HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
MỤC
LỤC.............................................................................. 1
NHỮNG CHỮ
VIẾT TẮT & LƯU
Ý.......................................... 7
LỜI
NGỎ.............................................................................. 9
DẪN NHẬP........................................................... 11
PHẦN I: KHÔNG AI
SỐNG MÀ KHÔNG TIN............ 13
A. NIỀM TIN NỀN
TẢNG CỦA KHOA HỌC........................... 15
1. Niềm tin phủ nhận tri
thức khoa học........................ 17
a. Lập luận của thuyết hoài
nghi.............................. 17
b. Lập luận phản bác thuyết
hoài nghi..................... 18
c. Niềm tin của người
chủ trương thuyết hoài nghi.. 19
2. Niềm tin hàm chứa nơi
người chấp nhận khoa học. 21
a. Thực tại khách quan hiện
hữu.............................. 22
b. Sự vật có tương quan
hữu cơ với nhau................ 23
c. Chân lý và khoa
học.............................................. 23
i. Không phải là chân
lý......................................... 23
ii. Lại gần sự
thật.................................................. 24
iii. Thế nào là tri thức khách
quan........................ 25
iv. Không thuộc lãnh vực khoa
học....................... 27
B. NIỀM TIN NỀN
TẢNG CỦA SIÊU HÌNH........................... 29
1. Niềm tin phủ nhận mọi
tri thức siêu hình................. 30
a. Chủ thuyết bất khả
tri........................................... 30
b. "Bất khả tri" là
niềm tin của một số người........... 30
2. Niềm tin dẫn tới phủ
nhận Thiên Chúa hiện hữu..... 31
a. Niềm tin của người
chủ trương duy vật................ 31
b. Niềm tin của người
chủ trương hư vô.................. 34
3. Niềm tin Có Thực Tại
Tuyệt Ðối Siêu Việt................ 35
C. CHÂN LÝ VÀ SỰ
THẬT................................................... 41
1. Chân lý là thuộc tính của phán
đoán........................ 41
a. Phán đoán là tri
thức............................................. 42
b. Biết do lãnh hội bằng
trực giác............................. 43
2. Tin............................................................................. 44
a. Tôi tin
tôi............................................................... 44
i. Ý
kiến.................................................................. 45
ii. Ý kiến của tôi đúng hay
sai............................... 45
b. Tôi tin
anh............................................................. 46
c. Tin
vào................................................................... 48
3. Sự thực –tiêu chuẩn
để biết đúng sai...................... 48
a. Hiện hữu phi ngã................................................... 49
b. Ngôi
vị................................................................... 49
PHẦN II: TIN THIÊN
CHÚA- HÀNH VI NHÂN LINH 51
A. TIN LÀ SIÊU
VƯỢT........................................................ 53
1. Dấu
chỉ...................................................................... 53
a. Dấu chỉ thông
thường........................................... 53
b. Phép
lạ................................................................... 56
2. Siêu vượt................................................................... 57
B. TIN THIÊN CHÚA-TRI
THỨC SIÊU NHIÊN..................... 64
1. Con người có thể biết
Thiên Chúa với lý trí tự nhiên 65
2. Không có ân sủng, con người
không thể biết Thiên
Chúa 68
3. Lý trí và ân
sủng....................................................... 71
C. TIN- TRI THỨC
TỰ DO.................................................. 82
1. Tin hay không tin, hành vi tự
do.............................. 82
2. Ý chí và ân sủng........................................................ 92
a. Các khuynh chiều nơi con
người........................... 92
b. Ân sủng tác động trên con
người......................... 94
D. TIN- TRI THỨC
CHẮC CHẮN........................................ 101
1. Chắc chắn do con
tim............................................. 102
2. Chắc chắn do uy quyền
tuyệt đối........................... 106
E. TIN- TRI THỨC TÌNH
YÊU........................................... 117
1. Tin là ân sủng.......................................................... 117
2. Ân sủng tác động trên chủ
thể tin.......................... 122
a. Ánh sáng đức
tin................................................. 124
b. Ơn lôi kéo và ước
muốn...................................... 128
c. Thuận lòng........................................................... 131
3. Tri thức tình
yêu...................................................... 136
SỞ HỮU
ĐỨC TIN (HABITUS FIDEI)................................ 142
TÓM KẾT PHẦN
HAI......................................................... 146
PHẦN III: TIN LÀ ÐÁP
TRẢ MẶC KHẢI................ 151
Tuyệt Đối không
được đề cập cách minh nhiên......... 151
Thiên Chúa có nhiều tên
gọi....................................... 155
A. THIÊN CHÚA CAN
THIỆP TRONG DÒNG LỊCH SỬ....... 160
1. Kinh nghiệm dân Do
Thái....................................... 160
a.
Abraham.............................................................. 160
b. Mô-sê với biến cố
Xuất-hành.............................. 161
c. Thẩm phán.......................................................... 161
d. Tiên
tri................................................................. 162
2. Ðức tin của dân Do Thái và cũng
là đức tin của kitô
hữu 162
a. Những người có kinh
nghiệm trực tiếp với Thiên
Chúa 162
i. Tin hàm chứa gặp
gỡ....................................... 162
ii. Tin là phó thác trọn vẹn cho Thiên
Chúa....... 163
b. Những người
được dạy về Thiên Chúa............... 165
i. Tin do nghe
nói................................................ 165
ii. Tin vào con
người............................................ 166
iii. Tin phó thác nơi Thiên
Chúa.......................... 167
B. THIÊN CHÚA NHẬP
THỂ LÀM NGƯỜI.......................... 170
1. Tin do nghe (fides ex
auditu)................................. 171
a. Lời rao
giảng....................................................... 171
b. Ân sủng Thánh
Thần........................................... 172
2. Kinh nghiệm nền tảng của
các lời rao giảng.......... 173
a. Ðức Giêsu Nadarét đã phục
sinh........................ 173
b. Ðức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa................... 175
3. Tin phó thác (credere in- fides
qua)....................... 178
C. THÁNH THẦN
HOẠT ÐỘNG TRONG HỘI THÁNH........ 187
1. Thánh Thần là Thiên
Chúa..................................... 187
a. Nguồn
gốc........................................................... 188
b. Sứ
mạng.............................................................. 188
2. Thánh Thần hoạt động
trong Hội Thánh................ 189
a. Nơi toàn dân dịp lễ Ngũ
Tuần............................. 190
b. Nơi mỗi người trong
cuộc sống........................... 190
i. Lôi kéo giúp con người tin phó thác
nơi Thiên Chúa 191
ii. Thánh hoá con người...................................... 191
iii. Giúp con người sống yêu
thương................... 192
3. Thánh Thần hoạt động qua
Hội Thánh.................. 193
a. Tôi tin có Hội
Thánh............................................ 194
b. Các bí tích............................................................ 197
c. Kinh
Thánh.......................................................... 200
d. Tín
điều............................................................... 204
PHẦN IV:
ÐƯỢC CỨU NHỜ TIN.......................... 207
Ðau
khổ....................................................................... 207
Hạnh
phúc................................................................... 208
A. KHÔNG TIN KHÔNG THỂ
LÀM ÐẸP LÒNG THIÊN CHÚA 210
1. Ðức tin cứu
độ........................................................ 210
a. Hướng đến ngôi
vị............................................... 212
b. Tin phó thác vào Thiên
Chúa.............................. 214
2. Nội dung tin và đức tin
cứu độ............................... 215
B. VIỆC LÀM
CHỨNG MINH ÐỨC TIN............................... 220
1. Sống theo lương
tâm.............................................. 222
a. Lương
tâm........................................................... 223
b. Không vâng phục lương tâm không
được cứu độ 224
c. Ðức tin của những
người sống theo lương tâm. 225
2. Yêu
thương.............................................................. 227
a. Không yêu thương không
được cứu độ.............. 228
b. Ðức tin của những
người sống yêu thương....... 230
LỜI
CUỐI.......................................................... 233
VÀI TỪ NGỮ
VỀ ĐỨC
TIN................................................ 237
1. Mất đức
tin.............................................................. 237
2. Ðức tin
chết............................................................. 238
3. Lạc
giáo................................................................... 239
4. Vô
tín....................................................................... 240
THƯ
MỤC........................................................... 241
Tên sách Kinh Thánh được viết tắt theo
bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Bản văn Kinh Thánh được trích từ
bản dịch của Cha Nguyễn Thế Thuấn DCCT
hoặc từ bản dịch của Các Giờ Kinh
Phụng Vụ
Các văn kiện Công Đồng Chung Vaticanô II
được viết tắt theo bản dịch của
Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Đà Lạt.
DS Denzinger-Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum. Herder
1963,
LT Sách Linh Thao của thánh
Inhaxiô Loloya.
Bạn
đọc thân mến,
Ngày nay vẫn có người chủ trương
"chỉ những người ít học ít hiểu
biết mới tin mà thôi." Những người đó
tự nhận là những nhà "khoa học," những
người "vô thần khoa học," và họ bài bác
đức tin kitô giáo.
Ðứng trước những quan điểm lập
trường này, một số tín hữu mặc cảm cho
rằng mình lạc hậu nên không dám nhận mình có
đạo, một số khác bỏ đạo và từ
chối đức tin của mình!
Bản thảo ban đầu của sách này nhằm
trình bày thần học đức tin kitô giáo cho một
số sinh viên thần học, bây giờ được
sửa lại chút ít, hy vọng giúp các sinh viên kitô hữu
trẻ ngày nay không chỉ không mặc cảm mà còn có
thể tự hào về đức tin của mình.
Là
kitô hữu[1] hay
tín hữu của bất kỳ một tôn giáo nào đó,
đều phải tin. Các tôn giáo, cụ thể là Kitô giáo,
đặt nền tảng trên niềm tin.
Có người do ảnh
hưởng tinh thần duy khoa học, cho
rằng khoa học có thể giải thích tất cả.
Họ chủ trương rằng hôm nay có nhiều
điều khoa học (thực nghiệm, thuần lý hay
nhân văn) chưa giải thích được, nhưng
chắc chắn trong tương lai chúng sẽ
được giải thích thỏa đáng. Những
người này chủ trương không gì vượt ngoài
khả năng con người; và như vậy, con
người chỉ phải tin những gì khoa học
chưa giải thích được, còn trong tương lai
khoa học sẽ giải thích được và con
người sẽ không phải tin nữa. Hiểu như
vậy, "tin" là tri thức "không chắc chắn,”
đồng nghĩa với "ý kiến" mà thôi;
vậy phải chăng kitô hữu là những người
kém thông minh, mù quáng, thiếu hiểu biết và thiếu
trưởng thành?
Nhằm giúp người
trẻ ngày nay có cái nhìn đúng đắn về đức
tin kitô giáo và giúp các tín hữu trẻ không mặc cảm
về hành vi tin của mình, cũng như nhằm trình bày
thần học về đức tin kitô giáo cho các kitô
hữu, nên sách này sẽ gồm bốn phần:
· Phần thứ nhất nhằm cho thấy ai
cũng phải tin, dù là một người nông dân chân
lấm tay bùn đến những người trí thức;
không chỉ thế, mọi khoa học, mọi tri
thức đều được đặt trên nền
tảng niềm tin, dù đó là tri thức khoa học hay
tri thức siêu hình;
· Phần thứ hai cho thấy "tin" là siêu
vượt khỏi mình và hướng tới gặp
gỡ ngôi vị; tin là tương quan liên vị; tin là
hành vi tự do, hợp lý và là ân sủng;
· Phần thứ ba cho thấy nét đặc biệt
của đức tin kitô giáo: tin là đáp trả
mặc khải của Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu
Kitô; tin đòi hỏi phải phó thác tuyệt
đối vào Thiên Chúa Tình Yêu;
· Phần thứ tư cho thấy "tin" là
sống; đức tin được biểu lộ trong
cuộc sống hằng ngày của mỗi người;
chính nhờ tin mà con người được
cứu độ.
PHẦN I: KHÔNG AI SỐNG MÀ KHÔNG TIN
Phải
chăng chỉ có các tín đồ của các tôn giáo và
những người bình dân ít học mới tin? Phải
chăng những nhà khoa học thực thụ "không
tin" gì cả?
Phải chăng luận
cứ "không có Thiên Chúa" hữu lý hơn, đúng
hơn luận cứ "Thiên Chúa hiện hữu"?
Phải chăng tin "không có Thiên Chúa" thì
đúng hơn tin "có Thiên Chúa.”
Phải chăng các
định luật khoa học "đúng hơn" các
tín điều kitô giáo? Phải chăng các tri thức khoa
học hoàn toàn không dựa trên một niềm tin nào đó?
Trong
phần một này chúng ta sẽ giải đáp những
vấn đề trên chỉ dựa vào lý trí và suy luận,
và không dựa vào bất cứ uy quyền[2] nào!
Ðể làm điều
này, chúng ta sẽ chứng minh: tất cả mọi tri
thức đều đặt nền trên một niềm
tin nào đó. Chúng ta sẽ lần lượt bàn về:
· niềm tin nền tảng của khoa học;
· niềm tin nền tảng của tri thức siêu hình;
· chân lý và sự thực.
A.
NIỀM TIN NỀN TẢNG CỦA KHOA HỌC
Người
xưa chủ trương:
· Biết[3] là
tri thức chắc chắn và hiển nhiên về sự
vật qua các nguyên nhân của nó.[4]
· Ý kiến là chấp nhận một mệnh đề
nhưng có nghi ngại sợ sai.[5]
· Tin là ý kiến được biện luận;[6] tin
ở giữa ý kiến và khoa học.[7]
Và như vậy
đứng trên phương diện chủ quan, sự khác
biệt giữa ý kiến, tin và biết, tùy thuộc
mức độ hoàn thiện.[8]
Hôm
nay người ta phân biệt ý kiến, tin và tri thức
khoa học. Người ta thường coi tri thức khoa
học là tri thức đúng,[9] và tin là tri thức "không
chắc chắn đúng.” Vấn đề được
đặt lại là: cách quan niệm như vậy về
khoa học và về tin, cách quan niệm như vậy
về tri thức khoa học và tri thức do tin, có hoàn toàn
đúng không?
1. Niềm tin phủ
nhận tri thức khoa học
a. Lập luận của
thuyết hoài nghi
Platon tin rằng, có
những chân lý vĩnh cửu mà con người nhớ
lại vì linh hồn đã chiêm ngắm chúng ở trên
thế giới ý niệm.[10]
Aristote tin rằng ý
niệm con người có về sự vật, là do lý trí
trừu xuất; và như vậy, chân lý là sự
tương đồng tương hợp giữa lý trí và
sự vật.
Những người
theo chủ thuyết hoài nghi không đồng ý kiến
với Platon và Aristote, họ hoài nghi. Không phải họ
phủ nhận tri thức giác quan hoặc sự chắc
chắn chủ quan, nhưng họ hoài nghi những tri
thức mà người khác gọi là chân lý hoặc tri
thức vĩnh cửu. Họ cho rằng không có sự
chắc chắn khách quan tất cả những tri thức
mà con người có:
· bất cứ ai khẳng định điều gì,
họ có thể khẳng định ngược lại;
· nếu một người nại vào một tiêu
chuẩn nào đó để chứng minh, họ phủ
nhận tiêu chuẩn đó;
· nếu người đó từ chối chứng minh
và coi tiêu chuẩn để chứng minh là hiển nhiên,
tiêu chuẩn đó chỉ là ý kiến.
Như vậy, không có
sự chắc chắn khách quan nơi mọi tri thức, và
không có khoa học.[11]
b. Lập luận phản bác
thuyết hoài nghi
Nhằm
bài bác chủ thuyết hoài nghi, người ta lập
luận: vậy mệnh đề chủ trương
"không có sự chắc chắn khách quan nơi tri
thức" cũng không có sự chắc chắn khách quan.
Những người chủ trương thuyết hoài nghi
không phản đối điều này.
Cũng nhằm bài bác
chủ thuyết hoài nghi và những người thuộc
phái Tân-Hàn-Lâm, thánh Augustin cố gắng chứng minh có
sự chắc chắn khách quan bằng lập luận: "tôi
sai lầm, vậy tôi hiện hữu.”
"Tôi sai lầm,
vậy tôi hiện hữu.” Như vậy, "tôi hiện
hữu" là một chân lý khách quan. Chắc chắn
những người theo chủ thuyết hoài nghi sẽ
phủ nhận, không coi "tôi hiện hữu" là
một tri thức có tính chắc chắn khách quan, vì họ
đâu có chấp nhận "tôi sai lầm" là một
tri thức có sự chắc chắn khách quan!
c. Niềm tin của
người chủ trương thuyết hoài nghi
Bây giờ chúng ta xem
một ví dụ minh giải lập trường của
những người theo chủ thuyết hoài nghi. Những
người chấp nhận khoa học cho rằng khi ta
tung một hòn đá lên không trung, ta thấy hòn đá rơi
xuống. Những người tin khoa học cho đó là
chân lý chắc chắn và hiển nhiên, nhưng những
người theo chủ thuyết hoài nghi không chắc
chắn rằng điều đó sẽ xảy ra.
Những người theo chủ thuyết hoài nghi không
khẳng định rằng hòn đá sẽ không rơi,
họ chỉ nói không chắc rằng hòn đá
sẽ rơi.
Ở
cấp độ thứ nhất, những người
chủ trương thuyết hoài nghi không tin
chắc gì cả:
· hoặc không tin chắc có cái gì thường hằng
bất biến, kể cả vật chất hay
định luật vĩnh cửu nào chi phối chúng,
· hoặc không tin chắc con người có khả
năng biết hữu thể cách chắc chắn.[12]
Có thể có thực
tại vĩnh cửu khách quan nhưng không chắc
chắn một cách khách quan rằng có; và giả như
có thực tại vĩnh cửu đó thì con người
cũng có thể biết, nhưng không chắc
chắn rằng cái biết của mình về
thực tại đó là đúng. Và như vậy, cách
tốt nhất đối với nhưng người theo
chủ thuyết hoài nghi là không khẳng định
điều gì cách chắc chắn, hoặc không phán đoán
gì.[13]
Ở cấp độ
thứ hai, những người theo chủ thuyết hoài
nghi tin rằng con người không có tri
thức với sự chắc chắn khách quan.[14] Sở
dĩ như vậy vì họ lập luận rằng
những gì không chứng minh được thì không chắc
chắn đúng cách khách quan.
Với
niềm tin như vậy, những người theo chủ
thuyết hoài nghi phủ nhận khoa học. Và vì tin
rằng con người không thể có tri thức một
cách chắc chắn khách quan, nên những người theo
chủ thuyết hoài nghi cũng đánh mất sự
chắc chắn chủ quan khi tri thức.
2. Niềm tin hàm chứa
nơi người chấp nhận khoa học
Khoa học là tập
hợp những tri thức khách quan về một chủ
đề nào đó. Tất cả những người
chấp nhận khoa học đều tin một cách
mặc nhiên rằng con người có khả năng
biết sự vật.
"Con người có
khả năng tri thức sự vật.” Ðiều này không
chỉ là ý kiến, nhưng còn là điều con
người giả thiết, là điều con người
tin một cách chắc chắn. Những người
chấp nhận khoa học không chỉ cho mệnh
đề "con người có khả năng tri thức
sự vật" là một tiền đề để có
khoa học, nhưng họ tin mệnh đề này đúng
trăm phần trăm, đúng tuyệt đối, dù
họ không thể chứng minh để những
người theo chủ thuyết hoài nghi chấp nhận.
Mệnh đề "con người có khả năng tri
thức sự vật" là chân lý hiển nhiên đối
với những người chấp nhận khoa học.
Niềm
tin "con người có khả năng tri thức sự
vật" hàm chứa:
· tin thế giới khách quan hiện hữu thực
sự;
· tin các sự vật liên hệ với nhau theo một
luật "tự nhiên" nào đó;
· tin lý trí con người có khả năng tri thức
chúng.
a. Thực tại khách quan
hiện hữu.
"Ðêm qua ngủ
nằm mơ thấy mình là bướm, khi tỉnh dậy
tôi không biết mình là người mà nằm mơ mình là
bướm, hay thực sự tôi là bướm mà bây
giờ đang mơ.”
"Tôi hiện
hữu" phải chăng là sự thật, là chân lý?
Descartes tìm cách chứng minh "tôi hiện hữu" là
một chân lý bằng khởi đi từ "tôi suy tư."[15] Với
Descartes, "tôi suy tư" là thực tại, là chân lý
hiển nhiên không cần chứng minh, vì đối với
ông, con người vẫn có thể sai lầm với cái biết
bằng giác quan. Tri giác có thể sai lầm, nhưng
những gì lý trí thấy rõ và phân biệt thì không thể sai
lầm. Descartes chỉ tin vào lý trí, chính vì thế,
người ta coi ông là cha đẻ của chủ
thuyết duy lý.
b. Sự vật có
tương quan hữu cơ với nhau
Các sự vật liên
hệ với nhau theo một luật lệ nào đó. Các
sự vật ở đây hiểu gồm cả con
người với lý trí. Ðây là điều những
người chấp nhận khoa học phải tin, vì
nếu không tin các sự vật liên hệ hữu cơ
với nhau theo một định luật nào đó, thì làm
sao dám chắc chắn rằng nếu ta tung hòn đá ở
lần thứ n+1 hòn đá sẽ rơi xuống, dù ta
đã tung nó n lần và nó đã rơi n lần? Chúng ta
đã thấy những người chủ trương
thuyết hoài nghi không tin điều này.
Hầu như tất
cả chúng ta đều cho rằng con người có
khả năng tri thức thực tại. Một số
người chủ trương rằng chỉ có khoa học
mới cho con người những tri thức đúng
đắn. Ðâu là lập trường của chúng ta?
Với hiện
tượng quang điện, một số nhà khoa học
giải thích ánh sáng là những hạt (thuyết
lượng tử); sau một thời gian dài, với
hiện tượng giao thoa, các nhà khoa học giải thích
ánh sáng là những sóng (thuyết ba động). Với
những sự kiện này, liệu người ta có
thể đi đến kết luận: phải chăng
tri thức khoa học cũng chỉ là những tri thức
đúng tương đối thôi? Cũng tương
tự như vậy những định luật của
thế giới vĩ mô không đúng đối với
thế giới vi mô?!
Chân lý là sự
tương hợp giữa lý trí và sự vật. Sống,
đối với con người, là tiếp cận
thực tại, là tri thức về thực tại. Con
người cho đến ngày nay luôn khám phá thấy
những điều mới mẻ của thực tại,
của hiện thể (étants). Con người khoa học
đích thực là con người luôn luôn sẵn sàng mở
ra với thực tại hay hiện thể, nghĩa là luôn
luôn sẵn sàng để có tri thức về thực
tại. Con người với tinh thần khoa học
đích thực sẽ không bao giờ loại bỏ
những phương cách giúp tiếp cận thực
tại và tri thức chúng. Họ sẽ không là người
"duy" cái gì cả, chẳng hạn, duy nghiệm, duy
thực nghiệm, duy lý, v.v. Những người mang
họ "duy" như chúng ta vừa liệt kê, không là
những người có tinh thần khoa học thực
sự; Và những ai bảo vệ dòng họ "duy,”
cũng không là những người có tinh thần khoa
học đích thực, lúc đó họ đã chuyển sang
lãnh vực triết lý[16] rồi.
Khoa học gia luôn luôn
đặt sự vật hay thực tại làm chuẩn,
cũng như những gì con người có về thực
tại làm những điểm quy chiếu, hầu giúp tri
thức đúng đắn hơn về sự vật. Vì
vậy, tri giác được coi là những quy chiếu
để nhận ra sự tương hợp giữa lý
trí và sự vật. Cũng tương tự như
vậy, tính hợp lý cũng là quy chuẩn để
nghiệm ra tri thức là chân lý.
Chúng ta nhận thấy
nơi những người có tinh thần khoa học,
một cố gắng để biết sự vật hay
thực tại mỗi ngày một hơn. Họ không cho
rằng tri thức của họ về thực tại hay
hiện thể như thế là đủ, hoặc không có
gì để biết hơn. Chân lý của những
người có tinh thần khoa học có tiêu chuẩn là
sự thực: tri thức của họ về sự
vật hay hiện thể càng phong phú, thì họ càng gần
sự thực hơn.
iii. Thế nào là tri thức
khách quan
Tri thức là cái con
người có về sự vật hay hiện hữu
nhờ lý trí. Khoa học là tập hợp những tri
thức khách quan về một thực hữu nào đó.
Nhưng thế nào là một tri thức khách quan? Nhờ
những người chủ trương thuyết hoài nghi
mà chúng ta thấy rõ, để chứng minh một tri
thức là chân lý khách quan, người ta phải chấp
nhận, hay đúng hơn phải tin vào một tri thức
nào đó mà người ta tin rằng đó là chân lý, rồi
dựa vào đó để chứng minh.[17]
Tri thức mà những
người chấp nhận khoa học tin rằng
tuyệt đối đúng, là: "thực tại có
liên hệ hữu cơ với nhau, và con người có
khả năng tri thức về thực hữu này.”
Sở dĩ những điều trên được các nhà
khoa học tin tuyệt đối là chân lý, bởi vì
nếu không, những tri thức được chứng
minh từ niềm tin này không là những tri thức
tuyệt đối đúng đối với những nhà
khoa học.
Như vậy, phải
chăng một tri thức coi là chân lý khách quan, cũng
chỉ là khách quan[18] nhờ một tri thức
chủ quan?[19] Cũng
có thể nói như vậy, nhưng điều các nhà khoa
học tin một cách tuyệt đối đây, đã
được phê bình, và là niềm tin phản tỉnh. Tuy
vậy, chúng ta vẫn không phủ nhận rằng có
những người không chấp nhận hay không tin
điều mà các nhà khoa học tin, chẳng hạn
những người chủ trương thuyết hoài nghi.
Các nhà khoa học
đặt thực tại thực hữu cũng như
những gì con người lãnh hội được qua
giác quan, làm tiêu chuẩn. Thế nhưng đâu là thực tại
thực hữu? Phải chăng chỉ những sự
vật khả giác mới là thực tại thực
hữu, hay cả những thực tại mà giác quan con
người không kiểm chứng được cũng là
thực tại thực hữu? Những người duy thực
nghiệm, duy khoa học thực nghiệm không tin. Tuy
vậy, đây chỉ là niềm tin của những
người duy thực nghiệm, chứ không phải là tri
thức khách quan (hiểu như là tri thức
được chứng minh); và nếu họ muốn
chứng minh, thì phải nại vào niềm tin của
họ "cái gì không kiểm nghiệm bằng giác quan
được, thì không thực hữu.”
iv. Không thuộc lãnh vực
khoa học
Những nhà khoa học
chân chính, sẽ không khẳng định điều gì
vượt quá lãnh vực của họ. Chuyện năm
người mù xem voi: người thứ nhất nói con voi
giống cái cột nhà, người thứ hai nói giống
cái quạt, người thứ ba nói giống cái vòi, v.v.!
Những tiếp cận của năm người mù
với con voi đều đúng, nhưng nếu
người này phủ nhận tri thức của
người kia, thì họ sẽ sai: "con voi chỉ
giống cái cột nhà,” "con voi chỉ giống cái vòi,”
"con voi chỉ giống cái quạt,” v.v. Tương
tự như vậy, đối tượng nghiên cứu
của các nhà khoa học thực nghiệm là những
sự vật khả giác, nên với một đối
tượng không thuộc bình diện khả giác, thì
những người khoa học thực nghiệm chân chính
không khẳng định "chỉ những gì có thể
được kiểm nghiệm bằng tri giác mới là
thực hữu.”
Người khoa học
chân chính tin rằng các thực tại thực hữu có liên
hệ hữu cơ với nhau, và nhờ liên lạc
hữu cơ này mà con người có thể tri thức
về thực tại thực hữu. Nhưng người
ta có thể đặt câu hỏi: vậy đằng sau
những thực tại thực hữu với những
mối liên hệ hữu cơ này là gì? phải chăng có
một thực tại tuyệt đối, hay là cái gì khác,
hay là hư vô?
Nhà khoa học chân chính
không trả lời câu hỏi trên, vì đây không thuộc
lãnh vực nghiên cứu của họ; và nếu họ
trả lời, thì câu trả lời của họ không có
tính "khoa học" nữa; họ có thể trả
lời những câu hỏi trên bởi vì họ là
người, nên họ có quyền có cái nhìn siêu hình về
sự vật.
B.
NIỀM TIN NỀN TẢNG CỦA SIÊU HÌNH
Ðứng
trước vũ trụ vạn vật hữu hình khả
giác, con người thường đặt câu hỏi:
"đằng sau những thực tại khả giác
hữu hình với những định luật chi phối
chúng, liệu còn cái gì khác[20] không?
Ðã đành nhờ
những luận chứng và bài bác của những
người theo chủ thuyết hoài nghi, người ta
biết mình phải tin các sự vật liên hệ hữu
cơ với nhau, cũng như người ta phải tin
con người có thể biết các sự vật và
những định luật chi phối chúng. Thế
nhưng, ngoài những điều phải tin để có
tri thức "khách quan" đó ra, người ta còn
phải tin điều gì, hoặc phải tin có cái gì
nữa không?
Có nhiều ý kiến
về vấn đề này, và có những người
bảo vệ ý kiến của họ như những chân lý
tuyệt đối chắc chắn. Trong mục này, chúng ta
sẽ xét lập trường của những người
mà lập trường của họ sẽ dẫn tới
chủ trương vô thần, và sau cùng là lập
trường của những người hữu thần.
1. Niềm tin phủ
nhận mọi tri thức siêu hình
Chủ thuyết hoài nghi
phủ nhận tri thức khoa học thế nào, thì chủ
thuyết bất khả tri cũng phủ nhận tri
thức siêu hình như vậy.
Theo một nghĩa
rất rộng, chủ thuyết bất khả tri dùng
để chỉ lập trường của những
người cho rằng "không thể biết những đối
tượng bất khả giác.[21]" Jorg Splett cho rằng,
chủ thuyết bất khả tri chỉ là một hình thái
đặc thù của chủ thuyết hoài nghi, vì những
người theo chủ thuyết hoài nghi nghi ngờ tính chân
thực của mọi tri thức, còn những người
theo chủ thuyết bất khả tri phủ nhận
mọi tri thức siêu hình, đặc biệt là tri thức
về Thiên Chúa.[22]
b. "Bất khả tri"
là niềm tin của một số người
"Bất khả
tri" không là một tri thức khách quan, hiểu như là
một tri thức được chứng minh, nhưng
chỉ là một ý kiến, và là một ý kiến sai lầm
đối với nhiều người, nhưng
đối với những người theo chủ
thuyết bất khả tri thì đây là niềm tin của
họ. Ðối với những người theo chủ
thuyết bất khả tri, không có tri thức siêu hình
đích thực. Niềm tin "bất khả tri"
hủy hoại mọi tri thức siêu hình.[23]
2. Niềm tin dẫn
tới phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu
Có nhiều niềm tin
hàm chứa lập trường phủ nhận Thiên Chúa.
a. Niềm tin của
người chủ trương duy vật
Những người
chủ trương duy vật khẳng định: không có
gì hiện hữu ngoại trừ vật chất, và
nếu có cái gì không-vật-chất thì cái đó cũng do
vật chất mà ra.[24]
Có nhiều người
lầm tưởng rằng, đây là lập trường
của những nhà khoa học, nhưng nếu hiểu
như vậy là sai. Những người khoa học
chấp nhận vật chất hiện hữu, và cũng
chấp nhận các-hiện-hữu-như-họ-thấy có
liên hệ hữu cơ với nhau, và lý trí con người
có khả năng tri thức vạn vật thực hữu.
Thế nhưng những nhà khoa học chân chính không
khẳng định chỉ có vật chất thôi hay còn
có cái gì khác không phải vật chất. Ðối với
họ, có thể chỉ có vật chất thôi, nhưng
cũng có thể có cái gì khác không phải vật chất; và
họ biết ý kiến của họ đưa ra về
vấn đề này không nằm trong lãnh vực khoa học
thực nghiệm. Họ có thể có lập trường
về điều này, tuy nhiên họ ý thức "ý
kiến" của họ không là phát biểu khoa học, nó
chỉ là niềm tin.
Tại sao vật
chất lại có liên hệ hữu cơ với nhau
để lý trí con người có thể tri thức
được, chứ không như những người
theo chủ thuyết hoài nghi tin? Những nhà khoa học không
trả lời điều này; còn những người duy
vật trả lời: bởi chính vật chất là như
vậy, không cần nại vào bất cứ cái
gì để giải thích thực tại vật
chất như nó là bây giờ.[25]
Theo Hans Kueng, tin vào
vật chất và những quy luật chi phối chúng mà
không tin Thiên Chúa hiện hữu, là một niềm tin không
nền tảng; bởi vì những người vô thần
không thể cho thấy tại sao thực tại hiện
hữu và được đặt thành vấn đề,
và họ cũng không biết tại sao lại phải tin
vào vật chất, cũng như những quy luật chi
phối chúng.[26]
Tin chỉ có vật
chất và không có gì khác nữa, cũng chỉ là một ý
kiến, và đối với nhiều người thì
đó là ý kiến sai lầm. Tuy vậy đối với
những người chủ trương duy vật, đó
là chân lý. Vấn đề tồn tại là: niềm tin
"duy vật" có thực là chân lý khoa học? có đáng
tin không?
b. Niềm tin của
người chủ trương hư vô
Ðằng sau những
thực tại như chúng ta thấy, là gì? Tại sao
lại có cái gì chứ không phải là không
có? Bên kia cái mà người ta gọi là Thiện và Ác là gì
(Nietzsche)? Phải chăng đời sống con
người thật phi lý (J. P. Sartre)?
Với một số
người:
· Thiện hay Ác chỉ là những ý niệm thật
tương đối;
· Ðời sống con người thật phi lý, không có ý
nghĩa gì;
· Tất cả chỉ là hư vô. Vật chất và
những quy luật chi phối chúng, không cho thấy là chúng
sẽ trường tồn.[27]
Chủ trương
hư vô là niềm tin siêu hình. Chủ nghĩa hư vô dù là
niềm tin siêu hình thế nào đi nữa, cũng chỉ
là sự phủ nhận và từ chối hữu thể. Niềm
tin của những người theo chủ thuyết hư
vô, tuy không trực tiếp phủ nhận tri thức khoa
học, nhưng thực sự đã phá hủy nền
tảng của tri thức này, hoặc ít là làm cho tri
thức này không có ý nghĩa.
3. Niềm tin Có Thực
Tại Tuyệt Ðối Siêu Việt
Ðồng ý với
những nhà khoa học, chúng ta tin rằng:
· vũ trụ vạn vật thực sự hiện
hữu như chúng ta thấy,
· các thực tại có một tương quan hữu
cơ với nhau,
· lý trí con người có thể tri thức
được thực tại.
Thế nhưng
đằng sau thực tại hữu hình "vũ trụ
vạn vật" với những luật lệ chi
phối chúng là gì? Phải chăng chỉ là hư vô hỗn
mang? hay chỉ có vật chất? hay có một thực
tại siêu vật chất, tuyệt đối, vĩnh
cửu, là nền tảng của mọi hiện hữu
khả giác như chúng ta nhận biết, và là ý nghĩa
của mọi thực tại hiện hữu, là bảo
đảm của mọi quy luật chi phối mọi
thực tại vật chất hiện hữu?
Ðược gọi là
hữu thần, những người tin có một thực
tại tuyệt đối siêu việt. Họ tin rằng
thực tại siêu việt này là nền tảng và căn
nguyên của mọi thực tại hiện hữu.
Trong phần một này
chúng ta đã thấy, tin là thái độ nền tảng
của con người trong nhiều lãnh vực: khoa
học, triết học, tôn giáo. Không có niềm tin, con
người không thể sống một đời sống
nhân linh đích thực; không có niềm tin, con người
cũng không thể nhận ra hữu thể chân thực
của chính mình.[28] Không có niềm tin, con
người cũng không thể nói đến tri thức và
khoa học.[29] Nếu
không tin, con người sẽ không thể tồn hữu.[30] Tin
là thái độ cần thiết và không thể miễn
trừ trong cuộc sống.[31]
Tin không chỉ là phán
đoán, nhưng còn là phán đoán tự do; như vậy,
tin không chỉ là tri thức nhưng còn là tri thức tự
do; tin là tri thức tự do đặt nền tảng cho
những tri thức khác, ngay cả tri thức khoa học.[32]
Thiết tưởng
không cần biện minh cho niềm tin nền tảng
của tri thức khoa học,[33] nên trong phần tới
chúng ta sẽ chỉ biện minh cho niềm tin cần
được biện minh hơn, đó là niềm tin
hữu thần.
Chân
lý là gì? Sự thực là chi?
Câu này đúng, câu kia sai;
phát biểu này đúng, phát biểu kia sai! Nhưng đúng
sai so với tiêu chuẩn nào, so với cái gì?
1. Chân lý là thuộc tính
của phán đoán
Chân hay giả, đúng
hay sai, hệ tại phán đoán chứ không hệ tại
điều người ta lãnh hội qua giác quan.[34] Không
có phán đoán, không có đúng hay sai. Ðúng hay sai, trúng hay
trật, là thuộc tính của phán đoán.
Phán đoán là hành vi
của lý trí. Chân lý là sự tương hợp giữa
sự vật và lý trí.[35]
Phán đoán là tri
thức; tuy nhiên phán đoán này có thể trúng hay trật, là
chân lý hay sai lầm. Chân lý luôn luôn là chân lý của một
phán đoán, và sai lầm cũng luôn luôn là sai lầm của
tri thức. Không thể tách biệt chân lý khỏi phán
đoán, và cũng không thể tách biệt phán đoán
khỏi lý trí.
Ðứng trước
một hiện hữu, tôi có thể không ý thức nó
hiện hữu hoặc tôi có thể cảm nhận có một
cái gì đó.
Nếu tôi ý thức có
một cái gì đó, nghĩa là lý trí tôi đã nhận
được một cái gì đó từ nó, điều tôi
nhận đây có thể là một hình ảnh qua thị
giác, hay một âm thanh qua thính giác, hoặc qua các giác quan còn
lại, hoặc qua "giác quan thứ sáu" tạm
gọi là trực giác, và rồi người ta có ý niệm
(eidos).
Khi tiếp nhận một tín hiệu và có ý niệm,
người ta có thể có phản ứng. Phản ứng
này có thể là một phán đoán về hiện hữu
đó, và phán đoán này có thể đúng hoặc sai trong
mức độ nó tương hợp với
hiện hữu đó. Ngoại trừ các phán đoán "có
hoặc không,” một phán đoán có thể đúng nhiều
hoặc sai nhiều tùy mức độ nó tương
hợp với hiện hữu đó. Aristote nói: "cái
giả hệ tại khẳng định rằng có cái không
có và không có cái có; cái chân hệ
tại khẳng định rằng có cái hiện
hữu và không có cái không hiện
hữu."[36]
b. Biết do lãnh hội
bằng trực giác
Nói cách khác, biết là
điều mà con người có về hiện
hữu nhờ lý trí. Có cái biết không do phán
đoán của lý trí, đó là cái biết sơ
đẳng do lãnh nhận bằng trực giác, với
những ý tượng và ý niệm,[37] qua ngũ quan hoặc qua
"giác quan thứ sáu.” Phán đoán là tri thức, là
biết; nhưng cái biết do phán đoán của con
người qua lý trí có thể đúng hoặc sai.
Cái biết của lý trí
con người trực tiếp qua giác quan, gọi là tri
giác,[38] và
cái biết này không sai lầm. Còn cái biết của con
người với những lý luận, tổng hợp,
gồm cả các quan niệm, khái niệm, gọi là tri
thức;[39] cái
biết này có thể sai lầm. Còn cái biết bị
ảnh hưởng bởi ý muốn, gọi là nhận
thức.[40]
Tin, luôn hàm chứa tin
vào ai.
Chúng ta xét một số
mệnh đề, chẳng hạn, "tôi tin nó đã
chết mất xác ở biển,” "tôi tin con
người do tiến hoá từ khỉ mà ra,” "tôi tin có
Thiên Chúa,” hoặc, "tôi tin nó, chắc chắn chiều
nay nó sẽ tới vì nó đã nói,” hoặc "tôi tin vào ngân
hàng đó nên tôi ký gởi toàn bộ tiền bạc của
tôi vào đó,” hoặc "tôi tin em, tôi tin rằng em sẽ
trung thành với tôi suốt đời,” hoặc "tôi tin
Thiên Chúa,” v.v.
Một số trong
những mệnh đề trên, cụm từ "tôi
tin" đồng nghĩa với "tôi cho rằng,”
"tôi khẳng định rằng,” "tôi chắc
chắn rằng,” "theo ý kiến của tôi thì....” Như
vậy, tin ở đây chỉ là ý kiến
của tôi, do đó, sự chắc chắn đúng có tính
tương đối.
Nơi những mệnh
đề tin như ý kiến, sở dĩ người ta
bảo vệ ý kiến của họ, vì họ tin vào
họ. Khi một người nói "tôi tin,” hàm
chứa rằng nói: tôi tin tôi, tôi tin vào khả năng
và nhận định cùng phán đoán của tôi nên tôi cho
rằng ..., và tôi chắc chắn rằng phán đoán
của tôi đúng.
ii. Ý kiến của tôi
đúng hay sai
Mỗi người có
thể có ý kiến riêng của mình, và những ý kiến này
có thể khác nhau. Mỗi người đều có thể
xác tín về lập trường phán đoán của mình, và
mức độ xác tín này có thể khác nhau theo mỗi
người.
Nếu tin là ý
kiến, và đối tượng của tin ở
cùng bình diện với đối tượng của tri
thức khoa học, thì tri thức khoa học có giá
trị chân lý hơn. Còn nếu đối
tượng tin không thể kiểm chứng
được, như "tôi tin Thiên Chúa hiện hữu,” thì
chúng ta không thể nói giá trị của mệnh đề
"tôi tin Thiên Chúa hiện hữu" thua giá trị
của mệnh đề khoa học, vì "Thiên Chúa"
không là đối tượng của bất kỳ khoa học
thực nghiệm nào. Không thể chứng minh "Thiên Chúa
hiện hữu" cách thực nghiệm hoặc thuần
lý kiểu toán học như 2+2=4 được.
"Có Thiên Chúa" hay
"không có Thiên Chúa,” không là đối tượng của
khoa học, nhưng là niềm tin hay hệ luận của
một số triết thuyết. Chẳng hạn đối
với những người chủ trương thuyết
hoài nghi, thuyết bất khả tri, thuyết duy nghiệm,
thuyết duy thực nghiệm, thì khẳng định
"có Thiên Chúa" là sai lầm. Và như vậy, vấn
đề được chuyển qua là: quan điểm
lập trường "duy" như vậy có đúng
không?
Trong một số
mệnh đề còn lại như "tôi tin nó, chắc
chắn chiều nay nó sẽ tới,” "tôi tin vào ngân hàng
đó,” "tôi tin em, tôi tin em sẽ chung thủy với tôi
suốt đời,” "tôi tin Thiên Chúa yêu tôi,” ..., chúng ta
thấy đối tượng tin là ngôi vị, và hàm
chứa là có ngôi vị đó. Chính vì tin vào nó,
tôi mới chắc chắn chiều nay nó sẽ tới;
chính vì tin vào những người lãnh đạo ngân hàng
đó, mà tôi ký gởi tiền của tôi vào ngân hàng đó;
chính vì tin vào Thiên Chúa, nên tôi mới phó thác đời
sống tôi cho Ngài, nên tôi mới tin Kinh Thánh dạy chân lý
cứu độ.
Tin ở đây là
tương quan liên vị. Nếu đối tượng
tin không là ngôi vị, người ta cân nhắc xem mức
độ chắc chắn cần thiết tới đâu,
và nếu cần người ta mới có thái độ, còn
nếu không thực sự cần thiết thì thôi; còn
nếu trong tương quan liên vị đòi người ta
phải tin vào ai đó hay không tin, thì người ta phải
cân nhắc và chọn lựa. Ở hành vi tin vào ai đó,
ngoài những yếu tố khách quan bình thường, còn có
một yếu tố can thiệp nữa, đó là hấp
lực giữa các ngôi vị, làm cho người ta tin vào
nhau.
Nói cách khác, để tin
vào một ai đó, người ta căn cứ vào chính cách
sống của người đó; và chỉ cần một
lần người đó không giữ chữ tín sẽ làm
cho người đó không đáng tin nữa: "một
lần bất tín, vạn lần không tin.” Với quan
niệm này, để tin một người, vẫn
dựa trên xác suất; nhưng còn có một nguyên do khác làm
người ta có thể tin vào nhau: tình yêu. Như
vậy, tin không chỉ đơn thuần là hành vi lý trí
nhưng còn là hành vi ý chí nữa. Tin là hành vi tự do, hành vi
nhân linh.
Khi đối
tượng tin là một vật thể, và nếu phán
đoán biểu lộ niềm tin ý kiến của tôi không
trùng với thực tại, tôi nói tôi sai; còn nếu
đối tượng tin là ngôi vị, tôi nói tôi bị
lầm.[41]
Trong cả hai trường hợp, dù tin là ý kiến
hay là thái độ đối với ngôi vị,
đều hàm chứa tôi phải tin vào tôi. Chính vì tin vào tôi,
nên tôi mới dám:
· bảo vệ ý kiến lập trường của
tôi, dù nó có khác với những lập trường và ý
kiến của người khác;
· chính vì tin vào tôi, nên tôi mới dám phán đoán và tin vào
người khác, và đôi khi phải phó thác một
điều khá quan trọng trong đời tôi nơi tha
nhân.
Tin vào mình mới dám tin
vào người khác. Nếu chúng ta không thể tin vào
người khác, thì đó là dấu chỉ đáng buồn!
Trong cuộc sống, có khía cạnh người ta không còn
dám tin vào chính mình nữa, và mình chỉ dám tin vào chính mình khi
mình tin phó thác vào ai đó.
3. Sự thực –tiêu chuẩn để biết
đúng sai
Phán đoán đúng
với sự vật, là biết đúng, là chân lý. Sự
vật, đúng hơn "hiện hữu,” là tiêu chuẩn
để phán đoán quy chiếu về. Lời về cái
gì đó thì không thể trùng khít hoàn toàn tuyệt đối
với chính cái đó. Cái thực nhất, là chính cái
"hiện hữu" đó: sự thực.
Con người biết
một hiện hữu theo nhiều cấp độ:
· với giác quan con người lãnh hội sự
vật một cách không sai lầm, nhưng tri giác này rất
giới hạn;
· với phán đoán và tổng hợp của lý trí, con
người còn có khả năng biết sự vật
nhiều hơn.
Mỗi hiện hữu
là một thực tại rất phong phú nên khó có ai có
thời giờ để có thể tìm hiểu trọn
vẹn. Những tri thức khoa học cung cấp cho con
người về lãnh vực này thì chắc chắn chính
xác. Ở đây, tin như ý kiến không có giá trị
như tri thức khoa học.
Còn trong những biến
cố có tính cách tùy phụ, bất tất, có thể chỉ
xảy ra một lần; đây không phải là lãnh vực
của khoa học, nhưng sự thực có thể
được kiểm chứng, thì "tin" như ý
kiến có giá trị hay không tùy thực tế có xảy ra
như người ta nghĩ hay không. Trong trường
hợp này, để một người có thể biết
đúng về biến cố hay thực tại đó,
cũng cần con người đừng để thành
kiến hay ước vọng nào đó chi phối mình.
Nếu sự thực là
"hiện hữu phi ngã" mà còn cần con người
"không có thành kiến" để biết đúng, thì
điều này còn đúng hơn nữa nếu hiện
hữu là một ngôi vị.
Hơn nữa, nếu
hiện hữu là một ngôi vị,[42] thì người ta sẽ
lại càng hiểu biết hơn nếu chính hiện
hữu ngôi vị này tự mặc khải thông ban chính mình,
cũng như nếu chính con người mở rộng
lòng đón nhận ngôi vị đó cũng như mặc
khải của họ.
Vì ngôi vị là một
hiện hữu đơn nhất tuy "đa phức,”
nên nếu càng biết ít về nó, thì lại càng không có
sự tương hợp của lý trí với thực
tại "đơn nhất" đó, và như vậy
càng "ít đúng" hơn; còn nếu biết nhiều
về nó thì sự tương hợp với thực
tại "ngôi vị" càng nhiều, và con người
càng lại gần sự thực hơn.
PHẦN II: TIN THIÊN CHÚA- HÀNH VI NHÂN LINH
Niềm tin hữu thần hàm chứa niềm tin khoa
học, nghĩa là, những người hữu thần tin
rằng:
· vũ trụ như chúng ta thấy bằng giác quan là
thực hữu;
· vũ trụ vạn vật liên hệ với nhau
một cách hữu cơ và được nhận thấy
qua các định luật tự nhiên;
· con người có khả năng tri thức vạn
sự vạn vật;
· và hơn nữa qua những sự vật khả giác
con người có thể biết thực tại tuyệt
đối là nền tảng của những thực
tại mà giác quan chúng ta nhận biết được.
Tin là phán đoán, là tri
thức, là tri thức tự do; mà đã là tri thức, thì
tri thức đó có thể đúng hoặc sai. Chúng ta không chứng
minh điều mình tin là đúng như thể chứng
minh một điều bằng các định lý hoặc quy
luật;[43] tuy
nhiên chúng ta sẽ cố gắng cho thấy cái lý
tại sao chúng ta tin mà thôi.[44]
Trong phần này, chúng ta
sẽ bàn đến tính khả tín của của niềm
tin hữu thần, nghĩa là, chúng ta sẽ đề
cập đến niềm tin "vạn sự vạn
vật thực hữu có liên hệ hữu cơ với
nhau" và niềm tin "con người có khả năng
tri thức thực tại,” hay nói cách khác, chúng ta sẽ bàn
về "khả năng siêu vượt" của con
người và về vấn đề "siêu vượt
là tri thức siêu nhiên.”
A. TIN[45] LÀ SIÊU VƯỢT
Nói
tới siêu vượt, là phải nói tới dấu
chỉ.
Trong mục này chúng ta sẽ đề cập tới
dấu chỉ thông thường, và kế tiếp tới
các phép lạ như những dấu chỉ đặc
biệt.
Dấu chỉ là một
hiện hữu khả giác dùng để chỉ một
cái gì khác. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, chúng ta thấy có
đoạn chép:
"Trời xanh tường tuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
Chẳng một lời một lẽ,
chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng chúng đã vang dội khắp hoàn cầu
và thông điệp loan đi tới chân trời góc
biển" (Tv 18A:2-5).
Như vậy, phải
chăng, cùng với tác giả Thánh Vịnh này, trời xanh
và không trung, đêm và ngày, là những dấu chỉ?
Ðức Giêsu trách
người đương thời biết nhìn dấu
chỉ tự nhiên để biết thời tiết,
nhưng họ đã không biết nhìn những dấu
chỉ "đặc biệt" khác mà họ gặp:
"Chiều đến các ông nói: ráng vàng thì gió;
và sớm mai: hôm nay ráng đỏ thì mưa.
Ráng trời, các ông biết ước định, còn
về dấu chỉ thời buổi, các ông lại bất
lực" (Mt 16:2-3).
Trong cuộc sống
chúng ta thấy, có nhiều cách để gọi một
người: có thể gọi bằng tiếng hoặc
cũng có thể bằng ra dấu hiệu. Với
những người bị điếc chúng ta không thể
dùng âm thanh, cũng như với người mù chúng ta không
thể dùng cử chỉ để ra dấu hiệu.
Dấu chỉ, chỉ có ý nghĩa đối với
những người tiếp nhận được
dấu chỉ đó. Chính vì thế, một số tư
tưởng gia hiện đại mời gọi những
người liên hệ hãy cố gắng tìm ra những
dấu chỉ thích hợp để con người
thời nay có thể dễ dàng nhận ra thực tại
siêu nhiên; bởi vì có người nhạy bén với dấu
chỉ này và vô cảm với dấu chỉ khác, và
ngược lại. Có người nhạy bén với trật
tự, có người dể rung động với
dấu chỉ tình yêu, v.v.[46] Với Aristote, chuyển
động và biến dịch là dấu chỉ giúp nhận
ra thực tại toàn hảo; với Kant, mệnh lệnh
tuyệt đối của lý trí thực hành là dấu
chỉ buộc phải chấp nhận "Thiên Chúa
hiện hữu;" và với người khác, sự
hữu hạn có thể là dấu chỉ giúp người
ta nhận ra thực tại vô hạn tuyệt đối.
Phép lạ hay dấu
lạ, là sự kiện mà lý trí con người không thể
giải thích hoặc hiểu được theo trật
tự tự nhiên.
Phép lạ là sự
kiện, mà sự kiện là điều mà khoa học
thực nghiệm có thể kiểm chứng
được; như vậy, những bí tích của
đạo Công Giáo không là phép lạ;[47] tuy vậy, sự kiện
đức Giêsu chữa lành người mù từ thuở
mới sinh (Ga 9:1tt) hay chữa lành người bại tay
(Mc 2,1tt) hay những sự kiện lành bệnh "không bình
thường" tại Lourdes bên Pháp, v.v., là những phép
lạ.
Phép lạ là dấu
chỉ mời gọi con người siêu vượt,[48] phán
đoán, giải thích; tuy nhiên con người vẫn tự
do trước phép lạ. Chẳng hạn đứng
trước sự kiện người mù từ thuở
mới sinh được chữa lành, người mù
nhận ra người chữa lành cho mình là người
đến từ Thiên Chúa (Ga 9:33), nhưng những
người biệt phái lại cho rằng đức Giêsu
là kẻ tội lỗi (Ga 9:24).
"Tôi
suy tư vậy tôi hiện hữu" của Descartes, và
"tôi sai lầm vậy tôi hiện hữu" của
thánh Augustin,[49] đều
nhằm chứng minh "tôi hiện hữu" là chân lý.
"Tôi hiện hữu vậy Thiên Chúa hiện hữu,” và,
"hữu thể bất tất hiện hữu vậy Thiên
Chúa hiện hữu,” cũng nhằm chứng minh "Thiên
Chúa hiện hữu.” Tuy nhiên nếu đem so sánh hai cặp
luận chứng trên, chúng ta thấy chúng khác xa nhau.
Tôi là hiện hữu
bất tất, nên phải có hữu thể tất yếu
tuyệt đối, được gọi là Thiên Chúa. Ðây
là tri thức siêu vượt.
Siêu vượt là
một hành vi nhân linh, nghĩa là, một hành vi tự do, ý
thức, đòi con người vượt qua chính mình. Chính
hành vi siêu vượt này làm con người trở thành tinh
thần, hữu thể tự do đích thực. Không siêu
vượt, con người chỉ ở lại trên bình
diện sự vật và không là tinh thần đích thực.[50]
Trong điều kiện
hiện tại của con người tại thế, con
người biết Thiên Chúa qua trung gian các tạo vật.[51] Biết
Thiên Chúa qua các sự vật khả giác, là siêu vượt,
là tin. Siêu vượt là tin, và tin cũng là siêu vượt.
Tin là siêu vượt trên
các dấu chỉ. Vũ trụ vạn vật hữu hình,
được coi là những dấu chỉ để con
người vươn lên, để con người có
thể nhận ra Thiên Chúa hiện hữu.[52]
Tại sao lại có cái
gì đó hơn là không có? Tại sao lại có
hiện thể mà không phải là hư vô?[53]
Raymond Panikkar cho rằng:
"yếu tính của tin dường như hệ tại
trong câu hỏi hơn là trong câu trả lời, trong thái
độ tra vấn, trong khát vọng hơn là trong lời
giải đáp cụ thể. Tin là cái-bao-hàm-hiện-sinh
hơn là nội dung tri thức. Ðức tin không chỉ
ở nơi những người có câu trả lời
đúng, nhưng cũng còn có nơi những người
chân thực tìm kiếm, ao ước, yêu mến, và
muốn, …, và nơi những người thành tâm thiện
chí;[54]"
"Tin là sự khai mở hiện sinh với siêu việt,
bởi vì chính bởi sự khai mở này mà con người
có tương quan với
nguyên-lý-vượt-con-người.[55]"
Tin, là siêu vượt,
nhờ dấu chỉ. Chính nhờ dấu chỉ mà con
người nhận ra và gặp gỡ Thiên Chúa. Siêu
vượt không chỉ đơn thuần là hành vi
thuộc lý trí, nhưng còn là hành vi của ý chí và ân sủng
nữa. "Có đức tin, tức là có sự hiểu
biết siêu nhiên về các dấu chỉ, nghĩa là
nhận ra nơi các dấu chỉ sự biểu lộ
của trật tự siêu nhiên.[56]"
Các phép lạ là dấu
chỉ đặc biệt. Phép lạ luôn luôn hàm chứa ý
nghĩa thiêng liêng và thần thánh, là chứng tích của
một nguyên nhân tàng ẩn ngoại nhiên.[57] Phép lạ không chỉ là
dấu chỉ đặc biệt giúp con người siêu
vượt để gặp gỡ Thực Tại siêu
nhiên, nhưng nó còn là bảo đảm "khả
nghiệm" chứng thực điều được
rao giảng là chân lý.[58]
B. TIN
THIÊN CHÚA-TRI THỨC SIÊU NHIÊN
Con
người có khả năng biết Thiên Chúa, đó là
niềm tin của những người hữu thần,
những người tin Thiên Chúa hiện hữu.
Chúng ta biết rằng
tin là một phán đoán, và phán đoán có thể là tri
thức. Người ta biết hoặc bằng nhìn, nghe,
đụng chạm, hoặc nhờ suy luận, hoặc
tin. Nói cách khác, có tri thức do cảm giác, có tri thức do
suy luận, và có tri thức do tin. Tri thức suy luận có
thể tựa trên tri thức giác quan[59] hay tri thức do tin,[60] và
tri thức do tin cũng có thể tựa trên tri thức giác
quan và tri thức suy luận.
Với những
người tin Thiên Chúa hiện hữu, "con
người có khả năng tri thức Thiên Chúa" là
điều hiển nhiên, vì nếu con người không
thể biết Thiên Chúa (như thuyết bất khả tri
chủ trương) thì làm sao dám khẳng định
"Thiên Chúa hiện hữu" là chân lý?
Con người có
khả năng biết Thiên Chúa, nhưng "biết Thiên
Chúa" là tri thức tự nhiên hay siêu nhiên? Ðó là vấn
đề chúng ta bàn bây giờ.
1. Con người có
thể biết Thiên Chúa với lý trí tự nhiên
Con người khi
được tạo dựng, có khả năng biết
Thiên Chúa với lý trí tự nhiên không, hay phải nhờ ân
sủng mới có thể biết Thiên Chúa?
Khi đặt vấn
đề "tri thức về Thiên Chúa là tri thức
tự nhiên hay siêu nhiên,” là đặt vấn đề
về chủ thể[61] tri thức.
Sự hiện hữu
của môn Thần Lý Học[62] được giảng
dạy trong các trường đại học công giáo hay
các phân khoa thần học, cũng như sự hiện
hữu của những tác phẩm hộ giáo,[63] hàm chứa lập
trường cho rằng lý trí tự nhiên có thể nhận
biết Thiên Chúa hiện hữu, và không chỉ nhận
biết rằng Thiên Chúa hiện hữu mà còn nhận
biết cả những phẩm tính đặc biệt nào
đó của Thiên Chúa nữa.
Công đồng chung
Vatican I trong hiến chế Dei Filius khẳng định:
"Mẹ Hội Thánh khẳng định và dạy
rằng Thiên Chúa, Nguyên Lý và Cùng Ðích của mọi sự, có
thể được nhận biết cách chắc chắn
bởi ánh sáng tự nhiên của lý trí con người qua các
tạo vật.[64]" Công đồng cũng
trích dẫn thư Phaolô: "Vì từ buổi tạo thành
vũ trụ, những gì nơi Người, mắt xác
thịt không thể thấy, thì trí khôn nhìn ngắm
được nơi công việc Người làm, quyền
năng hằng có và thần tính của Người,
khiến họ vô phương chữa mình. Vì rằng
họ đã biết Thiên Chúa, họ lại đã không tôn
vinh Người như Thiên Chúa, hay không tạ ơn
Người, nhưng họ đã ra hư huống trong các
suy tưởng của họ, và lòng ngu muội của
họ đã ra tối tăm" (Rm 1:20-21).
Với lập trường của công đồng
Vatican I được trích dẫn ở trên, chúng ta cần
hiểu đúng:
· công đồng không khẳng định mỗi
người thực sự đều nhận biết Thiên
Chúa, nhưng mỗi người đều có
thể nhận biết Thiên Chúa;
· công đồng cũng không khẳng định
rằng sự hiện hữu của Thiên Chúa có thể
được chứng minh, nhưng sự hiện hữu
của Thiên Chúa có thể được nhận
biết nhờ các tạo vật;
· công đồng cũng không khẳng định Thiên
Chúa được nhận biết không cần ân sủng,
nhưng ngay cả không có mặc khải của Thiên Chúa thì
vẫn có tri thức tự nhiên về Thiên Chúa.[65]
2. Không có ân sủng, con
người không thể biết Thiên Chúa
Có vẻ như trái
với lập trường trên, một số người
cho rằng, nếu không có ân sủng của Thiên Chúa,
nếu không có ơn soi sáng,[66] thì con người không
thể nhận biết Thiên Chúa, thậm chí không thể
nhận biết Thiên Chúa hiện hữu nữa.
Rousselot cho rằng:
"không có sự soi sáng của ân sủng đức tin,
không ai có khả năng nhận ra những dấu chỉ
khả tín như là những bằng chứng về
thực tại siêu nhiên, ngay cả khi dấu chỉ này là
phục sinh một người chết.[67]" Ðể nhận ra giá
trị của những dấu chỉ trong mặc khải
siêu nhiên, cần phải có một khả năng tổng
hợp siêu nhiên; Việc minh chứng tính khả tín của
ý nghĩa mà dấu chỉ hàm chứa không thể có
được nếu không có ân sủng trợ giúp. Nói cách
khác, để một người thấy điều
dấu chỉ biểu trưng là hợp lý, cần phải
có sự can thiệp của ân sủng.[68]
Rousselot phủ nhận
đức tin "tự nhiên,” không chỉ bởi vì
Rousselot cho rằng không thể chứng minh cách tự nhiên
tính khả tín, mà còn bởi vì Rousselot cho rằng không thể
tin các tín điều nếu con người không
được nâng lên trật tự siêu nhiên.[69] Rousselot cho rằng việc
nhận ra tính khả tín của điều mình tin
đồng nhất với hành vi tin.[70]
Cha P. Rousselot còn cho
rằng ngài tìm thấy nơi thánh Thomas lập
trường không thể có tri thức tự nhiên về
mặc khải. Nhưng những người khác, chẳng
hạn như Ligeard, lại cho rằng tuy thánh Thomas không
chấp nhận việc con người có thể tin các chân
lý mặc khải siêu nhiên với đức tin tự nhiên,
nhưng thánh nhân lại chấp nhận con người có
thể có sự hiển nhiên "tự nhiên" về tính
khả tín (của các chân lý mặc khải).[71] Theo Rousselot, thánh Thomas quan
niệm lý trí tự nhiên có thể đạt đến
sự chắc chắn cái nhiên hay luân lý về sự
kiện mặc khải, nhưng không đạt tới
sự hiển nhiên về sự kiện này; Rousselot cho
rằng nếu lý trí không có sự trợ giúp của ân
sủng thì sẽ không bao giờ có khả năng loại
bỏ mọi nghi ngờ luận lý.[72]
Chúng ta đang ở trong
vấn đề cực kỳ gai góc của thần
học, đó là vấn đề tương quan giữa
tự nhiên và siêu nhiên. Có thể nói tùy theo quan niệm
về con người mà người ta đi đến
lập trường có vẻ khác nhau, hoặc lý trí con
người có thể nhận biết Thiên Chúa, hoặc
không có ân sủng lý trí con người không thể nhận
biết Thiên Chúa.
Nếu quan niệm con người hay lý trí con
người ở tình trạng thuần túy tự nhiên
(natura pura), như thể Thiên Chúa tạo dựng vũ
trụ và con người rồi bỏ đó, như
thể Pélagius quan niệm con người có thể (hành
thiện) độc lập với Thiên Chúa, thì cho rằng
"lý trí con người có thể nhận biết Thiên
Chúa" là sai lầm; Và như vậy lập trường
"không có ân sủng con người không thể nhận
biết Thiên Chúa" là đúng đắn.
Thế nhưng, liệu
có tình trạng "tự nhiên thuần túy" (natura pura)
không? Hay đây chỉ là cách phân biệt trên lý thuyết
nhằm cho thấy con người luôn luôn là tạo vật
tùy thuộc Thiên Chúa, không có Thiên Chúa trợ giúp con
người không thể làm gì tốt được. Không
thể có địa đàng hay thiên đàng độc
lập với Thiên Chúa, không thể có hạnh phúc đích
thực nếu không sống trong Thiên Chúa. Con người
chỉ hạnh phúc đích thực nếu kết hiệp
với Thiên Chúa, nếu sống trong Thiên Chúa.
Phải chăng khi Thiên
Chúa tạo dựng con người, là Thiên Chúa đã tạo
dựng con người cho Thiên Chúa, là Thiên Chúa đã nâng con
người lên làm con cái Thiên Chúa, là Thiên Chúa đã luôn bao
bọc con người bằng tình yêu của Ngài,[73] và
Thiên Chúa không bao giờ ngừng yêu thương con
người vì Thiên Chúa là tình yêu? Như vậy, phải
chăng tình trạng "thuần túy tự nhiên" không
tồn tại thực sự mà chỉ là phân biệt
của lý trí con người mà thôi?
Như vậy, nếu quan niệm từ đời
đời Thiên Chúa đã yêu thương con người và
không có thời điểm nào vắng ân sủng nơi con
người, thì lập trường "lý trí con
người ở tình trạng tự nhiên[74] có thể nhận biết
Thiên Chúa" là hoàn toàn đúng đắn.
Ðối với chúng ta,
hai mệnh đề "lý trí con người có thể
nhận biết Thiên Chúa" và "không có ân sủng con
người không thể nhận biết Thiên Chúa" không
hề mâu thuẫn nhau nhưng bổ túc cho nhau.
"Bởi chưng
Người đã chọn ta trong Ngài trước khi
tạo thiên lập địa...; Bởi lòng yêu mến
Người đã tiền định cho ta được
phúc làm con..." (Eph 1:4-5). Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8.16),
Người đã yêu chúng ta trước khi tạo dựng
nên chúng ta, trước khi tạo thiên lập địa.
Như vậy Thiên Chúa đã yêu con người và muốn
con người nhận biết chân lý (1Tm 2,4); con
người luôn sống trong ân sủng của Thiên Chúa, và
không có gì tốt lành nơi con người mà không nhờ ân
sủng của Thiên Chúa.
Con người
được tạo dựng để hướng
về Thiên Chúa,[75] và như vậy nếu
chấp nhận nơi con người có một ước
muốn tự nhiên hưởng kiến Thiên Chúa, thì cũng
không làm giảm gía trị của ân sủng hay sự can
thiệp "hiện tại" của Thiên Chúa nơi
mỗi con người trong từng thời điểm
của đời họ.[76] Thiên Chúa đã tạo
dựng con người cho Thiên Chúa, thế nên với
ước muốn tự nhiên hay bẩm sinh, con
người luôn hướng về Thiên Chúa, luôn tìm kiếm
Thiên Chúa như cùng đích đời họ, dù họ ý
thức hay không ý thức,[77] cho đến khi họ
được an nghỉ nơi Ngài.[78]
Nếu
chúng ta hiểu lý trí "tự nhiên" như vậy, làm
sao chúng ta giải thích sự kiện có những
người hiện nay không nhận biết Thiên Chúa, và có
những người chỉ nhận biết Thiên Chúa sau
một thời gian dài tìm kiếm như thánh Augustin
chẳng hạn?
Con mắt con
người có thể nhìn thấy sự vật, nhưng
nếu vào một buổi sáng có sương mù dày
đặc thì lúc đó con mắt tự nhiên không thể
nhìn thấy sự vật tương đối xa mình.
Cũng tương tự như vậy trong việc lý trí
con người nhận biết Thiên Chúa. Nếu một
người không nhận biết Thiên Chúa hiện hữu,
thì có thể vì một ngăn cản nào đó, chẳng
hạn như họ nhận một nền giáo dục vô
thần quá mạnh, hoặc vì hoàn cảnh xung quanh qúa
đen tối che lấp lý trí, hoặc vì họ cố tình
không muốn nhìn, v.v.! Cũng chính vì những lý do này mà các
tư tưởng gia hữu thần được
mời gọi để đưa ra những lý chứng
hầu giúp những người chưa nhận biết
Thiên Chúa thấy được rằng Thiên Chúa hiện
hữu. Những lý chứng này có thể được coi
là ân sủng giúp người chưa nhận biết Thiên
Chúa, gạt bỏ những ngăn trở như những
lớp sương mù để nhận biết Thiên Chúa.
Với thánh Augustin, những lời giảng của thánh
Ambroise là ân sủng Thiên Chúa ban cho ngài, giúp ngài nhận ra
Thiên Chúa là chân lý vĩnh cửu.
Con mắt tự nhiên
của con người sẽ nhìn thấy đối
tượng mà sương mù đã làm nó không thấy khi
sương mù tan đi; cũng tương tự như
vậy lý trí tự nhiên của con người sẽ
nhận biết Thiên Chúa khi những ngăn cản ấy không
còn nữa. Thánh Phaolô cũng không hiểu tại sao dân Do
thái phần đông không nhận biết Ðức Giêsu là Thiên
Chúa (Rm 9-11). Chúng ta biết Thiên Chúa có thể dùng con
người là phương tiện để thông ban ân
sủng cho con người; chẳng hạn các nhà truyền
giáo với lời rao giảng, là ân sủng cho những
người chưa được nghe nói về Thiên Chúa và
về Ðức Giêsu Kitô, v.v.! Thời điểm cất ngăn
cản của Phaolô là thời điểm ngài trên
đường đi Damas (Cv 9), còn thời điểm ân
sủng đặc biệt đối với Inhaxiô Loyola là
biến cố tại Pampeluna.
Với thánh Augustin,
những ngăn trở làm lý trí không nhận biết Thiên
Chúa được cất đi nhờ ơn soi sáng.[79] Lý
trí có khả năng nhận biết chân lý,[80] và lý trí cũng
được một ánh sáng đặc biệt soi
chiếu để nhận biết chân lý vĩnh cửu.[81] Linh
hồn con người có khả năng nhận biết
chân lý, nhưng linh hồn cũng cần được ánh
sáng là chính Thiên Chúa soi sáng để nhận biết sự
khôn ngoan đích thực, nếu linh hồn không
được ánh sáng đặc biệt soi chiếu thì
linh hồn không thể đạt được chân lý
vĩnh cửu.[82] Thánh Thomas, trong nỗ
lực với thánh Augustin, cho rằng "ánh sáng mà nhờ
đó tinh thần chúng ta tri thức (nói theo kiểu của
thánh Augustin), chính là trí năng tác động.[83]" Theo thánh Thomas, linh hồn
sở hữu ánh sáng này không phải tự mình mà có, tuy dù
vẫn là một với nó.[84]
Nếu
giả như có tình trạng Thiên Chúa
tạo dựng con người mà Ngài chưa có ý
định cho con người thông hiệp với Ngài,
thì qủa thực lý trí tự nhiên của con người
ở tình trạng đó không thể biết Thiên Chúa.
Nhưng điều giả sử trên không thực hữu,
vì trước khi tạo dựng con người Thiên Chúa
đã yêu con người (Eph 1:4-5), và như vậy không bao
giờ Thiên Chúa ngừng yêu con người, nghĩa là, không
bao giờ thiếu vắng ân sủng của Thiên Chúa cho con
người. Như vậy chúng ta có thể nói, lý trí tự
nhiên của con người có thể nhận biết Thiên
Chúa.[85]
Tri thức thường được hiểu là hành
vi của lý trí, không có sự can thiệp của ý chí,
chẳng hạn 2+2=4. Nhưng có khi lý trí chịu sự chi
phối của ý chí tự do, thì tri thức là "tri
thức tự do,” chẳng hạn "anh biết, em yêu
anh" hay “tôi biết Thiên Chúa hiện hữu,” là tri
thức tự do, đây là tri thức do tin.
1. Tin hay không tin, hành vi
tự do
Thiên Chúa có hiện
hữu hay không? Ðiều này tùy bạn tin hay không
tin, tùy bạn tin "Thiên Chúa hiện
hữu" hay bạn tin "Thiên Chúa không hiện
hữu.” Tin có Thiên Chúa hay tin không có Thiên
Chúa, là do tự bạn.[86] Bạn có tự do
để phán đoán về điều này. Tin "có
Thiên Chúa" hay "không có Thiên Chúa,” là tri thức tự do.
Chúng ta thấy có nhiều người tin Thiên
Chúa hiện hữu, và cũng thấy có người tin không
có Thiên Chúa.
Tin
là hành vi thuộc lý trí hay thuộc ý chí? Thánh Augustin nói, tin là
suy tư với sự thuận lòng.[87] Với thánh Albert Cả,
tin chính yếu hệ tại sự thuận lòng,[88] và
suy tư chỉ là tùy phụ.[89] Còn với thánh Thomas,
sự thuận lòng và suy tư gần như ngang bằng
nhau[90] nơi
đức tin. Thánh Thomas cho rằng, sự thuận lòng mà
có, thì không bởi suy tư nhưng do ý chí.[91] Lý trí có thể thuận
lòng hay chấp nhận một điều gì đó dù không
được lý giải hoàn toàn khi ý muốn nghiêng
chiều và chọn điều đó.[92] Tin, xét như sự
thuận tình cố ý, không là một ý kiến
được củng cố bởi những suy tư hay
lý luận; bởi vì những lý luận dù có nhiều bao
nhiêu đi nữa thì ý kiến vẫn không thể
đạt đến mức chắc chắn trăm
phần trăm; cái yếu tố quyết định trong
hành vi tin, là ước vọng sống vĩnh cửu.[93] Ước
vọng sống vĩnh cửu là động lực tác
động trên lý trí, để lý trí đi đến
sự thuận tình, để lý trí chấp nhận. Nói theo
ngôn ngữ của thánh Thomas, trong tri thức bởi tin, ý
chí đóng vai trò ưu tiên, vì lý trí nghiêng chiều theo
những gì ý chí muốn, không phải vì lý trí thấy
điều đó đúng hiển nhiên, nhưng vì ý chí
muốn.[94] Ý
chí muốn điều này (chẳng hạn như "Thiên
Chúa hiện hữu") bởi vì nơi con người
đã có ước vọng sống vĩnh cửu, đã có
khát vọng hướng về Sự Thiện tuyệt
hảo.[95]
Ý chí là nghiêng chiều
theo lý trí thấy đúng, nó tuỳ thuộc sự lãnh
hội hay hiểu biết của lý trí.[96] Nhưng đảo
lại, ý chí có thể có ảnh hưởng mang tính
quyết định trên lý trí một khi ý chí chọn
một phán đoán nào đó như điều nó muốn.
Như vậy, một người có thể tin ai về
điều gì đó khi họ thấy nơi điều
đó có những ích lợi.[97]
Phải
chăng có một trục trặc nào đó khi khẳng
định: "dưới tác động của ý chí, lý
trí thuận tình dù không hiển nhiên,” và "ý chí là khuynh
chiều theo lý trí?" Phải chăng chúng ta đang ở
trong vòng luẩn quẩn: một đàng khẳng
định lý trí thuận tình vì ý chí tác động, và
mặt khác khẳng định ý chí là ý chí tự do
thực sự khi tuân theo lý trí?
Chúng ta không ở trong
vòng luẩn quẩn. Lý trí có thể biết Thiên
Chúa hiện hữu, và hơn nữa chúng ta có thể nói, lý
trí biết Thiên Chúa hiện hữu. Tuy vậy,
cái biết này là tri thức không thể chứng minh
được, bởi lẽ không thể nại vào
bất kỳ một tri thức nào khác để chứng
minh, vì những tri thức khác đều "ở
dưới" tri thức này, nếu nó được
chứng minh thì giá trị của nó chỉ ngang bằng
hoặc thấp hơn cái biết được dùng làm
tiêu chuẩn để chứng minh. Tuy không được
chứng minh, nhưng cái biết này không thể
được hiểu là cái biết "có thể sai"
hoặc "không đáng tin" với lập luận
rằng nó không được chứng minh, vì đây là tri
thức uyên nguyên, cơ bản.[98] Như vậy, không có gì mâu
thuẫn trong khẳng định lý trí thuận tình
vì ý chí đã chọn, và ý chí tự do đích
thực tuân theo lý trí.
Tin Thiên Chúa (hiện
hữu) là tri thức "không thể chứng minh,” nó không
buộc con người phải chấp nhận như tri
thức toán học 2+2=4, con người tự do chấp
nhận tri thức này hay không! "Thiên Chúa hiện
hữu" là tri thức tự do, và là tri thức làm con
người tự do đích thực nếu con
người chấp nhận tri thức này. Con người
có thể không chấp nhận tri thức này, và lúc đó ý
chí con người là ý chí không tự do đích thực dù ý
chí vẫn luôn là ý chí tự do. Không có sự can thiệp
của ý chí, con người không buộc phải
chấp nhận tri thức này, vì tri thức "Thiên Chúa hiện
hữu" này không buộc con người phải chấp
nhận hiểu như tri thức được
chứng minh.[99]
Con người với ý
chí tự do, có thể chọn thoả mãn khoái lạc xác
thịt; và con người có thể dùng lý trí để
biện minh cho chọn lựa của mình. Dù con
người dùng lý trí để biện minh cho chọn
lựa nghiêng chiều về thoả mãn xác thịt,
nhưng như vậy không có nghĩa là con người theo
những gì lý trí lãnh hội. Lý trí ở đây không
được dùng để tri thức nhưng để
biện minh cho chọn lựa của con người.
Với những người này, tri thức "Thiên Chúa
hiện hữu" khó có thể được chấp
nhận, và họ đòi "cần phải
được chứng minh.”
Không chỉ những
người chọn thỏa mãn khoái lạc xác thịt
mới khó chấp nhận tri thức "Thiên Chúa hiện
hữu,” mà cả những người đề cao mình quá
độ cũng khó chấp nhận "Thiên Chúa hiện
hữu.” Những người này muốn coi họ là trung
tâm của tất cả, là tiêu chuẩn để phán
đoán, v.v. Ðây là những người "rất yêu
mình" nên rất dễ tự ái. Họ đã chọn
họ, nên khó chấp nhận một tha thể trổi
vượt hơn họ, dù là Thiên Chúa.[100]
"Tin Thiên Chúa hiện
hữu" là tri thức tự do, nghĩa là, chủ
thể chấp nhận tri thức này theo sự lựa
chọn của ý chí. Nhưng chúng ta có thể đặt câu
hỏi: tại sao chủ thể lại chọn theo khuynh
chiều lý trí? tại sao chủ thể lại theo ý chí?
a. Các khuynh chiều nơi con
người
Con người là tinh
thần nhập thể. Chúng ta nhận thấy nơi mình
có nghiêng chiều, tìm thỏa mãn xác thịt hoặc tìm
đề cao chính mình; và một nghiêng chiều khác gọi
là ý chí, tìm theo những gì lý trí thấy là tốt đẹp
thiện hảo.[101]
Con người tự
do, nghĩa là, con người có thể chọn thỏa mãn
dục vọng nơi mình, hoặc có thể chọn danh
vọng đề cao chính mình, hoặc có thể làm theo
điều lý trí thấy là tốt lành thiện hảo.
Tôi tự do, tôi có
thể theo dục vọng, danh vọng hoặc ý chí.
Thế nhưng tại sao tôi lại làm theo khuynh chiều
này mà không làm theo khuynh chiều kia?
b. Ân sủng tác động
trên con người
Tại sao "sự
lành tôi muốn, tôi lại không làm; còn điều xấu tôi
không muốn, tôi lại làm" (Rm 7:19)? Tại sao
điều tôi biết là đúng tôi lại không làm, mà lại
làm điều tôi cho là không đúng không tốt?
Ðể làm điều
lành tôi muốn[102] (tôi biết là đúng và
nên làm), để "tri hành hiệp nhất,” cần ân
sủng. Ðể tin Thiên Chúa hiện hữu, cũng cần
ân sủng của Thiên Chúa.
Ân sủng ở đây
được hiểu là ơn ban cho con người, giúp
người đó biết đúng và làm theo điều
họ biết là đúng, giúp người đó không làm theo
dục vọng hay danh vọng nhưng theo điều lý trí
thấy là đúng là tốt (ý chí). Nếu người
đó làm theo lý trí (thấy đúng thấy tốt),
người đó sống tự do thực sự chứ
không chỉ là tự do chọn theo nghiêng
chiều này hay nghiêng chiều kia.
Ân sủng là sự lôi
kéo, thúc đẩy tận thâm sâu con người.[103] Ân
sủng tác động vào cả lý trí lẫn ý chí con
người, khiến con người ưng thuận.[104] Ân
sủng ở đây không chỉ được hiểu
đơn thuần là ước vọng tự nhiên[105] của
lý trí đã được ban cho con người khi tạo
dựng, nhưng chủ yếu là sự thúc đẩy,[106] là
sự lôi kéo[107] trong
thời điểm hiện tại, để con
người tin Thiên Chúa và thực hành điều tốt
lành như lý trí nhận thấy.
Ân sủng tác
động trên ý chí,[108] lôi kéo thúc đẩy con
tim[109] để
con người tin vào Thiên Chúa. Con người tin Thiên Chúa,
không phải vì ân sủng làm cho lý trí thấy điều
mình tin là hiển nhiên, nhưng ân sủng làm cho con người
ưng thuận theo điều lý trí nhận thấy là
đúng (ý chí).[110]
Tin
là phán đoán, là ý kiến, là tri thức. Một phán
đoán, một ý kiến có thể đúng hoặc sai. Khi một
chủ thể tin có điều gì hay tin
ai đó, hàm chứa chủ thể có sự chắc
chắn nào đó xét về phương diện tâm lý.
Với một
đối tượng có thể kiểm chứng thực
nghiệm, người ta có thể biết điều mình
tin là đúng hoặc sai, nhưng
không như vậy đối với đối
tượng không thể kiểm chứng được.
Với những người tin có Thiên Chúa
và tin vào Thiên Chúa, họ chắc chắn
rằng điều họ tin là chân thực dù đối
tượng họ tin không thể kiểm chứng thực
nghiệm được. Sự chắc chắn nơi
những người tin có Thiên Chúa có nhiều
cấp độ, có thể còn có chút nghi ngờ nhưng
cũng có thể có sự chắc chắn tuyệt
đối. Vậy do đâu nơi họ có sự chắc
chắn tuyệt đối này, và tri thức bởi
đức tin này là gì?
Không phải mọi
người đều thấy niềm tin "Thiên Chúa
hiện hữu" của tôi là chắc chắn, nhưng
chỉ có tôi và những người chia sẻ cùng niềm
tin với tôi mới thấy "Thiên Chúa hiện
hữu" là chắc chắn đúng. Với tôi, "Thiên
Chúa hiện hữu" là chân lý, là tri thức tuyệt
đối chắc chắn. Sự chắc chắn chỉ
có nơi chủ thể tin.
Thiên Chúa không là
đối tượng của khoa học thực
nghiệm. Nếu khoa học thực nghiệm đòi
kiểm chứng "Thiên Chúa,” thì Thiên Chúa này chỉ là
đối tượng khả giác mà thôi, và không là Vị
Thiên Chúa thật mà tôi tin nữa. Tuy vậy nơi chủ
thể tin, sự chắc chắn "Thiên Chúa hiện
hữu" không chỉ bằng mà còn hơn sự chắc
chắn của một tri thức khoa học thực
nghiệm.[111]
Nếu một
người tin có Thiên Chúa, và nếu
niềm tin có Thiên Chúa này chỉ là niềm tin
vào mình, như ý kiến của mình, thì sự chắc
chắn của niềm tin này không tuyệt đối; còn
nếu niềm tin có Thiên Chúa hàm chứa niềm tin
vào Thiên Chúa trước niềm tin vào mình,
thì sự chắc chắn nơi người tin Thiên Chúa
(hiện hữu) là tuyệt đối.[112]
Sự chắc chắn
tâm lý nơi chủ thể tin có Thiên Chúa, trong trường
hợp tin có Thiên Chúa hàm chứa trong tin
vào Thiên Chúa, không nằm trong tầm phê bình của
Nietzsche, bởi vì lời phê bình của Nietzsche chỉ có giá
trị đối với niềm tin có hàm
chứa trong niềm tin vào mình.[113]
Sự chắc chắn
tâm lý tuyệt đối nơi chủ thể tin có Thiên
Chúa, không chỉ đơn thuần là loại bỏ
những mâu thuẫn và tính bất khả trên bình diện lý
trí, nhưng còn là thấy đối tượng tin
"khả tín,” và nhất là thấy mình phải tin.[114] Nhưng
như vậy cũng chưa đủ, cần phải
được chủ thể ưng thuận điều
lý trí thấy. Nói bằng một ngôn từ khác, sự
chắc chắn nơi chủ thể tin Thiên Chúa hệ
tại nơi con tim nữa, chứ không chỉ nơi lý
trí.[115]
Chính nhờ ân sủng
tác động trên chủ thể, làm chủ thể gắn
bó, chấp nhận và yêu mến Thiên Chúa ngôi vị; Và chính
vì yêu mến và chấp nhận Ngôi Vị Tuyệt Ðối
này, mà chủ thể thấy điều mình tin là chắc
chắn tuyệt đối. Sự chắc chắn chủ
thể tin có được, không phải nhờ lý trí
kiểm chứng một cách thực nghiệm như
một chân lý khoa học, nhưng nhờ chủ thể
chấp thuận theo ý chí.[116]
2. Chắc chắn do uy
quyền tuyệt đối
Không ai không sai lầm,[117] nhưng
không phải lúc nào con người cũng sai lầm!
Nếu chỉ là do con
người và tự sức mình, và nếu khi giữa con
người với nhau cũng có những khẳng
định khác nhau, thì làm sao một người dám
chắc chắn tuyệt đối rằng nhận
thức của mình đúng? Sự chắc chắn tuyệt
đối chỉ có khi con người cậy dựa vào
một thực tại tuyệt đối mà thôi.
Sự chắc chắn
mà chủ thể tin Thiên Chúa hiện hữu có,
là tương đối, nếu tin có Thiên Chúa chỉ
là tri thức hoàn toàn do lý trí con người. Nhưng có
sự chắc chắn tuyệt đối, nếu tin
có Thiên Chúa là tri thức hàm chứa trong niềm tin
vào Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa, với tình yêu và ân sủng
của Ngài, làm chủ thể tin có sự
chắc chắn tuyệt đối.
Tin
có cái gì, hàm chứa tin vào ai.
Nếu tin có cái gì chỉ là niềm
tin vào mình, thì phán đoán tin có này không có sự
chắc chắn tuyệt đối. Còn nếu tin
có này, không chỉ là tin vào mình mà là tin
vào Thiên Chúa nữa, thì phán đoán tin có này
có sự chắc chắn tuyệt đối. Nói theo J.
Truetsch, tôi tin Thiên Chúa hiện hữu vì tôi tin vào Thiên Chúa, và
tôi tin vào Thiên Chúa vì tôi tin tưởng phó thác tất cả
cho Thiên Chúa.[118] Nói
theo hồng y Billot, "uy quyền của Thiên Chúa mặc
khải phải được nhận biết
trước đức tin, thực vậy, trong đức
tin, chỉ có sự ưng thuận với chân lý mặc
khải nhờ uy quyền của Thiên Chúa….[119]" Còn nói theo hồng y Newman,
các luận chứng hộ giáo, kể cả phép lạ,
cũng không có khả năng thuyết phục tinh thần
con người, và các chứng cứ chỉ có giá trị
đối với người đã chấp nhận
rằng có sự can thiệp của Thiên Chúa trong thế
giới, và sự chấp nhận này đã là kết
qủa của tình yêu.[120]
Không chấp nhận
lập trường trên, có người chủ
trương rằng trong những vấn đề liên quan
đến đức tin, người ta phải giảm
thiểu tối đa việc quy chiếu vào uy quyền, và
phải can đảm viện vào lý trí với những phân
tích thuần lý để làm sáng tỏ về đức
tin.[121] Bởi
vì lý trí con người có thể chứng minh theo triết
lý rằng Thiên Chúa là Chân Lý Tối Thượng, và do đó,
điều Ngài mặc khải là chân thực; Sau đó có
thể chứng minh theo lịch sử rằng những chân
lý này là mặc khải, bằng việc nại vào các phép
lạ chứng thực Thiên Chúa đã sai gởi các sứ
giả này; Như vậy kết luận sẽ phải là:
những chân lý này đáng được tin, và rồi,
những chân lý này phải được tin.[122]
Những người
chủ trương đề cao lý trí phê bình lập
trường nại vào uy quyền Thiên Chúa trong vấn
đề đức tin: phải chăng đây là vòng luẩn
quẩn? Tôi tin bởi vì Thiên Chúa đã nói. Nhưng làm sao tôi
biết Thiên Chúa đã nói? Vì có những dấu chỉ và
những phép lạ! Nhưng những dấu chỉ và
những phép lạ này cũng có thể cắt nghĩa theo
một chiều hướng khác thì sao? Làm sao tôi dám chắc
rằng những dấu chỉ hoặc những phép lạ
đó chỉ có ý nghĩa đó thôi? Như vậy phải
chăng rốt cuộc tôi cũng phải tin rằng
những dấu chỉ hay những phép lạ này chỉ có
nghĩa như điều tôi tin? Phải chăng
để tin Thiên Chúa, cần có các dấu chỉ hay phép
lạ; và để tin phép lạ hay dấu chỉ này có nghĩa
nhằm chỉ Thiên Chúa, thì phải tin là Thiên Chúa đã
tạo ra các dấu chỉ và phép lạ?[123] Và như vậy phải
chăng tôi rơi vào lưỡng luận: hoặc là tôi tin
Thiên Chúa hiện hữu trước mọi nhận
thấy của lý trí, và hậu qủa là tôi đã tin mù
quáng; hoặc là tôi tin Thiên Chúa hiện hữu hoàn toàn do lý
luận, và hậu qủa là không cần sự can thiệp
của ý chí tự do thuận tình?[124]
Chúng ta, những
người tin Thiên Chúa, không rơi vào thế lưỡng
luận của những người qúa đề cao lý trí
trình bày ở trên, bởi vì với chúng ta, tin không chỉ là
hành vi lý trí nhưng còn là hành vi tự do nữa, tin
không chỉ do lý trí nhận biết thuần lý nhưng còn
là sự thuận tình của con tim của ngôi vị
nữa. Chúng ta cũng không nằm trong vòng luẩn quẩn,
vì đối với chúng ta, tin là tri thức tự do; Chúng
ta chắc chắn điều mình biết là đúng cách
tuyệt đối không phải nhờ kiểm chứng
cách thực nghiệm như những tri thức thực
nghiệm, mà nhờ chúng ta ưng thuận với ý chí
(tức lý trí với chức năng là tri thức chứ
không phải là biện minh cho những chọn lựa
của con người, tức lý trí với hành vi tiên
khởi là thuận theo chân thiện mỹ). Ở bình
diện ưng thuận của ngôi vị theo ý chí này (khuynh
hướng tuân theo lý trí nhận thức chân thiện
mỹ), chúng ta không giải thích được sự
chắc chắn chủ thể tin có. Sự chắc
chắn tuyệt đối chủ thể tin Thiên Chúa
hiện hữu chỉ có thể lý giải được
nhờ uy quyền của Thiên Chúa. Như vậy chúng ta
thấy, để tri thức thì không đòi biện minh,
nhưng để có sự chắc chắn "phản
tỉnh" thì cần có sự minh giải. Nói như
vậy không phủ nhận sự kiện: dù không minh
giải được, chủ thể tin vẫn có thể
có sự chắc chắn tuyệt đối rằng điều
mình tin là đúng.
Ðể có sự chắc
chắn tuyệt đối trong tri thức về
điều gì đó, và để có thể lý giải
điều đó được, để không rơi vào
chủ nghĩa duy hoài nghi hoặc hư vô, thì chúng ta
phải tin vào Thiên Chúa và con người. Nếu không
tin vào Thiên Chúa thì cũng không thể tin vào con người
đích thực, và nếu chúng ta không tin vào khả năng
con người thì chúng ta cũng khó (nếu không
muốn nói là không) tin vào Thiên Chúa. Nếu không
tin vào (khả năng) con người, chúng ta rất dễ
rơi vào thuyết duy hoài nghi, và nếu không tin vào Thiên Chúa
thì chúng ta có thể buông thả theo chủ thuyết hư vô!
Ðể có thể lý
giải hay biện minh điều gì, chúng ta cần có
một tiêu chuẩn để quy chiếu và lý luận.
Nếu chúng ta không chấp nhận có một tiêu chuẩn,
chúng ta sẽ rơi vào chủ thuyết duy hoài nghi; Vì
những người theo chủ thuyết duy hoài nghi luôn
phủ nhận mọi tiêu chuẩn mà những người
khác tựa vào để chứng minh[125]. Tiêu chuẩn để lý
giải về đức tin của chúng ta ở đây, là
cả con người lẫn Thiên Chúa; Chúng ta tin vào khả
năng của con người cũng như (uy quyền)
Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là bảo đảm cho nhận
thức của con người, và cũng nhờ lý trí mà con
người nhận biết Thiên Chúa. Tính khả tín của
niềm tin khởi đầu với lý trí con người,
và con người chỉ có sự chắc chắn
tương đối về niềm tin của mình; Con
người chỉ có sự chắc chắn tuyệt đối
về niềm tin "Thiên Chúa hiện hữu" nhờ
Thiên Chúa và uy quyền tuyệt đối của Ngài,
một khi con người ưng thuận với tri
thức không thể kiểm chứng thực nghiệm này.
Chính nhờ ân sủng mà
ngôi vị chủ thể tin ưng thuận theo lý trí tự
do, theo khuynh chiều mà lý trí tự do đã nhận
thấy. Chính nhờ đó mà chủ thể tin có sự
chắc chắn tuyệt đối về điều mình
tin.
Tình
yêu là tương quan giữa hai ngôi vị. Tình yêu
được biểu lộ cách cụ thể và khách quan,
gọi là ân sủng hay hồng ân!
Tin là tri thức tự
do, là hành vi của lý trí và ý chí; nhưng nếu không có ân
sủng, người ta không thể lý giải tại sao
một người lại tin nhận Thiên Chúa với
sự chắc chắn tuyệt đối.
Thánh Augustin trong những
cuộc tranh luận với phái Pélage, khẳng định:
tin là quà tặng của ân sủng;[126] và trong cuộc tranh
luận với phái Semi-pélagianisme Ngài nói: khởi đầu
hành vi tin cũng do ân sủng;[127]
Tin là hành vi của lý trí
và ý chí tự do, nhưng có thể nói: tin chủ yếu là
ân sủng. Theo thánh Thomas, nguyên nhân đích thực của
đức tin chính là tác động của Thiên Chúa trên con
người.[128] Thánh Gioan ghi lại
lời của Ðức Giêsu: "không ai đến
được với Ta nếu không được Cha Ta
lôi kéo" (Ga 6:44). Công đồng chung Vatican I và các công đồng
trước đó cũng có cùng quan điểm này.[129]
Ân sủng bao phủ con
người, thấm nhập con người trong mỗi
hành vi. Trong hành vi tin cũng vậy, tất cả
đều do ân sủng, thậm chí đức tin không được
biểu lộ bằng đức mến cũng là hồng
ân của Thiên Chúa[130]; và như vậy ngay cả
đức tin của những người lạc giáo và
đức tin của ma qủy[131].
Ân sủng là tình yêu
của Thiên Chúa đối với con người. Thiên Chúa
đã tạo dựng con người, và tạo dựng là
ân sủng. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con
người không chỉ dừng lại nơi công cuộc
tạo dựng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục quan phòng và
nâng đỡ tạo thành, Thiên Chúa vẫn biểu lộ
tình thương đặc biệt của Ngài đối
với con người qua ân sủng mà Ngài ban cho họ. Ân sủng
của Thiên Chúa thấm nhập và tác động trên lý trí
con người, trên ý chí con người, và trên ngôi vị
xét như một thực thể duy nhất sở hữu
lý trí.
2. Ân sủng tác
động trên chủ thể tin
Con người là tinh
thần nhập thể. Như vậy chính qua vật
chất mà con người siêu vượt để gặp
gỡ ngôi vị. Tạm gác qua một bên ân sủng xét
như những dấu chỉ bên ngoài mà con người
cần có để siêu vượt, bây giờ chúng ta bàn
đến ân sủng tác động nơi con người
xét như chủ thể tin.
Ân sủng, thực
tại biểu lộ tình thương của Thiên Chúa
đối với con người, còn được
gọi là "sự thúc đẩy nội tâm" và
"ánh sáng đức tin."[132]
Ánh sáng đức tin là
ân sủng được phú ban cho con người,[133] giúp
người tin có một "con mắt mới,”[134] giúp
họ nhận ra chứng từ của Thiên Chúa,[135] giúp
con người phán đoán về tính khả tín,[136] và
thấy mình phải tin.[137]
Như vậy chúng ta
thấy, ánh sáng đức tin là một từ ngữ
để chỉ một thực tại được ban
cho con người, khi thì tác động trên lý trí giúp
con người thấy điều mình tin là chắc
chắn đúng,[138] khi thì tác động trên ý
chí để chủ thể tin thuận lòng,[139] nhưng
thường được dùng để chỉ thực
tại tác động trên lý trí nhiều hơn.[140]
Lý trí với ánh sáng
của ân sủng, nhận ra dễ dàng hơn thực
tại siêu việt; chẳng hạn khi nhận thức mình
là thực thể hữu hạn, lý trí với ánh sáng của
ân sủng, nhận ra rằng có một thực tại siêu
việt là nền tảng của thực tại hữu
hạn là tôi. Chúng ta nói, với ánh sáng của ân sủng
chúng ta nhận ra thực tại siêu việt và những chân
lý vĩnh cửu dễ dàng hơn, vì với ân
sủng "tự nhiên" của lý trí, con người
cũng có thể nhận ra thực tại siêu việt. Ðây
chỉ là một phân biệt trên nguyên tắc, vì chúng ta không
thể tách biệt thời điểm của ân sủng
"tự nhiên" và ân sủng "siêu nhiên,” vì khi tạo
dựng con người, Thiên Chúa đã tạo dựng
để họ chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa:
"Thiên Chúa muốn con người được cứu
độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2:4). Ân sủng
và tình yêu, là tương quan của Thiên Chúa đối
với con người.
"Không ai có thể nói
Giêsu là Chúa mà không bởi Thánh Thần" (1Cr 12:3). "Không
ai có thể đến với Ta nếu không
được Cha Ta lôi kéo" (Ga 6:44). Nói rộng
hơn, để tin Thiên Chúa cần ân sủng của Ngài.
Ân sủng tác động trên ý chí con người, tăng
cường ước muốn của con người.
Nơi con người,
không chỉ có khuynh chiều thỏa mãn xác thịt, mà còn có
khuynh chiều thỏa mãn tình cảm, và khuynh chiều theo lý
trí nữa.[141] Trong
thực tế không phải tất cả những
điều chúng ta thấy đúng chúng ta đều làm theo,
"sự lành tôi muốn tôi lại không làm, còn việc
xấu tôi không muốn tôi lại làm" (Rm 7:19). Cho nên ân
sủng của Thiên Chúa củng cố và làm cho ý chí của
chúng ta trở nên mãnh liệt so với các khuynh chiều khác
nơi chúng ta.
Một số nhà
thần học và triết học còn nói đến
ước vọng "tự nhiên" (desiderium naturale)
nơi con người. Nếu có ước vọng "tự
nhiên,” liệu có cần sự trợ giúp của ân
sủng? Ðể trả lời, chúng ta nói: nếu
ước vọng "tự nhiên" này hiện hữu,
thì "ước vọng tự nhiên" này cũng là
ước vọng "siêu nhiên" (desiderium surnaturale),
hiểu theo nghĩa đã có sự trợ giúp của ân
sủng. Chúng ta không đồng ý tách biệt "tự
nhiên- ân sủng,” như thể có một thời là tự
nhiên, và sau đó mới là thời ân sủng. Theo cách nhìn
của chúng ta, không có "tự nhiên" nào mà không có
"ân sủng!" Tất cả được ân
sủng bao phủ và thấm nhiễm tận thâm sâu. Thiên
Chúa tạo dựng và Ngài luôn nâng đỡ quan phòng tạo
thành bằng ân sủng của Ngài. Không thể tách biệt
"tự nhiên" ra khỏi "ân sủng.” Chúng ta
chỉ có thể phân biệt trên lý thuyết, nhằm
để hiểu ân sủng hơn mà thôi; chỉ trong nhãn
quan này thì việc phân biệt mới có thể chấp nhận
được.
Con người cảm
thấy nơi mình khuynh chiều nhục dục
nhằm thỏa mãn xác thịt, khuynh chiều tình dục
nhằm thỏa mãn cái tôi vị kỷ thích được
đề cao, và khuynh chiều làm theo lý trí thấy đúng
(cũng chủ thể gọi là ý dục hay ý chí). Nhưng
con người tự do với những khuynh
chiều này. Con người có thể thuận
lòng theo khuynh chiều này hoặc khuynh chiều kia.
Tôi tự do.
Tôi, ở đây, là
thực thể duy nhất bất khả phân chia, là tinh
thần qua thân xác. Qua thân xác và thế giới vật
chất, tôi biết điều này điều kia; cũng
qua thế giới vật chất, tôi siêu vượt: tôi có
thể tin và gặp gỡ những ngôi vị khác.
Trong hành vi tin Thiên
Chúa, ân sủng của Thiên Chúa làm tôi thuận lòng theo ý
chí (khuynh chiều theo lý trí). Ân sủng của Thiên Chúa không
chỉ như ánh sáng soi sáng, mà còn như ơn thúc
đẩy và lôi kéo ý chí, và hơn nữa, ân sủng tác
động trên chính ngôi vị để ngôi vị thuận
lòng với ý chí.
Ý chí là khuynh chiều theo
lý trí, theo như lý trí thấy đâu là tốt là phải
làm. "Lý trí thấy đâu là thiện hảo"
được hiểu như lương tâm, lương
tri. Con người tuy nhận thấy tiếng lương
tâm dạy bảo phải làm điều này không
được làm điều kia, nhưng con người
vẫn tự do để làm theo tiếng lương tâm
mách bảo hay không! Cũng tương tự như vậy
chúng ta thấy chúng ta tự do đối với khuynh chiều
của xác thịt, của tình cảm, và cả của lý
trí nữa.[142]
Tin là tri thức tự
do. Tin là hành vi chủ thể ưng thuận theo
điều lý trí nhận thấy. Tin là hành vi chủ
thể siêu vượt để gặp gỡ ngôi vị,
là gắn bó với ngôi vị, là tình yêu với ngôi vị
đó. Tình yêu là tương quan giữa hai ngôi vị
theo lý trí. Tình yêu là ưng thuận và chấp
nhận ngôi vị như ngôi vị đó là. Tin
cũng là ưng thuận và chấp nhận ngôi vị, và
hơn nữa, còn là sự phó thác nơi ngôi vị mình tin;
Và chính vì chấp nhận và phó thác nơi ngôi vị mình tin,
mà chủ thể tin có sự chắc chắn chủ quan
ở một mức độ nào đó.[143]
Từ tri thức và
từ các khuynh chiều đến ưng thuận, chọn
lựa, quyết định, là một bước nhảy
dài và kỳ diệu! Tại sao tôi lại ưng thuận
hay chọn người này chứ không phải ai khác? Tình
yêu là ân sủng Thiên Chúa ban cho con người; Không phải
tôi muốn yêu ai là tôi yêu người đó! Yêu là một
ơn, và cũng cần có ân sủng để yêu! Cũng
tương tự như vậy, ưng thuận hay
chọn Thiên Chúa, là một ơn. Ðể ưng thuận hay
chọn Thiên Chúa, cần có ân sủng của Ngài. Ngoài
những lý do thứ yếu là khuynh chiều nào mạnh
cũng như nhận thức của tôi, thì lý do chính
yếu và nền tảng của tất cả, đó là
sự can thiệp của Thiên Chúa nơi con người tôi
cách thâm sâu nhất. Thánh Inhaxiô Loyola nói trong sách Linh Thao:
"Chỉ có Thiên Chúa, Chúa chúng ta mới ban ơn an ủi
cho linh hồn mà không cần có nguyên do trước, vì
quyền riêng của Ðấng Tạo Hóa là vào ra đánh
động linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh
hồn vào yêu mến Ngài" (LT 330). Như vậy thánh
Inhaxiô Loyola cũng quan niệm: chỉ có Thiên Chúa
mới tác động đến tôi cách uyên nguyên và hữu
hiệu nhất, chỉ có Thiên Chúa mới thay đổi
được tôi cách sâu xa mà tôi vẫn tự do, chỉ có
Thiên Chúa mới có thể làm tôi ưng thuận và chọn
lựa Ngài. Thiên Chúa quan phòng và tác động trên tôi
bằng tình yêu và ân sủng của Ngài, Ngài làm tôi ưng
thuận và tin yêu Ngài.
Tin là tri thức tự
do, là tri thức chỉ có với sự ưng thuận
của chủ thể. Chính tự chủ
thể và do chủ thể mà tri thức đó
có hay không có. Chẳng hạn tôi tin có Thiên Chúa; đây là tri
thức của tôi do tự tôi, những ai không tin không
thể có tri thức này. Tri thức này có, là do tôi tin vào
khả năng của tôi, nên nó có một sự chắc
chắn chủ quan nào đó. Sự chắc chắn này không
tuyệt đối nếu nó chỉ là niềm tin vào
tôi xét như một con người bình thường
có thể sai lầm. Nhưng nếu niềm tin có Thiên Chúa
của tôi không chỉ là niềm tin vào tôi mà còn là
niềm tin phó thác vào Thiên Chúa nữa, thì sự
chắc chắn này tuyệt đối. Ở đây, tin là
tri thức siêu vượt, và tri thức siêu vượt này
không chỉ làm tôi gặp tôi nhưng còn giúp tôi gặp
gỡ với một Tuyệt Ðối hoàn toàn khác tôi
nữa. Ở một mức độ cao hơn nữa,
tin là tin tưởng phó thác cho ngôi vị mình tin, và nếu
ngôi vị mình tin là Tuyệt Ðối thì sự phó thác này
cũng có tính tuyệt đối. Ðây là đức tin
của các kitô hữu.
Qua hành vi tin hay siêu
vượt, tín hữu gặp gỡ ngôi vị
tuyệt đối, nhận ra ngôi vị tuyệt
đối là tình yêu, nhận ra ngôi vị tuyệt
đối yêu thương mình, và mình phó thác tất cả
cho Thiên Chúa tuyệt đối.
Cũng tương
tự và một cách loại suy như tương quan
giữa hai con người yêu thương nhau, tri thức
của người này có thể là tri thức của
người kia vì được thông ban chia sẻ cho nhau,
nên tri thức của một tín hữu cũng có thể
vượt xa hơn tri thức của một người
"yêu ít" hoặc không có tình yêu rất nhiều. Ðây là
tri thức nhờ tình yêu, do ân sủng, và chỉ có
được nếu được ưng thuận và
tiếp nhận. Sự ưng thuận chân lý mặc
khải chỉ có thể, nếu ngôi vị đã ưng
thuận ngôi vị. Ưng thuận ở đây đã là
tình yêu.
Tình yêu là trở nên
một giữa hai ngôi vị (giữa những ngôi vị),
là sự hòa hợp giữa hai ngôi vị.[144] Ðỉnh cao của tình yêu
là trở nên một, nhưng dù trở nên một thì vẫn
là hai (vẫn nguyên vẹn là mình).[145] Tình yêu là ưng thuận,
là chấp nhận, là thông ban và chia sẻ, là cho đi
giữa hai ngôi vị (hoặc nhiều ngôi vị với
nhau).
Hai người yêu nhau có
ngôn ngữ riêng của họ mà đôi khi không cần dùng
lời để thông đạt và diễn tả,
chẳng hạn bằng ánh mắt, một nụ cười,
v.v. Những người không ở trong cuộc
thường không hiểu được những dấu
chỉ trên, nhưng những người liên hệ thì
họ hiểu rất đúng ý nhau và không bị lầm
như những người ngoài cuộc. Tin là tri thức
tình yêu, là như thế. "Con tim có những lý lẽ mà lý
trí không hiểu được.” Tri thức giữa
những người yêu nhau- họ biết về nhau- không
thể lý giải để một người không ở
trong cuộc có thể thỏa mãn hoàn toàn được.
Tri thức tình yêu này được thánh Thomas gọi là
"cognitio per connaturalitatem,”[146] nơi tiếng Việt
chúng ta có thể gọi là tri thức do đồng cảm,
đồng thanh tương ứng đồng khí
tương cầu.
Tri thức tình yêu này có
được là do ân sủng, bởi vì chính ân sủng làm
cho hai ngôi vị yêu nhau, làm cho con người ưng
thuận Ngôi Vị Thiên Chúa.[147] Và bởi vì tri thức
tình yêu là tri thức đồng cảm và được
thông ban, nên có thể nói tri thức bởi tin cũng
được đồng hóa với tri thức thần
linh trong mức độ chúng ta gắn bó với Thiên Chúa.[148] Hiểu
tin là tri thức tình yêu như vậy, nên thánh Thomas đã
thâu tóm vào tri thức bởi tin cả tri thức của
Adam lúc chưa phạm tội cũng như cả tri
thức của các nhà thần bí nữa.[149]
SỞ HỮU ĐỨC TIN
(HABITUS FIDEI)
Tri
thức tình yêu, tri thức bởi tin, có được là
nhờ tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa ban cho con
người. Ân sủng của Thiên Chúa không phá hủy
"tự nhiên" nhưng hoàn hảo hóa "tự
nhiên."[150] Chính
ân sủng Thiên Chúa biến đổi toàn diện con
người chúng ta,[151] biến đổi cả
những khuynh chiều nơi thân xác chúng ta,[152] biến đổi làm nên
mạnh mẽ khuynh chiều theo lý trí (ý chí), và làm chúng ta
thuận theo Thiên Chúa.
Ân sủng tình yêu Thiên
Chúa biến đổi chúng ta, làm chúng ta ra khác, làm chúng
ta có cái gì đó đặc biệt, và điều
này chúng ta có thể gọi là "sở hữu
đức tin" (habitus de foi), cái nhờ đức tin
mà có.
Sở hữu
đức tin làm chúng ta nhận ra chân lý,[153] làm chúng ta khuynh chiều và
gắn bó với chân lý,[154] làm chúng ta ưng thuận
chân lý vì đã ưng thuận và chấp nhận ngôi vị.
Và như vậy là tình yêu, và có sự đồng cảm.[155]
Trong
phần hai này chúng ta đã phân tích hành vi tin Thiên Chúa, và
đã nhận ra tin Thiên Chúa là hành vi nhân linh.
Thiên Chúa hiện hữu, nhưng không thể kiểm
chứng cách thực nghiệm được, vì nếu
kiểm chứng cách thực nghiệm được thì
Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa nữa, mà chỉ là
một thực thể thực nghiệm mà thôi. Những
luận cứ chứng minh Thiên Chúa hiện hữu, là
những dấu chỉ được đưa ra
để con người có thể siêu vượt.
Tin là siêu vượt, là
không ở lỳ nơi vật chất nhưng vượt
qua vật chất để vươn lên thực tại
siêu vật chất. Vật chất là dấu chỉ.
Chỉ khi nào con người siêu vượt, vươn lên
khỏi vật chất- tức là tin- thì con người
mới là tinh thần đích thực, mới là hữu
thể tự do đích thực. Lúc đó, con người
nhận ra Thiên Chúa hiện hữu.
Ðể nhận biết
Thiên Chúa, để tin Thiên Chúa, con người vẫn
cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Khi nói như
vậy không có ý muốn nói là lý trí con người không thể
nhận biết Thiên Chúa. Ân sủng của Thiên Chúa luôn luôn
bao trùm con người, không có thời điểm nào không có
ân sủng của Thiên Chúa đối với con
người, vì Thiên Chúa luôn yêu thương con người.
Ân sủng của Thiên Chúa loại bỏ những ngăn
trở, giúp lý trí con người có thể siêu vượt
để nhận biết Thiên Chúa. Tin là tri thức,
nhưng là tri thức "siêu nhiên,” hiểu theo nghĩa lý
trí con người luôn được ân sủng tác
động.
Tin là tri thức tự
do, bởi vì con người có thể từ chối tri
thức này. Con người có thể nói: "Thiên Chúa không
hiện hữu.” Con người là tinh thần nhập
thể. Nơi con người có những khuynh chiều khác
nhau: nhục dục, tình dục, ý dục. Con người
có tự do để thuận theo khuynh chiều nào đó nơi
mình, và con người chỉ tự do đích
thực khi con người thuận theo ý dục
(khuynh chiều theo lý trí thấy đúng thấy tốt).
Cũng chính ân sủng của Thiên Chúa tác động nơi
ý chí con người, làm con người ưng thuận theo
ý chí.
Tin là tri thức tình yêu,
"đồng cảm.” Chính ân sủng là nguyên nhân chủ
yếu làm một người tin Thiên Chúa. Ân sủng là tình
yêu của Thiên Chúa đối với con người
được cụ thể hóa. Ân sủng thấm
nhập trọn vẹn và bao trùm con người. Ân sủng
như ánh sáng giúp chủ thể tin nhận biết Thiên
Chúa, ân sủng như sức hấp dẫn lôi kéo con
người đến với Thiên Chúa, ân sủng làm con
người thuận lòng với Thiên Chúa xét như ngôi vị
tình yêu, và làm con người thuận lòng với khuynh
chiều theo lý trí mà con người có nơi mình. Ân sủng
là cái làm cho người đó ra khác, làm cho con
người có cái gì đó đặc biệt nơi
mình, cái đó chúng ta gọi là "sở hữu
đức tin,” tức là cái nhờ ân sủng mà có. Ân
sủng là tình yêu, tri thức đức tin là tri thức
tình yêu: được ban nhờ yêu và cảm nhận
cũng nhờ tình yêu (đón nhận, chấp nhận,
thuận lòng).[156] Tri thức đức tin
là tri thức giữa hai ngôi vị yêu nhau, là tri thức
về nhau, là chia sẻ, vì trong tình yêu các ngôi vị sẽ
hướng tới sự duy nhất, hướng tới
nên một với nhau trong mọi sự.
Nơi chủ thể tin
Thiên Chúa, có sự chắc chắn tuyệt đối
rằng điều mình tin là đúng. Sự chắc
chắn này có là nhờ chủ thể ưng thuận.
Chính nhờ chủ thể ưng thuận mới có tri
thức đức tin, và cũng nhờ chủ thể
ưng thuận mới có sự chắc chắn. Sự
chắc chắn tuyệt đối nơi chủ thể
tin Thiên Chúa, đến từ uy quyền Thiên Chúa. Chính Thiên
Chúa làm và bảo đảm cho người tin biết
rằng điều họ tin là tuyệt đối
chắc chắn đúng.
Trong phần ba tiếp
theo, chúng ta sẽ bàn về tính khả tín của
đức tin kitô giáo. Phần thứ ba vừa là nối
tiếp vừa là mới lạ so với phần hai: tin
không chỉ là siêu vượt nhưng còn và chủ yếu
là đáp trả mặc khải của Thiên Chúa.
PHẦN
III: TIN LÀ ÐÁP TRẢ MẶC KHẢI
Con
người là một sinh vật có tính xã hội, nên
niềm tin vào Thiên Chúa của con người cũng có tính
xã hội. Niềm tin vào Tuyệt Ðối của một
tập thể được thể hiện một cách
hữu hình, gọi là tôn giáo.
Tuyệt Đối không
được đề cập cách minh nhiên
Có người cho
rằng: "mục đích của tôn giáo không là Thiên Chúa
nhưng là sự sống.”[157] Chúng ta có thể
đồng ý nếu chỉ nhìn Khổng giáo và Phật giáo.
Khổng tử nhấn mạnh đến "thành
nhân," còn Ðức Phật[158] thì dạy người ta
"thoát khổ." Nhưng chúng ta cũng thấy quan
niệm trên của W. James không đúng đối với Do
thái giáo và Kitô giáo, vì Do thái giáo khởi đầu với
một ơn gọi (St 12:1tt), và Kitô giáo hình thành với
niềm tin Ðức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.
Một số
người cho rằng có những tôn giáo không muốn bàn
đến Thiên Chúa và chỉ muốn đề cập
tới con người. Nhưng theo thiển ý tôi, thực tại
tuyệt đối vẫn mặc nhiên ẩn tàng nơi
mọi tôn giáo, thậm chí ngay cả nơi Phật giáo.[159] Bởi
vì nếu không có Tuyệt Ðối Thường Hằng, thì
làm gì có hạnh phúc vĩnh cửu của niết bàn, và
cũng chẳng có tình trạng giác ngộ thực sự.
Biến cố hoàng tử Siddhartha Gautama giác ngộ, cho
thấy Tuyệt Ðối Thường Hằng mặc nhiên
ẩn tàng và là nền tảng cùng cùng đích của
mọi sự.
Tin vào Tuyệt Ðối
hay Thiên Chúa, đó là niềm tin nền tảng của
mọi tôn giáo. Thiên Chúa hay Thực
Tại Tuyệt Ðối này được gọi
bằng những tên[160] khác nhau tùy theo mỗi tôn
giáo hoặc theo những nền văn hóa khác nhau:
người Do thái giáo gọi là Ðấng Toàn Năng, Thiên
Chúa hay Giavê, v.v., người Hồi giáo gọi là
đức thánh Allah, người theo Ấn giáo gọi là
Brahma, người Phật giáo gọi là Vô hay Hữu!
Ðể nhận biết
tôn giáo nào là con đường tuyệt hảo và chắc
chắn nhất giúp con người sống hạnh phúc
đích thực bây giờ và mãi mãi, trên nguyên tắc, chúng ta
phải tìm hiểu từng tôn giáo. Nhưng thật may
mắn cho chúng ta là những người đang sống
trong đạo Công giáo. Ðạo Công giáo là con
đường tuyệt hảo, được Thiên Chúa
muốn là tôn giáo giúp con người sống hạnh phúc vĩnh
cửu với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu
để biết chắc chắn điều này trong
những trang tiếp theo.
Trong phần ba này chúng ta
sẽ đề cập đến Thiên Chúa can thiệp
trong dòng lịch sử, Thiên Chúa nhập thể vì yêu con
người, và Thiên Chúa Thánh Thần hoạt động
trong Hội Thánh.
A.
THIÊN CHÚA CAN THIỆP TRONG DÒNG LỊCH SỬ
Có
những người tin Thiên Chúa, không phải nhờ
họ nhìn vũ trụ vạn vật rồi siêu
vượt gặp gỡ Thiên Chúa, nhưng vì họ đã
có kinh nghiệm đặc biệt với Thiên Chúa.
Ông tổ dân Do thái là
Abram. Abram đã nghe được tiếng Thiên Chúa mời
gọi bỏ quê cha đất tổ để đi
tới đất Thiên Chúa sẽ chỉ cho ông. Thiên Chúa
hứa sẽ cho ông thành một dân lớn, sẽ chúc lành
cho ông, và sẽ cho ông trở nên mối chúc lành.
Abram đã đi theo
lời Thiên Chúa Ya-vê (St 12:1-4). Thiên Chúa đã cho Abram
được có kinh nghiệm với Ngài nhiều lần.
Ngài đã đổi tên Abram thành Abraham. Abraham đã
được thấy Thiên Chúa Ya-vê "ở với
mình" trong suốt đời sống, chẳng hạn
khi ông ở Ai-cập.
Và không chỉ với
Abraham, mà cả với con của Abraham là Isaac, và với con
của Isaac là Giacóp, Thiên Chúa vẫn giữ mối
tương quan đặc biệt với họ (St 12-49).
b. Mô-sê với biến cố
Xuất-hành
Hơn bốn thế
kỷ sau khi dân Do thái vào đất Ai-cập, Thiên Chúa
lại chọn Môsê để có tương quan đặc
biệt với ông. Thiên Chúa đã tỏ mình cho ông qua
buị gai bốc cháy nhưng không tàn trên núi Sinai; Ngài đã
sai ông đi giải phóng dân Do thái khỏi ách nô lệ bên
Ai-cập.
Biết bao điềm
thiêng dấu lạ Thiên Chúa đã làm để dẫn dân Do
thái ra khỏi Ai-cập (Xh). Dân Do thái trở thành dân riêng
của Thiên Chúa, khi họ bằng lòng tuân giữ thập
giới dưới chân núi Sinai. Kinh nghiệm Vượt
Qua là kinh nghiệm nền tảng và đã được
lưu truyền từ đời nọ tới đời
kia trong con cái Israel. Dân Do thái cảm thấy Thiên Chúa
thật gần với họ, Ngài luôn "ở với
họ.”
Kinh nghiệm hơn hai
trăm năm thời quan án: bao nhiêu lần dân Do thái
bất trung với giao ước, bao nhiêu lần Thiên Chúa
tha thứ và sai các quan án tới để giải phóng dân
khỏi bị hà hiếp. Dân Do thái cảm nghiệm
được Thiên Chúa trong chính lịch sử dân tộc
họ; Thiên Chúa đã chi phối, hay nói cách khác, Thiên Chúa
đã điều khiển lịch sử dân tộc Do thái.
Thời các vua xuất
hiện bao vị ngôn sứ đại diện Thiên Chúa, nói
Lời Thiên Chúa cho dân, cảnh cáo dân lẫn vua quan về
những bất trung với Thiên Chúa của giao ước,
giúp dân giữ thập giới, loan báo tin vui an ủi trong
những ngày đại họa lưu đày.
Thiên Chúa không bỏ dân
Ngài, Ngài vẫn ở với họ ngay cả trong khi
họ tưởng Thiên Chúa đã quên họ! Các tiên tri
biết rõ điều này.
2. Ðức tin của dân
Do Thái và cũng là đức tin của kitô hữu
a. Những người có kinh
nghiệm trực tiếp với Thiên Chúa
Những người có
kinh nghiệm trực tiếp với Thiên Chúa như Abraham,
Isaac, Giacóp, Môsê, v.v, biết Thiên Chúa không phải chỉ
bằng tin hay siêu vượt nhưng còn bằng chính kinh
nghiệm sống của họ: họ đã gặp gỡ
Thiên Chúa! Abraham đã nghe tiếng Chúa phán (St 12:1), đã nghe
được Lời của Giavê trong thị kiến (St
15:1), đã được Thiên Chúa hiện ra và phán bảo
(St 17:1), đã được gặp gỡ và nói chuyện
với Thiên Chúa như nói chuyện với con người
(St 18,1-5). Giacóp đã mơ thấy Thiên Chúa (St 28:2-22), đã
"vật lộn" với Thiên Chúa (St 32:23-31). Giuse
đã thấy Thiên Chúa can thiệp trong cuộc đời
lưu lạc của ông (St 37-50). Môsê được
gặp gỡ Thiên Chúa nơi bụi gai bốc lửa nhưng
không tàn trên núi Sinai (Xh 3:1-15), và trở thành khí cụ làm
những điều kỳ diệu bày tỏ quyền
năng của Thiên Chúa (Xh 5-17; 19-20).
Có rất nhiều
người trên hoàn vũ này tin có Thiên Chúa nhờ
siêu vượt qua những dấu chỉ tự nhiên, còn
những người đặc biệt kể trên tin
có Thiên Chúa không chỉ nhờ họ siêu vượt
qua các dấu chỉ tự nhiên mà còn nhờ những kinh
nghiệm đặc biệt trong đời họ.
Họ tin có Thiên Chúa nhờ những dấu
chỉ đặc biệt, những dấu chỉ này có
thể không có lần thứ hai! Dân Do thái ở chân núi Sinai,
cũng như trước đó trong tiến trình rời
khỏi Ai-cập, cũng đã được thấy bao
dấu kỳ phép lạ. Kinh nghiệm gặp gỡ Thiên
Chúa đối với dân Do thái là kinh nghiệm
"đặc biệt" và có tính tập thể.
ii. Tin là phó thác trọn
vẹn cho Thiên Chúa
Ðức tin của
những người đặc biệt như Abraham, Isaac,
Giacóp, Môsê, không chỉ là tin có Thiên Chúa (credere
Deum), và cũng không chỉ là tin vào Thiên Chúa (credere
Deo), mà còn là tin phó thác nơi Thiên Chúa (credere in
Deum). Chính vì tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa mà Abraham
đã rời bỏ quê cha đất tổ để
đi theo Lời Thiên Chúa (St 12:4), dù đi mà không biết
mình đi đâu (Hr 11:8), dù đi như vậy rất là
nguy hiểm.[161] Chính
vì tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa mà Môsê
dám trở lại Ai-cập để dẫn dân ra khỏi
đó, chỉ với một cây gậy trên tay (Xh 5:1tt). Và cũng
vì tin tưởng phó thác cho Thiên Chúa mà Môsê dám
dẫn một dân tộc đông đảo đi qua sa
mạc khô cằn không nước và thức ăn.
Chính vì tin tưởng
hoàn toàn nơi Thiên Chúa, phó thác tất cả cho Ngài, mà
những người tin vào Thiên Chúa (credere in Deum) vâng
phục hoàn toàn Thiên Chúa, vâng phục ngay trong những
điều vượt hoàn toàn khả năng của con
người, vượt khỏi sự hiểu biết
bình thường của con người. Chẳng hạn
Abraham vâng phục Thiên Chúa hiến tế con một mình là
Isaac (St 22:1-19), Môsê đi vào Ai-cập để dẫn dân Do
thái ra khỏi đó (Xh 3-15).
Thiên Chúa Ðấng họ
tin và gặp gỡ là một ngôi vị, Ðấng thật
gần với họ, Ðấng luôn quan tâm đến họ,
Ðấng nhìn thấy nỗi khổ của họ và sẵn
sàng đáp cứu họ khi họ kêu cầu. Ðối
tượng tin của những người đặc
biệt này, không phải là các "tín điều"
nhưng là "ngôi vị,” Ðấng tuy xa nhưng lại
rất gần họ.
b. Những người
được dạy về Thiên Chúa
Không phải tất
cả nhưng chỉ có một số ít người Do
thái, đặc biệt trong những "thời
đầu" được kinh nghiệm trực
tiếp Thiên Chúa bằng mắt thấy tai nghe -
như Abraham thấy Thiên Chúa là ba người (St 18), Môsê
thấy bụi gai bốc cháy nhưng không tàn (Xh 3:2), Abraham
nghe Chúa nói (St 12:1; 13:14) - còn những người Do thái khác,
hoặc con cái họ trong suốt dòng lịch sử thì sao?[162]
Những điều
Thiên Chúa dạy và làm cho dân Israel ở thuở "ban
đầu" đó, Ngài đã dạy họ phải
tưởng niệm hằng năm và lưu truyền
lại cho con cháu: "Ngày ấy (Vượt Qua)
đối với các ngươi sẽ thành kỷ niệm
và các ngươi sẽ mừng ngày ấy như khánh
lễ mừng Giavê: qua các thế hệ, các ngươi
sẽ mừng lễ như luật điều vạn
đại (Xh 12:14).” "Trong những ngày ấy ngươi
sẽ thuật lại cho con cháu ngươi
rằng: ấy chính là điều Giavê đã làm cho ta
hồi ta ra khỏi Ai-cập. Ðó sẽ là dấu nơi tay
ngươi, là kỷ vật nơi trán ngươi ngõ
hầu thánh chỉ Giavê ở nơi miệng ngươi,
vì bằng một bàn tay mạnh, Giavê đã đem
ngươi ra khỏi Ai-cập. Ngươi sẽ giữ
luật điều này, đúng thời của nó, năm này
qua năm khác... Mai này khi con ngươi hỏi ngươi
rằng: cái gì thế? thì ngươi sẽ bảo nó:
Nhờ sức mạnh tay Người, Giavê đã đem
chúng ta ra khỏi Ai-cập, khỏi nhà tôi mọi..." (Xh
13:8-10.14). "Hãy nghe, hỡi Israel, ... các Lời Ta
truyền cho ngươi hôm nay hãy ở nơi lòng
ngươi, ngươi sẽ lập lại cho con
cái ngươi; và ngươi sẽ ôn lại khi
ngươi ngồi nhà và khi ngươi đi
đường, khi ngươi nằm và khi ngươi
dậy" (Tl 6:4.6-7).
Những người Do
thái thuộc thế hệ sau không được kinh
nghiệm trực tiếp Thiên Chúa, phải tin vào cha ông
họ, và nhờ đó họ tin Thiên Chúa (tin
Thiên Chúa hiện hữu, tin vào Thiên Chúa, và tin tưởng
phó thác nơi Thiên Chúa). Ðầu tiên họ phải chấp
nhận, ưng thuận những gì cha ông họ nói với
họ; và sau đó là họ siêu vượt để
gặp gỡ "ngôi vị tuyệt đối đã can
thiệp vào đời sống và lịch sử dân tộc
họ.”
Những dấu chỉ
người Do thái ngang qua đó siêu vượt để
gặp gỡ ngôi vị tuyệt đối, không chỉ là
những thực tại tự nhiên mà mọi người
đều có thể nhận ra trong cuộc sống của
họ, nhưng đặc biệt là những biến
cố lịch sử trong cuộc đời của tổ
phụ Abraham, Isaac, Giacóp, Môsê và toàn thể dân tộc Do thái
trong suốt dòng lịch sử. Và không chỉ là những
người Do thái ngày nay, mà cả những người
cùng chia sẻ niềm tin vào Thiên Chúa của dân tộc Do
thái ngày hôm nay cũng chấp nhận những dấu
chỉ đặc biệt là lịch sử dân Do thái, và qua
đó họ siêu vượt gặp gỡ ngôi vị
tuyệt đối là Thiên Chúa, Ðấng can thiệp trong dòng
lịch sử dân tộc Do thái.
iii. Tin phó thác nơi Thiên Chúa
Phải chăng
những người kinh nghiệm trực tiếp sự
can thiệp của Thiên Chúa, như Pharaô và triều thần
của ông ta trong biến cố xuất hành, không phải
siêu vượt để nhận biết và gặp gỡ
Thiên Chúa? Ý nghĩa của những dấu chỉ
đặc biệt đã được Môsê loan báo cho Pharaô
và triều thần của ông, Pharaô và các triều thần
của ông không phải là không nhận biết có một
vị thần bảo hộ cho dân Do thái, thế nhưng
họ không muốn vâng phục vị thần này!
Qua những dấu chỉ "tai họa" đặc
biệt (Xh 5-12), vua Pharaô và triều đình Ai-cập
biết có Thiên Chúa, tin rằng Thiên Chúa này quyền năng,
thế nhưng điều họ thiếu là tin
tưởng phó thác nơi vị Thiên Chúa này, và
như vậy họ không vâng phục, không để dân Do
thái đi theo Lời Thiên Chúa Giavê. Cũng tương
tự như vậy ta thấy đức tin của ác
qủy. Nếu không có đức tin "phó thác,” không
thể gọi là "tín hữu”[163] ngay cả đối
với người thời Cựu Ước. Với
đức tin "phó thác,” thì dù là người của
thời Cựu Ước, Abraham vẫn được coi
là cha của những người tin (Rm 4).
B.
THIÊN CHÚA NHẬP THỂ LÀM NGƯỜI
Tất
cả các tôn giáo đều minh nhiên hoặc mặc nhiên tin
nhận Tuyệt Ðối. Và Tuyệt Ðối này
được tôn thờ nơi các tôn giáo với những
tên gọi khác nhau như Thiên Chúa, Giavê, Allah, Brahma, v.v.
Tuy các tôn giáo đều
dạy người ta ăn ngay ở lành, làm lành lánh
dữ, và đều tôn thờ Tuyệt Ðối, nhưng
không phải tất cả các tôn giáo đều giống
nhau và có giá trị như nhau. Kitô giáo khác tất cả các
tôn giáo khác (như Do thái giáo, Hồi giáo, Ấn độ
giáo, ...) ở điểm chính yếu: tin Ðức Giêsu
người Nadarét chết thời Philatô là Thiên Chúa.[164]
Nếu Ðức Giêsu
Nadarét chết thời Philatô, con người thực sự
đó, là Thiên Chúa thật, là Con Một Thiên Chúa thực
sự, thì qủa thật Thiên Chúa (Ðấng mà người
Do thái giáo và Hồi giáo tôn thờ đó) đã yêu con
người vô cùng; Vì nếu không yêu con người thì
tại sao Ngài lại cho Con Một Ngài nhập thể làm
người và sống như con người vậy?
"Thiên Chúa đã yêu thế gian đến độ
đã ban Con Một mình, để tất cả những ai
tin Ngài... được sống đời đời"
(Ga 3:16).
Kitô hữu là những
người tin Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, và xác tín rằng
Thiên Chúa đã yêu con người vô cùng, vì Thiên Chúa là Tình Yêu;
nên họ sống an bình hạnh phúc, vì biết mình đang
được yêu. Tiêu chuẩn sống của họ, là sống
yêu thương như Thiên Chúa, Ðấng yêu thương
họ vô cùng.
1. Tin do nghe (fides ex auditu)
Hôm nay, tại sao chúng ta
là kitô hữu? Tại sao chúng ta tin Ðức Giêsu Nadarét đã
chết và phục sinh, tại sao chúng ta tin Ngài là Thiên Chúa?
Hoặc chúng ta đã nhận lãnh niềm tin từ thuở
nhỏ nơi cha mẹ, hoặc chúng ta tin nhận vì chúng ta
thấy "điều chúng ta nghe nói" đáng tin khi
chúng ta trưởng thành.
Những bậc cha anh
của chúng ta đã tin, đã sống đức tin, và
đã đem chính mạng sống của họ để
bảo vệ và làm chứng đức tin "điều
tôi tin là sự thật là đúng, tôi dám đem chính mạng
sống tôi để khẳng định rằng Ðấng
tôi tin đáng qúy hơn cả mạng sống tôi.” Chính
lời chứng, cộng với cuộc sống của
họ, làm chúng ta tin nhận điều họ sống và
rao giảng: Ðức Giêsu Nadarét đã chết và
phục sinh, Ngài là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa.
Tại sao các bậc cha
anh của chúng ta đã tin như vậy? Bởi vì họ
đã thấy các bậc tiền bối của họ
sống và rao giảng như vậy. Các bậc tiền
bối của cha ông chúng ta cũng sống và rao giảng
niềm tin của họ, và đã dùng chính cuộc sống
của họ để làm chứng điều họ rao
giảng thực đáng tin.
Cứ đi dần lên
như vậy, chúng ta bắt gặp những người
đã trực tiếp nghe các tông đồ rao giảng.
Những người này đã thấy cuộc sống
chứng tá của các tông đồ, đã nghe các tông
đồ rao giảng, và đã thấy các tông đồ
dùng chính mạng sống của các ngài để làm
chứng cho Thực Tại các ngài rao giảng (theo
truyền thống, mười một trong tổng số
mười hai tông đồ đã chết để làm
chứng cho đức tin, chỉ có tông đồ Gioan
chết vì già yếu).
Lời rao giảng và
đời sống chứng tá của những người
tin, chưa đủ để chúng ta tin Ðức Giêsu
Nadarét là Thiên Chúa, cần phải có ơn Thánh Thần.
Chính Thánh Thần Thiên Chúa tác động nơi chúng ta, làm
chúng ta ưng thuận lời rao giảng, Thực Tại
được rao giảng. Nếu không có ân sủng Thánh
Thần, con người không thể tuyên xưng Ðức
Giêsu là Chúa (1Cr 12:3).
2. Kinh nghiệm nền
tảng của các lời rao giảng
Qua những lời rao
giảng và đời sống chứng tá của các tông
đồ, những bậc tiền bối đã nhận
lãnh đức tin vào Ðức Giêsu Phục sinh, và đến
lượt mình, các kitô hữu tiên khởi đã tiếp
tục rao giảng, và cứ như vậy, lời rao
giảng còn đang được tiếp tục cho
đến ngày nay. Nhưng, tại sao các tông đồ rao
giảng "Ðức Giêsu Nadarét đã phục sinh và là Thiên
Chúa,” tại sao các tông đồ đã tin "Ðức Giêsu
Kitô đã phục sinh và là Thiên Chúa"?
a. Ðức Giêsu Nadarét đã
phục sinh
Cái chết của
Ðức Giêsu Nadarét là một sự kiện chấn
động Giêrusalem mà mọi người đều
biết (Lc 24:18-20): Ngài đã bị bắt, bị kết
án, bị nộp cho Philatô, bị đóng đinh thập
tự (Mc 14-15; Mt 26-27; Lc 22-23; Ga 18-19). Ðức Giêsu Nadarét
đã chết thực sự, và làm tiêu tan mọi hy vọng
của các tông đồ và môn đệ.
Ngày thứ ba từ khi
Ðức Giêsu chết, tức ngày thứ nhất trong
tuần, có một số phụ nữ ra thăm xác Ngài,
nhưng đã không thấy xác Ngài, và hơn nữa họ nói
họ đã gặp thiên thần loan tin Ngài đã sống
lại (Mc 16:1-8; Ga 20:1tt; Mt 28:1tt; Lc 24:1tt). Mồ trống,
không còn xác Ðức Giêsu Nadarét ở đó nữa, cũng là
một sự kiện mà khoa học có thể kiểm
chứng.
Có nhiều người
đã được thấy Ðức Giêsu Nadarét phục sinh
như các tông đồ (Ga 20:19-25; Mt 28:9-10), các môn
đồ (Lc 24:13-35; Mt 28:16-20), v.v. Sự kiện phục
sinh của Ðức Giêsu không là một hoang tưởng
tập thể, vì tông đồ Thomas quyết không chấp
nhận tin điều này nếu không được
kiểm chứng bằng việc xỏ ngón tay vào lỗ
đinh và thọc bàn tay vào vết thương nơi
cạnh sườn Ðức Giêsu. Cuối cùng Thomas đã tin
vì ông đã thấy Ðức Giêsu, nhưng: "phúc cho kẻ
không thấy mà tin" (Ga 20:26-29). Sự kiện phục
sinh của Ðức Giêsu Nadarét cũng không thể là một
sự lừa dối, vì lúc đó các tông đồ và môn
đồ rất sợ hãi,[165] và hơn nữa phần
lớn các tông đồ đều chết để làm
chứng rằng Ðức Giêsu đã phục sinh. Chẳng ai
dại gì lấy chính mạng sống mình để làm
chứng một điều không có thực.
b. Ðức Giêsu Phục Sinh là
Thiên Chúa
Khi Ðức Giêsu Phục
Sinh hiện ra cho các tông đồ và ban Thánh Thần cho các
ngài, các ngài tin nhận Ðức Giêsu Nadarét đã phục sinh;
và rồi các tông đồ cũng tin Ðức Giêsu Phục
Sinh là Con Một Thiên Chúa, là một với Thiên Chúa quyền
năng.
Sở dĩ như
vậy bởi vì, khi còn sống trên trần gian trong
cuộc sống tại thế, có nhiều lần Ðức
Giêsu nói và hành xử như thể Ngài có quyền năng
như Thiên Chúa:
Ngài tha tội (Mc 2:1-12)
Ngài nhận mình có trước Abraham (Ga 8:56-57)
Ngài nhận mình với Thiên Chúa là một (Ga 10:30)
Ngài cho mình ngang hàng với Thiên Chúa (Mc 14:62).
Nếu Ðức Giêsu
chỉ là một người lừa dối lường
gạt, một kẻ tội lỗi, thì Thiên Chúa đâu có
phục sinh Ngài, đâu có cho Ngài sống lại từ cõi
chết! Mà nếu Thiên Chúa đã phục sinh Ngài từ cõi
chết, hàm chứa Ngài là người chân thực,
được Thiên Chúa yêu thương, và những
điều Ngài nói khi Ngài sống tại dương
thế phải là những điều chân thực.
Như vậy, nếu Ðức Giêsu Nadarét khi tại thế
đã nhận mình có quyền tha tội, đã nhận mình
là một với Thiên Chúa, đã nhận mình có trước
Abraham là ông tổ của dân tộc Do thái, đã nhận
mình có quyền năng như Thiên Chúa, thì đích
thực Ngài là như Ngài đã nói: Ngài là Thiên Chúa thực.
Tin Ðức Giêsu Nadarét
đã phục sinh, là một điều khó khăn và
gần như bất khả đối với con
người, nhưng tin Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa còn
là điều khó khăn hơn bội phần! Một
người sinh bởi người nữ tại Bêlem, là
Thiên Chúa! Người Do thái không thể chấp nhận
được điều "lộng ngôn" này. Kitô giáo
là một tôn giáo không thể chấp nhận
được đối với người Do thái.
Nhưng điều mà người Do thái không thể
chấp nhận được, lại là sự thật;
và hơn nữa, đây là sự thật có sức cứu
độ con người, làm con người hạnh phúc,
bởi vì con người biết Thiên Chúa, Ðấng Vô Hình và
rất cao vời đó, yêu thương con người
rất mực, yêu con người đến độ cho
Con Một Mình nhập thể làm người, mãi mãi là
người, để giao hòa con người với Thiên
Chúa, để làm cho con người được
sống trong tình yêu của Ngài.
Ðức Giêsu Nadarét đã
phục sinh và là Thiên Chúa. Ðây là tin mừng thật
sự lớn lao cho những ai tin nhận. Từ nay con
người an tâm, con người cảm thấy mình
được yêu, luôn luôn được Thiên Chúa Toàn
Năng yêu thương! Nếu Thiên Chúa phò tôi, ai còn tranh
tụng với tôi được? (Rm 8:31tt).
Các tông đồ là
những người đầu tiên mục kích Ðức Giêsu
Phục Sinh, các tông đồ cũng là những
người đầu tiên nhận biết Ðức Giêsu là
Thiên Chúa. Với ơn của Thánh Thần, các ngài đã can
đảm tuyên xưng đức tin của mình vào Thiên Chúa
và vào Ðức Giêsu Phục Sinh, các ngài đã loan báo Tin
Mừng Cứu Ðộ này cho những người các ngài
gặp gỡ. Và cứ như vậy, những
người tiếp nhận lời rao giảng cứu
độ, lại tiếp tục rao giảng đức
tin của mình vào Thiên Chúa và vào Ðức Giêsu Phục Sinh cho
những thế hệ tiếp theo mình; và ngày nay, chúng ta lãnh
nhận đức tin nhờ lời rao giảng và ơn
Thánh Thần, chúng ta tin cùng một Thực Tại như các
tông đồ xưa đã tin và đã rao giảng. Ðức
tin của người Công giáo là đức tin tông
truyền, một đức tin được truyền
từ thời các tông đồ lại, và đức tin này
cũng chính là đức tin của các tông đồ.
3. Tin phó thác (credere in-
fides qua)
Tin có ba cấp
độ: tin có, tin vào, tin phó thác.[166] Trong một hành vi tin
đúng đắn, tin có có thể có
đối tượng là một sự vật hay một
ngôi vị, chẳng hạn tôi tin có cái gì đó; còn tin
vào chỉ dùng để diễn tả niềm tin
nơi một ngôi vị, chẳng hạn tôi tin vào ai đó,
người chồng có thể tin vào người vợ;
còn tin phó thác thì chỉ dùng đối với
Thiên Chúa[167] thôi.
Nếu chúng ta tin phó thác vào một con
người, nghĩa là nếu chúng ta tin tuyệt
đối vào ai đó, thì người đó là ngẫu
tượng đối với chúng ta.[168] Nếu chúng ta tin vào
Ðức Giêsu cách tuyệt đối, tức tin phó thác nơi
Ngài, thì bởi vì chúng ta tin Ngài là Thiên Chúa.[169]
Ðể một
người có thể tin phó thác, thì người
đó phải gặp gỡ với ngôi vị đối
tượng tin,[170] đồng thời
phải có tương quan giữa ngôi vị,[171] và hơn nữa biết
rõ ngôi vị mình tin là ngôi vị tuyệt đối. Tin,
xét như tin vào và tin phó thác, hàm
chứa yêu thương, nếu không yêu thương thì không
thể tin phó thác được.[172] Chính
với đức tin phó thác này mà Kitô giáo khác
hẳn các tôn giáo khác.[173]
Kitô hữu là
người đã được nghe lời rao giảng
về Ðức Giêsu Kitô, đã được hiểu
lời rao giảng, và đã ưng thuận, vâng phục,
phó thác cho Thực Tại được rao giảng là
Ðức Giêsu Kitô. Kitô hữu, qua lời rao giảng, đã
bắt gặp được Ðức Giêsu Kitô như ngôi
vị, đã cảm nghiệm được tình yêu
của Ngài đối với mình, và đã được
ơn đáp trả lại tình yêu của Ngài bằng hành vi
tin tưởng phó thác tuyệt đối nơi Ðức
Giêsu Kitô là Thiên Chúa đã yêu thương mình. Chính vì
Thiên Chúa Nhập Thể yêu thương mình đến
độ chết vì mình, thế nên kitô hữu có thể phó
thác tất cả tương lai đời mình nơi Thiên
Chúa, và cho Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu là đáng tin
tưởng phó thác mà thôi. Chỉ có thể phó thác
đời mình cho người yêu mình mà thôi. Thiên Chúa là Tình
Yêu (1Ga 4:8.16), Thiên Chúa yêu con người vô cùng. Chính vì
cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa
nơi Ðức Giêsu Kitô như vậy mà Ðức Giêsu Kitô
trở thành ý nghĩa, lý tưởng, và tiêu chuẩn
sống của mọi kitô hữu.
C.
THÁNH THẦN HOẠT ÐỘNG TRONG HỘI THÁNH
Kitô
giáo là tôn giáo đặt nền tảng trên niềm tin Ðức
Giêsu Nadarét đã chết và phục sinh là Thiên Chúa.
Ðức Giêsu đã phục sinh, cho thấy những
điều Ðức Giêsu nói khi Ngài còn sống đều chân
thật. Vì Ðức Giêsu khi còn tại thế đã nhận
mình ngang hàng với Thiên Chúa, có quyền năng như Thiên
Chúa, là một với Thiên Chúa, thế nên những
người tin vào Ngài nhận biết Ngài là Thiên Chúa.
Khi còn sống nơi
dương thế, Ðức Giêsu Kitô còn nói tới một
Ðấng khác, đó là Thánh Thần. Cũng nhờ lời
Ðức Giêsu và ân sủng của Thiên Chúa mà các kitô hữu
(các tông đồ là những kitô hữu đầu tiên)
nhận biết rằng: Thánh Thần là Thiên Chúa.
Kinh Thánh Cựu
Ước sách Thứ Luật nói: "Nghe đây, hỡi
Israel, Giavê Thiên Chúa của chúng ta là Giavê độc
nhất" (Tl 6:4). Các tông đồ cũng là những
người Do thái, các ngài cũng tin chỉ có một Thiên
Chúa; và rồi khi nhận biết Ðức Giêsu Phục Sinh là
Thiên Chúa, các ngài nhận biết Ðức Giêsu Phục Sinh là
ngôi vị Lời Thiên Chúa nhập thể. Và cùng với kinh
nghiệm nhận biết Ðức Giêsu là ngôi vị Thiên Chúa
nhập thể, các tông đồ cũng nhận biết có
một ngôi vị Thiên Chúa khác nữa: ngôi vị Thánh
Thần.
Thánh Thần,
được Ðức Giêsu gọi là Ðấng Bầu
Chữa[174] (Ga
14:16), là Ðấng từ Cha xuất ra (Ga 15:26), Ðấng
được Cha gởi đến với con
người (Ga 14:16.26). Như vậy, Thánh Thần cũng
có nguồn gốc thần linh như Chúa Cha và Chúa Giêsu. Và
không chỉ vậy, nơi Chúa Cha, Chúa Giêsu Kitô và Thánh
Thần, tất cả là chung: "mọi sự Cha có,
hết thảy là của Ta. Vì thế mà Ta đã nói: Ngài
lấy của Ta mà thông báo cho các ngươi" (Ga 16:15).
Sứ mạng của
Thánh Thần, của Ðấng Bầu Chữa, của
Thần Khí Sự Thật, là: ở nơi và ở trong tín
hữu (Ga 14:17), ở với tín hữu mãi mãi (Ga 14:16), làm
chứng cho Ðức Giêsu (Ga 15:26), nhắc cho nhớ
những gì Ðức Giêsu đã nói (Ga 14:26), loan báo những
điều sẽ đến, dẫn chúng ta vào tất
cả sự thật (Ga 16:13).
Nhờ
biến cố Ðức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ và
sau đó là các kitô hữu, đã nhận ra Ðức Giêsu
Phục Sinh là Thiên Chúa nhập thể: Ðức Giêsu Nadarét
vừa là người thật vừa là Thiên Chúa thật.
Thiên Chúa là độc nhất, nhưng là ngôi vị Cha và
ngôi vị Con. Cũng nhờ biến cố phục sinh
của Ðức Giêsu mà các tông đồ nhận ra Thánh
Thần cũng là Thiên Chúa. Thiên Chúa là ba ngôi vị phân
biệt rõ ràng không lẫn lộn: Cha, Con, và Thánh Thần;
Cha không là Con và cũng không là Thánh Thần; và cũng
tương tự như vậy với Con, và Thánh Thần.
Thiên Chúa ba ngôi vị hiệp nhất với nhau đến
độ chỉ là một Thiên Chúa, một quyền
năng, một bản tính!
2. Thánh Thần hoạt
động trong Hội Thánh
Sau khi phục sinh, ngay
lần hiện ra đầu tiên với các tông đồ,
Chúa Giêsu Phục Sinh đã ban Thánh Thần cho các ngài (Ga
20:22); và cũng nhờ Thánh Thần mà các tông đồ
đã nhận biết Ðức Giêsu là Thiên Chúa thật.
Thánh Thần Thiên Chúa
đã ở với các tông đồ ngay từ ngày Chúa
Phục Sinh thổi hơi ban Thánh Thần cho họ;
nhưng vào ngày lễ Ngũ Tuần, quyền năng
của Thánh Thần tỏ hiện diệu kỳ trên các
tông đồ và còn trên cả toàn dân nữa.
a. Nơi toàn dân dịp lễ
Ngũ Tuần
Năm mươi ngày sau
lễ Vượt Qua, các tông đồ được tràn
đầy Thánh Thần và được ơn nói tiếng
lạ (Cv 2:4). Còn dân chúng cũng được ơn nghe và
cùng nhau kéo đến nghe các tông đồ (Cv 2:6.8).
Các tông đồ
được ơn can đảm tuyên xưng đức
tin của mình vào Thiên Chúa và vào Ðức Giêsu Kitô Phục Sinh;
và các người đón nhận lời rao giảng đã
được chịu thánh tẩy (Cv 2:14.17-41).
Chính nhờ Thánh Thần
ở với các tông đồ, nên các tông đồ mới
có thể rao giảng làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh; và
cũng chính nhờ Thánh Thần tác động trên những
người nghe, mà người nghe mới tin nhận
những gì các tông đồ rao giảng. Chính Thánh Thần
rao giảng làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh qua các tông đồ,
cũng chính Thánh Thần làm chứng cho Ðức Giêsu Phục
Sinh nơi lòng những kẻ tin.
b. Nơi mỗi người
trong cuộc sống
Ðể một
người có thể tin nhận Ðức Giêsu, cần có
lời chứng. Lời chứng khách quan là lời rao
giảng của những người đã tin. Cuộc
sống tốt của những người tin, cũng là
lời rao giảng, và không chừng còn là lời chứng
hùng hồn hơn cả lời rao giảng. Ðể một
người tin, không chỉ cần có lời chứng khách
quan nhưng còn cần tác động của Thánh Thần
nơi lòng con người. Thánh Phaolô ý thức rõ
điều này: "Không ai có thể nói Giêsu là Chúa mà lại
không nhờ Thánh Thần" (1Cr 12:3).
i. Lôi kéo giúp con người
tin phó thác nơi Thiên Chúa
Chính Chúa Thánh Thần lôi
kéo lòng người, làm lý trí con người hiểu dễ
dàng chân lý rao giảng; và trên hết, Thánh Thần tác
động trên chính "con người" để con
người ưng thuận Thực Tại Siêu Việt.
Không có Thánh Thần tác động, không có ân sủng của
Thiên Chúa, con người không thể tin nhận Ðức Giêsu
là Thiên Chúa.
Thánh Thần thánh hóa con
người khi tác động làm con người tin phó thác
vào Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô (Rm 3:26; 4:21),
khiến con người có thể gọi Thiên Chúa là
Cha (Gl 4:6),
tha tội cho con người (Ga 20:22), làm con
người hứng theo những gì thuộc Thần Khí (Rm
8:5),
đỡ đần tình cảnh yếu hèn của con
người (Rm 8:26),
chuyển cầu cho con người rập theo Ý Chúa
(Rm 8:27),
làm chúng ta tin tưởng phó thác tuyệt đối
nơi Thiên Chúa (Rm 8:31-39).
iii. Giúp con người
sống yêu thương
Thánh Thần là Thần
Chân Lý, Ngài dẫn chúng ta vào sự thật trọn vẹn
(Ga 16:13), Ngài giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa là Tình Yêu
(1Ga 4:8.16), và giúp chúng ta sống yêu thương lẫn nhau
(Ga 13:34-35; 1Ga 4:19-21). Không có Thánh Thần Tình Yêu, chúng ta không
thể từ bỏ mình để yêu thương
người khác như chính chúng ta.
Kể
từ khi Lời Thiên Chúa nhập thể, Thiên Chúa mãi mãi
ở với con người (Mt 1:23; 28:20); và kể từ
khi Ðức Giêsu thổi hơi ban Thánh Thần cho các tông
đồ (Ga 20:22; 14:16), thì Thánh Thần mãi mãi ở với
con người, và biến con người thành đền
thờ của Thiên Chúa (1Cr 3:16; Rm 8:11; Ga 14:23). Thánh Thần
đã, đang, và sẽ biến đổi chúng ta thành một
tạo vật mới cho Thiên Chúa.
3. Thánh Thần hoạt
động qua Hội Thánh
Con người là tinh
thần và thân xác, là tinh thần nhập thể; nghĩa là,
trong hoàn cảnh tại thế này, con người là tinh
thần khi vượt qua vật chất để gặp
gỡ Tuyệt Ðối và chính mình.
Theo nhận thức thông
thường, tri thức được truyền thông
nhờ chuyển đạt dạy dỗ. Cũng
tương tự như vậy, đức tin nơi Do thái
giáo được kinh nghiệm và truyền đạt
nhờ lời dạy dỗ của các bậc cha anh.
Nói một cách khác, con
người là hiện hữu xã hội[175] nên "đức tin"
của con người cũng mang tính xã hội. Kinh
nghiệm đức tin của Abraham được
truyền cho Isaac, và Isaac cho Giacóp, và cứ tiếp tục như
vậy cho những thế hệ theo sau.
Siêu vượt và xã
hội, là hai đặc tính của con người.
Niềm tin của mọi tôn giáo, kể cả Kitô giáo,
cũng mang hai đặc tính này. Nếu con người
không có khả năng siêu vượt, không có đức tin;
và nếu đức tin không được diễn tả
một cách xã hội thì cũng không có tôn giáo. Ðức tin
của kitô hữu hôm nay có được là do "lời
chứng" và do "nghe nói": nếu không có các kitô
hữu đi trước, thì cũng không có kitô hữu hôm
nay.
Tôi tin có Hội Thánh, và
tôi tin nhờ Hội Thánh. Hội Thánh, theo một nghĩa
hẹp, là tất cả những người tin vào Chúa
Kitô, tất cả những người thuộc về
Thiên Chúa. Tất cả những người tin vào Chúa Kitô
ngày nay, đều là những người đã
được Thánh Thần thúc đẩy, để
ưng thuận lời chứng của Thánh Thần qua các
tông đồ và qua các kitô hữu.[176]
Có thể nói, Hội
Thánh là một phương tiện cần mà Thiên Chúa dùng
để loan báo Tin Mừng, để công bố mặc
khải, để quy tụ tất cả cho Ngài. Ðức
Giêsu Kitô đã thiết lập Hội Thánh, và Thánh Thần
đã hành động trong Hội Thánh và qua Hội Thánh.
Ðức Giêsu đã
thiết lập nhóm mười hai, để họ ở
với Ngài và để Ngài sai đi rao giảng (Mc 3:14);
Ðức Giêsu thiết lập Hội Thánh trên đá
"Phêrô": "ngươi là đá, và trên đá này Ta
sẽ xây Hội Thánh của Ta..." (Mt 16:18). Ðức Giêsu
nói các tông đồ sẽ là chứng nhân của Ngài (Ga
15:27). Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra cho các tông
đồ nhiều lần để làm họ trở thành
chứng nhân rằng Ngài đã phục sinh (Ga 20:19-23.26-29;
21:1tt), và trong lần hiện ra với những
người tin vào Ngài, Ngài ra lệnh cho họ đi rao
giảng và làm phép rửa nhân danh Cha, Con, và Thánh Thần (Mt
28:16-20).
Thánh Thần Thiên Chúa
hoạt động trong Hội Thánh; và qua Hội Thánh, Ngài
đã làm nhiều người tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, và
những người này đã lãnh nhận phép rửa (Cv
2:1tt.14tt.37-41). Sách Công Vụ của các tông đồ cho
chúng ta thấy tác động của Thánh Thần nơi
Hội Thánh và qua Hội Thánh:
· Phêrô còn đang giảng thì Thánh Thần đã xuống
trên kẻ đang nghe Lời (Cv 10:44),
· Thánh Thần tách riêng Barnaba và Phaolô để sai các ngài
đi rao giảng (Cv 13:2),
· Thánh Thần tỏ hiện qua hành vi đặt tay
của Phaolô (Cv 19:6),
· Phaolô sống và hành động theo Thánh Thần dù không
biết điều gì đang chờ mình (Cv 20:22-24), v.v.
Vì Ðức Giêsu đã
thiết lập Hội Thánh và Thánh Thần đã hoạt
động trong và qua Hội Thánh như vậy, nên tin vào
Hội Thánh là tin vào và tin phó thác nơi Ðức Giêsu và nơi
Thánh Thần.[177] Ðức Giêsu là hình ảnh
của Thiên Chúa vô hình (Cl 1:15), là dấu chỉ tuyệt
vời cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người
vô cùng (Ga 3:16); Cũng phần nào như vậy, Hội Thánh
là dấu chỉ tình yêu của Ðức Giêsu cho con
người. Ðức Giêsu là thực tại hữu hình ban
ơn cứu độ cho con người; và theo ý
định của Chúa Giêsu, Hội Thánh cũng là dấu chỉ
ban ơn cứu độ cho con người. Hội Thánh
là bí tích nguồn xét như Hội Thánh có đầu là Chúa
Kitô và được sống động nhờ Thánh
Thần.[178]
Là một phần tử
của Hội Thánh, trong mức độ kết hiệp
với Chúa Kitô và để Chúa Thánh Thần hoạt
động, mỗi kitô hữu trở thành con
đường, thành dấu chỉ giúp con người nhận
ra và tới với Thiên Chúa;[179] vì khi kitô hữu tin và
sống đức tin, đó là Hội Thánh tin và làm
chứng.[180]
Kitô giáo đặt
nền tảng trên biến cố tử nạn và phục
sinh của Ðức Giêsu Nadarét, trên niềm tin Ðức Giêsu
Phục Sinh là Thiên Chúa; và chính vì tin vào Ðức Giêsu Phục
Sinh, mà kitô hữu nhận ra và tin kính Thánh Thần; và không
chỉ thế, tất cả những gì Ðức Giêsu Kitô
dạy, kitô hữu đều tin là chân thực.
Với kitô hữu, các bí tích là những dấu chỉ
ban ơn thánh "hữu hiệy,” vì những dấu
chỉ này là những dấu chỉ Chúa Giêsu Kitô muốn
dùng để thông ban ơn thánh.[181]
Những dấu chỉ
nào Ðức Giêsu thiết lập để ban ơn cứu
độ, thì dấu chỉ đó ban ơn cứu
độ cách hữu hiệu (ex opere operato). Chính vì vậy
Hội Thánh là bí tích tiên khởi, là dấu chỉ ban ơn
cứu độ,[182] và trong ý nghĩa này chúng ta
hiểu câu "ngoài Hội Thánh không có ơn cứu
độ.”[183]
Tùng phục ý
định của Chúa Giêsu Kitô và dưới sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh
đã xác định những dấu chỉ ban ơn
cứu độ hữu hiệu. Lãnh nhận và lưu
truyền "truyền thống" từ các tông đồ,
Hội Thánh Công giáo nhận ra và xác định bảy
dấu chỉ ban ơn cứu độ hữu hiệu
tại sự (ex opere operato): bí tích Thanh Tẩy, Thêm Sức,
Hòa Giải, Mình Thánh Chúa, Truyền Chức Thánh, Hôn Phối,
Xức Dầu. Các bí tích chỉ có thể được
hiểu đúng đắn trong Hội Thánh như thân
thể mầu nhiệm của Chúa Kitô được Thánh
Thần linh hoạt: chính Thiên Chúa thánh hóa con người qua
trung gian Hội Thánh được tác động
bởi Thánh Thần nhờ công nghiệp của
Ðức Giêsu Kitô. Bí tích là lời và hành động của
Thiên Chúa, thế nên bí tích ban ơn cứu độ
"tại sự" (ex opere operato), tuy vậy vẫn
bảo toàn tự do của con người.[184] Thiên Chúa yêu thương
con người, và Người muốn con người
đáp trả tình yêu Thiên Chúa để được thông
chia hạnh phúc vĩnh cửu với Người, thế
nhưng con người vẫn được tự do
để đáp trả tình yêu của Thiên Chúa; cũng
tương tự như vậy, Thiên Chúa muốn dùng
những dấu chỉ để cứu độ con
người nhưng con người vẫn tự do dùng
những dấu chỉ đó để lãnh nhận ơn
cứu độ. Những dấu chỉ hữu hiệu
này thực sự mang lại ơn cứu độ cho con
người muốn dùng phương tiện cứu độ
"hữu hiệu" này cách thực lòng.
Ðối với các tổ
phụ dân Do thái như Abraham, Isaac, Giacóp, cũng như
đối với Môsê và dân Do thái thời xuất hành, tin
Lời Chúa không thể tách rời tin Giavê Thiên Chúa; bởi
vì chính kinh nghiệm nghe Lời Chúa phán mà họ tin vào và tin
phó thác nơi Thiên Chúa. Chính vì dân Do thái thấy Lời Chúa
chi phối lịch sử đời họ và dân tộc
họ, Lời Chúa làm nên lịch sử đời họ và
dân tộc họ, mà dân Do thái tín thác nơi Thiên Chúa. Chính vì
tín thác nơi Thiên Chúa, mà dân Do thái tin rằng "những
gì Thiên Chúa phán hoặc hứa với họ, sẽ xảy
ra:" Lời Chúa thường hằng bất biến dù
trời đất đổi thay.
Nói một cách thuần
lý hay triết lý, con người là hiện hữu "tinh
thần thể xác,” là hiện hữu "xã hội,” nên,
để thông tri cho con người trong hoàn cảnh
tại thế, cần phải dùng "vật chất.”
Vật chất ở đây có thể là âm thanh, cũng có
thể là những hình tượng, hoặc những
dấu chỉ, v.v.[185]. Trong quan niệm này, thánh
Thomas cho rằng "tiếng Chúa" mà Adam nghe trong
vườn địa đàng không là âm thanh để
lọt tai, nhưng là "tiếng nói thâm sâu"
được "nghe và thấy" qua những tạo
vật và cảm nghiệm trong lòng.[186]
Theo đức tin kitô
giáo, Lời Thiên Chúa đã nhập thể nơi lời con
người, tức Kinh Thánh (cả Cựu Ước
lẫn Tân Ước). Và không chỉ thế, Lời Thiên
Chúa đã nhập thể làm người.[187] Kể từ khi Lời
Thiên Chúa nhập thể, Lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh
phải được giải thích quy chiếu theo Lời
Thiên Chúa làm người.[188]
Lời Thiên Chúa trong Kinh
Thánh được ghi lại hay viết ra dưới
sự linh ứng của Thánh Thần (2Pr 1:20-21), và
được lưu truyền trong Hội Thánh
dưới tác động của Thánh Thần. Vì thế,
không được hiểu hay giải thích Kinh Thánh trái ý
Hội Thánh. Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong
Hội Thánh, luôn làm chứng cho Chúa Kitô qua Hội Thánh, luôn
giảng dạy chân lý qua Hội Thánh, thế nên chúng ta
phải luôn tin vào Hội Thánh trong việc giải thích Kinh
Thánh.[189]
Tín điều là công thức
diễn tả niềm tin của Hội Thánh. Tín
điều diễn tả Thực Tại nhưng không bao
giờ gói trọn Thực Tại được. Giữa
tín điều và Thực Tại mà kitô hữu tin có
khoảng cách "vô cùng;" dầu vậy, vì là con
người nên cần thiết phải có tín điều.[190] Chúng
ta tin vào Thực Tại được tín
điều diễn tả, chứ chúng ta không tin
vào tín điều.[191]
Vì tín điều cũng
được hình thành theo nhu cầu trong hoàn cảnh xã
hội và văn hóa nhất định, nên tín điều
cũng cần được giải thích trong những
nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội khác. Và một
điều hiển nhiên ai cũng biết, Thực Tại
được tín điều diễn tả vẫn là
một trong mọi nền văn hóa và xã hội trong
mọi thời điểm.
Con người luôn mong
ước khao khát hạnh phúc. Ðây là ước vọng
"tự nhiên,” "bẩm sinh" nơi con
người. Ðằng khác, con người cũng nhận thấy
cuộc đời đầy dẫy đau khổ.[192]
Thiên Chúa là Ðấng làm cho
Abraham hạnh phúc, là Ðấng đong đầy những
khao khát chính đáng của ông như: mong muốn có con,
được sống sung túc, sống an bình thư thái
khỏi mọi đe dọa (St 12:1-3).
Thiên Chúa ở với ai,
Thiên Chúa yêu thương ai thì người đó
được hạnh phúc. Thiên Chúa đã ở với
Abraham, Isaac, Giacóp, thì những tổ phụ này cảm
thấy hạnh phúc an toàn dù vẫn có bao đe dọa trong
cuộc sống. Thiên Chúa yêu thương dân Do thái, nên Dân
đã được giải phóng khỏi ách nô lệ bên
Ai-cập.
Khi con người có
thể lãnh hội được, Thiên Chúa còn tỏ lộ
cho con người biết họ sẽ được
sống đời đời với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa
yêu thương con người (Mc 12:18-27; Ga 3:16).
Thiên Chúa là Ðấng đã
tạo dựng con người như con người,
nghĩa là, làm họ có khao khát hạnh phúc; và không chỉ
hạnh phúc nhất thời, nhưng là hạnh phúc vĩnh
cửu. Và nếu hạnh phúc là một khao khát của con
người, thì con người tìm kiếm, và
được cho biết rằng con người chỉ
được hạnh phúc thực sự khi con
người sống với Thiên Chúa, được Thiên
Chúa ở cùng, được Thiên Chúa yêu thương và cho
chia sẻ hạnh phúc với Ngài.[193] Con người chỉ
thực sự được hạnh phúc khi chấp
nhận Thiên Chúa, yêu Thiên Chúa, nghĩa là, khi tin tưởng
phó thác tất cả con người mình cho Thiên Chúa. Không tin
phó thác tất cả cho Thiên Chúa, là con người chưa
yêu Thiên Chúa.
A.
KHÔNG TIN KHÔNG THỂ LÀM ÐẸP LÒNG THIÊN CHÚA
Con
người khao khát ước muốn sống hạnh
phúc, nhưng con người cũng nhận biết
rằng không phải tất cả mọi điều mình
muốn đều được! Hạnh phúc đích
thực và vĩnh cửu nằm ngoài tầm với của
con người, nên con người cần được
cứu độ, cần được trợ giúp
để được hạnh phúc, để sống
hạnh phúc.
Ðức tin tuyệt
đối cần thiết để được
cứu độ.[194] Vì nếu không biết hay
ý thức "sự bất lực" của con
người, thì con người đâu thấy cần
được cứu độ? và nếu không biết Thiên
Chúa hiện hữu và là Ðấng yêu thương con
người vô cùng, thì làm sao có thể trông cậy vào Ngài, và
cần Ngài cứu độ được?[195]
Ðức tin cứu
độ, trước hết và trên hết, nhắm
tới ngôi vị, chứ không phải là những tín
điều. Tin là cuộc gặp gỡ giữa ngôi vị
với ngôi vị,[196] và như vậy, chúng ta
phải siêu vượt trên những công thức hoặc tín
điều, để bắt gặp Thực Tại mà tín
điều diễn tả.[197]
b. Tin phó thác vào Thiên Chúa
Ðức tin cứu
độ, không chỉ là tin có Thiên Chúa hoặc tin
vào[198] Thiên
Chúa, nhưng chủ yếu là tin phó thác vào Thiên
Chúa. Không có đức tin phó thác vào Thiên Chúa,
không thể được cứu độ.
2. Nội dung tin và
đức tin cứu độ
Ðâu là nội dung tin, công
thức, tín điều, hay tôn giáo, giúp con người
gặp gỡ và tin phó thác nơi Thiên Chúa?
Ðể trả lời câu
hỏi trên, chúng ta phải nói ngay rằng, không có một
công thức, nội dung hay tín điều, và ngay cả không
có bất cứ một nghi thức của tôn giáo nào, có
thể giúp con người gặp gỡ Thiên Chúa và tín thác
vào Ngài, nếu không có sự trợ giúp của
chính Thiên Chúa,[199] nếu không
được Thiên Chúa dùng.
Kitô giáo là tôn giáo
được hình thành theo ý định của Thiên Chúa, là
phương tiện để bảo vệ và lưu
truyền chân lý mặc khải. Như vậy, Kitô giáo là
phương tiện Thiên Chúa dùng để giúp con
người tín thác vào Thiên Chúa; Kitô giáo có những
tín điều giúp con người hiểu biết và tin
phó thác nơi Thiên Chúa.[200]
Các tín điều
của các tôn giáo, đặc biệt của Công giáo, là
những điều cần để giúp các tín hữu
gặp gỡ và tín thác nơi Thiên Chúa. Dưới một
quan điểm nào đó, người ta nói "đức
tin là điều được tin,” bởi vì chính qua
những tín điều hay tín khoản mà người ta
đáp trả lại tiếng gọi của Ðấng
mặc khải.[201] Tuy nhiên người ta
cũng không nên lẫn lộn giữa đức
tin và công thức diễn tả đức tin.[202]
Con người
được cứu độ nhờ tin phó thác vào
Thiên Chúa, chứ không phải nhờ tin một số
công thức diễn tả đức tin hoặc các tín
điều. Hiểu như vậy, dù kitô hữu biết
tất cả các tín điều Hội Thánh dạy và
cũng chấp nhận là đúng mà không tín thác vào
Thiên Chúa, thì người đó vẫn không
được cứu độ. Còn những người
thậm chí không sống trong kitô giáo, không nhận biết
các tín khoản đức tin của Công Giáo, mà họ
lại tin phó thác vào Thiên Chúa, thì họ vẫn
được cứu độ.
Giáo thuyết về
ơn cứu độ cho những người chưa
nhận biết Chúa Kitô đã được công
đồng chung Vatican II xác định rõ trong hiến
chế "Giáo Hội" (Lumen gentium): "Sau cùng,
những ai chưa nhận lãnh Phúc Âm cũng được
an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên
Chúa. Trước tiên phải kể dân tộc đã
nhận lãnh lời hứa và giao ước, mà bởi dân
ấy Chúa Kitô đã sinh ra theo thể xác... Nhưng kế
hoạch cứu độ cũng còn bao hàm những ai
nhận biết Ðấng Tạo Hóa: trước tiên
phải kể đến Hồi giáo...; những kẻ
đang tìm kiếm Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu
tượng, Thiên Chúa mà họ không biết, cả những
kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi vì chính Ngài
ban cho mọi người sự sống, hơi thở và
tất cả mọi sự, và vì là Ðấng Cứu Thế,
Ngài muốn cho mọi người đều
được cứu rỗi (1Tm 2:4)" (số 16). Nói
như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận
hoặc làm giảm giá trị của Hội Thánh Công Giáo
cũng như các tín khoản và tín điều trong Hội
Thánh Công Giáo: "Chúng tôi tin rằng tôn giáo chân thật, duy
nhất này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo và tông truyền,
Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã uỷ thác nhiệm vụ
truyền bá cho mọi người, khi Người phán cùng
các tông đồ: vậy các con hãy đi dạy dỗ muôn
dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần;
hãy dạy dỗ họ vâng giữ mọi điều
Thầy đã truyền cho các con (Mt 28:19-20).”[203] Các tín khoản cũng
như các tín điều của Hội Thánh Công Giáo, và chính
Hội Thánh Công Giáo, là phương tiện tốt nhất
để giúp con người gặp gỡ và tín thác nơi
Thiên Chúa.
B.
VIỆC LÀM CHỨNG MINH ÐỨC TIN
Chúng
ta có được cứu độ hay không, là do chúng ta có
tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Giêsu Kitô, và vào Thánh Thần hay
không, chứ không phải do việc làm lề luật
dạy.[204] Sở
dĩ như vậy vì nếu chỉ tự sức mình,
chúng ta không thể chu toàn lề luật (Rm 7); còn nếu
chúng ta tin cậy nơi Thiên Chúa, tín thác nơi Chúa Giêsu và
Thánh Thần của Người, thì chúng ta được
cứu độ.[205]
Tin
phó thác vào Thiên Chúa, làm con người
sống hạnh phúc, được cứu độ. Nói
theo ngôn từ của thánh Phaolô: "bởi tin mà
được công chính hóa" (Rm 1:16; 3:28.30; Gl 2:16;
5:6). Tin ở đây không chỉ
được hiểu theo nghĩa tri thức, như
biết có Thiên Chúa và chấp nhận những tín khoản
đức tin, nhưng còn được hiểu cả
trên bình diện cuộc sống nữa: "đức tin
không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2:17).[206]
"Không phải mọi
kẻ nói với Ta "lạy Chúa, lạy Chúa,” là sẽ
được vào Nước Trời, nhưng là kẻ thi
hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 7:21). Tin phó
thác vào Thiên Chúa, phải được biểu lộ
bằng chính cuộc sống,[207] chứ không phải
chỉ tin bằng đầu môi chót lưỡi.[208]
Một tiêu chuẩn mà
mỗi người đều phải vâng phục
để được cứu độ, đó là
lương tâm.
Lương tâm là
tiếng nói tận đáy lòng, mời gọi con
người "làm lành lánh dữ.” Mọi người
đều phải vâng nghe tiếng lương tâm và sẽ
bị xét xử theo lương tâm, cũng như
được cứu độ nhờ chu toàn thánh ý Thiên
Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn
của lương tâm.[209]
Khi chúng ta nói "chúng ta
nghe tiếng lương tâm" hoặc "tiếng Chúa
nói nơi lương tâm,” không có nghĩa, chúng ta nghe
bằng tai với thanh âm, nhưng chúng ta muốn nói, chúng ta
nhận ra và thấy rằng, "chúng ta phải làm
điều này hoặc không được làm điều
kia" một cách chắc chắn và rõ ràng! Chính lý trí chúng ta
nhận ra điều này. Ở đây, lý trí biết
một cách tự do nhất. Lý trí thực hiện chức
năng "tri thức" chứ không phải chức
năng "biện minh.” Lương tâm là lý trí siêu
vượt cách tự do trong mọi biến cố hằng
ngày, nơi những điều cụ thể nhất.
b. Không vâng phục
lương tâm không được cứu độ
Dù là kitô hữu hay
một người theo một tôn giáo khác, nếu họ làm
điều ác cách ý thức và tự do, họ sẽ không
được cứu độ. Niềm tin có Thiên Chúa,
cũng như niềm tin "các tín điều hay tín
khoản của đạo Công Giáo là chân thực,” cũng
không cứu được họ.
Ðể được
cứu độ, chúng ta không chỉ phải siêu
vượt khỏi các dấu chỉ tự nhiên để
nhận biết Thiên Chúa hiện hữu, và cũng không
chỉ phải siêu vượt qua những dấu chỉ
đặc biệt để nhận biết Thiên Chúa yêu
thương ta, mà chúng ta còn phải liên tục siêu
vượt trong cuộc sống hằng ngày để
nhận biết Thiên Chúa đang yêu thương và đang
nói với chúng ta qua những dấu chỉ của
đời sống thường ngày, cũng như phải
liên tục phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa một
cách cụ thể trong đời sống.
Ðể hiểu ơn
cứu độ cách đúng đắn, chúng ta phải ý
thức rằng, được cứu độ, là
được sống hạnh phúc vĩnh cửu với
Thiên Chúa. Như vậy, được cứu
độ, không chỉ là một hành vi giữa bao hành vi
khác, nhưng là tình trạng chi phối mọi hành vi của
con người được cứu độ. Chính vì
vậy chúng ta mới hiểu, tại sao chúng ta phải
sống trọn vẹn theo lương tâm từng giây phút
và từng biến cố của cuộc đời,
để được cứu độ, để
được hạnh phúc và sống trong tình yêu với
Thiên Chúa.
c. Ðức tin của những
người sống theo lương tâm
Lương tâm là
mệnh lệnh tuyệt đối: "phải làm lành
lánh ác,” "phải làm điều này,” "không
được làm điều kia.” Nếu ai muốn
dập tắt tiếng lương tâm, cũng không thể
dập tắt hoàn toàn được.[210]
Với những
người tin nhận Thiên Chúa, tiếng lương tâm là
tiếng Chúa nói trong thẳm sâu của tâm hồn mỗi
người chúng ta. Nên mỗi người phải vâng
phục lương tâm vì đó là tiếng Chúa hay tiếng
nói của Ðấng Tuyệt Ðối.
Với những
người tuyên bố rằng không có Thiên Chúa hay một
Tuyệt Ðối nào cả, nếu họ vâng phục
lương tâm, một cách mặc nhiên hay ẩn tàng họ
cũng đã chấp nhận một Thực Thể.
Thực Thể này ở thâm sâu trong họ, vì họ
nhận thấy tiếng lương tâm ngay nơi cung lòng
họ, nơi lý trí họ. Thực Thể này cũng ở
ngoài họ, vì khi họ không muốn nghe theo tiếng
lương tâm này, tiếng lương tâm vẫn vang
vọng nơi lòng họ dù họ muốn dập tắt.
Vâng phục tiếng
lương tâm nơi tâm hồn mỗi người, nơi
lý trí mỗi người, tức là chúng ta- dù hữu
thần hay vô thần- đã liên tục siêu vượt trong
cuộc sống bình thường mỗi ngày. Ðể vâng
phục tiếng lương tâm, mỗi người
cũng phải từ bỏ liên tục! Vâng phục
lương tâm, hàm chứa chấp nhận một
cách ẩn tàng Tuyệt Ðối hay Thiên Chúa, hàm
chứa bỏ mình và phó thác một cách có hay không ý
thức cho một giá trị nào đó. Giá trị này-
theo quan điểm của những người hữu
thần- chính là Thiên Chúa.
Có thể nói, nếu
một người luôn sống theo lương tâm, thì
họ đã tín thác (tin phó thác) cho Thiên Chúa một cách nào
đó mà có lẽ chính họ cũng không ý thức. Và như
vậy, chắc chắn họ được cứu
độ, và họ đã được cứu
độ.
Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4:8.16).
Thiên Chúa đã yêu thương con người đến
độ ban Con Một Ngài cho con người (Ga 3:16),
để con người tin vào Ngài (Ga 3:15.16.18; 14:1),
để con người được sự sống
đời đời (Ga 3:15),
để con người được sống và
được sống dồi dào (Ga 10:10),
để con người được biết Cha (Ga
14:7.9),
để con người được bình an (Ga 14:27;
20:19),
để con người được ở với Thiên
Chúa (Ga 14:23), v.v.
Chúa Giêsu mời gọi
chúng ta "hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên
trời là Ðấng trọn lành" (Mt 5:48). Trở nên
giống Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, đó là mục đích
sống của chúng ta.
Nơi Thiên Chúa, chỉ
có tình yêu. Thiên Chúa "chỉ biết yêu" mà thôi. Chính vì
thế, để là con Thiên Chúa, để nên giống Thiên
Chúa là Ðấng yêu thương và thành tín, chúng ta cũng
phải chỉ biết yêu thương mà thôi. Về đời
sống của kitô hữu, chúng ta có thể nói: hãy yêu
nhau.
Ðức Giêsu, trong lời
trăn trối cho các tông đồ, Ngài đã nói:
"Thầy ban cho các con một điều răn mới,
là hãy yêu mến nhau. Như Thầy đã yêu mến các con,
các con cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà
mọi người sẽ nhận biết các con là môn
đệ Thầy: ấy là nếu các con có lòng yêu mến
lẫn nhau" (Ga 13:34-35). Ðức Giêsu đã yêu
thương con người đến hiến mạng
sống, đến chết cho con người (Ga 15:12.13;
13:1), thế nên chúng ta cũng phải yêu mến nhau:
"này là lịnh truyền của Thầy: anh em hãy yêu
mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.”
a. Không yêu thương không
được cứu độ
"Ai ghét anh em mình thì là
sát nhân" (1Ga 3:15). "Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa
mà lại ghét anh em mình, thì nó là kẻ nói dối; vì kẻ
không yêu mến người anh em nó thấy, tất không
thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng nó không thấy" (1Ga
4:20). Hơn nữa, "ta đừng yêu mến nhau
bằng lời nói, bằng đầu lưỡi, nhưng
là bằng việc làm thực sự" (1Ga 3:18).
Lòng tin thi thố bởi
đức mến (Gl 5:6)!
Nếu ta không yêu những người sống xung quanh chúng
ta, thì đó là dấu chỉ chúng ta không yêu Thiên Chúa,
nghĩa là, chúng ta không tin phó thác vào Thiên Chúa.
Tin phó thác vào Thiên Chúa,
đòi chúng ta phải yêu Thiên Chúa, phải vâng phục Thiên
Chúa cách cụ thể qua việc vâng giữ các giới
răn, đòi chúng ta phải sống phó thác tất cả
cho Thiên Chúa, đòi chúng ta phải từ bỏ mình,
để đón nhận Ý Thiên Chúa làm thành ý mình.[211]
Không yêu thương, thì
không được cứu độ, không thể sống
hạnh phúc với mình với tha nhân. Một người
được cứu độ, là người sống
trong tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân. Có thể nói:
từ ngữ "sống yêu thương,” "sống
hạnh phúc,” "được cứu độ,” là
những từ ngữ diễn tả cùng một thực
tại "sống thân thiết với Thiên Chúa.”
Ác qủy là những ngôi
vị tin có Thiên Chúa, nhưng không sống trong tình yêu: không
yêu Thiên Chúa và không yêu con người. Ác qủy luôn tìm cách
làm hại con người, tách con người ra khỏi
tình yêu của Thiên Chúa (Ga 8:44). Nếu chúng ta ghét anh em mình,
thì chúng ta không thuộc về Thiên Chúa nhưng thuộc
về ma qủy.
b. Ðức tin của những
người sống yêu thương
Kitô hữu yêu nhau và yêu
thương con người, vì Chúa Giêsu Kitô đã dạy
chúng ta phải yêu thương nhau, vì mọi
người đều là con của Cha trên trời,
đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Nhưng làm
sao có thể yêu thương chấp nhận người
khác khi nhận thấy nơi họ những khuyết
điểm và giới hạn?
Phải chăng
người ta yêu nhau vì người ta thấy nơi
người mình yêu nét đẹp nào đó; cũng
tương tự như vậy khi nói một người
yêu thương mọi người! Người sống
yêu thương là người thấy nơi con
người (không loại trừ ai) một nét đẹp
nào đó! Liệu người ta có thể thấy nơi
tha nhân nét đẹp nào đó, nếu người ta không
tin con người là một giá trị tuyệt đối
không? Liệu người ta có thể nhận ra con người
là một giá trị tuyệt đối không, nếu
người ta không tin có Tuyệt Ðối nào đó làm
nền cho giá trị con người không?
"Thiên Chúa là tình yêu, và
ai lưu lại trong tình yêu thì lưu lại trong Thiên
Chúa" (1Ga 4:16). "Phàm ai yêu mến thì đã sinh ra
bởi Thiên Chúa, và biết Thiên Chúa" (1Ga 4:7). Ai yêu
thương thì biết có Thiên Chúa, và hơn thế nữa,
người đó đã sống tín thác nơi
Thiên Chúa. Sao vậy? Vì, yêu người, đòi phải tin
người. Mà làm sao có thể tin vào con người,[212] nếu
không tin vào và tin phó thác nơi Thiên Chúa?
Cụ thể, chúng ta không thể tin Ðức Giêsu Nadaét là
Thiên Chúa, nếu chúng ta không tin vào các tông
đồ, nếu chúng ta không tin các lời chứng của
các ngài là chân thực! Và chúng ta chỉ chấp nhận
lời chứng của các tông đồ, nếu chúng ta
thấy được rằng, các tông đồ và cả
những người nối tiếp các tông đồ trong
đức tin, yêu thương chúng ta, muốn chúng ta
được hạnh phúc như các ngài đã
được hạnh phúc. Chỉ có tình yêu mới đáng
tin, và chỉ trong tình yêu người ta mới tin
được mà thôi!
Chúng ta có thể bị
cật vấn: một người không tin có Thiên Chúa,
liệu người đó có thể yêu thương con
người thực sự không? Nếu một người
cố tình phủ nhận Thiên Chúa, người này không
thể yêu tha nhân đích thực. Nếu họ nói yêu, thì
đây chỉ là lời nói và là thái độ giả hình mà
thôi. Nếu một người vô tình không
biết Thiên Chúa hiện hữu (vô tri bất khả
thắng, không cố ý phủ nhận Thiên Chúa), họ có
thể yêu thương tha nhân đích thực; vì với
những người này, có thể họ vẫn tin
nhận Thiên Chúa một cách ẩn tàng và vô ý thức.
Ðể yêu thương
con người đích thực, đòi phải tin nhận
Thiên Chúa một cách nào đó;[213] Những người yêu
Thiên Chúa đích thực, họ yêu thương anh em mình.
Nếu họ không yêu thương anh em mình, lời họ
nói "yêu Thiên Chúa" chỉ là giả dối. Không tin phó
thác vào Tuyệt Ðối, không thể tin vào con người,
và cũng không thể yêu con người đích thực
được.
Tin, luôn luôn là tin vào ai đó. Nói cách khác, tin luôn
luôn là tin vào ngôi vị. Ngay cả khi một
người nói "tôi tin cái này cái kia, tôi tin điều này
đúng điều kia sai,” thì vẫn hàm chứa người
đó tin vào chính họ!
Tin là tri thức, là hành
vi của lý trí, là siêu vượt. Nói cách khác, không thể
tin nếu thấy phản lý trí.[214] Tri thức do tin, là tri thức chắc chắn, vì
nhờ tình yêu. Nếu đối tượng tin là ngôi
vị "hữu hạn,” sự chắc chắn
chủ thể tin không là tuyệt đối; nếu
đối tượng tin là ngôi vị "tuyệt
đối" đi với hành vi tin phó thác, sự
chắc chắn nơi chủ thể tin là tuyệt
đối. Chính uy quyền của chủ thể
được tin- tức Tuyệt Ðối- là bảo
đảm để chủ thể của hành vi tin phó
thác, có sự chắc chắn tuyệt đối rằng
điều mình tin là đúng.
Tin là hành vi nhân linh,[215] hành vi tự do. Tin
là tự do ưng thuận ngôi vị mình tin, và vì ưng
thuận ngôi vị mình tin mà mình chấp nhận những gì
ngôi vị đó mặc khải hoặc làm chứng về.
Tin
vào ngôi vị, là tình yêu. Tin là yêu, vì yêu mà tin. Tin
là quà tặng của tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu, chính
vì Thiên Chúa yêu thương con người mà con người
có thể tin phó thác vào Thiên Chúa. Không có ân sủng, con
người không thể tin vào Thiên Chúa. Tin là hồng ân Thiên
Chúa ban cho con người.
Tin
yêu phó thác vào Thiên Chúa, làm con người được
hạnh phúc. Nếu từ chối tin yêu
phó thác vào Thiên Chúa, con người không thể
được hạnh phúc đích thực. Ðức Giêsu nói:
"Ta đến để chúng được sống, và
được sống dồi dào" (Ga 10:10); Chúc bạn
tin vào con người và tín thác tuyệt đối nơi
Thiên Chúa, để bạn được triển nở
trọn vẹn và hạnh phúc, cả đời này và
lẫn đời sau.
Nếu hiểu
"đức tin" ở đây là những tín
điều, thì "mất đức tin" có nghĩa:
những tín điều đó không còn là chân lý nữa.
Mất đức tin theo nghĩa này hàm chứa:
trước đó mình sai lầm khi tin những điều
đó. Hiểu "mất đức tin" theo nghĩa
này, "mất đức tin" đối với những
người theo tôn giáo này có thể lại là "có
đức tin" đối với người
người theo tôn giáo khác.[216]
Nếu hiểu
"đức tin" là thái độ tin phó thác
nơi Thiên Chúa, "mất đức tin" là không còn
tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa, không còn trông cậy gì
nơi Thiên Chúa. Mất đức tin theo nghĩa này có
thể dẫn tới tuyệt vọng.[217]
Ðức tin chết là
đức tin không có việc làm đi kèm (Gc 2:17), là
đức tin không được thi thố bởi lòng
mến (Gl 5:6). Ðức tin dù "chết,” vẫn là hồng
ân của Thiên Chúa.[218]
Lạc giáo là từ
ngữ dùng để chỉ những người phủ
nhận hoặc nghi ngờ cách cố tình một hay
nhiều chân lý đức tin. Họ là những người
lấy lý trí của họ làm tiêu chuẩn phán đoán
đúng sai, hơn là lấy uy quyền Thiên Chúa trao phó cho
Hội Thánh.[219] Lạc giáo
thường dẫn đến ly giáo.
Vô tín là từ ngữ
dùng để chỉ những người không tin có Thiên
Chúa. Họ là những người tự xưng là vô
thần.
Ở đây chỉ ghi những sách đã
được trích trực tiếp trong sách này.
Aubert, R. Le problème de l'acte de foi. Louvain 1945.
Chenu, M-D, OP. La Parole de Dieu, I. La foi dans
l'intelligence, Coll. Cogitatio Fidei. Paris: Cerf, 1964.
Collins, J. The existentialists. Chicago: Gateway, 1967.
De la Barre, A. “Agnosticisme,” DTC I/1. Paris 1923.
De Lubac, H. La foi chrétienne: Essai sur la structure du
Symbole des Apôtre. Paris: Aubier-Montaigne, 1969.
De Rouet De Journel, R. Enchiridion Patristicum. Herder,
1965.
Denzinger-Schoenmetzer. Enchiridion Symbolorum Definitionum et
Declarationum de rebus fidei et morum. Herder, 1963.
Dominici, G. Notes de théologie morale: Les vertus théologales.
GHHV sans date ni lieu.
Fries, H. "Le mythe et la revelation," Questions
Théologiques Aujourd’hui. Paris: DDB, 1964.
Heinrichs, M. Théologie catholique et pensée asiatique. Casterman,
1965.
Huyền Chân. Ðạo Phật. Nha Trang
1965.
Jolivet, R. Dieu- Soleil des esprits: La doctrine augustinienne
de lillumination. DDB et Cie, 1934.
Kierkegaard, S. Traité du désespoir. NRF-Gallimard, 1964.
Krenn, K. "Kantianism," Sacramentum Mundi. Burns
& Oates, 1968.
Kueng, H. Dieu existe-il? trd. Jean-Louis Schlegel et Justus
Walther. Seuil, 1981.
Marc, A. Psychologie reflexive, tome II: La volonté et l'esprit.
Paris: DDB, 1949.
Marcel, G. Foi et Réalité; coll. Foi Vivante 38.
Aubier 1967.
Nàrada Maha Thera. Ðức Phật và Phật pháp, Phạm
Kim Khánh dịch. Gia Định 1971.
Ott, H. "La structure de l'acte de foi," Mythe et Foi,
éd. Enrico Castelli. Aubier 1966.
Panikkar, R. "La Foi dimension constitutive de l'homme,"
Mythe et Foi, éd. Enrico Castelli. Aubier 1966.
Puntel, L.B, “Nihilism,” Sacramentum Mundi. Burns &
Oates 1968.
Ratzinger, J. Foi Chrétienne- hier et aujourd'hui. Mame
1969.
Schillebeeckx, E. Approches théologiques, 1: Révélation et
théologie, Trd. P. Bourgy. Bruxelles: CEP, 1965.
Splett, Jorg. “Agnosticism,” Sacramentum Mundi. Burns
& Oates, 1968.
Thích Quảng Liên. Sử Cương Triết
Học Ấn-độ. Sài Gòn 1965.
Thiều Chửu. Hán Việt Tự Ðiển. Hà
Nội 1942.
Thomae Aquinatis
In Aristotelis Librum De Anima Commentarium
In Boethium De
Trinitate
Summa Theologiae
De Veritate
In III Sent.
MARIETTI, 1959.
Thonnard, F-J. Précis d'histoire de la Philosophie. Paris:
Desclée et Cie, 1966.
Truetsch, J. "La foi," Mysterium Salutis IV. Cerf,
1969.
Tưởng Duy Kiều. Ðại Cương
Triết Học Phật Giáo, Thích Đạo Quang dịch.
Ðà Lạt 1958.
Von Balthasar, H.U. La Gloire et la Croix: Les aspects
esthétiques de la Révélation, I: Apparition, Trad. Robert Givord, col.
Théologie 61. Aubier, 1965.
Walgrave, J-H. Un salut aux dimensions du monde. Cerf, 1970.
Werner, P. "Scepticism," Sacramentum Mundi. Burns
& Oates, 1970.
Wetter, Gustav A. "Marxism," Sacramentum Mundi.
Burns & Oates, 1968.
LNC141252
05.10.39
27.04.44
AD MAIOREM DEI GLORIAM
AMDG
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
[1] Kitô hữu là người tin
Ðức Giêsu Nadarét, đã chết và phục sinh, là Thiên Chúa.
[2] Nếu có trích câu Kinh Thánh nào đó
trong phần một này, thì việc trích dẫn này chỉ
muốn nói có ý kiến hoặc sự kiện như
vậy.
[3] Ngày nay, khoa học được hiểu là
tập họp những tri thức về một vấn
đề nào đó, được hệ thống hóa,
được kiểm chứng hoặc hiển nhiên.
Như vậy chúng ta thấy quan niệm về "cái
biết" ngày xưa và "tri thức khoa học"
ngày nay khá giống nhau.
[4] F-J. Thonnard, Précis d’histoire de la
Philosophie, p. 95: "La science est la connaissance certaine et évidente
des choses par leurs causes" (Scire est cognoscere rem per causam, propter
quam res est, et quod ejus est causa, et quod non contingit eam aliter se
habere).
[5] Thonnard, Précis d’histoire …, p. 96
M.D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 93: "Opinio
est acceptio unius partis contradictionis cum formidine alterius.”
[6] M.D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 90 trích
dẫn
Albert Le Grand, In I Sent., d.2, a.1, ad 1:
"Dicit enim Philosophus quod opinio juvata rationibus sit fides" (Cf.
In III Sent., d.23, a.1, obj.3).
St. Thomas, In III Sent., d.23, q.2, a.2, sol.3, ad
1
St. Thomas, De Ver., q.14, a.2, corp. in med.:
"Fides communiter accepta, secundum quam credere deicimur id quod
vehementer opiamur."
Guillaume Davergne, De Fide, ed. Venise, p.3,
col.1: "Quoniam credere quoddam opinari est; credere enim est vehementer
opinari."
[7] M.D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 103:
"fides est media inter scientiam et opinionem,” và tương
tự Aristote: "Opinionem sequitur fides."
[8] M.D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 90 note 2,
trích dẫn
Thomae Aquinatis S.T., Ia-IIae, q.67, a.3, in med.:
"Ex parte subjecti differunt secudum perfectum et imperfectum opinio,
fides, scientia."
[9] cách tuyệt đối, chủ
quan và khách quan.
[10] Ý niệm, theo Platon là chân lý, vì ý
niệm là thực tại.
[11] Thonnard, Précis d'histoire ..., pp. 156-157
P. Werner, art. "Scepticism" trong
Sacramentum Mundi VI, Burns and Oates 1970, p. 5
[12] Gorgias cho rằng không gì có thể
được biết hay được thông truyền.
Protagoras cho rằng con người là thước đo
vạn vật (Xem P. Werner, art. cit, trong Sacramentum Mundi VI, Burns
and Oates 1970, p. 5
[13] Cf. Thonnard, Précis d'histoire ..., p.
155-156: "le sage sceptique aura pour règle universelle, l’abstention ou
suspension du jugement (epch).
[14] Ở đây phân biệt tri thức
và tri giác.
[15] Cogito ergo sum (tôi suy tư vậy
tôi hiện hữu).
[16] Xem Thonnard, Précis d'histoire, pp. 521-523.
Những người mang dòng họ
"duy,” có tiêu chuẩn riêng để phán đoán và
định giá trị của tri thức:
· Những người duy hoài nghi cho
rằng, "chỉ những gì được chứng
minh mới là tri thức khách quan,” nhưng cũng theo
họ, "mọi chứng minh đều có thể
đẩy đến vô cùng,” và như vậy không có chân lý
khách quan;
· Những người duy tâm lại cho
rằng, "con người chỉ biết tư duy
của mình,” và "chỉ có tư duy của con
người là thực.”
· Những người duy thực
nghiệm lại cho rằng, "chỉ những gì
được kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm giác
quan mới là chân lý.”
[17] Nếu không, người ta sẽ
phải chứng minh tới vô cùng, như những
người duy hoài nghi đã lý luận.
[18] hiểu như là được
chứng minh.
[19] do tin, phải tin.
[20] mà không thuộc bình diện
thực tại khả giác.
[21] A. De la Barre, art. "Agnosticisme,”
DTC.I/1, PARIS 1923, col. 596
[22] JORG Splett, art. "Agnosticism,” trong
Sacramentum Mundi I, Burns and Oates 1968, p.15
[23] Emmanuel Kant (1724-1804) không phủ
nhận tri thức siêu hình, nhưng cho rằng, việc xây
dựng khoa siêu hình với sự chắc chắn khách quan
như các khoa học thực nghiệm là một ảo
tưởng (Xem F-J. Thonnard, op. cit., pp. 648-649).
Kant
phân biệt lý trí là lý trí thuần lý và lý trí thực
tiễn, và cho rằng những vấn đề mà siêu hình
học truyền thống bàn tới không nằm trong
khả năng của lý trí thuần lý. Với mệnh
lệnh tuyệt đối của lý trí thực tiễn
"làm lành lánh dữ,” con người phải chấp
nhận các ý niệm "Thiên Chúa,” "linh hồn bất
tử,” "tự do,” là những thực tại.
[24] Gustav A. Wetter, art. "Marxism,” trong
Sacramentum Mundi, Burns and Oates 1968, pp. 423-424
[25] Quy luật của vật chất
là:
· Quy luật thống nhất và mâu
thuẫn nội tại;
· Quy luật chuyển biến từ
lượng tới phẩm (quy luật lượng
chất);
· Quy luật "phủ định
của phủ định" (négation de la négation).
[26] H. Kueng, Dieu exist-t-il?
Trd. par Jean-Louis Schlegel et Justus Walther,
Seuil 1981, p. 661
[27] L.B. Puntel, art. "Nihilism,” trong
Sacramentum Mundi II, Burns and Oates 1968, p. 231:
"The usual approach is to define nihilism as a
doctrine or attitude which rejects truth, values and every thing positive, that
is, declares them to be nothing.”
Phải chăng chủ trương
hư vô của Nietzsche, là chủ trương Sunyata của
Phật giáo (Trung Quán: tất cả đều không)? Theo
thiển kiến, tuy dù Nietzsche tin "sự hồi
đầu vĩnh cửu" nhưng quan niệm hư vô
của Nietzsche khác Sunyata.
[28] Xem R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive de l'homme,” trong Mythe et Foi, Aubier 1966, p.18:
"Lêtre humain ne peut pas atteindre ou
découvrir son être authentique s’il ne reconnait ce fondement qui se manifeste
dans la foi. Sans la foi, il ne peut vivre une vie humaine authentique.”
[29] H. Kueng, Dieu existe-it? p. 634:
"Il faut déjà croire à quelque chose si l’on
veut tout simplement parler de savoir et de science"
trích dẫn W. Stegmuller, Metaphysik, Skepsis,
Wissenschaft, Berlin 1954
[30] R. Panikkar, “La Foi dimension
constitutive,"
· p.17: "Sans la foi on ne peut pas
subsister";
· p.18: "La foi apparait alors comme le
véritable fondement de l’existence.”
Tác giả R. Panikkar cũng hay trích
dẫn câu Kinh Thánh Cựu Ước Is 7:9 "nếu nhà
ngươi không tin, nhà ngươi sẽ không tồn
hữu.”
Cf. Aubert, Le problème de lacte de foi, Louvain
1945, p. 22
[31] J. Collins, The existentialists, Chicago:
Gateway, 1967, p.16: "On the other hand, Kierkegaard maintained that the
attitude of faith is indispensable for synthesizing the many aspects of
existence.”
J. Ratzinger, Foi chrétienne hier et aujourd'hui,
Mame 1969, p. 31: "Il n’est indispensable, me semble-t-il, d’en avoir une
idée très nette: tout homme doit prendre position, d’une manière ou d’une
autre, à légard des options fondamentales de l’existence; il ne peut le faire
que sous la forme d’une foi ... D’une certaine manière, tout homme est obligé
d’avoir une foi.”
[32] H. Kueng, Dieu existe-it? p. 540 trích
dẫn
Hans Georg Gadamer, Vérité et méthode: Les grandes
lignes d'une herméneutique philosophique, Paris 1976: "Qu’il existe une
vérité et une certitude même sans méthode: il existe une vérité préscientique
qui est le présupposé de toute science ... Mais pour Gadamer aussi, une foi
précède tout savoir et toute science.”
H. Kueng, Dieu existe-it? p. 539: "Tout savoir
renferme donc un "présupposé,” qu’on peut caractériser "proche d’une
foi" ... Dans la science domine l’HYPOTHÈSE, à laquelle on est obligé de
croire.”
J. Truetsch, art. "La Foi,” trong Sacramentum
Mundi IV, Burns and Oates 1969, p. 48-49:
"La première scholastique est, à ses débuts,
la fidèle expression de cette absorption: la connaissance commence avec l’acte
de foi; ensuite, c’est à la spéculation philosophique d’expliciter le contenu
de cette adhésion de foi.”
[33] Ðiều mà chúng ta gọi là
"niềm tin nền tảng của tri thức khoa
học" ở đây, được Hans Kueng gọi là
"confiance" và "confiance originaire.” Hans Kueng làm như
vậy, vì ông muốn dành chữ "Foi" cho đức
tin tôn giáo.
Cf. H. Kueng, Dieu existe-it? p. 540.
[34] Thánh Thomas, Kant và Husserl cũng
đều chấp nhận như vậy. Xem F-J. Thonnard,
Précis dhistoire de la Philosophie, p. 1022.
Aristoteles, VI Metaphys., c.4: 1027, b, 25-29
được trích bởi St. Thomae Aquinatis S.T., I, q.16, a.1:
"Sed contra est quod Philosophus dicit quod verum et falsum non sunt in
rebus sed in intellectu.”
[35] ST. Thomae Aquinatis S.T., I, q.16,
· a.1, corp.: "Quod autem dicitur quod veritas
est adaequatio rei et intellectus, potest ad utrum pertinere ... Sic ergo
veritas principaliter est in intellectu; secundario vero in rebus, secudum quod
comparantur ad intellectum ut ad principium";
· a.2, 1: "Praeterea, Ysaac dicit, in libro de
Difinitionibus, quod veritas est adaequatio rei et intellectus.”
[36] Aristote, Métaphysique, IV,7
Xem Thonnard, Précis d'histoire ..., p. 93
[37] Species intelligibilis, eidos.
[38] Tri giác, bởi chữ Hán. Tri là
biết; giác là biết bởi giác quan, chẳng hạn
ngửi biết thơm, thấy biết sắc, v.v
Tri giác là trực giác giác quan, còn có
một tuệ giác, tức trực giác trí tuệ (intuition
intellectuelle).
[39] Tri thức, bởi chữ Hán.
Thức, là biết do phân biệt.
Ngay cả khi người ta khẳng
định mình không biết, thì đó cũng là một phán
đoán, và như vậy phải chăng cũng là biết
ở một mức độ nào đó: "tri vi tri,
bất tri vi bất tri, hà tri dã?”
[40] Nhận thức, chữ Hán
Việt. Nhận là đồng ý, bằng lòng.
Xem Thiều Chửu, Hán Việt tự
điển, Hà Nội 1942, chữ "nhận.”
Xem Thonnard, Précis d'histoire, p. 475
[41] Chẳng hạn trong tình yêu.
[42] Thực thể có lý trí đơn
nhất không thể phân chia.
[43] Vì như vậy, chúng ta sẽ
rơi vào trường hợp bị các người
chủ trương hoài nghi bài bác:
· Dựa vào tiêu chuẩn nào để
chứng minh?
· Tiêu chuẩn dùng để chứng
minh đó, đã được chứng minh chưa?
Nếu chưa, thì phải chăng mình dựa vào
điều chưa chắc chắn để chứng minh?
Còn nếu tiêu chuẩn đó đã được chứng
minh, thì điều mình tin đó không phải là điều
phải tin thực (vì nó được chứng minh).
[44] Cũng tương tự như
trước khi người ta chứng minh một
định luật, người ta dùng phương pháp quy
nạp để khám phá và phát biểu định luật
đó.
[45] Fides qua.
[46] H. Kueng, Dieu existe-it? p. 645 trích
dẫn
P. BERGER, La rumeur de Dieu, signes actuels du
surnaturel, Paris: Centurion, 1972,
p. 87: "chercher à mettre en lumière ce que
l’on pourrait appeler les indices de transcendance au sein
même de la situation humaine empirique, telle quelle nous est donnée. J’estime
par ailleurs que certains gestes humaines exemplaires peuvent représenter de
tels indices;"
p. 88: "La foi en un ordre est étroitement
liée à la confiance fondamentale de lhomme en la réalité.”
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 494:
"Ces signes dans lesquels se manifeste le surnaturel et qui sont des
signes d’amour, ne sont pas seulement des marques de l’intérêt de Dieu pour
l’humanité en général; ils guarantissent les intermédiaires de la révélation,
les prophètes, Jésus Christ et, aujourdhui, l’Eglise.”
[47] Bí tích là dấu chỉ hữu hình
ban ơn thiêng liêng ex opere operato, thế nhưng ơn thiêng
liêng mà bí tích ban, người ta không thể kiểm
nghiệm được.
[48] thực hiện hành vi siêu
vượt.
[49] "Fallor ergo sum" của thánh
Augustin; còn "Cogito ergo sum" của Descartes.
[50] H.U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
Les aspects esthétique de la révélation, I: Apparition
Trd. Robert Givord, Aubier 1965, pp.380-381:
"Le mystère de lêtre, qui est manifeste,
invite la créature spirituelle à sortir d’elle-même, pour se confier et se livrer,
au-delà d’elle-même, au mystère; S’il n’en est pas ainsi, l’intuition de l’être
(dans les premiers principes, théoriques ou pratiques) ne serait rien d’autre
que le fait de saisir lêtre fini et créé sans le rapporter à l’absolu, ce qui à
tous égards serait absurde et contradictoire ...
Il faut donc que lévidence elle-même dessine en
elle l’analogia entis, ce qui ne veut pas dire que celle-ci puisse
être dominée par l’esprit fini, qui mesurerait en lui-même la relation de
l’être fini à l’infini, mais au contraire qu’il s’y voit renvoyé au-delà de lui
(qui, même en tant qu’esprit, est un être fini) à ce qui ne peut être
"donné" à son évidence que sous le mode de la non-évidence. Il
s’éprouve donc comme saisi et pris en charge, il éprouve sa dépendance pure et
simple, sans pouvoir saisir ce dont il dépend; Il expérimente que sa petite
pensée est inclue dans une pensée infinie qui le dépasse tout ainsi infiniment
..."
[51] J. Truetsch, art. "La Foi,” trong
Mysterium Salutis IV, Cerf 1969, p. 128:
"Cette relation immédiate avec Dieu, veritas
prima, se "médiatise" ici-bas sous différents rapports, se transpose,
s’interprète, s’incarne dans des réalités appartenant au monde.”
[52] Trong ý nghĩa này, tạo thành
được coi là mặc khải tự nhiên.
[53] H. Kueng, Dieu existe-it? p. 651:
Gottfried Wilhelm Leibniz:
"pourquoi il y a plutôt quelque chose que
rien?"
Martin Heidegger:
"pourquoi y-a-t-il de l'étant et non pas
plutôt rien?”
[54] R. Panikkar, art. "La Foi, dimension
constitutive de l'homme,” trong Mythe et Foi, ed. Enrico Castelli, Aubier 1966,
p. 39:
"L'essence de foi nous semble se trouver
plutôt dans la question que dans la réponse, plutôt dans l'attitude
inquisitive, plutôt dans le désir que dans la réponse concrète qu'on lui donne.
La foi est plutôt le contenant existentiel que le contenu intellectuel de CETTE
CHOSE que nous entendons décrire. Elle est non seulement en ceux qui donnent
une réponse correcte, mais aussi en tous ceux qui authentiquement cherchent,
désirent, aiment, veulent ... en ceux qui sont de "bonne volonté".”
[55] R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 58 (phần thảo luận):
"... j'ai essayé de d’écrire la foi comme
ouverture existentielle à la trancendance, car c'est par elle que l'homme est
en relation avec un principe qui le dépasse.”
Theo R. Panikkar, "khai mở là tin, còn
trả lời tích cực là hành vi tin" (L'ouverture est la
foi, la réponse positive est l'acte de foi [Ibid., p. 60]);
"Cái cứu (con người), là hành
vi tin" (Ce qui sauve c'est l'acte de foi, selon la terminologie
chrétienne [Ibidem]);
"Je répondrai sans hésiter qu'elle (foi comme
orthopraxis) appartient à l'ordre de l'être, et pour cette raison je ne conçois
pas la foi primordialement comme un choix, mais plutôt comme une ouverture qui
signifie actualisation des possibilités, même de la potentia
oboedientialis" (Ibid., p.59).
Tuy Panikkar bảo vệ lập
trường cho rằng: "tin là khai mở hiện sinh,
là vấn nạn sống còn; hành vi tin là câu trả lời
cũng hiện sinh không kém,” tuy nhiên Panikkar cũng không
phủ nhận chiều kích tri thức và ý chí của hành vi
tin (Ibid.,p.39: Si la foi est une ouverture existentielle, c'est-à-dire, une
question vitale, l'acte de foi est une réponse également existentielle,
toutefois il appartient à la perfection de l'acte de fois de posséder aussi une
dimension intellectuelle et un aspect volitif).
Nếu như R. Panikkar chủ trương tin là sự
khai mở, hành vi tin là lời đáp trả, và hành vi tin bao
hàm khía cạnh tri thức (nội dung tin), thì tin
xét như khai mở (ouverture, potentia oboedientialis) có nơi
mọi người, ngay cả nơi những người
không đáp trả tích cực (Ibid. p. 40); Vậy khi nói:
"được cứu độ nhờ tin,” phải
hàm chứa rằng: tin ở đây được hiểu
như hành vi tin, chứ không được hiểu như
khả năng khai mở hoặc khả năng đáp
trả.
(Cf. R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 60.39)
[56] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
493.
[57] H.U.V. Balthasar, La Gloire et La Croix, p.
174:
"Comme signe du Dieu vivant, le miracle a
toujours un sens spirituel et divin, tandis que, considéré uniquement dans son
caractère extraordinaire purement matériel, il renvoie tout au plus à des
causes cachées préternaturelles.”
"La véritable miracle est toujours signe
d'effet surnaturel et d'attestation de Dieu par lui-même" (Van Houe, La
doctrine du miracle chez saint Thomas, pp. 132-133).
[58] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
63-64.
Thực ra, để chấp nhận
phép lạ, người ta cũng phải tin, bởi vì phép
lạ không là một sự kiện tự nhiên do
người ta muốn tái diễn lúc nào tùy ý; để tin
vào phép lạ, người ta phải tin vào lời
người làm chứng.
Phép lạ cũng không là điều kiện
cần, và cũng không là điều kiện đủ,
để tin. Xem thêm:
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 65
St. Thomas, S.T., IIa IIae, q. 2, a. 9, ad 3
[59] Chẳng hạn như tri thức
khoa học thực nghiệm.
[60] Như khoa thần học.
[61] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
412:
"Mais où chercher alors la distinction entre
foi naturelle et surnaturelle? Non pas dans l’objet mais dans le sujet, répond
le P. Hilaire ...
La foi naturelle est une adhésion absolue, mais de
simple constation, donnée par l’esprit obligé de connaitre que les motifs de
crédibilité prouvent avec une évidence absolue les vérités de la doctrine
chrétienne.
Dans la foi naturelle, par contre, le sujet accorde
librement à la même vérité une adhésion qui importe une orientation, au moins
inchoative, de tout son être. C’est le tendere in Deum dont parle S.
Bonaventure.
La grâce de foi doit produire dans l’âme humaine le
déplacement du centre de gravité, qui l’amènera à s’intéresser à un Bien
dépassent infiniment celui que lui révèlent ses puissances naturelles. Or, dans
ce changement d’attitude, les dispositions subjectives ont une part importante;
c’est à ce moment là que peut jouer l’apologétique subjective. Non pour
remplacer l’apologétique scientifique, mais pour la compléter, en s’appuyant
sur elle comme un édifice se construit sur le sol qui lui sert de fondement.”
[62] Philosophie de Dieu hay Théologie naturelle.
[63] Apologie
[64] DS.3004: "Eadem sancra mater Ecclesia
tenet et docet, Deum, rerum omnium principium et finem, naturali humanae
rationis lumine e rebus creatis certo cognosci posse.”
[65] Khi nói lý trí con người có
thể biết Thiên Chúa hiện hữu, điều này không
hề phủ nhận ân sủng, vì tạo dựng đã là
ân sủng, tạo vật cũng là ân sủng, và lý trí cũng
là ân sủng!
Ân sủng được ban lúc
tạo dựng, phải chăng là ân sủng "tự
nhiên"?
[66] "Ơn soi sáng" là từ
ngữ được thánh Augustin dùng.
Xem thêm R. Jolivet, Dieu, Soleil des esprits,
pp.156-157
[67] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
464
[68] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
464-465:
"Pour apercevoir la valeur des indices, dans
le cas de la révélation surnaturelle, il faut une puissance de synthèse
surnaturelle. Dès lors, une démonstration naturelle de la crédibilité est
impossible et, avec elle, disparait la possibilité d’une loi naturelle ou
scientifique. Ce n’est donc pas seulement dans le cas des simples, mais
toujours, que la foi, pour être raisonnable, exige l’intervention de la grâce.”
[69] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
480
[70] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
508
[71] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
498:
"Rousselot prétendait retrouver chez le
docteur angélique ... en particulier l’impossibilité d’une connaissance
naturelle de la révélation ... D’autres, plus modérés, tel l’abbé Ligeard,
concédaient que st. Thomas n’admet pas la possibilité, pour l’homme, de croire
de foi naturelle aux vérités surnaturelles; mais ils maintenaient qu’il affirme
cependant la possibilité d’une évidence naturelle de la credibilité.”
[72] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
499:
"Selon st. Thomas, la raison naturelle
pourrait arriver à une certitude probable ou morale du fait de la révélation,
excluant tout doute raisonnable, mais non pas à l’évidence de ce fait (P.
Lang).
Rousselot considérait que jamais la raison laissée
à elle-même ne serait capable décarter tout doute raisonnable.”
Có người không đồng ý
với lập trường của Rousselot còn đặt
vấn đề: "Lập trường của Rousselot
liệu có trái với giáo thuyết của Giáo Hội không?”
Xem thêm R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 502-503
[73] Ân sủng chính là tình yêu.
[74] "Tự nhiên" ở đây
cũng đã được thấm nhập ân sủng
rồi, và không thể tách "tự nhiên" khỏi
"ân sủng.”
[75] St. Thomae, S.T. I, q.1, a.1: "Homo
ordinatur ad Deum ..."
[76] Không thể quan niệm
"tự nhiên" là Thiên Chúa không quan phòng, nghĩa là, Thiên
Chúa tạo dựng con người rồi để con
người và tạo vật độc lập với
Người.
Thiên Chúa đã tạo dựng vũ
trụ và con người và Ngài còn đang tiếp tục
tạo dựng vũ trụ và con người. Không thể
có tự nhiên "độc lập" với Thiên Chúa,
tách rời Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa.
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 497
note 52:
"S’il existe un désir naturel de la vision
béatifique, donc du surnaturel, la grâce est inutile pour créer ce désir et,
sans doute aussi, pour le constater. Mais ce désir naturel n’est pas admis par
tous les théologiens et beaucoup de ceux qui l’admettent estiment que cette
orientation de la nature n’est pas consciement expérimentée.”
[77] Raymond Panikkar, “La foi dimension
constitutive," pp.37-38:
"Avant tout, l’homme est un être de désir....
Il y a, en effet, dans l’homme un mouvement connaturel vers un "plus
encore,” vers quelque chose de distinct de lui, qui puisse le compléter et
satisfaire sa soif incessante de transcendance d’aller toujours plus ultra, de
ne jamais s’arrêter, de se dépasser toujours"... "Le désir ne nous
pousse pas seulement à le satisfaire, mais aussi à chercher le désiré, et à
poursuivre sans cesse la recherche même si le premier objet a été atteint... La
recherche est constitutive de l’homme, qu’on appelle Dieu, Homme, Vérité, Bien,
Plaisir, Vie ou Néant le but de ce désir.”
Dieu est, anthropologiquement parlant, l’objet, le
terme ultime du désir.”
Cf. S. Augustinus, Sol.I, 1, 2 PL.32, 869: Deus,
quem amat omne quod potest amare, sive sciens sive nesciens.
"L’homme cherche ce qu’il na pas, ce quil
n’est pas; Il cherche toujours son Dieu.”
(Cf. St. Thomae, Contra Gent. III, 19: Omnia igitur
appetunt quasi ultimum finem Deo assimilari).
[78] S. Augustinus, Confess., l.I, c.1, 1
[79] Thời gian trước khi
trở lại, thánh Augustin đã chịu ảnh
hưởng của Platon với thuyết "nhớ
lại" (réminiscence, hồi tưởng), cho rằng con
người sở hữu mọi tri thức ngay từ lúc
mới sanh, ngay từ khi linh hồn được phú
bẩm vào thân xác (R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., pp. 111-112.
114).
Nhưng sau khi trở lại, thánh nhân
đã sửa đổi quan niệm trên bằng "ơn
soi sáng,” cho rằng con người sở hữu tri
thức "vĩnh cửu" nhờ tiếp xúc liên
tục với Thiên Chúa qua từng hành vi của lý trí (R.
Jolivet, op. cit., p. 114).
Quan niệm về ơn soi sáng
xuất hiện trong các tác phẩm Contra Academicos (III, c. VI,
n.13, t.I, col. 467a: Etenim lumen aliquod aisti solum posse ostendere homini
quid sit verum, tum breviter, tum etiam pie), trong De Vita beata viết
vào cuối năm 386 (c.IV, n.35, t.I, col. 519b), trong Soliloques
viết vào năm 387 (I, c.1, n.3, col. 599c: Deus intelligibilis lux,
in quo et a quo et per quem intelligibiliter lucent omnia. Ergo et illa quae in
disciplinis traduntur... credendum est ea non posse intelligi, nisi ab eo (Deo)
quasi suo sole illustrentur), trong De immortalitate animae viết vào
năm 387 ngay sau Soliloques, và nhất là trong De magistro viết
vào năm 389 (c.XI, n. 38, t.I, col. 916a).
Cf. R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., pp.
44-45.
[80] R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p.
149 note 1:
"Il vaut mieux penser que la nature de l’âme
intellectuelle a été créée de telle sorte quelle connaisse la vérité par une
disposition naturelle, conformément à la volonté du Christ" (Aug., De
Trinitate, XII, c.XV, n. 24, t. 8, col. 1403a: Sed potius credendum est mentis
intellectualis conditam esse naturam, ut rebus intelligibilibus naturali
ordine, disponente Conditore, sic ista vident).
R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p. 189:
"Pour saint Augustin, la lumière spéciale de
lillumination est aussi bien une lumière naturelle, en tant que l’âme est
ordonnée par nature à la recevoir (Cf. De lib. arbit., III, c. V, n. 13, t.I,
col. 1001c). Mais cela n’empêche pas d’être une lumière spéciale, distincte de
la lumière propre de l’intelligence.”
[81] R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p.
156 note 1:
Aug., In Joan. Evang., tract. XV, n.19, t.3, col. 1858b:
"Sic anima quiddam est quod intellectus vocatur. Hoc ipsum quod
intellectus et mens dicitur, illuminatur luce superiore. Jam superior illa lux,
qua mens humana illuminatur, Deus est" (Il y a dans notre âme une faculté
que l’on l’appelle intellect. Cette faculté de lâme, nommée intellect ou
esprit, est illuminé par une lumière supérieure, et cette lumière supérieure à
lâme, par laquelle l’esprit humain est illuminé, c’est Dieu).
[82] R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p.
157
Cf. AUG., In Joan. Evang., tract. XXXV, n.3, col.
2045d
[83] R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p. 80:
"St. Thomas cite un texte de saint Augustin,
sur lequel nous aurons à revenir, tiré du De Trinitate, et ajoute: Cette
lumière, en laquelle notre esprit connait, c’est lintellect agent" (Lux
autem ista qua mens nostra intelligit, est intellectus agens).
AUG., De Trinitate, XII, c. XV, n. 24, t.8, col.
1403a
[84] R. Jolivet, Dieu- Soleil des esprits ..., p.
190:
"Lorsque saint Thomas déclare que cette
lumière, en laquelle nous connaissons la vérité, l’âme la possède, non par
elle-même, mais en elle-même, il use la même formule que saint Augustin.
Pour saint Thomas, dire que l’âme possède en
elle-même la règle infaillible de la vérité, c’est dire que cette règle ne fait
qu’un avec intelligence et qu’elle la constitue intrinsèquement, tandis que,
chez saint Augustin, cela ne signifie qu’une réception en l’âme d’une lumière.
[85] Con người được
hạnh phúc trọn vẹn khi biết mình đang hạnh
phúc, đang được yêu.
[86] Cả hai đều là tri
thức, vì đều là phán đoán.
[87] Augustin, De Praedest. sanctorum, cap. 2, 5
PL. 44, 963: "Credere est cum assensione cogitare."
Cf. M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 97.
Thánh Augustin nhấn mạnh khía
cạnh thuộc lý trí: "nullus quippe credit aliquid nisi prius
cogitaverit esse credendum" (Augustin, De Praedest. sanctorum, cap. 2, 5
PL. 44, 962s).
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p.47
H. Kueng, Dieu existe-it? p. 590
Nhưng theo thánh Albert Cả, thánh Augustin
còn nhấn mạnh cả khía cạnh ý muốn (thuận
lòng) nữa: "... In theogicis autem fides lumen est, certissimam
faciens adhaesionem et assensum; dict enim Augustinus quod credere est cum
cogitatione et admiratione assentire" (Albert Le Grand, Sum. Theol., Ia pars,
t.3, q.15, m.3, a. 1, ad 3)
Cf. M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 103
[88] ALBERT LE GRAND, In III Sent., d. 23, a. 8,
ad 1: "Credere est essentialiter in assensu. Tamen per accidens, in
quantum nutritur et fovetur et manuducitur, habet se ad cognitivam virtutem
inquirentem de credito... non qua certificetur, sed in qua jucunditur et
admiretur.”
Cf. M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 97: "Le
credere, essentiellement, c’est l’assensus; La cogitatio ne lui appartient que
per accidens.”
[89] Ibidem.
[90] "Sed in fide est assensus et cogitatio
quasi ex aequo"
Cf. M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 98
[91] St. Thomas, De Ver., q. 14, a. 1, corp. ante
finem: "Non enim assensus ex cogitatione causatur, sed ex voluntate.”
Cf. M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 98
[92] St. Thomas, S. T., IIa IIae, q. 1, a. 4:
"L’intelligence peut adhérer à quelque chose sans y ête pleinement portée
par son objet propre, mais en s’attachant volontairement, par un choix, à un
parti plutôt quà un autre.”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 54
[93] M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 93:
"Le credere, adhésion volontaire, n’est pas une opinion renforcée, et
toutes les "rationes" qu’on pourra lui ajouter (nous dirions
aujourdhui les motifs de crédibilité) ne l’engageront nullement dans la voie de
la science; son mobile déterminant sera le désir de la vie éternelle encore
absente, et son motif formel d’autorité de Celui qui nous renseigne sur ces
biens mystérieux.”
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 58:
"C’est donc le désir de la fin dernière surnaturelle qui constitue pour
st. Thomas le mobile de l’acte de foi.”
"Ce désisr n’implique pas nécessairement que
la volonté soit sous l’influence de la charité mais il ne s’expliquerait
cependant pas sans une élévation surnaturelle des facultés humaines, car un
être ne tend efficacement vers une fin que s’il expérimente déjà quelque chose
de la bonté de celle-ci d’une manière inchoative; il faut donc, pourque l’homme
agisse en vue de la béatitude surnaturelle, qu’un avant-got lui en soit infusé
par Dieu.”
[94] St. Thomas, S.c.G., III, c.40: "In
cognitione autem fidei, principalitatem habet voluntas: intellectus enim
assendit per fidem his quae sibi proponuntur id quia vult, non autem ex ipsa
veritatis evidentia necessario tractus.”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 55:
" L’acte de foi est ainsi un assentiment où l’intelligence, telle une
captive, s’incline devant les ordres de la volonté.”
[95] Và điều này hiện hữu
bẩm sinh nơi con người, vì con người đã
được tạo dựng để hướng
về Thiên Chúa "homo ordinatur ad Deum" (St. Thomas, S.T., I,
q.1, a.1).
E. Schillebeeckx, Approaches théologiques, p. 227:
"Pour st. Thomas, nous n’avons aucun concept de Dieu, mais uniquement des
concepts créés que nous n’appliquons pas à Dieu mais à travers lesquels
nous tendons vers Dieu, sans pouvoir le saisir
conceptuellement."
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, pp. 57-58
và ghi chú 32: "La décision de la volonté... s’enracine dans un appetit
beaucoup plus foncier, dans le désir qua l’homme de s’approprier les promesses
divines, quidam appetitus Boni repromissi …
C’est parce que la foi apparait comme le moyen
d’arriver à la béatitude finale que la volonté qui aspire à la posséder, fait
pression sur l’intelligence et entraine son assentiment.”
Cf. St. Thomas, De Ver., q. 14, a. 1, ad 10m
St. Thomas, III Sent., d. 23, q. 2, a. 5,
ad 4m: "Cum alicui proponuntur bona aeterna,
primo vult ea, et secundo eis inhaerere vult per amorem, et tertio vult sperare
ea, et quarto vult credere ea ut credens possit jam sperare et amare et
hahere.”
ad 5m: "Quamvis fides praesupponat voluntatem,
non tamen praesupponit voluntatem jam amantem sed amare intendentem... Unde
iste est naturalis ordo actuum quod prius apprehenditur Deus, quod pertinet ad
cognitionem praecedentem fidem, deinde aliquis vult ad eum pervenire, deinde
amare vult et sic deinceps ut prius dictum est.”
[96] Cf. St. Thomas, In Aristotelis Librum De
Anima Commentarium, L.II, l. V, n. 288: "Tertium autem est voluntas, quod
est appetitus intellectivus, consequens scilicet apprehensionem
intellectus"
(Ed. Marietti 1959, p. 75).
[97] St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 5, a. 2
St. Thomas, De Ver., q. 14, a. 1: "La volonté
peut déterminer l’intelligence en choisissant comme objet d’adhésion tel
jugement déterminément et précisément pour un motif d’ordre volontaire et non
point intellectuel, à savoir la bonté ou la convenance de la dite adhésion.
C’est ainsi par exemple qu’un homme en croit un autre parce qu’il y voit
quelque décence ou quelque utilité.
Nous aussi, chrétiens, nous sommes portés à croire
le message révélé parce que nous est promise, si nous croyons, la récompense de
la vie éternelle; C’est l’attrait de cette récompense qui porte la volonté à
l’assentiment de foi malgré l’absence de motifs intellectuels.” Cf. R. Aubert,
Le problème de l'acte de foi, p. 57.
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 5, a. 2: "Que
la volonté porte ainsi l’intelligence à donner son assentiment, cela peut venir
de de causes. Dans un cas, cela vient de ce que la volonté est tournée ver le
bien quil y a dans la foi et alors croire est un acte louable. Dans un autre,
cela vient de ce que l’intelligence est convaincue au point d’estimer qu’elle
ne peut faire autrement que de croire à ce qui est dit, encore qu’elle ne soit
pas convaincue par l’évidence de la chose. Par exemple, si un prophète prédise
dans un discours inspiré par le Seigneur un évènement futur et s’il
accompagnait cette annonce d’un signe tel que la résurrection d’un mort,
l’intelligence des spectateurs retirerait de ce signe la conviction que la
prédication vient de Dieu, qui ne ment pas.” Cf. R. Aubert, Le problème de
l'acte de foi, p. 55-56.
[98] Không hiểu từ ngữ uyên
nguyên, khởi đầu, cơ bản ở đây trong
thời gian. Khi nói "ý chí là khuynh chiều nghiêng theo lý trí,
tuân theo điều lý trí lãnh hội là chân thiện mỹ,”
chúng ta phải hiểu lý trí ở đây là tri thức nguyên
khởi không được chứng minh.
[99] J. Truetsch, “La Foi,” p. 88:
"La décision de la volonté se règle d’après la
saisie de la vérité par l’entendement... Quand il s’agit d’une connaissance qui
met en jeu la liberté personnelle, cette saisie de la vérité est redevable de
son existence à la libre décision de la volonté.
Plus la volonté désire se tenir grande ouverte à la
réalité dans sa plénitude, plus elle est libre et dégagée de conditions
contraires; La volonté ne fait pas preuve de liberté en asservissant
l’entendement et en forant ses limites, mais précisément en le liberant pour le
rendre à sa propre nature. La volonté est véritablement libre quant elle dit
oui, quand elle adhère à la réalité totale et plénière et donc à la réalité
divine; L’entendement est vraiment libéré quand il a trouvé son
"quodammodo omnia,” sa disponibilité à tout, au tout, donc au divin.”
Cf. U. Bianchi góp ý cho R. Panikkar trong
R. Panikkar, “La foi dimension constitutive,"
p. 47: "Je crois que la foi et l’acte de foi forcent l’homme à choisir, ou
mieux: ils sont le choix. C’est à dire que la foi n’est pas implicite,
constitutive, comme vous le dites; ou si elle l’est, elle l’est partiellement,
mais pas essentiellement. Elle est quelque chose qui s’inscrit dans la
transcendance, dans une rupture.”
[100] Và nếu họ có chấp
nhận Thiên Chúa hiện hữu như ma qủy, thì họ
cũng phản loạn không vâng phục.
[101] Augustinus, De doctrina christiana, 3, 10,
16: "Caritatem voco motum animi ad fruendum Deo propter ipsum, et se atque
proximo propter Deum; Cupiditatem autem motum animi ad fruendum se et proximo
et quolibet corpore non propter Deum" (Trích bởi Rouet de Journel,
Enchiridion Patristicum, Herder 1965, n. 1586).
Santi Thomae Aquinatis In Aristotelis Librum De
Anima Commentarium, ed. Marietti 1959, n. 288 (L. II, l. V): "Si autem ibi
sensitivum, oportet quod adsit tertium, scilicet appetitivum. Quod quidem dividitur
in tria: scilicet desiderium, quod est secundum vim concupiscibilem; et iram,
quae est secundum vim irascibilem: qui duo appetitus pertinent ad partem
sensitivam: sequuntur enim apprehensionem sensus. Tertium autem est voluntas,
quod est appetitus intellectivus, consequens scilicet apprehensionem
intellectus.”
St. Thomas, S. T., I, q. 19, a. 1, corp.:
"Respondeo dicendum in Deo voluntatem esse, sicut et in eo est
intellectus: voluntas enim intellectum consequitur...
Unde in quolibet habente intellectum, est voluntas;
sicut in quolibet habente sensum, est appetitus animalis. Et sic oportet in Deo
esse voluntatem, cum sit in eo intellectus. Et sicut suum intelligere est suum
esse, ita suum velle.”
[102] Ý chí là nghiêng chiều, theo lý trí
(theo điều lý trí thấy là đúng là tốt).
[103] Ga 6:44: "Không ai có thể
đến cùng Ta được, nếu Cha, Ðấng đã
sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy.”
[104] St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 2, a. 9:
"Credere est actus intellectus assentientis veritati divinae ex imperio
voluntatis a Deo motae per gratiam.”
q. 6, a. 1, ad 3m: "Oportet quod voluntas
hominis praeparetur a Deo per gratiam ad hoc quod elevatur in ea quae sunt
supra naturam.”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 59
note 36
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q.6, a. 1, ad 1m
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
257: "La cause déterminante de celui-ci est à chercher dans une motion
spéciale de Dieu sur la volonté et l’intelligence du croyant: en dehors de la
proposition extérieure de la révélation garantie par les miracles, "il
faut la grâce, intérieurement communiquée, de l’adhésion consentie,” suivant la
parole de st. Thomas: principalis et propria causa fidei est id quod interius
movet ad assentiendum.”
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thay
đổi ý chí con người, làm cho ý chí con người
trở nên mãnh liệt, để con người nghiêng
chiều về điều lý trí thấy đúng và tốt
lành (ý chí):
"Causa fidei est illa quae facit credentem
assentire his quae dicuntur,” nghĩa là Thiên Chúa "qui solam (sic!
solus) voluntatem potest mutare; causat autem fidem in credente inclinando
voluntatem et illustrando intellectum fidei ut non repugnet his quae a
praedicatore proponuntur.”
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 50 note
15 trích dẫn St. Thomas, De Ver., q. 27, a. 3, ad 12m.
Nguyên nhân chính của đức tin là
tác động thần linh (R. Aubert, Le problème de l'acte de foi,
p. 71: La vraie cause de la foi, cest une action divine interne).
[105] H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
Les aspects esthétiques de la Révélation, Trad. Robert Givord, col. Théologie
61, Aubier 1965, p. 136: "La préponderance entitative de Dieu dans le
coeur et l’esprit de l’homme empêche que la foi ne se définisse sur la base
d’un desiderium naturale intellectus, d’un postulat de la raison,
ce qui ferait que le divin serait "mesuré" à l’humain" (Cf. St.
Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 7, a. 2, ad 2).
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, pp.
485-486: "Le père Huby a montré, entre autres, comment, dans les écrits
joanniques, la foi suppose, toujours, même chez le pécheur, un désir de la vie
éternelle, qu’elle nous rend apte à goter; comment elle est considérée
"comme une attraction du Père, comme une motion de l’Esprit, ou encore un
témoignage divin intérieur"; comment elle perfectionne l’intelligence en
l’enrichissant d’une pénétration accrue, qui permet de saisir les indices les
plus spirituels, mais sans laquelle on est comme un aveugle devant les prodiges
les plus éclatants.”
[106] H. U. Von Balthasar, op. cit., p. 148:
"Tout ce dynamisme ne peut jouer quau sein de lorientation totale de
lhomme vers Dieu, donc dans un ensemble existentiel qui met en jeu la raison
tout autant que la volonté, la liberté et lamour. Cest la grâce qui convertit
lhomme à cette marche existentielle vers Dieu et len rend capable pour
donner....”
[107] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
66 và các ghi chú 64, 62:
"Lintérior instinctus suffit à fair savoir à
lhomme quil doit croire, et que la prédication quil entend émane réellement de
la Vérité divine elle-même.”
R. Aubert trích dẫn thánh Thomas:
St. Thomas, Qdl. II, a. 6, ad 3m: "Dicendum
quod interior instinctus quo Christus poterat se manifestare sine miraculis
exterioribus pertinet ad virtutem Primae Veritatis quae interius hominem
illuminat et docet.”
[108] S. Thomae In Boethium de Trin., q. 3, a. 1,
ad 4m: "Lumen fidei... non movet per viam intellectus sed magis per viam
voluntatis.”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 52:
"Il n’entrâine pas l’assentiment en donnant l’évidence des vérités à
croire; il y fait adhérer par un acquiescement de la volonté.”
[109] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
59: "Comme st. Thomas s’intéresse avant tout à la vertu de la foi (dont le
siège formel est lintelligence, puisque croire est un acte de connaissance), il
parle moins souvent du rôle joué par la grâce directement sur la volonté; Mais
par les quelques passages où il la signale, on voit très bien l’importance
qu’il lui accorde en fait: un attrait divin est indispensable qui travaille le
coeur de l’homme et incite la volonté à donner à
l’intelligence l’ordre de croire: instinctum divinae operationis
moventis interius cor hominis ad credendum ( S. Thomae, In Joan. VI,
lect. 5, n. 3).”
S. Thomae, In Rom. VIII, lect. 6: " Primum in
quo incipit praedestinatio hominis impleri est vocatio hominis, quae quidem est
duplex una exterior, quae fit ore praedicatoris... alia vero vocatio est
interior, quae nihil aliud est quam quidem mentis instinctus, quo cor hominis
movetur a Deo ad assentiendum his quae sunt fidei et virtutis... Et haec
vocatio necessaria est quia cor nostrum non se converteret ad Dominum nisi ipse
Deus nos ad se traheret.”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 59
note 35.
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 58:
"La foi est donc tout entière sous l’influence de la grâce, comme on le
disait plus haut. Ce n’est pas seulement la vertu de foi, infusée dans l’âme du
chrétien lors de son baptême, qui vient de Dieu, mais déjà les touches divines
qui l’attirent à la foi et rendent celle-ci possible, "sed etiam interior
instinctus ad credendum" (S. Thomae, In Joan. VI, lect. 4, n. 7).”
S. Thomae, In Joan. V, lect. 6, n. 8-9:
"Deus testificatur alicui dupliciter, scilicet
sensibiliter et intelligibiliter... Intelligibiliter autem testificatur
inspirando in cordibus aliquorum quod credere debent....”
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 66
note 64.
[110] S. Thomae In Boethium de Trin., q. 3, a. 1,
ad 4m:
"Lumen fidei ... non movet per viam
intellectus sed magis per viam voluntatis.” Cf. R. Aubert, op. cit., p. 52.
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 59:
"Un attrait divin est indispensable qui travaille le coeur de l’homme et
incite la volonté à donner à l’intelligence l’ordre de croire: instinctus
divinae operationis moventis interius cor hominis ad credendum" (S.
Thomae, In Joan. VI, lect. 5, n. 3).”
Thời đầu khi bàn về hành vi
tin thánh Thomas nhấn mạnh đến lý trí, nhưng
về sau thánh nhân nhấn mạnh đến ý chí nhiều
hơn.
[111] Ðiều này được
thấy rõ ràng nơi các nhà khoa học hữu thần,
chẳng hạn nơi Teilhard de Chardin với niềm tin
Thiên Chúa và tri thức "tiến hóa.”
[112] Không có mâu thuẫn khi cho rằng
niềm tin có Thiên Chúa hàm chứa trong
niềm tin vào Thiên Chúa, dù theo luận lý
phải tin có Thiên Chúa thì mới có thể tin
vào Thiên Chúa.
[113] H. Kueng, Dieu existe-it? p.483: "La
négation nihiliste n’atteint pas seulement la certitude subjective, la
certitude du sujet pensant ou croyant. Elle creuse également toute certitude
objective, elle atteint ce que nous pouvons tacitement présupposer comme
certain en tout acte de connnaissance: la certitude fondamentale présupposée de
l’être et des premiers principes évidents de lêtre, telle que l’affirme la
philosophie classique de l’être. En particulier: ens est ens (principe
d’identité), ens non est non ens (principe de contradiction). De tels principes
ne sont-ils pas évidents pour tout homme (principia per se nota omnibus)?
L’homme possède-t-il une certitude naturelle (habitus principiorum)?”
H. Kueng, Dieu existe-it? p. 484: "Pour
Nietzsche, le doute sur la valeur de certaines certitudes se trouve radicalisé
jusqu’à devenir un doute sur la possibilité même d’être certain en général.”
H. Kueng, Dieu existe-it? p. 488: "Que dire
après les objections de Nietzsche contre les "certitudes immédiates,”
comme cette certitude "naturelle" du principe d’identité et de
contradiction?”
Ngay cả những nguyên lý siêu hình,
nếu nó hàm chứa trong niềm tin vào Thiên Chúa trước
niềm tin vào mình, nó vẫn có sự chắc
chắn tuyệt đối mà lời phê bình của Nietzsche
không đụng tới được!
[114] Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 89: "La
foi ne peut se mettre (qu) en travers de la raison, elle doit être
"rationabilis,” conforme à la raison... Il s’agit donc de rationabilité de
la foi, non dans la vision, cest à dire d’une "rationabilis credibilitas.”
Exiger que l’on croie "aveuglement" sans
que cette croyance apparaisse juste à la raison, "croyable,” bien plus,
"obligatoire" (credendum), serait porter atteinte à la dignité que
l’homme tient de la création (mirabiliter creasti) et que le "mirabilius
reformasti" a élevée à une hauteur inimaginable et ne veut pas détruire.
Il n’est pas de foi où ne soit présent le "videre esse credenda" (St.
Thomas, S.T., IIa-IIae, q. 1, a. 4, ad 2).”
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 417:
"Si l’acte de foi surnaturelle n’est que l’élévation ontologique d’un acte
de foi scientifique, comme le prétendent les jésuites depuis trois siècles, et
en particulier Billot, le maitre vénéré de Bainvel, on comprend qu’on soit
inflexible sur la valeur spéculative des motifs de crédibilité, car c’est elle
qui fait toute la valeur substantielle de cet acte naturel, et on concoit que
Dieu ne puisse accorder le laissez-passer de sa grâce à une démonstration qui
n’exclut pas toute possibilité d’erreur spéculative.
La crédibilité rationnelle sert vraiment, dans une
telle conception, de fondement à la foi, et si les motifs de crédibilité ne
sont que probables, c’est l’acte de foi lui-même qui se trouve sans
justification objective et absolue... Mais "le jugement surnaturel de crédibilité,
tout en supposant comme condition préalable la crédibilité prudentielle
naturelle, se fonde objectivement sur une illumination surnaturelle.”
[115] St. Thomas, In III Sent., d. 23, q. 2, a. 1,
sol. 1, ad 2: "Fides habet certitudinem ab eo quod est extra genus
cognitionis, in genere affectionis existens.”
M. D. Chenu, La Parole de Dieu, p. 92: "St.
Thomas n’accepte pas une si radicale hétérogenéité, où semble compromise
l’unité de l’esprit: de cette double rupture avec l’intellectualisme
d’Aristote, il refusera l’une en maintenant que la foi, adhésion au vrai, est
l’acte de l’intellect spéculatif, seule faculté du vrai; et s’il accepte
l’autre, c’est-à-dire, l’assentiment par élection affective, s’il s’efforcera
de l’expliquer dans le schema aristotélien, se reconstruisant dans l’échelle
des sentiments la psychologie de l’opinion.”
[116] Ý chí ở đây hiểu là khuynh
hướng chủ thể thấy là đúng là tốt.
[117] Thành ngữ tiếng Latin viết:
"errare humanum est.”
[118] J. Truetsch, “La Foi,” p. 131: "Credo
Deum (objectum materiale: Deum salutarem... Christum Verbum incarnatum ex Patre
natum), quia credo Deo (objectum formale seu motivum: Deo auctoritative
loquenti in Christo...) et credo Deo quia credo in Deum (en tant quil est pour
moi la fin ultime à laquelle j’aspire).”
[119] Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 124:
"L’auctoritas Dei revelantis doit être reconnue avant la foi, mais, dans
la foi elle-même, il n’y a assentiment à la vérité révélée qu’en vertu de
l’autorité de Dieu....”
Với Suarez, nguyên do thúc đẩy tin
là uy quyền của Thiên Chúa mặc khải:
J. Truetsch, “La Foi,” p. 126: "Pour Suarez,
le motif rationnel de la foi, c’est-à-dire l’auctoritas Dei revelantis, est
affirmé dans la foi elle-même, ou plus précisément il est l’objet de foi: Dieu
témoigne non seulement de ce qu’il est Trinité, etc., mais aussi de la réalité
de son témoignage.”
Còn đối với De Lugo, "Selon
De Lugo, le motif de la foi est affirmé dans la foi même, il n’est pourtant pas
"de foi,” mais il est saisi immédiatement, de facon non évidente, obscure,
bien qu’avec une certitude absolue. Cette saisie est surnaturelle, dans la mesure
où elle est due à l’habitus de foi infusée en nous" (J. Truetsch, “La
Foi,” p. 127).
[120] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
469: "Newman affirme à maintes reprises que le simple exposé d’arguments
apologétiques, tels que les miracles, est incapable, par lui-même, de
convaincre l’esprit et que la valeur de la preuve n’apparait qu’à ceux qui sont
déjà convaincus de l’intervention surnaturelle de Dieu dans le monde,
conviction engendrée elle-même par l’amour.”
Có thể nói Newman cùng lập
trường với thánh Thomas:
"Formale objectum fidei est Veritas prima
secundum quod manifestatur in Scripturis sacris et doctrina Ecclesiae quae
procedit ex Veritate prima" (St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 5, a. 3).
"On croit donc "parce que Dieu la
dit" et c’est pourquoi la Vérité première constitue non seulement la
matière principale de l’acte de foi mais aussi son objet ou motif formel"
(R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 49).
[121] H. Kueng, Dieu existe-it? p. 51: "Dans
les questions touchant la foi, on pouvait de moins en moins se référer à
l’auctoritas (la Bible, les pères de lÉglise, les conciles, les papes-qui se
contredisent souvent). Il fallait donc recourir courageusement à la ratio et à
analyse spéculative pour établir de la clarté.”
[122] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
229: "Or l’esprit humain peut prouver philosophiquement que Dieu est la
Vérité suprême, et que, dès lors, ce qu’il révèle est vrai; Il peut ensuite
prouver historiquement, en faisant appel aux miracles qui guarantissent la
mission des messagers de Dieu... la conclusion inéluctable sera que ces vérités
méritent d’être crues. Cest ce qu’on nomme le jugement de crédibilité (Hoc est
credibile)..., et un jugement pratique de crédibilité: "je dois croire
ceci,” auquel on donne le nom de jugement de credentité (hoc est credendum).”
J. Truetsch, “La Foi,” p. 90: "Comme il s’agit
de raison de croire à une révélation qui requiert l’obéissance; crédibilité
signifie toujours en même temps obligation de croir: crédentité; celle-ci est
donc toujours sous-entendue quand nous parlons de celle-là.”
Dù trích dẫn R. Aubert và J. Truetsch ở
đây, tôi không muốn nói hai tác giả này phủ nhận
nại vào uy quyền Thiên Chúa trong việc lý giải
đức tin, nhất là trong việc lý giải tâm lý
"chắc chắn rằng điều mình tin là
đúng" nơi chủ thể tin.
[123] J. Truetsch, “La Foi,” p.121-122: "Je
crois parce que Dieu la dit. Évidemment cet acte de foi présuppose que je sais
aussi que Dieu la dit, que je connais le factum revelationis, le fait que c’est
réellement Dieu qui a parlé par Jésus Christ. Évidemment, ce fait, lui, je ne
puis le connaitre en vertu de l’autorité qui en témoigne: il me faudrait alors
connaitre au préalable le fait que Dieu a attesté le factum revelationis... Ce
serait une progression à l’infini.
Donc semble-t-il, je dois connaitre le fait de la
révélation avant d’avoir la foi et le connaitre en dehors d’elle pour pouvoir
accepter le contenu de la révélation sur l’autorité de Dieu qui en témoigne.
Ainsi donc le motif incréé, de son côté- la reconnaissance de la crédibilité ou
le fait de la révélation chrétienne- pour qu’il soit possible de motiver l’acte
de foi. Mais alors le motif incréé ne serait plus le motif dernier. La foi
perdrait son caractère d’immédiateté divine, elle ne serait plus réellement
"théologale."”
[124] J. Truetsch, “La Foi,” p.123: "ou
bien je rends l’adhésion de foi indépendante de la connaissance de la
crédibilité; Je place donc celle-ci avant la foi; mais de telle manière que
cette connaissance n’a aucune influence déterminante sur la réponse de foi
elle-même; alors la foi semble être aveugle, sans justification devant le
tribunal de la raison, car je donne mon adhésion à une vérité en vertu de
l’autorité de Dieu, sans savoir que l’autorité de Dieu y est réellement
engagée, sans savoir que Dieu a parlé en Jésus Christ; ou bien je
fais dépendre l’adhésion de foi de l’examen de la crédibilité: elle ne peut
plus être alors "assensus super omnia firmus et infallibiliter
certus.""
[125] F-J. Thonnard, Précis d'histoire., pp.
157-158: "Favorinus reprit les dix pyrrhoniens et Agrippa les réduisit à
cinq, dont voici le résumé: "Si un dogmatiste affirme une chose, on peut
toujours la nier (contradiction); s’il veut la prouver par un autre principe,
on peut nier celui-ci, et ainsi de suite (progrès à l’infini); s’il déclare un
de ces principes, évident, c’est dire seulement qu’il parait vrai,
à moins de preuve (relativité); s’il renonce à le prouver, le principe devient
une supposition contestable (hypothèse); et s’il risque une démonstration, il
faut à celle-ci un criterium: le voilà dans le diallèle (cercle vicieux)...
Le critère n’existe pas, car:
a). ou bien on prouve sa valeur, et il faut un
nouveau critère pour juger la valeur de cette démonstration. On va donc à
l’infini et de nouveau, tout reste incertain;
b). ou bien on l’admet sans prouver sa valeur, et
tout reste incertain.”
[126] J. Truetsch, “La Foi,” p. 47: "Mais
surtout, dans sa lutte contre le naturalisme pélagien il (Augustin) fait
ressortir que la foi est un don de la grâce.”
[127] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
27: "Mais quelques années plus tard, Augustin eut à faire face à une autre
erreur plus subtile, qui porte dans l’histoire le nom de semipélagianisme. La
grâce divine serait indispensable pour tout acte salutaire, à l’exception de la
première démarche de la vie spirituelle, l’initium fidei, cest-à-dire l’acte de
foi initial en lequel consiste la conversion et par lequel l’homme, en se
soumettant à Dieu et au Christ, se met en route vers Dieu.”
[128] Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi,
p. 71:
"Il y a place pour beaucoup d’actes de raison
dans la foi, mais ces actes de raison accompagnent la foi, sans en constituer
la cause" (St. Thomas, De Ver., q. 14, a. 2, ad 9m; a. 1, ad 6m).
"La vraie cause de la foi, c’est une action
divine interne (Fides habet certitudinem ex lumine infuso divinitus...
Principia fidei cognoscuntur ex lumine infuso divinitus)" (St. Thomas, In
Joan., IV, lect. 5, n. 2).
R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p. 50:
"Lorsqu’il adhère à ce qui est de foi, l’homme
est élevé au-dessus de sa nature; il faut donc qu’il ait cela en lui par un
principe surnaturel qui le meuve du dedans; et ce principe, c’est Dieu. La foi,
quant à cette adhésion qui en est l’acte principal, vient de Dieu qui, par sa
grâce, nous meut intérieurement" (S. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 6, a. 1).
"Dicendum quod gratia facit fidem, non solum
quando fides de novo incipit esse in homini sed etiam quamdiu fides
durat..." (St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 4, a. 4, ad 3m).
[129] VATICAN I: "Ipse fides in se... est
donum Dei" (DS 3010).
LE SECOND CONCILE DORANGE: "Per gratiae donum,
id est per inspirationem Spiritus Sancti corrigentem voluntatem nostram ab
infidelitate ad fidem" (DS 375).
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 67: "Le
commencement de la foi lui aussi, et même la pieuse disposition à croire... est
en nous en vertu d’un don de grâce..."
[130] Vatican I: "Fides ipsa in re, etiamsi
per caritatem non operatur (cf. Gl 5:6) donum Dei est et actus ejus opus ad
salutem pertinens" (DS 3010).
J. Truetsch, “La Foi,” p. 66: "Même si la foi
ne s’achève pas par l’amour, elle est cependant un don de Dieu, et l’acte de
foi est une oeuvre ordonnée au salut.”
[131] Những người lạc giáo
không phủ nhận Thiên Chúa nhưng phủ nhận uy
quyền trung gian của Hội Thánh. Ác qủy cũng không
phủ nhận Thiên Chúa, và cũng không phủ nhận Thiên
Chúa tốt lành đáng tin (credere Deo), nhưng ác qủy không
phó thác nơi Thiên Chúa và không muốn vâng phục Thiên Chúa
(cedere in Deum).
Có một số người cho
rằng hành vi tin của người lạc giáo là hành vi tin
"tự nhiên" chứ không phải "siêu nhiên,” và
như vậy nơi những người này chỉ có
sự chắc chắn chủ quan tương đối;
nghĩa là hành vi tin của họ không là ân sủng của
Thiên Chúa:
"Celui-ci (A. Stolz, Glaubensgnade und
Glaubenslicht nach Thom. Von Aq., Rome 1933) accorde à Rousselot que, pour st.
Thomas, l’acte de foi surnaturelle est spécifiquement et substantiellement
distinct de l’acte de foi naturelle; et que cette différence ne provient pas,
comme l’affirme l’école dominicaine, d’une soi-disant distinction entre
l’autorité de Dieu, auteur de la nature ou de la grâce, mais de ce que
l’habitus de foi est principe d’une connaissance par connaturalité...
D’autre part, continue le P. Stolz, la saisie
naturelle de ces signes peut suffire à fonder une foi naturelle, comme c’est le
cas chez l’hérétique, par exemple...
Or telle est bien le genre de certitude de cette
foi naturelle, trop décriée certes par Rousselot, qui la réduisait à n’être
qu’une opinion dubitative, mais beaucoup trop appréciée par nombre de
théologiens modernes (la dénomination de "foi scientifique" est tout
à fait caractéristique à cet égard).”
Thánh Thomas cho rằng, đức tin
của ác qủy không có sự can thiệp của ý chí
tự do (nghĩa là nơi ma qủy không có tự do
để phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu) nhưng
do sự hiển nhiên của các dấu chỉ. Cf. H. U. Von
Balthasar, La Gloire et la Croix, p. 173 trích dẫn St. Thomas, S. T.,
Ia-IIae, q. 5, a. 2, ad 1 và ad 2:
"Daemonum fides est quodammodo coacta ex
signorum evidentia... coguntur ad credendum ex perspicacitate naturalis
intellectus.”
St. Thomas, De Ver., q. 14, a. 9, ad 4: "Ce
n’est donc pas volontairement (non voluntate assentiunt), mais
par l’évidence contraignante des signes, par lesquels la vérité se manifeste
(convincitur), qu’ils croient ce que croient les croyants, quoique les signes
ne laissent pas apparaitre ce qui est cru au point qu’on puisse dire qu’ils
aient la vision immédiate des choses crues.”
Ác qủy tin có Thiên Chúa mà không tự
do, bởi vì: "Que la volonté porte ainsi l’intelligence à donner son
assentiment, cela peut venir de deux causes. Dans un cas, cela
vient de ce que la volonté est tournée vers le bien qu’il y a dans la foi et
alors croire est un acte louable. Dans un autre, cela vient de ce
que l’intelligence est convaincue au point d’estimer qu’elle ne peut faire
autrement que de croire à ce qui est dit, encore qu’elle ne soit pas convaincue
par l’évidence de la chose. Par exemple, si un prophète prédisait dans un
discours inspiré par le Seigneur un évènement futur et s’il accompagnait cette annonce
d’un mort, l’intelligence des spectateurs retirerait de ce signe la conviction
que la prédication vient de Dieu, qui ne ment pas" (St. Thomas, S. T.,
IIa-IIae, q. 5, a. 2).
C’est de cette seconde manière que croient les
démons: "ils voient en effet beaucoup d’indices fort clairs par lesquels
ils percoivent que l’enseignement de l’Église vient de Dieu.” Leur foi implique
donc une intervention de la volonté, mais n’a rien de libre: ils
sont forcés à croire par la sperspicacité de leur intelligence naturelle et par
l’évidence des signes" (St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 5, a. 2, ad 1m).
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, pp.
55-56.
Như vậy ở đây, theo quan
niệm của thánh Thomas, hành vi tin của ma qủy không là
hành vi tự do dù vẫn là hành vi của ý chí.
[132] J. Truetsch, “La Foi,” p. 79.70
p. 70: "Il est certain que, dans la foi, la
grâce concerne en même temps la volonté et la connaissance, car l’une et
l’autre y sont présentes. Entendement et volonté apportent leur concours sous
la lumière et l’impulsion de l’Esprit, et cela pour autant que nous disons
"oui" au Dieu de la révélation et du salut, à son autorité (motif),
ainsi quà ce qu’il nous annonce (objet).”
[133] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
51: "Certains des prédécesseurs de st. Thomas- Guillaume d’Auxerre
notamment- avaient présenté la grâce de foi, nommée lumen fidei, comme une
lumière intellectuelle qui entrainerait une adhésion immédiate et inmanquable
aux vérités révélées, du même type que l’assentiment aux principes premiers de
la raison" (St. Thomas, I S., Prol., a. 3, q. la. 2, ad 2m: "Articulos
fidei qui per lumen fidei infusum per se noti sunt habenti
fidem sicut et principia naturaliter nobis insista per lumen intellectus
agentis").
F. Malmberg, "Glaubenslicht,” trong LThK. IV,
1960, col. 942: "La grâce de la foi, en tant qu’elle perfectionne notre capacité
de connaissance rationnelle, est appelée traditionnellement lumière... (lumen
propheticum, lumen gloriae, lumen fidei)" được trích trong
J. Truetsch, “La Foi,” p. 89 note 71.
[134] J. Truetsch, “La Foi,” p. 68-69: "Cette
grâce est aussi "lumière"- lumen fidei- qui nous donne des "yeux
nouveaux,” les yeux de la foi.”
[135] J. Truetsch, “La Foi,” p. 129.130:
"La lumière de foi en rend l’homme capable:
dans le témoignage extérieur des envoyés de Dieu et des messagers de la foi
autorisés par des signes extérieurs de crédibilité, il voit immédiatement le
témoignage de Dieu lui-même.”
"Le croyant- éclairé par la grâce- saisit le
témoignage de Dieu de facon immédiate comme motif rationnel inclus dans son
obligation morale.”
"Ce qui est vu, c’est le "témoignage,” ce
n’est pas la réalité divine sans voile telle qu’elle est réservée à la vision
de la gloire. Le Dieu que nous saisissons, ce n’est pas le Dieu qui se montre
directement dans sa gloire, mais c’est le Dieu qui requiert la foi.”
[136] J. Truetsch, “La Foi,” p. 70: (Ðối
với nhiều nhà thần học), il faudrait réserver ici un
domaine qui, au moins en principe, "en soi et pour soi,” ne ft pas
attribué à la lumière divine de la grâce (nhằm tránh coi đức
tin là hành vi mù quáng). Quant à nous, nous n’hésistons pas à placer
entièrement sous la lumière de la grâce un jugement de crédibilité conforme à
la foi chrétienne... Certes, cette grâce de foi ne dispense pas de voir et ne
"supplée pas la vue, mais c’est elle seule qui permet de voir, de
"voir" véritablement" (J. Truetsch trích dẫn M-L. Guérard
Des Lauriers, Dimensions de la foi, Paris 1952, I, pp. 232-238; II, p. 105 note
287).
[137] J. Truetsch, “La Foi,” p. 128 trích dẫn
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 1, a. 5 ad 1: "per lumen fidei vident esse
credenda.”
[138] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
468: "Dans ses articles (de Rousselot), il apporte une serie de textes
pour prouver que, selon le docteur angélique, la lumière de la grâce est
requise pour la perception certaine de la crédibilité, et le caractère
surnaturel de l’objet à croire exige nécessairement une élévation
correspondante de la faculté pour être saisi..." (RSR., 1914, t. V, p.
63).
Xem thêm R. Aubert, Le problème de l'acte de foi,
p. 70.79.
[139] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
52:
"Mais il (st. Thomas) met désormais l’action
de cette grâce de foi en rapport avec le rôle de la volonté dans l’assentiment
du croyant (S. Thomae In Boethium de Trin., q. 3, a. 1, ad 4m: "Lumen
fidei... non movet per viam intellectus set magis per
viam voluntatis.") Il n’entraine pas l’assentiment en donnant
l’évidence des vérités à croire; il y fait adhérer par un acquiescement de la
volonté (In fide qua in Deum credimus, non solum est acceptio rerum quibus
assentimus sed aliquid quod inclinat ad assensum, et hoc est lumen quoddam quod
est habitus fidei, divinitus menti humanae infusum... Lumen fidei quod est
quasi sigillatio quaedam Primae Veritatis in mente non potest fallere, sicut
Deus non potest decipere vel mentiri; unde hoc lumen sufficit ad judicandum.
Hic tamen habitus non movet per viam intellectus
sed magis per viam voluntatis; unde non facit videre illa quae creduntur nec
cogit assensum sed facit voluntarie assentire. Et sic patet quod fides ex
duabus partibus est a Deo, scil. ex parte interioris luminis quod inducit ad
assensum, et ex parte eorum quae exterius proponuntur quae ea divina
revelatione initium sumpserunt).
Dans les oeuvres de la maturité, st. Thomas a
fortement nuancé ce que ce point de vue illuminationniste avait exagéré. S’il
fait encore le rapprochement entre la connaissance de foi et la connnaissance
des premiers principes dans l’ordre naturel, c’est uniquement pour souligner le
fait que, dans les deux cas, il y a conjonction entre un élément extérieur-
données sensibles, révélation- et une lumière intérieure- intellect agent,
grâce de foi (S. Thomae In Boethium de Trin., q. 3, a. 1, ad 4m: Unde, sicut
cognitio principiorum accipitur a sensu et tamen lumen quo principia
cognoscuntur est innatum, ita fides est ex auditu et tamen habitus fidei est
infusus. Cf. St. Thomas, S. T., I, q. 111, a. 1, ad 1m).”
[140] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
458:
"La lumière de foi devrait simplement éclairer
le sens et la valeur des indices internes qui sont par ailleurs à notre
disposition; elle donnerait, non pas de nouveaux objets à voir, mais les yeux
nécessaires pour voir dans les preuves ce qui s’y trouve déjà; elle serait
ainsi percevante et non perceptible, ou, pour employer le langage un peu
barbare de la scolastique, elle agirait non pas objectivement ut quod
(percipitur), mais subjectivement, ut quo. Telle est la thèse de Rousselot.”
[141] Khuynh chiều thỏa mãn thân xác,
gọi là nhục dục (appetitus sensibilis). Khuynh chiều
thỏa mãn tình cảm, gọi là tình dục (appetitus
irascibilis). Khuynh chiều thỏa mãn ý chí, gọi là ý chí
(appetitus intelligibilis).
Khuynh chiều theo lý trí, tức là ý chí
hay ý muốn, là khuynh chiều theo điều lý trí thấy
là đúng (Sancti Thomae Aquinatis In Aristotelis Librum De Anima
Commentarium, Marietti 1959, L. II, l.V, n. 286-288).
Theo quan điểm của Phật
Giáo, lòng dục có bốn thứ: tình dục, sắc
dục, thực dục, dâm dục, gọi là dục
giới (Xem Ðào Duy Anh, Hán Việt Từ Ðiển, Minh Tân,
Paris 1950, từ ngữ "Dục").
Theo từ ngữ hán-việt,
"dục" có nghĩa là muốn, ham, lòng muốn.
Chũ "dục,” gồm có âm "dục" và bộ
khiếm; Chữ "khiếm" có nghĩa là thiếu;
Khi thiếu cái gì thì ham muốn cái đó, khi cần cái gì thì
muốn thỏa mãn cái đó. Chữ "dục" ở
đây trong những chữ "nhục dục, tình
dục, ...,” khác với chữ "dục" được
viết trong những chữ "dưỡng dục, giáo
dục, ..." có nghĩa là "dạy dỗ"; và khác
với chữ "dục" được viết là
trong chữ "mộc dục,” có nghĩa là tắm
rửa.
Andé Marc, Psychologie réflexive, tome II: La
volonté et l'esprit, Paris: DDB, 1949, p. 28:
"Légitimement l’usage réserve le nom de
volonté à la tendance, qui découle de l’intelligence et cette dénomination
répond à un fait incontestable".... Maurice Blondel parle de même (La
pensée, t. II, p.420) et rien n’oblige à changer sur ce point le langage, qui
fait de la volonté une tendance rationnelle.”
p. 104: "Admettez que la volonté soit un
penchant puisqu’elle est un amour, quil y ait donc en elle de l’inclinaison en
conséquence de son inclinaison, elle n’est pas plus, vis-à-vis du bien, dans un
état d’équilibre neutre, que l’intelligence en face du vrai.”
[142] Cf. R. Aubert, op. cit., p. 229: "Une
fois cette obligation morale reconnue par l’intelligence, la volonté est
autorisée à intervenir et à commander à l’esprit de donner à ces vérités un
assentiment aussi ferme que si elles lui avaient été démontrées: c’est le pius
credulitatis affectus, qui est alors suivi de l’acte de foi proprement
dit.”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 79: "Dieu a
l’initiative de la foi: c’est lui qui donne l’instinctus (impulsion)
intérieur et la "lumière de la foi.” Que ce soit une lumière, nous l’avons
vu chez saint Thomas, non qu’elle fasse voir, c’est-à-dire qu’elle
donne une évidence, mais elle fait videre esse credenda. Elle est
"une lumière qui fait naitre une tendance;" de ce fait, la foi est
rendue possible non à partir de l’entendement lui-même, mais à partir de la
volonté.”
Cf. Henri De Lubac, La foi chrétienne- Essai sur la
structure du Symbole des Apôtre, Paris: Aubier-Montaigne, 1969, pp. 300-301:
"S’il (Thomas) admet bien dans l’esprit du croyant un mouvement qui le
porte plus loin, ce mouvement n’est plus, comme dans les textes où il
reproduisait les expressions de saint Augustin, l’élan même de la foi. Il est
maintenant l’effet d’un désir qui pousse le croyant à chercher "autre
chose,” c’est-à-dire à dépasser la foi pour accéder à la vie. Cette vue, sans
nul doute, c’est la vision béatifique; mais les considérants de saint Thomas
l’assimilent parfois en quelque sorte à un savoir: "en toute connaissance
le désir de l’homme peut se reposer, car il désire naturellement connaitre la
vérité, et quand il la connait son désir sapaise. Mais dans la connaissance de
la foi le désir de l’homme ne se repose pas: la foi est une connaissance
imparfaite; on croit ce qu’on ne voit pas; aussi l’Apôtre dit qu’elle est la
preuve de ce qui n’apparait pas (Hr 11:1). Aussi quand la foi est possédée,
demeure encore un mouvement de l’âme vers autre chose (adhuc remanet animae
motus ad aliud): à voir parfaitement la vérité qu’il croit et à poursuivre ce
par foi il pourra être introduit à une telle vérité" (Compendium
Theologiae, 2, 1).
[143] Cf. H. De Lubac, op. cit., p. 297 trích
dẫn Albert Le Grand, In III Sent., dist. 23, a. 7: "La foi se fonde
sur la Vérité Première; mais celle-ci peut être reue soit dans un signe, soit
en elle-même. Si l’on s’appuie sur un signe, alors on croit "à Dieu,”
c’est-à-dire que l’on tient sa parole pour véridique... Mais si l’on se fixe en
elle-même, ou plutôt si l’on tend vers elle, alors on croit en Dieu. Quant à
l’assentiment sans tension, c’est seulement un croire que Dieu existe"
(Fides enim innititur primae veritati; haec autem acciptur in signo, vel in
seipsa... Si in signo innititur, tunc est credere Deo, hoc est, credere veracem
qui dicit... Si autem innititur in seipsa, aut sic quod tendat in ipsam, sic
est credere in Deum, aut ut assential sine tensione, et tunc est credere Deum.”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 59: "Une
"foi morte" ne peut être tenue au départ comme une foi normale à
laquelle, grâce à la charité, viendrait s’ajouter comme un ornement ultérieur,
une surinformation.
Non, il nous faut partir de l "Amen salutis,”
plénier, total, comme unité vivante qui répugne à toute vivisection; autrement
nous tenterions en vain après coup d’insuffler la vie aux membres dispersés.”
Cf. H. De Lubac, op. cit., p. 186: "Si la foi
est l’accord et l’adaptation de toute l’existence avec "Dieu et à Dieu, on
peut aussi bien appeler la foi une obéissance, et elle l’est en effet.”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 132: "C’est par
une libre décision (toujours portée par une grâce qui la prévient et
l’accompagne) que par la connaissance (elle aussi rendue possible par la
lumière de la grâce divine), je saisis le Dieu qui par amour souvre à moi dans
le Christ et révèle ainsi sa gloire la plus intime, son mystère, son action
salvifique pour moi dans le Christ.”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 85: "La
certitude que l’on trouve dans la rencontre personnelle entre les hommes
fournit le modèle qui convient pour présenter la certitude découlant d’une
libre décision telle que nous l’offre la "foi au salut"; il convient
mieux que le modèle de la "science des choses.""
[144] Sự hòa hợp, cũng có
nghĩa "thành cái duy nhất.” Một chuyện huyền
thoại kể rằng, hồi đó Tạo Hóa tách đôi
một sinh vật mà Ngài gọi một nửa là
người nam và một nủa khác là
người nữ; Vì thế trong suốt cuộc
sống của hai người, mỗi người luôn luôn
đi tìm một nửa khác của mình, và họ chỉ
thấy hạnh phúc khi tìm được nửa khác
của mình. Phải chăng đó là tình yêu?
[145] Ca dao Việt Nam chúng ta nói:
"Mình với ta, tuy hai mà một;
Ta với mình, tuy một mà hai.”
Mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi
Vị của Kitô giáo, cũng giúp các tín đồ thấy
rõ điều này.
[146] J. Truetsch, “La Foi,” p. 97: "Le
concept de "cognitio per connaturalitatem" de saint Thomas est d’un
grand secours pour étudier la connaissance de credibilité.” Cf.
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 45, a. 2; q. 1, a.
4, ad 3; q. 2, a. 3, ad 2
S. Thomas, In III Sent., d. 23, q. 3, a. 3, sol. 2
ad 2.
[147] J. Truetsch, “La Foi,” p. 126: "Mais
selon notre position, qui parait justifiée, la grâce est le fondement d’une
connaissance qui est surnaturelle à la fois dans sa forme psychologique et dans
son objet formel, d’une connaissance de Dieu selon son être le plus intime;
aussi pouvons-nous et devons-nous admettre qu’il existe à l’intérieur de la foi
théologale une connaissance surnaturelle de sa crédibilité, connaissance qui ne
constitue en aucune manière un "medium quo" créé entre le Dieu qui
révèle et l’homme qui lui répond dans la foi.”
[148] S. Thomae In Boethium de Trin., q. 3, a. 1,
ad 4: "Fides est assimilatio ad cognitionem divinam, in quantum...
inhaeremus primae veritati propter ipsam.”
Cf. M-D. Chenu, La foi dans l'intelligence, Paris:
Cerf, 1964, P. 95 note 3.
[149] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
487-488: "Contrairement à beaucoup des théologiens, saint Thomas ramène à
l’ordre de la foi la connaissance qu’Adam innocent avait de Dieu, de même que
la contemplation mystique.”
Vấn đề được
đặt ra với quan điểm trên của thánh Thomas
về các nhà thần bí: phải chăng những
người này không có "thị kiến"?
Ibidem: "Or n’y-a-t-il pas cependant vision
dans ces cas? Que deviennent l’obscurité de la foi et son origine ex auditu?
Saint Thomas répond que toute inspiration intérieure est à considérer comme une
locution et que l’on est, dès lors, en droit de parler, dans ce cas, d’une
connaissance par témoignage.”
[150] J. Truetsch, “La Foi,” p. 71: "Il faut
pourtant se garder encore d’une erreur d’interprétation: si tout est grâce, la
grâce ne supprime pourtant en rien ce qui est humain, elle ne l’écrase pas, ne
le rend pas superflu; bien que contraire, elle le présuppose: non destruit, sed
perficit et elevat.”
[151] 1Tx 5:23: "Xin chính Thiên Chúa bình an
thánh hóa anh em, cả con người toàn diện, khiến cho
thần trí, linh hồn và thân xác anh em được gìn
giữ vẹn toàn vô tì tích trong ngày quang lâm của Ðức
Giêsu Kitô.”
[152] H. U. Von Balthasar, op. cit., p. 210:
"L’histoire de la conversion de saint Augustin est l’histoire de la
transformation d’une sensibilité qui passe de l’amour charnel à l’amour divin:
"En tout homme qui se convertit à Dieu, la délectation et les délices sont
changées, car elle ne sont pas supprimées mais transformées" (En. in Ps.
74, n. 1 [PL. 36, 946]. Pourtant cette transformation est due non pas d’abord à
un effort de l’homme, mais à un acte libre décisif de Dieu.”
[153] R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, p.
60: "L’habitus de foi oriente donc vers les vérités vraiment révélées et,
dans ce sens, on peut dire qu’il écarte négativement les erreurs; mais il ne
les rend nullement impossibles; ailleurs c’est surtout au don de science, l’un
des dons du Saint Esprit qui perfectionnent la foi, que saint Thomas attribue
la faculté de discerner avec exactitude ce qu’il faut croire exactement, quid
fide tenere debeat (St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 8, a. 6; q. 9, a. 1, corp.,
ad 2m et ad 3m).”
[154] Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi,
p. 60 et note 39: "Tout comme on adhère aux premiers principes par la
lumière naturelle de l’intelligence (sans aucun raisonnement discursif), de
même l’homme vertueux, grâce à sa vertu, juge avec exactitude de ce qui
concerne cette vertu; c’est de même manière que, grâce à l’habitus infus de
foi, l’homme adhère aux vérités de foi, et non à ce qui leur est
contraire" (St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 2, a. 3, ad 2m).
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q.1, a. 4, ad 3m: "Lumen
fidei facit videre ea quae creduntur; sicut enim per alios habitus virtutum
homo videt illud quod est sibi conveniens secundum habitum illum; ita etiam per
habitum fidei inclinatur mens hominis ad assentiendum his quae conveniunt
rectae fidei et non aliis.”
Cf. E. Schillebeeckx, Approches théologiques,
1: Révélation et théologie Trd. P. Bourgy,
Bruxelles: CEP, 1965, p. 294: "La nature humaine, dit Seckler, en tant
qu’elle a été constituée en centre d’action, est une décision de Dieu devenue
nature en vue de la réalisation du bien.” L’instinct de foi, comme
"instinct du divin" est identique, ainsi qu’il ressort de la
suite de l’analyse de Seckler, à la tendance naturelle propre de l’homme (dont
le desir naturel, par exemple, est l’acte) ou à l’orientation de
l’homme vers l’Absolu... Avant même que l’homme percoive telle ou telle valeur
(philosophique ou théologique), Dieu le meut déjà vers le bien... L’instinct,
par conséquent, doit être situé dans la ligne de la création continue qui,
du côté de l’homme, est une tendance devenue nature. Il y a dans
l’homme un instinct fondamental, une "sympathie,” qui le porte vers tout
ce qui a une valeur pour lui. Cette sympathie, dit Seckler, n’est
pas une donnée expérimentale. Elle n’a aucune portée psychologique mais
uniquement une signification ontologique. "Sie ist mit Wesensform des
Menschen gegeben".”
[155] Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi,
p. 61 et note 43: "Le jugement moral n’est plus, dès lors, le résultat de
notions mais procède immédiatement de l’examen de l’inclination droite de
l’appetit, vécue et expérimentée par le sujet qui juge (P. Rouselot,
L'intellectualisme de St. Thomas, 3è. éd., pp. 70-72). D’une manière analogue,
habitus de foi permettrait de connaitre les vérités à croire, non plus per
viam rationis, mais per viam connaturalitatis.
Croire ne consiste pas seulement à prendre
connaissance de certains objets de la connaissance divine; c’est une participation
réelle à la connaissance divine.”
J. Truetsch, “La Foi,” p. 97: "À la différence
de ce qui se passe dans la connaissance "rationnelle" ou
"scientifique,” les dispositions "habituelles" du sujet
connaissant jouent ici le rôle principal; par elles, l’homme est ouvert à
l’objet de telle manière que, par réaction spontanée, il y appréhende ce qui
correspond à sa nature ou (pour le bien surnaturel du salut, qui doit être
saisi dans la foi) à sa "surnature".”
[156] Nếu không yêu, thì người ta
sẽ phủ nhận hoặc muốn phủ nhận, dù
người ta không thể phủ nhận được.
Có những người từ chối sống trong tình yêu
của Thiên Chúa, hoặc từ chối không nhận
"Thiên Chúa yêu thương họ,” thái độ của
họ là "không ưng thuận" hay "từ
chối" với ngôi vị và thực tại, và như vậy
họ không chấp nhận "Thiên Chúa hiện hữu.”
Nói như vậy không có ý muốn nói, tất cả
những người không tin Thiên Chúa hiện hữu
đều là những người từ chối Thiên Chúa
cách cố tình và đều phải sa hỏa ngục
cả. Có thể một người nói họ không tin Thiên
Chúa hiện hữu, nhưng thực sự họ vẫn
chấp nhận Thiên Chúa và tình yêu của Ngài trong
đời họ một cách nào đó.
[157] H. Kueng, Dieu existe-it? pp. 705-706:
"Le but de la religion, en dernière analyse, n’est pas Dieu mais la vie,
une vie plus large, plus riche, plus satisfaisante. La tendance religieuse, à
tous ses degrés, consiste dans l’amour de la vie" (W. James, L’expérience
religieuse, p. 422 seq.).
[158] Phật Thích Ca Mâu-ni (Buddha Sakya
muni), tên và họ là Siddharta Gautama, thuộc dòng tộc Sakya,
sinh tại Kapilavastu thuộc Trung Ấn Ðộ.
Theo Nàvada Maha Thera, Ðức Phật và
Phật pháp, bản dịch của Phạm Kim Khánh, Gia
Định 1971, p. 23, đức Phật sinh năm 623
trước dương lịch và nhập niết bàn
năm 543 trước Dương lịch; Còn theo Tưởng
Duy Kiều, Ðại cương triết học Phật
giáo, bản dịch của Thích Ðạo Quang, Huyền Trang-
Ðà Lạt 1958, pp. 13-15, đức Phật sinh khoảng
năm 510 trước tây lịch và nhập niết bàn
năm 430 trước tây lịch; Còn theo Huyền Chân,
Ðạo Phật, Phật Học Viện Trung Phần-Nha
Trang 1965, pp. 80.89, đức Phật sinh ngày mồng tám tháng
tư năm 565 trước tây lịch, và nhập niết
bàn năm 486 trước tây lịch.
Ðức Phật xuất gia năm 19
tuổi, sau khi giác ngộ giảng pháp 49 năm
(Tưởng Duy Kiều, sdd, tr. 15; Còn với Huyền Chân,
sdd, tr. 84, đức Phật giảng pháp 45 năm sau khi
thành đạo), rồi nhập niết bàn, thọ 80
tuổi (ngày 15 tháng hai).
[159] Ðạo Phật nằm trong quan
niệm chung của người Ấn-độ (phần
lớn theo Bà-la-môn giáo, còn gọi là Ấn giáo), tin luân
hồi. Mỗi người đều có thể thành
Phật. Ðạo Phật nhắm giải thoát chúng sinh ra
khỏi cảnh khổ. Hoàng tử Siddharta Gautama trong
dịp đi ra khỏi hoàng cung, đã xúc động khi
thấy cảnh khổ cực của con người; và
Ngài đã quyết định bỏ hoàng cung tìm con
đường "diệt khổ.” Khi giác ngộ, Ngài
đã thuyết pháp cho chúng sinh, để chúng sinh thoát mê lầm,
và được vào nơi cực lạc (niết bàn).
Nơi tín đồ Phật giáo,
họ không coi đức Phật là Tuyệt Ðối
hoặc là Thiên Chúa như những kitô hữu. Chính
đức Phật Sakya Muni cũng không đòi điều
này, vì "chúng sanh cũng có Phật tính nơi mình" và là
"Phật chưa thành" mà thôi.
Các tư tưởng gia lỗi
lạc của Phật giáo trong suốt dòng lịch sử,
vẫn luôn tìm hiểu ngọn nguồn của vạn
sự vạn vật là gì, là vô hay hữu!
Theo Tưởng Duy Kiều, sdd, trang
26: "Tiểu thừa Phật giáo, thời kỳ kết
tập lần thứ hai tại Vaisàli, đã có sự tranh chấp
giữa hai bộ phái Thượng Tọa (Sthavira) và
Ðại Chúng (Mahàsàmghika)... Trên giáo lý của hai phái đó tuy
có nhiều điểm sai biệt, nhưng điều khác
nhau nhất là phái bảo thủ chủ trương
về hữu luận, phái tiến thủ chủ
trương về không luận (Hữu
luận là thuyết chủ trương tất cả
sự vật đều có thực; Không luận là
thuyết chủ trương tất cả sự vật
đều không có).
Không những Tiểu Thừa là như
thế, chính Ðại Thừa Phật giáo lưu truyền
tại Ấn Ðộ, sự quy kết của nó cũng
không ngoài hai phái hữu và không. Những
loại sách của hai ngài Mã-Minh và Long-Thọ đã
trước thuật đều thuộc về không
luận. Những loại sách của hai ngài Vô-Trước
và Thế-Thân đã trước thuật đều
thuộc về hữu luận.”
Ðạo Phật có bốn lần
kết tập. Lần thứ nhất ngay sau khi Phật
nhập niết bàn (năm 430 hay 486 hay 543), lần thứ
hai sau lần thứ nhất khoảng 100 năm tại
Vaisàli, lần thứ ba thời vua A-dục (264-226), và
lần thứ bốn vào thời vua Kanisha (125-150). Ở lần
kết tập đầu tiên đã có tạng kinh
(Sùtrapitaka) và tạng luật (Vinayapitaka), nhưng là
truyền khẩu; Ở lần kết tập thứ ba
đời vua Asoka (A-dục) đã có cả luận
tạng (Abhidharmapitaka), và đã dùng chữ viết
để ghi chép lại (Xem Tưởng Duy Kiều, Sdd, tr.
17).
Dù vô hay hữu là
nền tảng của vạn sự vạn vật,
nền tảng của vạn sự vạn vật vẫn
là nó. Dù được gọi là vô hay hữu theo
quan điểm của mỗi phái, nhưng nó vẫn
chỉ cùng một "thực tại" và là
nền tảng của vạn sự vạn vật.
Phật giáo Tiểu Thừa và Phật
giáo Ðại Thừa khác nhau về nhiều mặt, và sau
đây là "những điểm đặc biệt
của tư tưởng Ðại Thừa mà Tiểu
Thừa không công nhận:
1. Tư tưởng Bồ-Tát-Hạnh
(Bodhisatva);
2. Quan niệm Tam Thân: Pháp thân (Dharmakaya),
Báo thân (Sambhogakaya), Ứng thân (Nirmanakaya);
3. Phật tánh bình đẳng;
4. Chủ trương tất
cả đều không (Sunyata);
5. Quan niệm thực hành lục
độ (Paramitas) và cấp độ thập địa.
(Xem Thích Quảng Liên, Sử
cương Triết Học Ấn Ðộ, Sài Gòn 1965, tr.
95-96).
Những tư tưởng gia nổi
tiếng của Ðại Thừa Phật giáo là: Asvaghosa (Mã
Minh), Nagarjuna (Long Thọ), Asanga (Vô Trước), Vasubandhu
(Thế Thân).
[160] M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée
asiatique, Casterman 1965, p. 28: "Dans son explication de Nishida,
Schinzinger parle ici du Néant comme d’un principe métaphysique, et ce Néant
est le dernier "lieu" pour tout ce qui est, y compris l’absence de
l’être; comme dernier lieu qui enveloppe tout être, le Néant a la fonction
métaphysique que la philosophie chrétienne attribue à Dieu" (Cf. Kiratô
Nishida, intelligibility and the philosophy of Nothingness).
Như vậy chúng ta thấy theo
điều trích ở trên, Vô của đa
số người châu Á có thể được hiểu
như Thiên Chúa đối với những dân tộc châu Âu.
Chẳng hạn với Phật giáo
Ðại Thừa, "Chơn Như (Bhutatathata) không những
là bản tánh nhưng cũng là nguyên nhân của vũ
trụ..., là pháp của các pháp" (Thích Quảng Liên, sdd,
tr. 137. 138). Chơn Như còn được diễn tả
bằng nhiều "từ" khác, nhằm để
tượng trưng cho cái gì bất sanh bất diệt,
như:
· Nirvana, để chỉ trạng thái
của bản thể yên tịnh, tâm thần vắng
lặng không còn dục vọng ô trược phiền não;
· Bodhi (Bồ-đề), để
chỉ trí huệ hoàn toàn, nguyên tố của tri giác;
· Dharmakaya (Pháp thân), để chỉ cái
thể viên mãn về hai phương diện từ bi và trí
huệ;
· Thể tánh, Như-lai tạng, ....
(Ibidem, tr. 138).
Chơn-như là thực thể
bất biến trường tồn (Ibid., tr. 139. 140), nên
không là gì cả (Sunyata), vì tất cả vạn vật là vô
thường biến dịch (tr. 139), và cũng là cái gì
được xác định hay hiện hữu, nó có công
dụng của tất cả; Nó "bất biến tùy
duyên, tùy duyên bất biến" (Ibid. tr. 139), đứng
về tác động tùy duyên thì gọi là A-lai-da (tr. 140);
"Nó không phải một, không phải khác, và cũng không
phải không một, không phải không khác" (Ibid., tr. 139).
"Muôn hình vạn trạng trên vũ trụ nguyên thỉ
nó không là vật thể (Rupa), lý thể (Citta), tri giác
(Prajna), tri thức (Vijnana), vô thể (Abhaha), hữu thể
(Bhaha). Ðúng thật nó là Sunya (chơn không)" (tr. 139-140).
Nhứt-như (hay gọi là bản
thể tuyệt đối Chân-như) không là cái nào cả,
nhưng "bản thể này có cái công năng tác dụng
hàm chứa cả công đức và chủng tả các pháp
gọi là Alaya-Vijnana (A-lai-da-Thức) (sdd., tr. 136). "Không
thể tách lìa tâm vô minh ngoài chân như giác tánh, và cũng
không thể đồng hóa Chơn Như là Vô Minh, hoặc
Vô Minh là Chơn Như" (sdd., tr.141). Học thuyết
Nhứt Như hay Chơn Như (Bhutatathata) được
Asvaghosa (Mã Minh) bàn tới trong Ðại Thừa Khởi Tín
luận (Mahayanas-raddotradasastra) (sdd., tr. 136).
Từ học thuyết Chân Như
của Asvaghosa, phát sinh ra học thuyết Tánh Không (Sunyata)
của Nagarjuna (Long Thọ) và học thuyết duy thức
(Vijnanavada) của Asanga và Vasubandhu.
Phái Trung Quán (Madhyamika) cho rằng Sunya
(Không, Vô) là bản thể tối hậu của muôn hình
vạn trạng (Thích Quảng Liên, Sdd., tr. 132). Mọi
sự đều là Không, thế nhưng "trung không
diệu hữu,” và "không bất dị sắc, sắc
bất dị không,” vậy nó là: "phi hữu phi vô, phi phi
hữu phi phi vô" (Sdd., tr. 165.167).
Như vậy chúng ta thấy, bản
thể tối hậu của muôn hình vạn trạng, nguyên
nhân của vũ trụ, dù là Nhứt Như hay Không, thì
vẫn là Cái Ðó với tên gọi khác nhau theo
từng quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của
riêng tôi, đó chính là Thiên Chúa.
Theo thiển kiến, đức
Phật không là Thiên Chúa nhưng là người đã giác
ngộ, được tham dự vào sự sống của
Thiên Chúa; đức Phật cũng có thể
được coi như một vị thánh bên Kitô giáo. Kitô
giáo coi đức Kitô là đầu của thân thể
Hội Thánh; các kitô hữu làm thành một với
đầu, là Ðại Ngã (totus Christus, tota Persona, plena Persona);
các kitô hữu được cứu độ nhờ liên
kết thành một với đức Kitô; tri thức và
quyền năng của các thánh có được, là nhờ
tham dự vào tri thức và quyền năng của Thiên Chúa
trong mức độ được thông ban; cũng
tương tự như các thánh bên Công giáo, chúng ta có
thể hiểu về đức Phật và các vị
Bồ-tát bên đạo Phật.
Nếu đức Phật chỉ là
người được cứu độ, thì phật
tử không thể có niềm tin phó thác (credere in) như
một kitô hữu đối với Thiên Chúa, nhưng
họ có thể có niềm tin vào (credere aliquo) như một
kitô hữu đối với một vị thánh trong Công
giáo, bởi vì "chúng sinh đều có Phật tánh,” và
"ta là Phật đã thành, còn chúng sinh là
Phật-chưa-thành.” Chính vì đức Phật chỉ là
người, nên niềm tin của một phật tử
vào đức Phật rất khác niềm tin của một
kitô hữu vào Thiên Chúa. (Henri De Lubac, La foi chrétienne- Essai sur la
structure du Symbole des Apôtre, Paris: Aubier-Montaigne, 1969, p. 159 note 2:
"Si le bouddhisme, lui aussi, se place nettement à part, c’est en vertu de
tout autre caractère. Rien ne lui est plus étranger que la foi, au sens
judéo-chrétien").
[161] Ở vào thời điểm
đó, luật rừng- luật của kẻ mạnh-
thống trị.
[162] J. Ratzinger, Foi Chrétienne- hier et
aujourd'hui, Mame 1969, p. 47: "D’après la phénoménologie de la religion-
fait controlable par tous- on trouve apparemment dans la religion, comme dans
tous les autres domaines de l’esprit humain, une grande diversité de dons... on
rencontre ceux qui sont "doués" religieusement, d’autres qui le sont
très peu. Les premiers sont extrêmement rares; ce sont des personnes qui ont
une expérience religieuse directe, possédant comme un don de création dans ce
domaine..."
[163] H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 273-274:
"Aussi, parlant des chrétiens, Lactance (Institutions divines, l. 4, c.
13, n. 26 [S. Brandt, CSEL., 19, p. 324]) pouvait-il écrire: "Qui credunt
in eum (Deum) ac vocantur fideles": il y avait d’autres
"croyants" que les chrétiens, mais Lactance distinguait suffisamment
ces derniers de tous les autres en les désignant come "fideles.” Avant que
soient énumérées les croyances auxquelles ils adhèrent, la foi chrétienne est
déjà spécifiée; elle est déjà chrétienne, dans ces simples mots: "credere
in,” "fides."”
H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 159: "Ce
qui distingue la religion chrétienne de toute autre conception religieuse,
avant même l’examen détaillé de ses croyances ou de ses autres éléments, c’est
précisément qu’elle est fondée sur la foi.”
Ibidem note 2: "L’Islam réalise le concept de
foi au sens de soumission, non au sens du credere in, élan
répondant au Dieu qui se révèle et offre l’entrée dans sa Vie.”
H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 141: "Denys
le chartreux, au XVè siècle, résumera tous ses prédécesseurs, en disant que les
infidèles eux-même peuvent croire que Dieu existe (Deum esse), qu’ils peuvent
encore croire à Dieu (credere Deo), tout en n’ayant pas la foi véritable, du
moins la foi pleine, parce qu’ils ne croient pas en Dieu (in Deum); Et il
expliquera la raison de cette différence essentielle par les mots suivants:
"insuper, quia voluntas intellectum et alias vires movet in fidem,
secundum hoc ponitur credere in Deum actus fidei" (étant donné que la
volonté meut lintelligence et les autres forces de lâme en direction de sa fin,
on doit dire que l’acte de foi consiste à croire en Dieu).” (Opera omnia, t.
17, pp. 341-342: "Primus motus mentis in Deum est per fidem quae est omnis
boni origo").
Ở đây chúng ta chuyển
credere Deum
esse: tin có Thiên Chúa
credere
Deo: tin
vào Thiên Chúa (tin Thiên Chúa)
credere in
Deum: tin
tưởng phó thác nơi Thiên Chúa
[164] Các tôn giáo khác có thể cũng tin
Ðấng Tuyệt Ðối hóa thân làm người, nhưng
chỉ làm người trong một thời gian nào đó
thôi, vì khi thân xác được hóa thân đó chết, thì
Tuyệt Ðối không còn là người nữa. Kitô hữu
tin rằng, Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm
người là Ðức Giêsu Nadarét; và kể từ thời
điểm đó trở đi, Ngài không bao giờ ngưng
là người, nhưng vĩnh viễn là người.
[165] Vì sợ nên Phêrô mới chối
thầy (Mt 26:69-75; Mc 14:66-72; Lc 22:54-62; Ga 18:15-27). Các tông
đồ đóng kín cửa vào ngày thứ nhất trong
tuần vì sợ người Do thái (Ga 20:19).
[166] H. De Lubac, La foi chrétienne, pp. 139-140:
"A plusieurs reprises, dans sa prédication, il
observe que par rapport à Dieu l’on comporte trois sortes de credere:
credere Deum, credere Deo, credere in Deum.
Ce sont là trois actes, qui s’enchainent l’un l’autre, suivant une progression
nécessaire. Seul le troisième, qui suppose et intègre les deux premiers,
caractérise la véritable foi. Seul il fait le chrétien.
Augustin précise en commentant Jn 6:29:
"...que vous croyiez en lui (in eum), non que vous croyiez à lui (ei).
Mais si vous croyez en lui, c’est que vous croyez à lui; tandis que celui qui
croit à lui ne croit pas par le fait en lui; car les démons eux aussi croyaient
à lui, et pourtant ils ne croyaient pas en lui" (Aug., In Joanem, tract.
29, n. 6: "... ut credatis in eum, non, ut credatis ei. Sed si creditis in
eum, creditis ei; non autem continuo qui credit ei, credit in eum. Nam daemones
credebant ei, et non credebant in eum" CCL. 36, p. 387). Et encore
ailleurs: "Croire en Dieu est assurément plus que croire à Dieu" (In
Ps. 77, n. 8: "Hoc est etiam credere in Deum, quod utique plus est quam
credere Deo" CCL. 39, p. 1073).
[167] H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 165 trích
dẫn Augustin, In Ps. 77, n. 8: "Bien souvent, constatait-il, il nous
faut croire à tel ou tel homme, quoiqu’il ne nous faille pas croire en
lui" ("Et homini cuilibet plerumque credendum est, quamvis in eum non
sit credendum" CCL., 39, p. 1073).
H. De Lubac, La foi chrétienne, pp. 162: "Nul
ne peut dire correctement: je crois en mon prochain, ou en ange, ou en quelque
créature que ce soit. Partout, dans les Écritures divines, vous trouverez la
propriété de cette confession réservée à Dieu seul... Nous disons bien: je
crois à tel homme, comme nous disons: je crois à Dieu; mais nous ne croyons pas
en cet homme, ni en aucun autre. Car ils ne sont eux-même ni la vérité, ni la
bonté, ni la lumière, ni la vie: ils ne font qu’y participer. C’est pourquoi, lorsque
le Seigneur veut, dans l’Évangile, montrer qu’il est consubstantiel au Père, il
dit: "vous croyez en Dieu: croyez aussi en moi" (Jn. 14:1). Car s’il
nest pas Dieu, il ne faudrait pas croire en lui" (Saint Paschase Radbert,
De fide, Spe et Caritate, l. I, c. 6, n. 1 [PL., 120, 1402-1403]).
[168] H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 163
"On croit donc, non pas généralement in
aliquem en quelqu’un, en une personne quelconque, mais in solum
Deum, en Dieu seul. Ici encore se vérifie la grande loi qui commande toute
notre connaissance de Dieu et tous nos rapports avec Lui: Dieu, en tout, est
l’unique; il ne tombe pas sous le genre. Croire, au sens plein du mot tel que
nous l’avons dégagé à partir du symbole de foi, c’est-à-dire croire d’une facon
absolue, inconditionnée, définitive, et d’une facon qui engage irrévocablement
le fond de l’être, croire d’une telle foi, on ne le peut qu’en cet Être personnel
unique que nous appelons Dieu. Une telle foi ne pourrait être donnée à un homme
sans sacrilège, sans idolâtrie et sans asservissement.”
H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 164:
"Nous pouvons traduire ici ce que Newman nomme
"obéissance absolue" par "obéissance de la foi": "Pape
ou Reine, quiconque me demande une obéissance absolue sort du droit commun. Je
ne voue d’obéissance absolue à personne" (Anglican Difficulties, t. 2, p.
243).”
Ibidem, pp. 165-166: "Nous croyons à Paul,
mais non pas: nous croyons en Paul, ou bien: nous croyons à Pièrre, mais non
pas: nous croyons en Pièrre (Augustin, In Joanem, tract. 29, n. 6: "De
apostolis ipsius (Christi) possumus dicere: credimus Paulo, sed non: credimus
in Paulum; Credimus Petro, sed non: credimus in Petrum" [CLL., 36, p.
287]).
[169] H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 165:
"Tel, sur la fin du XIè siècle, celui de
Gilbert Crespin, dans sa Disputatio Judaei et Christiani. Au juif qui lui
objectait: "Jamais je ne pourrais croire dans le Christ, même si je crois
au Christ, parce que je ne crois en nul autre qu’en Dieu,” Gilbert Crespin
répondait: "Si Jésus Christ n’était qu’un homme, assurément, c’est à une
idolâtrie que nous inviterait le prophète, lorsqu’il nous invite à croire en
lui" (Éd. B. BLUMENKRANZ, p. 33 et p. 42: "Judaeus: Christum credo
prophetam... et Christo credam..., sed in Christum neque credo neque credam,
quia non nisi in Deum et unum...; Christianus: Si homo tantum esset, profecto
idolatrum... propheta suaderet, qui in hominem credi oportere nos
admonet...").
Về ngôn ngữ diễn tả tin,
có người cho rằng:
· nếu sau credere có giới từ "in,”
thì tin nhắm một ngôi vị;
· còn nếu theo sau là thể trực cách
(indicatif), thì tin (credere) nhắm tới đồ vật.
Nhưng điều này không đúng.
Cf. H. De Lubac, La foi chrétienne, pp. 161.162: "Plusieurs historiens ont
bien remarqué la dualité qui nous occupe et en ont tenu compte dans leurs
analyses du Symbole des Apôtres. Ils ont fait observer que lorsque le
verbe credere est suivi de la préposition in, il
vise des personnes, tandis que, suivi de simple indicatif, il se rapporte à des
objets... Certes, il est évident que l’on ne peut croire en une chose: on ne
peut donner sa foi à un objet. Pareille assertion n’a pas de sens. Mais on ne
peut pas non plus, ou exactement l’on ne doit pas le faire envers n’importe
quel être personne.”
Một điều nữa chúng ta
lưu ý rằng, đi theo sau credere in có
thể không là đối cách (accusatif) nhưng là phân cách
(ablatif), tuy vậy về ý nghĩa thì vẫn không
đổi.
Cf. H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 132.133:
"Dans quelques textes, à vrai dire, la préposition in est
suivie non de l’accusatif, mais de l’ablatif. Ainsi en est-il à plusieurs
reprises chez Rufin d’Aquilée: "credo in Deo Patre..., et in Christo
Jesu...., et in Spiritu Sancto" (Comm. in symbolum apostolorum, CCL., 20,
pp. 135. 137. 141. 169).... "Dans la vulgate latine de la Bible, l’ablatif
est usuel pour des formules telles que: "credere in nomine Filii Dei,” ou
"in Deo sperare,” etc. Mais le changement de l’accusatif en ablatif, assez
fréquent aux premiers siècles de notre ère, ne change rien au sens.
Cest le in qui importe ici, et c’est en effet le in que
le commentaire de Rufin s’attache à mettre en valeur: "comme on a dit que
l’on croyait en Dieu le Père (in Deo Patre), en ajoutant le préposition in,
ainsi l’on rappelle que l’on croit aussi en le Christ (in Christo)
son Fils, ainsi également en l’Esprit Saint (in Spiritu
Sancto)" (Op. cit., c. 33: "Sicut dictum est in Deo Patre credi,
adjecta prepositione in, ita et in Christo Filio ejus, ita et
in Spiritu Sancto memoratur...." (CCL. 20, p. 169).
[170] J. Ratzinger, Foi Chrétienne, p. 36: "La
foi chrétienne est plus que l’option pour un principe spirituel du monde. Sa
formule centrale ne dit pas: "je crois à quelque chose,” mais "je
crois à Toi" (Cf. H. Fries, Glauben-Wissen, Berlin 1960, pp.84-95). Telle
est rencontre avec l’homme Jésus, et elle découvre dans une telle rencontre que
le sens du monde est une personne.”
[171] H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
p. 162: "Au centre se trouve la rencontre de personne à personne, c’est
ainsi qu’Abraham, comme père de tous les croyants, rencontra Dieu et s’attacha
à Lui, avant tout rite et tout dogme, se remettant tout entier entre les mains
de Dieu, abandonnant tout projet, tout jugement propre, et, dans le sacrifice
d’Ysaac, toute prétention de connaitre les voies et les promesses de Dieu.”
[172] H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
p. 162 trích dẫn St. Augustin, In Joan., tr. 29, 6: "Qu’est ce que
croire en lui? C’est l’aimer en croyant, se donner à lui en croyant, entrer en
lui en croyant, être rattaché à ses membres.”
St. Augustin, Serm., 144, 2: "Celui-là croit
au Christ qui aime le Christ, car si on croit sans espérance et sans charité,
on croit qu’il y a le Christ, mais on ne croit pas au Christ.”
H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 299: "Cet
élan de la foi est aussi bien élan de charité, sans qu’on puisse séparer, ni
même semble-t-il pleinement distinguer l’un de l’autre: "nam credere in
Deum est credendo in Deum ire, quod caritas facit" (S. Thomae, In Rom. IV,
lect. 1: credere in Deum demonstrat ordinem fidei in finem, qui est per
caritatem, nam, etc.). La foi tend à Dieu en l’aimant: "credere in Deum,
id est amando in eum tendere" (S. Thomas, In III Sent., dist. 23, q.2,
art. 2, qu-1a 2: "Ex hoc vero quod intellectus determinatur a voluntate,
secundum hoc actus fidei est credere in Deum, etc.).”
H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix, p. 163:
"Toutes les difficultés théoriques et pratiques de la foi comme acte
intellectuel se résolvent lorsqu’on atteint le plan plus profond de l’amour.
Mais il ne s’agit pas de n’importe quel amour, comme l’amour entre deux êtres
humains. Il ne s’agit pas non plus de l’amour philosophique de la créature pour
Dieu que st. Thomas décrit comme une pesanteur ontologique semblable à celle de
la partie par rapport au tout, ou justement du fini par rapport à l’infini...
Il ne peut être question que de l’amour chrétien qui repose sur l’unité
hypostatique du Christ et relie ce qui, au regard humain, est éternellement
incompatible: l’amour pour un être fini et l’amour pour l’Être.”
[173] H. De Lubac, La foi chrétienne, pp. 272-273:
"La foi, au sens chrétien, a un caractère unique et exclusif. Ce n’est pas
une notion globale qui conviendrait à de nombreuses modalités: foi chrétienne,
foi musulmane, paganisme des anciens grecs, ou bouddhisme... Elle est le
vocable qui désigne un fait unique: la réponse donnée par l’homme au Dieu qui
est venu à lui dans le Christ" (Romano Guardini, Vie de la foi, Paris:
Cerf, 1968, p. 23). C’est là ce que disait au IXè siècle Smaragde, l’abbé de
Saint-Michel, précisément à propos de la Trinité: "en comparaison de notre
foi, aucune autre ne doit être appelée de ce nom" (Grammatica, fol. 18:
"Ad comparationem fidei nostrae..., nulla alia dicenda est fides").
Ce qui ne signifie pas, ou du moins pas seulement, que la foi chrétienne est la
seule vraie foi, la seule dont l’objet soit pleinement réel- mais qu’elle seule
est vraiment foi; que la réalité chrétienne constituée par cette foi n’a pas
son analogue; que nulle part ailleurs ne se vérifie le concept formel de la
foi.”
[174] Ðức Giêsu cũng
được thư thứ nhất của thánh Gioan
gọi là Ðấng Bầu Chữa (1Ga 2:1).
[175] Không có ai hiện hữu biệt
lập cả, vì mỗi người chúng ta đều
đã được sinh ra và dưỡng dục trong
một xã hội nhỏ là gia đình.
[176] Ga 15:26-27: "Thánh Thần sẽ
làm chứng về Ta. Và các ngươi cũng làm chứng,
vì từ ban đầu các ngươi hằng ở với
Ta.”
[177] J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du
monde, Cerf 1970, p. 187: "La foi en Église est la foi en l’Esprit Saint,
puissance subsistante de salut. La plus ancienne formule baptismale de la
confession de foi s’est élaborée organiquement à partir de l’unité indissociable
de l’Esprit et de l’Église: "Je crois à l’Esprit Saint (qui agit) dans la
sainte Église catholique, communion des saints, pour la rémission des péchés,
la résurrection de la chair et la vie éternelle."”
[178] DS 3013: "Église en elle même est un
motif important et permanent de crédibilité....”
[179] Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 99: "R.
Guardini écrit: "nous avons vu que la foi de l’individu est liée à celle
des autres; que son contenu lui vient toujours d’autres croyants et que n’ait
ainsi une tension vivante qui lui est propre. Non pas que la foi tire son
origine de l’humain; C’est Dieu qui la suscite- mais il la suscite dans l’être
humain, et ainsi l’homme est pour l’homme le chemin qui mène vers Dieu".”
[180] Ibid.: "Nous avons vu aussi que la foi
de l’individu a pris forme dans la foi de la communauté: même foi pour l’Église
et pour l’individu en elle. Le fidèle croit et c’est par lui que croit
l’Église.”
[181] Bí tích là dấu chỉ hữu hình
được Ðức Giêsu Kitô thiết lập để
ban ơn thánh, có tính hữu hiệu tại sự (ex opere
operato).
[182] J. Truetsch, “La Foi,” p. 104: "L’Église
est le sacrement primordial, dominant les temps et les espaces, elle est le
"signe efficace" de Dieu en ce monde, signe visible de sa volonté
d’alliance, "portant le sceau indélébile" de l’unique médiateur.
Présence du Christ dans l’histoire, l’Église est donc une présence qui fonde
une communauté, un lien social et qui l’actualise en vue de l’oeuvre
salvifique. Elle est tout à la fois action et parole salvifique... C’est dans
les sacrements que l’Église s’accomplit elle-même actuellement comme signe du
salut individuel.”
[183] Extra ecclesiam nulla salus.
Chỉ những ai cố tình từ
chối Hội Thánh mới không được cứu
độ thôi; vì họ không vâng phục Thiên Chúa và Ðức
Giêsu Kitô.
[184] J. Truetsch, “La Foi,” p. 105-106:
"Prétendre que les sacrements ne tiennent leur efficacité que de la foi,
c’est, d’après le dogme catholique, une "spiritualisation" qui
contredit le réalisme de l’incarnation et vide le sacrement de sa réalité. Mais
d’autre part ce que le dogme catholique ne soutient pas moins fermement (et il
est bon que les rencontres oecuméniques avec les protestants le fassent
apparaitre plus clairement), c’est que la parole, du côté de Dieu, et la foi du
côté de l’homme font partie intégrante du sacrement; la parole et la foi
donnent au sacrement son âme. En aucun cas le sacrement n’opère la grâce s’il n’est
recu "avec foi."”
[185] Thiên Chúa tạo dựng con
người như vậy, nghĩa là, Thiên Chúa muốn
như vậy; nên chúng ta có thể nói, đó là cách Thiên Chúa
muốn dùng để tương quan với con
người.
[186] H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
pp. 381-382: "La voix de Dieu au paradis n’est pas pour
Adam un phénomène sensible parmi d’autres, c’est la présence de Dieu par grâce
dans les voix de la nature et du coeur" (St. Thomas, De Ver., q. 18, a.
3).
Lời là thực thể rất quan
trọng:
Tin là do nghe (fides ex auditu), hàm chứa
có lời rao giảng (i);
đối với con người
đầu tiên Adam, lời có là do linh ứng
nội tâm (ii);
trong lãnh vực triết học, lời là
huyền thoại lịch sử (khác với mặc
khải lịch sử nơi kitô giáo) (iii).
(i). Cf. J. Ratzinger, Foi Chrétienne, pp. 44-45:
"En d’autres termes, dans la foi, il y a priorité de la parole sur la
pensée, priorité qui la différencie d’avec la philosophie. Chez le philosophe,
la pensée précède la parole. La philosophie est le produit de la réflexion, que
l’on essaye ensuite de traduire en paroles, du reste toujours secondaires par
rapport à la pensée et, en principe, susceptibles d’être remplacées. La foi, au
contraire, se présente à l’homme de l’extérieur; c’est là sa marque
caractéristique. Elle n’est pas- répétons le- une idée personnelle, de moi,
mais la parole d’un autre; Elle n’est ni conue ni pleinement concevable par
moi; à ce titre précisément elle m’atteint, m’interpelle et m’engage. La double
structure: une interpellation venant du dehors "crois-tu" et ma
réponse "je crois,” lui est essentiel.”
(ii). Cf. H. U. Von Balthasar, op. cit., p. 382:
"Lêtre du monde lui-même ouvre sa profondeur, s’illumine dans son état
originel: la face de l’archétype transparait dans le milieu qui le reflète. De
la fides naturalis d’Adam à la fides surnaturalis,
il y a un passage sans faille ni rupture. Certes, c’est la fides ex auditu,
mais non par une parole qui lui serait adressée extérieurement; c’est une
parole per inspirationem internam... (St. Thomas, De Ver., q. 18,
a. 3).”
(iii). Cf. H. U. Von Balthasar, La Gloire et la
Croix, p. 134: "La différence par rapport à la foi chrétienne apparait la
plus nettement là où la lumière de Dieu tombe sur le myth (ou le concept)
historique ou au contraire sur la révélation historique: la foi philosophique
exerce nécessairement sa critique sur toute figure mythique finie, tandis que
la foi chrétienne retrouve sa propre lumière dans la figure de la révélation
chrétienne ou plutôt ne s’acquiert qu’à partir de là.”
Cf. Heinrich Fries, "Le mythe et la
révélation" trong Questions Théologiques Aujourd’hui, Paris: DDB, 1964,
pp. 18. 22-23. 44. 46.
[187] 1Tx 2:13: "... anh em đã chịu
lấy Lời Thiên Chúa nghe tự chúng tôi, anh em đã đón
nhận lấy, không phải như lời của những
người phàm, mà là- và đích thực là thế- như
Lời của Thiên Chúa....”
Ga 1:14: "Và Lời đã thành xác phàm,
và đã lưu trú nơi chúng tôi.”
Các nhà thần học còn nói đến
mặc khải "tự nhiên" và mặc khải
"siêu nhiên,” nhưng dù là mặc khải nào chăng
nữa, con người vẫn cần ơn Thánh Thần
để "nghe được hay thấy
được" Lời Chúa qua những dấu chỉ
tự nhiên hay siêu nhiên (lịch sử đặc biệt,
Lời Chúa qua các tiên tri, Lời nhập thể).
[188] Ga 5:46-47: "Vì nếu các
ngươi tin Môsê, các ngươi đã tin Ta, vì chính về
Ta mà ông đã viết. Nếu chữ viết của ông, các
ngươi không tin, thì làm sao các ngươi sẽ tin
được lời nói của Ta?”
[189] Lời để chuyển ý.
Lời Kinh Thánh giúp con người
biết ý Chúa. Thế nên chúng ta phải đặt Kinh Thánh
trong hoàn cảnh phát sinh (xã hội, văn hóa, người
viết) để hiểu được ý tác giả Kinh
Thánh, để hiểu được ý Chúa qua đoạn
Kinh Thánh đó.
[190] Cf. H. U. Von Balthasar, op. cit., p. 181:
"Il est impossible de parler de la foi chrétienne autrement qu’en traitant
toujours simultanément de la lumière et de la figure (lumen et species).”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 135: "Le
"réalisme" de l’immédiateté de Dieu et le "formalisme" des
déclarations dogmatiques ne se font pas obstacle, au contraire, un authentique
réalisme de foi exige et implique précisément une "incarnation" dans
les formules de la parole humaine; c’est certainement l’intérêt de ce réalisme
que cette foi soit notre foi et donc que les modalités de son acte soient
humaines.”
[191] Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 134-135:
"Je m’en remets -dans la foi- non à des dogmes, mais au Dieu qui révèle,
parce que je sais que le Dieu qui révèle réussit à s’exprimer fidèlement,
quoique dans les rayons réfractés du dogme.”
[192] "Chớ lo đến ngày mai,
mai sẽ lo cho mai. Khổ ngày nào, đủ cho ngày
ấy" (Mt 6:34).
"Sanh là khổ, già là khổ,
bịnh là khổ, tử là khổ, sống chung với
người mình không ưa thích là khổ, xa lìa những
người thân yêu là khổ, mong muốn mà không
được là khổ, tóm lại, chính thân ngũ uẩn
là khổ" (Kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, xem trong Nàrada Maha Thera,
Ðức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Gia
Định 1971, tr. 107).
Ðau khổ do đâu mà có?
Một trong những điều làm con
người đau khổ, là sự chết; nên con
người đi tìm thuốc "trường sanh bất
tử.” Ðiều làm con người đau khổ là già, nên
con người đi tìm thuốc "trường xuân
bất lão.” Và nếu đau khổ là do lòng dục, thì con
người lo diệt dục. Quan niệm đau
khổ có là do lòng dục, là của Phật giáo.
Kitô giáo và Do thái giáo cho rằng, đau
khổ có là do tội lỗi (không yêu thương, phản
loạn chống lại Ý Thiên Chúa).
Nếu hạnh phúc chỉ hoàn toàn do
con người mà thôi, thì ta không cần ai cứu
độ; nhưng nếu con người bất lực,
thì ta với tư cách là con người, cần
phải được cứu độ, cần
được giải phóng. Phải chăng đối
với Phật giáo, con người không cần
được cứu độ?
[193] Con người không thể tự chiếm
hữu được hạnh phúc. Hạnh phúc đích
thực và thường tồn, nằm ngoài tầm với
của con người! Mọi người đều
muốn sống hạnh phúc, nhưng mấy ai
được hạnh phúc trong cuộc sống?!
[194] Rm 3:28.30: "Vì chúng tôi nghĩ
rằng con người mà được giải án tuyên
công, ấy là bởi tin chứ không phải bởi việc
làm những điều Luật dạy... Vì chỉ có
một Thiên Chúa, Ðấng giải án tuyên công cho giới
cắt bì do tự lòng tin, và cho giới không cắt bì
cũng nhờ ở lòng tin.”
Rm 1:16: "Quả vậy tôi không
hổ thẹn rao giảng Tin Mừng, vì đó là quyền
năng Thiên Chúa để cứu thoát mọi kẻ tin....”
Gl 2:16: "... song vì biết rằng
người ta có được giải án tuyên công bởi
việc làm của lề luật, là chỉ vì tin vào Ðức
Kitô Giêsu, nên chúng ta đã tin vào Ðức Kitô Giêsu, để
được giải án tuyên công do tự lòng tin vào
Ðức Kitô, chứ không phải do tự việc làm của
lề luật...”
Gl 5:6 "Vì chưng trong đức
Kitô Giêsu, cắt bì hay không đều chẳng đáng
kể, có chăng là lòng tin thi thố ra bằng đức
mến.”
Cf. Raymond Panikkar, "La Foi dimension
constitutive de l'homme,” trong Mythe et Foi, éd. Enrico Castelli, Aubier 1966,
p. 31: "La foi est absolument nécessaire au salut.”
[195] Hr 11:6: "Không đức tin, thì
vô phương làm đẹp lòng Thiên Chúa. Vì ai lại
gần Thiên Chúa thì phải tin là Người có....”
Cf. DS 1532.
Nếu tin là tuyệt đối
cần thiết để được cứu
độ như vậy, thì những Phật tử thế
nào? Họ có được cứu độ không?
Ðối với R. Panikkar, chắc
chắn những Phật tử được cứu
độ, bởi vì đức tin cứu độ không
nhứt thiết phải đi đôi với nội dung tin
(i), dù rằng đối với văn hóa tây phương
"tin" thường gắn liền với
"nội dung tin" (ii), còn văn hóa đông
phương đặc biệt nơi Phật giáo thì không
như vậy (iii):
(i). R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 61: "Si la foi est l’ouverture ontique ou
l’interrogation ontologique? Je répondrai qu’elle à la première avec une
exigence de la seconde... J’ai parlé de la distinction radicale entre la foi et
son contenu intellectuel...
Peut-il y avoir de la foi sans contenu
intellectuel?
La foi salvifique est-elle liée au contenu
intellectuel?
Ma réponse serait affirmative pour le premier, et
négative pour le second.”
(ii). Ibid.
"Dans la situation culturelle de l’occident on
peut difficilement trouver une foi qui ne soit pas, plus ou moins, consciente
de son contenu intellectuel, mais cela ne représente pas une invariante
humaine.”
(iii). R. Panikkar đặt vấn
đề cho Heinrich Ott trong khi thảo luận về bài
của Heinrich Ott, "La structure de l'acte de foi,” trong Mythe et
Foi, Aubier 1966, pp. 65-74: "Pour préciser, est-ce que la structure de
l’acte de foi d’un bouddhiste, par exemple, pour lequel il n’y a pas d’objet,
pas de transcendance et pas même de pensée, peut, d’une facon ou d’autre,
s’inclure dans son analyse?" (trang 77).
Nhưng có đúng là niềm tin của
Phật giáo không có nội dung tin (contenu intellectuel=nội
dung trí tuệ) không? Vô của Ðại Thừa
và Hữu của Tiểu Thừa liệu có thể
là Siêu Ngã không? (Xin xem thêm bốn ghi chú đầu trong
phần ba).
[196] H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix,
Les aspects esthétiques de la Révélation, Trad. Robert Givord, col. Théologie
61, Aubier 1965, p. 185: "La foi est concue comme la rencontre de tout
l’homme avec Dieu.”
J. Truetsch, “La Foi,” p. 77: "C’est avant
tout en rencontrant la personne de Jésus Christ que notre théologie de la foi
chrétienne doit comprendre son propre caractère personnel.”
[197] R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 26: "L’acte de foi, selon une telle théologie,
saisit les choses en elles-mêmes; sa formulation n’est qu’une conceptualisation
de quelque chose qui la transcende.”
St. Thomas, S. T., IIa-IIae, q. 1, a. 2, ad 2:
"Actus autem credentis non terminatur ad enuntiabile, sed ad rem.”
Cf. J. Truetsch, “La Foi,” p. 50.
H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix, p. 179:
"Le kérygme officiel et autoritaire reste ce qui renvoie à la révélation.
C’est pourquoi le croyant ne croit pas, à proprement parler, à des propositions
de foi, mais à ce qu’elles expriment et à tout ce qu’est, de quelque manière,
le Dieu vivant en Jésus Christ..."
"Aussi est-il possible, si Dieu le dispose
ainsi, qu’une foi authentique, formulée d’une manière déficiente ou même
éventuellement inexacte, atteigne le Dieu vivant. L’intention du croyant vise
Dieu, et la grâce de Dieu peut compléter....”
[198] Ác qủy cũng tin có Thiên
Chúa và tin vào Thiên Chúa, nhưng không
được cứu độ, vì ma qủy không tin
phó thác nơi Thiên Chúa.
Cf. R. Aubert, Le problème de l'acte de foi, pp.
26-27: "Les démons croient à Dieu et au Christ, credunt Deo, Christo,
soumission de l’esprit à l’autorité divine parce qu’il est impossible de faire
autrement. Mais la foi méritoire et qui justifie, c’est celle qui croit en
Dieu, credere in Deum, in Christum.”
R. Aubert trích dẫn thánh Augustin: Aug.,
Serm. CXLIV, 2 PL.,t. 38, c. 788: "Celui-là a foi dans le Christ, credit
in Christum, qui aime aussi le Christ, car si on a la foi sans l’espérance et
sans la charité, on croit que le Christ existe mais on ne croit pas au Christ.”
Aug., Tract. in Joan., XXIX, 6, PL., t. 35, c.
1631: "Quid est ergo credere in eum? Credendo amare, credendo diligere,
credendo in eum ire, ejus membris incorporari.”
[199] Cf. H. U. Von Balthasar, La Gloire et la
Croix, p. 136: "Pour saint Thomas, ni la doctrine chrétienne, ni les
miracles qui l’attestent, ne diraient rien à l’homme sans l’interior instinctus
et attractus doctrinae (In John., c. 6, l. 4, n. 7; c. 15, l. 5, n. 5;
In Rm., c. 8, l. 6), qu’il appelle aussi inspiratio interna et experimentum.”
[200] Với tư cách là kitô hữu,
chúng ta không thể chứng minh được
rằng Thiên Chúa không dùng các tôn giáo ngoài Công giáo để
giúp các tín hữu trong các tôn giáo đó gặp gỡ và tín
thác vào Thiên Chúa. Trái lại chúng ta thấy, Hội Thánh Công
giáo dạy ta phải tôn trọng các tôn giáo ngoài kitô giáo
(Tuyên ngôn NOSTRAE AETATE của Công Ðồng Chung Vatican II).
Như vậy, các tôn giáo ngoài kitô giáo và những tín khoản
của các tôn giáo đó, có thể được Thiên Chúa dùng
để giúp các tín đồ của các tôn giáo đó
gặp gỡ và tín thác vào Thiên Chúa.
[201] H. De Lubac, La foi chrétienne, p. 305:
"Elle (l’unité entre la foi et les croyances) a été exprimée par Romano
Guardini en des termes qu’on ne saurait dépasser: "La foi est son
contenu.” "Elle est déterminée par ce qu’elle croit. Elle est la marche
vivante vers Celui en qui l’on croit. Elle est la réponse vivante à l’appel de
Celui qui s’annonce dans la révélation et attire l’homme par la grâce"
(Vie de la Foi, Paris: Cerf, 1968, p. 24).”
J. Truetsch, “La Foi,” pp. 120-121: "Pour
l’objet matériel aussi bien que formel, ces formules ne sont pas "id ex
quo" (medium ex quo attingitur Deus auctoritative loquens, respective Deus
salutaris noster), mais "medium in quo" les réalités créées ne sont
pas des choses connues (ou à connaitre) immédiatement en elles-mêmes, dans leur
réalité créée, et qui se glisseraient entre Dieu et le croyant; à partir
d’elles, dans une seconde démarche et donc médiatement, on atteindrait alors
Dieu lui-même.”
R. Panikkar, “La foi dimension constitutive,"
p. 26: "On ne peut pas nier le caractère intellectuel de la foi sans nier
la foi elle-même; pourtant la foi ne peut être identifiée avec aucun de ses
paramètres. Là git la force et la faiblesse de l’orthodoxie.”
[202] R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 26: "S’il est certain qu’on ne doit pas confondre
la foi avec son expression, il n’est pas moins vrai que la foi ne peut
subsister sans l’un contenu intellectuel, l’homme étant un être intelligent. La
foi n’est pas essentiellement liée à une doctrine déterminée, mais elle a
besoin d’un véhicule intellectuel, et même, dans la plupart des cas, d’un
système conceptuel qui l’exprime.”
Cf. St. Thomas, In III Sent., dist. 25, q. 1, art.
1, sol. 1 ad 3: "Fides non potest exire in actum, nisi aliquid determinate
et expresse credendo.”
H. U. Von Balthasar, La Gloire et la Croix, p. 79:
"Le magistère ecclésiastique ne peut représenter la vérité du Christ qu’au
point de vue de la doctrine, non au point de vue de la vie, tandis que doctrine
et vie sont identiques dans le Christ.”
[203] Vaticanô II, Tuyên Ngôn về Tự Do
Tôn giáo, số 1.
[204] Rm 3:28.30: "vì chúng tôi nghĩ
rằng con người mà được giải án tuyên
công, ấy là bởi tin không phải bởi việc làm
Luật dạy... vì chỉ có một Thiên Chúa, Ðấng
giải án tuyên công cho giới cắt bì do tự lòng tin, và
cho giới không cắt bì cũng nhờ bởi lòng tin.”
[205] Gl 2:16: "Song vì biết rằng
người ta có được giải án tuyên công bởi
việc làm của lề luật, là chỉ vì tin vào Ðức
Kitô Giêsu, nên chúng ta đã tin vào Ðức Kitô Giêsu, để
được giải án tuyên công do tự lòng tin vào
đức Kitô, chứ không phải do tự việc làm
của lề luật; vì chưng do tự việc làm
của lề luật, không xác phàm nào sẽ được
giải án tuyên công.”
Hiểu đúng nghĩa Kinh Thánh, chúng
ta không được nghĩ rằng: nếu chúng ta tín thác
vào Thiên Chúa thì chúng ta không phải giữ lề luật
nữa! Luật chỉ là dấu chỉ giúp chúng ta biết
xem chúng ta có tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa không.
[206] Phê bình lập trường Sola
Fide của Luther, J. Truetsch, “La Foi,” p. 51 et 147: "Justification
par la foi, par la foi seule.” La foi entendue dans un sens intellectualiste ne
peut suffire... Une pareille foi est bien loin d’être une simple acceptation de
vérités, elle implique aussi l’espérance, la confiance en Dieu qui me vient en
aide; elle devient cependant une foi trop unilatéralement "faite de
confiance;" ... Le salut s’opère donc "sola fide;" "Fides
vero numquam sola."”
Lập trường của Calvin là
lập trường truyền thống, nhưng cần
cảnh giác để khỏi rơi vào lập
trường đức tin tín thác không cần nội dung
(foi-confiance vidée de son contenu doctrinal):
"Calvin reprendra, dans les mots mêmes,
l’essentiel des distinctions traditionnelles, en opposant deux sortes de foi:
"La première consiste seulement à tenir pour vrai ce qui est affirmé sur
Dieu et sur Jésus Christ: "si quis credat Deum esse, historiam quae de
Christo narratur veram esse arbitretur.” A ses yeux, cette foi "indigna
est fidei appellatione,” car elle ne comporte aucun engagement personnel et, en
tant que telle, elle peut exister chez les plus impies des impies: "eam se
habere cum diabolis comunem.” La véritable foi est tout autre. C’est un
mouvement de tout l’être vers Dieu et un abandon confiant et personnel à celui
qui seul peut sauver: "Altera est, quae non modo Deum et Christum esse
credimus, sed etiam in Deum credimus et Christum..." (Alexandre Ganoczy,
Le jeune Calvin- genèse et évolution de sa vocation réformatrice, Wiesbaden
1966, p. 153)" (H. De Lubac, La foi chrétienne, pp. 301-302).
[207] R. Panikkar, “La foi dimension
constitutive," p. 26:
"Seule la foi peut sauver (Rm 3:28 Gl 2:16),
et par conséquent elle ne peut se réduire à une simple acceptation
intellectuelle, séparée de vie; la foi sans les oeuvres est une foi morte (Gc
2:17), et en toute volonté de croire il y a une tendance à vivre en accord avec
la foi.”
"Quoi qu’il en soit, la foi comprend en elle,
indiscutablement, un élément pratique et volitif, et son but n’est pas
seulement la Vérité, mais aussi le Bien. Certes, il est insuffisant
d’identifier la religion avec la morale et réduire la foi salvifique à un
simple "comportement" moral, mais on ne peut pas nier non plus que
c’est justement la foi qui rend possible l’unité de vie dans l’existence
quotidienne de l’homme.”
[208] Mt 15:8 // Is 29:13 "Dân này tôn kính Ta
ngoài môi, còn lòng chúng thì xa Ta một vời.”
[209] Vaticanô II, Hiến chế về
Giáo Hội, số 16.
[210] Nhưng tiếng lương tâm có
thể bị yếu đi. Tuy nhiên nó có thể mãnh liệt
ở một thời điểm nào đó trong cuộc
đời.
[211] Như Abraham đã lấy ý
của Thiên Chúa làm ý mình, và đã dám phó thác tất cả cho
Thiên Chúa, cho dù Ngài có đòi hỏi ông những gì ông quý
mến nhất.
[212] Là người ai mà không có
những lỗi lầm! Mà "một lần bất tín,
vạn lần không tin"!
[213] Có thể họ tin mà họ không ý
thức.
[214] Sở dĩ Abraham tin Thiên Chúa và
sẵn sàng dám sát tế con độc nhất của mình,
vì ông tin rằng Thiên Chúa quyền phép đủ
để làm cho người chết sống lại (Hr
11:19).
[215] H. Kueng, Dieu existe-it? pp. 532-523:
"Pour l’adulte aussi, une vie digne de l’homme
est impossible sans confiance (Otto Friedrich Bollnow, Wesen und Wandel der
Tugenden, Francfort 1958, p.175: La confiance est la condition sine qua
non de toute vie humaine. Ce n’est que sur fond de confiance que la
vie est finalement possible. Inversement, la défiance laisse la vie se
désécher, et elle finit par mourir pour le bon).”
"On ne peut forcer la confiance. De mon côté,
je fais confiance à un autre, mais uniquement parce que l’autre m’inspire confiance.
Comment comprendre cette réciprocité de la confiance interpersonnelle, de la
confiance originaire?”
[216] Quan niệm của Gabriel Marcel
về "mất đức tin,” trong Gabriel Marcel, Foi et
Réalité, Aubier 1967, coll. FOI VIVANTE 38, pp. 98-99: "Perdre la foi, se
considère comme purement et simplement délivré d’une erreur, et se félicite
d’être ainsi libéré. Perdre la foi, se faire éprouver le regret de ne plus se
trouver dans un certain état bienheureux. Perdre la foi: admettre à certains
moments que cet état révolu correspondait à une erreur et de regretter tout de
même d’en être sorti... Après tout, puis-je être sur que j’étais alors dans
l’erreur et que je suis maintenant dans la vérité?”
[217] Quan điểm của S. Kierkegaard
về tuyệt vọng, trong Soren Kierkegaard, Traité du désespoir,
NRF-Gallimard 1964, pp. 69.82-83: "Désespérer de soi, désespéré, vouloir
se défaire de soi, telle est la formule de tout désespérer et la seconde:
désespéré, vouloir être soi-même, se ramène à elle, comme nous avons ramener
plus haut (voir chap. I) au désespoir où l’on veut être soi, celui où l’on
refuse de l’être. Qui désespère veut, dans son désespoir, être lui-même.”
"Il n’en faut pas moins considérer le
désespoir, surtout sous la catégorie de la conscience: s’il est conscient ou
non, il diffère de nature. A s’en tenir au concept il l’est certes toujours;
mais de là ne s’ensuit pas que l’individu qu’habite le désespoir, et qu’en
principe on devrait donc appeler désespéré, ait conscience de l’être. Ainsi la
conscience, la conscience intérieure, est le facteur décisif. Décisif toujours
quand il s’agit du moi. Elle en donne la mesure. Plus il y a de conscience,
plus il y a de moi; car plus elle croit, plus croit la volonté, et plus il y a
de volonté, plus il y a de moi. Chez un homme sans vouloir, le moi n’existe
pas; mais plus il en a, plus il a également conscience de lui-même.”
[218] J. Truetsch, “La Foi,” p. 53 et 81: "Le
chapitre 15 affirme que tout péché mortel, et non l’incrédulité seule, fait
perdre la grâce, donc la charité, mais non la foi, sauf quand il s’agit d’un
péché contre celle-ci même; elle peut donc, malgré tout, subsister en tant que
"fides mortua" et jouer un rôle favorable au salut (DS 1544).”
CONC. VATICAN I, De Fide [DS 3010]: "Quare
fides ipsa in se, etiamsi per caritatem non operetur (cf. Gl 5:6), donum Dei
est, et actus ejus est opus ad salutem pertinens, quo homo liberam praestat
ipsi Deo oboedientiam gratiae ejus, cui resistere posset, consentiendo et
cooperando (Cf. DS 1525 ss; can. 5).”
[219] G. Dominici, Notes de théologie morale- Les
vertus théologales, GHHV sans date ni lieu, pp. 67-68: "L’hérétique, c’est
homme d’une opinion humaine. L’hérétique prend la raison humain comme critère
de la vérité: il rejette la règle de la Vérité première pour lui préférer son
propre jugement. Pour st. Thomas, l’hérétique "non elegit ea quae sunt
vere a Christo tradita, sed ea quae sibi propria mens suggerit" (S.T., IIa-IIae,
q. 11, a. 1, in corp.).”
"L’hérésie:
· une négation ou un doute positif concernant quelque
vérité de foi de la part d’un baptisé;
· négation ou doute concernant une vérité de foi
divine et catholique;
· pertinacité, obstination.
En conclusion, le péché d’hérésie comprend soit un
élément intellectuel (négation, doute), soit un élément volontaire
(obstination, acte de volonté).”
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng