trái
đất này được?" (Dial. 127,3)! Làm sao
giải quyết vấn nạn "Thiên Chúa siêu
việt" có thể mặc khải trong không gian thời
gian? Phải chăng sự kiện Thiên Chúa mặc khải
trong không gian thời gian, phủ nhận tính siêu việt
của Thiên Chúa?
Để giải quyết
vấn đề này, Justin chú ư tới khía cạnh trung gian
của Đức Kitô: "bởi ư Thiên Chúa, Abraham Isaac và Giacóp
đă thấy Đấng là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, là Đấng
được sai gởi (angelos), bởi v́ Ngài phục
vụ ư định của Cha, Ngài là Đấng- bởi ư muốn
của Cha- đă làm người và sinh bởi đức
trinh nữ, Ngài là Đấng khi xưa đă lấy h́nh
lửa nói chuyện với Môsê giữa bụi gai (Dial.
127,4).
Đối diện với
người Do Thái, Justin giải thích sự thần
hiển trong Cựu Ước theo nhăn quan kitô:
Lúc khởi đầu,
Lời (logos) đă hành động như thiên thần (Dial.
56,4; 128,2), như sứ giả (Apol. I, 63,5).
Trong nhập thể,
mặc khải của Thiên Chúa đạt tới chóp
đỉnh (Dial. 127,4; Apol. I, 63). Như vậy, đối
nghịch với quan niệm Do Thái, biến cố Giêsu Kitô
được tŕnh bày như thời điểm tối
cao của mặc khải thần linh. Các sự kiện
lịch sử được viện dẫn về
biến cố này không cho phép có lời giải thích thần
thoại về nhập thể (Apol. I, 13,3; I, 46,1; Dial. 30,3).
Mặt khác, quan niệm thần học về lịch
sử cho thấy đặc tính cứu độ của
mặc khải (Apol. I, 23,2; II, 5,4).
Điểm mang nhiều ư
nghĩa trong thần học về mặc khải của
Justin, là ông đồng nhất Đức Giêsu lịch
sử với Lời (Logos):
"Cha của hoàn vũ
có một người Con- Đấng là lời và trưởng
tử của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa nữa. Ngày xưa
Ngài đă hiện ra cho Môsê và các tiên tri, khi th́ dưới
h́nh lửa, khi th́ dưới h́nh thân xác, nhưng rất
mới đây, v́ vâng phục ư Cha và để cứu
rỗi những người tin vào Ngài, Ngài đă làm
người sinh bởi người nữ đồng
trinh, và đă nhận lănh trên ḿnh những sỉ nhục và
đau khổ, để chiến thắng cái chết
bởi cuộc tử nạn và phục sinh của chính
Ngài" (Apol. I, 63,15tt; cf. I, 23).
Như một triết
gia, Justin đă đem quan niệm lời trong triết lư Hy
lạp và trong tư tưởng Do Thái để giải
quyết vấn đề được thế giới
ngoại đạo đặt ra cho vấn đề
mặc khải kitô giáo. Nhờ quan niệm Lời là chính
Đức Giêsu Kitô, mà mặc khải trong Đức Giêsu Kitô
được quan niệm như một tiến tŕnh
cứu độ được thể hiện trong
lịch sử (Apol. I, 5,4).
Lư thuyết về
"logos spermatikos" giúp Justin nhận ra rằng: các
triết gia và các nhà làm luật trước Đức Kitô
cũng được tham dự vào chân lư (Apol. II, 10,2; cf.
Ga 14:6), và chân lư trọn vẹn chỉ được ban cho
nhân loại qua Đức Giêsu là Lời (Apol. II, 8,3).
Trước Đức Kitô,
có sự hiện diện hạt giống của lời
nhân loại, nhưng điều này không được
hiểu hoặc không được đồng nhất
với mặc khải tự nhiên, mà phải
được hiểu: mọi chân lư và mọi thực
tại đều mang dấu ấn của đức Kitô
(cf. Apol. II, 10,8).[215]
Thánh Irénée, một nhà
hộ giáo nổi tiếng, sinh tại Tiểu Á, là học
tṛ của thánh Polycarpe de Smyrne. Vào khoảng năm 177, Ngài
được cử làm giám mục kế vị Pothin
tại Lyon. Thánh nhân chết v́ đạo vào thời Septime
Sévère khoảng năm 202.[216]
Các vị hộ giáo,
ngoài việc minh chứng Kitô giáo sở hữu mặc
khải tuyệt đối, các ngài c̣n phải
đương đầu với những giải thích sai
lạc mặc khải kitô giáo, hoặc do những
người lạc giáo giải thích tín điều cách sai
lạc, hoặc do những người theo các tôn giáo khác
cũng nhận họ có mặc khải, chẳng hạn
như ngộ giáo.
Ngộ giáo cho rằng,
con người, tự sức ḿnh không thể đạt
tới tri thức nhờ đó con người
được cứu độ. Họ cho rằng
những tri thức tôn giáo, những tri thức cứu
độ mà họ có, được mặc khải
từ trên. Thời thánh Irénée, có những người mang
danh kitô hữu nhưng thực chất họ là những
người theo ngộ giáo, họ chủ trương:
"Thiên Chúa đích thực không ai đă biết
trước khi Chúa chúng ta đến; Thiên Chúa mà các tiên tri
rao giảng, không là Cha của đức Kitô" (Adversus
Haer. IV, 6,1). Lập trường này hàm chứa nhị nguyên
thuyết của ngộ giáo: Thiên Chúa đích thực và
Đấng tạo hóa không đồng nhất với nhau. Tri
thức cứu độ (gnose) không đến từ
Đấng tạo hóa, nhưng đến từ Thiên Chúa chân
thực. Họ cho rằng không phải mọi người
đều có thể nhận lănh tri thức này, mà chỉ có
một số người sống theo Thần Khí thôi.
Phủ nhận nét tích cực của thế giới và
lịch sử, hàm chứa phủ nhận mặc khải
trong ḍng lịch sử, phủ nhận Đức Giêsu lịch
sử và chỉ chấp nhận Đức Giêsu "theo
Thần Khí" mà thôi.
Irénee nhấn mạnh
rất nhiều đến lịch sử cứu
độ trong công tŕnh cứu chuộc. Với Irénée,
nhị nguyên siêu h́nh của lạc giáo không là giáo lư của
Kinh Thánh. Irénée cho rằng Đức Kitô hoạt động
trong toàn lịch sử cứu độ; ngài phủ
nhận sự đối nghịch giữa Thiên Chúa Tạo
Hóa và Thiên Chúa Cứu Độ. Với Irénée, Thiên Chúa tạo
hóa cũng chính là Thiên Chúa cứu độ trong ḍng lịch
sử.[217] "Tư
tưởng của những người theo ngộ giáo xa
rời Thiên Chúa chân thực. Họ không biết rằng Lời,
Con duy nhất của vị Thiên Chúa này, là Đấng luôn
hiện diện với nhân loại, đă liên kết
với công tŕnh được nhào nặn bởi chính Ngài,
và đă in dấu vào công tŕnh này bằng thần tính của
Ngài. Lời này đă làm người, đó là Đức Giêsu
Kitô, Đấng đă chịu đau khổ v́ chúng tôi, đă
phục sinh v́ chúng tôi, sẽ đến lần nữa trong
vinh quang của Cha để phục sinh mọi thân xác, mang
lại ơn cứu độ, và làm sáng lên quy luật
thẩm phán chí công trong hoàn vũ đă quy phục
Người. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha như chúng tôi
đă tŕnh bày, và chỉ có một Đức Kitô Giêsu Chúa chúng ta
đến trong suốt nhiệm cục phổ quát và thu
hồi tất cả trong Ngài" (Ad. Haer. III, 16,6; 24,1).
Với từ ngữ
nhiệm cục (oikonomia), Irénée muốn diễn tả hành
vi cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, và
nhấn mạnh đặc biệt đến những
biến cố cứu độ.
Khởi từ Ep 1:10
Irénée muốn làm nổi bật biến cố Giêsu Kitô, cho
rằng biến cố này vang vọng không chỉ trong b́nh
diện hoàn vũ, nhưng c̣n trong b́nh diện lịch
sử cứu độ nữa. Qua từ ngữ nhiệm
cục, Irénée đă đào hố chôn ngộ thuyết- giáo
thuyết chủ trương có sự đối nghịch
giữa Cựu Ước và Tân Ước. Theo lư luận
của những người ngộ thuyết, có hai Đức
Kitô, một Đức Kitô nhập thể và một đức
Kitô vô h́nh (Ad. Haer. III, 16,6 cf. IV, 9,1; 36,5). Đối nghịch
với khuynh hướng sai lạc này, giám mục thành Lyon
khẳng định sự duy nhất lịch sử và duy
nhất hữu thể của Đức Kitô.
Mặc khải theo Irénée
luôn được đặt trong văn mạch cứu
chuộc học. Chính trong viễn ảnh này mà chúng ta
đọc lời chú giải Mt 11:25-27 của Ngài: "Cha,
Đấng vô h́nh đối với chúng ta, đă
được biết bởi Lời của Ngài, và
mặc dầu (Cha) là Đấng không thể diễn tả
nổi, đă được diễn tả bởi Lời
Ngài; và ngược lại, Lời chỉ được
biết bởi Cha thôi. Đó là chân lư lưỡng diện mà
Chúa đă cho chúng ta biết. V́ thế, Con mặc khải
cái biết về Cha bằng sự tỏ lộ riêng
của Ngài; đó là cái biết về Cha... bởi v́
tất cả mọi sự được biểu lộ
nhờ trung gian của Lời" (Ad. Haer. IV, 6,3).
Thiên Chúa mặc khải,
cũng chính là Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc con
người trong ḍng lịch sử: "Ngài là Thiên Chúa
của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp,
Thiên Chúa của kẻ sống; Ngài là Đấng lề
luật loan báo, các tiên tri hứa, Đức Kitô mặc
khải, các tông đồ truyền lại, và Giáo Hội
tuyên xưng. Do Lời là Con Ngài, Ngài là Cha của Chúa chúng ta,
Đức Giêsu Kitô, Đấng mặc khải Ngài. Và Ngài tỏ
lộ cho những kẻ Ngài mặc khải cho, bởi v́
chính cho họ mà Con đă mặc khải Ngài cho họ (Ad.
Haer. II, 0,9).
Irénée quy chiếu mặc
khải về Đức Kitô, và Đức Kitô này không thể tách
biệt với Con làm người. Nhiệm cục cứu
độ (oikonomia) không bẻ gẩy tính duy nhất
của quan niệm về Thiên Chúa: nhận thức (mặc
khải) vẫn liên kết với sáng kiến của Cha.[218] Chính
Con đă mặc khải Cha. Nếu ai rao giảng một
Thiên Chúa vô minh, là chống lại đức Kitô; v́ Đức
Kitô Chúa chúng ta là Con Thiên Chúa (Ad. Haer. IV, 6,4).
Tạo dựng, nh́n trong
nhăn quan duy nhất, cũng là công tŕnh mặc khải
của Thiên Chúa toàn năng (Ad. Haer. II, 9,1; 30,9).
Khởi từ tạo
dựng, qua luật và các tiên tri, chúng ta đạt
đến Đức Kitô. Xét như là Con, đức Kitô là
thực thể hữu h́nh của Cha (Ad. Haer. IV, 6,6). Các biến
cố lịch sử không chỉ hướng chúng ta
đến với Đức Kitô, nhưng nó c̣n là công tŕnh
của Ngài và mặc khải Thiên Chúa.[219] Như
vậy, Thiên Chúa mặc khải ngày càng rơ qua những thời
điểm khác nhau của lịch sử cứu
độ. Sự nhập thể của Lời thâu tóm
mọi thời điểm của nhiệm cục đi
trước.[220]
Khi nhấn mạnh các
biến cố của lịch sử cứu độ,
Irénée không cho ngộ đạo có dịp len lơi vào giáo lư kitô
giáo trong lănh vực mặc khải; và cũng tương
tự như vậy khi quy chiếu tiến tŕnh mặc
khải vào biến cố Giêsu Kitô.
Thánh Irénée tŕnh bày các hành
vi cứu độ như một khoa sư phạm. Thiên
Chúa dạy dỗ con người về Ngài để
họ biết Ngài hơn. Và trong việc này, nhiệm
vụ của Lời nhập thể rất quan trọng:
"Chúng ta chỉ có thể biết về các mầu
nhiệm của Thiên Chúa, nếu Thầy của chúng ta,
tức Ngôi Lời, làm người. Thực vậy, không
một ai khác có khả năng mặc khải các bí mật
của Cha, nếu không phải là Lời Ngài" (Ad. Haer. V,
1,1).
Không như những
vị thầy nơi ngộ đạo, Thiên Chúa là vị
Thầy chân thực và duy nhất của các tín hữu.
Vị Thầy thần linh đă tỏ lộ Con Ngài trong
những thời gian sau cùng này, để làm xấu hổ
những kẻ cứng tin (x. Ad. Haer. IV, 35,5).
Các tín hữu Kitô không
nhận giáo huấn kiểu ngộ đạo như
nhớ lại (réminiscence), nhưng nhận do trung gian hành vi
cứu chuộc của Thiên Chúa. Các cuộc tranh luận
với ngộ đạo làm Irénée nhấn mạnh các
dữ kiện của nhiệm cục, và quy hướng
thần học của Ngài vào sự kiện Giêsu Kitô.
Ngộ đạo phân biệt Đức Kitô và Đức Giêsu theo
xác thịt, c̣n với Irénée, việc nhập thể của
Con là chóp đỉnh của mặc khải.
Thần học của
Irénée xây nền trên các dữ kiện của lịch sử
cứu độ, và như vậy liên quan mật thiết
đến Kinh Thánh. Các người ngộ đạo
cũng nại đến Kinh Thánh, và cũng có quy
điển Kinh Thánh riêng của họ, nhưng có một
khác biệt sâu xa giữa họ và các kitô hữu. Ngộ
đạo cho rằng "nguồn gốc của cái
biết là cái biết,” và như vậy, họ có thể
vượt qua Kinh Thánh; ngược lại các kitô hữu
chính thống và đại diện là Irénée, coi trọng các
quy chuẩn của chân lư (Kanon aletheias) được
chứa trong Kinh Thánh cũng như trong truyền thống
của Hội Thánh (paradosis) (Ad. Haer. III, 11,1; 12,6; 15,1; IV,
35,4).
Chứng từ căn
bản về Thiên Chúa là Kinh Thánh. Kinh Thánh truyền lại
cho chúng ta hành động cứu độ của
Người:
"Bởi v́ chúng ta có
quy tắc là chính chân lư (regulam ipsam veritatem) và chứng
từ hiển nhiên về Thiên Chúa, nên chúng ta không c̣n
phải t́m kiếm khám phá những giải thích
mới..." (Ad. Haer. II, 28,1).[221]
Giữa Kinh Thánh và
mặc khải có mối dây liên kết phải
được tuyệt đối duy tŕ, v́ Kinh Thánh xác
nhận hành vi cứu độ của Thiên Chúa (Ad. Haer. II,
28,1); tuy vậy thánh nhân không đồng nhất cách
đơn thuần chứng từ kinh thánh và thực
tại lịch sử; điều này được
thấy rơ v́ biến cố mặc khải đạt
tới chóp đỉnh trong việc nhập thể của
Lời Thiên Chúa, xảy ra trước Kinh Thánh Tân
Ước. Xét như là chứng từ về biến
cố Giêsu Kitô, Tin Mừng (và Kinh Thánh nói chung) là tài liệu
mặc khải.[222]
Nói tới Kinh Thánh Tân
Ước là phải nói tới các tông đồ; các ngài
đóng một vai tṛ đầu tiên và rất quan trọng
trong việc h́nh thành Tân Ước. Các ngài là mắt xích
giữa Đức Kitô và Giáo Hội.
Những người
ngộ đạo đặt cái biết của họ trên
sự nhận biết của các tông đồ; c̣n
đối với kitô hữu chân chính, các tông đồ là
bảo chứng của Tin Mừng (Ad. Haer. II, 2,2; I, 27,2):
"V́ chúng ta không
nhận biết nhiệm cục cứu độ bởi
những ai khác ngoài những người đă mang Tin
Mừng lại cho chúng ta. Các ngài đă rao giảng Tin
Mừng này đầu tiên, và bởi ư định của
Thiên Chúa, các ngài đă truyền lại cho chúng ta trong Kinh
Thánh, để Tin Mừng này trở thành nền tảng và
rường cột đức tin của chúng ta" (Ad.
Haer. II, 1,1).
Như vậy, theo Irénée,
tiêu chuẩn (mặc khải) là các tông đồ, chứ
không là những truyền thống bí mật nào khác như
những người ngộ đạo chủ
trương và dạy bảo. Những người ngộ
đạo chủ trương có những truyền
thống truyền chân lư bí mật, chứ không do truyền
thống chữ viết.[223] Chúa
đă đặt các tông đồ như những nhân
chứng về hành động và những lời dạy
bảo của Người (Ad. Haer. III, 12,15). Bởi
thế, các tông đồ có chỗ đứng duy nhất
trong việc lưu truyền Tin Mừng. Chỗ
đứng này không bao giờ suy suyển, lung lay hoặc
già nua cằn cỗi. Hội Thánh biết rằng,
đức tin của ḿnh tựa trên uy quyền các tông
đồ. Tính tông truyền bảo đảm chân lư mặc
khải.
Thánh Irénée đă thiết
lập mối dây liên kết giữa mặc khải và
truyền thống khi Ngài khẳng định các tông
đồ có nhiệm vụ lưu truyền mặc
khải mà Đức Giêsu Kitô đă tỏ lộ.[224]
Những ǵ đă
được mặc khải qua hành vi cứu chuộc
của Thiên Chúa, đă được ghi giữ trong Kinh
Thánh dưới tác động của Thánh Linh và
được truyền lại trong Hội Thánh, là một
thực tại sống động.
Kinh Thánh và truyền
thống không là những thực tại
được đặt bên nhau cách độc lập,
hoặc những thực tại bổ túc cho nhau dù một
trong hai có thể tồn tại không cần thực tại
kia; trái lại Kinh Thánh được bảo đảm
trong truyền thống của Hội Thánh (Ad. Haer. III, 4,1).
Hội Thánh ǵn giữ Kinh Thánh bằng chính cuộc sống
đức tin của ḿnh, và truyền lại cho các tín
hữu cách trung thành.
Mặc khải
được chứa đựng trong Kinh Thánh và
được truyền lại trong Hội Thánh bằng
đường lối kế tục (Ad. Haer. IV, 33,8).
Hội Thánh, dưới sự hướng dẫn của
Thánh Linh, là tiêu chuẩn giải thích Kinh Thánh, v́ Hội Thánh
là người ǵn giữ truyền thống. Hội Thánh
phải tùng phục Mặc khải và những dữ
kiện lịch sử cứu độ mà Kinh Thánh đă
xác định.[225]
Clément d'Alexandrie[226] sinh
vào khoảng năm 150 và chết vào khoảng năm 215; ngài
là một giáo sư nổi tiếng tại Alexandrie, và
được coi như vị thầy sáng lập
trường phái thần học Alexandrie. Có những nhân
vật lừng danh thuộc trường Alexandrie như
Origène, Athanasia, Cyrille d'Alexandrie, v.v.; Origènne là học tṛ
trực tiếp của Clément.
a. Đức Giêsu- Lời Thiên
Chúa mặc khải
"Con người
được tạo dựng để chiêm ngắm
trời, con người là tạo vật thiên thai, Thiên Chúa
mời gọi con người đến nhận biết
Thiên Chúa" (Protrepticus, X, 100,3). Theo Clément, "sự
nhận biết là tri thức thần linh, là ánh sáng thắp
lên trong tâm hồn con người, giúp con người tùng
phục các giới lệnh, là ánh sáng tỏ lộ mọi
cái trên thế giới, là ánh sáng làm cho con người có
khả năng nhận biết chính ḿnh, và dạy dỗ con
người tham dự vào sự sống của Thiên
Chúa" (Strom. III, 44,3).
Ngộ đạo
ảnh hưởng khá mạnh thời Clément sống. Giáo
thuyết này chủ trương rằng, cái biết giúp con
người được cứu độ. Những
người theo ngộ đạo cho rằng họ sở
hữu tri thức cứu độ, tri thức này đă
được mặc khải cho họ. Nếu vậy,
cái biết được mặc khải qua Đức
Giêsu Kitô có giá trị ǵ?
Dựa vào Mt 11:25-27:
"Không ai biết Con trừ Cha, và không ai biết Cha
trừ Con và những người Con muốn mặc
khải cho," Clément cho rằng chỉ có Đức Kitô là
Đấng mặc khải Thiên Chúa chân thực; và như
vậy không được tham dự vào các bói toán, và
cũng không được tin vào các lời sấm (của
ngộ đạo), v́ nếu không, tính duy nhất của
mặc khải do đức Kitô bị lu mờ (Protrepticus
I, 10,3). Clément cũng cho rằng các mầu nhiệm của
ngộ giáo thực sự rỗng tuếch. Họ cho
rằng họ t́m được tri thức cứu
độ, nhưng thực ra chỉ có Thiên Chúa có thể
mặc khải cho con người, và sự mặc khải
này phải qua trung gian của Đức Kitô, chứ không do
một ai khác.
Dựa vào Ga 10:9 Clément
nói: "cửa này đă đóng cho tới bây giờ, và
chắc rằng, người mở nó sẽ mặc
khải những cái ở bên trong và tỏ cho biết những
cái mà người ta đă không có thể biết lúc
trước... Đức Kitô- vị trung gian duy nhất
mặc khải Thiên Chúa" (Protrepticus I, 10,3). Thực
tế, Gioan muốn nói về cộng đoàn cánh chung,
nhưng Clément lại giải thích như một khẳng
định về nhiệm vụ mặc khải duy
nhất: các tín hữu được nhận biết và
được thấy, nghĩa là được cứu
độ.[227]
Clément cho rằng, ư
thức của con người về sự siêu việt
của Thiên Chúa, là một bằng chứng phủ nhận
ngộ đạo, v́ ngộ đạo chủ
trương, để có điều ấy, cần
phải có mặc khải từ trên.[228] Những
điều trên không trái với những khẳng
định khác của Clément cho rằng, để biết
Thiên Chúa cần phải được mặc khải, và
mặc khải này được Thiên Chúa khởi
xướng; cái biết Thiên Chúa bằng kinh nghiệm và
chứng cớ khoa học th́ không có thể đạt
được (Stromata V, 82,9).
Như vậy, "chúng
ta chỉ có thể biết được cái không thể
biết, nhờ ân sủng thần linh, và bởi Lời
Thiên Chúa, xuất từ Thiên Chúa" (Stromata V, 82,4; cf. 71,5).
Logos có một chỗ
đứng rất quan trọng trong tư tưởng
của Clément:
· "thiên thần" trong cuộc chiến với
Giacóp ở Cựu Ước được giải thích
là Logos.
· Logos là gương mặt của Cha: "Gương
mặt của Thiên Chúa, là Logos. Bởi Lời (Logos) Thiên
Chúa đă thành hữu h́nh và khả tri" (Pedagogus 1,57,2; cf.
Gen. 32:29). Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu, chứ không
hoàn toàn không thể hiểu như triết thuyết Platon
thường chủ trương.[229]
· "Người chỉ đạo chúng ta, thuộc
về chúng ta, là Thiên Chúa chí thánh, Đức Giêsu, Lời,
Đấng hướng dẫn nhân loại" (Pedagogus 1,55,2).
· Clément trích dẫn Hr 1:1 và nói: "Từ khởi
đầu, ngay lúc tạo dựng thế giới, Lời
đă dạy dỗ nhiều lần nhiều cách, và dẫn
đưa đến trọn lành" (Stromata VI, 58,2); chính
v́ vậy "các ngươi đừng gọi ai là
thầy trên mặt đất" (Pedagogus III, 43,2; cf. Mt
23:8 tt).
Sẽ dễ dàng
hiểu những điều Clément khẳng định
hơn, nếu đặt ḿnh vào khung cảnh văn hoá Hy
lạp, v́ trong nền văn minh văn hoá này, Thiên Chúa được
gọi là người chỉ đạo. Clément đă
triển khai ư niệm này của Kitô giáo, để giúp
thế giới hiểu về Kitô giáo hơn.
Clément nhắc
đến "nhiều giao ước" với dân Do
Thái và Hy lạp của Thiên Chúa duy nhất (Stromata VI, 42,3);
và trong một mức độ nào đó, Clément đặt
triết lư ngang hàng với Cựu Ước: "cũng
như sự rao giảng đă đến vào thời thích
hợp, cũng vậy lúc thời gian thích hợp, luật
và các tiên tri được ban cho những người man
di mọi rợ, c̣n người Hy lạp th́
được ban cho triết lư, để chuẩn bị
họ đón nghe lời rao giảng" (Stromata VI, 44,1).
Cùng ư tưởng trên
được thấy ở ngay đầu sách của
Ngài: "Trước khi Chúa đến, triết lư là
chuyện không thể miễn trừ được
đối với người Hy Lạp, để dẫn
họ tới công lư; c̣n bây giờ nó trở nên hữu
dụng để dẫn họ tới tôn kính Thiên Chúa. Nó
dùng để huấn luyện trí tuệ, để trí
tuệ có thể lănh nhận đức tin qua chứng
minh" (Stromata 1,28,1). Trước biến cố nhập
thể, khôn ngoan được ban cho người Hy
Lạp như nhiệm cục cứu độ cho họ;
c̣n bây giờ triết lư chỉ đóng vai tṛ phục
vụ đức tin. Biến cố Đức Giêsu Kitô là tiêu
chuẩn và ch́a khóa của mặc khải.
Clément vẫn giữ
nguyên tắc cho rằng, Thiên Chúa chỉ được
biết thời Đức Kitô đến (Pedagogus 1,20,2).
Lời đă đến để dạy con người
trở nên Thiên Chúa: "Chính là Lời, Đấng đă nói
với các ông bây giờ với tất cả sự rơ ràng,
để sự cứng tin của các ông phải xấu
hổ. Vâng, tôi nói rơ, Lời đă trở nên người
của Thiên Chúa, và chính người này dạy dỗ các ông
biết làm sao để trở nên Thiên Chúa (Protrepticus 1,8,4).
Với Clément d'Alexandrie,
cả hai giao ước (Cựu lẫn Tân Ước), tuy
đến vào những thời điểm khác nhau, nhưng
đều có cùng một kết quả, và đến
từ một Thiên Chúa duy nhất:
"Giao ước là
hai, do tên gọi và do thời gian, đă được kư
kết theo nhiệm cục thần linh vào thời
đại và (tùy) sự tiến bộ (của con người);
cả hai giao ước đều có cùng một hiệu
quả, bởi v́ cả Tân Ước và Cựu Ước
đều đến từ Thiên Chúa duy nhất, qua sự
trung gian của Con" (Stromata II, 29,2).
Chính Đức Kitô là trung
tâm nối kết các biến cố mặc khải trong
Cựu Ước và Tân Ước: "Lề luật, các
tiên tri, Tin Mừng, đều được liên kết
tất cả trong Đức Kitô, trong một nguồn nhận
biết duy nhất" (Stromata III, 70,3).
Tư tưởng
của Origène[230] cũng
nhằm biện minh cho mặc khải Kitô giáo. Theo triết
lư Hy lạp, Thiên Chúa là Đấng siêu việt khôn ḍ, vậy
làm sao Ngài lại có thể mặc khải cho con
người? Mặc khải kitô giáo khác với những tôn
giáo nhận ḿnh cũng có mặc khải như thế nào?
Origène sinh khoảng
năm 185 tại Alexandrie, là học tṛ của Clément d'
Alexandrie. Ông đă đi nhiều nơi, kể cả đă
qua Roma. Origène chú giải nhiều sách trong bộ Kinh Thánh.
Ông chết ở Césarée hay ở Tyr khoảng năm 250, sau
khi chịu cực h́nh v́ đức tin.[231]
Theo De Principiis, một
trong những tác phẩm đầu tiên của Origène,
người ta thấy thần học của Origène
triển khai từ ư niệm Thiên Chúa.
Chịu ảnh
hưởng của trường phái Platon cũng như
trường phái thần học Alexandrie, Lời đóng
một vai tṛ rất quan trọng. "Người ta
thấy nơi Lời- Đấng là Thiên Chúa và là h́nh ảnh
của Thiên Chúa vô h́nh- Cha là Đấng đă sinh ra Lời... Ai
chiêm ngắm h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh, cũng có
thể chiêm ngắm Cha, nguyên mẫu của h́nh ảnh"
(Comm. in Joan. XXXII, 9).
Thiên Chúa mặc khải
theo một chương tŕnh, và trong chương tŕnh này
Lời đóng vai tṛ hướng ngoại (De Princ. IV, 4,8;
Comm. in Joan, VI, 57; Contr. Celsum II, 66). Lời xét như
người chỉ đạo, dẫn đưa con
người đến một nhận thức cao hơn
(Comm. in Joan. 19,6). Quan niệm mặc khải bao hàm ư tưởng
tiến bộ, được diễn tả bằng
bộ ba Umbra- Imago- Veritas.
Con người có
thể nhận biết Thiên Chúa qua công tŕnh của
Người (Princ. I, 1,6; Comm. in Cant. III), và qua việc
lắng nghe tiếng lương tâm của mỗi
người (Princ. I, 3,1). Con người có sự
đồng nhất thiêng liêng nào đó với nguyên lư
của hữu thể (Hom. in Gen. 17).
Mặc khải của
Thiên Chúa cho con người đạt tới cao
điểm trong biến cố nhập thể của
Lời. Nơi Đức Giêsu Kitô, Lời hiện diện không
chỉ như nguồn ư nghĩa trong tạo dựng,
cũng không chỉ như lực thiêng liêng nơi con
người có lư trí, mà như là autologos (Contr. Celsum V, 39; VI,
47).
Mặc khải có tính
năng động nội tại, và hàm chứa tính
tiến bộ. Sự thần hiển trong việc nhập
thể của Lời liên kết với biến cố tái
lâm của Đức Kitô. Trong ngày cánh chung đó, người
ta sẽ thấy Đức Kitô "không như chúng ta thấy
bây giờ, nghĩa là như Ngài không là, nhưng như là
thời đó, nghĩa là như Ngài thực sự là"
(Comm. in Mt. XVII, 19).
Về sự tiến
bộ của mặc khải, R. Goegler viết: sự
tiến bộ của mặc khải không hệ tại
trong sự thay đổi nội dung, nhưng trong sự
khai mở tiệm tiến của nội dung, trong sự
thiêng liêng hóa và trong sự hoàn tất nội dung mặc
khải.[232]
Triết gia Celsus,
một đại diện của tư tưởng Hy
lạp thời đó cho rằng: "Cứ theo
người Do thái và Kitô hữu, Thiên Chúa và Con Thiên Chúa
đă chẳng có thể hạ cố" (Contr. Celsum V, 2).
Sở dĩ Celsus nói như vậy, v́ ông thấy có sự
mâu thuẫn nội tại trong lập trường của
Kitô giáo khi tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Lời,
nhưng đồng thời lại tŕnh bày Ngài như
một người bị đánh đ̣n và chịu khổ
h́nh, chứ không như Lời thuần túy và thánh thiện
(Contr. Celsum, II, 31).
Thực ra, Origène không
phải là người không cảm thấy nhức nhối
v́ sự "kỳ dị" này, nhưng ông cố
gắng thoát khỏi lưỡng luận này bằng lư
thuyết về sự thích ứng của Lời với
hoàn cảnh con người: "khi đến với con
người t́m kiếm Ngài và tiếp nhận Ngài khi Ngài
hiện ra cho họ, Lời có khả năng làm cho họ
nhận biết Cha và mặc khải Cha, Đấng là Đấng
vô h́nh trước khi Ngài tới. Ai có thể cứu và
dẫn linh hồn con người đến với Thiên
Chúa tối cao, nếu không phải là Thiên Chúa Lời?
Từ khởi đầu Ngài đă ở nơi Thiên Chúa,
nhưng v́ con người c̣n bị dính vào xác thịt, nên
Ngài đă thành thịt, để có thể được
nhận biết bởi những người không thể
thấy Ngài như Ngài là Lời, như Ngài ở bên
cạnh Thiên Chúa và là Thiên Chúa. Được diễn tả
trong hạn từ thân xác, và được rao giảng
như xác thịt, Ngài gọi đến với Ngài
những kẻ là xác thịt, để làm cho họ
được bước lên cao, để họ có
thể thấy Ngài như Ngài đă là trước khi
trở thành xác thịt" (Cont. Celsum VI, 68).
Origène cố gắng
thiết lập sự hài ḥa giữa Kinh Thánh và những
lời bài bác từ những ư thức hệ xung quanh. Qua
nổ lực này, Origène duy tŕ sự siêu việt của
Thiên Chúa cùng với ước vọng hiểu biết
của con người; và cho thấy việc nhập
thể hướng đến việc biến đổi
con người, dẫn con người đến chiêm
ngắm các thực thể thiêng liêng.
Trong công thức
"Đức Kitô loan báo chính ḿnh" (Comm. in Joan. XIII, 28),
Origène tŕnh bày quan niệm về mặc khải: Lời làm
người, vừa là Đấng mặc khải, vừa là
Đấng được mặc khải.
Tương quan giữa
Lời và Kinh Thánh rất chặt chẽ: "tất
cả đă được tạo dựng bởi Lời,
nghĩa là không chỉ các tạo vật, nhưng cả
lề luật và các tiên tri nữa" (Comm. in Col., frgm. PG.
14,1297c cf. Ga 1:3).
Giữa Kinh Thánh và
Lời nhập thể có tương quan song đối:
"Cũng như Lời được loan báo không
thể sờ mó được v́ bản chất của nó
như vậy (tức vô h́nh), nhưng một khi nó
được chép lại trong sách, một h́nh thức
nhập thể nào đó, th́ nó có thể được
đụng chạm; cũng vậy, Lời của Thiên
Chúa. Theo thần tính, Lời không được thấy cũng
chẳng được viết, nhưng khi Lời thành
thịt, th́ Lời được thấy và
được viết. V́ Ngài làm người, nên có sách gia
phả của Đức Giêsu Kitô" (Comm. in Mt., frgm. PG. 17,289
AB).
Dưới h́nh thức
sách, mặc khải là một hành vi giống như nhập
thể (Contr. Celsum VI, 77). Theo một nghĩa nào đó,
Lời Kinh Thánh đồng nhất với lời siêu
thời gian. Kinh Thánh ở đây không chỉ
được hiểu như những tŕnh thuật về
lịch sử cứu độ được in dấu
bởi Thiên Chúa Lời, cũng không được hiểu
là bộ sưu tập những chữ chết, nhưng
phải được hiểu là tất cả các biến
cố cứu độ được Lời thực
hiện.
Celsus cho rằng con
người khó có thể biết Thiên Chúa với cái
biết tinh ṛng. Để trả lời, Origène nói: "Chúng
tôi cho rằng, bản chất con người không
đủ để t́m kiếm Thiên Chúa và khám phá ra Ngài
với sự tinh ṛng, trừ phi với sự giúp
đỡ của Đấng mà họ đă t́m kiếm. Sau khi
những kẻ t́m kiếm Ngài đă làm hết sức và
đă khám phá được Ngài, họ đă thú nhận
rằng, phải có sự giúp đỡ của Ngài
để khám phá được Ngài. Ngài tỏ lộ cho
những kẻ Ngài xét là hữu lư để Ngài hiện ra
cho họ" (Contr, Celsum VII, 42).
Với câu trả
lời trên của Origène, mặc khải là sáng kiến
của Thiên Chúa, chứ không phải do sức và tự
sức con người. Sự tiến bộ về
nhận biết Thiên Chúa vẫn là ân sủng.
Origène không để ư
nhiều đến chiều kích lịch sử của
mặc khải, nhưng lại nhấn mạnh đến
chiều kích đối thoại. Thiên Chúa đă mặc
khải cho con người, và qua hành vi mặc khải, Ngài
khơi nguồn những tương giao mới và phong phú
giữa Ngài và con người.
Augustin sinh khoảng
năm 354 tại Tagaste ở Numide. Mẹ là thánh Monica, và cha
là một người ngoại chỉ trở lại vào
giây phút cuối đời. Thời thơ ấu, thánh nhân
đă được mẹ dạy cho biết "ơn
cứu độ chỉ có được trong Đức
Kitô," và điều này đă in sâu trong tâm khảm Agustin.
Vào những năm 365-369, nghĩa là vào thời điểm
Augustin từ 11 đến 15 tuổi, Augustin
được gởi đi học tại Madaure; chính vào
thời điểm xa gia đ́nh đầu tiên này, và
nhất là xa người mẹ đạo đức
Monica, mà Augustin bắt đầu sống xa nếp sống
đạo đức. Vào năm 370, Augustin được
gởi đi Carthage để học về hùng biện.
Vào năm 373, lúc 19 tuổi, Augustin đọc Lecture de
l'Hortensius của Cicéron, và nhận ra: con người
chỉ có hạnh phúc đích thực nếu chiếm
hữu được chân lư. Từ thời điểm này
trở đi, câu hỏi nền tảng luôn được
lập đi lập lại với Augustin: làm sao có
được chân lư đích thực?[233]
Trên đường t́m
kiếm chân lư đích thực, Augustin đă đến
với phái nhị nguyên (Manichéisme); đây là thời
điểm Augustin làm giáo sư về hùng biện ở
Tagaste năm 373, và ở Carthage vào những năm 374-383.
Nhị nguyên thuyết đă làm Augustin thất vọng,
nhất là khi lănh tụ phái nhị nguyên là giám mục Fauste
ở Milève tới Carthage vào năm 382, giám mục này thú
nhận không thể trả lời các vấn nạn
của Augustin. Hơn nữa, khi Augustin tới Roma vào
năm 383, ngài thất vọng hơn nữa khi thấy
đời sống vô luân của các lănh tụ phái nhị
nguyên tại đây.[234]
Vẫn miệt mài t́m
kiếm chân lư đích thực, sau khi thất bại với
nhị nguyên thuyết, vào năm 383 ở Roma, Augustin t́m
đến với chủ thuyết cái nhiên (probabilisme) của
trường phái tân hàn lâm (Nouvelle Académie). Nhưng chủ
thuyết này cũng làm Augustin thất vọng, v́ họ
nhận ḿnh dạy đường lối khôn ngoan,
nhưng chính họ lại chủ trương thuyết cái
nhiên, một chủ thuyết lấy nghi ngờ làm chính, và
cho rằng con người không hoàn toàn chắc chắn
sở hữu được chân lư.
Cũng vào năm 384,
Augustin nhận ghế giáo sư tại Milan, và ở đây
Augustin gặp thánh giám mục Ambroise. Sau những lần
nghe thánh nhân giảng dạy và gặp gỡ, Augustin nhận
ra chân lư. Augustin quyết định học đạo,
trở thành dự ṭng vào năm 384.
Vào khoảng năm 385
Augustin khám phá ra rằng, cần thiết phải có một
uy quyền phân biệt với lư trí, để có thể
sở hữu được chân lư. Đó là Kinh Thánh hay Hội
Thánh. Cũng chính vào thời điểm này, Augustin phủ
nhận hoàn toàn chủ trương thuyết cái nhiên trong
việc nhận biết chân lư. Chấp nhận Kinh Thánh và
Hội Thánh là quy phạm của đức tin và chân lư,
đó là sự hoán cải tinh thần của Augustin., Tuy
vậy vẫn c̣n nhiều vấn đề thuộc b́nh
diện tri thức mà Augustin c̣n cảm thấy lấn
cấn. Augustin vẫn tiếp tục đọc và nghiên
cứu những tác phẩm của trường phái
tân-Platon, chủ yếu của Plotin. Những điều
này soi sáng cho Augustin nhiều, và bổ túc những
điều giám mục Ambroise giảng dạy.[235]
Vào mùa thu, tức là vào
khoảng tháng 9 năm 386, một lần đang ở trong
khu vườn tại Milan, Augustin nghe thấy tiếng
"Tolle, lege,” ngài đă quyết định từ bỏ
tham vọng, từ bỏ hôn nhân, từ bỏ thế gian;
ngài đă cùng một số bạn bè lui về Cassiciacum
để làm một loại nhà tập, sống đời
tu tŕ.[236]
Tới đầu
năm 387, Augustin trở về lại Milan để chính
thức chuẩn bị lănh nhận bí tích rửa tội vào
lễ Phục Sinh năm 387, cùng với người con
Adéodat và một người khác là Alype.[237]
Augustin làm linh mục
năm 391; và khi giám mục ở Hippone mất, Ngài
được chọn làm giám mục tại đó năm
395. Chính từ giáo phận nhỏ bé này, mà Ngài soi sáng
Hội Thánh hoàn vũ.[238]
Augustin chết ngày
28.08.430, thọ 76 tuổi, khi Ngài đang làm giám mục
ở Hippone, tức Numide, nay thuộc Carthage nước
Algérie.
Khi xét quan điểm
của Augustin về mặc khải, phải lưu ư
đặc biệt tới lư thuyết soi sáng của thánh
nhân. Chính nơi lư thuyết soi sáng này, người ta thấy
được quan niệm của thánh nhân về Thiên Chúa
và con người.
Lư thuyết "soi
sáng" (illumination) phản ánh cuộc đời t́m
kiếm chân lư của Augustin với bao nhiêu năm miệt
mài vất vả nơi các trường phái nhị nguyên và
Tân Hàn Lâm.
Augustin đă t́m thấy
chân lư.
Khi nhận ra chân lư,
tức là thấy được sai lầm của
trường phái nhị nguyên. Những người này luôn
nói họ rao giảng mặc khải của đức
Kitô, nhưng thực ra họ rao giảng chính lư thuyết
của họ. Họ không có sự khôn ngoan đích thực,
và cuộc sống vô luân của họ cho thấy
điều đó. Augustin cũng thấy được sai
lầm của phái Tân Hàn Lâm; những người này cho
rằng không thể biết chân lư cách chắc chắn, và
họ chủ trương "thuyết cái nhiên"
(probabilisme): có lẽ họ biết
được chân lư!
b. Cần ơn soi sáng
để nhận biết chân lư
Cần ơn soi sáng
để nhận biết chân lư.[239] Điều
này không muốn nói, lư trí không có khả năng biết chân
lư. Lư trí có khả năng nhận biết chân lư vĩnh
cửu, nhưng cần có sự trợ giúp bởi ánh sáng từ
trên.
Sẽ hiểu rơ hơn
về lư thuyết ơn soi sáng, nếu nh́n và so sánh với
quan niệm của Augustin về ân sủng và tự do: con
người với nguyên tội vẫn c̣n tự do
nhưng phần nào đă bị ḷng tham dục khống
chế; ân sủng của Thiên Chúa vẫn cần để
con người làm điều thiện, chứ không
phải con người có khả năng hành thiện
độc lập với Thiên Chúa như Pélage chủ
trương, hoặc con người chủ động
hành thiện trước và ân sủng của Thiên Chúa
trợ giúp sau như nhóm Semipélagianisme chủ trương.
Lư trí cần ơn soi
sáng để nhận biết chân lư,[240] nhưng
lư trí không "chỉ có nhiệm vụ thứ yếu và có
tính chuẩn bị trong việc nhận biết chân lư
như F-J. Thonnard chủ trương.[241] Nếu
giải thích lư trí chỉ có nhiệm vụ thứ yếu
trong việc nhận biết chân lư, e rằng chúng ta
hiểu sai tư tưởng của Augustin, v́ như
vậy trái với Rm 1:19-21 và cũng trái với quan niệm
về con người của Augustin (con người
vẫn c̣n tự do để làm điều thiện, và ân
sủng không làm giảm giá trị tự do của con
người).
Tương tự
như ánh sáng cần để thị giác có thể
nhận ra những vật hữu h́nh, th́ ơn soi sáng
cũng cần để lư trí nhận ra những chân lư
vĩnh cửu. Ánh sáng mặt trời cần để
nhận ra những sự vật hữu h́nh, nhưng nói
như vậy không có nghĩa muốn nói rằng: thị
giác chỉ có chức năng thứ yếu trong việc
nh́n thấy sự vật khả giác hữu h́nh.
Lư thuyết soi sáng,
tức lư thuyết về khả năng của lư trí con
người, là lư thuyết nằm trong nhăn quan con
người đă phạm tội. Như vậy, quan điểm
cứu độ là quan điểm nền tảng trong
cả thần học lẫn triết học của
Augustin. Chính con người sa đọa mới cần
ơn cứu độ. Không thể tách triết học ra
khỏi thần học nơi Augustin. Ở đây
người ta lại thấy lời dạy của mẹ
thánh Monica thật quan trọng với Augustin; lời
dạy này h́nh thành quan điểm của Augustin nơi
cả triết học lẫn thần học: "Ơn
cứu độ chỉ có nơi Đức Kitô."[242] Sau
bao năm trong mê lầm trong tăm tối, trong khắc
khoải t́m kiếm chân lư; cuối cùng Augustin đă nhận
biết chân lư cùng với thực tại cụ thể
của con người: con người với những
giới hạn và tham dục.
Lư thuyết "soi
sáng" không là lư thuyết độc lập bàn về
khả năng của lư trí con người, nhưng nó
diễn tả giới hạn của con người
cụ thể trong việc nhận biết chân lư, và như
vậy nó chỉ được hiểu đúng đắn
trong cái nh́n toàn bộ về con người của Augustin.
Lư thuyết "soi sáng" hàm chứa khẳng định
có những chân lư hiện hữu độc lập với
lư trí con người,[243] và
những chân lư vĩnh cửu khách quan này hiện hữu
nơi Thiên Chúa, nơi Lời Thiên Chúa.[244]
Ánh sáng soi sáng lư trí này, là
ánh sáng tự nhiên (xét như linh hồn theo bản tính quy
hướng về nhận biết chân lư),[245] là
ánh sáng đặc biệt phân biệt với ánh sáng riêng
của trí khôn,[246] là
chính Thiên Chúa.[247] Ánh
sáng, nhờ đó lư trí nhận biết chân lư, là chính trí
năng tác động theo Thomas.[248] Ánh
sáng này, theo Thomas, tuy không do linh hồn sở hữu như
tự linh hồn có vẫn ở nơi linh hồn, làm
một với linh hồn. C̣n đối với Augustin, ánh sáng này linh
hồn nhận được từ trên, từ Thiên Chúa.[249]
Chân lư ở trên lư trí con
người, là thực tại độc lập với lư
trí con người. Chính v́ vậy, lư trí con người
cần ơn soi sáng để nhận biết chân lư
vĩnh cửu. Và cũng chính v́ vậy, con người
cần một uy quyền tách biệt với lư trí
để giúp lư trí con người nhận biết chân lư
vĩnh cửu, đó là Kinh Thánh và Hội Thánh.[250]
Thiên Chúa là chân lư thực
hữu, là chân lư của mọi chân lư, là Đấng cứu
độ con người qua Đức Kitô, là Đấng soi sáng,
để linh hồn con người nhận biết chân lư
vĩnh cửu, là Đấng yêu thương luôn ban ân sủng
giúp con người hành thiện. Con người là tạo
vật sa ngă bị thương tổn, được
cứu độ qua ơn soi sáng để nhận
biết chân lư vĩnh cửu, qua ân sủng và đặc
biệt qua Đức Giêsu Kitô như Lời Thiên Chúa, Đấng
vừa là Đường, vừa là sự thật, vừa là
Sự sống.
Với kinh nghiệm
sống của bản thân, Augustin không đề cao lư trí
như một khả năng tuyệt đối mà các nhà
duy lư đă làm sau này. Trái lại, thánh nhân đề cao
Đức Kitô như Lời Thiên Chúa sở hữu mọi chân
lư và làm con người hạnh phúc đích thực. Ngài
cũng đề cao Hội Thánh như quyền bính bảo
vệ và lưu truyền chân lư. Chính nhờ Hội Thánh và
cụ thể qua thánh giám mục Ambroise, Augustin đă
nhận biết chân lư vĩnh cửu.
Bonaventura[251] không
trực tiếp bàn về mặc khải, nhưng cũng
bàn về những mặc khải trong lịch sử
cứu độ. Ở đây sẽ t́m biết tư
tưởng của ngài về sự cần thiết,
chức năng và đặc tính của mặc khải
từ tổng hợp thần học.[252]
Với một tín
hữu, điều họ tin nhận, là chân lư. Tương
tự như vậy với một triết gia kitô hữu
chân thực, điều họ tin nhận và triết
thuyết của họ không thể mâu thuẫn nhau. Trong cái
nh́n này, những điều Bonaventura chấp nhận
hoặc vay mượn nơi triết lư của Platon,
đối với Bonaventura, có thể dung hợp hài ḥa
đối với chân lư đức tin ngài tin nhận.
Cũng trong cái nh́n này, đức tin trở thành chỉ
đạo cho lư trí, và chân lư đức tin trở thành nguyên
tắc triết lư.
Thuyết ư mẫu
(exemplarisme) là cốt lơi triết thuyết của Bonaventura.
Đây là thuyết được gợi hứng bởi tư
tưởng của Platon, cho rằng thế giới
khả giác này được giải thích nhờ thông
dự vào nguồn ư niệm.[253] F-J.
Thonnard tóm lại lư thuyết căn bản của Bonaventura
bằng câu: "Mọi sự đều khả tri nhờ
các ư niệm mẫu của Thiên Chúa."[254]
Lư thuyết ư mẫu nơi
Bonaventura hàm chứa:
· Hữu thể tối cao đă tạo dựng vũ
trụ nhờ những ư niệm nơi Ngài;
· Bởi v́ vũ trụ thế giới này
được tạo dựng theo ư mẫu nơi Thiên Chúa,
nên những hữu thể tạo dựng cũng giống
cũng phản ánh, như những bóng mờ (umbra) hoặc
như những dấu vết (vestigium) hoặc cao hơn
nữa là như h́nh ảnh (imago).[255]
· Thiên Chúa biết tạo vật v́ những ư niệm
ở nơi Thiên Chúa như những ư niệm mẫu
của tạo vật; các ư niệm ở nơi Thiên Chúa,
nhưng cũng ở nơi các sự vật, đến
độ vũ trụ trong toàn bộ có thể
được coi như sự biểu lộ của nguyên
mẫu và sự tốt lành của Thiên Chúa.[256] Các
ư niệm mẫu được định nghĩa là
"Similitudo rei per quam cognoscitur et producitur."
Ư niệm thuộc
về tri thức, và tri thức là sự đồng hóa nào
đó, hoặc cái tương tự giữa chủ thể
tri thức và đối tượng tri thức. Bonaventura
dùng từ ngữ "diễn tả" (expressio)
để chỉ tri thức.[257] Chân
lư được định nghĩa là tri thức
tuyệt hảo,[258] là
hành vi của trí khôn diễn tả sự giống nhau
tuyệt hảo giữa trí khôn và sự vật.[259]
Bonaventura c̣n phân biệt
tri thức do trừu xuất và tri thức do ơn soi sáng.
Tri thức trong trật tự trừu xuất nhằm
thủ đắc khoa học về những hữu
thể bất tất, c̣n tri thức ở trật tự
thị kiến trực giác có đối tượng là chân
lư vĩnh cửu thần linh.[260] Ở
đây Bonaventura lấy lại lư thuyết soi sáng của
Augustin.
b. Con người- h́nh ảnh
Thiên Chúa
V́ con người là h́nh
ảnh (imago) của Thiên Chúa, nên con người có thể
biết và yêu Thiên Chúa.[261] Chính
bởi ư niệm mà tương quan giữa Thiên Chúa và
tạo thành được thiết lập, đến
nỗi "sự tương tự" (similitudo) trở
nên nền tảng cho phép đạt tới tri thức
chắc chắn.[262]
Theo Bonaventura, mọi
tạo vật đều phản ánh Ba Ngôi: Ngôi Cha như
nguồn gốc, ngôi Con như h́nh ảnh, và Thánh Thần
như dây liên kết (Coll. in Hex. II, 23).
Con người, v́ là h́nh
ảnh, có thể vươn lên và trở về với
nguồn gốc của ḿnh. Con người có khả
năng đọc quyển sách là thế giới tạo
vật này để nhận biết Thiên Chúa. Nơi con
người xét như là h́nh ảnh, có một khát vọng
tự nhiên trở về với nguyên mẫu, cái mà con
người có một nhận thức nào đó về,
nhờ bản chất được tạo dựng
của ḿnh.[263]
Trật tự tri
thức và lịch sử cứu độ không tách rời
khỏi nhau. Lịch sử xét như là lịch sử nhân
linh, luôn hướng tới ơn cứu độ hay
sự hư mất như ta thấy trong Kinh Thánh. Bởi
tội, con người chuyển từ t́nh trạng vô
tội và vẹn toàn như thời ở vườn
địa đàng đến t́nh trạng sa đọa; và
chính đức Kitô đă giải phóng con người
bằng cách đặt con người dưới luật
ân sủng (III Sent. d. 16, dub. 4).
T́nh trạng vô tội
nguyên vẹn là sự ḥa hợp hoàn hảo giữa cơ
chế hữu thể của con người xét như h́nh
ảnh của Thiên Chúa với chính cung cách hành xử
của con người. Lúc này ư chí và trí khôn nhận biết
mối tương quan đặc biệt giữa con
người và nguyên lư của ḿnh; tri thức trực giác và
tri thức trừu xuất về Thiên Chúa trở thành
một, đến độ Thiên Chúa có thể
được nhận biết qua các tạo vật như
qua một tấm gương không t́ ố (I Sent. d. 3, p. 1,
a. un., q. 3). Nhưng ở t́nh trạng này, tri thức về
Thiên Chúa cũng không tuyệt hảo, v́ nó chưa là thị
kiến trong vinh quang. Tuy vậy, thế giới
được coi là quyển sách đă mở và có thể
đọc được (Brev. II, 12; II Sent, d. 23, a. 2, q. 3).
Tội nguyên tổ
đă bẻ gẫy sự hài ḥa giữa Thiên Chúa và con
người. Quyển sách tạo thành đă trở thành
bị niêm ấn; tinh thần đă xa ĺa Đấng là nền
tảng, nguyên lư, mục đích của ḿnh, để
hướng tới các thực tại chóng qua. Hậu
quả là bản tính bị sa đọa, tuy vẫn là h́nh
ảnh (II Sent., proem); nếu ba tài năng của tâm hồn
vẫn c̣n nguyên vẹn, th́ tấm gương của
thế giới bên ngoài đă bị lu mờ, và khả
năng nhận biết cũng như các sự vật
đă ra tệ (I Sent., d. 3, p. 1, a. un., q. 3). Sau sa ngă không ai có
thể từ các tạo vật trở lại nguồn
gốc của ḿnh, v́ quyển sách tạo thành đă khép
lại; bởi thế, để có thể trở lại
nguồn gốc của ḿnh, v́ quyển sách tạo thành
đă khép lại; Bởi thế, để có thể
trở về lại với nguồn gốc của ḿnh,
cần phải có một quyển sách mới, hầu
thế giới được soi sáng và các ngôn ngữ
biểu trưng của tạo thành có thể
được hiểu. Đó là Kinh Thánh (Col. in Hex. XIII, 12).
Các phần của Kinh
Thánh có một lịch sử động, nó bao gồm ba
giai đoạn lớn của lịch sử cứu
độ: thời luật tự nhiên, thời luật
được chi chép, và sau cùng là thời đại
luật ân sủng. Người ta phải biết ba
thời điểm này để hiểu tính chất
mầu nhiệm của Kinh Thánh (Col. in Hex. XV, 20). Ai đi
sâu vào mầu nhiệm Kinh Thánh, sẽ nhận ra ư
định của Thiên Chúa trong hành động cứu
độ.
Kinh Thánh nhắm biểu
lộ ơn cứu độ trong thời gian và không gian.
Kinh Thánh là sức mạnh canh tân nhằm dẫn đưa
tạo thành đến nguồn gốc của nó và mang
lại hạnh phúc tṛn đầy (Bre., Prol., 2) Tuy vậy,
Kinh Thánh không nhằm đưa con người trở
lại t́nh trạng địa đàng đă mất,
nhưng nó mang lại cái ǵ mới mà thế gian không thể
tự ḿnh làm ra được, v́ Kinh Thánh là tác phẩm
của Thiên Chúa, chính Ngài đă dùng các tác giả nhân loại
để viết nên Kinh Thánh (IV Sent., d. 2, a. 2, q. 2, ad.1).
Ở t́nh trạng
đầu tiên, con người được đặt
làm trung tâm của tạo thành; c̣n bây giờ đức Kitô
là trung tâm. Chính Ngài bây giờ là con đường của
tạo thành và con đường chân lư, Ngài là khách lữ
hành, xuất từ Cha và trở về với Cha. Trong Ngài,
quyển sách tạo thành được mở ra; Ngài
cũng là người đọc sách với tri thức viên
măn, là Đấng đưa tất cả tạo thành trở
về với tác giả của nó. Như ở nơi Ba
Ngôi, Lời Thiên Chúa là Đấng diễn tả yếu tính
của Cha; cũng vậy bây giờ đối với
tạo thành, Ngài vừa là người mặc khải
tối cao của Ngôi thứ nhất. Quyển sách nội
tâm của Thiên Chúa đă được mở ra bên ngoài
bởi việc nhập thể; quyển sách này có thể
đọc và có thể hiểu, bởi v́ nơi quyển
sách, nơi người Con này, thâu tóm sự khôn ngoan vĩnh
cửu; đến độ trong Ngài, thế giời này có
thể được tái tạo (Brev. 11,11). Trong Đức
Kitô, hữu thể thâm sâu của Thiên Chúa được
khai mở cho thế gian, đến độ bây giờ
thế gian có thể biết và liên kết vói Ngài: đó là
ơn cứu độ đă được mầu
nhiệm nhập thể mang lại.
Kinh Thánh là nguồn duy
nhất của tri thức thần học, Kinh Thánh mang
lại cho người đọc không chỉ mặc
khải, hiểu theo nghĩa như lời giải thích
thế giới và lịch sử, nhưng nó c̣n có nhiệm
vụ thanh tẩy cùng soi sáng, và đem lại cho
người đọc ư nghĩa về Thiên Chúa,
điều đă bị mất bởi tội.
Kinh Thánh phải
được đọc trong truyền thống giáo
phụ, v́ nếu bị tách khỏi đức tin
truyền thống của Hội Thánh, Kinh Thánh không mang
lại tri thức cứu độ (Coll. in Hex. XIX, 10).
Hiểu trong bầu khí
này, Bonaventura chống lại triết học, v́ triết
học không mang lại những tri thức đóng góp vào tri
thức cứu độ, không có sức tha thứ tội
(Vis. III, Coll. 7, n. 6-7; cf. Coll. in Hex. XIX, 7), v́ lư trí nhân
loại không có khả năng chứng minh đức tin.
Đức tin dựa trên Kinh Thánh và các phép lạ (Coll. in Hex.
XIX, 14).
d. Đức Giêsu Kitô-
đường dẫn đến với Thiên Chúa Cha
Đức Kitô, Đấng nói
trong Kinh Thánh, là nền tảng cố định, là đèn
soi lối, và là cửa dẫn vào (fundamentum stabiliens, lucerna
dirigens, et janua introducens). Đức Kitô trở nên nguyên lư soi
sáng trí tuệ. Ngài là nguồn duy nhất của tri thức
chân thực, là đường và chân lư, v́ Đức Kitô là
Đấng mặc khải Cha. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa
được viết trong Ngài như trong quyển sách sự sống.
Trong Ngài ẩn dấu kho tàng khôn ngoan và hiểu biết.[264]
Xét như là
đường dẫn tới Cha, Đức Kitô là Thầy và
là nguyên tắc tri thức (những tri thức do
đức tin). Không có Ngài, không ai đạt đến tri
thức này, v́ bởi việc Ngài đến trong Thánh Linh,
Ngài là nguồn gốc mặc khải, và bởi việc
Nhập Thể, Ngài trở thành cột trụ uy quyền
(Sermo sel. de Reb. Theol. IV, n. 2). Xét như là chân lư, Ngài là
Thầy duy nhất, v́ nơi Ngài có chân lư vĩnh cửu
về đối tượng cần biết và không
thể sai lầm (Op. cit., n. 6). Đức Kitô cũng là mối
dây liên kết hai mặc khải chứa đựng trong
hai giao ước, do đó Ngài là nền tảng chân
thực của học thuyết nơi các tiên tri và nơi
các tông đồ.[265] Hơn
nữa, xét như Lời làm người, Đức Kitô mở
cho chúng ta ư nghĩa thâm sâu nhất của Kinh Thánh, v́ Kinh
thánh chủ yếu nói về nguồn gốc và tiến
tŕnh cứu độ (Coll. in Hex. III, 2).
Đức Kitô xuất
hiện trong Tân ước dưới dấu chỉ
thập giá, do đó tất cả thần học phải
là thần học về thập giá: "Thập giá là quyển
sách duy nhất dẫn con người đến sự khôn
ngoan đích thực."[266]
Qua Đức Kitô, Thiên Chúa
đă nói với con người. Đức tin là lời đáp
trả duy nhất tương ứng với chức
vụ trung gian của Đức Kitô. Tuy vậy nguồn
của đức tin không là hành động thuần túy
của con người, nhưng chính trong Đức Kitô và trong
Thiên Chúa mà đức tin có nền tảng (Coll. in Hex. VIII, 2).
Bonaventura cho rằng,
đức tin Hội Thánh tuyên xưng được t́m
thấy trong Kinh Thánh, nếu không từng chữ th́ ít ra là
trong ư nghĩa.[267] Do
đó mọi khẳng định thần học phải
có tương quan chặt chẽ với mặc khải
thành văn.[268] Để
hiểu Kinh Thánh, cần sự giúp đỡ của
truyền thống qua các giáo phụ. Trong nhăn quan này, các tín
khoản tuyên xưng thời các tông đồ có một
chỗ đứng rất quan trọng, v́ nó có giá trị
như nguyên tắc chỉ đạo và bất biến.[269] Trong
nhăn quan này, mặc khải thiết yếu liên hệ
tới Hội Thánh giáo huấn.
Khi
lược sơ qua tư tưởng của thánh
Bonaventura, người ta nhận ra nỗ lực của
Ngài nhằm giải quyết vấn đề tiềm
ẩn: con người có thể biết Thiên Chúa không? con
người có thể nhận mặc khải của Thiên
Chúa không? Thánh nhân giải quyết bằng lư thuyết các ư
niệm, có sự liên hệ giữa Thiên Chúa và tạo
vật (Umbra, vestigium); riêng con người v́ là h́nh ảnh
của Thiên Chúa, có thể đọc được
quyển sách "tạo thành" nói về Thiên Chúa.
Quyển sách này đă bị tội làm đóng lại, và con
người không thể đọc được nữa;
thế nên cần một quyển sách khác là Kinh Thánh.
Với Đức Kitô, chúng ta nhận biết về Thiên Chúa
dễ dàng hơn và trọn vẹn hơn quyển sách
"tạo thành." Đức Kitô vừa là phương
tiện mặc khải mới và trọn vẹn của
Thiên Chúa, nhưng đồng thời Ngài cũng là
đối tượng mặc khải. Ai biết Ngài, là
biết Cha, ai thấy Ngài là thấy Cha; mặc khải
đă đạt tới tột đỉnh nơi
đức Kitô.[270]
Thomas d'Aquin sinh khoảng
năm 1225 ở lâu đài Rocca Secca gần Naples tại Ư
trong một gia đ́nh công tước. Vào khoảng năm
1244, ngài vào ḍng Đa-minh, nhưng măi một năm sau, tức
khoảng năm 1245, ngài mới được tự do
theo ơn gọi; vào khoảng năm 1252-1259, ngài dạy
tại Paris; khoảng năm 1272-1274, trở về Naples.
Ngài chết trên đường đi dự công
đồng Lyon vào ngày 07.03.1274.[271]
Thomas phân biệt rơ
trật tự tự nhiên và trật tự ân sủng. Lư trí
có thể nhận biết những chân lư mà không cần
nại đến sự can thiệp đặc biệt
của Thiên Chúa; và như vậy, triết lư là một khoa
học độc lập.[272]
Những ǵ khả
hữu, đều khả tri.[273]
Theo Thomas, trong t́nh
trạng tại thế của con người, đối
tượng tương xứng của con người tinh
thần là hữu thể trừu xuất từ sự
vật khả giác. Trí năng con người gồm trí
năng tác động và trí năng thụ động; trí
năng thụ động cũng c̣n gọi là trí năng
khả thể. Trí năng tác động trừu xuất
những ảnh niệm khả tri từ những ảnh
tượng, và từ các ảnh niệm khả tri này có các
ư niệm.[274]
Một quan niệm
về khả năng tri thức của con người bao
hàm quan niệm về con người. Theo Thomas con
người có khả năng đi từ cái đặc thù
đến cái phổ quát, và có khả năng đi từ
cái hữu hạn đến cái vô hạn.
Hiểu con người
như trên, nghĩa là trong trật tự b́nh thường,[275] con
người đă được tạo dựng
để hướng tới với Thiên Chúa. Như
vậy, con người trong trật tự tự nhiên, có
tri thức về Thiên Chúa, nghĩa là, triết lư có chỗ
riêng của nó, nó có thể được coi là khoa học
độc lập với thần học- khoa học
đặt nền trên trật tự đặc biệt,
trật tự mặc khải, trật tự siêu nhiên.
Nếu lư trí con
người ở trật tự b́nh thường có
khả năng đi từ cái đặc thù để
đến cái phổ quát, có khả năng từ cái
hữu hạn lên tới cái vô hạn, có khả năng
từ hữu thể khả giác vươn tới thực
tại vô h́nh siêu việt, th́ liệu có cần có mặc
khải không? Trong những điều liên quan đến
Thiên Chúa, có nhiều điều vượt quá khả
năng của lư trí con người, chẳng hạn chân lư
"Thiên Chúa là một và ba."[276] Dưới
sự hướng dẫn của ánh sáng tự nhiên các
triết gia chỉ có thể biết Thiên Chúa hiện
hữu và những phẩm tính tổng quát nơi Thiên Chúa.
Lư trí với khả năng tự nhiên, không có khả
năng hiểu thấu đáo Thiên Chúa và bản chất
của Ngài, v́ tri thức của con người ở
điều kiện tại thế này đều khởi
từ giác quan. Những sự vật khả giác tự
bản chất của chúng không thể đưa trí khôn
của chúng ta đạt đến yếu tính thần linh
(Contr. Gent. I, c. 3, n.16). Hơn nữa, với khả năng
tự nhiên của lư trí con người vẫn có thể sai
lầm về những ǵ có thể biết được
theo khả năng của nó, nên Thiên Chúa nhân từ cũng
mặc khải cả những chân lư tự bản chất
không vượt quá lư trí con người, khi những chân lư
này liên quan đến hạnh phúc con người, ngơ
hầu con người được thông phần vào
sự nhận thức thần linh (ScG. I, 4, n. 26). C̣n lư do
khác cho thấy mặc khải thực sự cần
thiết cho con người, đó là: con người
được tạo dựng để hướng
về Thiên Chúa. Không có mặc khải, con người không
có thể đạt tới cùng đích đời ḿnh mà
Thiên Chúa đă đặt nơi con người như
ơn gọi, như cái cấu thành hữu thể con
người[277].
Thiên Chúa đă tạo dựng con người như một
hữu thể "quy thần,” như một hữu
thể có thể đối thoại với Thiên Chúa, có
thể được Thiên Chúa mặc khải, có khả
năng sống hạnh phúc với Thiên Chúa.
Mặc khải cần
thiết, v́ chỉ có đức tin dẫn tới
hưởng kiến. Hạnh phúc tuyệt đối
của con người hệ tại được hưởng
kiến Thiên Chúa, và con người chỉ có thể
đạt được sự hưởng kiến này
nếu con người được Thiên Chúa dạy
dỗ như một người thầy dạy học tṛ
(ST, IIa-IIae, 2,3).[278] Nói
một cách khác, đức tin là điều kiện
để được hưởng kiến vĩnh phúc.
Con người được mời gọi, để
vượt qua chính ḿnh, vượt qua những ǵ khả
giác, để học ao ước những ǵ vượt
quá điều kiện của cuộc sống hiện
tại (ScG. I, c.5, n.29). Đức tin thật cần thiết
để đạt tới tri thức chân thực hơn
về Thiên Chúa, và tri thức này chỉ được ban
cho những ai tin vào Thiên Chúa là Đấng vượt trên
cả cái mà người ta có thể nghĩ về Ngài (ScG.
I, c.5, n.30).
Đối tượng vô
h́nh của đức tin được tỏ lộ
đầu tiên cho các thiên thần bằng một thị kiến
trực tiếp (per apertam visionem). Và rồi các thiên thần
thông truyền cho một số người nào đó
với tất cả sự chắc chắn do mặc
khải thần linh (ScG. III, c. 154, n. 3256 tt). Sự chắc
chắn này có được, là nhờ một ánh sáng thiêng
liêng nội tâm, cho thấy điều c̣n bị che
khuất đối với ánh sáng tự nhiên của lư trí.
Mặc khải không là
một đặc ân cá nhân, chỉ dành cho một số
người; trái lại nó dành cho tất cả mọi
người; và như vậy, nó phải trải dài qua thời
gian. Và điều này chỉ có thể, nếu mặc
khải được viết ra. Và không chỉ có thể,
c̣n gồm cả việc chú giải các tài liệu mặc
khải cũng như việc hiện tại hóa mặc
khải (ScG. III, c.154, n. 3258-3273).
Mặc khải xét
như lịch sử chỉ có thể đến với
chúng ta trong những quyển sách của hai giao ước,
đó là Kinh Thánh. Kinh Thánh là nền tảng của mọi
suy tư thần học, nếu những suy tư thần
học này muốn tựa vào lịch sử.
Theo chứng từ Kinh
Thánh, nhân loại đă trải qua nhiều t́nh trạng
(status): luật cũ rồi luật mới. Tương
quan giữa luật cũ và luật mới cũng tương
tự như tương quan giữa cái bất toàn và cái
hoàn hảo. Tất cả lịch sử cứu độ
hướng tới đỉnh, là t́nh trạng đời
sống hiện tại (status praesentis vitae). Nghĩa là, sau
nó sẽ không có cái ǵ mới xét như thiết yếu
nữa; bởi v́ không có cái ǵ gần mục đích
cuối cùng hơn cái dẫn trực tiếp tới
mục đích cuối cùng: thời gian ân sủng đă
được biểu lộ trong đức Kitô (ST. Ia-IIae,
106,4). Mặc dầu giai đoạn cuối cùng của
ơn cứu độ đă được khởi
đầu với Đức Kitô, nhưng cái hiện tại
vẫn là h́nh bóng và bất toàn so với "quê
hương" (patria); khi quê hương được
đạt đến vào cuối thời th́ cái hiện
tại sẽ chấm dứt (ST. Ia-IIae,
106,4).
Cựu Ước
vẫn c̣n cần thiết, v́ nó là luật chuẩn bị
cho Đức Kitô xuất hiện. Mỗi một thời
điểm của lịch sử cứu độ không thể
được hiểu như một giai đoạn ở
ngoài đối với con người. Chính nhờ thời
điểm cuối cùng này mà bản chất của Cựu
Ước được xác định, đến
độ con người không thể được xác
định cách đúng đắn nếu không để ư
đến t́nh trạng cuối cùng này. T́nh trạng của
nhân loại thay đổi qua thời gian. Và như vậy,
đức tin ở mỗi t́nh trạng cũng khác nhau theo
thời điểm nhưng tính duy nhất của
đức tin ở hai giao ước vẫn
được bảo toàn (ST. I-II,106,3, ad 2; 107,1, ad 1; 107,2).
Thomas cũng bàn
đặc biệt đến các tiên tri của Cựu
ước, và cho thấy những hoàn cảnh trong đó
mặc khải lịch sử đến với con người.
Nơi các tiên tri, Thiên Chúa đă ban cho các ngài ánh sáng siêu nhiên
để các ngài nhận biết Thiên Chúa; các tiên tri hoàn toàn
tùy thuộc vào Thiên Chúa, và các ngài chỉ nhận
được ánh sáng này bao lâu các ngài được ban cho
(De Ver. 11,1). Người ta có thể h́nh dung tiến tŕnh này
như một cuộc nói chuyện (quasi quaedam allocutio) hay
như việc nghe nói (perceptio divinae locutionis). Các lời hay
các diễn từ của tiên tri được tri thức
này hướng dẫn điều khiển, nhằm xây
dựng tha nhân.
Đối tượng
của tri thức, là Thiên Chúa và con người, là những
biến cố tương lai, là sáng kiến cứu
độ của Thiên Chúa, là tri thức cần cho con người
trong trật tự cứu độ và truyền thông tri
thức này. Yếu tố mô thức của tri thức tiên
tri là ánh sáng thần linh; chính ánh sáng thần linh làm cho các
sấm ngôn có tính thống nhất dù đối
tượng thay đổi, dù cách thức lănh nhận có
khác nhau (thị kiến, giấc mơ, h́nh ảnh) (ST.
II-II, 171,3, ad 3). Yếu tính của lời tiên tri không hệ
tại những h́nh thức diễn tả nhưng ở
nơi ánh sáng được thông truyền. Nơi đây
không c̣n là một tương quan tự nhiên thầy tṛ,
nhưng chính là ánh sáng siêu nhiên đến soi sáng phán đoán.
Chính nhở ánh sáng này mà các tiên tri có sự chắc chắn
tuyệt đối.
Mặc khải tiên tri
gồm những mức độ trọn hảo khác nhau,
và cao nhất là sự biểu lộ các chân lư thần linh
qua chiêm ngắm; sự biểu lộ qua chiêm ngắm
vượt trên sự biểu lộ bằng h́nh ảnh
được rút ra từ những sự vật khả
giác của thế giới này, bởi v́, biểu lộ qua
chiêm ngắm giống thị kiến hưởng phúc
hơn (ST. II-II, 174:2).
Nơi tri thức tiên
tri, các thiên thần cũng đóng một vai tṛ nào đó
trong mức độ các ngài có thể gợi lên những
thị kiến h́nh ảnh hoặc củng cố ánh sáng
thần linh trong tâm trí con người (De Ver. 12,8, ad 4).
Sấm ngôn hướng
tới tri thức các chân lư thần linh. Việc chiêm
ngắm các chân lư thần linh. Việc chiêm ngắm các chân lư
này dạy dỗ con người ở b́nh diện đức
tin cũng như ở b́nh diện hành động. Có
sự tiến bộ về tri thức thần linh trong ḍng
thời gian. Thời trước lề luật, Abraham và
các tổ phụ cũng được giáo huấn trong tri
thức về Thiên Chúa; thời dưới lề luật,
tri thức này mang một h́nh thức hoàn hảo hơn: chân
lư không chỉ được loan báo cho một số
người hay một số gia đ́nh, nhưng cho tất
cả một dân tộc; và rồi dưới thời ân
sủng, Con Thiên Chúa đă mặc khải mầu nhiệm
Ba ngôi.
ii. Đức Kitô- lữ hành và
phúc nhân
Đức Kitô tới
đánh dấu điểm dứt của sấm ngôn.[279] Ngài
là Đấng mặc khải, là phúc nhân và lữ hành (comprehensor
et viator), Ngài nối kết thần linh và con người,
Ngài mang lại cho con người tri thức tối hậu
về Cha, Ngài thay thế sấm ngôn của giao ước
cũ. Nơi Ngài, mọi ân sủng được ban cách
hoàn hảo nhất (ST. III, 7,7). Ngài có thể thông truyền
cho thế gian trọn vẹn chân lư và toàn thể
đặc sủng. Chính Ngài đă linh ứng các tiên tri
trước Ngài, và cả các thiên thần nữa; bởi v́
mọi tri thức đều do việc tham dự vào
Lời Thiên Chúa (Sup. Jo., c. VI, lect. 2, n.868).
Đức Kitô là vị tiên
tri tuyệt đối, hiểu như là người
"thị kiến" và "thông truyền,"[280] bởi
v́ Ngài đă loan báo các chân lư về Thiên Chúa (Sup. Jo., c. IV,
lect. 6, n. 667). Bản án trên thập giá được
viết bằng ba ngôn ngữ, điều này hàm chứa
đặt mọi khoa học dưới sự vâng
phục của Ngài, và mọi tri thức tuyệt
đối đă được mặc khải trong
đức Kitô (Sup. Jo., c. XIX, lect. 4, n. 2422).
Chức năng mặc
khải của Đức Kitô ít được bàn trong
những tác phẩm chính của Thomas, nhưng điều
này không có nghĩa nó không có trong tư tưởng của
Ngài. Trong phần dẫn nhập của tổng luận
thần học phần thứ ba, ngài viết: "Salvator
noster Dominus Jesus Christus... viam veritatim nobis in seipso demonstravit,
per quam ad beatitudinem immortalis vitae resurgendo pervenire
possimus..." Đó là nội dung và mục đích của
mặc khải được thực hiện nơi
Đức Kitô. Ngài cho chúng ta thấy rằng: chính con
người Ngài là đường chân lư, qua ngài chúng ta
đến với Chúa Cha. Sự xuất hiện của
Ngài như một người giữa chúng ta, chưa là
kết điểm của hoạt động thần linh;
như vậy chúng ta không được ngơi nghỉ
trong nhân tính của Ngài, nhưng chúng ta phải hướng
về Chúa Cha qua nhân tính của Ngài.[281]
Như Lời Thiên Chúa,
Đức Kitô là chân lư. Và như vậy, tất cả mọi
người muốn biết chân lư phải gắn bó
với Ngài. Đồng thời, Ngài cũng là sự sống,
đến độ, Ngài có thể giới thiệu ḿnh
như là đường dẫn tới đích
điểm, v́ trong Ngài t́m thấy mọi điều
đáng ao ước (Sup. Jo., c. XIV, lect. 2, n. 1869).
Nhập thể cần
thiết, v́ việc nhập thể của Con Thiên Chúa giúp
con người đạt đến cùng đích một
cách chắc chắn hơn và thích hợp hơn. Bởi
việc nhập thể của Đức Kitô, đức tin
của chúng ta đạt tới sự chắc chắn; v́
nơi con người Đức Kitô, chính Thiên Chúa nói với
chúng ta cách trực tiếp, không qua trung gian. Niềm hy
vọng của chúng ta cũng được củng
cố, v́ không có ǵ cho thấy rơ hơn t́nh yêu của Thiên
Chúa đối với con người qua việc Con của
Ngài đến ở giữa con người.
Mặc khải là
một chứng từ t́nh yêu, để chúng ta có thể
đáp trả bằng một t́nh yêu. Hơn nữa, Lời
làm người cho chúng ta một tấm gương "ad
rectam operationem,” bởi v́ hoàn toàn như một
người, hầu con người có thể thấy Ngài
và bắt chước. Việc nhập thể biểu
lộ sự tham dự hoàn toàn thần tính (plene participatio
deitatis); sự tham dự thần tính này là mục đích và
hạnh phúc của con người (ST. II, 1,2).
Tất cả
đời sống trần thế của Đức Kitô
đối với chúng ta là một mầu nhiệm, mầu
nhiệm cứu độ. Và điểm cuối của
mầu nhiệm này là sự phục sinh của
Người. Thomas cho rằng mầu nhiệm phục sinh
nhằm "bảo đảm sự công chính thần linh,
giáo dục đức tin của chúng ta, nâng cao ḷng trông
cậy; huấn luyện đời sống tín hữu,
bổ túc ơn cứu độ chúng ta."[282]
Moi ân sủng
được ban cho con người nhờ Đức Kitô.
Đức Kitô, hội tụ mọi ân sủng, xét như Ngài
là vị thầy đầu tiên và chủ yếu của
chúng ta (ST. III, 7,7).
Nhập thể nhằm
rao giảng chân lư (ST. III, 40:1). Sự rao giảng này là
một mặc khải của ngôi Cha, có kết quả là
giải phóng chúng ta khỏi tội, đồng thời cho
phép chúng ta lại gần Thiên Chúa (Sup. Jo., c. I, lect. 11, n.
221).
Ngày xưa người
Con duy nhất đă thông truyền tri thức về Thiên
Chúa qua các tiên tri, tức những người đă
được tham dự vào Lời Vĩnh Cửu. C̣n bây
giờ trong giao ước, không cần nại đến
trung gian v́ sứ điệp đă vang vọng trong chính ngôi
vị Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta có một giáo lư
vượt trên tất cả mọi giáo lư về
địa vị, về sự đáng tin, và về
việc sử dụng. Đối tượng quan trọng
nhất của sứ điệp này là: Thiên Chúa một và
ba. Sứ điệp này không có tiên tri nào có thể nói
tới, ngay cả Môsê (Sup. Jo, c. I, lect. XI, n. 221). Bởi
nhập thể, Thiên Chúa đă có thể nói trực tiếp
với chúng ta, để chúng ta có thể nghe Lời Thiên
Chúa (Sup. Jo. c. VIII, lect. 3, n. 1138).
Khi Đức Kitô tỏ
lộ Ngài như chân lư, Ngài chuẩn bị vương
quốc của Ngài. Vương quốc này chủ yếu
tựa trên việc mặc khải chân lư, đến độ
trong vương quốc này chỉ có sự khôn ngoan nhân
loại trong mức độ sự khôn ngoan này đến
tự Ngài (Sup. Jo., c. XVII, lect.6, n.2267). Khi chân lư mặc
khải không c̣n liên kết với ngôi vị Đức Kitô
tỏ hiện nơi thân xác nữa, th́ những
người đến sau Đức Kitô chỉ có một
lối gián tiếp đến với chân lư này. Tuy vậy
lời mời gọi vẫn c̣n. Trong suốt ḍng thời
gian, lời rao giảng luôn gắn liền với mặc
khải duy nhất, bởi v́ chính Thiên Chúa dùng phương
tiện lời rao giảng để nói với con
người (De Ver. 18,3).
Để con người có
thể tin vào sứ điệp của Lời rao giảng,
lời rao giảng có thể được củng cố
bởi những phép lạ, cho thấy lời rao giảng
này có nguồn gốc thần linh (ST. II-II, 2,1, ad 1). Có hai điều
kiện để tin: một là việc tŕnh bày giáo lư
đức tin, hai là phép lạ và xác tín của người
rao giảng (như nguyên nhân bên ngoài của đức tin).
Sự thuận t́nh (assensus) đến sau đó, là công tŕnh
của Thiên Chúa tác động thâm sâu do ân sủng (ST. II-II,
6,1). Tuy phép lạ và những điều bên ngoài khác cũng
đóng góp vào việc phát sinh đức tin, nhưng thánh
Thomas không cho đó là điều tối hệ trọng.
Điều quan trọng là "sự thúc đẩy của
đức tin" (instinctus fidei). Bằng lời mời
gọi thâm sâu này, con người khai mở với Tin
Mừng và với Thiên Chúa; chính Thiên Chúa dẫn con
người tới sự thuận t́nh tin.[283]
Tiếng gọi nội
tâm mà Thiên Chúa ngỏ với con người nhờ Đức
Giêsu Kitô trong Thánh Thần này, là một lời mời
gọi tùng phục ơn cứu độ, trong việc
vâng phục lời rao giảng (Quodl. II, q. 4,1, ad 3; Sup. Jo.,
c. XIV, lect. 6, n. 1958).
Chân lư mặc khải
đầu tiên ở nơi giáo lư của Đức Kitô, và sau
đó ở nơi các tiên tri và các tông đồ. Các ngài là
những người được thông truyền mặc
khải cách trực tiếp; c̣n với những
người khác, mặc khải được thông
truyền qua lời rao giảng (ST. II-II, 6,1; 1,10, ad 1; II-II,
174:6). Do đó, đức tin của kitô-hữu hôm nay
tựa trên những quyển sách quy chuẩn mà các ngài đă
biên soạn.[284] Vậy
Kinh Thánh có một vị thế duy nhất, nghĩa là
nhờ Kinh Thánh mà kitô-hữu nhận được
điều mà Thiên Chúa muốn thông truyền cho về chính
Ngài, đến độ Kinh Thánh cung cấp cho đức
tin và cho thần học những luận chứng cần
thiết mà không một nguồn nào có thể mang lại.
Các tác giả Kinh Thánh
nhận một chứng từ thần linh chứng
thực bằng những phép lạ; những phép lạ này
giúp các ngài thoát khỏi nghi ngờ và những sai lầm. V́
thế, các ngài là những bảo đảm của chân lư
mặc khải; đến nỗi kitô-hữu chỉ
phải tin vào các vị kế nhiệm các tông đồ,
trong mức độ lời rao giảng của các vị
này ăn khớp với những điều các tông
đồ đă kể lại qua những bản viết
của các ngài. Lănh vực mặc khải trải rộng
với nội dung Kinh Thánh (De Ver. 14,10, ad 11).
Giáo huấn của Giáo
Hội không được đi quá điều đă
được nói trong Kinh Thánh. Với những vấn
đề thuộc tín lư theo nghĩa riêng, Kinh Thánh
được coi là đủ. Tất cả những ǵ
bắt nguồn từ ư định Thiên Chúa mà lại
vượt quá những đ̣i hỏi tự nhiên th́ đă
được mặc khải trong Kinh Thánh (ST. III, 1,3).
Một cách tổng quát, đối với những ǵ liên hệ
đến cái siêu nhiên, kitô-hữu không bao giờ
được nói hay nghĩ rằng điều đó không
được "diễn tả" trong Kinh Thánh (In de
div. nom., c.1, lect.1). V́ chính bởi Kinh Thánh mà kitô-hữu lănh
nhận mặc khải của Thiên Chúa về chính Ngài,
vậy những ǵ được chứa đựng trong
Kinh Thánh phải được coi là "quy chuẩn
tuyệt hảo của đức tin" (optima regula fidei),
nên không được thêm hoặc bớt ǵ vào Kinh Thánh.
Kinh Thánh là quy chuẩn
đức tin. Những sự khác phải tùng phục ḥa
hợp với quy chuẩn này, kể cả truyền
thống các giáo phụ (ST. II-II, 1,9 arg. 1; III Sent., d. 25, q.2,
a.2, qcl.4 arg. 3).
Mục đích Kinh Thánh
là giáo huấn con người; các giáo phụ cũng như
truyền thống chú giải đều đóng góp vào
mục đích này. Về tương quan giữa Kinh Thánh và
việc giải thích, Thánh Thần như mắt xích nối
kết hai điều này. Thánh Thần có nhiệm vụ
chính trong việc khai sinh các tài liệu này, và Ngài cũng có
nhiệm vụ tương tự trong việc giải thích
các tài liệu này trong ḍng thời gian (Quodl., XII, q. 17, a. un).
Đây là điều phải giả thiết khi nói Giáo Hội
là quy chuẩn không sai lầm (regula infallibilis).
Kho tàng đức tin
đă được xác định ngay thời các tông
đồ; tuy nhiên kho tàng này phải được làm rơ
trong Giáo Hội; các quyết định của Giáo Hội
được Thiên Chúa soi sáng là quy chuẩn, và cấu thành
lời giải thích chân thực về Kinh Thánh (ST. II-II,
2,6). Như vậy giáo lư của Giáo Hội (doctrina Ecclesiae)
trở thành quy luật không sai lầm (regula infallibilis),
bởi v́ đối tượng mô thể của
đức tin là chân lư thứ nhất, đă tự tỏ
lộ trong Kinh Thánh và trong giáo lư của Giáo Hội.[285] Như
vậy, việc giải thích Kinh Thánh gắn liền
với uy quyền của Giáo Hội; đức tin của
Giáo Hội luôn quy chiếu vào Kinh Thánh như nền
tảng, bởi v́ chỉ có tác giả Kinh Thánh mới
nhận được mặc khải trực tiếp.[286] Giữa
giáo lư của Giáo Hội và Kinh Thánh có một sự duy
nhất, bởi v́ Giáo Hội không có quyền đi quá
những ǵ đă được thiết lập trong các
sách quy chuẩn (ST. II-II, 5,3, ad 2; Quodl. III, q. 4, a.10). Giáo
Hội, được Thánh Thần chân lư hướng
dẫn, không thể rơi vào sai lầm;[287] và
trong những vấn đề tranh căi, quyết
định cuối cùng thuộc về giáo hoàng, v́ ngài
được trao phó việc tŕnh bày kinh tin (Credo) cho
mọi người, và các tín hữu phải vâng phục.[288]
Vào thế kỷ XVI,
mặc khải là một vấn đề được
nhiều người bàn căi. Do ảnh hưởng của
những anh em Tin Lành, có những quan niệm và chủ
trương sai lầm về giáo lư mặc khải. Để
cải chính lại những sai lầm và để bảo
toàn nguyên vẹn đức tin công giáo, quyền bính Giáo
Hội nơi công đồng Trentô đă can thiệp và tŕnh
bày giáo thuyết công giáo về mặc khải.
Trước khi xem ư
kiến công đồng Trento về mặc khải, hăy
tự đặt ḿnh vào bầu khí tư tưởng
của thời đó, cụ thể là quan niệm về mặc
khải của phong trào cải cách.
Phong trào cải cách tôn
giáo được Martin Luther khởi xướng,[289] và
được nhiều người hưởng ứng.
Những tư tưởng gia nổi tiếng của phong
trào cải cách này là: Jean Calvin (1509-1564), Mélanchton (1497-1560),
Zwingli (1484-1531), v.v.
i. Giáo lư của những anh em
Tin Lành
Martin Luther nghiên cứu
nhiều về Kinh Thánh và khi nghiên cứu thư của
thánh Phaolô viết cho tín hữu Roma, ông bị đánh
động đặc biệt bởi tư tưởng "bởi
tin vào Đức Giêsu mà chúng ta được cứu
độ, chứ không phải bởi việc làm" (Rm
3:22.28). Năm 1517, ông viết 95 luận đề chống
lại giám mục Magdebourg là Albert de Brandebourg về vấn
đề lạm dụng "ân xá." Và chính khởi
từ biến cố này, đă có nhiều biến cố
tiếp theo đẩy Luther dần dần xa ĺa đức
tin công giáo: phủ nhận quyền bính của giáo hoàng và
chỉ tin vào Kinh Thánh (sola Scriptura).[290]
Thiên Chúa đă mặc
khải cho con người qua các tạo vật; nhưng
từ khi con người phạm tội, lư trí con
người đă hư hỏng; và như vậy, việc
mặc khải qua các tạo vật thật là vô dụng
đối với con người ngày nay.[291]
Thiên Chúa đă ban cho chúng
ta Kinh Thánh, nên từ nay con đường đi
đến với Thiên Chúa đă được tỏ
lộ trong Kinh Thánh, Kinh thánh dạy mọi sự cần
thiết cho đức tin để được cứu
độ.[292] V́
thế không cần đến truyền thống như
một nguồn bổ túc.
Quy chuẩn đức
tin là chính Kinh Thánh với sự giúp đỡ của Thánh
Thần; Thánh Thần soi sáng tâm hồn mỗi người,
giúp con người hiểu được những ǵ Thiên
Chúa muốn mặc khải và con người phải tin.[293]
ii. Nhận xét về lập
trường của anh em Tin Lành
Với cái nh́n
đầu tiên, người ta tưởng rằng anh em Tin
Lành đề cao tính siêu việt của mặc khải, khi
họ xóa bỏ mọi trung gian giữa Lời Chúa và người
tiếp nhận, nhưng thực sự không phải như
vậy! Khi phủ nhận trung gian giữa Lời Chúa và tâm
hồn người tiếp nhận, anh em Tin Lành phủ
nhận truyền thống được thể hiện
nơi huấn quyền của Hội Thánh trong suốt ḍng
lịch sử, cũng như trong quyết định
hiện tại để giải thích Lời Chúa. Như
vậy, lư thuyết này dễ dẫn tới giải thích
Kinh Thánh tùy ư, chỉ theo tiêu chuẩn là chính ḿnh (cá nhân và
chủ quan), hoặc chỉ theo những điều lư trí
thấy đúng mà thôi (duy lư).
Công đồng Trentô
được đức giáo hoàng Phaolô III triệu tập
năm 1545, nhằm canh tân Giáo Hội và chấn chỉnh
những chủ trương sai lầm do ảnh
hưởng của phong trào "thệ phản.”[294]
Trong sắc lệnh
Sacrosancta Oecumenica biểu quyết vào ngày 08.04.1546 tại
khóa họp thứ IV, công đồng đă bàn đến
vấn đề sách thánh và truyền thống (cf. DS. 1501
tt).
Công đồng nhấn
mạnh đến từ ngữ "Tin Mừng,"
từ ngữ đă được Đức Giêsu dùng
để chỉ sứ điệp cứu độ.
Đức Giêsu đă sai các tông đồ đi rao giảng Tin
Mừng cho muôn dân. Tin Mừng này đă được ban
cho chúng ta cách tiệm tiến: đầu tiên
được hứa qua các tiên tri trong Kinh Thánh, sau đó
được chính Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa loan báo, và
rồi các tông đồ rao giảng theo lệnh của Ngài
cho mọi tạo vật. Chân lư cứu độ và
luật luân lư, chứa đựng trong các sách
được linh hứng và trong truyền thống bất
thành văn. Các chân lư này có Tin Mừng là nguồn duy
nhất.
Với cùng một ḷng
kính trọng và thảo hiếu, công đồng tiếp
nhận cả Kinh Thánh lẫn truyền thống khởi
từ miệng Đức Kitô hay được đọc
bởi chính Thánh Thần và được duy tŕ trong
Hội Thánh công giáo nhờ bởi kế tục.
Trong phần dẫn
nhập sắc lệnh "công chính hóa," công
đồng đề cập đến giáo lư đă
được Đức Giêsu dạy dỗ, các tông đồ
truyền lại và Hội Thánh ǵn giữ; công đồng
không cho phép bất cứ ai tin hoặc rao giảng khác
với điều đă được công đồng xác
định và tuyên bố trong sắc lệnh này (DS. 1520).
Cần lưu ư từ ngữ đă được công
đồng dùng ở đây: dạy dỗ, truyền
lại, ǵn giữ;[295] không
thể tách mặc khải, dù thành văn hay bất thành
văn, ra khỏi cơ cấu bộ ba này.
Công đồng Trentô tuy
không dùng chữ "mặc khải" nhưng công
đồng đă tŕnh bày mặc khải như nội dung
được rao giảng. Một cách cụ thể,
mặc khải này là Tin Mừng đă được
hứa qua các tiên tri, được công bố bởi đức
Kitô, được rao giảng bởi các tông đồ, và
được truyền lại cho Hội Thánh duy tŕ và
bảo vệ. Tin Mừng này cũng được gọi
là giáo lư, được dạy và được
truyền. Giáo lư cứu độ này gồm các chân lư và các
lời hứa, đă được rao giảng cho
những người tin, và được lưu chuyển
nhờ Kinh Thánh và truyền thống.[296]
Dưới một góc
cạnh nào đó, công đồng Trentô đồng hóa
mặc khải với Đức Kitô và với thực tại
được rao giảng, và cuối cùng là với các chân lư
chứa đựng trong Kinh Thánh và trong truyền thống.
Vatican I (08.12.1869-20.10.1870),
là công đồng đầu tiên bàn về mặc khải.
Để hiểu sâu xa giáo lư của công đồng, cần
t́m hiểu những quan niệm về mặc khải
của thời đó.
Sau công đồng Trentô,
mặc khải là vấn đề sôi bỏng đối
với anh em Tin Lành; và như vậy, mặc khải cũng
là vấn đề được các thần học gia
công giáo lưu ư. Những người theo thần giáo (Deism)
cho rằng có Thiên Chúa nhưng không cần mặc khải;
lư trí con người có khả năng nhận biết chân
lư, ngay cả những chân lư về bản tính Thiên Chúa.
i. Một vài tác giả tin lành
và thần giáo
Benedict
Spinoza (1632-1677) chủ trương chỉ có lư trí có
thẩm quyền trong lănh vực chân lư; mặc khải
chỉ liên quan đến sự vâng phục và đạo
đức; thần học chỉ nên gồm những
định tín về đức tin phải vâng phục và
để cho lư trí xác định cách chính xác những chân lư
phải được hiểu thế nào. Mặc khải
theo Spinoza, không thêm ǵ cho điều có thể
được lư trí biết.[297]
John
Locke (1632-1704), trong tác phẩm Essay concerning Human Understanding
xuất bản vào năm 1700, cho rằng lư trí là mặc
khải tự nhiên, ở đó Cha Vĩnh Cửu của
ánh sáng và là nguồn của mọi điều hiểu
biết thông truyền cho nhân loại một phần sự
thật mà Ngài đă để lại trong tầm với
của khả năng tự nhiên của con người.
Mặc khải là lư trí tự nhiên được nới
rộng bởi những khám phá.
Những khám phá ở
đây là ǵ? John Loke cho rằng đây là những
điều có thể biết được bởi
những người khôn ngoan, c̣n những người không
có học không thể biết được.[298]
Gotthold
Ephraim Lessing (1729-1781) xác tín rằng chỉ có một tôn giáo
đích thực, đó là tôn giáo tự nhiên, tôn giáo nằm
trong phạm vi của lư trí con người.
Lessing cho rằng,
mặc khải th́ chân thực và có giá trị như một
phương pháp giáo dục con người trong những
điều chưa được lư trí khám phá ra. V́
tiến tŕnh giáo dục này không bao giờ chấm dứt nên
theo Lessing, nếu kitô giáo được thanh tẩy
khỏi những yếu tố phi lư và mầu nhiệm, th́
kitô giáo sẽ là tôn giáo gần nhất với tôn giáo tự
nhiên.
Theo Lessing, chứng
từ tốt nhất của kitô giáo là cái biết Thiên Chúa
bằng kinh nghiệm cá nhân. Đây là điều Lessing gọi
là "chứng từ của Thánh Thần và của quyền
năng" (cf. 1Cr 2:4); ông đă dùng từ ngữ trên
để đề tựa một bài suy ngắm. Chân lư
thâm sâu của kitô giáo hệ tại sự kiện: mặc
khải nói trực tiếp với ḷng chúng ta và với
sự chắc chắn cho chúng ta.[299]
Emmanuel
Kant (1724-1804) cũng đồng quan niệm với Lessing
về tri thức lịch sử, nhưng Kant ư thức
giới hạn của lư trí con người. Kant cho
rằng, lư trí thuần lư (pure reason) không thể chứng minh
sự hiện hữu của những thực tại siêu
việt; tuy vậy, những ư niệm của lư trí
thuần lư này như linh hồn, tự do, và Thiên Chúa, là
nền tảng không thể thiếu được cho luân
lư và tôn giáo.
Trong hệ thống
triết lư của Kant, người ta không t́m thấy
chỗ đứng cho mặc khải hiểu theo nghĩa
truyền thống kitô giáo.
Nền luân lư của Kant
độc lập với mọi nền siêu h́nh có
trước. Kant khẳng định trong Foundations of a
Metaphysics of Morals: lư trí thực tiễn trong việc đáp
trả những đ̣i buộc luân lư, mở
đường đi tới đức tin tôn giáo. Nếu
một người tin rằng họ được
một vị thần linh hướng dẫn, th́
người đó dễ dàng ḥa hợp hành động
của họ với đ̣i hỏi của mệnh lệnh
tuyệt đối (categorical imperative). Như vậy,
mệnh lệnh của lư trí thực tiễn tương
đương với mặc khải thần linh.[300]
Friedrich
D. E. Schleiermacher (1768-1834) lớn lên trong bầu khí sùng tín
(pietism). Ông đặt nền tảng triết lư về tôn
giáo không trên lư trí thuần túy nhưng trên t́nh cảm của
con tim (Gefuehl).
Schleiermacher cho rằng
con người trong ḍng kinh nghiệm hoặc trong những
kinh nghiệm t́nh cờ, nhận thấy ḿnh tùy thuộc
hoàn toàn vào cái bất biến, cần thiết, vô hạn.
T́nh cảm lệ thuộc tuyệt đối này
được Schleiermacher coi như tôn giáo. T́nh cảm này
làm nổi lên ư tưởng Thiên Chúa. Mỗi một sự
thông truyền của vũ trụ cho con
người đều là mặc khải.[301]
Triết
gia Đan Mạch Soeren Kierkeggard (1813-1855) cho rằng, các chân lư
mặc khải thuộc b́nh diện hiện sinh.
Mặc khải kitô giáo
không thích hợp với triết lư và khoa học, v́ mặc
khải thực nghịch lư. Mặc khải đ̣i sự
chấp nhận hiện sinh bằng niềm tin mù quáng.
Với Kierkeggard, mặc khải hàm chứa uy quyền và có
vẻ mâu thuẫn dị kỳ đối với lư trí;
thế nhưng, không phải v́ vậy mà không thể
chấp nhận được.
Có sự trái
ngược giữa mặc khải và phương pháp
"dạy kiểu của Socrate." Bởi v́ trong
phương pháp của Socrate, học tṛ đă có và chỉ
cần giúp đỡ để học tṛ có thể
chấp nhận ra chân lư, vị thầy không phải là
người luôn luôn cần; c̣n đối với mặc
khải, học tṛ phải gắn bó thiết thân với
vị thầy.
V́ đối
tượng của đức tin là Mâu Thuẫn
Vĩnh Cửu Đă Làm Người, thế nên đức
tin không đơn thuần hoàn toàn là cái thuộc lư trí và ư
muốn.[302]
Georg
W. F. Hegel (1770-1831) đặt nghệ thuật, tôn giáo, và
triết lư trong tiến tŕnh biện chứng. Tinh thần
tuyệt đối là mút cùng của tiến bộ.
Mặc khải
đối với Hegel là tạm thời (tiền triết
lư), là sự tỏ lộ tạm thời của tinh
thần tuyệt đối trong lịch sử, chứ
mặc khải không là sự can thiệp tự do của
Thiên Chúa hiện hữu trong lịch sử. Đức tin
dưới lư trí, và tôn giáo dưới triết lư.[303]
Duy
lư hoặc duy tín, đó là hai lập trường thái
cực mà anh em Tin Lành dễ rơi vào; C̣n đối
với bên Công giáo, lập trường duy tín cũng
bắt đầu xâm nhập do ảnh hưởng
triết lư của Kant và Schleiermacher. Lập trường
này chủ trương đức tin siêu nhiên tuyệt
đối cần thiết để con người
nhận thấy những chân lư tự nhiên của tôn giáo,
chẳng hạn, sự hiện hữu và những phẩm
tính của Thiên Chúa, linh hồn bất tử, các luật
luân lư, v.v.
Louis-Eugène
Bautain (1796-1867) là giáo sư đại học Strabourg. Do
ảnh hưởng của Kant và kinh nghiệm bản thân
cùng những lư do tông đồ, Bautain đă đi tới
kết luận "đức tin là nguồn mọi
nhận thức tôn giáo và luân lư." Ông cho rằng, sự
nhận thức tự nhiên không thể nhận ra sự
hiện hữu của Thiên Chúa.
Giám mục Strabourg là De
Trévern đă kết án lập trường của Bautain
năm 1834. Những mệnh đề Bautain phải tuyên
xưng được ghi lại năm 1840:
· Suy luận có thể chứng minh sự hiện
hữu của Thiên Chúa và những phẩm tính trọn
hảo của Ngài;
· Đức tin giả sử đă có mặc khải;
· Đức tin không thể được viện dẫn
như một lư chứng về sự hiện hữu
của Thiên Chúa đối với người vô thần
(DS. 2751);
· Dù bị yếu và lu mờ bởi tội nguyên
tổ, lư trí vẫn c̣n đủ sáng suốt và sức
mạnh để nhận ra sự hiện hữu của
Thiên Chúa một cách chắc chắn, nhận ra mặc
khải được tỏ lộ cho người Do Thái
qua Môsê và tỏ lộ cho kitô hữu qua Đức Giêsu Kitô (DS.
2756).
Vào năm 1844, Bautain
phải kư nhận không dạy một số điều,
tựu trung là phải tôn trọng lư trí (DS. 2765-2769).
Sau
Louis-Eugène Bautain, Augustin Bonnetty (+1879) cũng rơi vào sai
lầm tương tự: quá đề cao mặc khải
và phủ nhận giá trị của lư trí.
Một
số người công giáo khác lại rơi vào sai lầm
ngược lại: quá đề cao lư trí và không phân
biệt cái biết theo lư trí với cái biết theo
đức tin nhờ mặc khải; chẳng hạn như
nơi Georg Hermes (1775-1831) và Anton Guenther (1783-1863), v.v.
Đức
Piô IX, vào năm 1846, đă ra một thông điệp
nhằm giải quyết dứt khoát vấn đề
tương quan giữa lư trí và đức tin. Thông
điệp Qui Pluribus này khẳng định:
· nhiệm vụ của lư trí nhân loại là dẫn
tới mặc khải,
· lư trí phải suy phục mặc khải nơi Lời
Chúa,
· không có sự đối nghịch hoặc mâu thuẫn
giữa đức tin và lư trí, v́ cả hai đều
từ Thiên Chúa duy nhất (DS. 2775-2786).
Đức Giáo Hoàng Piô IX, vào
năm 1864, đă đưa ra một sưu tập
những sai lầm về các vấn đề của
thời đó, kể cả những sai lầm của những
người theo thuyết duy lư quá đề cao lư trí (DS.
2903-2909).
Công đồng chung
Vatican I đă được Đức Giáo Hoàng Piô IX triệu
tập, và nhóm phiên đầu tiên vào ngày 08.12.1869. Đây là công
đồng chung đầu tiên bàn trực tiếp và rơ ràng
về mặc khải trong hiến chế tín lư Dei Filius.
Những sai lầm
thời trước công đồng chung Vatican I đang
hoành hành:
· Luther chủ trương, lư trí sau khi con người
phạm tội đă bị hủy hoại, không c̣n khả
năng nhận biết chân lư!
· Tự nhiên thần giáo (Deism) rất thịnh hành
ở Anh quốc quá đề cao lư trí (như một
phản ứng lại chủ trương coi thường
lư trí nơi những người Tin lành).
· Sang thế kỷ XVIII, phong trào triết lư ánh sáng
xuất hiện và phát triển mạnh; lư trí
được đề cao tuyệt đối và dẫn
tới phủ nhận tri thức thuộc trật tự
khác- đức tin với lănh vực chân lư siêu nhiên
được mặc khải. Phong trào duy lư này cực
thịnh ở Đức vào thế kỷ XVIII và lan dần
sang các nước lân cận.
· Ở Pháp vào thế kỷ XIX, xuất hiện
những thần học gia công giáo chịu ảnh
hưởng bởi thuyết duy lư, quá đề cao lư trí và
không hiểu mặc khải nguyên tuyền như truyền
thống vẫn dạy. Họ vẫn dùng từ ngữ
mặc khải, nhưng nội dung không c̣n là mặc
khải nữa.
· Phản ứng chống lại những người
duy lư đề cao lư trí, một số người trở
lại quan niệm thái cực của Luther, coi lư trí đă
suy yếu tới mức độ không c̣n có thể
nhận ra chân lư, ngay cả những chân lư thuộc lănh
vực tự nhiên; những người này chủ trương
con người cần nhờ mặc khải để
biết chân lư, dù chân lư đó thuộc b́nh diện tự
nhiên. Đây là chủ trương của những người
bị ảnh hưởng bởi sùng tín (piétisme) và duy tín
(fidéisme) nơi anh em Tin Lành. Chủ trương này c̣n
được gọi một tên khác: duy truyền
thống.
Những sai lầm trên
đây đă được huấn quyền Giáo Hội
sửa sai, chỉnh đốn, kết án; nhưng lạc
giáo vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Chính trong bầu
khí này mà công đồng chung Vatican I bàn về mặc
khải trong hiến chế tín lư Dei Filius.
Hiến chế Dei
Filius gồm bốn chương. Chương
đầu bàn về Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa,
chương hai bàn về mặc khải, chương ba bàn
về đức tin, và chương bốn bàn về
tương quan giữa đức tin và lư trí.
Chương bàn về
mặc khải được trích lại trong DS. 3004-3007.
DS. 3004: "Giáo Hội
Mẹ Thánh khẳng định và dạy rằng, Thiên Chúa-
nguyên lư và mục đích của mọi sự có thể
được nhận biết cách chắc chắn bởi
ánh sáng tự nhiên của lư trí con người qua các tạo
vật; thực vậy, những ǵ vô h́nh của
Người đă được trí khôn nh́n thấy qua các
tạo vật trên thế gian là những cái đă
được Người tạo thành: tuy nhiên theo sự
khôn ngoan và nhân từ của Người, Người
đă mặc khải cho nhân loại chính Người và ư
định muôn đời của thánh ư Người
bằng một con đường siêu nhiên khác, như
lời thánh tông đồ đă phán: ngày xưa nhiều
lần và nhiều cách, Thiên Chúa đă nói với cha ông qua các
tiên tri, nhưng trong những ngày sau hết này, Người
đă nói với chúng ta qua Con người (Hr 1:1tt).”
Qua bản văn này công
đồng khẳng định:
· Con người có thể nhận biết Thiên Chúa
bằng trí khôn của ḿnh. Đây là điều chúng ta phải
chấp nhận như đức tin công giáo; c̣n nhận
biết như thế nào, giải thích việc nhận
biết này ra sao, là nhiệm vụ của các nhà thần
học.
· Thiên Chúa đă mặc khải cho con người
bằng một con đường khác, con đường
siêu nhiên (ngoài con đường b́nh thường mà lư trí có
thể nhận biết Thiên Chúa).
· Đối tượng mặc khải: Thiên Chúa và
chương tŕnh ư định muôn đời của
Người.
· Mặc khải là do sáng kiến của Thiên Chúa, do ư
định tốt lành và sự khôn ngoan của
Người, chứ không phải do cái ǵ khác. Thiên Chúa không
bị bó buộc phải mặc khải cho con
người. Mặc khải là hồng ân Thiên Chúa ban cho con
người.
DS. 3005: "Chính nhờ
mặc khải thần linh này, những ǵ thuộc thần
linh tự bản chất không nằm trong tầm với
của lư trí con người, có thể được
nhận biết cách chắc chắn và không một chút sai
lầm trong hoàn cảnh hiện tại của con
người. Không phải v́ điều đó mà mặc
khải được coi là cần thiết, nhưng v́
ḷng tốt lành vô cùng của Thiên Chúa, Ngài đă quy
hướng con người tới mục đích siêu nhiên,
tới hưởng các sự tốt lành thánh thiện
vượt qua trí khôn con người có thể hiểu; V́
những ǵ mắt không thấy, tai không nghe, ḷng không thể
hiểu, th́ Thiên Chúa đă chuẩn bị cho những
kẻ Ngài yêu (1Cr 2:9).”
Theo DS. 3005, mặc
khải thực sự cần thiết v́:
· giúp con người nhận biết các chân lư
vượt quá khả năng con người,
· con người được tạo dựng
để hướng tới mục đích siêu nhiên
của ḿnh, và nếu không nhờ mặc khải th́ con
người không thể đạt được mục
đích này.
Nói cách khác, nếu không
nhờ mặc khải th́ con người không thể
biết các chân lư vượt quá sức con người; và
nếu không biết chân lư này, th́ không thể đạt được
cùng đích đời ḿnh là sống hạnh phúc với
Thiên Chúa, hưởng kiến Thiên Chúa.
DS. 3006: "Mặc
khải này, theo như đức tin được thánh
công đồng Trentô tuyên bố, được chứa
trong sách thánh và trong truyền thống không được
viết, được các tông đồ lănh nhận qua môi
miệng của chính Đức Kitô, hay được
truyền cho các tông đồ như là từ tay qua tay
dưới sự đọc cho viết bởi Thánh
Thần, và truyền đến chúng ta" (DS. 1501).
Với bản văn
này, công đồng đồng hóa mặc khải với
sách thánh và truyền thống; theo nghĩa này mặc
khải được hiểu ở đây là những chân
lư; tuy vậy điều này không phủ nhận thực
tại được mặc khải là thực thể
sống động, là Thiên Chúa hằng sống với ư
định vĩnh cửu của Ngài.
Sau đây là những quy
chuẩn đức tin, công đồng lên án chống
lại những người phủ nhận giá trị
của thần học tự nhiên, lên án những người
chủ trương tôn giáo tự nhiên, lên án những
người đề cao lư trí cách tuyệt đối!
DS. 3026: "Nếu ai
nói: Thiên Chúa Đấng duy nhất và thân thực, Đấng
tạo hóa và Chúa của chúng ta, không thể nhận biết
cách chắc chắn bởi ánh sáng tự nhiên của lư trí
con người, qua những tạo vật, th́ bị
tuyệt thông."
Quy chuẩn đức
tin này nhắm tới sai lầm của những
người mang danh duy tín hoặc duy truyền thống.
Họ phủ nhận giá trị đích thực của lư
trí, và như vậy phủ nhận thần học tự
nhiên.
DS. 3027: "Nếu ai
nói: việc con người được dạy dỗ
bởi mặc khải, về Thiên Chúa và về việc
thờ phượng phải dâng kính Ngài, là chuyện không có
thể và vô dụng, th́ người đó bị tuyệt
thông."
Với quy chuẩn
đức tin này, công đồng bài bác lập
trường cho rằng mặc khải là điều không
cần thiết, cũng như lập trường cho
rằng mặc khải là chuyện không thể có
được. Đó là lập trường của những
người cho rằng lư trí là đủ, không cần có
mặc khải.
DS. 3028: "Nếu ai nói
rằng, con người không có thể được nâng
lên đạt tới nhận thức và sự trọn lành
vượt qúa sức tự nhiên của con người,
nhưng con người có thể và phải tự ḿnh
đạt tới việc sở hữu mọi
điều chân thực và tốt lành bằng sự
tiến bộ liên tục, th́ người đó bị
tuyệt thông."
Quy chuẩn này cho
thấy công đồng bài bác lập trường cho
rằng mặc khải là điều làm hạ giá con
người, và như vậy trái bản tính con
người; lập trường này cho rằng, quan
niệm đúng đắn là con người phải tự
ḿnh đạt tới Thiên Chúa, v́ con người có thể
làm chuyện này.
DS. 3041: "Nếu ai nói
rằng, không có bất cứ một mầu nhiệm
đúng nghĩa nào trong mặc khải và các tín điều
có thể được hiểu và tŕnh bày bởi lư trí
của một người có học dựa vào các nguyên
tắc tự nhiên, th́ người đó bị tuyệt
thông."
Đây là một quy chuẩn
của chương bốn hiến chế Dei Fillius, bàn
về tương quan giữa lư trí và đức tin. Quy
chuẩn này lên án chủ trương cho rằng lư trí con
người có khả năng đạt tới Thiên Chúa,
mặc khải là chuyện không cần thiết, không có
mặc khải đích thực, cái gọi là mặc
khải cũng chỉ nằm trong tầm với của lư
trí con người. Đây là lập trường của
những người theo tôn giáo tự nhiên (Deism) và phong trào
duy lư.
DS. 3029: "Nếu ai không
nhận tất cả và từng phần của Kinh Thánh
như đă được công đồng Trentô liệt kê
là sách thánh và sách quy chuẩn, hoặc phủ nhận tính
linh hứng của các sách đó, th́ người đó
bị tuyệt thông."
Khẳng định này
nhằm bảo vệ mặc khải. Như vậy,
mặc khải ở đây một lần nữa
được đồng hóa với Kinh Thánh như
những chân lư.
Công đồng Vatican I
đă cho thấy chủ thể mặc khải là chính Thiên
Chúa, đối tượng chất thể mặc khải
là Thiên Chúa và chương tŕnh cứu độ con
người. Công đồng cũng khẳng định
mặc khải là điều thực sự tối cần
thiết để con người đạt
được cứu cánh đời ḿnh.
Thuyết duy tân
(modernisme) đă làm huấn quyền Giáo Hội bận tâm
nhiều. Những người theo duy tân thuyết nỗ
lực thích ứng giáo lư công giáo với tư tưởng hiện
đại, với những điều mà con người
thời đại chấp nhận.
Năo trạng duy lư không
chấp nhận tín điều, nên những người
theo thuyết duy tân giải thích lại tín điều công
giáo; nhưng khi làm điều này, họ đă lấy
tư tưởng hiện đại đương
thời làm tiêu chuẩn, và đă phạm sai lầm khi
cắt bớt hoặc giải thích sai lạc mặc
khải công giáo. Ở đây chỉ đơn cử hai tác
giả tiêu biểu, đó là Alfred Loisy và Georg Tyrrell.[304]
Alfred
Loisy cho xuất bản quyển sách nhan đề L'Évangile
et l'Église vào năm 1902, nhằm trả lời quyển sách
của Adolf von Harnack (1851-1930) có tựa đề Wesen des
Christentums. Với quyển sách của Loisy này, có thể coi
duy tân thuyết được khởi đầu. Giáo
quyền đă lên án quyển sách này. Nó chủ trương
yếu tính của Kitô giáo chưa được xác
định, v́ chân lư của Kitô giáo cũng như những
chân lư nhân loại, cũng tương đối và có
tiến bộ.
Năm 1903, Loisy cho
xuất bản quyển "Autour d'un petit livre" nhằm
biện minh cho lập trường của ḿnh. Trong
quyển sách này, ông viết: "Cái được gọi là
mặc khải chỉ là ư thức của con người
trong tương quan với Thiên Chúa... tương phản
với tri thức thuộc phạm vi lư trí và khoa học,
tri thức chân lư tôn giáo không chỉ là kết quả
của lư trí nhưng nó c̣n là công việc của trí khôn,
được khám phá dưới sự thúc đẩy
của con tim, của luân lư và tôn giáo, của ư muốn
thực sự hướng tới sự thiện."[305]
Theo A. Loisy, mặc
khải không là một giáo lư được ban cho con
người. Mặc khải cũng không là kho tàng chân lư
không đổi, nhưng là tri thức trực quan (và kinh
nghiệm) về tương quan giữa con người và
Thiên Chúa; tri thức trực quan này luôn biến đổi.
Mặc khải, xét như là tín điều thần học,
luôn biến đổi. Mặc khải đang
được h́nh thành.[306]
Georg
Tyrrell tŕnh bày tư tưởng về mặc khải
của ḿnh trong quyển Through Scylla and Charybdis
được xuất bản vào năm 1907.
Theo Tyrrell, mặc
khải hệ tại một kinh nghiệm gần như
thần bí, và không được đồng hóa với những
cấu tố tri thức của kinh nghiệm này. Các tông
đồ đă lănh nhận trọn vẹn mặc khải
qua việc hiệp thông với đức Kitô. Mặc
khải nơi chúng ta phải là một kinh nghiệm tiên tri
mới, được lập lại nơi chúng ta.
Mặc khải không được truyền thông, nhưng
có thể được tạo dịp qua việc rao
giảng và qua những bản viết. Các tín điều
của Giáo Hội không là mặc khải, nhưng chỉ là
phản ứng của con người đối với
mặc khải; Các tín điều được dùng khi nó
giúp đỡ và phải bỏ khi nó che dấu mặc
khải.[307]
Tóm lại, với Loisy,
không có mặc khải. Cái người ta gọi là mặc
khải chỉ là những ư thức những kinh nghiệm
con người có về Thiên Chúa; như vậy, mặc
khải luôn thành h́nh, không là cái bất biến không đổi.
C̣n với Georg Tyrrell, có thực tại mặc khải siêu
việt, nhưng nó không được truyền từ
người này sang người kia; nghĩa là, mỗi
người phải lănh nhận mặc khải cho ḿnh; v́
vậy, tín điều không là mặc khải. Như
vậy theo Tyrrell, có mặc khải nơi các tông đồ
và các tiên tri, nhưng những điều này không liên hệ
và không bổ ích cho chúng ta bao nhiêu.
Đứng trước
những sai lầm của thuyết duy tân về mặc
khải, huấn quyền đă can thiệp nhằm bảo
vệ tinh tuyền đức tin công giáo.
Sắc
lệnh Lamentabili được đức giáo hoàng Piô X
công bố ngày 03.07.1907 thu tóm 65 mệnh đề sai lạc
của chủ thuyết duy tân (DS. 3401-3466), trong số này có
những mệnh đề liên quan đến mặc
khải (DS. 3420-3426).
DS. 3420: "Mặc
khải không là ǵ khác hơn ư thức con người về
tương quan giữa ḿnh và Thiên Chúa."
Đây là mệnh đề
của Loisy, phủ nhận mặc khải được
hiểu theo nghĩa truyền thống của Giáo Hội
Công Giáo.
DS. 3421: "Mặc
khải cấu thành đối tượng đức tin
công giáo, không hoàn tất với các tông đồ."
Đây là lập
trường của G. Tyrrell, chủ trương mặc
khải tiến bộ, hiểu theo nghĩa nó là những
chân lư được con người khám phá ra; như con
người thay đổi, những chân lư đó cũng
thay đổi.
DS. 3422: "Các tín
điều, điều mà Giáo Hội xác nhận như là
mặc khải, không là những chân lư từ trời xuống
(nguồn gốc thần linh), nhưng chỉ là lời
giải thích các sự kiện tôn giáo mà lư trí con
người có thể nhận ra với một nỗ
lực nghiêm chỉnh."
Đây cũng là lập
trường của Tyrrell. Ông cho rằng, các tín
điều chỉ là nỗ lực nhân loại chứ không
phải là mặc khải. Hiểu như vậy, con
người có thể bỏ tín điều này hoặc tín
điều kia; hoặc nó sẽ thay đổi thành một
tín điều mới thích hợp với con người
hơn.
Thông
điệp Pascendi Dominici Gregis được
đức giáo hoàng Piô X ban hành vào ngày 08.09.1907, nhằm
cảnh giác các tín hữu và mọi tầng lớp trong Giáo
Hội, để đừng rơi vào duy tân thuyết.[308]
Tự
sắc Sacrorum Atistites được
đức Piô X ban hành ngày 01.09.1910, buộc tất cả
các giáo sĩ làm mục vụ hay công tác giảng dạy
phải thề từ bỏ tất cả các khẳng
định của thuyết duy tân về mặc khải và
về truyền thống!
DS. 3538: "Thứ
nhất tôi tuyên xưng rằng: Thiên Chúa, nguyên lư và mục
đích của mọi sự, có thể được
nhận biết cách chắc chắn, và v́ vậy có thể
được minh chứng bởi ánh sáng tự nhiên
của lư trí từ những cái đă được
tạo thành, nghĩa là bởi những công tŕnh hữu h́nh
tức tạo thành, như nguyên nhân bởi kết
quả."
DS. 3539: "Thứ hai,
tôi biết và chấp nhận những luận chứng bên
ngoài của mặc khải, tức là những sự
kiện thần linh, nhất là các phép lạ và các lời
tiên tri, như là những dấu chỉ rất chắc
chắn chứng tỏ nguồn gốc thần linh của
Kitô giáo; và tôi khẳng định, chúng hoàn toàn thích hợp
với trí khôn của con người của mọi
thời đại, kể cả với thời
đại ngày nay."
DS. 3540: "Thứ ba,
tôi tin với cùng một đức tin chắc chắn
rằng, Giáo Hội là thầy và là người ǵn giữ
lời mặc khải, được chính Đức Kitô chân
thực và lịch sử thiết lập trực tiếp
khi Ngài sống giữa chúng ta; và tôi tin Giáo Hội này
được xây trên Phêrô là đầu của phẩm
trật tông đồ, và trên những người kế
vị ngài trong mọi thời đại."
DS. 3541: “Thứ tư,
tôi nhận cách chân thành giáo lư đức tin được
truyền bởi các tông đồ cho tới chúng ta qua các
giáo phụ chính thống với cùng ư nghĩa và cùng
những lời giải thích; cũng vậy tôi từ
bỏ cách giải thích lạc giáo cho rằng tín
điều tiến hóa từ một nghĩa đen này
đến một nghĩa khác, khác với nghĩa mà Giáo
Hội đă có trước; cũng tương tự như
vậy tôi kết án mọi sai lầm cho rằng, sáng
kiến triết lư hay sự sáng tạo của ư thức
con người, được h́nh thành do nỗ lực
của con người và được hoàn chỉnh do
những tiến bộ không ngừng, sẽ thay thế kho
tàng thần linh đă được truyền lại cho
hiền thê Đức Kitô, và được ǵn giữ cách trung
thành bởi chính Giáo Hội.”
DS. 3542: "Thứ
năm, tôi khẳng định và tuyên xưng chân thành
rằng, đức tin không là t́nh cảm tôn giáo mù quáng h́nh
thành từ vùng tối tăm của vô thức do con tim và ư
muốn luân lư thúc đẩy, nhưng là sự đồng
t́nh thực sự của lư trí đối với chân lư
được đón nhận do nghe (rao giảng),
điều mà chúng tôi tin rằng thật, được
mặc khải, được xác chuẩn,
được phán truyền bởi chính Thiên Chúa ngôi
vị, được phán truyền bởi chính Thiên Chúa
ngôi vị, Đấng Tạo Hóa và là Chúa chúng tôi, bởi
quyền năng của Thiên Chúa chân thực.”
Lược đồ
về mặc khải đầu tiên đă được
bàn căi từ 14.11.1962, và bản văn được
bỏ phiếu vào ngày 20.11.1962 với 1368 phiếu chống,
822 phiếu thuận, và 19 phiếu bất hợp lệ.
Đức giáo hoàng Gioan XXIII đă can thiệp, trả
lược đồ lại cho ủy ban hỗn hợp.
Bản văn hiến
chế Mặc khải Dei Verbum là bản văn
được bỏ phiếu vào ngày 29.10.1965 với 2081
phiếu thuận, 27 phiếu chống, và 7 phiếu bất
hợp lệ (2115 nghị phụ); vào ngày công bố
(18.11.1965) có 2344 phiếu thuận, 6 phiếu chống
(tất cả 2350 nghị phụ).
Hiến chế Dei Verbum
gồm 26 số, ngoài số dẫn nhập, hiến
chế được chia thành sáu chương:
Số 2-6: bàn về chính
mặc khải
Số 7-10: bàn về
lưu truyền mặc khải
Số 11-13: bàn về
linh hứng và giải thích Kinh Thánh
Số 14-16: Về
Cựu Ước
Số 17-20: Về Tân
Ước
Số 21-26: Kinh Thánh trong
đời sống Giáo Hội.
Giáo tŕnh về mặc
khải này lưu ư đặc biệt chương một,
từ số 2-6, v́ từ đây phát sinh những tư
tưởng phong phú và nền tảng của thần
học mặc khải.
Số
mở đầu tŕnh bày mặc khải như thực
thể sống động.
"Chúng tôi loan
truyền cho anh em sự Sống đời đời,
đă có nơi Chúa Cha và đă hiện đến với
chúng tôi: điều chúng tôi đă thấy, đă nghe, chúng
tôi loan truyền cho anh em, để anh em cũng
được hiệp nhất với chúng tôi và chúng ta
được hiệp nhất với Chúa Cha và với Chúa
Giêsu Kitô Con Ngài" (1Ga 1:2-3).
Sự Sống đă
đến. Loan báo về sự Sống là loan báo những
điều ḿnh đă thấy đă nghe về chính sự
Sống này. Sự Sống đă nhập thể, và hơn
nữa sự Sống đă trở thành lời
được loan báo, đă trở thành chữ
được viết để loan báo. Như vậy,
chúng ta không được dừng lại ở lời loan
báo, không được dừng lại ở chữ
viết để loan báo, nhưng chúng ta phải
vươn lên tới sự Sống đời đời,
tức là thực tại được loan báo.
Dei Verbum số 1 chưa
đề cập đến đối tượng
mặc khải, nhưng đă thấy hàm chứa:
đối tượng mặc khải không chỉ là
chữ viết, không chỉ là lời loan báo về sự
Sống, nhưng chính là sự Sống ở nơi Cha và
đă đến giữa con người.
Mục đích mặc
khải, mục đích việc loan truyền mặc
khải, là để chúng ta được thông dự,
thông hiệp với chính Thiên Chúa là Cha và với Chúa Giêsu
Kitô. Đây cũng là mục đích của con người, là
cứu cánh của con người, là ơn gọi của
chính con người. Hiệp thông với Thiên Chúa là hạnh
phúc vĩnh cửu, là thiên đàng, là tất cả những
ǵ con người có thể ao ước.
Ở đây công
đồng cũng không đưa ra lời khẳng
định mặc khải là cần thiết, nhưng khi
tŕnh bày mặc khải như sự hiệp thông với
Thiên Chúa, công đồng cũng cho thấy mặc khải
là việc tối quan trọng để con người
đạt tới cùng đích đời người; không
có mặc khải, con người không thể hiệp thông
với Thiên Chúa được, và như vậy, không
thể đạt tới mục đích tối hậu
của đời người.
Số
2
Đối tượng
mặc khải: Thiên Chúa mặc khải chính ḿnh và mầu
nhiệm thánh ư Ngài. Thiên Chúa mặc khải Ngài là ai cho con
người, và khi mặc khải như vậy, Ngài cũng
cho con người biết con người là ai. Mặc
khải giúp con người biết nguồn gốc của
ḿnh, lư do hiện hữu của ḿnh, tương lai ḿnh
sẽ đi về đâu, cùng đích đời ḿnh là ǵ,
ḿnh phải có tương quan với Thiên Chúa ra sao! Và
một khi thấy rơ ư định của Thiên Chúa về
ḿnh, con người phải đáp trả.
Mục đích mặc
khải: giúp con người đi đến với Chúa
Cha, và được thông phần bản tính của
Người nhờ đức Kitô và Thánh Thần. Mặc
khải có mục đích giúp con người đạt
được hạnh phúc, đạt được
cứu cánh đời ḿnh, tức thông hiệp với Thiên
Chúa.
Chiều kích Ba Ngôi
của mặc khải: con người đến với
Thiên Chúa Cha nhờ Đức Kitô làm người và trong Thánh
Thần.
Lư do mặc khải:
nguyên động lực của mặc khải là t́nh
thương chứa chan của Thiên Chúa. Thiên Chúa hoàn toàn
tự do, không bị ép buộc bởi bất cứ điều
ǵ khi mặc khải cho con người. Thiên Chúa hạnh
phúc với chính Ngài, Ngài không có một nhu cầu nào từ
bên ngoài. Việc mặc khải cho con người
để họ tham dự sự sống với
Người là do t́nh thương của Người mà
thôi; không có sự cần thiết hữu thể hoặc
luân lư nào buộc Thiên Chúa phải mặc khải cho con
người, xét về khía cạnh Thiên Chúa.
Cách thức mặc
khải: Thiên Chúa ngỏ lời với con người
như một người bạn nói chuyện với
người bạn. Ngài trao đổi với họ,
mời gọi họ hiệp nhất với Ngài, và Ngài
tiếp nhận họ.
Mặc khải mang
chiều kích liên vị: Thiên Chúa tôn trọng và yêu
thương con người. Hành vi đối thoại, là
hành vi đề cao con người.
Mặc khải có dự
tính: mặc khải không là chuyện hời hợt
được thực hiện một sáng một
chiều, nhưng là cả một chương tŕnh,
được Thiên Chúa thực hiện qua hành động
và Lời.
Ở đây vang vọng
chữ DABAR của Do Thái: DBR gồm cả biến cố
và lời. Thiên Chúa không chỉ soi sáng tâm hồn của các
tiên tri, nhưng Ngài c̣n thực hiện những biến
cố trong lịch sử, và dùng lời để giải
thích sự kiện lịch sử này. Mặc khải kitô
giáo khác ơn khải ngộ nơi các hiền nhân hoặc
tiên tri của các tôn giáo khác.
Đức Kitô là trung gian
mặc khải, là mục đích mặc khải, là mặc
khải viên măn. Ngài là Lời và hành động Thiên Chúa
mặc khải cho con người. Nơi Đức Kitô, chúng
ta không c̣n phải chờ một mặc khải nào mới
nữa, v́ nơi Ngài là tất cả mặc khải;
Với Ngài mặc khải đă và đang đạt
đến đích.
Số
3:
Thiên Chúa, Đấng tạo
dựng và bảo tồn mọi sự nhờ ngôi Lời,
luôn yêu thương và chăm sóc con người. Ngài không
ngừng tỏ ḿnh cho con người qua các tạo vật,
ban sự sống đời đời cho tất cả
những ai t́m kiếm sự cứu rỗi nhờ kiên tâm
làm việc thiện; đó là lịch sử cứu
độ "bằng đường lối b́nh
thường." Khi đến thời đă định,
Ngài kêu gọi Abraham và lập một dân tộc; Ngài đă
dùng Môsê và các tiên tri để dạy dỗ họ,
để họ nhận biết Ngài; với Abraham, Thiên
Chúa đă bắt đầu thực hiện một
lịch sử cứu độ "đặc
biệt."
Thiên Chúa đă mặc
khải trong ḍng lịch sử và qua lịch sử dân Do
Thái; Ngài đă mặc khải cho một số người
thuộc dân Do Thái nhưng hành động mặc khải
này nhắm đến nhiều người, nhắm
đến tất cả mọi người thuộc
mọi dân tộc. Từ Abraham, mặc khải có chiều
kích lịch sử v́ Thiên Chúa đă can thiệp vào lịch
sử dân Do Thái.
Số
4:
Đức Giêsu Kitô, Ngôi
Lời nhập thể, là tiếng nói của Thiên Chúa, là
h́nh ảnh của Thiên Chúa, là Đấng mặc khải Thiên
Chúa, là chính mặc khải trọn hảo, là tuyệt
đỉnh mặc khải, là giao ước vĩnh
cửu, là sự sống đời đời. Với
Ngài, người ta không phải chờ đợi một
mặc khải công cộng nào khác nữa trước khi
Chúa Giêsu Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang.
Số
5:
Vâng phục đức
tin, lời đáp trả đối với mặc khải
của Thiên Chúa. Để có đức tin này, cần ân
sủng của Thiên Chúa và sự trợ giúp của Thánh
Thần.
Số
6:
Công đồng tái
khẳng định: Thiên Chúa muốn dùng mặc khải
để bày tỏ và thông ban chính ḿnh Ngài cùng những ư
định muôn đời của Ngài liên quan đến
phần rỗi nhân loại.
Công đồng cũng
tuyên xưng:
· Với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người
có thể nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa
như nguyên lư và cứu cánh mọi sự, khởi từ
các tạo vật;
· Những ǵ thuộc về Thiên Chúa mà tự nó vốn
không vượt quá khả năng lư trí con người, có
thể được biết cách dễ dàng chắc
chắn không lẫn lộn sai lầm nhờ mặc
khải.
Công đồng Vatican II
trong hiến chế mặc khải Dei Verbum, đă tŕnh bày
đối tượng mặc khải là thực thể
sống động khôn ḍ, được loan báo rao
giảng, và phải được đáp trả bằng
sự vâng phục của đức tin.
Dưới đây là
một cái nh́n tổng hợp và nhất quán về mặc
khải kitô giáo:
Thiên Chúa là t́nh yêu
Đức Giêsu là dấu
chứng tuyệt vời t́nh yêu Thiên Chúa cho con người.
Mặc khải là
lời bày tỏ và chứng thực t́nh yêu Thiên Chúa cho con
người.
Qua mặc khải
nơi lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa đă tỏ ḿnh
như Đấng giải phóng dân Israel, như chủ tể
của vũ trụ và lịch sử. Khởi từ kinh nghiệm
này, dân Do Thái và những người khác đă nhận
biết Thiên Chúa là Đấng sáng tạo vũ trụ bằng
lời của Người (St 1-2), đă giải phóng dân
khỏi ách nô dịch bên Ai cập, đă đưa dân
lưu đày từ Babylon trở về.
Qua biến cố Giêsu
Kitô, kitô hữu nhận biết "Thiên Chúa là t́nh yêu"
(1Ga 4:8. 16), Thiên Chúa là Thiên Chúa ba ngôi vị.
Thiên Chúa là một
bản tính ba ngôi vị. Ba ngôi vị Thiên Chúa nhưng là
một Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa tất cả là một
trừ tương quan ngôi vị.[309] Cả
ba ngôi vị hiệp thông với nhau cách lạ lùng và
tuyệt diệu đến mức độ chỉ là
một Thiên Chúa T́nh Yêu.
T́nh yêu là tương quan
giữa ngôi vị với ngôi vị.
Nơi những ngôi
vị thực sự tự do, nghĩa là những hiện
hữu lư trí hướng về Hiện Hữu Tuyệt
Đối, tương quan giữa ngôi vị là t́nh yêu, bởi
v́ t́nh yêu là ngôi vị hướng về ngôi vị theo lư
trí "tự do."[310]
Nơi ngôi vị có
một vẻ đẹp nào đó rất đáng yêu. Có
thể nói, mỗi ngôi vị là một kiệt tác của
Thiên Chúa.
Nơi Thiên Chúa, ba ngôi
vị yêu thương nhau, cho nhau tất cả, hiệp
thông với nhau trong tất cả đến độ có
thể nói là một trong vinh quang, là một trong sự
thật, là một trong hoạt động.[311]
T́nh yêu là ngôi vị
thực sự tự do hướng về nhau, cho nhau
tất cả, trở nên một với nhau, hiệp thông
tới mức độ tuyệt vời. Tuy vậy, t́nh
yêu là hành vi tự do, không là hành vi đương nhiên hay
tất yếu theo thể lư. Như vậy khi nào không
thể cưỡng lại được, th́ không có
tự do, và không là t́nh yêu "đích thực." Thiên Chúa
là t́nh yêu; ba ngôi vị Thiên Chúa yêu nhau đến độ
là một trong tất cả, đến độ có
thể nói và phải nói, là một Thiên Chúa.
Đối với con
người, Thiên Chúa yêu con người như thế nào,
đến độ nào, đó là tùy Thiên Chúa, do
tự Thiên Chúa. Nhờ mặc khải kitô giáo, con
người biết "Thiên Chúa đă yêu thế gian
đến độ đă ban Con Một Người cho
thế gian" (Ga 3:16). Với Đức Giêsu Kitô và nhờ
Đức Giêsu Kitô- Con Thiên Chúa nhập thể, con người
được bảo đảm rằng Thiên Chúa rất
yêu con người:
· Thiên Chúa đă tuyển chọn ta trong Đức Giêsu Kitô
từ trước khi sáng thế. Người đă
tiền định cho ta được phúc làm con bởi
ḷng yêu mến (Ep 1:4-5);
· Thiên Chúa Cha gởi Thánh Thần đến với chúng
ta để luôn ở với chúng ta (Ga 14:16.26);
· Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô sẽ đến ở,
lập cư nơi những kẻ giữ lời Ngài (Ga
14:23);
· Chúa Cha yêu chúng ta như yêu Chúa Giêsu (Ga 17:23. cf. Ga 17:20);
Chúa Giêsu yêu chúng ta như Chúa Cha yêu Chúa Giêsu (Ga 15:9).
Thiên Chúa, khi tạo
dựng nên con người như một ngôi vị, Ngài
đă yêu con người. Nhưng với mặc khải
kitô giáo, với biến cố Đức Giêsu Kitô, chúng ta
được biết Thiên Chúa đă yêu con người
đến mức độ "vô cùng."
T́nh yêu là tương quan
giữa hai ngôi vị.[312] Ân
sủng là thực tại diễn tả t́nh yêu.[313] Ân
sủng quí nhất là ban tặng chính ḿnh. Thiên Chúa đă yêu
thương con người, và Thiên Chúa đă ban cho con
người biết bao hồng ân, và ân sủng lớn
nhất là Thiên Chúa đă ban tặng chính Thiên Chúa cho con
ngưởi, ban tặng chính ḿnh cho con người.
Ân sủng cũng chính là
t́nh yêu. Khi hai người nam nữ yêu nhau, họ cho nhau
chính con người ḿnh, cho nhau để trở nên một
trong thân xác và tinh thần. Cho nhau chính bản thân ḿnh,
trở nên một với nhau, đó là tuyệt đỉnh
của hiệp thông. Thiên Chúa đă ban tặng chính ḿnh Ngài
cho con người, đă ở với con người,
để nên một với con người, để con
người trở nên Thiên Chúa.[314]
Hiệp thông với Thiên
Chúa, trở nên một với Ngài, sống trong tương
quan thân thiết với Ngài, đó là ơn cứu
độ. Dưới một khía cạnh nào đó, t́nh yêu,
ân sủng, ơn cứu độ là một.
T́nh yêu là tương quan
liên vị, là tương quan của hiện hữu tự
do với nhau. Trong t́nh yêu không có cưỡng bức, bó
buộc thể lư, nhưng tự do.
Con người có
thể tỏ t́nh cho nhau và có thể nín lặng. Tỏ t́nh
cũng cho thấy mức độ t́nh yêu đối
với nhau. Thiên Chúa yêu con người khi tạo dựng
con người như một ngôi vị, như một
hiện hữu tự do, như tinh thần nhập
thể. Nhưng như vậy không có nghĩa Thiên Chúa
thiết yếu phải mặc khải cho con người.
T́nh yêu là hành vi tự do! Tỏ lộ t́nh yêu hay không, là tùy
ở Thiên Chúa.
Khi tra vấn lịch
sử, con người nhận ra Thiên Chúa đă mặc
khải cho con người cách đặc biệt. Khi Thiên
Chúa tạo dựng con người như tinh thần nhập
thể, th́ con người có thể qua các tạo vật
nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Nhưng nếu
chỉ như vậy, cũng hợp lư; không có ǵ buộc
Thiên Chúa phải đi xa hơn, mặc khải đặc
biệt hơn cho con người. Thực tế cho
thấy Thiên Chúa đă mặc khải cho con người trong
ḍng lịch sử dân Do Thái và qua biến cố Đức Giêsu
Kitô. Đây là hành vi biểu lộ t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người.
Mặc khải là ân sủng của Thiên Chúa cho con
người.
B. ĐỨC GIÊSU- DẤU CHỨNG T̀NH YÊU
Con người là
hiện hữu "vật chất tinh thần," là tinh
thần nhập thể. Con người không chỉ cần
thỏa măn những nhu cầu vật chất như ăn
ngủ, mà c̣n cần thỏa măn những khao khát tinh
thần.
Con người có tri
thức, tri thức giác quan và tri thức phản tỉnh.
Chính nhờ khả năng suy luận của lư trí mà con
người biết ḿnh và biết thực tại siêu
việt. Không thể tách tri thức siêu vượt khỏi
con người nếu không muốn con người bị
què cụt và không triển nở toàn diện.
Con người chỉ
hạnh phúc trọn vẹn nếu con người biết
ḿnh được yêu và đáp trả t́nh yêu. Hiểu
như vậy, ơn cứu độ hàm chứa mặc
khải về t́nh yêu Thiên Chúa cho con người. Ơn
cứu độ chỉ được trọn vẹn
nếu con người nhận biết ḿnh được
cứu độ. Nơi con người, đáp trả t́nh
yêu hàm chứa nhận biết ḿnh được yêu; và
Thiên Chúa đă mặc khải cho con người biết
Ngài yêu con người bằng t́nh yêu đặc biệt.
Biết ḿnh
được Thiên Chúa yêu, đáp trả t́nh yêu
được diễn tả bằng ḷng tin ḷng trông
cậy, là khởi đầu của ơn cứu
độ, của sự hiệp thông hạnh phúc với
Thiên Chúa.
Nếu con người
không biết Thiên Chúa, không biết ḿnh được Thiên
Chúa yêu, không biết thực trạng con người ḿnh,
th́ con người không thể đáp trả t́nh yêu của
Thiên Chúa. Không có t́nh yêu, th́ không có tin tưởng và trông
cậy; và như vậy không có sự thông hiệp trọn
vẹn, không có hạnh phúc tṛn đầy.
Mặc khải Thiên Chúa
ban cho con người, tri thức con người về
Thiên Chúa và t́nh yêu của Ngài đối với con
người, là tri thức cứu độ con
người. "Thiên Chúa muốn cho mọi người
được cứu và được nh́n biết sự
thật" (1Tm 2:4). "Sự sống đời
đời là chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa chân thật
và độc nhất, và Đấng Cha sai đến, Giêsu Kitô"
(Ga 17:3).
b. Lịch sử- nét
đặc biệt của mặc khải kitô giáo
Các tôn giáo trên thế
giới đều đề cập đến những
chân lư giúp con người được cứu độ.
Đặc biệt nơi ngộ đạo thuyết (gnosticisme),
những người theo chủ thuyết này cho rằng
họ sở hữu những chân lư có khả năng
giải phóng con người, giúp con người
được cứu độ.
Theo nghĩa rộng
nhất, ngộ đạo chỉ tất cả các
loại giáo thuyết nhận ḿnh có thể tŕnh bày cho các tín
đồ một con đường dẫn tới trọn
lành; con đường này là một cách thức nhận
biết những thực tại không hiển nhiên.[315] C̣n
theo truyền thống văn chương kitô giáo, ngộ
đạo chỉ những lạc giáo phát sinh thời
đầu của Hội Thánh như Valentinus, Marcion,v.v..[316] Những
giáo phái này có cái nh́n lệch lạc về Kinh Thánh hoặc
về tạo dựng.
Mọi tôn giáo
đều nhận ḿnh có thể chỉ cho tín đồ con
đường giải thoát; chẳng hạn như Ấn
giáo (Bà-la-môn), Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo. Như vậy,
có chân lư giải phóng cứu độ con người.
Nhưng đâu là chân lư cứu độ? đâu không là chân
lư và không giúp giải phóng con người?
Để giải quyết
vấn đề này người ta phải truy t́m những
bằng cớ khách quan giúp nhận biết những chân lư
cứu độ đích thực. Thánh Augustinus đă
mất gần nửa đời người mới
nhận biết chân lư đích thực, và nhận ra
những sai lầm nơi ngộ đạo và các triết
thuyết.[317]
Mặc khải Kitô giáo
không chỉ là những tri thức, những ư niệm,
hữu thể của lư trí con người; nhưng mặc
khải kitô giáo, những chân lư cứu độ thực
sự, đă được chứng thực qua những
thực tại khách quan, qua những biến cố lịch
sử, qua lời thành xác phàm (Ga 1:14).
Lịch sử dân Israel
là lịch sử chứng thực mặc khải kitô giáo,
là lịch sử chứng thực tri thức mặc
khải kitô giáo là tri thức cứu độ. Những
phép lạ là những thực tại chứng thực
mặc khải kitô giáo. Biến cố phục sinh của
Đức Giêsu Nazareth là biến cố đặc biệt,
chứng thực và tỏ lộ chân lư nền tảng có
sức cứu độ con người.
2. T́nh yêu được
bày tỏ và chứng thực qua Lời
T́nh yêu là tương quan
liên vị. Trong hiện trạng tại thế của con
người, t́nh yêu được diễn tả bằng
ân sủng và bằng lời.
Lời hiểu như
DABAR tiếng Do thái, có nghĩa là chính sự vật, là cái mà
lời nói về.[318] Như
vậy, Lời là cái các tiên tri trong lịch sử dân Do Thái
nói về, là các biến cố lịch sử của dân Do
Thái, là lời các tiên tri, là lời Thiên Chúa ban cho con người.
Lời, hiểu như
logos tiếng Hy lạp, là lư trí. Không có lư trí, không có t́nh yêu.[319] Lời
diễn tả t́nh yêu, lời biểu lộ t́nh yêu. Không có
lời, không có tri thức, và như vậy không có lời,
t́nh yêu không được cảm nhận.
Lời c̣n
được hiểu như verbum mentis, tức ư niệm.[320] Những
ư niệm một người có trong lư trí cũng
được coi như lời. Hiểu lời như
vậy, khi Thiên Chúa mặc khải cho một người
bằng ơn soi sáng, trong giấc mơ hay thị kiến,
cũng là mặc khải bằng lời. Như vậy, lời
cũng được hiểu là những quyết
định được thực hiện trong tâm trí
nhưng chưa nói ra hoặc chưa làm ǵ để
thực hiện ra bên ngoài.
Lời, theo nghĩa b́nh
thường vẫn được dùng, chỉ lời
được nói ra. Lời là hành vi của hiện
hữu tự do, lời là hành vi tự do của hiện
hữu sở hữu lư trí. V́ thế, lời diễn
tả và mặc khải chủ thể phát ngôn lời.
Lời mặc khải các ngôi vị phát ngôn, và như
vậy, lời giúp đối thoại, giúp hiểu
biết ngôi vị phát ngôn và diễn tả ngôi vị dùng
lời.
Trong hoàn cảnh hiện
tại của Hội Thánh lữ hành, lời bí tích là
dấu chỉ ban ân sủng, biến con người thành
một hiện hữu mới, biến con người
trở thành con Thiên Chúa, và liên kết con người
với Thiên Chúa.
Lời bày tỏ t́nh yêu,
và không chỉ thế, lời chứng thực t́nh yêu. Thánh
Inhaxiô Loyola nói trong sách Linh Thao "t́nh yêu hệ tại
việc làm hơn lời nói" (LT. 230 cf. 1Ga 3:18). Nơi
con người, người ta thường nói nhiều
hơn hành động, và những ǵ người
ta nói không nhất thiết luôn đi đôi với hành
động; nhưng điều thường xảy ra
nơi con người th́ lại không đúng với Thiên
Chúa: nơi Thiên Chúa, những ǵ Ngài phán đều là
thực tại.
Thiên Chúa tạo dựng
tất cả v́ con người, v́ t́nh yêu đối với
con người. Thiên Chúa đă tạo dựng tất
cả bằng lời của Ngài: "Thiên Chúa đă phán:
hăy có ánh sáng; và đă có ánh sáng" (St 1:6). Thiên Chúa tạo
dựng con người v́ yêu con người, và Ngài đă
tạo dựng tất cả v́ con người và cho con
người, để con người được thuộc
về Thiên Chúa t́nh yêu.[321]
Thiên Chúa không chỉ yêu
và diễn tả t́nh yêu của Ngài đối với con
người qua việc tạo dựng bằng Lời,
nhưng Ngài c̣n dùng Lời Ngài làm nên lịch sử Israel qua
việc giải phóng dân Israel ra khỏi Ai cập bởi
Môsê.
Những điều
Thiên Chúa nói với Môsê phải được thực
hiện và đă được thực hiện:
· "Ta sẽ ở với ngươi. và này là
những dấu chứng thực là Ta đă sai ngươi:
khi ngươi đă dẫn dân ra khỏi Ai cập... Các
ngươi sẽ thờ Thiên Chúa trên núi này" (Xh 3:12);
· "Ta biết: vua Ai cập sẽ không cho phép các
ngươi đi, trừ phi là dưới một bàn tay
mạnh. Nhưng Ta sẽ giương tay đánh phạt
Aicập bằng đủ thứ sự lạ Ta sẽ
làm giữa nó. Và sau đó hắn sẽ thả các
ngươi đi" (Xh 3:19-20);
· "Bấy giờ ngươi sẽ nói với Pharaô:
Yahweh phán rằng: Con đầu ḷng của Ta là Israel, nên Ta
nói với ngươi: hăy buông thả cho con Ta đi
để nó phụng thờ Ta! Nhưng ngươi đă
khước từ không chịu thả ra, th́ này phần Ta,
Ta sẽ giết chết con đầu ḷng của
ngươi" (Xh 4:22-23).
Những điều Môsê
nói không phải là của Môsê, nhưng là của Thiên Chúa;
chính v́ vậy những lời Môsê nói nhân danh Thiên Chúa sẽ
trở thành hiện thực, trở thành biến cố:
"Vậy bây giờ ngươi hăy đi, chính Ta sẽ
ở với miệng ngươi và Ta sẽ dạy cho
ngươi điều ngươi phải nói" (Xh 5:12).
Sách Xuất Hành cho
thấy những điều Thiên Chúa phán truyền đă
được thực hiện. Thiên Chúa đă giải phóng
dân Israel ra khỏi Ai cập bằng lời của Ngài.
Lịch sử dân Israel là lịch sử Lời Thiên Chúa làm
nên lịch sử dân riêng Ngài.
Thập giới,
mười giới răn được Thiên Chúa ban cho dân
Israel, là lời của Thiên Chúa. Thập giới
được ban như những điều kiện
của giao ước giữa Thiên Chúa và con dân Israel. Và chúng
ta đă biết, thập giới chi phối toàn bộ
đời sống dân Israel sau này:
· Sách Thẩm Phán cho cái nh́n về lịch sử dân
Israel, lịch sử những phản bội và hối
hận, lịch sử ghi lại những can thiệp
của Thiên Chúa đối với dân riêng của Ngài;
· Các sách lịch sử c̣n lại như sách Samuel, sách
các vua, sách kư sự, v.v., cũng cho thấy những
thăng trầm của dân Israel đối chiếu với
đời sống giữ giao ước của dân;
· Các sách tiên tri cũng cho thấy Thiên Chúa can thiệp
bằng lời trong lịch sử dân Israel. Các tiên tri là các
ngôn sứ, đại diện Thiên Chúa, nói nhân danh Thiên Chúa.
Các tiên tri đă cảnh cáo những người không tuân
giữ lời của Thiên Chúa, đă loan báo tương lai
không tốt đẹp nếu dân và những người
lănh đạo bỏ các giới răn Chúa. Những
lời tiên báo mất nước và lưu đày của các
tiên tri, đă được ứng nghiệm; có thể
nói, lời Chúa phán qua miệng các tiên tri đă làm nên
lịch sử dân Israel.
Lịch sử dân Israel
đă được lời các tiên tri loan báo trước,
hoặc đă được lời các tiên tri giải thích
sau đó, là lời Thiên Chúa làm nên lịch sử dân Israel, là
dấu chỉ để con người hiểu
được Thiên Chúa và con người, là dấu chỉ
cho thấy t́nh yêu Thiên Chúa bày tỏ cho con người và
đặc biệt là cho dân tộc Do Thái.
Trong Kinh Thánh Cựu
Ước, Chúa thường nói với con người,
chẳng hạn "Yahweh đă hiện ra cho Abraham và phán
bảo ông" (St 12:7; 17:1), "Lời của Yahweh
đến với Abram trong thị kiến mà rằng
..." (St 15:1), "Xảy có lời Yahweh đến
với Yêrêmia rằng ..." (Gr 28:12). Thiên Chúa hiện ra cho
các bậc thánh nhân này như thế nào? làm sao các vị này
nghe được tiếng Chúa phán?
Theo St 18:1 tt, Thiên Chúa
đă hiện ra với Abraham dưới dạng ba
người và nói chuyện với ông. C̣n theo Xh 3:4 tt, Thiên
Chúa nói với Môsê từ giữa bụi gai. Thiên Chúa là hiện
hữu tự do, Ngài có thể hiện ra cho con
người như thế nào tùy ư ngài, Ngài có thể nói
với con người như thế nào cũng hoàn toàn do
Ngài; nhưng dù con người thấy[322] hay
nghe, điều chắc chắn là con người biết
chắc chắn, ư thức chắc chắn điều
đó.[323]
Thiên Chúa đă không
dừng lại với những lần hiện ra cho
một số người, Ngài cũng không chỉ giới
hạn việc phán bảo trong một số trường
hợp. Với t́nh yêu, Ngài đă thực hiện một
điều vượt quá sức hiểu biết của
con người: Lời Thiên Chúa đă thành xác phàm (Ga 1:14).
T́nh yêu không chỉ
hệ tại lời nói, nhưng chủ yếu hệ
tại việc làm.[324] Trong
t́nh yêu, các ngôi vị hướng tới hiệp nhất,
trở thành một với nhau. T́nh yêu giữa con
người cho thấy như vậy! Khi hai người
yêu nhau họ trở thành một thân thể. Khi yêu, các ngôi
vị thông ban cho nhau những ǵ ḿnh có, để rồi
tất cả là chung; như vậy người ta chia
sẻ cho nhau của cải, chức quyền, tri thức,
v.v.! Sự trao ban đạt tới cao điểm khi
mỗi người tận hiến chính ḿnh cho người
ḿnh yêu. Nếu Lời Thiên Chúa làm người, nếu Thiên
Chúa ban tặng chính Ngài cho chúng ta, th́ Thiên Chúa yêu con
người vô cùng!
Nhập thể làm
người, là hành vi Thiên Chúa thông ban chính ḿnh. "Thiên Chúa
đă yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một
Người, để những ai tin vào Ngài th́ không phải
hư đi nhưng được sự sống
đời đời" (Ga 3:16).
3. Đức Giêsu Kitô,
biểu tượng t́nh yêu
Trong thời gian Đức
Giêsu đi rao giảng, Ngài đă làm nhiều phép lạ. Lúc
đầu nhiều người đến nghe Ngài, và
nhiều người muốn làm môn đệ Ngài; nhưng
khi nghe những lời Ngài rao giảng, một số đă
bỏ đi v́ điều Ngài nói "không thể chấp
nhận được" (Ga 6:61.66). Dù lời rao
giảng của Đức Giêsu được các phép lạ
đi kèm,[325] nhưng
những lời của Đức Giêsu quá đặc biệt,
đến độ người ta không chấp nhận
được!
Vài lời nói "khác
thường" của Đức Giêsu:
· Ngài nhận Ngài có quyền tha tội. Theo quan niệm
của người Do Thái, chỉ có Thiên Chúa mới có
quyền tha tội (Mc 2:5.7; Lc 7:48-49);
· Ngài nhận Ngài có trước Abraham (Ga 8:58);
· Ngài nhận Ngài và Cha là một (Ga 10:30); Ngài đă
bị người ta lấy đá ném, v́ "Ông là một
người phàm mà dám cho ḿnh là Thiên Chúa" (Ga 10:33);
· Ngài nhận Ngài là "Con Người ngự bên
hữu Đấng quyền năng và đến với mây
trời" (Mc 14:62). Lời này làm Đức Giêsu bị
kết án tử v́ người ta cho rằng Ngài phạm
thượng, chỉ là con người mà dám nhận ḿnh
ngang hàng với Thiên Chúa.
Sau biến cô tử
nạn và phục sinh, các tông đồ nhận ra Đức
Giêsu Nazareth là Con đích thực của Thiên Chúa theo bản
tính, là Thiên Chúa, v́ nếu Ngài nói không đúng sự thật,
th́ Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài từ cơi chết.
Nếu Thiên Chúa đă phục sinh Ngài, hàm chứa những
điều Ngài nói về Ngài và về Thiên Chúa, phải là
những điều chân thực.
Nếu Đức Giêsu
Nazarét là Thiên Chúa nhập thể, là Con Thiên Chúa, th́ t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người thật
vô cùng! "Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi
đă ban Con Một Ngài, để những ai tin vào Con Ngài
th́ không phải hư mất nhưng được
sống đời đời" (Ga 3:16). Đức Giêsu Kitô
là Lời Thiên Chúa, lời bày tỏ t́nh yêu của Thiên Chúa
cho con người. Nơi Đức Giêsu Nazareth, nơi con
người chết treo thập giá, t́nh yêu của Thiên Chúa
Cha được mặc khải. Đức Giêsu Kitô là
dấu chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa cho con người.
Đức Giêsu không chỉ
làm chứng rằng Thiên Chúa Cha yêu con người, nhưng
Ngài c̣n mặc khải cho con người biết Ngài
cũng yêu con người vô cùng. "Không có t́nh yêu nào
lớn hơn là thí mạng sống ḿnh v́ bạn
hữu" (Ga 15:13).[326]
Đức Giêsu là
đường, là sự thật, và là sự sống (Ga
14:6). Đức Giêsu vừa là phương tiện mặc
khải, vừa là nội dung mặc khải. Ngài là
phương tiện mặc khải tuyệt vời, v́ Ngài
là Lời Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa nhập thể. "Không
ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" (Ga
14:6b).
Ngài là nội dụng
mặc khải, v́ Ngài là Lời Thiên Chúa, là h́nh ảnh
của Thiên Chúa vô h́nh" (Cl 1:15). "Ai thấy Ta là đă
thấy Cha" (Ga 14:9b). Ngài là t́nh yêu của Thiên Chúa được
bày tỏ, ai biết Ngài là biết được t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người, ai tin Ngài
là tin vào Thiên Chúa, là tin vào Thiên Chúa t́nh yêu. Ai giữ Lời
Người th́ ở trong t́nh yêu, và ở trong t́nh yêu th́
biết Thiên Chúa. Cái biết đây không c̣n ở trạng
thái lư luận của lư trí, nhưng ở tại sự
đồng cảm của con tim. Chính nhờ t́nh yêu mà lư trí
biết Thiên Chúa.
Đức Giêsu là mục
đích của mặc khải, v́ khi con người đáp
trả mặc khải bằng tin vào Ngài, phó thác vào Ngài th́
con người được sống đời đời
(Ga 3:16b), được ở trong Thiên Chúa, được
sống trong t́nh yêu.
Nói một cách khác như
trong tin mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu là sự sáng (Ga 9),
là mục tử tốt lành (Ga 10), là Nước hằng
sống (Ga 4), là Bánh hằng sống (Ga 6), là sự sống
lại và là sự sống (Ga 11).
Thánh Thần mà Đức
Giêsu hứa ban, đă tỏ hiện vào ngày lễ Ngũ
tuần (Cv 2:1 tt), là bảo đảm t́nh yêu của Thiên
Chúa Cha và của Chúa Giêsu đối với con người.
Nhờ Đức Giêsu mà Thánh Thần đă được ban
cho con người. Thánh Thần hoạt động trong
Hội Thánh, nơi những kẻ tin, để rồi
Hội Thánh trở thành dấu chỉ của Thánh Thần,
trở thành dấu chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa
đối với con người.
Thánh Thần thánh hóa con
người, làm cho con người nên thánh. Chính Thánh
Thần làm cho con người tuyên xưng Đức Giêsu là
Chúa: "Không ai có thể nói Đức Giêsu là Chúa mà lại không
bởi sức Thánh Thần" (1Cr 12:3). Đức Giêsu nói:
"Nếu các ngươi lưu lại trong lời Ta, th́
hẳn thật, các ngươi là môn đồ Ta, và các
ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật
sẽ cho các ngươi được tự do" (Ga
8:31-32). "Khi nào Ngài đến, v́ là Thần Khí sự
thật, Ngài sẽ đưa các ngươi vào tất
cả sự thật" (Ga 16:13). Thiên Chúa thánh hóa chúng ta
bởi Thánh Thần của Người, bởi Lời mà
Thánh Thần dạy chúng ta[327] "xin
hăy tác thánh chúng trong sự thật, Lời của Cha là
sự thật" (Ga 17:17).
Thiên Chúa là Đấng thánh,
là Đấng chí thánh, chỉ có một ḿnh Thiên Chúa là Đấng
thánh. Khi Thiên Chúa đến ở với ai Ngài sẽ làm
người đó được nên giống Ngài, nghĩa
là được trở nên thánh, tách biệt khỏi thế
gian và chỉ thuộc về Thiên Chúa thôi. Khi
được nên giống Thiên Chúa, thuộc về Thiên
Chúa, tức là được cứu độ.
Lời hứa Thiên Chúa
cho Abraham, nói lên khao khát của Abraham và của tất
cả mọi người: có đất đai làm gia
nghiệp, có con nối dơi tông đường, nên mối
chúc lành.[328]
Khao khát có con cái nối
ḍng là một h́nh thức khác của ao ước sống
lâu, trường sinh bất tử.[329] Thiên
Chúa đă mặc khải cho dân Israel biết cái chết là
hậu quả của tội, đau khổ là hậu
quả của hành vi chống lại Thiên Chúa (St 3:1tt).
Điều con người hằng khao khát nhưng không thể
đạt được, th́ Đức Giêsu Nazareth, Lời
Thiên Chúa nhập thể, đă làm thành hiện thực. Con
người sẽ được sống đời
đời nếu con người tin vào Ngài (Ga 3:16; 17:3), nếu
con người ăn bánh hằng sống là thịt ḿnh Ngài
(Ga 6:51).[330]
Con người khao khát
có nhiều tiền của. Sung túc[331] cũng
là dấu chỉ của một người
được thương và hạnh phúc. Nhưng nếu
Đức Giêsu Kitô là Quà Tặng Thiên Chúa ban cho con người,
nếu Thánh Thần là Quà Tặng của Thiên Chúa Cha và Con
cho con người, th́ đâu c̣n ǵ khác quư hơn để
con người ao ước nữa? Những ǵ thuộc
trần thế làm sao so sánh được với hồng
ân là chính Thiên Chúa? Có Thiên Chúa là có tất cả. Thiên Chúa là
tài sản, là gia nhiệp của những người
được Thiên Chúa yêu. Đức Giêsu là bảo
đảm cho những người tin vào Ngài rằng
họ được Thiên Chúa yêu thương, và Thiên Chúa là
gia nghiệp của họ.[332]
Dân Israel đă từng
cầu nguyện và mong chờ Thiên Chúa sai Đấng Kitô
tới giải phóng họ khỏi ách nô dịch bên
Aicập, khỏi sự đàn áp của các dân tộc vùng
Canaan, khỏi ách nô lệ lưu đày Babylon. Thiên Chúa
đă nhận lời, Ngài đă sai Môsê, các thẩm phán, vua
Kyrô xứ Batư đến để giải phóng họ.
Khi thời gian viên măn, lúc dân Israel mong chờ Thiên Chúa sai
Đấng Kitô giải phóng họ khỏi làm nô lệ
đế quốc Roma, th́ Ngài đă sai Đấng Kitô là chính
Con Ngài xuống, không phải để giải phóng họ
khỏi ách nô lệ chính trị, nhưng để giải
phóng họ khỏi nô lệ tội lỗi. Đức Kitô Con
Một Thiên Chúa đă giao ḥa con người với Thiên
Chúa, đă đưa con người thoát khỏi nô lệ
tội lỗi và ác quỉ, dẫn con người
đến với Thiên Chúa.
Đức Giêsu Kitô Phục
Sinh đă hoàn tất mặc khải, nhưng con
người vẫn phải chờ mọi sự
được tỏ lộ vào ngày Chúa quang lâm.[333] Đức
Giêsu đă hứa Ngài sẽ trở lại đón chúng ta:
"Và nếu Ta ra đi và dọn chỗ cho các
ngươi, th́ Ta sẽ đến lại và đem các
ngươi theo Ta, để Ta ở đâu, các ngươi
cũng ở đó" (Ga
14:3). Về ngày và giờ Chúa quang
lâm, không ai biết trừ Chúa Cha.[334] Vào
ngày đó, Thiên Chúa sẽ làm mới mọi sự (Kh 21:5),
sẽ có trời mới đất mới (Kh 21:1). Ngày
đó, Đức Giêsu Kitô sẽ biến đổi thân xác
khốn hèn của ta, trở nên đồng h́nh đồng
dạng với thân xác vinh quang của Ngài (Pl 3,21). Ngày
đó, những kẻ chết trong Đức Kitô sẽ
sống lại (1Tx 4:16), sẽ đi đón Chúa, sẽ
được ở với Chúa luôn măi (1Tx 4:17). Đó là ngày
Thiên Chúa thu họp vạn vật dưới một
đầu một mối là Đức Kitô, dù vật nơi
trời cao dù vật nơi dương thế (Ep 1:10).
Đức Giêsu Kitô là
Đấng hoàn tất mặc khải, là tột đỉnh
của mặc khải. Thời hiện tại là thời
đại cánh chung. Vào ngày Chúa quang lâm, Thiên Chúa sẽ là tất
cả cho mọi sự. Trong tâm t́nh chờ đợi, chúng
ta luôn hợp với tất cả mọi kitô hữu tuyên
xưng "Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đă
chịu chết, và tuyên xưng Chúa đă sống lại,
cho tới khi Chúa lại đến."[335]
Giáo tŕnh này đă xem xét
· khả thể mặc khải ở phần I:
Thiên
Chúa mặc khải cho con người hay không, là tùy Ngài;
· Thiên Chúa đă mặc khải cho dân Israel (phần II):
bằng
những điềm thiêng dấu lạ, Thiên Chúa đă
giải phóng dân Israel khỏi ách nô dịch bên Aicập và
Ngài có một tương quan rất đặc biệt
với dân;
Cũng trong phần này, một dấu lạ tuyệt
vời là Đức Giêsu Kitô; chính nhờ biến cố tử
nạn và phục sinh của Đức Giêsu Kitô mà con
người nhận ra t́nh yêu tuyệt vời của Thiên
Chúa đối với con người;
· phần III:
những
nỗ lực của tín hữu nhằm lư giải
đức tin cho mọi người; phần này cũng cho
biết những sai lệch mà kitô hữu cần tránh
để hiểu đúng thực tại mặc khải;
· phần IV: một nỗ lực lư giải cách
nhất quán về mặc khải.
Mặc khải là tri
thức của Thiên Chúa, là lời Thiên Chúa ban cho con
người, để con người biết về Thiên
Chúa, về con người và về chương tŕnh cứu
độ con người; mặc khải c̣n
được coi là cuộc t́nh giữa Thiên Chúa và con
người, trong đó Thiên Chúa gặp gỡ, mời
gọi, tỏ lộ và chăm lo săn sóc con người;
đỉnh điểm mặc khải là Đức Giêsu Kitô, Lời
Thiên Chúa nhập thể làm người. Với biến
cố này, Thiên Chúa đă đi đến tận cùng
của t́nh yêu: Ngài trao ban chính ḿnh cho con người.
Biến cố Lời Thiên Chúa nhập thể làm
người, vừa là t́nh yêu vừa là phương
tiện tuyệt hảo biểu lộ t́nh yêu.
Với biến cố
Lời Thiên Chúa nhập thể, mặc khải không chỉ
ở b́nh diện tri thức, nhưng là chính thực
tại, chính sự sống vĩnh cửu, là yếu tố
cấu thành "đời sống theo Thần Khí"
của con người.
Thiên Chúa đă mặc
khải! Về phía con người? Con người tự
do đáp trả mặc khải. Đáp trả mặc khải,
không chỉ đơn thuần là tin những điều
được mặc khải là đúng, nhưng chính
yếu là tin vào Đấng mặc khải, tin rằng Thiên Chúa
yêu ḿnh, và như vậy, phó thác đời sống ḿnh cho
Thiên Chúa tùy Ngài định đoạt. Các thiên thần
phản loạn, biết có Thiên Chúa, biết những
điều được mặc khải là chân lư,
nhưng họ không quy phục Thiên Chúa, họ không muốn
sống trong t́nh yêu của Thiên Chúa, họ không phó thác
tất cả cho Thiên Chúa.
Mặc khải đă
xảy ra trong lịch sử, nhưng mặc khải
cũng được hiện tại hóa cho những
người đang sống. Như vậy, con người
phải liên tục đáp trả lời mời gọi
của Thiên Chúa trong cuộc sống, qua những biến
cố hàng ngày, qua kinh nguyện, qua lời rao giảng
của Hội Thánh! Làm như vậy, là đang vươn
tới Thiên Chúa, là tin tưởng và phó thác đời
sống trong ṿng tay Thiên Chúa T́nh Yêu. Mặc khải là
mặc khải t́nh yêu và mặc khải để sống
trong t́nh yêu.
(Những sách
được trích dẫn)
Alfaro, J. “Persona y
Gracia,” Gregorianum 41 (1960)
Auer, J. "Grâce," II:
Theological, Sacramentum Mundi. Burns and Oates, 1968.
Bailly, M. A. Abrégé du Dictionnaire Grec-Francais. Paris
1961.
Baumgartner, H. M.
"Transcendantal Philosophy," Sacramentum Mundi. Burns and
Oates, 1968.
Bihlmeyer, E. Histoire
de l'E'glise, t. I. Paris: Salvator, 1962.
Bouillard, H. "Révélation et Histoire", Ed.
E. Castelli, La Théologie de l’histoire. Herméneutique et eschatologie, pp.
91-104. Paris 1971,
Ed. Castelli, E. La Théologie de l’histoire. Herméneutique et
eschatology. Paris 1971,
Cayré, F. Précis de
Patrologie, t. I. Paris: Desclée et Cie, 1927.
Cazelles, H. Introduction
à la Bible: Introduction critique à l'ancient Testament, t. II. DDB,
1973.
Congar, Y. La Foi et la Théologie. Paris 1962
Dortigues, Y. La Foi et
la Théologie. Paris 1962.
Cornélis, H. et Léonard,
A. La Gnose éternelle. Col. Je sais-ie crois 146. Paris
1959.
Dartigues, A. Révélation
du sens au salut. Desclée, 1985.
De Finance, J. Connaissance
de l'Être. Paris: DDB, 1966.
De Lubac, H. Dieu se dit
dans l'histoire. Collection Foi Vivante 159. Cerf, 1974.
Denzinger – Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum. Herder, 1963.
Dulles, A. Revelation
Theology. Burns and Oates – Herder and Herder, 1969.
Đào Duy Anh. Hán
Việt Từ Điển. Paris 1950.
Fries, H.
"Révélation," Mysterium Salutis t. I, vol. I. Paris:
Cerf, 1969.
Fries, H. "Le Mythe et la
Révélation," Questions Théologiques Aujourdhui. Paris: DDB,
1964.
Geffré, Cl. "L’histoire
récente de la théologie fondamentale. Essai d'interprétation,"
Concilium 46 (1969), pp. 11-28.
Haardt, R.
"Gnosticism," Sacramentum Mundi. Burns and Oates
1968
Halder, A.
"Knowledge," Sacramentum Mundi. Burns and Oates 1968
Horst, U. "La conception de
la Révélation dans la haute scolastique," La révélation dans
l'écriture, la patristique, la scolastique, Ed. Michel Seybold, Col. Histoire
des Dogmes. Paris: Cerf, 1974
Inhaxiô Loyola. Linh
thao. Sài G̣n: Nhà Tập Ḍng Tên, 1969.
Jolivet, R. Dieu Soleil
des esprits: La doctrine augustinienne de l'illumination. Paris: DDB
et Cie, 1934.
Jung, N.
"Révélation," Dictionaire de Théologie Catholique, t. XIII,
col. 2586. Paris 1932
Keller, A. "Universals," Sacramentum
Mundi. Burns and Oates, 1968.
Krenn, K.
"Kantiannism," Sacramentum Mundi. Burns and Oates,
1968.
Latourelle, R. Théologie
de la Révélation. DDB, 1966
Latourelle, R. Théologie
Science du Salut. Paris 1968
Latourelle, R. "La
spécificité de la Révélation chrétienne," Studia Missionalia, vol.
XX. Roma: Gregoriana, 1971.
Leopold, E. F. Lexicon
Hebraicum et Chaldaicum. Lipsiae, 1905
Lê Tôn Nghiêm. Lịch
sử Triết học Tây Phương. Sài G̣n: Lá
Bối, 1970
Loisy, A. The Gospel and
the Church. Paris 1903
McKenzie, J. E. Dictionary
of the Bible. Milwaukee 1965
McKenzie, J. E. "Aspects of
old Testament Thought," Jerome Biblical Commentary
Parrinder, G. "Revelation
in other Scriptures," Studia Missionalia, vol. XX. Roma:
Gregoriana, 1971.
Paul VI. Ecclesiam suam.
Pederson, J. Israel: life and culture. London 1946
Phạm Thanh Liêm, G. Thần
học các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Đà Lạt: lhnb, 1982
Phạm Thanh Liêm, G. Dẫn
nhập Thần học. Đà Lạt: lhnb, 1990
Rahner, K. L'Esprit dans
le monde. Mame 1968
Rahner, K. L'homme à
l'écoute du Verbe. Mame 1967
Rahner, K. "A
propos de la réforme des études ecclésiastiques," Est-il possible
aujourd'hui de croire. Mame 1966
Rahner, K. "Salvation," Mysterium
Salutis. Herder 1970.
Ricken, F "Platonism," Sacramentum
Mundi. Burns and Oates 1968
Splett, J. "Agnosticism,"
Sacramentum Mundi. Burns and Oates 1968
Stockmeier, P. "Révélation
dans l'Église chrétienne primitive," La Révélation dans
l'Écriture, la patristique, la Scolastique, Ed. Michel Seybold, Col. Histoire
des Dogmes. Cerf, 1974.
Thanh Nghị. Việt
Nam Tân Tự Điển Minh Họa. Sài G̣n: Khai Trí, 1965.
Thiều Chửu. Hán
Việt Tự Điển. Hà Nội 1942
Thils, G. Propos et
problèmes de la théologie des religions non-chrétiennes. Casterman,
1966
S. Thomae In Aristotelis Librum De Anima Commentarium.
Italy: Marietti, 1959.
S. Thomae Summa
Theologiae. Italy: Marietti, 1952.
S. Thomae Aquinatis Liber
de Veritate Catholicae Fidei contra errores Infidelium seu Summa Contra
Gentiles. Italy: Marietti 1961.
Thonnard, F. J. Extraits
des grands philosophes. Paris: Desclée et Cie, 1963.
Thonnard, F. J. Présis
d'histoire de la philosophie. Paris: Desclée et Cie, 1966.
Thornton, L. S. Revelation in the modern world. Oxford Uni.
Press, 1950
Wetter, G. A. "Marxism," Sacramentum Mundi
I. Burns and Oates 1968.
Kinh Thánh. Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn,
DCCT. Sài G̣n 1976.
Kinh Thánh. Bản dịch Các Giờ Kinh Phụng
Vụ.
Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II.
Sai g̣n: GHHV PIÔ X, 1972.
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
AMDG
AD MAIOREM DEI GLORIAM
14.12.52
23.03.38
[1] R. Latourelle, Théologie Science
du Salut, p. 105
Cf. G. Phạm Thanh Liêm, Dẫn
Nhập Thần Học, trg. 47.22
[2] K. Rahner, “A propos de la
réforme des études ecclésiastiques," p. 202
Y. Congar, La Foi et la Théologie, p.
183
Cl. Geffré, "L’histoire récente de
la théologie fondamentale. Essai d’interprétation," p. 11
[3] Cũng có người
dùng chữ mạc khải; theo ư kiến cá nhân, dùng chữ
mạc khải hay mặc khải đều
được, nhưng bản thân nghiêng về dùng chữ
mặc khải hơn. Công giáo bên Đài Loan dùng từ 啟示 (Khải
Thị: mở ra cho người ta xem).
[4] Thanh Nghị, Việt Nam
Tân Tự Điển Minh Họa.
[5] N. Jung, "Révélation"
trong DTC, t. XIII, col. 2586.
cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non-chrétiennes, p. 84
[6] Cf. G. Thils, op. cit., p. 84
[7] H. Bouillard, "Révélation et
Histoire," pp. 91-104,
Cf. R. Latourelle, "La spécificité
de la Révélation chrétienne," p. 46
[8] K. Barth, Dogmatique, vol. II, t.
II: "Gottes Offenbarung als Aufhebung der Religion,” cf. G. Thils, op.
cit., p. 46
[9] L. S. Thornton, Revelation in the
modern world, pp. 60. 194
Cf. G. Parrinder, "Revelation in
other Scriptures," p. 103
[10] G. Parrinder, art. cit., p. 103
[11] J. Alfaro, “Persona y Gracia,”
Gregorianum 41 (1960), p. 11,
Cf. R. Latourelle, Théologie de la
Révélation, p. 392
[12] H. Fries, "Le Mythe et la
Révélation," p. 16
[13] A. Dulles, Revelation Theology,
p. 9
[14] R. Latourelle, Théologie de la
Révélation, p. 9
[15] Paul VI, Ecclesiam Suam, n. 72
Cf. H. De Lubac, Dieu se dit dans
l’histoire, p. 29
[16] Với cái nh́n chủ
quan, tín đồ của tôn giáo nào cũng cho rằng tôn
giáo ḿnh đang theo là tôn giáo đúng nhất và là tôn giáo
được mặc khải. Người Do thái cho
rằng đạo Do thái của họ là duy nhất
đúng; người Hồi giáo cũng cho rằng kinh Coran
là kinh được mặc khải và Hồi giáo là tôn giáo
duy nhất chân thực; người theo Ấn giáo cũng
cho rằng Ấn Giáo mới là tôn giáo được
mặc khải. Kitô hữu cũng cho rằng Kitô giáo
mới là đạo chân thực.
Vậy đối với kitô
hữu, và đặc biệt với người công giáo
chúng ta, các tôn giáo ngoài kitô giáo có mặc khải không? Không bàn
về vấn đề này ở đây, nhưng theo ư
kiến cá nhân, các tôn giáo ngoài kitô giáo cũng có thể
được mặc khải. Xem Giuse Phạm Thanh Liêm,
Thần học các tôn giáo ngoài Kitô giáo, Đà Lạt: lhnb, 1982,
trang 16-27.
Xem thêm Studia Missionalia, vol. XX
(1971), Gregoriana 1971
[17] Không tùy thuộc lư trí và ư
chí con người, nghĩa là không tùy thuộc con
người có biết điều đó hay có chấp
nhận điều đó hay không.
[18] Lê Tôn Nghiêm, Lịch
Sử Triết Học Tây Phương, pp. 210-211.
[19] F-J. Thonnard, Précis d' Histoire
de la Philosophie, p. 156.
Ông tổ của chủ
thuyết hoài nghi là Pyrrhon (365-275);
Chủ thuyết cái nhiên
(probabilisme) với Arcésilas (315-241) lănh tụ Académie (Hàn Lâm);
Carnéade (215-126) lănh tụ Tân
Hàn Lâm; và những người khác như Aenesidemus, Agrippa,
Sextus Empiricus, v.v.
[20] F-J. Thonnard, op. cit., p. 157
[21] Augustinus, De Trinitate, l. XV,
ch. XII, 21
Cf. F-J. Thonnard, op. cit., p. 208
[22] Kant phân biệt phán
đoán phân tích và phán đoán tổng hợp, phán đoán
tổng hợp tiên thiên và hậu thiên. Chỉ có phán đoán
tổng hợp tiên thiên mới có giá trị khoa học. (F-J
Thonnard, op. cit., p. 624).
Kant phân biệt đối
tượng hiện tượng và đối tượng
tự thân. Đối tượng tự thân thuộc lănh
vực của lư trí thực tiễn, chẳng hạn
như Thiên Chúa, linh hồn bất tử, tự do ... (F-J.
Thonnard, op. cit., p. 630).
Không gian và thời gian không là
thực thể khách quan, nhưng là những khung tiên thiên
(formes à priori) của cảm quan nhờ đó những
trực giác giác quan được h́nh thành, cũng
tương tự như vậy các ư niệm phổ quát là
những mô thức tiên thiên (formes à priori) của trí hiểu
(Der Verstand).
(Cf. A. Haldet, art. "Knowledge,”
trong Sacramentum Mundi, ed. K. Rahner, Burns and Oates 1968, p. 252
K. Krenn, art. "Kantianism,” trong
Sacramentum Mundi, p. 243)
Kant tiến hành việc phê
b́nh tri thức
bằng việc phê b́nh
cảm quan (critique de la sensibilité) trong phần thẩm
mỹ siêu nghiệm (Esthétique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh phán
đoán trong phần luận lư siêu nghiệm (logique
transcendantale; luận lư siêu nghiệm c̣n được
gọi là phân tích siêu nghiệm (analytique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh
biện chứng siêu nghiệm (dialectique transcendantale)
(Xem F-J. Thonnard, op.cit., pp.
646-647).
Phương pháp Kant dùng là
phản tỉnh phê b́nh (réflexion critique), hay c̣n gọi là
phản tỉnh siêu nghiệm (réflexion transcendale)
(F-J. Thonnard, op. cit., pp. 628-630).
Phản tỉnh phê b́nh
gồm
phân tích phê b́nh (analyse critique)
nhằm xác định những yếu tố cấu thành
và những quy luật của phán đoán,
và diễn dịch phê b́nh
(déduction critique) nhằm xác định những điều
kiện tuyệt đối cần thiết (nếu không có
những giả sử này, th́ không có tri thức). (Xem F-J.
Thonnard, op.cit., pp. 639-640. 628-630)
Kant cho rằng tri thức
khởi đầu với giác quan, tiếp tục nơi
trí năng và kết cục nơi lư trí,
hoặc, tri thức là
trực giác và quan niệm, trực giác cộng thêm tư
tưởng (K. Krenn, art. cit., p. 243: "From sensible intuition,
human knowledge finally progresses to concepts and judgments. But for Kant,
knowledge is intuition and concept, intuition plus thought"),
hoặc, mọi tri thức
nhân loại đều khởi đầu với trực
giác, rồi qua quan niệm, kết cục nơi ư niệm
(F-J. Thonnard, op. cit., p. 633).
Giả sử của Kant:
có các phán đoán tổng
hợp tiên thiên,
khả năng phản
tỉnh phê b́nh,
phán đoán khoa học là
chuẩn
(F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la
Philosophie, pp. 630-631).
[23] K. Krenn, art. "Kantianism,”
p. 243
F-J. Thonnard, op. cit., pp. 632. 630
[24] F-J. Thonnard, op. cit., pp. 647-
648
[25] K. Krenn, art. "Kantianism,”
p. 243
[26] Agnosticisme.
[27] A. De La Barre, art.
"Agnosticisme,” trong DTC. I/1, Paris 1923, col. 596
[28] J. Splett, art.
"Agnosticism,” trong Sacramentum Mundi I, Burns and Oates 1968, p. 15
[29] J. Splett, art.
"Agnosticism,” p. 16
[30] F-J. Thonnard, Précis
d'histoire..., p. 285
Albert Keller, art. "Universals,”
Sacramentum Mundi, III, p. 325
Hans M. Baumgartner, art.
"Transcendantal Philosophy,” Sacramentum Mundi, p. 282
Tự điển Petit
Larousse, từ ngữ "nominalisme.”
[31] Ibidem.
[32] Tự điển
Larousse, từ ngữ "conceptualisme."
[33] A. Keller, art. cit., p. 325
[34] Ibidem
F-J. Thonnard, op. cit., p. 285
[35] F-J. Thonnard, op. cit., p. 302
[36] G. A. Wetter, art.
"Marxism,” trong Sacramentum Mundi, IV, p. 425
[37] như người ta
vẫn thường quan niệm.
[38] Connais- toi, toi même.
[39] Ibid., p. 306: "l' homme est
la mesure de toutes choses."
[40] F-J. Thonnard, Extrais Des Grands
Philosophes, pp. 6-7
[41] Friedo Ricken, art.
"Platonism,” Sacramentum Mundi, Burns and Oates 1968, p. 30
[42] Platon, Parménide: "Même
chose se donne à penser et à être": chez Parménide. L'être est, de soi,
intelligible et rationnel. Trích bởi J. De Finance, Connaissance de
l'être, p. 129
[43] Aristote, Met. A1 993b 31:
"autant une chose a d' être, autant il a de vérité.” Trích bởi J. De
Finance, op. cit., p.130.
[44] S. Thomas, C.G. II, 98: Quidquid
esse potest, intelligi potest. Trích dẫn bởi F-J. Thonnard, Précis
d'histoire de la Philosophie, p. 36
K. Rahner, L'esprit dans le monde, p.
79
[45] Ens, verum, bonum convertuntur.
[46] Omne ens est verum.
[47] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, pp. 83. 88
[48] J. De Finance, Connaissance de
l'être, pp. 147. 156-157
[49] K. Rahner, L'esprit dans le
monde, p. 79
[50] J. De Finance, op. cit., pp. 135-136
[51] S. Thomas, ST. I-II, q. 55, a. 4,
ad 4: Id quod primo cadit in intellectu est ens.
S. Thomas, De Veritale, I, 1:
"Illud quod primo intellectus concipit quasi notissium et in quo omnes
conceptiones resolvit est ens.”
[52] J. De Finance, op.cit., p. 138
[53] ngay lập tức.
[54] S. Thomas, ST. I, q. 16, a. 4, ad
2: "Intellectus... per prius apprehendit ipsum ens et secundario
apprehendit se intelligere ens... Unde primo est ratio entis, secundo ratio
veri.
Cf. J. De Finance, op. cit., p. 144
[55] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, p. 90
[56] Ở đây đề
nghị dịch chữ létant là hiện thể, c̣n chữ
acte là hiển thể (đi với tiềm thể,
puissance).
K. Rahner, op. cit., p. 99
[57] K. Rahner, op. cit., pp. 88.94
[58] K. Rahner, op. cit., pp. 97. 96.
94
S. Thomas, ST. I-II, q.3, a.7, c:
"eadem est dispositio rerum in esse sicut in veritate."
In II Metaph., lect. 1, n. 280:
"Unumquodque est cognoscibile in quantum est ens in actu; unumquodque est
intelligens et intelligibile, quod est idem, in quantum est ens actu."
In VII Met., lect. 2, n. 1301:
"Secundum quod aliquid est ens secundum hoc est cognoscibile.”
[59] cần thiết bất
tất, như tôi cần có cha mẹ và cha mẹ cần có
ông bà, và cứ tương tự như vậy.
[60] Chúng không là những
hiện hữu bất tất độc lập với
nhau tuyệt đối.
[61] Độc thần cũng là
một chân lư được mặc khải. Với tri
thức của con người, không có những hiện
hữu bất tất độc lập, nên không có
nhiều hiện hữu tất yếu.
[62] hữu thể thuần
vật chất.
[63] hữu thể có
những giác quan.
[64] không có lư trí.
[65] như thánh Max. Kolbe.
[66] Đúng ra chúng ta phải nói,
hiện hữu tự do là tinh thần, v́ tinh thần
được định nghĩa là hiện hữu
sở hữu tri thức phải tỉnh và siêu
vượt.
[67] hay Thiên Chúa, Hiện
Hữu Tự Do Tuyệt Đối, Hiện Hữu Tri
Thức Tuyệt Đối.
[68] Tính chất tự do
của con người, sẽ có dịp đề cập
ở những đoạn sau.
[69] Lịch sử hiểu là
chuỗi những hành động của hiện hữu
tư do.
[70] T́nh yêu là tương quan
giữa hai ngôi vị, là ư muốn theo lư trí "tự
do" có đối tượng là ngôi vị.
"Ư muốn là khuynh
chiều của hữu thể theo lư trí" (S. Thomae, In
Aristotelis Librum De Anima Commentarium,
Marietti_Italy 1959, n. 288).
[71] Không theo cái cũ, không
theo vết xe cũ, không theo thói quen cũ, thế nên
người ta không biết trước được.
[72] K. Rahner, art. "Salvation,”
trong Sacramentum Mundi, V, Herder and Herder 1970, col. 406
[73] S. Thomae in Arist. Librum De
Anima Commentarium, n. 21
[74] Một vài từ ngữ
được dùng ở đây tương ứng với
từ ngữ tiếng nước ngoài:
trí khôn, lư trí: intellect
hay intelligence, intellectus, Vernunft
trí tưởng
tượng: imagination,
phantasia
lư
nhớ: mémoire,
memoria
lư
trí: raison,
ratio, Vernunft
trí
hiểu: entendement,
Der Vernunft
Điều này không có nghĩa có
nhiều lư trí, nhưng nhằm diễn tả những
khả năng của lư trí con người.
Để hiểu có khi phải
suy luận, nhưng có khi là sự nắm bắt trực
giác không qua suy luận; như vậy trí hiểu có thể
nằm trong lư trí (trí hiểu như khả năng lư
luận của trí khôn) hoặc trí hiểu có thể
được dùng để chỉ chính trí khôn.
Lư trí, theo Đào Duy Anh trong Hán
Việt Từ Điển in tại Paris 1950, có nghĩa:
sức suy nghĩ, đối với sức cảm giác.
[75] chẳng hạn ư
niệm "cái bàn" phổ quát có thể ứng dụng
với mọi cái bàn cụ thể.
[76] eidos là từ ngữ
được Platon dùng để chỉ nguyên mẫu
của những vật thể của thế giới
khả giác; từ ngữ ư niệm (eidos, idée) ở đây
không trùng với nghĩa được Platon dùng.
[77] Tự do, công b́nh, bác ái,
được hiểu là quan niệm v́ nó không
được trừu xuất từ những vật
thể cụ thể trực tiếp nhưng nó được
tạo thành do suy luận, do phán đoán. Thực ra chúng
cũng có thể được gọi là những ư
niệm, nhưng là những ư niệm "cấp cao.”
[78] phán đoán về tri
thức, lối sống, cách hành xử của con
người.
[79] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 40
trích dẫn S. Thomae in III De
Anima, lect. 12, nn. 781-785
[80] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 49
K. Rahner, L’homme à l’écoute du Verbe,
p. 254:
Nihil sine phantasmata intelligit anima
(linh hồn không hiểu ǵ nếu không có ảnh
tượng).
Theo từ điển
Latin-Pháp của Quicherat:
phantasia, ae, f.: vision, imagination,
simulacre
Phantasma, atis, n.: être imaginaire,
simulacre
cả hai đều từ
tiếng Hylạp.
[81] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 41
[82] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 37 note 5 trích dẫn
S. Thomae in Boeth. de Trin., q. 6, a.
2, ad 5: "Phantasma est principium nostrae cognitionis ut ex quo incipit
intellectus operatio, non sicut transiens sed sicut permanens ut quoddam
fundamentum intellectualis operationis, sicut principia demonstrationis oportet
manere in omni precessu scientiae.
[83] S. Thomae, In Arist. Lib. De
Anima Comm., n. 19
[84] S. Thomae, In Arist. Lib. De
Anima Comm., nn. 717. 718. 762
[85] S. Thomae, In Arist. Lib. De
Anima Comm., nn. 791. 794
[86] S. Thomae, In Arist. Lib. De
Anima Comm., n. 718
[87] K. Rahner, L’homme à lécoute du
Verbe, pp. 86-87
[88] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 36
[89] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 132
[90] K. Rahner, L’homme à l’écoute du
Verbe, p. 111
[91] S. Thomae, Contra Gent., IV, 11
trích bởi
K. Rahner, L’Esprit dans le monde, p.
128
[92] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 129
[93] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, p. 128
[94] K. Rahner, L’Esprit dans le
monde, pp. 248. 113
[95] S. Thomae, S.T., I, q. 84, a.7,
ad 3 trích dẫn bởi
K. Rahner, L’Esprit dans le monde, p.
150 note 14
[96] S. Thomae in Boeth. De Trinit.,
q. 6, a. 2, corp.
trích bởi K. Rahner, L’Esprit
dans le monde, p. 150 note 14
[97] K. Rahner, L’homme à lécoute du
Verbe, p. 248
Ở chỗ khác, Rahner nói:
Tiền dự là sự khai
mở của ư thức chúng ta về chân trời, mà trong
chân trời đó đối tượng đặc thù
của tri thức nhân linh được lănh hội (op.
cit., p. 114).
Tiền dự là điều
kiện để có ư niệm phổ quát, để có
trừu xuất; Và đến lượt ḿnh, trừu
xuất là điều kiện để có khách thể hóa
dữ kiện khả giác, và như vậy cũng là
điều kiện để có tri thức (op. cit., p. 113).
Tiền dự như vậy
không là sự hiểu biết tiên thiên về một
đối tượng, nhưng là chân trời
được ban cùng với yếu tính con người, và
như vậy, nó là điều kiện tiên thiên của tri
thức về một hiện tượng hậu thiên (op.
cit., p. 249).
[98] K. Rahner, L'homme à l'écoute...,
p. 112. 113. 115
[99] S. Thomas, ST. I, q. 79, a. 3,
corp: "Oportebat igitur ponere aliquam virtutem ex parte intellectus, quae
faceret intelligentia in actu, per abstractionem specierum a conditionibus
materialibus. Et haec est necessitas ponendi intellectum agentem Cf. ST. I, q.
84, a. 4, ad 3
K. Rahner, L'Esprit dans le monde p.
150
K. Rahner, L'homme à l'écoute..., p.
111. 113
[100] K. Rahner, L'Esprit dans le
monde, p. 205
S. Thomae, De Anime, a. 5, corp;
In IV Met., lect.6, n.599
[101] K. Rahner, L'Esprit dans le
monde, p. 80
K. Rahner, L’homme à l’écoute du Verbe,
p. 85
trích dẫn S. Thomae, Contra
Gent., II, 98
[102] K. Rahner, L'Esprit dans le
monde, p. 94:
Connaitre n’est pas une actio
(production d’un acte d’appréhension) mais un actus, cest-à-dire une réalité
qui est-auprès-d’elle-même"
(De Verit., q. 8, a. 6, corp. và S.T.,
I, q. 18, a. 3, ad 1)
[103] K. Rahner, L'Esprit dans le
monde, p. 94:
"Connaitre, c’est être-auprès-de-soi,
c’est l’état de réflexion sur lui-même d’un être doué d’une puissance d’être
déterminée.”
[104] K. Rahner, L’homme à l’écoute du
Verbe, p. 87
Từ ngữ "thể
tri" ở đây được dùng để dịch
chữ Erkennen tiếng Đức của K. Rahner. Nếu
đọc bản dịch tiếng Pháp, dịch giả
bản tiếng Pháp lại dùng từ "Connaissance.”
Một vài từ ngữ
được dùng ở đây:
tri
thức: connaissance,
connaitre
thể
tri: connaitre,
erkennen
tri
thể: connaissant,
sujet qui connait, cognoscens
cái được biết,
thụ tri
thể: cognitum,
intellectum
khả tri
thể: cognoscibile,
intelligibile (tĩnh từ dùng như danh từ).
[105] étant connaissant. Chủ tri:
sujet qui connait.
[106] reditio subjecti in seipsum.
Bei-sich-sein.
[107] Cognoscens in actu et cognitum in
actu sunt idem.
Cf. F-J. Thonnard, Précis dhistoire...,
p. 108
[108] S. Thomae, S.T. I, q. 87, a.1, ad
3: "Idem est intellectus et quod intelligitur,” trích bởi K. Rahner,
L'Esprit dans le monde, p. 81
[109] S. Thomae, Contr. Gent. II, 98:
"Intellectum est perfectio intelligentis;”
II, 99: "Intellectus in actu
perfectio est intellectum in actu"
trích bởi K. Rahner, L' Esprit
dans le monde, p.81. 85-86
[110] K. Rahner, L' Esprit dans le
monde, p. 82
Op. cit., p. 80:
"Intelligibile enim et intellectum
oportet proportiona esse et unius generis (d’une seule origine), cum
intellectus et intelligibile in actu sint unum" (Car autrement l’unité
effective de l'être et du connaitre dans la connaissance en acte ne pourrait
être rendue intelligible dans sa possibilité).
Khả tri thể và lư trí
phải tương xứng và cùng một loại; lư trí và
thụ tri thể là một trong hiển thể. "Idem
intellectus et intellectum et intelligere" (p. 80).
"Ens est intelligibile et
intelligens, in quantum est ens actu"
trong In II Met., livre I, n. 280
được trích bởi K.
Rahner, L'homme à l'écoute du Verbe, p. 86
Tính khả tri là khả
năng hiện diện với ḿnh, v́ thế tính khả tri
có nhiều mức độ khác nhau (la cognoscibilité est
pouvoir-être-auqrès-de-soi...) (Esprit dans le monde, p. 84).
Mức độ chủ
thể tính cho thấy một hiện thể sở hữu
hữu thể ở mức độ nào (Rahner, L'Esprit...,
p. 83: le degré de cette "subjectivité" indiquent inversement quelle
mesure de puissance d'être possède un étant).
Tri thể và thụ tri
thể đều là hữu thể. Khả tri tính
tương ứng với chủ thể tính. Tri thể và
thụ tri thể là một trong hiển thể, bởi v́
cả hai là hữu thể, và bởi v́ cả hai
đều là hữu thể trở về chính ḿnh của
hiện thể.
[111] K. Rahner, L'Esprit dans le
monde, p. 139. 91-92
[112] "Lư trí chúng ta trong t́nh
trạng hiện tại, t́nh trạng liên kết với
thân xác, không thể biết ǵ (ở hiển thể)
nếu không trở về với ảnh tượng.”
C̣n với với tác phẩm
của Aristote được thánh Thomas chú giải:
ARISTOTE, De Anima, Lib. III, lect.
XII, c. VII: "... propter quod numquam sine phantasmate intelligit
anima" (Lư trí (linh hồn) không biết ǵ nếu không
nhờ ảnh tượng) trong S. Thomae, In Arist. Libr. De Anima
Comm., nn. 772. 791. 854
[113] S. Thomae, In Arist. Libr. De
Anima Comm., n. 767:
Intellectus proprium est facere
affirmationem vel negationem.
[114] Op. cit., p. 793:
Intellectus solius est cognoscere verum
et falsum.
[115] Ở đây chúng ta không
đứng trên quan điểm Kinh Thánh; nhưng ngay cả
với Kinh Thánh, ư định cứu độ của Ngài
cũng không đồng nhất với sự thánh thiện
và tốt lành của Ngài. Nói một cách nôm na: Thiên Chúa
tốt lành và thánh thiện, nhưng không phải v́ vậy
mà Ngài buộc phải cứu độ con người.
Cf. K. Rahner, art.
"Salvation" p. 406
[116] Chẳng hạn
để diễn tả t́nh yêu giữa hai người
với nhau, họ có thể dùng nhiều cách khác nhau, và không
buộc phải theo một công thức cố định
nào!
[117] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, p. 201:
Dieu peut révéler uniquement ce que
lhomme peut entendre... Mais ladite proposition devient fausse si l’on la
modifie en disant...
[118] nghĩa là nếu Thiên
Chúa không muốn thay đổi cơ cấu con
người.
[119] M. A. Bailly, Abrégé du
Dictionnaire Grec-Franais, từ ngữ Logos
[120] E. F. Leopold, Lexicon Hebraicum
et Chaldaicum, từ ngữ DABAR
[121] J. L. McKenzie, Dictionary of the
Bible, art. "Word":
"The dynamic reality of the Word
is accompanied by its dianoetic reality (O. Procksch). Hb uses "word"
where we use "thing" or "deed.” The word as name gives the thing
intelligibility; but the thing does not acquire full reality until it gets a
name and becomes intelligible. In conferring the name the person exercises his
dynamism by which he makes the thing real; in knowing the name the person
exercises his dynamism in the reverse direction and "apprehends" the
word-thing.” (page 938).
[122] Như vậy, giả
như Thiên Chúa mặc khải trong giấc mộng, th́
những ảnh tượng (phantasma) hiện diện
nơi lư trí trong giấc mơ vẫn có thể được
coi như lời.
Hiểu theo nghĩa rộng
hơn, lư trí chính là lời. Nếu Thiên Chúa mặc khải
ǵ cho con người, th́ mặc khải cho con người
qua lư trí. (Câu khẳng định này là thừa, nhưng nó
giúp hiểu rơ khẳng định: Thiên Chúa mặc khải
cho con người qua lư trí).
Theo K. Rahner, lời thích
hợp để hiểu thực tại siêu thế
giới, v́ lời có khả năng phủ định.
Lời có thể phủ định những ǵ
được xác định nơi thực tại
trần thế để vươn lên thực tại siêu
việt.
Cf. K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, p. 270
[123] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, pp. 200-201
[124] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, p. 266
[125] K. Rahner, L'homme à l'écoute...,
p. 203
Theo M.A. Bailly, op. cit., từ
ngữ HISTORIA:
Lịch sử là điều
con người t́m hiểu và khám phá rồi kể lại.
Như vậy, nếu con người chỉ nh́n biến
cố như những ǵ t́nh cờ chứ không do một lư
trí hay một hành vi của hiện hữu tự do (cố
ư) thực hiện, th́ biến cố đó đâu có ư
nghĩa ǵ.
Với người Do Thái,
biến cố lụt hồng thủy có nghĩa v́ nó
được nh́n như hành động của hiện
hữu tự do là Thiên Chúa.
Trong Linh Thao số 102. 111,
thánh Inhaxiô gọi là lịch sử những ǵ đức
tin cho biết về những quyết định của
Thiên Chúa.
[126] v́ là hành động
của hiện hữu tự do.
[127] Lịch sử dân Do thái
thực sự đă là lời để dân Do Thái nhận
biết Thiên Chúa và ư định của Ngài trên dân. Các tiên
tri là những người đă đọc được
các lời này một cách rơ nét và đă loan báo lại cho dân.
Những biến cố
lịch sử nhân loại, do con người là những
hữu thể tự do thực hiện, đă trở thành
lịch sử mang tính thần linh, là lời thần linh
giúp con người nhận biết Thiên Chúa.
[128] K. Rahner, L'homme à l'écoute du
Verbe, pp. 220. 88. 94. 97. 99
[129] K. Rahner, L'homme à l'écoute...,
pp. 220-221
S. Thomae Aq., In Arist. Libr. De Anima
commentarium, n. 377: "Cognitio autem omnis fit per hoc, quod coggnitum
est aliquo modo in cognoscente, scilicet secundum similitudinem": tri
thức là có cái ǵ tương tự cái được
biết nơi chủ tri.
[130] K. Rahner., op. cit., pp.
104-105. 225
khả năng phản
tỉnh, biết ḿnh và siêu vượt.
[131] K. Rahner, op. cit., p. 208
K. Rahner, L'Esprit dans le monde, p.
139
[132] Về lư trí tự do,
đức Phật và S. Freud đă nói về trường
hợp lư trí bị hủ hóa bởi tư lợi. Xem thêm:
Phạm Thanh Liêm, Dẫn Nhập Thần Học, Đà Lạt:
lhnb,1990, trg. 25
[133] K. Rahner, L'homme à l'écoute...,
pp. 124-125. 79
[134] K. Rahner, L' Esprit dans le
monde, p. 291 trích dẫn
De Verit., q. 10, a. 8, ad 4:
"Non tamen materiae subditur, ut
materialis reddatur.”
De Verit., q. 19, a. l corp.:
"Hoc lumen (intellectuale) non est
corpori obligatum"
[135] K. Rahner, op. cit., pp. 286.
290. 191
[136] hiện hữu này có
thể là hiện hữu bất tất đối với
hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
[137] Thiên Chúa
[138] ư chí đi theo lư trí
(voluntas sequitur intellectum).
[139] St. Thomae Aquinatis in
Aristotelis Librum De Anima Commentarium, Marietti 1959, n. 288:
"Quod quidem dividitur in tria:
scilicet desiderium, quod est secundum vim concupiscibilem; et iram, quae est
secudum vim irascibilem: qui duo appetitus pertinent ad partem sensitivam:
sequuntur enim apprehensionem sensus. Tertium autem est voluntas, quod est
appetitus intellectivus, consequens scilicet apprehensionem intellectus"
(Lib. II, lect. V, c. III).
[140] Op.cit., n. 286:
Appetitus naturalis est inclinatio
sequens formam naturalem; Appetitus sensibilis est inclinatio quaedam quae
sequitur ad formam sensibilem; Appetitus intelligibilis est inclinatio quae
sequitur ad formam intelligibilem.
[141] F-J. Thonnard, Précis d’histoire
..., p. 116
[142] K. Rahner, L’homme à l’écoute du
Verbe, p. 156
[143] K. Rahner, L’homme à l’écoute du
Verbe, pp. 155-156
[144] người ta đă
lấy khả năng tri thức làm chuẩn đánh giá
mức độ hữu thể này.
[145] K. Rahner, L' homme à l'écoute Du
Verbe, p. 176: 'L'amour est la volonté lumineuse qui veut la personne dans son
unicité irréductible'.
[146] Chẳng hạn con
người thấy ḿnh có thể ăn hay không ăn,
ăn lúc này hay lúc khác, và thậm chí có thể tuyệt
thực quyên sinh để bảo vệ hoặc cảnh
cáo hay phản đối điều ǵ đó.
[147] Thiên Chúa đă mặc
khải, điều này được nhận biết khi
tra vấn lịch sử. Điều này sẽ được
làm trong phần mặc khải theo Kinh Thánh.
[148] Sách Sáng Thế
được san định lần cuối vào khoảng
năm 400 trước công nguyên; nhưng con người
đă xuất hiện trên trái đất khoảng hơn
một triệu năm rồi, c̣n Abraham mới chỉ cách
chúng ta đây chưa đầy bốn ngàn năm (Abraham
xuất hiện khoảng 1850 năm trước công nguyên).
[149] Con người
được đặt tên cho muôn vật (St 2:19-20).
[150] Truyền thống
của miền nam, tức Giuđa.
[151] Thiên Chúa đă cho con
người sự sống của Ngài (St 2:7. 9. 16).
[152] v́ Sara son sẻ không con
(St 11:30)
[153] Abram là tên của Abraham
trước khi Thiên Chúa đổi tên cho ông (St 17:5).
[154] Dựa theo Sáng Thế
chương 16:16: "Abram sống được 86
tuổi, khi Hagar sinh ra Ismael cho Abram.” Và dựa vào St 16:3:
"Măn 10 năm Abram lập cư ở đất Canaan,
Saray, vợ của Abram đă đem Hagar, thị tỳ
của bà, mà dâng nàng làm thiếp cho Abram chồng bà. Ông
đă ăn ở với Hagar, và nàng đă có thai. Năm 99
tuổi, Abram đă cắt b́ để thực thi
điều kiện giao ước của Yahweh, và Ismael
đă 13 tuổi (St 17:24.25). Như vậy, dựa vào sách
Sáng Thế, Abram đến định cư ở Canaan khi
ông được khoảng 76 tuổi.
[155] Thiên Chúa đến
với Abimêlek trong mộng ban đêm (St 20:3). Trước
đó, Thiên Chúa hiện ra với Hagar, nữ tỳ của
Sara, để mách bảo những điều Hagar phải
làm (St 16:7-13). Thiên Chúa phán gọi Hagar khi Sara đuổi
Hagar ra khỏi nhà (St 21:17-19).
[156] El-Roy có nghĩa là Thiên
Chúa của thị kiến.
[157] Xem chú thích trong bản
dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, nxb. D̉NG CHÚA
CỨU THẾ - SG. 1976, chú thích St 16:7.
[158] Về các nổi khổ
đau của dân con Israel, xem thêm Xh 1; 2:23-25; 3:9
[159] Như thấy trong
những tŕnh thuật tiếp theo, dân con Israel liên tục
bất tuân lệnh Chúa và luôn càm ràm than trách Yahweh.
[160] Có lần Thiên Chúa nổi
nóng với Môsê (Xh 4:14); và nhiều lần Môsê t́m cách thoái
thác sứ mạng (Xh 3:11; 4:1.10; 4:13; 5:22tt)
[161] Yahweh phán với Môsê: Khi
ngươi trẩy đi để về Ai cập,
ngươi hăy nh́n tỏ là các điềm thiêng Ta sẽ
đặt tay ngươi th́ ngươi sẽ làm trước
mặt Pharaô.
[162] Nhưng Ta sẽ làm cho nó
cứng ḷng và nó sẽ không buông thả dân đâu. Bấy
giờ ngươi sẽ nói với Pharaô "Yahweh phán
rằng: con đầu ḷng của Ta là Israel nên Ta đă nói
với ngươi: Hăy buông thả cho con Ta đi để
nó phụng thờ Ta! Nhưng ngươi đă
khước từ không chịu thả ra, th́ này phần Ta,
Ta sẽ giết chết con đầu ḷng của
ngươi" (Xh 4:19.21-23).
[163] Cái chết thể xác
của các con đầu ḷng người Ai Cập có
thể là điều gây cái tốt nơi Pharaô và con dân Ai
cập: v́ họ có thể nhận ra Yahweh và thống
hối, quay trở về với Người, không c̣n
bất tuân lệnh Người nữa. Trong cái nh́n của
chúng ta, cái chết thể xác không là điều ác tuyệt
đối khi nó giúp chúng ta trở về với Chúa,
được sống đời đời trong
tương lai.
[164] J. E. McKenzie, art.
"Aspects of Old Testament Thought,” trong Jerome Biblical Commentary, p.
749
[165] McKenzie, art. cit., p. 750
[166] Nơi Israel cũng có
những bộ sưu tập luật, chẳng hạn,
tập luật trong sách giao ước (Xh 20:22- 23:19), sách
luật (Đnl 12-26), bộ luật thánh (Lv 17-26).
[167] McKenzie, art. cit., p. 751
[168] Yêu thương là hành vi
tự do và nhưng không.
[169] R. Latourelle, Théologie de la
Révélation, p. 28
trích dẫn J. Pederson, Israel:
life and culture, London 1946, p. 107
[170] R. Latourelle, Théologie de la
Révélation, p. 388
[171] H. Fries, Art. "La
Révélation,” p. 262 trích dẫn E. Brunner, Offenbarung und Vernunft, p.
103
[172] R. Latourelle, op. cit., p. 18
[173] không chủ yếu cho
người thời tương lai, dù rằng có thể
giúp cho người thời tương lai.
[174] H. Fries, art. cit., p. 262
[175] J. L. McKenzie, art. cit., p. 750
[176] Ibidem
[177] Ibidem
[178] H. Cazelles, Introduction à la
Bible, p. 359
[179] H. Fries, art. cit., p. 225;
trích dẫn F. Stier, Die Geschichte Gottes mit den Menschen, Duesseldorf
1962, pp. 40tt
[180] thần ngoại, hebel.
[181] trong giao ước, vua
được dân công nhận.
[182] J. L. McKenzie, art. cit., p. 749
[183] Trong Kinh Thánh, chúng ta
thấy nhắc đến khôn ngoan của Ai cập (Is
19:3-15; Kn 17:7), khôn ngoan của Babylon (Is 47:10-13; Gr 10:7; 50:35),
khôn ngoan của Ả rập (1V 5:10; Gr 49:7; Br 3:22); nhưng
khôn ngoan của Salomon vượt trên các khôn ngoan của Ai
cập và phương đông (1V 5:10) và trên các khôn ngoan
của người bản xứ Canaan, tức là của
Etan và Hêman (Tv 88-89).
[184] R. Latourelle, Théologie de la
Révélation, p. 26 trích dẫn R. W. Robinson, Inspiration and Revelation in
the Old Testament, p. 235-237
[185] Nơi các dân tộc lân
cận, có những trung tâm để dạy khôn ngoan và khoa
học như ở Mari, Ugarit, Ai cập, và Lưỡng Hà Địa.
Những địa danh vừa kể là những trung tâm
văn hóa.
[186] v́ niềm tin mà bị
giết.
[187] bây giờ chúng ta gọi
là ngày Chúa Nhật.
[188] Massiah, Christos, Đức
Kitô, đấng được xức dầu.
[189] Chúng ta cũng
được gọi là con Thiên Chúa, nhưng là con v́ chúng ta
được nhận; con Thiên Chúa như người ta
hiểu Đức Giêsu trước biến cố phục
sinh, cũng là con thừa nhận, không phải là con
đồng bản tính như các tông đồ biết sau
biến cố tử nạn và phục sinh.
[190] Gioan tiền hô sai môn
đệ đến thỉnh vấn; Đức Giêsu cho ḿnh
vượt trên các tiên tri như người con vượt
trên các đầy tớ (Mc 12:1-12).
[191] chữ Do Thái đă
được viết bằng mẫu tự latinh.
[192] Đấng thiên sai, Đấng
được xức dầu.
[193] như thấy trong Rm 9:5;
Ga 1:1. 18; 20:28; 1Ga.5:20; Tit. 2:13
[194] ơn gọi Abraham.
[195] Rm 10:9: "nếu
ngươi tuyên xưng ngoài miệng Giêsu là Chúa, và nếu
ḷng ngươi tin rằng Thiên Chúa đă phục sinh Ngài
từ cơi chết, ngươi sẽ được
cứu.”
[196] Rm 7:24: vô phúc thay con
người tôi! Ai cứu tôi khỏi cái xác chết này?
đội ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta.
[197] Rm 1:3.9; 5:10; 8:29; 1Cr 1:9;
15:28; 2Cr 1:19; Gl 1:16; 2:20; 4:4. 6; Ep 4:13; 1Tx 1:10
[198] Is 40:13
[199] Chúa chỉ Yahweh theo
bản dịch LXX.
[200] Điều này chúng ta
thấy nơi đầu thư và kết thư của
thánh Phaolô (Rm 15:6; 2Cr 1:3; 2 Cr 11:31; Ep 1:3; Cl 1:3) Đức Giêsu là
Con của Ngài (Rm 1:3.4.9; 5:10; 8:3.29.32; 1Cr 1:9; 15:28; 2Cr 1:19; Gl
1:16; 2:20; 4:4.6; Ep 4:13; Cl 1:13; 1Tx 1:10).
[201] Rm 4:24; 7:4; 8:11; 10:9; 1Cr
6:14; 15:15; 2Cr 4:14; Gl 1:1; Ep 1:20; 2:6; Cl 2:12; 1Tx.1:10
[202] Rm 8:11: nếu Thần Khí
của Đấng đă phục sinh Đức Giêsu từ trong
kẻ chết ngự trong anh em, Đấng đă phục sinh
Đức Kitô từ trong kẻ chết, cũng sẽ ban
sự sống cho thân xác hay chết của chúng ta.
1Cr 6:14: Thiên Chúa, Đấng
đă phục sinh Chúa, cũng sẽ phục sinh chúng ta
nữa bởi quyền năng của Người.
[203] Trong thư Roma
chương 8, Phaolô dùng lẫn lộn Thần Khí của
Thiên Chúa, Thần Khí của Đức Giêsu, và Thần Khí.
[204] Kitô, CristoV, Massiah, Đấng được
xức dầu.
[205] Các công việc ta làm làm
chứng cho ta rằng Cha đă sai Ta (x. Ga 6:57; 7:29).
"Như Cha đă sai Con
đến trong thế gian, cũng vậy, Con cũng sai
chúng (Ga 17:18.21.23.25; 20:21).
[206] Ga 14:17.26; 15:26
[207] "bấy giờ
nếu có ai bảo các ngươi: này Đức Kitô ở
đây, hay, Ngài đó ḱa; th́ các ngươi đừng tin!
Sẽ có những Kitô giả ...! và bấy giờ
người ta sẽ thấy Con Người đến
trong mây với uy quyền cao cả và vinh quang..." (Mc
13:21-22.26).
[208] "Và các ông sẽ
thấy Con Người ngự bên hữu quyền năng
và đến với mây trời" (Mc 14:62; Mt 26:64).
[209] Những người
không tin sự sống lại.
[210] R. Latourelle, op. cit., p. 88
[211] C. Bihlmeyer, Histoire de
l’Église, p. 229
[212] P. Stockmeier, "Révélation
dans l’Église chrétienne primitive," pp. 74-76
[213] C. Bihlmeyer, op. cit., pp.
233-234
[214] Platon, Timée, 28C
[215] P. Stockmeier, art. cit., pp.
82-87
[216] C. Bihlmeyer, op. cit., pp.
239-340
[217] Adversus Haer. III, 9,1:
"Unus igitur idem Deus est, Pater
Domini Nostri, qui et praecursorem per prophetas missurum se promisit: et
salutare suum, id est Verbum suum, visibile efficit.
[218] Cf. Ad. Haer. IV. 6,4: sine Deo
non cognosci Deum... Cognoscunt enim eum quibuscumque revelaverit Filius.
[219] Ad. Haer. IV, 20,7: Verbum...
hominibus per multas dispositiones ostendum Deum.
[220] Ad. Haer. II, 23,1: Dominum
tantae dispositionis recapitulationem facientem.
[221] Adversus Haer. III, 1,1:
"Non enim per alios dispositionem
salutis nostrae cognovimus, quam per eos per quos Evangelium pervenit ad nos.
[222] "Lời một khi
đă làm người, đă ban cho chúng ta Tin Mừng
dưới bốn h́nh thức" (Ad. Haer. III, 2,8).
[223] Adversus Haer. III, 2,1:
"... non enim per litteras
traditam illam, sed per vivam vocem.”
[224] Ad. Haer. II, 30,9: Hic Deus
Abraham, et Deus Isaac, et Deus Yacob, Deus vivorum, quem et lex annuntiat,
quem Apostoli tradunt, quem Ecclesia credit. Cf. Ad. Haer. III, 3,1.
[225] P. Stockmeier, art. cit., pp.
93-104
Tất cả phần về
thánh Iréné được tóm từ đây.
[226] Tất cả phần
về thánh Clément dAlexandrie được tóm từ
P. Stockmeier, art. cit., pp. 112-119
[227] P. Stockmeier, art. cit., p. 114
[228] Ibidem
[229] P. Stockmeier, art. cit., p. 115
"Lời, Đấng tỏ
lộ Cha như Cha, đă trở nên "thân xác" với
ngũ quan" (Stromata V, 24,1).
[230] Phần lớn những
điều nói về Origène ở đây, được tóm
từ
P. Stockmeier, art. cit., pp. 119-125
[231] C. Bihlmeyer, op. cit., pp.
245-249
[232] R. GOEGLER, Das Evangelium nach
Johannes
được trích dẫn
bởi P. Stockmeier, art. cit., p. 122
[233] F. Cayré, Précis de Patrologie,
t.I, l. I-II, p. 601 trích dẫn Augustinus, Confess., l. III, c. IV, 7
[234] Ibidem
[235] F. Cayré, op. cit., p. 602
[236] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, p. 204
[237] F. Cayré, op. cit., p. 604
[238] R. Jolivet, Dieu Soleil des
esprits, pp. 44-45
[239] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, p. 204
[240] R. Jolivet, Dieu Soleil des
esprits, pp. 44-45 trích dẫn
Aug., Contra Academicos, III, c. VI, n.
13, t.I, col. 467a
Aug., De vita beata, c. IV, n. 35, t.I,
col. 519b
Aug., Soliloques, I, c. I, n. 3, col.
599c
Aug., De Magistro, c. XI, n. 38, t. I,
col. 916a
[241] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, p. 202:
"Donc la raison ne peut qu’un rôle
préparatoire et secondaire..."
[242] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, p. 200
[243] R. Jolivet, Dieu Soleil des
esprits, pp. 26-27
và những trích dẫn tác
phẩm của thánh Augustinus.
[244] Op. cit., pp. 33-34. 58-59
[245] Op. cit., p. 189
[246] Op. cit., pp. 149. 189
[247] Op. cit., p. 156 trích dẫn
Aug., In Joan. Evang. Tract. XV, n. 19,
t. III, col. 1858b
[248] R. Jolivet, Dieu Soleil des
esprits, p. 80
[249] Op. cit., pp. 189-190
[250] F. Cayré, op. cit., p. 602
[251] Bonnaventura sinh vào
khoảng năm 1221, Ngài đă nhập ḍng Phanxicô và đă là
bề trên cả của ḍng này. Ngài chết cùng năm
với thánh Thomas d’Aquino ḍng Đa-Minh, tức năm 1274.
[252] U. Horst, "La conception de
la révélation dans la haute scolastique,” p. 216
[253] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, pp. 392-393
[254] Op. cit., p. 390
[255] U. Horst, art. cit., p. 217
[256] Ibidem
[257] "Haec similitudo est ratio
expressiva cognoscendi.”
[258] "lux expressiva in
cognitione intellectuali.”
[259] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, p. 393
trích dẫn I Sent., dist. 35, q.
1, fund. 2
và I Sent., a. 1, q. IV, concl.
Chính nhờ lư thuyết
về các ư niệm này, mà Bonnaventura bắc một cây
cầu giữa hữu hạn và vô hạn (Ulrich Horst, art.
cit., p. 216-217).
[260] F-J. Thonnard, Précis d'histoire
de la Philosophie, pp. 400-401
[261] Quoniam enim omnis creatura
comparatur ad Deum et in ratione causae et in ratione triplicis causae, ideo
omnis creatura est umbra vel vestigium. Sed quoniam sola rationalis creatura
comparatur ad Deum ut objectum, quia sola est capax Dei per cognitionem et
amorem: ideo sola est imago.
(I Sent., d.3, p.1, a. un, q. 2, ad 4
(I, 72b-73b)
cf. Ulrich Horst, art. cit., p. 217
[262] Ulrich Horst, art. cit., p. 218
trích dẫn Quaestio disp. de
scientia Christi, q. 4 (V, 24a) ở ghi chú 10.
[263] Op. cit., p. 219, ghi chú 14
[264] Sermo sel. de reb. theol. IV, n.
1: Unus est magister vester ... In verbo isto declaratur, quod est fontale
principium illuminationis cognoscitivae... ipse est, qui est origo omnis
sapientiae... Ipse Christus est autem fons omnis cognitionis rectae. Ipse est
via, veritas et vita ... (Ulrich Horst, art. cit., p. 222).
[265] Op. cit., n.5: Ipse enim est
fundamentum totius doctrinae authenticae, sive apostolicae sive propheticae,
secundum utramque Legem, novam et veteram.
[266] Sermo de Tem. Fer.VI in Parasc.,
s.II, II:
Si volumus spiritualia contemplari,
oportet tollere crucem ut librum, quo erudiamur ... Liber sapientiae est
Christus, qui scriptus est intus apud Patrem, cum sit ars omnipotentis Dei; et
foris, quando carnem assumit. Iste non est apertus nisi in cruce; istum librum
debemus tollere, ut intelligamus arcana sapientiae Dei.
[267] I Sent., d. 11, a. un., q.1, ad
5:
Si verba (in Scriptura) non
reperiantur, reperitur tamen sensus.
[268] I Sent., d. 27, p. 1, a. un., q.
4:
Nam quaedam sunt de necessitate fidei,
quaedam de necessitate Scripturae, quaedam sunt his annexa, ut sunt illa quae
faciunt ad fidei explicationem et Scripturae expositionem.
[269] III Sent., d. 25, a. 1, q. 1:
Nullum tamen est credibile a fide, quod
non possit reduci ad articulos in symbolo contentos sicut ad principia
dirigentia et stabilia fundamenta.
cf. Ulrich Horst, art. cit., p. 225.
[270] Phần lớn những
ǵ viết trong phần về mặc khải theo thanh
Bonaventura được lấy từ Ulrich Horst, art. cit.,
pp. 215-226
[271] F. Cayré, op. cit., pp. 526-536
F-J. Thonnard, Précis d'histoire de la
Philosophie, pp. 321ss
[272] F. Cayré, op. cit., pp. 568-569
[273] II Contr. Gent., c. XCVIII:
"Quidquid esse potest, intelligi potest.”
Cf. F-J. Thonnard, Précis d'histoire de
la Philosophie, p. 361: "tout est intelligible par lêtre.”
[274] F. Cayré, op. cit., p. 574
trích dẫn S.T. I, q. 85, a. 2,
note a của nxb. Marietti 1952, p. 584.
Vài từ ngữ
được dịch:
phantasma: ảnh
tượng
species
intelligibilis: ảnh niệm
idea: ư
niệm
[275] tức trật tự
tự nhiên, khác với trật tự đặc biệt là
trật tự siêu nhiên.
[276] Từ đây trở
đi, về thánh Thomas, hầu hết được
lấy trong
Ulrich Horst, art. cit., pp. 228 ss.
[277] ST. I, q.1, a.1: Homo ordinatur
ad Deum sicut ad quemdam finem.
Cf. ScG. I, c. 1, n. 4.
[278] Và con người chỉ
đạt được sự hưởng kiến này
nếu con người tin vào Thiên Chúa như người
học tṛ tin vào thầy dạy.
[279] Ulrich Horst, art. cit., p. 238
[280] nơi tiên tri, hai
điều này là chủ yếu.
[281] Sup. Jo., c.VII, lect.4, n. 1074:
cum enim Christi humanitas sit nobis via tendendi in Deum... non debemus in ea
quiescere ut in termino, sed per eam debemus in Deum tendere.
[282] ST. III, 53,1: "... ad
commendationem divinae iustitiae, ad fidei nostrae instructionem, ad
sublevationem spei, ad informationem vitae fidelium, ad complementum nostrae
salutis.”
[283] In Rom., c. 8, lect. 6, n. 707:
Vocatio hominum, quae quidem est duplex, una exterior, quae fit ore
praedicatioris... Alia vero vocatio est interior quae nihil est quam mentis
instinctus, quo cor hominis movetur a Deo ad assentiendum his quae sunt fidei
vel virtutis.
[284] S.T.I, 1,8, ad 2
[285] ST. II-II, 5,3: Formale autem
objectum fidei est veritas prima secundum quod manifestatur in Scripturis
sacris et doctrina Ecclesiae.
[286] Cf. Ibidem: Unde quicumque non
inhaeret, sicut infallibili et divinae regulae, doctrinae Ecclesiae, quae
procedit ex veritate prima in Scripturis sacris manifestata, ille non habet
habitum fidei.
[287] ST. II-II, 1,9: Ecclesia
universalis non potest errare quia a Spiritu Sancto gubernatur, qui est
Spiritus veritatis.
[288] ST. II-II, 1,10: Et ideo ad solam
auctoritatem summi Pontificis pertinet nova editio symboli: sicut et omnia alia
quae pertinent ad totam Ecclesiam, ut congregare synodum generalem et alia
huiusmodi.
[289] Martin Luther sinh khoảng
năm 1483 trong một gia đ́nh nông dân tại Eisleben ở
Đức. Năm 1501 ông vào đại học Erfurt. Năm 1505
ông vào tu viện thánh Augustin ở Erfurt, và năm 1507 lănh tác
vụ linh mục. Năm 1508 ông đến Wittenberg
để học triết lư luân lư, và sau đó học Kinh
Thánh. Từ năm 1513 trở đi, ông nghiên cứu
nhiều về Kinh Thánh. Martin Luther chết khoảng năm
1546.
[290] C. Bihlmeyer, op. cit., III, pp.
172 tt
[291] J. Calvin, Institutio christianae
religionis, Genenae 1618, L. I, c.5, n.2; c.2, n.1; L.II, c.6, n.1
trích bởi R. Latourelle, op.
cit., pp.271-272
[292] A. Dulles, Revelation theology,
Herder and Herder-London 1969, p. 48
[293] R. Latourelle, Théologie de la
Révelation, DDB. 1966, p. 272
[294] dịch từ chữ
protestant.
[295] tương ứng
với Đức Giêsu, các tông đồ, Hội Thánh.
[296] Đa số phần này
được lấy trong R. Latourelle, op. cit., pp. 273-276
[297] Avery Dulles, op. cit., p. 52
[298] J. Locke, Concerning Human
Understanding, bk.4, ch.19, n.4. New York 1947, p. 340 trích
bởi A. Dulles, op. cit., p.53
[299] A. Dulles, op. cit., pp. 56-57
[300] A. Dulles, op. cit., pp. 58-59
[301] F. D. E. Schleiermacher, On
Religion, New York: Paperback 1958, p. 89
trích bởi A. Dulles, op. cit.,
pp. 63-66
[302] Phần này
được lấy trong A. Dulles, op. cit., pp. 65-66
[303] A. Dulles, op. cit., pp. 66-67
[304] Alfred Loisy (1857-1940) là linh
mục, đă dạy Kinh Thánh tại Institut catholique ở
Paris vào những năm 1884-1893
Georg Tyrrell (1861-1909) vào ḍng Tên
năm 1880, dạy luân lư hai năm tại Stonyhurst,
thường viết trong The Month; bị khai trừ
khỏi Ḍng năm 1906 v́ không từ bỏ duy tân thuyết.
[305] A. Loisy, The Gospel and the
Church, Paris2 1903, pp. 195-197
[306] R. Latourelle, op. cit., p. 302
[307] A. Dulles, op. cit., pp. 84-85
[308] Một phần thông
điệp được trích trong DS. 3475-3580
[309] CONCILIUM FLORENTINUM, Bulla
unionis Coptorum Aethiopumque "Cantate Domino,” 4 Febr. 1442
DS. 1330: "Omnia in Deo sunt unum,
ubi non obviat relationis oppositio.”
[310] Lư trí "tự do,” là lư
trí không dừng lại nơi sự vật, nhưng siêu
vượt vật thể hướng về hiện
hữu tất yếu tuyệt đối.
[311] Xem DS. 73; 172; 415; ...
[312] Khi nói: "T́nh yêu là hành
vi tự do," phải hiểu là: "hành vi biểu
lộ t́nh yêu là hành vi tự do."
[313] Thiều Chửu, Hán
Việt từ điển, Hà Nội 1942
Ân: ơn.
Yêu mà giúp đỡ ban cho cái ǵ gọi là ân.
[314] God became man so that man might
become God
(Athanasius and Gregory Nazianzenus).
Cf. Johann Auer, art.
"Grace," II: Theological,
Sacramentum Mundi I, p. 413
[315] H. Cornélis et A. Léonard, La
Gnose éternelle, Paris 1959, p. 7; coll. Je sais-je crois, n. 146
[316] Op. cit., pp. 34 ss
A. Dartigues, La Révelation du sens au
salut, pp. 22 ss
R. Haardt, art. "Gnosticism,"
pp. 379-381
[317] Các triết thuyết
cũng có thể trở thành tôn giáo; lúc đó chân lư theo
triết thuyết trở thành tri thức cứu độ
đối với người tin và theo triết thuyết
đó. Người ta có thể gọi nó là ngộ
đạo triết lư.
Cf. A. Dartigues, op. cit., pp. 25-36
[318] E. F. Léopold, Lexicon Hebraicum
et Chaldaicum, từ "DABAR," p. 75
[319] A. Bailly, Abrégé du dictionnaire
Grec-Francais,
Hachette-Paris 1961, từ ngữ
"logos," p. 538
[320] Ghi chú nơi S. Thomae Summa
theologiae, I, q. 85, a. 2 của nxb. Marietti 1952, p. 584
[321] 1Cr 3:21b-23: V́ mọi
sự đều thuộc về anh em, dù là Phaolô, Apôlô, hay
Kêpha, dù là thế gian, dù là sự sống hay sự chết,
dù là hiện tại hay tương lai, tất cả
đều thuộc về anh em, c̣n anh em thuộc về
Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa.
[322] thấy trong giấc
mộng, như trường hợp thiên thần hiện ra
cho Giuse Mt 1:20
[323] Lời xét như
phương tiện mặc khải ở đây,
được hiểu một cách tối thiểu như
các ư niệm.
[324] Inhaxiô, Linh Thao, Nhà Tập
Ḍng Tên 1969, số 230
[325] như chữa lành
nhiều bệnh nhân, cho người què đi
được, kẻ câm nói được, người
mù được thấy, người chết sống
lại, hóa bánh ra nhiều, đi trên biển, quát biển im
lặng, v.v.,
[326] xem thêm Ga 10:17-18 và Mt 26:28.
[327] Ga 14:26: "Nhưng
Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai
đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi
mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ
lại mọi điều Ta đă nói với các
ngươi.”
Ga 16:13-15: "...V́ không
phải tự ḿnh mà Ngài nói, nhưng nghe ǵ Ngài sẽ nói ra,
và Ngài sẽ loan báo cho các ngươi những điều
sẽ đến... Ngài sẽ lấy của Ta mà thông báo
cho các ngươi..."
[328] Lời hứa của
Thiên Chúa cho Abraham: "Hăy đi khỏi xứ sở
ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà cha
ngươi, đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.
Ta sẽ cho ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc
lành cho ngươi, và Ta sẽ cho danh ngươi nên lớn
lao, ngươi sẽ là một mối chúc lành..." (St
12:1-2).
"Ta sẽ ban xứ này cho
ḍng giống ngươi" (St 12:7).
"Hăy ngước mắt
lên và từ chỗ ngươi đứng, hăy nh́n tứ
phía Bắc Nam Đông Đoài. V́ toàn xứ ngươi thấy
đó, Ta sẽ ban cho ngươi và ḍng giống ngươi
cho đến vạn đại..." (St 13:14-15).
"Ta sẽ cho ḍng giống
ngươi đông như bụi đất, khiến cho ai
đếm được bụi đất, th́ cũng
tính sổ được ḍng giống ngươi" (St
13:16).
"Lạy Yavê, Ngài ban ǵ cho
tôi khi tôi vô hậu... Hăy nh́n lên trời và hăy đếm các
tinh sao, nếu ngươi có tài đếm được
chúng... " (St 15:2-5).
[329] Khao khát sống lâu
được coi như khao khát chính đáng. Sống lâu
được coi như dấu chỉ Thiên Chúa chúc lành cho
người đó.
Xh 20:12: "Hăy trọng kính
cha mẹ, ngơ hầu ngày đời ngươi
được kéo dài trên thửa đất..." Cf.
Đnl 4:40; 5:33; 6:2; ...
[330] Bánh hằng sống
bởi trời xuống, chính là Ta! Ai ăn bánh này, th́
sẽ được sống đời đời. Và bánh
Ta sẽ ban, ấy là thịt ḿnh Ta v́ sự sống
thế gian.
[331] Kinh Thánh nói Abraham giàu có
(St 13:2) hoặc ông Gióp có nhiều của cải (G 42:10-17),
th́ được hiểu trong ư nghĩa này.
[332] Đây cũng là lư do tại
sao có những người xả thân sống đời
dâng hiến, họ từ chối lập gia đ́nh, và không
t́m kiếm hoặc thu tích của cải.
[333] Công Đồng Vatican II trong
hiến chế Dei Verbum số 4, dạy:
"Vậy nhiệm cục
Kitô giáo, v́ là giao ước mới và vĩnh viễn,
sẽ không bao giờ mai một. Chúng ta không phải chờ
đợi một mặc khải công cộng nào khác
nữa trước khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta hiện
đến trong vinh quang."
Cha F. Gomez giải thích: "V́
Chúa Kitô là sự viên măn và như vậy hoàn tất mặc
khải, nên không c̣n ǵ vượt trên sự viên măn nữa.
Nhưng cuộc mặc khải c̣n chờ sự vinh quang
vào ngày Quang Lâm."
Xem trong THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG
VATICANÔ II, bản dịch của GGHV-DALAT VIETNAM 1972, p. 571,
ghi chú 13
[334] Mc 13:32: "Về ngày
ấy hay giờ ấy, th́ chẳng ai biết
được, cả thiên thần trên trời, cả Con
nữa trừ phi là Cha." Cf. 1Tx 5:1-3.
[335] Lời tuyên xưng sau
truyền phép trong thánh lễ theo nghi thức Roma.
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng