HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
Thần Học Tôn Giáo Ngoài
Kitô bản PDF
THẦN
HỌC TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
GIÁ
TRỊ CỨU ĐỘ CỦA CÁC TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ
I.
LỊCH SỬ THẦN HỌC VỀ TÔN-GIÁO-NGOÀI-KITÔ
4.
Những thần học gia tiêu biểu
3. Cái
nh́n tích cực thời trung cổ
4.
Nơi các thần học gia hiện đại
II.
TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ THEO NHĂN QUAN MẶC KHẢI
2.
Niềm tin của các tín hữu ngoài-Kitô
b. Sai
lầm không đến từ Thiên Chúa
2.
Mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô
c. Kinh
nghiệm Tuyệt Đối nơi các tôn giáo ngoài-Kitô
III.
TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ LÀ PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
B. TÔN
GIÁO- PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
2. Giá
trị cứu độ của các tôn giáo
3.
Vị thế ưu việt của đức Giêsu Kitô
a.
Những điều không là mặc khải Kitô giáo
b. Nét
đặc biệt của mặc khải Kitô giáo
AG Ad
Gentes. Sắc lệnh Truyền giáo của Công Đồng
Vatican II.
Art Articulus Bài
Art.
Cit. Articulo
citato Bài đă
dẫn
AUG Augustinô
DS Denzinger-Schonmetzer,
Enchiridion Symbolorum Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum,
Herder MCMLXIII
Ep Epistula Thư
ET K.
Rahner, Ecrits Théologiques
FV Coll.
FOI VIVANTE
Ibid. Ibidem Cùng
vậy
LG Lumen
Gentium Hiến Chế Giáo Hội
NAe Nostra
Aetate. Tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II về liên
lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô
op.
cit. Opere
citato Sách
đă dẫn
p
(pp) Trang
(các trang)
PG J.
P. Migne, Patrologiae cursus completus, Series graeca, Parisiis 1857 seq.
PL J.
P. Migne, Patrologiae cursus completus, Series prima Latina, Parisiis 1844 sqq.
R Rouet
De Journel, Enchiridion patristicum, Herder MCMLXV
ST St.
Thomas, Summa Theologiae
TCN Trước
Công Nguyên
Kư
hiệu Kinh Thánh dùng theo bản dịch của Các Giờ
Kinh Phụng Vụ.
Một
số trích đoạn Kinh Thánh theo bản dịch của
cha Nguyễn Thế Thuấn (D̉NG CHÚA CỨU THẾ, 1976) và
một số trích đoạn theo bản dịch của
Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Kư
hiệu của Công Đồng Vatican II dùng theo bản
tiếng Latin.
Trên
toàn thế giới, Kitô hữu chiếm khoảng 30% dân
số; tại Á châu số Kitô hữu chỉ vào khoảng
3%; riêng tại Việt Nam, số người công giáo vào
khoảng 7%. Con số khổng lồ người ngoại
làm những người nhiệt thành lo nước Chúa và
những nhà truyền giáo bận tâm rất nhiều.
Đứng
trước hiện tượng các tôn giáo và số đông
bao la tín hữu của các tôn giáo này, hơn bao giờ
hết trong lịch sử, các thần học gia
đặt câu hỏi về ư nghĩa thần học
của các tôn-giáo-ngoài-Kitô: các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị
cứu độ không? các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương
thế Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người không?
Để
trả lời câu hỏi này, cần xem những câu trả
lời trong lịch sử thần học trước khi
đưa ra câu trả lời đề nghị, nhưng
trước tiên t́m hiểu vài từ ngữ.
Tôn
giáo là cộng đoàn những người có cùng niềm
tin, có giáo lư và diễn tả tâm t́nh của ḿnh với
Tuyệt Đối bằng những nghi lễ riêng. Từ
ngữ "các tôn-giáo-ngoài-Kitô,” được hiểu là
các tôn giáo không tin Đức Giêsu là Thiên Chúa, chẳng hạn
như Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Lăo giáo, Hồi
giáo, Do Thái giáo, v.v.
Nhằm
hiểu biết sâu xa hơn về tôn giáo, người ta
đă so sánh đối chiếu các tôn giáo với nhau. Khoa
tôn giáo đối chiếu là một khoa học, nó không
nhằm chứng minh sự ưu việt của tôn giáo nào
đó, nó xét tôn giáo như những sự kiện, khoa tôn
giáo đối chiếu nhằm nhận ra những
điểm dị đồng giữa các tôn giáo, không
đề cập đến đúng sai tuy rằng không
loại trừ khía cạnh này. Khoa tôn giáo đối
chiếu cung cấp những dữ kiện để giúp
các nhà triết học và thần học suy tư có cơ
sở hơn, khoa học hơn, khách quan hơn.[1]
Qua
lịch sử các tôn giáo, có thể tóm lược những
giai đoạn chính trong việc h́nh thành các tôn giáo như
sau:
· đầu tiên có một cá nhân được mặc
khải hoặc có kinh nghiệm với Tuyệt Đối;
· cá nhân này thu nhập môn đệ, hoặc những
người trong gia tộc thừa tiếp gia sản này,
và những người này theo đường lối
của thầy ḿnh (đạo) trong việc tiếp xúc
với Tuyệt Đối;
· khi những người cùng tin vào Tuyệt Đối và
theo cùng cách thức người thầy đầu tiên
tăng nhiều (cộng đoàn xuất hiện) th́
những lời dạy của thầy được
hệ thống hóa thành giáo lư và những h́nh thức; công
thức diễn tả tín ngưỡng được thành
h́nh (nghi lễ);
· trong ḍng lịch sử, cơ cấu tôn giáo ngày càng
thêm chặt chẽ.
Ư
niệm cứu độ, giải thoát đi liền
với khái niệm tôn giáo. Ở phương đông,
chữ đạo trong Đạo Phật,
Đạo Khổng, v.v., được hiểu như con
đường mà người sáng lập đă đi qua,
đó cũng là con đường mà tín hữu chấp
nhận theo, để cũng được cứu
độ, giải thoát như người sáng lập.
Chữ
"cứu độ" trong vấn đề của
chúng ta có nghĩa là ǵ? Theo J-H. Walgrave, từ ngữ cứu
độ bắt nguồn từ chữ có nghĩa là
"tất cả.”[2] Cứu độ là
được trở nên cái ḿnh là. Cứu độ luôn
hàm nghĩa được trở nên ḿnh cách hoàn hảo,
trọn vẹn và ḥa hợp với tất cả.[3]
Theo
các Đạo ở phương đông, cứu độ là
điều mỗi người ao ước đạt
tới bằng những đường khác nhau. Các
đạo là những con đường dẫn tới
đích! Tất cả đều dẫn đến Rôma,
tất cả các Đạo đều dẫn tới giải
thoát, tất cả các Đạo đều tốt!
Theo
Kitô giáo, cứu độ là trở nên như Thiên Chúa
muốn. Con người hiện tại được
cứu độ khi biết ḿnh và Thiên Chúa, được
giải phóng khỏi tội, ḥa giải với Thiên Chúa và
con người, sống trong t́nh thân với Thiên Chúa. Theo
nhăn quan Kitô giáo, cứu độ không là chuyện tự
sức con người có thể làm được. Nếu
con người muốn độc lập với Thiên Chúa,
con người không thể được cứu
độ. Hiểu như vậy, để giải đáp
câu hỏi về tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương tiện
cứu độ không, một số nhà thần học
đă đặt vấn đề thành: các tôn-giáo-ngoài-Kitô
là công tŕnh của Thiên Chúa hay của con người!
Trong
sách Công Vụ tông đồ "Không có ơn cứu
độ nơi một người nào khác nữa. V́
dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác
được ban xuống cho nhân loại để
phải nhờ vào đó mà trông được cứu
thoát" (Cv 4:12). Đức Giêsu Kitô là "đường,
sự thật, và sự sống" (Ga 14:6). Như
vậy, Đức Giêsu là phương tiện và là chính ơn
cứu độ. Ngài là Đấng trung gian duy nhất
giữa Thiên Chúa và con người.
Khi
đặt câu hỏi "các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là
phương thế Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người không?” không muốn nói rằng các
tôn giáo là phương thế cứu độ thay thế
Đức Giêsu Kitô. Cần minh định lại lập
trường Kitô giáo của người viết bài này:
tất cả mọi người, dù là Công giáo hay Tin lành, dù
một người theo tôn giáo nào đi nữa, hoặc nh́n
nhận là vô thần, nếu họ được cứu
rỗi là được cứu rỗi nhờ Đức Giêsu
Kitô.
Kitô
giáo là phương tiện cứu độ. Chữ
phương tiện cứu rỗi ở đây là
phương tiện thứ yếu, đó là điều
Thiên Chúa muốn dùng như dụng cụ để cứu
rỗi con người trong Đức Giêsu Kitô, nhờ và qua
Đức Giêsu Kitô. Chữ "phương tiện cứu
độ" trong câu hỏi "các tôn giáo ngoài-Kitô có là
phương tiện cứu độ không?” cũng tương
tự như chữ phương tiện trong câu "Kitô
giáo là phương tiện Thiên Chúa để cứu
độ con người.”
Vấn
đề được bàn trong bài này hàm chứa vấn
đề cứu độ lương dân. Lời Chúa trong
thư thánh Phaolô viết: "Thiên Chúa muốn cho mọi
người được cứu thoát và nh́n biết chân
lư" (1Tm 2:4). Công Đồng Vatican II trong hiến chế
về Giáo Hội cũng khẳng định:
"Những kẻ đang t́m kiếm Thiên Chúa trong bóng
tối và qua ngẫu tượng, Thiên Chúa mà họ không
biết, cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa
họ, bởi v́ chính Ngài ban cho mọi người sự
sống, hơi thở và tất cả mọi sự, và v́
là Đấng Cứu Thế, Ngài muốn mọi người
được cứu rỗi. Thực tế, những
kẻ vô t́nh không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và
Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm t́m kiếm
Thiên Chúa, dưới tác động của ơn thánh,
họ cố gắng chu toàn thánh ư Thiên Chúa trong công việc
ḿnh theo sự hướng dẫn của lương tâm,
th́ họ có thể được cứu rỗi. Cả
những kẻ vô t́nh chưa nhận biết Thiên Chúa cách rơ
ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống
đời chính trực, th́ Chúa Quan Pḥng không từ chối
ban ơn trợ lực cần thiết để họ
được cứu rỗi" (LG 16).
Khẳng
định của công đồng được trích
dẫn trên đ̣i người ta phải hiểu đúng
đắn câu "extra ecclesiam nulla salus.” Đức Giáo Hoàng Piô
IX trong Singulari Quadam năm 1854 cũng nói: "bởi
đức tin chúng ta nhận rằng ngoài Giáo Hội tông
truyền Rôma không có ai được cứu; chỉ có
một con tàu cứu độ duy nhất mà nếu ai không
vào th́ sẽ bị hư mất trong nước lụt.
Nhưng cũng phải xem là chắc chắn, những ai
làm việc dưới sự vô tri bất khả thắng
về tôn giáo chân thực, th́ không có lỗi về vấn
đề này dưới con mắt của Chúa.”[4]
Ở
đây không đặt câu hỏi "những người
theo các tôn-giáo-ngoài-Kitô có được cứu
độ trong tôn giáo của họ không,”
nhưng "những người sống trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có được cứu độ qua
trung gian tôn giáo của họ không” (hiển nhiên là
không thay thế đức Kitô).
Đây
là một vấn đề thần học c̣n phải
được bàn căi (questiones disputatae). Kinh Thánh không nói rơ
ràng về điều này, và các nhà thần học cũng
không cùng quan điểm với nhau. Sau đây sẽ xem ư
kiến các nhà thần học về vấn đề này
cũng như những ư kiến dị biệt khi họ
chú giải Kinh Thánh.
I. LỊCH
SỬ THẦN HỌC VỀ TÔN-GIÁO-NGOÀI-KITÔ
Trong
lịch sử thần học, vấn đề thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô không được nhiều
người đề cập đến, và nếu
được đề cập tới th́ cũng không
được bàn cách trực tiếp.
Trong
phần này sẽ lược qua các thời đại
để t́m xem các tư tưởng gia Công giáo nghĩ ǵ
về các tôn giáo. Chúng ta phân chia ư kiến của các nhà
thần học về vấn đề này ra làm hai: một
"tiêu cực" cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô không là
phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người sống trong đó, hai "tích
cực" cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng
là phương tiện Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người. Chúng ta sẽ tuần
tự lược qua các tác giả linh ứng, các giáo
phụ, các thần học gia thời trung cổ, cải
cách và hiện tại.
Có
nhiều tôn giáo xuất hiện trước Do Thái giáo và
Kitô giáo, và các Kitô hữu đă sống chung đụng
với những người theo tôn giáo khác. Thời Cựu
Ước và Tân Ước, các tác giả linh ứng không
bàn trực tiếp về các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nếu có
dịp th́ các tác giả chỉ nhắc sơ qua thôi;
thời các giáo phụ cũng vậy. Việc nghiên cứu
các tôn-giáo-ngoài-Kitô chỉ xuất hiện trong những
thế kỷ gần đây[5].
Kinh
Thánh cũng là những suy tư của con người
về Thiên Chúa, con người và vũ trụ; tuy vậy
những suy tư của các tác giả này không chỉ
thuần túy của con người nhưng nó đă
được Thiên Chúa linh ứng, nghĩa là lời con
người đă thành lời Thiên Chúa; và do đó những
lời này không thể sai lầm. V́ thế những suy
tư của các tác giả linh ứng trở thành tiêu
chuẩn giúp các thần học gia sau này qui chiếu về.
Kinh Thánh là những lời qui phạm, làm tiêu chuẩn
để biết những suy tư của các thần
học gia sau này có đúng không (norma normans).
Nếu
người ta chứng minh được một vị
trong các tác giả linh ứng khẳng định các tôn giáo
ngoài-Kitô không là phương tiện cứu độ, th́
không cần đặt vấn đề này nữa! Chính v́
các tác giả Kinh Thánh không trả lời rơ ràng về
vấn đề này, nên người ta phải t́m hiểu.
Một
số tác giả dựa vào những đoạn Kinh Thánh sau
để nói rằng các tác giả linh ứng có câu trả
lời tiêu cực về vấn đề này: 1V 11:1-13; Gr
2:26-29; 10,1-16; Br 6:7-72; Is 40:18-20; 44:9-20; 46:6tt; Tv 105; 113:10-16;
Kn 13:1-14.20; 15:6-19; 1Mac 1:41-64; 2Mac 4:1-11; Dn 14; v.v.[6]
Có
thật các tác giả linh ứng của những
đoạn Kinh Thánh trên muốn nói các tôn giáo ngoài Do Thái giáo
tự bản chất là xấu, không có giá trị cứu
độ không? Vấn đề này thuộc về khoa chú
giải Kinh Thánh, nhưng dù sao đây không là vấn
đề được các tác giả linh ứng muốn
bàn tới trực tiếp.
Bản
văn 1V 11:1-13 nói về việc vua Salomon mê con gái các dân
ngoại và để ḷng xiêu theo các thần ngoại lai,
chính v́ đó mà Thiên Chúa đă chia cắt xứ sở ra làm
hai. Bản văn này coi các thần dân ngoại thờ kính
(thần sản lực Astartê-Astoret của dân Canaan;
thần Milkom-Molek của dân Ammon; thần Kamosh của dân
Moab) như đối nghịch với Yahveh của dân
Israel. Ngày nay người ta không đơn thuần
đồng hóa đức Giêsu và đức Phật,
nhưng Đấng Tuyệt Đối nơi các tôn giáo khác (Cao
Đài, Hồi giáo, v.v.) cũng là Chúa tể vạn vật
như Yahveh của dân Do Thái và Thiên Chúa của người
Kitô.
Bản
văn Gr 2:26-29; 10,1-16, châm biếm các ngẫu tượng
của các dân ngoại bằng gỗ, bằng bạc,
bằng vàng. Điều này hiểu được dễ dàng,
v́ đây chính là điều Yahveh Thiên Chúa cấm dân Israel
không được làm h́nh tượng Yahveh (Xh 20:4) và khi
con dân Israel làm ḅ vàng để thờ và cho đó là Đấng
đă dẫn họ ra khỏi AiCập th́ Yahveh đă
nổi giận dân (Xh 32:4-10)! Ngày nay chẳng ai trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô thờ kính khúc gỗ, ngẫu tượng
do người phàm làm ra; nếu họ cúi ḿnh trước
những ảnh tượng th́ không phải những
ảnh tượng là đối tượng tôn thờ,
nhưng đối tượng tôn thờ là cái ǵ siêu
vượt trên cái đó! Người công giáo cũng không
thờ ảnh tượng, nhưng ảnh tượng là
biểu tượng của cái ǵ siêu vượt!
Một
số người đă dựa vào thư thánh Phaolô gởi
Roma để kết án tôn-giáo-ngoài-Kitô. "Quả vậy,
tự trời sự thịnh nộ của Thiên Chúa
được mặc khải ra trên mọi sự vô
đạo và bất chính của những kẻ lấy
bất chính hăm cầm sự thật. V́ chưng lộ
hiện rồi nơi họ những ǵ biết
được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đă bày
tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo thành vũ trụ,
những ǵ nơi Người, mắt xác thịt không
thể thấy, th́ trí khôn nh́n ngắm được
nơi công việc người làm: quyền năng hằng
có và thần tính của Người, khiến họ vô
phương chữa ḿnh. V́ rằng họ đă biết
Thiên Chúa, họ lại đă không tôn vinh Người như
Thiên Chúa, hay không tạ ơn Người, nhưng họ
đă ra hư luống trong các tư tưởng của
họ; và ḷng ngu muội của họ đă ra tối
tăm. Trong khi họ huyênh hoang ḿnh khôn ngoan, th́ họ đă
ra điên rồ. Và họ đă tráo đổi vinh quang Thiên
Chúa bất hoại với h́nh tượng loài người
hư nát, và bao cầm thú, cùng rắn rít.” (Rm 1:18-23). Ở
đây Phaolô bàn về tội lỗi của con
người, đă không theo đường lối của
Thiên Chúa nhưng đă bẻ quặt đường
lối Thiên Chúa theo kiểu của ḿnh; Phaolô cũng
giống tác giả sách Sáng Thế cho rằng tội
của Adam là muốn nên giống Thiên Chúa, trở nên
một thần linh bằng sức riêng của ḿnh,
độc lập với Thiên Chúa; c̣n vấn đề
ở đây là "thần học các tôn giáo,” đang t́m
hiểu xem các tôn giáo là công tŕnh của Thiên Chúa hay của
con người.
Dù
các giáo phụ không đặt câu hỏi về các tôn giáo
như người ta đang đặt ngày nay, nhưng
đôi khi các ngài cũng bàn về khía cạnh chân lư trong
tôn-giáo-ngoài-Kitô. H. Kraemer đă tóm tắt lập
trường của các giáo phụ như sau:
· lập trường thứ nhất cho rằng các
điều hay và tốt nơi các tôn giáo khác là do công tŕnh
của Logos spermatikos;
· lập trường thứ hai chủ trương
rằng những ǵ tốt đẹp và chân thật nơi
các tôn giáo khác là do các tôn giáo ấy lấy những ǵ
tốt đẹp và chân thật nơi Do Thái giáo hoặc
Kitô giáo (lập trường này giải thích bằng sự
tiếp xúc);
· lập trường thứ ba cho rằng những ǵ
được coi là chân thiện mỹ nơi các tôn giáo
khác chỉ có vẻ là chân thiện mỹ, chứ thực
ra không có chân thiện mỹ nơi các tôn giáo khác; đó là do
ma qủy mà ra.[7]
Trong thời sơ khai của Hội Thánh, có những
kẻ tiếp xúc với các tôn giáo và có khuynh hướng
"ḥa đồng tôn giáo,” đă cho rằng Zarathoustra,
đức Phật, đức Kitô đều chỉ
một thực tại. Hội Thánh Byzantine đă kết án
những người chủ trương như vậy:
"Coi là ngoại đạo những ai nói rằng
Zarathoustra, đức Phật, đức Kitô, Mani và mặt
trời là một và cùng là một sự... Coi là ngoại
đạo những ai nhận thuyết luân hồi,
nghĩa là sự di chuyển linh hồn của một thân
xác này vào trong một thân xác khác (PG I, 1446).[8]
Giáo
phụ Tatien sinh khoảng năm 120 tại Assyrie, là môn
đệ thánh Justin ở Roma, được huấn
luyện về văn chương và triết lư ở
đó. Tatien không bàn về tôn giáo nhưng qua thái độ
của ông đối với triết gia, ta thấy ông
rất nghiêm khắc: ông kết án các triết gia đă
rơi vào một loại tật xấu đáng tởm, các
loại sai lầm và mâu thuẫn.[9]
Théophile
d’Antioche cũng vậy, ngài bài bác các triết gia bằng
cách chưng ra những sai lầm và nghịch lư của ho.[10] Thái
độ của các ngài có thể hiểu được
nếu người ta đặt ḿnh vào bầu khí hộ
giáo: thời đó các triết gia ngoại giáo đang châm
biếm và đả kích Kitô giáo, v́ thế các ngài bênh
vực đạo giáo và cho thấy những sai lầm
của họ. Nếu thái độ của các ngài
đối với các triết gia c̣n vậy, huống
hồ là đối với các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Thánh
Augustinus, một thần học gia vào loại bậc
nhất của Hội Thánh, sinh khoảng năm 354 ở
Numide tại Tagaste, Ngài cho rằng các triết lư có những
giá trị đích thực, nhưng nó có được
như vậy là do chiếm đoạt cách bất chính
những giá trị đích thực của Kitô giáo. Và
dựa quan niệm này của Augustinus người ta cho
rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng có những giá trị tôn
giáo đích thực nhưng giá trị đó là do các
tôn-giáo-ngoài-Kitô chiếm đoạt cách bất chính nơi
Hội Thánh Kitô.[11] Để hiểu rơ giá
trị lời nói trên của thánh Augustinus, phải nhớ
rằng thánh nhân đă có thời gian dài sống theo hết các
triết lư này đến triết lư khác và cuối cùng ngài
mới trở lại tin đức Kitô.[12]
Đối
với thánh giáo phụ Fulgence de Ruspe, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không
có giá trị cứu độ, và thậm chí những
người sống ngoài Giáo Hội Công Giáo đều
phải sa hỏa ngục: "không có ǵ phải nghi ngờ
rằng không chỉ những lương dân mà tất
cả những người Do Thái, tất cả những
người lạc giáo và ly giáo, những người
chết ngoài Giáo Hội Công Giáo, họ sẽ sa vào lửa
đời đời đă được sắm sẵn
cho ma qủy và các thần của nó.”[13] Đọc chung hàng này của
thánh Fulgence de Ruspe, người ta nhớ đến câu châm
ngôn thần học thịnh hành trong những thế kỷ
đầu của Giáo Hội: extra ecclesiam nulla salus. Câu châm
ngôn này được Giáo Hội chính thức giải thích
trong hiến chế Giáo Hội của Công Đồng Vatican II
(LG 16)!
Thánh
Thomas, một thần học gia vĩ đại của
Giáo Hội Công Giáo sinh năm 1225 tại Rocca Secca, ngài đă
đặt vấn đề: các nghi lễ của dân
ngoại có được dung thứ không? Theo ngài, các nghi
lễ của dân ngoại không có sự thật cũng
chẳng có ích lợi chút nào, nhưng để có một
ích lợi lớn hơn th́ có thể dung thứ các nghi
lễ của dân ngoại với mức độ.[14]
Một
số người dựa vào một nguyên lư của thánh
Thomas "bonum ex integra causa, malum ex quocumque defectu"
để kết luận rằng mọi tôn-giáo-ngoài-Kitô
tự bản chất là xấu, nghĩa là nó không nằm
trong chương tŕnh của Thiên Chúa và do đó không là phương
tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người.[15]
Với
Luther, tất cả các tôn giáo (kể cả Công giáo)
đều xấu v́ đó là nỗ lực của con
người nhằm đạt đến sự cứu
độ.[16] Luther
đă theo nguyên tắc "chỉ do sức con người
th́ không thể đạt tới sự cứu độ;”
Adam và Evà xưa cũng muốn trở thành thần linh
độc lập với Thiên Chúa, và do đó hai ông bà đă
phạm tội. Nếu tôn giáo chỉ là nỗ lực
của con người để đạt tới sự
cứu độ, th́ tôn giáo không là phương tiện
cứu độ, mà hơn nữa đó c̣n là một
tội. Thực ra người sống trong tôn giáo vẫn
chờ mong sự cứu độ từ thực
tại ngoài ḿnh!
4. Những thần
học gia tiêu biểu
Một
số tác phẩm cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô thờ
ngẫu tượng, chẳng hạn tác phẩm của P.
Aubry: "văn minh Trung Hoa, gần như dưới
mọi quan điểm, là một sự dị hợm không
chỉ phản Kitô giáo nhưng c̣n phản nhân bản
nữa. Tôn giáo hay các tôn giáo của người Trung Hoa
thật dị hợm, phi lư, lố bịch nhất thế
giới... Các tu sĩ là giai cấp đê tiện, bị
khinh bỉ, vô tri, hư thối. Nghệ thuật không
được biết, nó không hiện hữu; trong các chùa
và các lâu đài, có vài h́nh tượng được vẽ
hay điêu khắc về ma qủy và các con vật kinh
khủng, dị hợm,..."[17]
J.
Witte cũng coi tôn-giáo-ngoài-Kitô là sai lầm, tội lỗi
và hư vong.[18]
Quan
điểm thường có câu trả lời tiêu cực
về vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
là cái nh́n từ phía những nhà truyền giáo. Các nhà
truyền giáo thường gặp sức phản kháng Tin
Mừng Đức Giêsu Kitô nơi các tôn giáo; họ thấy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô ngăn cản người ta đón nhận
đức Kitô. Ngược lại các nhà truyền giáo
"văn pḥng" lại tŕnh bày các tôn-giáo-ngoài-Kitô như
là những con đường cứu độ, và như
vậy các nhà truyền giáo "thứ thiệt" có
cảm tưởng như ḿnh bị tấn công từ sau
lưng.[19]
Đạo
Hồi với Mahomet (sinh khoảng năm 570 tại La
Mecque) là một hiện tượng tôn giáo đă phá hủy
nhiều nhăn quan tích cực về tôn giáo. Đầu thế
kỷ XX, H. Lammens cho rằng: "Đạo Hồi có lẽ
là một giả dạng của ma qủy, bằng một
mưu kế tế vi, đă thúc dục Mahomet liên kết
vài giáo lư Kinh Thánh và loan truyền điều đó theo cách
thức tạo ảo tưởng về địa vị
của ông ta, nhằm đánh đổ đạo Do Thái và
hơn nữa là đạo Kitô.”[20] Sở dĩ có thần
học gia coi đạo Hồi như là mưu mẹo
của ma qủy như vậy, là v́ đạo Hồi
nhận ḿnh là một tôn giáo đến thay thế Kitô giáo,
và Mahomet đến sau và vượt trên Đức Giêsu: Đức
Giêsu chỉ là một tiên tri và thời của Đức Giêsu
đă chấm dứt, Mahomet mới là tiên tri khai mở
kỷ nguyên sau cùng. Đạo Hồi đă phá hủy luận
chứng các tôn-giáo-ngoài-Kitô là chuẩn bị cho Tin Mừng
Đức Giêsu Kitô và cũng đẩy giả thuyết các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là công tŕnh của Logos spermatikos vào
"hậu trường."[21]
Đạo
Hồi coi Mahomet vượt trên Đức Giêsu. Đạo Hồi
đă phá hủy nhiều thánh đường và cộng
đoàn Kitô giáo tại phương đông. Những
điều này cũng phá hủy quan niệm cho rằng Kitô
giáo vượt qua các tôn giáo khác, hoàn thiện các tôn giáo khác,
là điểm tới của các tôn giáo ngoài-Kitô!
Các
thần học gia biện chứng hiện đại
như Karl Barth và H. Kraemer lấy lại quan điểm tôn
giáo của Luther: "Tất cả các tôn giáo xuất
hiện như một toan tính tự công chính hóa và tự
cứu rỗi của con người. Nói bằng những
hạn từ khác, tôn giáo là những nỗ lực của
con người nhằm xác định ḿnh trước Thiên
Chúa và nhằm từ chối ân sủng của Thiên Chúa là
Đấng ban sự công chính cho kẻ vô đạo. Mặc
khải lột mặt nạ tất cả các tôn giáo. Nó
vạch cho thấy sự không cần thiết của
mọi tôn giáo, nghĩa là, sự bất lực bẩm sinh
của con người nhằm sản sinh ra chân lư, nỗi
bất lực này sự phát triển tôn giáo của con
người đă xác chuẩn. Như vậy, mọi tôn
giáo đều là h́nh thức thờ ngẫu tượng
hay tự công chinh hóa bởi việc làm, nghĩa là, bất
tín. Xét như một tôn giáo, Kitô giáo cũng là sự bất
tín v́ thờ ngẫu tượng, công chính hóa nhờ
việc làm, kiêu ngạo về phát triển thiêng liêng.
Những điều này là những cây mọc trên đất
Kitô giáo..."[22]
Như
vậy vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô
được các nhà thần học gia biện chứng
đặt thành: Các tôn-giáo-ngoài-Kitô là công tŕnh của Thiên
Chúa hay của con người? Họ đă đứng
về lập trường tiêu cực, nghĩa là coi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô không là công tŕnh Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá
trị cứu độ, v́ họ cho đó là nỗ
lực của con người tự công chính hóa chính ḿnh.
Điều này phát xuất từ lập trường về
công chính hóa và ân sủng của trường phái này! H.R.
Shlette cho rằng không có khẳng định nào của Kinh
Thánh nâng đỡ cho quan điểm của họ.[23]
Một
số người cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá
trị cứu độ v́ Thiên Chúa không thể là nguyên nhân
những sai lầm trong các tôn giáo ngoài-Kitô. Nh́n dưới
khía cạnh nào đó các tôn-giáo-ngoài-Kitô (chẳng hạn
Phật giáo, Ấn Độ giáo) có nhiều điểm hay
như triết lư sâu xa, con đường thực hành uyên
bác, nhưng giáo lư của họ không thể dung ḥa với
mặc khải Kitô giáo (chẳng hạn thuyết luân
hồi). Với những lư thuyết sai lầm dẫn
những người trong các tôn giáo đó có những hành
động không chỉnh, chẳng hạn giao cấu
với các nữ tư tế trong tôn giáo Hy Lạp, việc
dâng người để tế thần, v.v.!
Trên
đây đă thấy các thần học gia và những
luận chứng coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có giá trị
cứu độ, nhưng nếu chấp nhận lập
trường này người ta thấy một số
dữ kiện khó giải thích; chẳng hạn có những
nhà thần bí nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô[24] và có những điểm
tương đồng trong giáo lư của những
tôn-giáo-ngoài-Kitô và Kitô giáo như tin vào Tuyệt Đối, tin
con người cần được cứu độ,
dạy làm lành lánh dữ. Những điều này sẽ
được giải quyết trong phần chính của
bài.
Nỗ
lực của các nhà thần học hiện nay là xác
định xem các tôn-giáo-ngoài-Kitô có chỗ đứng trong
lịch sử cứu độ không. Nói cách khác, cố
gắng để biết các tôn-giáo-ngoài-Kitô có nằm trong
chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa không!
Để có câu trả lời chắc chắn, các nhà thần
học thường tra vấn Kinh Thánh, v́ câu trả
lời trong Kinh Thánh là câu trả lời chính xác mà mỗi
người Kitô hữu phải theo. Trong phần này cũng
lần lượt t́m xem trong Kinh Thánh và trong lịch sử
tư tưởng Kitô giáo có câu trả lời tích cực
cho vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô không.
Như
đă nói, Kinh Thánh không trả lời vấn đề này,
không đặt vấn đề này cách minh nhiên. Như
vậy điều phải làm hiện tại, là xem trong
Kinh Thánh có chỗ nào chấp nhận lập trường
cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô là phương tiện Thiên
Chúa dùng để cứu độ con người không!
Trong
Kinh Thánh, có đề cập đến các thánh nhân không là
người Do Thái như Menkisêdek, Cyrus, v.v.;[25] nhưng không thể
dựa vào đó để nói rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
giá trị cứu độ, v́ đây liên hệ đến
vấn đề ơn cứu độ cho các dân ngoại
nhiều hơn.
Các
nhà thần học thường phân biệt lịch sử
cứu độ làm ba giai đoạn:
giai
đoạn thứ nhất từ Adam tới Abraham,
giai
đoạn hai từ Abraham đến Đức Giêsu Kitô,
và
giai đoạn ba từ Đức Giêsu cho đến ngày Ngài
Quang lâm.
Một
số người như H. R. Schlette gọi giai
đoạn thứ nhất là lịch sử cứu
độ phổ quát và các giai đoạn c̣n lại là
lịch sử cứu độ đặc biệt! Giai
đoạn lịch sử cứu độ phổ quát
được sách Sáng Thế đề cập đến
từ chương 1-11. Dựa vào 11 chương
đầu của quyển đầu tiên của Kinh Thánh này,
H. R. Schlette cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô là phương
tiện Thiên Chúa dùng cứu độ con người
sống trong tôn giáo đó.
Theo
sách Sáng Thế, "người ta bắt đầu kêu
danh Yavê" từ thời Adam (St 4:26).
"Tất
cả ngày đời của Hênóc là ba trăm sáu mươi
lăm năm. Và Hênóc đă đi với Thiên Chúa, ông không c̣n
nữa v́ Thiên Chúa đă cất ông đi mất" (St 5:23.24).
"Nhưng
Noê đă được nghĩa trước mặt Yavê.
Đây là tông tích Noê: Noê là người đức nghĩa,
vẹn toàn giữa những người đồng
thời. Noê hằng đi đứng rập theo Thiên
Chúa" (St 6:8-9). Sau khi truyền cho ông Noê đóng tàu, Yavê
Thiên Chúa đă cho lụt hồng thủy đến trên trái
đất hủy diệt mọi xác thịt có sinh khí, sau
đó Thiên Chúa cho Noê ra khỏi tàu và kư kết giao
ước với ông và những người cùng ở
với ông và mọi sinh vật trên trái đất: "
Thiên Chúa đă phán bảo Noê và các con ông ở bên ông mà
rằng: phần Ta, này Ta lập giao ước của Ta
với các ngươi, với chim chóc, thú vật, dă thú
với các ngươi, tóm lại mọi vật đă
từ tàu đi ra, mọi sinh vật trên đất. Ta
lập giao ước của Ta với các ngươi:
mọi loài có xác sẽ không c̣n bị nước Hồng
Thủy tiêu trừ. Sẽ không c̣n có Hồng Thủy
đến hủy diệt cơi đất. Và Thiên Chúa phán: này
là dấu giao ước Ta đặt giữa Ta và các
ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với các
ngươi, đời đời măi măi... Ṿng cung mà có trên
mây, thời Ta sẽ nh́n và nhớ lại giao ước
vĩnh tồn được đặt giữa Ta và các
ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với các
ngươi, đời đời măi măi... Ṿng cung mà có trên
mây thời Ta sẽ nh́n và nhớ lại đến giao
ước vĩnh tồn giữa Thiên Chúa và tất cả
chúng sinh, mọi loài có xác ở trên cơi đất (St
9:8-12.16).”
Như
vậy giao ước ở đây Thiên Chúa kư với Noê,
chung cho tất cả mọi người, mọi sinh
vật trên đất chứ không chỉ với con cái
Israel như Ta thấy sau (từ chương St 12 trở
đi). Và điều này hàm chứa: ơn cứu
độ được ban cho con người ở ngay
trong t́nh trạng này, nghĩa là trước khi có giao ước
với Abraham và ḍng giống ông. Như vậy phải
chăng trước khi có Do Thái giáo và Kitô giáo, người
ta đă được cứu độ nhờ tôn giáo
của họ, nghĩa là nhờ ḷng tin của họ vào
Thiên Chúa, nhờ hành vi phượng tự họ dâng lên
Thiên Chúa?
Trong
thánh vịnh 19 (18), tác giả nói đến việc Thiên
Chúa mặc khải chính ḿnh qua những tạo vật, các
tạo vật đă "nói" thứ ngôn ngữ không
phải bằng tiếng loài người nhưng đă
lọt thấu tai tất cả:
"Vinh
quang Thiên Chúa trời xanh vang lời kể lể,
và
ṿm cao xanh thuật lại việc của tay Người.
Ngày
cho ngày thổ lộ nên lời, đêm với đêm tỉ
tê rằng: biết.
Nhưng
chẳng rằng cũng chẳng nói năng, không vang
một tiếng ḥng lọt thấu tai.
Thiên
Chúa đă nói qua các tạo vật và con người có
đáp trả mặc khải của Thiên Chúa qua việc có
tin hay không, điều này thuộc lănh vực tự do
của mỗi người. Nếu con người đáp
trả, họ được cứu độ (và đây
cũng thuộc lănh vực cứu độ của các
lương dân); c̣n nếu họ không đáp trả, họ
thuộc diện người thánh Phaolô đă nói trong Rm
1:19-21: "v́ chưng lộ hiện rồi những ǵ
biết được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa
đă bày tỏ cho họ. V́ từ buổi tạo thành
vũ trụ những ǵ nơi Người, mắt xác
thịt không thể thấy, th́ trí khôn nh́n ngắm
được mọi nơi công việc Người làm:
quyền năng hằng có và thần tính của
Người, khiến họ vô phương chữa ḿnh. V́
rằng họ đă biết Thiên Chúa, họ là đă không
tôn vinh Người như Thiên Chúa.”
Thiên
Chúa muốn cứu độ mọi người, nhưng
được cứu độ hay không, là tùy thuộc con
người có đáp trả hay không. Khi đặt vấn
đề các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là dụng cụ Thiên Chúa dùng
để cứu độ những người sống
trong tôn giáo đó, hàm ư hỏi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là môi
trường chuyển mặc khải của Thiên Chúa không,
có giúp con người sống trong tôn giáo đó đáp
trả dễ dàng mặc khải của Thiên Chúa không? Cho
tới bây giờ chưa thấy Kinh Thánh nghiêng về
lập trường nào trong hai lập trường trên.
Ở
Athêna khi thấy trong số những bàn thờ dân chúng dành
thờ kính các thần có một dành cho vị mà họ không
biết, nên Phaolô đă dựa vào đó để Ngài
giảng dạy: "Kính thưa quí vị người
Athêna, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy các ngài
rất mực sùng tín. V́ ngang qua, tôi ngước mắt nh́n
các đồ thờ của các ngài, tôi đă gặp cả
một tế đàn trên đó có khắc: "Kính Thần
Vô Danh.” Vậy Đấng các ngài không biết nhưng có kính
thờ, th́ này tôi xin loan báo về Người cho các ngài:
Thiên
Chúa Đấng tạo thành vũ trụ... Người đă
định thời tiết phân minh và cương giới
nơi chốn họ ở, ngơ hầu họ t́m kiếm
Thiên Chúa và họa may rờ rẫm sao mà gặp
được Người, và quả thật,
Người không xa mỗi người chúng ta... (Cv
17:22-24.26-27).
Xét
như đoạn văn trên đây thánh Phaolô đă nghĩ
rằng các dân ngoại, đặc biệt là dân Athêna,
đă thờ kính Thiên Chúa nhưng họ không biết tên
Ngài. Họ sẵn sàng nghe nói về Thiên Chúa nhưng không
thể chịu được việc Thiên Chúa làm
người và chết rồi sống lại! Họ đă
ḍ dẫm đi t́m Thiên Chúa và thật sự Người
cũng không xa họ! Đặc biệt ở đây thánh Phaolô
đề cập việc thờ tự của một dân
thành có nghi lễ riêng. Không thấy Phaolô kết án tôn giáo
nhưng Ngài muốn dùng chính tôn giáo đó để dẫn
họ đi đến Thiên Chúa đích thực; và
để dẫn họ đến Thiên Chúa đích
thực, ngài đă vạch những sai lầm như
việc họ coi thần linh giống như vàng, như
bạc, như đá... (Cv 17:29).
Ở
Lystra có một người tàn tật từ ḷng mẹ,
Phaolô đă chữa cho anh ta, và dân chúng cho rằng Barnaba là
thần Jupiter c̣n Phaolô là thần Hermes, hai tông đồ
đă ngăn cản họ tế các ngài: "Này các ông,
tại sao làm thế? Chúng tôi là người đồng
điệu đồng ṇi với các ông, chúng tôi rao
giảng Tin Mừng cho các ông, phải bỏ những cái hăo
huyền này đi... Trong những thế hệ qua
Người để mặc các dân đi theo
đường lối của họ; tuy rằng
Người không để thiếu chứng chỉ về
Người, Người hằng thi ân, cho mưa từ
trời xuống trên các ông..." (Cv 14:15-17). Ở đây
Phaolô coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô là chuyện thuộc thế
hệ đă qua, c̣n ở thế hệ này bây giờ chúng
tôi rao giảng Tin Mừng cho các ông! Dường như
ở đây Phaolô chấp nhận tôn-giáo-ngoài-Kitô hiện
hữu đồng thời với Do Thái giáo, nhưng khi các
tông đồ rao giảng th́ các tôn giáo khác không c̣n lư do
để hiện hữu nữa!
Với
những bản văn Kinh Thánh trên, không thể nói rằng
Kinh Thánh chấp nhận lập trường cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là dụng cụ Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người sống trong tôn giáo đó!
Điều rất rơ là Phaolô đă dùng các tôn-giáo-ngoài-Kitô như
là khởi điểm để giảng về Thiên Chúa,
nhưng thực tế lời rao giảng của Ngài
bị số đông từ chối (Cv 17:22 tt).
Một
sự kiện không thể chối căi, có những chân lư và
những điều tốt lành nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Để giải quyết sự kiện này, các giáo phụ
đă đưa ra những lư thuyết khác nhau:
· thuyết "ăn cắp" và "xảo trá
của ma qủy" (fraus diabolica).
· thuyết "logos spermatikos" và "hạ cố
của Thiên Chúa" (condescendence de Dieu).
Một
số thần học gia cho rằng lư thuyết "ăn
cắp”[26] không
c̣n giá trị v́ bây giờ người ta thấy có
những tôn-giáo-ngoài-Kitô có trước Do Thái và Kitô giáo.
Sở dĩ hồi đó các giáo phụ đưa ra lư
thuyết này v́ các ngài dựa trên sự phỏng tính
thời gian không chính xác.[27]
Một
số nhà thần học như Lamenais, cho rằng các
điều tốt và chân lư trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô là do tàn
dư của mặc khải tiên khởi cho những
người sống thời đầu tiên truyền
lại. Daniélou cho rằng lư thuyết này không chắc
chắn v́ làm sao có thể thiết lập ḍng truyền
thống liên tục từ thời tiên khởi đó cho
đến ngày nay hoặc ngày tôn giáo đó xuất hiện.[28]
Có
thể tóm tắt lập trường nơi các thánh giáo
phụ"tích cực:" tất cả những ǵ
tốt, chân thật và thiện mỹ- dù nó đến
từ đâu- đều đến từ Thánh Linh.[29]
Thánh
giáo phụ đầu tiên trong lập trường tích
cực là Justin. Ngài tử đạo khoảng năm 165, trong
tác phẩm Hộ Giáo, ngài nói "những người
sống với Lời đă là Kitô hữu, ngay cả khi
người ta coi họ là vô thần, như vậy, là Kitô
hữu nơi người Hy Lạp là Socrate, Héraclite và
những người khác cùng loại, nơi những
người không phải là người Hy Lạp là Abraham,
Menchisedek, Elie và nhiều khác."[30] Cùng tinh thần với
thánh Justin, từ ngữ "Kitô hữu vô danh"
thường được K. Rahner dùng! Thực ra lời
của thánh Justin đây không khẳng định về
tôn-giáo-ngoài-Kitô nhưng về vấn đề dân
ngoại!
Athénagore,
triết gia của Athène, trong tác phẩm Đơn Thỉnh
Nguyện Cho Các Kitô hữu, viết khoảng năm 177
gởi cho các hoàng đế Antonin và Commode đă viết:
"các
triết gia và các thi sĩ là chứng nhân cho một Thiên Chúa
độc nhất, và các Kitô hữu không vô thần như
bị trách."[31] Đây là một lập
trường rất cởi mở, coi các triết gia làm
chứng cho Thiên Chúa duy nhất; dù lời khẳng
định này không nhắm thẳng vào các tôn-giáo-ngoài-Kitô
nhưng nó cũng hàm chứa cái nh́n tốt về các
tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Thánh
Irénée (104-202), giám mục của Lyon, gốc Tiểu Á, môn
đệ của thánh Polycarpe (+155), trong tác phẩm
Chống Những Người Lạc Giáo, viết: "Hăy
đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc...: chỉ
có một và duy nhất chỉ có một Thiên Chúa là Cha, và
Lời Ngài, Đấng giúp tất cả theo nhiều
đường (variis quidem dispositionibus), Đấng hoạt
động nhiều, và là Đấng cứu những
người được cứu ngay từ khởi
đầu: những người yêu mến Thiên Chúa và theo
Lời Thiên Chúa theo cách thức của họ."[32] Như
vậy, từ "nhiều đường" ở
đây được hiểu là những con
đường, những "đạo" giúp
người ta đến với Thiên Chúa.
Giáo
phụ Clément thành Alexandrie (150-215), viết trong những hàng
đầu của quyển Stromates: "Thiên Chúa là nguyên nhân
của mọi sự lành; của những sự lành này th́
Ngài như nguyên lư, như Cựu và Tân Ước; của
những sự lành khác th́ như là hậu quả, như
triết lư. Chính Ngài đă ban triết lư cho người Hy
Lạp trước khi những người này
được gọi. Thực vậy, triết lư dạy
những người Hy Lạp như cách thức một
thầy giáo, như lề luật đă dạy dân Do Thái,
hướng về đức Kitô .... Kinh Thánh không chỉ
nêu lên nhiều đường cứu độ cho một
người công chính, nhưng nhiều đường
cứu độ cho nhiều người công chính theo
như đă viết: đường người công chính
sáng ngời như ánh sáng. Như vậy có những giới
răn, những propédeutiques, những đường và
những phương tiện cứu độ."[33] Và
ở chỗ khác Ngài viết: "Thiên Chúa săn sóc tất
cả hoàn vũ bởi v́ Ngài là Chúa của hoàn vũ. Ngài là
Cứu Chúa: không phải là Cứu Chúa của người
này mà không là Cứu Chúa của người khác. Nhưng Ngài
đổ tràn hồng ân của Ngài theo khả năng
của từng người, trên người Hy Lạp và
người mọi rợ, và cũng trên những
người trong họ, đă được tiền
định, đă được gọi trở nên tín
hữu và trên những người được gọi
vào giờ cố định."[34] Theo nhăn quan của thánh
Clément d’Alexandrie về triết lư, ngài có cái nh́n rất tích
cực về triết lư của người Hy Lạp. Ngài
đă coi triết lư của người Hy Lạp như
những phương tiện cứu độ của
họ, cũng như luật cho người Do Thái.
Trong
cùng tác phẩm nhưng ở một chỗ khác ngài
viết: "Thiên Chúa đă ban cho chúng ta một giao
ước mới. Bởi v́ giao ước liên quan
đến người Do Thái và Hy Lạp đă là cũ.
Theo ư kiến tôi, thánh Phaolô đă dạy rơ rằng cùng
một Thiên Chúa và duy một Thiên Chúa đă được
biết bởi người HyLạp cách người
ngoại, bởi người Do Thái cách Do Thái, nhưng
bởi chúng ta cách thiêng liêng. Hơn nữa, ngài chứng
tỏ rằng Thiên Chúa đă ban cho chúng ta hai giao
ước, nhưng đồng thời cho người
HyLạp triết lư HyLạp, trong đó Ngài được
tôn vinh bởi người HyLạp.... Bởi v́ cũng
như là Thiên Chúa đă muốn cứu những
người Do Thái bằng cách ban cho họ các tiên tri, th́
cũng vậy Ngài đă chọn những người thanh
cao nhất giữa những người Hy Lạp và đă
đặt họ như các tiên tri trong ngôn ngữ của
họ với mức độ nhờ đó họ có
thể nhận biết ḷng nhân từ của Thiên Chúa"[35].
Ở đây Clément d’Alexandrie đặt sóng đôi song
đối giữa Do Thái giáo với triết lư Hylạp:
dân Do Thái được cứu độ với các tiên tri
th́ người Hylạp cũng được cứu
độ với triết lư, dân Do Thái có giao ước và
lề luật th́ người HyLạp cũng nhận ḷng
nhân từ của Thiên Chúa nơi triết lư Thiên Chúa ban cho
họ.
Trước
Clément d’Alexandrie đă có những giáo phụ có cái nh́n
rất nghiêm khắc đối với triết lư
HyLạp, cho rằng triết lư Hylạp rơi vào mọi
sai lầm và tật xấu đáng tởm; nhưng ở
đây, ngài có cái nh́n rất lạc quan về triết lư,
thiết tưởng có thể đặt song song Do Thái giáo
và các tôn giáo; và coi tôn-giáo-ngoài-Kitô là cách người
ngoại tôn vinh Thiên Chúa, đó là kiểu dân ngoại
biết Thiên Chúa.
Thánh
Gioan Chrysostome (344-407), một giáo phụ nổi tiếng
của trường Antioche, làm giám mục tại
Constantinople, khi chú giải về chương IX của sách
Sáng Thế đă viết: "Bạn có đo lường
được sự rộng lớn của giao
ước này? Bạn đă thấy sự rộng răi khôn
ḍ của những lời hứa này? Hăy xem ḷng nhân từ
này c̣n trải dài đến thú vật mọi loài như
thế nào?"[36] Với giao ước Thiên
Chúa kư kết với Noê, có thể nói: "trước
biến cố Hồng Thủy với giao ước, con
người c̣n sợ bị tiêu diệt v́ tội lỗi,
sau giao ước sự liên hệ giữa tội và sự
hủy diệt bị bẻ găy. Chắc chắn sẽ c̣n
tội và cũng c̣n h́nh phạt, nhưng sự kiên nhẫn
của Thiên Chúa, sự cứu chuộc và nhiệm cục
cứu độ đă hé mở trên số mạng của
tạo vật."[37] Ở đây thấy không
đề cập đến vấn đề thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô, nên dù được hiểu
rộng ra, cũng chỉ có thể nói thánh nhân nhấn
mạnh đến ḷng nhân từ của Thiên Chúa không
chỉ đối với con người nhưng tất
cả tạo vật nữa.
Thánh
Augustin trong tác phẩm Civitate Dei đă cho rằng tôn giáo chân
thực đă có từ khởi đầu nhân loại:
"Cái mà bây giờ người ta gọi là Kitô giáo đă
luôn hiện hữu trong qúa khứ và đă không bao giờ
lại không được biết tới từ khởi
đầu nhân loại cho tới khi đức Kitô xuất
hiện trong xác thịt. Chính từ thời gian này mà
người ta bắt đầu gọi là Kitô cái tôn giáo
đích thực hiện hữu hôm nay."[38] Tôn giáo chân thực từ
khởi đầu nhân loại đó là ǵ? những ai
thuộc về tôn giáo này? Phải chăng là những
người sống tốt, theo tiếng lương tâm,
luôn lắng nghe tiếng Thiên Chúa nói trong ḷng và cả
những người sống trong tôn-giáo-ngoài-Kitô nữa?
Phải chăng nhất thiết phải hiểu tôn giáo
đích thực có ngay từ khởi đầu nhân loại
là các tôn-giáo-ngoài-Kitô, bởi khi nói đến tôn giáo th́
phải hiểu đây là niềm tin của một tập
thể được biểu lộ bằng những nghi
thức riêng? Ở đây chỉ đặt vấn
đề mà không trả lời v́ sợ đi qúa xa ư tác
giả muốn khẳng định!
Ở
trên đă lược qua vài giáo phụ để t́m
hiểu xem các ngài nh́n thế nào về tôn-giáo-ngoài-Kitô, bây
giờ t́m hiểu xem thời trung cổ có thần học
gia nào nh́n các tôn giáo khác cách tích cực không.
3. Cái nh́n tích cực
thời trung cổ
Ở
thời trung cổ này, sẽ đề cập đến
hai người, thứ nhất là thánh Bernard và thứ hai là
Nicolas de Cusa.
Thánh
Bernard sống trong những năm 1090-1153, ngài sinh tại
Fontaines les Dijion (Côté d’Or), là người đă thiết
lập rất nhiều tu viện. Khi bàn về phép rửa
tội, ngài viết: "Ai mà không biết thuở xưa,
có một phương thuốc khác phép rửa để
chống tội nguyên tổ. Đối với Abraham và ḍng
giống ông, có mầu nhiệm cắt b́ ban cho kết
quả này cách thần linh. Đối với các dân, chúng tôi cho
rằng những người sống trong tín ngưỡng
(en croyants) đă được tha thứ, người lớn
bởi đức tin và các nghi lễ, trẻ con th́ bởi
đức tin của cha mẹ."[39] Căn cứ vào bản
văn này, thánh Bernard phân ra làm ba loại có thể
được cứu thoát khỏi tội nguyên tổ:
loại thứ nhất là những Kitô hữu nhờ phép
rửa, loại thứ hai là dân Do Thái với phép cắt b́,
và loại thứ ba là những người sống trong tôn
giáo khác nhờ đức tin và hy lễ của họ!
Ở đây dám nói tôn-giáo-ngoài-Kitô, v́ thánh nhân có nhắc
đến đức tin và hy lễ. Trước khi có Do
Thái giáo th́ Abraham, Isaac và Giacóp đă có đức tin vào Thiên
Chúa và dâng lên Ngài những hy lễ!
Một
trong những thần học gia có cái nh́n tích cực rất
rơ ràng về các tôn-giáo-ngoài-Kitô là hồng y Nicolas de Cusa. Ngài
sinh năm 1401, làm hồng y năm 1448 và mất năm 1464.
Ngài cho rằng "Thiên Chúa đă nói với mọi dân
tộc bởi những tiên tri. Ngài cho rằng chính các tiên
tri này dạy cho mỗi tôn giáo học thuyết và nghi
lễ của họ: sự khác biệt này là điều
làm đẹp ḷng Thiên Chúa, những sự khác biệt làm
rạng ngời vinh quang Thiên Chúa hơn; tuy nhiên Kitô giáo hoàn
thành cách trọn hảo cái chính yếu của tôn giáo
đích thực, Kitô giáo là cách diễn tả hoàn hảo
nhất của tôn giáo đích thực này."[40]
Lời
tóm của Gustave Thils về lập trường của
Nicolas de Cusa bằng lời nguyện của chính ngài, giúp
thấy rơ cái nh́n của ngài hơn: "Lạy Chúa, Ngài
biết một số lớn sống với nhiều
điều trái ngược nhau, và hầu như tất
cả mọi người sống một đời
khổ cực, lo lắng, đau khổ và dưới ách
thống trị của những vị vua chúa. Từ đó
có rất ít người giữa họ có giờ để
đạt tới cái biết về chính họ như
họ muốn. Họ bị thúc đẩy bởi
những mối lo và những công việc trần thế và
không thể t́m Ngài, Thiên Chúa ẩn dấu. Chính v́ thế
Ngài đă gởi xuống cho dân Ngài những vị vua, các
nhà thấu thị được gọi là các tiên tri;
một số lớn trong họ khi hoàn thành trách nhiệm và
nhân danh Ngài- đă qui định những hành vi tôn giáo và
những luật lệ, và đă dạy dỗ dân vô tri.
Họ đă nhận các luật này như thể Ngài đă
nói với họ mặt đối mặt, như vị
vua của các vua; họ đă nhận trong niềm tin rằng
họ nghe những luật này, th́ không phải là nghe các tiên
tri nhưng là nghe Ngài trong các tiên tri. Với những
dân tộc khác nhau, Ngài đă gởi những tiên tri và
những tiến sĩ khác nhau, người này ở giai
đoạn này, kẻ khác ở giai đoạn khác.
Những điều này ở trong điều kiện
của con người; sau một thói quen lâu dài, đă
trở nên như một điều không thể thay
đổi- được bảo vệ như một chân
lư. Chính v́ thế nẩy sinh ra những điều mâu
thuẫn, khi mà mỗi nhóm quí chuộng niềm tin của
ḿnh hơn của người khác"[41].
Với
bản văn của Nicolas de Cusa được trích ở
trên, lập trường của ngài rất rơ: các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là phương tiện cứu độ con
người sống trong tôn giáo đó, bởi v́ các
tôn-giáo-ngoài-Kitô hiện hữu là do ư định của
Thiên Chúa, nằm trong chương tŕnh cứu độ
của Ngài!
4. Nơi các thần
học gia hiện đại
Vấn
đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là
một vấn đề tương đối khá mới
và có tầm quan trọng đặc biệt tại Châu Á, và
v́ thế chưa có nhiều tác giả bàn về vấn
đề này. Bây giờ sẽ duyệt qua ư kiến
của những nhà truyền giáo "lạc quan,” sau là
một vài ư kiến của các nhà thần học hiện
đại, cuối cùng là lập luận của H. R.
Schlette.
Một
số nhà truyền giáo có cái nh́n tiêu cực về các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhưng cũng có những nhà truyền giáo
có cái nh́n "thuận lợi" cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
chẳng hạn như M. Ricci và R. De Nobili. M. Ricci coi Kitô giáo
vượt qua các tôn-giáo-ngoài-Kitô, đặc biệt là
Khổng giáo, và coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có điểm tới
là Kitô giáo. R. De Nobili muốn hội nhập hoàn toàn vào
văn hóa và phong tục Ấn Độ, trở thành
"brahme" để đưa những brahmes trở
về với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa.[42]
Sau
vụ án các nghi lễ thế kỷ XVIII và khi phong trào
triết lư ánh sáng và duy lư đă lắng xuống, các nhà
triết và thần học nh́n vấn đề tôn giáo cách
trong sáng hơn. Tiền bán thế kỷ XX, Romano Guardini cho
rằng "đức Giêsu có những người
tiền hô trong thế giới HyLạp là Socrate và ở
phương đông là đức Phật cũng như
Gioan tiền hô ở Do Thái.[43] Quan niệm coi đức
Phật là tiền hô của đức Giêsu, hàm chứa
rằng các tôn giáo do những vị đó khởi lập
sẽ tiếp nhận đức Giêsu. Tất cả
những ǵ giúp nhận ra đức Giêsu là Thiên Chúa,
đều là công tŕnh của Thánh Thần (1Cr 12:3). Như
vậy đây là lập trường cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ!
Trong
những thế kỷ trước, người ta nhấn
mạnh nhiều về những sai lầm trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhưng ở thế kỷ này khía cạnh
tích cực được nhấn mạnh không kém. Trong
sứ điệp gởi qua hệ thống truyền thanh
cho hội nghị tại Ernakulam ngày 31.12.1952, đức
Giáo Hoàng Piô XII nói: "các con hăy làm cho thấy rơ: tất
cả những ǵ là chân thật và tốt đẹp trong
các tôn giáo khác đều t́m thấy ư nghĩa sâu xa và sự
bổ tức hoàn hảo nơi đức Kitô."[44]
Yves
Congar, một thần học gia nổi tiếng của
thế kỷ XX, trong tác phẩm Vaste monde ma paroisse, tuy không
khẳng định rơ các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị
cứu độ, nhưng trong cách trích dẫn và lập
luận của tác giả, tác giả muốn nói
điều này! Yves Congar trích dẫn lời của
đức Giáo Hoàng Piô XII nói trong bài nói chuyện với các
"cô đỡ" ngày 29.10.1951: "một hành vi t́nh yêu
có thể đủ cho một người trưởng
thành nhận ân sủng thánh hóa và bù lại việc không có
phép rửa;"[45] và Congar trích thêm: "không
có tôn-giáo-ngoài-Kitô nào mà ở đó người ta không t́m
thấy một loại, một dấu vết của t́nh
yêu Thiên Chúa."[46] Trong Ấn Độ giáo, có
một giáo phái lấy đức ái (Bakti) làm con
đường căn bản để được
cứu đô. Nếu hiểu câu nói của đức giáo
hoàng trong liên quan với giáo phái đó, th́ có thể khẳng
định rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là
phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người.
Karl
Rahner, một thần học gia của thế kỷ XX, khi
bàn về con người, ngài viết: "bởi v́ con
người chỉ có thể thực hiện việc
cứu độ của ḿnh trong một cộng đoàn tôn
giáo cụ thể, sự xác tín của cộng đoàn tôn
giáo này được diễn tả bằng lời và
bằng hành vi phượng tự, và bởi v́ Thiên Chúa
muốn sự cứu độ này chỉ được
thể hiện cách siêu nhiên, qua sự chủ quan siêu
việt được hướng dẫn nhờ ân
sủng, trong sự khách quan của lịch sử nhân
loại (lời, phượng tự, các nhóm tôn giáo,
luật luân lư), do đó phải kết luận rằng
những sự thể hiện việc cứu độ
này, hàm chứa trong chương tŕnh (quan pḥng) cứu
độ của Thiên Chúa. Các tôn giáo tiền Kitô giáo, ngoài
Israel, có thể được coi như những "con
đường cứu độ,” khái niệm này không hàm
chứa rằng tất cả các tôn giáo "hợp lư"
đều sở hữu một loại quyền bính
được thiết lập, có khả năng chia
sẻ (với uy quyền và không hàm hồ) những khách
quan tính chính đáng của lịch sử cứu độ
phổ quát, của ân sủng, của mặc khải và
của đức tin (xét về một mặt) và những
cái khác thuần túy nhân loại (xét về mặt khác) hay
đă bị hư hỏng bởi con người. Khái
niệm của một tôn giáo như thế, có thể
được thể hiện theo những cấp
độ rất khác nhau."[47]
Lư
luận của Karl Rahner được tóm như sau:
con người là một sinh vật xă hội, nên tín
ngưỡng con người cũng được
diễn tả cách xă hội, nghĩa là tôn giáo như
được thấy ngày nay. Như vậy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô trước khi có Do Thái giáo và Kitô giáo,
hiện hữu là chuyện tự nhiên, và như vậy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô nằm trong chương tŕnh cứu
độ của Thiên Chúa. Tuy nhiên những tôn giáo này không có
những khách quan tính của lịch sử cứu
độ như nhau! Vấn đề c̣n lại là có
thể mở rộng quan điểm này đối với
những tôn-giáo-ngoài-Kitô sau khi Do Thái giáo và Kitô giáo xuất
hiện không!
H.
R. Schlette trong quyển sách nguyên bản bằng tiếng
Đức Die Religionen als Thema der Theologie được nhà
xuất bản Herder in tại Freiburg năm 1963, quyển
sách này được dịch ra tiếng Anh bởi W. J.
OHara với tựa đề Towards a Theology of Religions và
được in ở Tây Đức năm 1966. Trong sách này
ngoài phần dẫn nhập đặt vấn đề,
H. R. Schlette chia sách làm bốn phần. Phần thứ
nhất tŕnh bày những phát biểu thần học về
vấn đề thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô từ
xưa đến nay, phần thứ hai tác giả qui
chiếu về khoa tôn giáo đối chiếu để làm
nổi rơ ư nghĩa, công việc và khả thể của
thần học các tôn giáo, phần thứ ba đặc
biệt quan trọng bàn về vấn đề thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô dưới ánh sáng của
chương tŕnh cứu độ, phần cuối cùng bàn
về viễn ảnh tương lai. Đối với H. R.
Schlette, các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ; tác
giả đă lập luận dựa trên khái niệm
lịch sử cứu độ, và đă phân biệt ra lịch
sử cứu độ thông thường và lịch sử
cứu độ đặc biệt. Tác giả cho rằng
Kitô giáo nằm trong lịch sử cứu độ
đặc biệt c̣n các tôn-giáo-ngoài-Kitô nằm trong
lịch sử cứu độ thông thường; nếu
lịch sử cứu độ thông thường
được Thiên Chúa muốn th́ các tôn-giáo-ngoài-Kitô
cũng nằm trong chương tŕnh của Thiên Chúa; như
vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ.
Trong
phần thứ nhất của quyển Towards a Theology of
Religions, Schlette cho thấy có hai khuynh hướng một
tích cực và một tiêu cực trong cái nh́n về
tôn-giáo-ngoài-Kitô, và không lập trường nào thỏa măn;
Mỗi lập trường đều có cái đúng và
cũng có cái sai, hay đúng hơn mỗi lập
trường đều nửa đúng nửa sai.[48] Mỗi
lập trường đều ư thức rằng những
lư do của lập trường đối nghịch
đưa ra không thể cho là sai hoặc không thể
chấp nhận được. Lập trường dung
ḥa cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô có sai lầm nhưng
cũng có những điểm xác thực, có thể làm tṛn
đầy được.[49] Schlette cho rằng lập
trường tổng hợp bằng đường
lối dung ḥa, không tiêu biểu cho một giải đáp
thần học. Nếu có một giải đáp bằng
đường lối dung ḥa, nó sẽ phải, một
mặt không chỉ tiêu biểu cho cái ǵ đúng trong mỗi
lập trường, nhưng mặt khác nó phải là
một sự liên kết mới trên một b́nh diện cao
hơn cho những cái khác nhau.
Lập
luận chính của Schlette về ư nghĩa các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, dựa vào lịch sử cứu độ;
sở dĩ có những câu trả lời khác nhau về ư
nghĩa các tôn-giáo-ngoài-Kitô là do có những quan niệm khác
nhau về lịch sử cứu độ![50] Ông cho rằng nếu dùng
những phân tích triết học hiện tượng
về đặc tính lịch sử của con
người, và nếu đặc tính này được
hiểu là điều kiện của lịch sử thánh
(ở trong Kinh Thánh và cùng trương độ của
lịch sử thế trần), th́ có thể nói, thần
học lịch sử cứu độ có thể
được mô tả như thần học siêu việt
với trương độ: lịch sử cứu
độ phổ quát với nền tảng trong bản
tính lịch sử của con người, không chỉ tiêu
biểu cho tập hợp mặc khải, đức tin,
thần học và tôn giáo,[51] nhưng cũng là
điều kiện căn bản thông thường
nhất của những điều đó.
Lịch
sử thế trần luôn có tính hàm hồ, chỉ có thể
nhận ra ḿnh là lịch sử phàm trần với quan
điểm lịch sử cứu độ; và nếu
được nh́n dưới con mắt của lịch
sử cứu độ, lịch sử thế trần
cũng chính là lịch sử thánh. Khi nói như vậy- theo
tác giả- phải làm một sự phân biệt: lịch
sử thánh, mà khi đứng trên quan điểm đó
để nh́n lịch sử thế trần mà nhận ra
đó là lịch sử thánh, phải là lịch sử thánh
đặc biệt. Theo Schlette, sự phân biệt giữa
lịch sử thánh thông thường và lịch sử thánh
đặc biệt là điểm quyết định cho
nền thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô. Sự phân
biệt này trở nên rơ ràng hơn nếu theo quan niệm của
Cựu và Tân Ước, lịch sử thánh gồm
nhiều giai đoạn.[52]
Schlette
đă dựa vào sách Sáng Thế chương 1-11 và cụ
thể hơn là ḍng truyền thống Y trong những
chương đầu đó để chứng minh cho
lập trường của ông. Tác giả cũng nhận
rằng các tŕnh thuật này có tính tầm nguyên, nhằm
nối kết lịch sử dân Israel với nguồn
gốc tuyệt đối của vũ trụ, và
những tŕnh thuật này cho thấy có những kinh
nghiệm tôn giáo hiện hữu ngoài Israel.[53] Dựa vào truyền
thống Y trong St 1-11, ông cho thấy tương quan giao
ước không chỉ hiện hữu giữa Thiên Chúa và
Israel, nhưng tương quan này cũng đă hiện
hữu giữa Thiên Chúa và Noê, nghĩa là với
người không phải là Israel, mà là với mọi
người và mọi sinh vật trên đất.[54] Những
suy tư thần học về giao ước giữa Thiên
Chúa và Noê cho thấy ơn cứu độ có thể
được đạt tới t́nh trạng của giao
ước này, nghĩa là t́nh trạng ngoại.[55]
Đi
sâu hơn vào lập luận của Schlette, ông cho rằng
con người là một con vật xă hội, nên mọi
sinh hoạt của con người đều mang tính xă
hội, kể cả hành vi tôn giáo; Và dựa vào luận
cứ của K. Rahner, Schlette cho rằng những hành vi tôn
giáo "với xă hội tính" đó phải có tính cách
cứu độ trừ phi chứng minh chắc chắn
được điều ngược lại.[56] Schlette
cho rằng nếu lịch sử thánh thông thường (so
với lịch sử thánh đặc biệt khởi
đầu với dân Israel) có thể và phải
được coi là Thiên Chúa muốn, th́ các tôn-giáo-ngoài-Kitô
phải được coi là được muốn và
được thánh hóa bởi Thiên Chúa; ngay cả với
t́nh trạng bây giờ của các tôn giáo đó, nghĩa là
với những lầm lỗi và tăm tối, cũng
không thể đặt vấn đề, dị nghị
về sự hợp pháp của các tôn giáo đó;
ngược lại cùng với những yếu tô tiêu
cực, phải kể cả đến sự
hướng dẫn cũng như sự hiện diện
của Ngài trong các tôn giáo này.[57] Gút lại, theo Schlette, các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là cách diễn tả xă hội,
được Thiên Chúa muốn và nó có chỗ trong
chương tŕnh cứu độ thông thường,
của con người t́m kiếm ơn cứu độ
và cũng là tặng vật của Thiên Chúa; như vậy
các tôn-giáo-ngoài-Kitô là những con đường cứu
độ, những con đường cứu độ
thông thường trong lịch sử thánh thông thường
so với con đường cứu độ đặc
biệt là Giáo Hội trong lịch sử thánh đặc
biệt.[58]
Những
hàng kế tiếp trong phần thứ ba, tác giả bàn
đến chỗ đứng ưu việt của dân
Israel, đó là chuẩn bị cho đức Kitô xuất
hiện.[59] Ông
cũng lưu ư rằng mỗi người được
cứu độ hay không là do thái độ của họ
đối với lời mời gọi của Thiên Chúa,
đối với việc Thiên Chúa mặc khải cho
họ.[60] Ông
cho rằng những hành vi cứu độ của Thiên Chúa
nên được gọi là sự tôn vinh của Thiên Chúa
(dựa vào Ga 17:1-22), và việc tôn vinh này là ư nghĩa
lịch sử thánh; lịch sử cứu độ
cũng được nên thay bằng "lịch sử
hiển linh;” và nếu như trong nhăn quan này th́ thần
học các tôn-giáo-ngoài-Kitô xuất hiện một ánh sáng
mới.[61] Schlette
cũng bàn về sự ưu việt của lịch
sử thánh đặc biệt, nhất là của Giáo
Hội. Ông cho rằng sự ưu việt không hệ
ở chỗ là khi người ta gia nhập vào Giáo Hội
th́ có cơ may được cứu độ nhiều
hơn, nhưng hệ tại là nơi lịch sử thánh
đặc biệt, Thiên Chúa đă tỏ lộ vinh quang
của Ngài cho thế giới cách đặc biệt
hơn, Thiên Chúa hiển linh trong lịch sử thánh
đặc biệt cách sáng chói hơn.[62]
Schlette
cho rằng việc đánh giá thấp các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không làm cho địa vị đức tin Kitô giáo nổi
bật, nhưng trái lại việc đánh giá cao các
tôn-giáo-ngoài-Kitô mới cho thấy điểm ưu việt
của đức tin Kitô giáo. Tác giả cho rằng nếu
đứng trên quan điểm của lịch sử thánh
đặc biệt, dễ nh́n thấy những bất toàn,
những nguy hiểm và sai lầm trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô hơn là chúng ta ở trong
lịch sử thánh thông thường. V́ thế, theo tác
giả, lịch sử thánh thông thường chỉ
được nhận ra và được phân tích trên nền
tảng lịch sử thánh đặc biệt.[63] Với
những hàng gần cuối của phần ba, tác giả
bàn về sự tồn tại của các tôn-giáo-ngoài-Kitô sau
khi đức Kitô xuất hiện. Tác giả cho rằng các
tôn-giáo-ngoài-Kitô vẫn là con đường cứu rỗi
thông thường ít nhất là đối với những
người không cố t́nh từ chối đức Kitô,
và như vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô vẫn tồn tại
cách hợp lư.[64] Một vấn đề
khác tác giả cho là khá gai góc, là làm sao thấy "sư
phạm giáo dục" của Thiên Chúa nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô; tác giả cho thấy không thể tiên thiên
khẳng định rằng tương quan giữa Kitô
giáo và các tôn giáo khác cũng tương tự như
tương quan giữa Giáo Hội và các tôn giáo của
đế quốc Roma hồi những thế kỷ
đầu của Giáo Hội.[65]
Lược
qua các luận chứng coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô là những
phương tiện cứu độ, những khó khăn
được nêu lên bởi lập trường tiêu
cực đă được giải đáp, chẳng
hạn như sự kiện có các nhà thần bí nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng như nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
những điểm tương đồng trong giáo lư mà
không thể đơn thuần giải thích bằng lư trí
được. Tuy vậy, nếu chấp nhận lập
trường tích cực, và ngay cả với luận
chứng của H. R. Schlette, người ta vẫn gặp
những khó khăn mà cơ hồ như không thể
vượt qua được. Đó là những sai lầm
nghiêm trọng nơi các giáo lư của các tôn giáo khác và nhất
là sự xuất hiện của Hồi giáo; có thể nói,
sự xuất hiện của Hồi Giáo đă lật nhào
tất cả các luận chứng của lập
trường tích cực, khi những luận chứng này
khẳng định các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu
độ.
Nền
thần học "tích cực"[66] về các tôn-giáo-ngoài-Kitô
đụng phải thực tại Hồi giáo, không thể
đứng vững. Trong phần thứ hai, sẽ
đưa ra câu trả lời có thể giải quyết
hai hiện tượng nổi bật trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô: một là có những điểm tích cực
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô, hai là trong các tôn giáo này có những sai
lầm không thể dung hợp với Tin Mừng
đức Giêsu.
II. TÔN GIÁO
NGOÀI-KITÔ THEO NHĂN QUAN MẶC KHẢI
Không
có mặc khải th́ không có cứu độ. Một các
tổng quát, thần học chấp nhận cùng với
thánh Thomas: ngoài Kitô giáo ơn cứu độ
được biết nhờ mặc khải đặc
biệt.[67] Như
vậy để biết các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị
cứu độ hay không, hăy xem các tôn-giáo-ngoài-Kitô có mặc
khải hay không. Nếu không có mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, các tôn-giáo-ngoài-Kitô không có sự can thiệp
của Thiên Chúa, nghĩa là, tôn-giáo-ngoài-Kitô chỉ là công
tŕnh của con người, và như vậy nó không có giá
trị cứu độ. C̣n nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô có
mặc khải, th́ đó là công tŕnh của Thiên Chúa và các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ.
Thiên
Chúa mặc khải cho con người chứ không cho
một cơ cấu; nên khi đặt câu hỏi "các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có mặc khải không,” hàm chứa,
"những người sáng lập các tôn giáo đó có
được mặc khải không? những người
trong các tôn giáo đó có nhận lănh mặc khải không?
cơ cấu tôn-giáo-ngoài-Kitô có khả năng bảo
tồn và lưu chuyển mặc khải không?”
Để
biết Thiên Chúa có mặc khải trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô
không, sẽ xét về mặt lư thuyết có ǵ ngăn
trở Thiên Chúa mặc khải nơi các tôn giáo ngoài-Kitô
không, nếu không có mâu thuẫn nội tại th́ sẽ xem
thực tế Thiên Chúa có mặc khải nơi các tôn giáo
ngoài-Kitô không!
Trong
mục này, trước tiên t́m hiểu về khái niệm
mặc khải, kế tiếp xem những người
sống trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô nghĩ ǵ về vấn
đề mặc khải nơi các tôn giáo của họ, và
sau cùng xét Thiên Chúa trên nguyên tắc có thể mặc
khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô không.
Theo
N. Jung, mặc khải là Lời của Thiên Chúa dạy
dỗ và chứng thực.[68] Theo K. Barth, mặc khải
là hành vi tối thượng của ân sủng Thiên Chúa,
ở đó Ngài ban chính Ngài cho người ta biết;
đức tin là nhận biết và chấp nhận sự
kiện này.[69] Theo
L. S. Thornton, mặc khải là một hoạt động
thần linh, qua đó Đấng Tạo Hóa thông ban chính ḿnh cho
con người và khi làm như vậy, Ngài gợi cho con
người đáp trả và cùng hành động.[70] Theo
Geoffrey Parrinder, khuynh hướng thời đại này cho
rằng mặc khải là hành vi hay sự tự tỏ
lộ chính ḿnh của Thiên Chúa;[71] hiểu như vậy
mặc khải không chỉ là một kho chân lư
được chứa trong Kinh Thánh, mà c̣n là hành vi sống
động và liên tục của Thiên Chúa.
Theo
đức Giáo hoàng Phaolô VI, mặc khải là cuộc
đối thoại giữa Thiên Chúa và con người:
"Mặc khải, là mặc khải siêu nhiên mà chính Thiên
Chúa đă có sáng kiến thiết lập với nhân
loại, có thể được tŕnh bày như cuộc
đối thoại trong đó, Lời Thiên Chúa tự
diễn tả ḿnh bằng việc nhập thể và sau
đó bằng Tin Mừng."[72]
Theo
hiến chế Mặc Khải của công đồng chung
Vatican II, "trong mặc khải, Thiên Chúa vô h́nh, v́ ḷng
thương yêu vô bờ bến của Ngài, đă ngỏ
lời với con người như thể với bạn
hữu và tṛ chuyện với họ nhằm đưa
họ vào trong thông giao với Người và để
nhận họ vào trong sự thông giao đó" (DV 2).
Những hàng đơn sơ này của công đồng, cho
thấy mục đích của mặc khải là giúp
đưa con người vào sống trong sự thông giao,
hiệp thông với Thiên Chúa. Một lần nữa lại
thấy ở đâu có mặc khải th́ ở đó có
ơn cứu độ nếu người ta đáp
trả!
Như
vậy mặc khải là việc Thiên Chúa tỏ lộ chính
ḿnh Ngài cho con người, để con người
được sống trong hiệp thông với Ngài. Có
thể nói mặc khải là bước khởi đầu
của ơn cứu độ. Khi Thiên Chúa mặc khải
chính Ngài, th́ con người biết ḷng nhân từ vô biên
của Ngài, biết về ư định cứu độ
con người của Ngài, và cũng nhờ mặc
khải mà con người biết chính ḿnh hơn. Mặc
khải là việc Thiên Chúa tỏ lộ chính Thiên Chúa và con
người cùng ư định của Ngài cho con
ngườí!
Các
nhà thần học c̣n chia ra làm nhiều loại mặc
khải, chẳng hạn như mặc khải tiên
khởi, mặc khải thiên nhiên, mặc khải
lương tâm, mặc khải triết lư, mặc khải
siêu nhiên, mặc khải tiên tri, mặc khải lịch
sử, mặc khải phổ quát, mặc khải riêng
tư.
· Mặc khải tiên khởi[73] là mặc khải Thiên Chúa
tỏ lộ cho những con người đầu tiên, nói
một cách cụ thể là cho ông bà nguyên tổ. Mới
thoạt nói, thấy khái niệm này đơn giản
nhưng thực tế rất phức tạp v́ mỗi tác
giả giải thích mỗi khác, mỗi người xác
định cho nó những đặc điểm về
nguồn gốc, người được hưởng,
sự cần thiết và sự lưu truyền của
mặc khải này theo quan điểm của họ.[74]
· Mặc khải tự nhiên là mặc khải
được ghi trong trật tự thiên nhiên, nó hiện
hữu ngay trong việc tạo dựng. Mặc khải
thiên nhiên biểu lộ Thiên Chúa như chủ của
thế giới, trong tương quan nhân quả. Mặc
khải thiên nhiên khám phá một Thiên Chúa hiện diện và
Thiên Chúa ngôi vị, nhưng mầu nhiệm ngôi vị này
vượt khỏi nó. Mặc khải thiên nhiên đạt
tới ngưỡng cửa mầu nhiệm nhưng không
thể vào được... v́ tội của con
người, v́ sự kiêu ngạo, v́ sự yếu
đuối của con tim, người ta luôn có khuynh
hướng lầm lẫn chủ tể thiên nhiên với
thiên nhiên.[75]
· Mặc khải siêu nhiên tiến gần Thiên Chúa duy
nhất và ba ngôi, tác giả của trật tự siêu nhiên.
Mặc khải siêu nhiên có lời đáp trả trực
tiếp là đức tin; đức tin giúp con người
gặp gỡ, hướng về thị kiến Thiên Chúa
hằng sống. Mặc khải siêu nhiên coi mầu
nhiệm đời sống thâm sâu của Thiên Chúa là
đối tượng. Nó khai mào một cuộc
đối thoại, t́nh bạn, sự hiệp thông, sự
chia sẻ những điều thiện hảo giữa Thiên
Chúa và tạo vật.
· Mặc khải phổ quát và mặc khải
đặc biệt. Mặc khải phổ quát là mặc
khải mà mọi người có thể nhận thấy,
mặc khải cho mọi người. Mặc khải này
bao gồm mặc khải tự nhiên và mặc khải
lương tâm. Mặc khải đặc biệt gồm
cả mặc khải huyền nhiệm, mặc khải
triết lư, mặc khải lịch sử, mặc khải
riêng tư, mặc khải công khai.
· Mặc khải triết lư, mặc khải khôn ngoan là
điều Thiên Chúa muốn tỏ lộ cho con
người qua khả năng lư trí được ban cho
con người với nỗ lực suy tư của
họ.
· Mặc khải huyền nhiệm (mặc khải
thần bí) là những ǵ Thiên Chúa ban cho ai đó để
dẫn họ tới đời sống kết hợp
đặc biệt với Thiên Chúa. Những nhà thần bí
thường có lời giải thích những biến cố
lịch sử. Mặc khải lịch sử
được thể hiện rơ ràng nơi lịch sử
dân Do Thái, và các tiên tri là những người giải thích
lịch sử trên vị thế của Thiên Chúa.[76]
· Mặc khải tiên tri là mặc khải cho một cá
nhân nhưng nhằm cho cả cộng đoàn. Với
mặc khải này, cá nhân được mặc khải
"bắt buộc" phải trở thành chứng nhân,
loan báo mặc khải này cho dân.[77]
· Mặc khải riêng tư là mặc khải cho một
cá nhân để họ được cứu độ khi
họ sống ngoài Kitô giáo;[78] mặc khải riêng tư
c̣n được dùng để gọi mặc khải
xảy ra sau khi các tông đồ chết (mặc khải
cộng đồng) và không nằm trong kho tàng đức
tin (depositum fidei); mặc khải cộng đồng
được trao cho Giáo Hội bảo quản và
truyền bá, c̣n mặc khải riêng tư th́ không chính
thức được trao cho Giáo Hội, nhưng dù
vậy nó vẫn nhắm tới mọi người.[79]
Quan
niệm mặc khải riêng tư là mặc khải vẫn
là cho tất cả nhưng không được kư thác cho
Giáo Hội, nghĩa là, không nằm trong depositum fidei, có sau
khi các tông đồ chết, là của K. Rahner. Để
biện minh cho từ ngữ ngài dùng, ngài đă phân biệt
mặc khải trước và sau đức Kitô xuất
hiện. Trước khi đức Kitô xuất hiện
người ta phải sẵn sàng đón nhận một
mặc khải mới từ Thiên Chúa, Đấng có thể
thiết lập một giao ước mới để
cứu độ con người.[80] C̣n sau và từ khi
đức Kitô xuất hiện, thời đại mới
và cuối cùng đă xuất hiện; hành vi và chương
tŕnh cứu chuộc của Thiên Chúa đối với con
người đă đạt đến kỳ điểm
cuối cùng và chung cuộc. Chính v́ thế với thời
đại Kitô, người ta không c̣n phải chờ mong
bất cứ cái ǵ có thể thay đổi điều
kiện cứu độ con người nữa.
Trước đức Kitô xuất hiện người ta
không chỉ có thể chờ nhưng phải chờ mong
sự thay đổi; c̣n hôm nay Kitô hữu chỉ phải
chờ sự tỏ hiện của cuộc đối thoại
giữa Thiên Chúa và con người vào ngày phán xét cuối
cùng. Thần học hiện sinh về khả thể
mặc khải và mặc khải tương lai của
Thiên Chúa đối với con người trước
đức Kitô đă được thay thế bằng
nền thần học cánh chung đối với Kitô
hữu. Như vậy không có nghĩa, thời này không c̣n
mặc khải nào nữa. Ngay trong thời đại
cuối cùng này vẫn có thể có mặc khải cho cá nhân
và mặc khải đó cũng có thể ảnh
hưởng đến thân thể Giáo Hội, nhưng
mặc khải này không thay đổi điều kiện
cứu độ v́ điều kiện này đă được
đức Giêsu làm nên trọn.[81] Theo K. Rahner, Thánh Linh có thể
tác động trên Giáo Hội qua một phần tử nào
đó trong Giáo Hội để loan báo cho Giáo Hội
biết điều Thánh Linh đ̣i hỏi lúc này. Theo K.
Rahner, điểm chính yếu của mặc khải riêng
tư[82] sau
thời tông đồ là: Thiên Chúa gợi cho một
phần tử trong Giáo Hội để truyền mệnh
lệnh của Ngài cho Giáo Hội trong một hoàn cảnh
lịch sử cụ thể.[83]
Theo
K. Rahner, khả thể của mặc khải riêng tư
bằng thị kiến hoặc bằng kinh nghiệm thính
giác, là hiển nhiên trên nguyên tắc với một
Kitô-hữu. V́ Thiên Chúa là thực thể hữu vị
tự do, Ngài có thể tỏ ban chính Ngài cho một tinh
thần thọ tạo, không chỉ qua công tŕnh của Ngài
nhưng cũng c̣n bằng Lời tự do và hữu vị
của Ngài nữa.[84] Mặc khải riêng tư
tiên tri không chỉ liên hệ với cá nhân người
được thị kiến nhưng c̣n được
gởi tới Giáo Hội hay một phần lớn Giáo
Hội để cổ vơ một sự sùng kính đặc
biệt nào đó, hoặc để khuyến khích ăn
năn, giáo huấn về điều ǵ đó, cảnh cáo
chống lại một vài học thuyết, khuyến khích
một giáo thuyết hay một cách sống, v.v. Trong ḍng
lịch sử Giáo Hội, người ta thấy có
những mặc khải riêng tư thuộc loại này, và
chúng đă ảnh hưởng rất nhiều trên Giáo
Hội.[85] Nếu
một khi Thiên Chúa đă nói và sự kiện đă
được thiết lập qua kiểm chứng, th́
mọi người phải lắng nghe, vâng phục và tin
tưởng theo mức độ sứ điệp liên
quan đến.[86]
Gút
lại, có thể chia mặc khải ra làm ba cấp
độ: mặc khải phổ quát, mặc khải
đặc biệt cấp một và mặc khải
đặc biệt cấp hai. Mặc khải phổ quát
gồm mặc khải qua thiên nhiên và qua lương tâm,
mặc khải đặc biệt cấp một gồm
mặc khải triết lư và mặc khải huyền
nhiệm, và mặc khải đặc biệt cấp hai là
mặc khải qua lịch sử và đức Kitô. Các phân chia
này cũng tương đối và có tiêu chuẩn là
phương tiện mặc khải.[87] Mặc khải lịch
sử ở đây được hiểu là những
biến cố trong lịch sử dân Israel và có lời
đi kèm để giải thích!
Nh́n
dưới nhăn quan Kitô giáo, ba cấp độ mặc
khải này đều hàm chứa trong Kinh Thánh:
· mặc khải qua thiên nhiên (St 1), qua lương tâm (Rm
1:1 8tt),
· mặc khải khôn ngoan (trong văn chương khôn
ngoan của Kinh Thánh, thường thuộc thời sau
lưu đày, năm 539 TCN), mặc khải huyền
nhiệm (với các thị kiến, đặc biệt
nơi các tiên tri),
· mặc khải lịch sử, qua các biến cố và
đặc biệt nơi đức Giêsu Kitô; đức
Giêsu là mặc khải tối hậu.
Nơi
Do Thái giáo và Kitô giáo, công tŕnh tạo dựng, Luật, Khôn
Ngoan, những can thiệp của Thiên Chúa trong ḍng lịch
sử dân Israel, đều là mặc khải, đều là
những điều kỳ diệu qua đó Thiên Chúa tỏ
ḿnh cho con ngườí!
Bây
giờ trở lại vấn đề, cụ thể xem
các tín hữu nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô nghĩ ǵ về
mặc khải?
2. Niềm tin của các
tín hữu ngoài-Kitô
Sự
kiện không thể chối căi là những tôn giáo lớn
như Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, đều có Kinh
Thánh; chẳng hạn như Ấn Độ giáo có kinh Veda,
Hồi giáo có kinh Koran, Do Thái giáo có Cựu Ước.
Người đạo Bàlamôn coi Rig-veda là Cruti, nghĩa là
Lời mặc khải;[88] người Hồi giáo coi
kinh Koran là Lời Thiên Chúa "Koran là Lời Thiên Chúa, được
viết trong sách, được ǵn giữ trong trí nhớ,
được lập lại bằng lưỡi,
được mặc khải cho vị tiên tri. Những
lời loan báo, việc sao chép, việc đọc kinh Koran
của chúng ta là được tạo thành, trong khi đó
Koran th́ không được tạo thành."[89]
Hồi
xưa khi các học giả Kitô giáo được hỏi:
kinh Koran có được mặc khải không?
Thường có câu trả lời là không! Ngày
nay với khoa tôn giáo đối chiếu, một số
học giả Kitô giáo muốn đặt lại vấn
đề và nghi ngờ câu trả lời không của
những người trước! Đứng trên khía cạnh
thuần túy khoa học để khảo sát, nghĩa là
không thuộc phe phái hay quan điểm tôn giáo nào,
người ta ghi nhận rằng:
· với người Hồi giáo th́ Koran là sách mặc
khải, c̣n Veda và Tân Ước th́ không được
mặc khải;
· c̣n đối với người Do thái giáo th́ Cựu
Ước được mặc khải c̣n Tân
Ước, Veda, Koran không được mặc khải!
Mỗi
người có một lập trường dựa trên tôn
giáo họ theo, coi điều ḿnh tin là đúng,
được mặc khải, c̣n điều người
khác tin là không được mặc khải! Khoa học
về các tôn giáo, cũng c̣n gọi là khoa học tôn giáo
đối chiếu, nghiên cứu về nguồn gốc,
sự h́nh thành và phát triển của các tôn giáo, những
điểm dị đồng giữa các tôn giáo giúp có
những dữ kiện để người ta dễ dàng
suy tư hơn về vấn đề này. Những
người làm công việc đối chiếu giữa các
tôn giáo không phải là những người chủ
trương tất cả các tôn giáo đều như nhau;
nhưng khi làm công việc này, họ không đứng trên
một quan niệm tôn giáo nào, họ coi tất cả các tôn
giáo đều như nhau, nghĩa là có những điểm
đúng và những điểm sai (xét trên những mặt
thuần túy lịch sử hoặc nhân loại).
Với
phương pháp hiện tượng luận, Th. P. Van Baaren
cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô được mặc
khải.[90] Như
vậy vấn đề hiện tại c̣n lại, trên
quan điểm Kitô giáo, có thể bảo vệ ư
kiến cho rằng Thiên Chúa cũng mặc khải cho nhân
loại ở ngoài truyền thống Do Thái không?
Người theo tôn-giáo-ngoài-Kitô cho rằng tôn giáo họ theo
được mặc khải, nghĩa là, Thiên Chúa đă
nói với họ và họ cũng có Kinh Thánh, vậy
điều họ cho là được mặc khải có
thật là được Thiên Chúa mặc khải không?
Thiên
Chúa có thể mặc khải cho các người sống
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô không? Nói cách khác, với những
điều Kitô-hữu biết về Thiên Chúa và những
điều Thiên Chúa mặc khải, Kitô-hữu có t́m
thấy điều nào cho thấy Thiên Chúa không mặc
khải nơi tôn giáo ngoài Kitô không?
Thiên
Chúa là nhất thể tam vị, Ngài tự do trong mọi
sáng kiến và hoạt động của Ngài, Ngài muốn
mặc khải cho ai, ở đâu là tùy ư Ngài, không ǵ cấm
cản được Ngài.
Giả
như Thiên Chúa mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô, th́ Kitô
giáo có c̣n tính ưu việt nữa không, hay Kitô giáo cũng
ngang hàng với các tôn giáo khác và đức Kitô cũng ngang
hàng với đức Phật, đức Mahomet, Zarathoustra?
Nếu
các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng được mặc khải,
Kitô giáo vẫn giữ được tính ưu việt,
nghĩa là, vẫn là phương tiện cần thiết
để được cứu độ (LG 14), v́
đức Kitô vẫn là Lời mặc khải trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, và hơn nữa Ngài cũng là mặc khải
trọn vẹn của Thiên Chúa. Đức Kitô vẫn là chóp
đỉnh mặc khải mà các tôn khác phải vươn
tới.
b.
Sai lầm không đến từ Thiên Chúa
Nếu
Thiên Chúa mặc khải cho tôn-giáo-ngoài-Kitô th́ tại sao có
những sai lầm trong các tôn giáo đó? Tại sao các tôn
giáo đó không có chân lư như Kitô giáo? Nếu cùng một
Thiên Chúa mặc khải th́ tại sao những chân lư đó
không ḥa hợp được với nhau?
Những
ǵ sai lầm trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô không đến
từ Thiên Chúa, nghĩa là những điều
đó không là những điều được mặc
khải! Những điều không thể dung hợp,
hoặc đối kháng với chân lư được
mặc khải trong Kitô giáo, cũng được coi
như không đến từ Thiên Chúa;
Chỉ những ǵ hay hoặc tốt nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô mới được coi là những
điều Thiên Chúa mặc khải mà thôi. Chính những sai
lầm hoặc những chân lư chưa trọn vẹn nơi
các tôn-giáo-ngoài-Kitô, giúp người ta nhận ra tính ưu
việt của Kitô giáo.
Nếu
chấp nhận có mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
người ta thấy những chân lư và sự kiện có
các nhà thần bí được giải thích dễ dàng
hơn: "tất cả những ǵ tốt đẹp
đều đến từ Thiên Chúa.”
Tóm
lại, người ta đă không t́m được lư do
để kết luận "trên nguyên tắc" Thiên Chúa
không thể mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Trên
nguyên tắc không ǵ ngăn cản Thiên Chúa mặc khải
cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô nhưng cụ thể th́ sao? Thiên Chúa
có mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-Kitô không? Thực tế
Thiên Chúa đă mặc khải ngoài Kitô giáo; hơn nữa,
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị mặc khải; và có
thể kết luận "Thiên Chúa đă mặc khải
trong các tôn giáo ngoài-Kitô.”
Cùng
đích của con người, là sống thiết thân
với Chúa. Sau khi mối tương quan thân mật với
Ngài bị chính con người phá hủy, tự sức con
người không thể nối lại mối tương
quan ấy, nghĩa là, con người không thể tự
ḿnh cứu độ ḿnh được! Trong lịch
sử cứu độ, Thiên Chúa luôn luôn là người có
sáng kiến nối lại tương giao với con
người. Lịch sử cứu độ đặc
biệt bắt đầu với ơn gọi Abraham, nhưng
trước khi Abraham xuất hiện, Thiên Chúa đă can
thiệp trong ḍng lịch sử của con người.
Ngay
sau khi con người đầu tiên phản bội, Thiên
Chúa đă đi t́m con người và ngỏ lời với
con người đầu tiên, dù con người lẩn
tránh Thiên Chúa (St 3:9-10). Trong lần gặp gỡ này, ơn
cứu độ đă được hứa ban cho con
người (St 3:15).
Hênok
được Kinh Thánh ca ngợi, cho rằng ông đă
đi với Thiên Chúa (St 5:22-24). Như vậy chúng ta
thấy Thiên Chúa không ngừng hiện diện với con
người. Trong giao ước Thiên Chúa kư kết với
Noê và gia đ́nh ông, giao ước này không chỉ gồm Noê
và gia đ́nh, nhưng bao gồm tất cả chúng sinh
ở với họ: "Này là dấu ta đặt giữa
ta và các ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với
các người, đời đời măi măi" (St
9:12.15-17). Tương quan giữa con người và Thiên Chúa
đă được chính Thiên Chúa cương quyết
nối lại: Ngài không ngừng ngỏ lời, đối
thoại và tỏ hiện với con ngườí! Ngài làm
tất cả để cứu con người.
Sau
biến cố Thiên Chúa kêu gọi Abraham, Ngài vẫn tỏ
ḿnh cho dân ngoại như trong tŕnh thuật Balaam. Balaam là
tiên tri của dân ngoại bên bờ sông Phơrat, ông đă
có tương quan khá mật thiết với Thiên Chúa dù ông
không phải người Israel. Thiên Chúa đă dạy ông
không được trù ẻo dân Israel, v́ Israel là dân đă
được Thiên Chúa Yahweh chúc phúc; ông đă vâng lời
Thiên Chúa (Ds 22:2-14). Với Balaam người ta thấy Thiên
Chúa đă tỏ ḿnh cho tiên tri dân ngoại để can
thiệp vào vận số của con dân Israel; nếu Balaam
đă có tương quan với Thiên Chúa như vậy,
chắc chắn ông cũng đă truyền đạt ư
định của Thiên Chúa cho những người
đến với ông hay những người tới
thỉnh cầu ư kiến của ông!
Với
Kyrô vua xứ Batư, tiên tri Isaia nói là Thiên Chúa đă xức
dầu phong vương để ông giải phóng dân Israel
khỏi làm nô lệ ở Babylon! Kyrô là một người
ngoại, làm vua dân ngoại, nhưng Thiên Chúa đă chọn
ông, tuyển chọn ông, đă nói với ông (Is 44:28; 45:1).
Kyrô được Thiên Chúa phong vương, nhờ ông mà
dân Israel được trở về, ông đă thực
hiện ư định Thiên Chúa nơi dân Israel; như vậy
không có lư ǵ khiến người ta phủ nhận ư
kiến cho rằng cũng chính vua được xức
dầu này đă thực hiện ư Thiên Chúa nơi dân tộc
ông, tức dân Ba-tư. Có thể nói: qua vị vua
được Thiên Chúa xức dầu này, Thiên Chúa đă nói
và cai trị không những dân Israel mà thôi, nhưng c̣n cả
dân Batư nữa.
Như
vậy, Thiên Chúa không chỉ mặc khải cho dân ngoại
qua việc tạo dựng, qua lương tâm, qua sự khôn
ngoan do lư trí t́m kiếm, nhưng c̣n bằng những lời
hoặc bằng chính con người Thiên Chúa chọn và
ngỏ ư, tỏ bày ư định của Ngài cách đặc
biệt. Có thể nói Thiên Chúa mặc khải cho Noê và gia
đ́nh ông, và qua đó cho tất cả mọi người
và mọi sinh vật trên đất, là mặc khải tiên
tri.
Những
lư chứng trên cho thấy Thiên Chúa đă mặc khải cho
dân ngoại theo cách thức và lề lối của họ,
để cứu độ tất cả nhân loại, v́
Thiên Chúa là Thiên Chúa của cả dân Do thái lẫn dân
ngoại, Đấng "muốn cho mọi người
được cứu rỗi và nhận biết sự
thật" (1Tm 2:4). Cũng trong bầu khí này, Lời Kinh
Thánh trong thư gởi Do Thái "Ngày xưa nhiều
lần nhiều cách Thiên Chúa đă nói với chúng ta qua các
tiên tri; vào thời sau hết, tức là trong những ngày
này, Người đă nói với chúng ta nơi một
người Con" (Hr 1:1), không chỉ đúng với dân Do
Thái nhưng c̣n đúng với cả dân ngoại nữa.
Dầu vậy người ta cũng phải thêm rằng,
cả khi chấp nhận Thiên Chúa nói với dân ngoại
theo "kiểu của Thiên Chúa và cũng là kiểu của
họ,” người ta vẫn thấy rằng qua biến
cố Thiên Chúa mặc khải cho dân riêng Ngài, Ngài cũng
mặc khải cho cả dân ngoại nữa. Điều này
người ta thấy rơ khi:
· Yavê Thiên Chúa giải phóng dân riêng ra khỏi AiCập, và
qua biến cố này, "dân AiCập sẽ biết
rằng Ta là Yavê" (Xh 14:18);
· Quân Philitinh chiếm được ḥm bia Thiên Chúa,
nhưng Thiên Chúa đă đánh phạt những nơi nào có
sự hiện diện của ḥm bia. Dân chúng đă sợ
hăi và đem trả ḥm bia lại cho con dân Israel sau khi đă
tỏ ḷng tôn kính ḥm bia và Thiên Chúa dân Israel thờ qua
việc cúng tế (kiểu của những dân này) (1Sm 5-6)
2. Mặc khải nơi
các tôn-giáo-ngoài-Kitô
Các
tôn giáo ngoài-Kitô có mặc khải không? Người ta có
thể xét
mặc
khải phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm;
mặc
khải triết lư;
mặc
khải huyền nhiệm;
mặc
khải qua lịch sử và lời giải thích;
mặc
khải nơi Đức Giêsu Kitô.
Mặc
khải phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm, dành cho
tất cả mọi người, nên không thành vấn
đề. Mặc khải nơi Đức Giêsu là độc
nhất, nên cũng khỏi phải bàn. Như vậy
chỉ cần lưu ư mặc khải đặc biệt
cấp một[91] và một phần mặc
khải đặc biệt cấp hai[92], nghĩa là, mặc khải
huyền nhiệm tiên tri và mặc khải lịch sử có
lời giải thích biến cố.[93]
Theo
R. Latourelle,[94] mặc
khải Kitô giáo phải là tiêu chuẩn để biết
các tôn giáo ngoài-Kitô có mặc khải không. Nói như vậy
không phải là đánh giá thấp các tôn-giáo-ngoài-Kitô,
nhưng đó là cách duy nhất để xác định và
lượng giá mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô;
bởi v́ đức Kitô là chóp đỉnh của mọi
mặc khải, nên nhờ Ngài mà người ta có thể
xác định và phân biệt những h́nh thức mặc khải
khác nhau.[95]
Sẽ
so sánh giáo lư hoặc niềm tin của những tôn giáo khác
với đức tin Kitô giáo để biết xem
tôn-giáo-ngoài-Kitô đó có mặc khải không.
Trong
thời xa xưa và ngày nay cũng vẫn c̣n có những
người cúng tế "thần cây đa,” "thần
đá,” v.v. Tín ngưỡng này không hiếm trong niềm tin
b́nh dân của những người Việt Nam.
Theo
M. Éliade, những cây và những đá được
thờ không phải chúng được thờ v́ chúng là cây
là đá, nhưng chúng được thờ bởi v́ chúng
biểu lộ cái ǵ không c̣n là cây là đá mà là cái ǵ thánh,
một cách hoàn toàn khác (ganz andere).[96] Niềm tin b́nh dân này tuy
được diễn tả cách tập thể tại
một số nơi nhưng nó không là tôn giáo đúng
nghĩa, v́ không có một nền giáo lư diễn đạt
niềm tin của họ, dầu vậy nó cũng cho
người ta thấy có niềm tin vào một cái ǵ siêu
việt, và một cách nào đó có thể nói, niềm
tin này cũng có giá trị cứu độ.
Có
thể đồng ư với triết gia Kierkegaard:
"Lời nguyện có thể là không chân thực khi
cầu nguyện với Thiên Chúa chân thực,
nhưng người ta cũng có thể cầu
nguyện trong chân lư mặc dù
người ta dâng lời cầu nguyện trước
một ngẫu tượng."[97]
Đây
là "sự thần hiển" của những thế
lực chống Thiên Chúa hay là "sự thần
hiển" của chính Thiên Chúa? Theo thiển kiến,
nếu không chứng minh được đó là sự
thần hiển của ma qủy, th́ cứ giả sử
chúng tự Thiên Chúa mà đến.
Ở
phương đông các h́nh thức và hệ thống tôn giáo
chỉ có giá trị "lại gần" chân lư. Chẳng
hạn ở Trung Hoa, ba tôn giáo (Khổng-Phật-Lăo) tuy là ba
trong hệ thống nhưng chỉ là một trong cách
sống, cách cư xử. Ở Ấn Độ cũng
vậy, Ramakrishna nói: "Hữu thể là đơn
nhất nhưng có nhiều tên gọi... Bạn hăy gọi
như bạn muốn và cầu nguyện với Ngài theo
h́nh thức thích hợp với bạn hơn."[98] Quan
niệm tương đối này được thấy
gần như hầu hết nơi các tác giả lớn:
· ngón tay chỉ mặt trăng, đừng nh́n ngón tay
mà nh́n điều được chỉ (Phật);
· nơm để đơm cá, đặng cá hăy quên
nơm; ḍ là v́ thỏ, đặng thỏ hăy quên ḍ; bè
để qua sông, qua sông hăy bỏ bè; lời là v́ ư,
đặng ư hăy quên lời (Trang Tử);
Với
người đông phương, chân lư là cái ǵ không nắm
bắt như nắm bắt một đồ vật.
Lời diễn tả chỉ nói lên phần nào thực
tại sâu thẳm chứ không gói trọn, bó chặt, giam
cầm được thực tại. Nếu có thái
độ độc đoán tưởng rằng ḿnh
nắm chân lư trong tay th́ chẳng khác những người
mù xem voi: ai cũng cho ḿnh đúng và chỉ có ḿnh đúng
thôi, c̣n người khác là sai lầm!
Với
quan niệm tương đối này về vấn
đề tôn giáo,[99] có người cho rằng
mọi tôn giáo đều tốt tuy dù bàn tay có ngón dài ngón
ngắn.
c.
Kinh nghiệm Tuyệt Đối nơi các tôn giáo ngoài-Kitô
Những
người theo đạo Khổng không tôn thờ
đức Khổng nhưng coi Khổng Tử như
người dẫn đường, như vị thầy.
Quan niệm này không chỉ của những người theo
đạo Khổng nhưng là của chung những
người Trung Hoa, họ coi đức Khổng là
"vạn thế sư biểu.” Người theo
đạo Khổng cho là theo đạo của những
bậc tiên vương: thờ Trời và tế Trời.
Niềm tin vào Thượng Đế được diễn
tả trong những sách cổ nhất của Trung Hoa:
"(Vua Thuấn) làm lễ phần sài tế Thượng
Đế."[100] Sách Trung Dung cũng nói:
"lễ Giao, lễ Xă là lễ để tế
Thượng Đế vậy.”[101] Những lời trên trong
sách Trung Dung cho thấy: ngay cả lễ tế đất
(lễ Xă) cũng là lễ tế Thượng Đế
như lễ Giao vậy. Những người đi theo
đường lối của Khổng Tử (đạo
Khổng) tin vào Thượng Đế nhưng họ chú
trọng đến những ǵ cụ thể; họ
đưa vào thái độ sống, cách sống của con
người để biết người nào đó có
sống đạo không! Người Trung Hoa quan niệm
như vậy cũng không khác tư tưởng của
thánh Gioan: "Nếu ai nói ḿnh yêu Thiên Chúa mà ghét anh em ḿnh th́
đó là kẻ nói dối" (1Ga 4:20).
Người
theo đạo Khổng, "đạo thờ Trời,”
phải làm theo ư Trời. Những bậc tiên vương
thánh vương của dân Trung Hoa cũng luôn làm theo ư
Trời. Các vị khi đem binh đi chinh phạt
nước nào th́ cũng xác tín đó là mệnh Trời, ư
Trời muốn ḿnh làm như vậy.[102] Người càng làm
lớn, càng phải sống đạo, và đạo
phải biểu lộ nơi ḿnh; Điều này
được thấy nơi những vị vua Trung Hoa,
họ coi ḿnh như người thay Trời hành đạo;
kế đến là những người quân tử, họ
cũng có nhiệm vụ lớn đối với dân
nước: "Đại học chi đạo, tại minh
minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí
thiện."[103] Và muốn đạt
được điều ấy th́ phải bắt
đầu từ chính ḿnh: "cổ chi dục minh minh
đức ư thiên hạ giả, tiên tŕ kỳ quốc;
dục tŕ kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia;
dục tề kỳ gia thiên hạ giả, tiên tu kỳ
thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục
chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ư; dụ thành kỳ ư
giả, tiền trí kỳ tri; trí tri tại cách vật.”
Hồi
c̣n thời quân chủ, vua tôi Việt Nam cũng thờ
Trời tế Trời, gọi là lễ tế Nam Giao.
Đạo
Lăo do Lăo Tử vạch ra. Người theo đạo Lăo
cũng không tôn thờ Lăo Tử nhưng coi Lăo Tử như
người đi trước dẫn đường
(đạo)! Ư tưởng then chốt trong đạo này
là Đạo, và Đạo này không thể diễn tả nỗi:
"Đạo
khả đạo phi thường Đạo,
Danh
khả danh phi thường Danh" (Đạo Đức Kinh, 1).
Đạo
là nguồn gốc của vạn sự vạn vật
"vô danh vạn vật chi thỉ, hữu danh vạn
vật chi mẫu (ĐĐK 1).” Người tin vào Đạo, sẽ
sống theo Đạo. Thái độ sống của những
người theo Đạo (đạo Lăo) thường là vô
vi, nhưng vô vi không phải là không làm ǵ cả "Đạo
thường vô vi, nhi vô bất vi" (ĐĐK 37,1).
Đặt
vào trong bầu khí thời đạo Khổng và đạo
Lăo phát sinh, người ta thấy hai "đạo"
này biểu lộ hai cách cư xử khác nhau, cứ b́nh
thường người ta coi một lối cư xử
là tích cực và lối kia là tiêu cực; Mới thoạt
nh́n người ta tưởng chừng chúng không thể
dung hợp được với nhau, nhưng thực chúng
không hoàn toàn mâu thuẫn nhau:
"xưa
nay xuất xử thường hai lối,
măi
thế rồi ta sẽ tính đây" (Nguyễn Công
Trứ).
Niềm
tin của những người theo đạo Khổng và
Lăo tuy khác nhau nhưng giống nhau; một tin vào Trời
một tin vào Đạo; Trời và Đạo tuy
được gọi là hai nhưng cũng là một! Cách
sống, cách cư xử của hai đạo cũng không
khai trừ nhau và có thể dung hợp nơi một
người.
Khi
nghiên cứu đạo Khổng và Lăo, người ta
thấy khái niệm về mặc khải rất
đơn sơ[104] nếu không muốn nói là
không có; thế nhưng những điều các đạo
dạy người ta thấy rất uyên thâm và rất
gần với Kitô giáo.
Các tôn giáo huyền nhiệm ở Ấn Độ
trổi vượt ở nét phản tỉnh. Mặc
khải được hiểu như một soi sáng
nội tâm nhằm giải phóng con người khỏi u mê
lầm lạc.[105] Nếu so sánh các tôn giáo
"tiên tri" với các tôn giáo "khôn ngoan,” người
ta thấy ư niệm mặc khải rất rơ nơi các tôn
giáo tiên tri, c̣n trong tôn giáo khôn ngoan th́ không rơ. Mặc khải
được hiểu như một khải ngộ (soi
sáng nội tâm) không chỉ là cái biết bằng trí năo
nhưng c̣n hàm chứa một sự cảm nghiệm sâu xa,
nó phần nào cho thấy thực tại con người
cảm nghiệm.
Tuyệt
Đối trong Ấn Độ giáo là một thực tại
người ta không thể tri giác hoàn toàn, vượt trên
khả năng lănh hội của con người. Tuyệt
Đối này "mắt không thể đạt tới,
cả lời và lư trí cũng vậy. Cái ấy không phải
là cái ta biết, cũng không phải là cái ta không
biết."[106] "Chẳng có ǵ cao
hơn và thấp hơn Ngài. Chẳng có ǵ nhỏ hơn và
cũng chẳng có ǵ lớn hơn.... Ngài biết tất
cả, c̣n Ngài th́ chẳng ai biết được."[107] Nhờ
quan niệm về Tuyệt Đối như vậy, nên
"các hiện hữu đáng quư đối với chúng ta
không phải v́ t́nh yêu của các hiện hữu đó,
nhưng bởi v́ t́nh yêu của sinh vật Tối Cao mà các
hiện hữu đáng quư."[108] Cũng chính trong Upanisad này
người ta đọc thấy lời cầu nguyện:
"xin dẫn con từ nơi tối tăm tới ánh
sáng, từ sự chết đến sự sống, từ
cái không thực đến cái thực."[109] Với những lời
trong các Upanisad này, người ta có cảm tưởng
Tuyệt Đối được diễn tả là
một Thực Tại Tuyệt Đối Hữu Vị;
và như vậy, đâu có xa với Thiên Chúa Kitô giáo?
Những người theo đạo Phật coi chư
Phật như những bậc thầy chứ không tôn
thờ chư Phật,[110] chính v́ vậy Phật
tử "không cầu xin một ân huệ vật chất
hay tinh thần nào khi đảnh lễ tượng
Phật mà chỉ bày tỏ ḷng tôn kính ngưỡng mộ
của ḿnh đến lư tưởng siêu việt mà bức
tưọng tiêu biểu... Phật tử cũng đảnh
lễ cây bồ đề, không phải để ḷng tôn
sùng thờ tự cái cây, mà xem đó là tượng trưng
của sự giác ngộ. Dầu có nhiều nghi thức lễ
bái trong các buổi lễ, người tín đồ
phật giáo không tôn sùng đức Phật như một
thần linh.[111] Theo quan niệm của
Phật giáo "đức Phật không khi nào và không
thể nào ban bố những ân huệ cho người
cầu nguyện. Để được cứu rỗi
người Phật tử không nên cầu nguyện mà
phải lănh trách nhiệm, cố gắng trau dồi
đức hạnh, kiên tŕ tu tập, để đạt
tự do và trong sạch."[112]
Nếu
người theo đạo Phật cho rằng đức
Phật chỉ là người dẫn đường, là
bậc thầy chứ không như đức Giêsu vừa là
đường, là sự thật và là sự sống (Ga
14:6), th́ họ tin vào ai? Phải chăng đạo Phật
chủ trương vô thần? Đạo Phật phát sinh là do
hoàng tử Gautama, một người khi nhận biết
cái khổ mà chúng sinh phải chịu, đă t́m
đường giúp con người thoát khỏi cảnh
khổ cực này. Như vậy mục đích của
Phật giáo là diệt khổ, mục đích của
Phật tử là được giải thoát khỏi
khổ cực, và để đạt được
như vậy họ phải được giác ngộ,
nhận biết chân lư, tránh được vô minh; chân lư mà
người ta nhận ra đó là: mọi khổ cực con
người có là do dục mà ra cả, thế
nên để thoát khổ, con người phải diệt
dục! Đạo Phật chú trọng về khía cạnh
thực tế, làm sao để con người thoát
khổ, hơn là t́m nguyên nhân siêu h́nh; đạo Phật t́m
những biện pháp giúp con người hết khổ,
chứ không bận tâm t́m hiểu xem ai là Đấng đă
tạo ra vũ trụ này.[113] Người Phật
tử không t́m thấy bất cứ một lư do nào
để chống đối việc thờ nhiều
thần thánh bởi v́ ư niệm về một Thượng
Đế hay ghen tuông hoàn toàn xa lạ với họ. Như
vậy thật là một sai lầm vô cùng lớn lao khi mô
tả Phật giáo như một tôn giáo vô thần- nếu
hiểu vô thần như phủ nhận sự hiện
hữu của Thượng Đế.[114]
Đạo
Phật tuy không để ư đến vấn đề
Đấng Tạo Hóa nhưng qua những giáo lư để giúp
con người sống tốt, bớt khổ và
được giải thoát... rất sâu xa; chẳng
hạn như "bát chính đạo.” Đặc biệt là
phái Phật giáo sùng tín chủ trương rằng Bakti thay
thế- hoặc ít là bổ túc- con đường trí
tuệ.[115]
Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX xuất
hiện đạo Cao Đài, những người trong tôn giáo
này cho rằng tôn giáo của họ được Thánh
Thần mặc khải; Đấng Tối Cao họ thờ
cũng chính là Yahweh của dân Israel, là Cha của đức
Giêsu Kitô.[116] Những
người theo tôn giáo này cho rằng đạo Cao Đài là
dự định của Đấng Tối Cao nhằm thâu tóm
tất cả các tôn giáo lớn trên hoàn vũ; họ coi
đức Giêsu, đức Phật, đức Khổng
Tử, Môsê là những người được Đấng
Tối Cao sai tới, nhưng điểm tới của
tất cả những tôn giáo ở Đông Tây trong quá khứ là
đạo Cao Đài!
Hồi giáo, một tôn giáo xuất hiện ở
phương đông vào thế kỷ thứ VII sau
đức Giêsu, tôn thờ Thiên Chúa của dân Do Thái.
Những người theo đạo Hồi cho rằng
đức Giêsu cũng là một vị tiên tri, nhưng
vị tiên tri lớn nhất là Mahomet, người
được Thiên Chúa mặc khải Lời và những
lời này được chép laị trong kinh Koran. Với
nhăn quan Kitô giáo, dù đạo Hồi có những sai lầm
nhưng cũng có những điểm tích cực như tôn
thờ Thiên Chúa độc nhất, giáo lư dạy làm lành lánh
dữ và có nhiều nét tương đồng với Kitô
giáo! Khoa tôn giáo đối chiếu cho cái nh́n khách quan về
những điểm này.
Những hàng viết về giá trị Kitô giáo của
các tôn-giáo-ngoài-Kitô trên đây rất thô sơ mộc
mạc, và nó chỉ có tính gợi ư để dẫn
tới một lập trường. Công việc nghiên
cứu về vấn đề này rất bao la và phức
tạp, cần có sự đóng góp của nhiều
người. Để gút lại vấn đề giá trị
của các tôn-giáo-ngoài-Kitô, xin mượn lời của
đức Hồng Y Daniélou: "truyền thống công giáo
dứt khoát kết án những sai lầm hư nát nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô như thờ ngẫu tượng, phiếm
thần, nhị nguyên. Truyền thống Công giáo coi tất
cả những điều đó như là lỗi thời
khi đức Kitô, chân lư cao hơn đă được bày
tỏ. Nhưng truyền thống công giáo không phủ
những giá trị tôn giáo đích thực nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô. Những giá trị tôn giáo này diễn tả
sự hiện diện của Thiên Chúa- Đấng không ngừng
cứu giúp con người. Những giá trị tôn giáo này
cũng có thể được coi như "viên đá
chờ đợi" đối với Do Thái giáo và Kitô
giáo. Thánh Phaolô nói trong Công Vụ các sứ đồ: Thiên
Chúa đă để các dân đi theo đường lối
của họ, nhưng Ngài đă không ngừng gởi
những chứng từ đến với họ, bằng
cách ban cho họ mưa từ trời xuống cùng mùa màng
hoa trái."[117]
Tới đây người ta có thể khẳng
định: Thiên Chúa đă mặc khải cho các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Nhưng nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô được mặc
khải, vậy tại sao có những sai lầm nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô? Vấn đề này sẽ được
giải quyết trong phần tôn giáo ngoài-Kitô là phương
tiện cứu độ.
III. TÔN GIÁO
NGOÀI-KITÔ LÀ PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương tiện Thiên Chúa dùng
để cứu độ con người không?
Chúa
Giêsu dạy: "Không phải những kẻ nói Lạy
Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời,
nhưng là kẻ làm theo ư Thiên Chúa" (Mt 7:21). "Có
nhiều kẻ từ đông tây tới dự tiệc
Nước Trời, c̣n con cháu trong nhà th́ bị quẳng ra
ngoài" (Mt 8:11-12). Không phải cứ là Kitô-hữu, cứ
theo Kitô giáo, cứ là Công Giáo, là được cứu
độ, nhưng những người được
cứu độ là những người thực hiện ư
định của Thiên Chúa! V́ thế, các tôn giáo ngoài-Kitô,
nếu là phương tiện cứu độ, th́ cũng
là phương tiện thứ yếu.
Có
hai yếu tố làm các nhà thần học khuynh hướng
tiêu cực cho rằng các tôn-giáo-ngoài-Kitô không là phương
tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ:
· những sai lầm trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô;
· các tôn-giáo-ngoài-Kitô thường là hệ thống
đóng kín với Tin Mừng đức Giêsu Kitô.
Người
ta có thể liệt kê vài sai lầm trong giáo lư nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, chẳng hạn:
· Đạo Phật chủ trương luân hồi,
nghĩa là, con người chết có thể đầu thai
làm người hay làm con vật nếu họ không
được giải thoát lên cơi niết bàn!
· Hồi giáo coi đức Giêsu chỉ là một tiên tri
lớn, chứ không phải là Thiên Chúa; đạo Công Giáo
cũng như bao đạo khác, đều có điểm
tới là Hồi Giáo. Mahomet là tiên tri lớn hơn
đức Giêsu, vượt trên đức Giêsu!
· Đạo Cao Đài cũng cho rằng đạo Công Giáo
cũng là một trong các đạo khác, đức Giêsu
cũng chỉ là một tiên tri lớn như bao các tiên tri
lớn khác mà thôi!
Khi
bàn về mặc khải trong đạo Hồi, W. M. Watt
cho rằng kinh Koran của Hồi giáo, xét về một khía
cạnh nào đó và theo một ư nghĩa nào đó, là sản
phẩm của sáng kiến thần linh và được
mặc khải. Khi Watt dùng chữ "theo một ư nghĩa
nào đó" nghĩa là ông chấp nhận có sai lầm
trong kinh Koran.[118] C̣n theo R. Latourelle, các tôn
giáo lớn cứu độ như Ấn giáo, Phật giáo,
là hoa trái của ân sủng cứu độ và là những
kiểu mẫu giải thích ân sủng này, nhưng bởi
v́ thiếu tiêu chuẩn nhận định nên những
lời giải thích mà các tôn giáo đó đề ra gồm
cả những yếu tố nhân loại, những hàm
hồ, những trệch đường, những sai
lầm cùng với những yếu tố có giá trị
thực.[119] Theo
R. Latourelle, các tôn giáo là hoa trái của ân sủng cứu
độ, bởi v́ con người là con người
lịch sử nên ân sủng cứu độ này
được biểu lộ ra trong các nghi lễ, trong
việc thực hành, trong ngôn ngữ; chính dưới tác
động ân sủng này mà con người t́m hiểu trong
lần ṃ, linh cảm thấy cách mơ hồ mầu
nhiệm cứu độ. Hiểu như vậy các tôn giáo
cứu độ duy tŕ một quan hệ tích cực
đối với mặc khải thần linh, nhưng
nội dung của nó phải được xác định
và giải thích. Và chính mặc khải Kitô giáo là tiêu
chuẩn nhận định đâu là công tŕnh của ân
sủng, và nguyên tắc giải thích là chính Thiên Chúa nơi
đức Giêsu Kitô.[120]
Những
chân lư và những giá trị tôn giáo đích thực nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô đều đến từ Thiên Chúa- nguyên
nhân mọi sự tốt lành, c̣n những sai lầm và
"thái độ đóng kín đối với Kitô giáo"
là do con người!
Một
điều rất khó giải quyết với những
người nghiêng về lập trường tích cực,
là sự kiện các tôn giáo ngoài-Kitô ngăn cản các tín
hữu trong các tôn giáo đó tin vào Đức Giêsu.
Do
Thái giáo sẽ giúp có câu trả lời.
Cựu
Ước của Dothái giáo, là lời Thiên Chúa mặc
khải cho con người, và như vậy không thể sai
lầm. Những điều này là đối tượng
câu nói của đức Giêsu "trước khi trời
đất qua đi, th́ một chấm một phết
cũng không qua khỏi lề luật, trước khi
mọi sự thực đă xảy ra" (Mt 5:18). Nhưng
nơi Do Thái giáo, không chỉ có Kinh Thánh, mà c̣n nhiều
điều nữa như tập tục của tiền
nhân, và đôi khi người ta coi tập tục tiền
nhân trên cả linh truyền của Thiên Chúa (Mt 15:1-20)!
Người theo Do Thái giáo quá nô lệ vào luật nên không
hiểu đúng lệnh truyền của Thiên Chúa (Mt 12:1-14).
Khi họ giải thích Lời Chúa như vậy, nghĩa là
họ đem ư của con người, ư của họ làm ư
của Thiên Chúa! Qua ánh sáng của đoạn Lời Chúa trên,
người ta có thể kết luận: những ǵ sai
lầm và thái độ đóng kín trước Tin Mừng
của đức Giêsu Kitô đều đến từ con
người, và con người là nguyên nhân của những
sự đó. Con người ở đây hiểu là con
người bị ảnh hưởng của tội!
Do
Thái giáo có Kinh Thánh Cựu Ước là mặc khải
của Thiên Chúa, nhưng chỉ với Cựu Ước,
Do Thái giáo chưa lănh nhận trọn vẹn mặc
khải. Đáng lẽ mặc khải Cựu Ước
phải giúp họ tiếp nhận đức Giêsu nhưng
họ đă từ chối Ngài v́ thành kiến và tập
tục tiền nhân (Ga 5:46-47; 1:11; Mt 15:1tt).
Dothái
giáo không tiếp đón Đức Giêsu, là thực trạng làm
thánh Phaolô suy nghĩ và buồn phiền nhiều (Rm 9-11). Tuy
vậy theo thánh nhân, họ vẫn là dân rất
được yêu quư bởi đă được tuyển
chọn; Thiên Chúa đă không ân hận ǵ v́ đă ban ơn và
kêu gọi họ (Rm 11:28-29).
Họ
cũng đă đáp trả mặc khải của Thiên Chúa
bằng việc tin vào lời hứa của Thiên Chúa ban cho
cha ông họ.[121] Nếu việc từ
chối tin vào đức Giêsu không là do lỗi họ,
họ vẫn được Thiên Chúa cứu độ!
Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có những sai lầm nhưng cũng có
những chân lư, có những yếu tố mặc khải.
Những yêú tố mặc khải, chân lư đến từ
Thiên Chúa nhưng những sai lầm đến từ con
người, là công tŕnh của con người. Sở
dĩ vậy là v́ con người đă đi quá những
điều Thiên Chúa mặc khải, con người
muốn có một hệ thống hợp lư chắc
chắn. Họ chưa hoàn toàn b́nh tâm lắng nghe Thánh
Thần, họ chưa chấp nhận những
điều Thiên Chúa mặc khải như nó là. Đây là khuynh
hướng chung của con người đă phạm
tội hoặc như thái độ của Adam và Eva
muốn được như Thiên Chúa mà độc lập
với Thiên Chúa!
Cái
khó khăn cho những người làm công tác thần
học về tôn-giáo-ngoài-Kitô là phải nhận định
xem đâu là mặc khải của Thiên Chúa và đâu là
yếu tố nhân loại; câu trả lời trên chỉ là
một soi sáng giúp biết hướng nghiên cứu và
cũng cho thấy giá trị không thể thay thế của
mặc khải Kitô giáo!
B. TÔN GIÁO- PHƯƠNG TIỆN
CỨU ĐỘ
Câu
hỏi "các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là phương tiện Thiên
Chúa dùng để cứu độ con người
không?" trở thành "các tôn-giáo-ngoài-Kitô có là dụng
cụ Thiên Chúa dùng cứu độ con người không?”
và "Thiên Chúa có mặc khải cho những người
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô không?” Nếu Thiên Chúa đă mặc
khải trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô, th́ những người
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô có thể đáp trả tùy tự do
của họ, và do đó họ có thể được
cứu rỗi, và như vậy các tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là
phương thế Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người sống trong tôn giáo đó.
V́
Thiên Chúa mặc khải Ngài trong mỗi tôn giáo theo mức
độ khác nhau, nên giá trị cứu độ của
mỗi tôn giáo cũng khác nhau. Nơi Kitô giáo, mặc
khải đă đạt đến đỉnh cao nơi
đức Giêsu Kitô, nên Kitô giáo là phương tiện
cứu rỗi cần thiết (cf. LG 14); c̣n các tôn giáo khác,
có thể nói, là phương tiện cứu rỗi
cần thiết theo mức độ.
Trong
phần tŕnh bày về lập trường thần học
các tôn-giáo-ngoài-Kitô người ta đă thấy các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố mặc khải và
cũng có những yếu tố thuần túy nhân loại, có
những chân lư nhưng cũng có sai lầm. Chính nhờ
những yếu tố mặc khải mà các tôn-giáo-ngoài-Kitô
có giá trị cứu độ! Những yếu tố nhân
loại và sai lầm nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có thể
trở thành cơ cấu ngăn cản con người
tiếp nhận Tin Mừng đức Giêsu Kitô- Đấng
không chỉ hoàn tất lề luật và các tiên tri của
Israel nhưng c̣n của các tôn giáo và dân tộc khác nữa.[122]
Nơi
Kitô giáo, tuyệt đỉnh mặc khải là đức
Giêsu Kitô; con người được cứu độ
khi đáp trả mặc khải này bằng tin vào
đức Giêsu. Nơi các tôn giáo khác người ta
được cứu rỗi nhờ tin vào Tuyệt
Đối qua mặc khải trong các tôn giáo họ theo.
Sau đây sẽ t́m hiểu giá trị cứu độ
của các tôn-giáo-ngoài-Kitô và ngay cả của những
người không sống trong một tôn giáo nào.
"Phương
tiện cứu độ" ở đây được
hiểu như phương tiện thứ yếu, v́
tất cả mọi người, dù người đó là
ai chăng nữa, nếu được cứu độ
là được cứu độ nhờ đức Giêsu
Kitô. Hơn nữa một người được
cứu hay không, là do chính thái độ của người
đó với Thiên Chúa, với đức Giêsu Kitô, với
mặc khải của Ngài. Như vậy,
"được cứu độ" là một
biến cố có tính cá nhân giữa Thiên Chúa và chính
đương sự chứ không do một cơ cấu
tôn giáo. Con người có được cứu độ
hay không, là tùy người đó có đáp trả lời
mời gọi của Thiên Chúa mặc khải qua
lương tâm, qua vũ trụ thiên nhiên, qua sự khôn ngoan
và chân lư Thiên Chúa đă ban cho lư trí nhận ra, qua mặc
khải Ngài ban cho một số người để
từ người đó đến với nhiều
người, qua mặc khải đặc biệt Ngài
tỏ lộ nơi một dân tộc.
Con
người đáp trả mặc khải này bằng
đức tin, v́ "không có đức tin th́ vô
phương làm đẹp ḷng Thiên Chúa" (Hr 11:6).
2. Giá trị cứu
độ của các tôn giáo
Đức
tin là lời đáp trả của con người
đối với Thiên Chúa mặc khải, bằng việc
ưng thuận và dấn thân trọn vẹn. Việc
đáp trả này nói theo ngôn từ của thánh Phaolô là
"sự vâng phục của đức tin."[123] Thiên
Chúa mặc khải cho con người theo mức độ
tùy ư Ngài, và con người cũng đáp trả theo mặc
khải Thiên Chúa ban.
Những
người sống theo lương tâm ở đây, muốn
chỉ đặc biệt những người không
nhận biết Thiên Chúa. Họ c̣n được gọi
là người vô thần. Với những người này,
Giáo Hội công giáo dạy rằng "tất cả
những kẻ chưa nhận biết Thiên Chúa rơ ràng
nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống
đời chính trực, th́ Chúa Quan Pḥng không từ chối
ban ơn trợ lực cần thiết để họ
được cứu rỗi" (LG 16).
Những
người này cũng đă lănh nhận mặc khải
phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm. Tuy không nhận
biết Thiên Chúa nhưng họ đă đáp trả lại
lời mời gọi của Thiên Chúa- dù họ không
biết- bằng cách vâng nghe tiếng lương tâm. Công
Đồng cũng dạy: "nhờ lương tâm, con
người nhận thức và hiểu biết những
mệnh lệnh của lề luật Chúa... V́ vậy không
ai bị cưỡng bách hành động trái với
lương tâm, cũng như không ai bị ngăn cấm
hành động theo tiếng lương tâm nhất là trong
lănh vực tôn giáo" (DH 3). Kitô hữu có luật t́nh yêu,
người Do Thái giáo có thập giới, c̣n người
theo lương tâm sống theo luật được ghi
khắc trong ḷng (cf. Rm 2:15).
Nơi
những người "sống theo lương tâm"
này, c̣n phải kể những người không sống
trong một tôn giáo nào, nhưng họ tin nhận có một
Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, Đấng Tuyệt Đối.
Những người này đă nhận ra Thiên Chúa và tin
tưởng nơi Ngài. Đây là những người mà Công
Đồng đă đề cập đến: "Con
người nhờ ánh sáng tự nhiên của lư trí, có thể
từ các tạo vật nhận biết cách chắc
chắn có Thiên Chúa như nguyên lư và cứu cánh mọi
sự" (Rm 1:20; cf. DV 6).
Như
vậy những người sống theo tiếng
lương tâm vẫn được Thiên Chúa ban ơn
cứu độ dù họ không có ở trong cơ cấu
tôn giáo nào! Có thể nói mà không sợ sai lầm: họ
được cứu độ nhờ đức Giêsu
Kitô và qua lương tâm của họ.
Tín
hữu đạo Cao Đài, tin vào Thượng Đế.
Với họ, Đấng ngự nơi Cao Đài chính là Yavê
của Israel và là Cha của đức Giêsu. Tuy họ có
nhiều sai lầm nhưng cũng vẫn được
những cơ cấu tôn giáo giúp đỡ để
sống niềm tin vào Đấng Tuyệt Đối.[124]
Với
các tôn giáo đông phương như Ấn độ giáo,
Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo, tôn giáo phản ảnh cách
suy nghĩ và diễn tả văn hóa của mỗi dân
tộc. Điều này muốn nói, ngay khi người ta
diễn tả cùng một thực tại, mỗi dân
tộc có những cách diễn tả khác nhau!
Với
người đông phương, hư vô là nền tảng
của mọi hiện hữu, là "nơi" cuối
cùng của tất cả, thậm chí của cả vô
hữu; như vậy Hư Vô có đặc tính siêu h́nh mà
triết lư Kitô gán cho Thiên Chúa. Đối với người
tây phương, Hư Vô tuyệt đối là một khái
niệm khó hiểu; c̣n đối với người
đông phương Hư Vô là nền tảng, con
đường của tư duy.[125] Lăo giáo và Khổng giáo
nhấn mạnh đến khía cạnh sống của con
người, cũng như Phật giáo, có những lời
dạy bảo và những con đường tập
luyện sống tốt, thành nhân và hữu dụng với
đời! Nếu đem so sánh những lời của
Khổng, Lăo và đức Phật với văn
chương khôn ngoan Cựu Ước, theo khía cạnh nhân
loại mà nói, người ta thấy chúng không kém uyên thâm và
ư vị! Theo thiển kiến, nơi những tôn giáo này
người ta có thể t́m thấy nhiều điểm
tương đồng với giáo lư Kitô giáo! Ấn Độ
giáo đặt nặng niềm tin vào Tuyệt Đối và khía
cạnh nghi lễ, và điều này không hoàn toàn xa lạ
với Kitô giáo.[126]
Ơn
cứu độ cho những người sống trong các
tôn-giáo-ngoài-Kitô đă được Công Đồng đề
cập đến: "những kẻ đang t́m
đến Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu
tượng, Thiên Chúa mà họ không biết, cả những
kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi v́ chính Ngài
ban cho mọi người sự sống, hơi thở và
tất cả mọi sự, và v́ là Đấng Cứu Thế,
Ngài muốn mọi người được cứu
rỗi. Thực thế, những kẻ vô t́nh không nhận
biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội Người,
nhưng nếu thành tâm t́m kiếm Thiên Chúa, và dưới
tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu
toàn thánh ư Thiên Chúa trong công việc ḿnh theo sự
hướng dẫn của lương tâm, th́ họ có
thể được cứu rỗi" (LG 16). Công
Đồng khẳng định những người sống
trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô được cứu độ qua
lương tâm, nhưng không đề cập đến
khía cạnh cứu độ qua tôn-giáo-ngoài-Kitô, họ
vẫn thuộc về dân Thiên Chúa. Sở dĩ vậy v́
công đồng chưa thấy vấn đề này
được giải quyết rơ ràng, nên để
ngỏ vấn đề này cho các nhà thần học!
Trong
các tôn-giáo-ngoài-Kitô phải kể đến Hồi giáo,[127] Công
Đồng cho rằng "họ giữ đức tin của
Abraham; cùng với chúng ta, họ thờ phượng Thiên
Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng phán xét loài người
trong ngày sau hết" (LG 16).
Sau
khi đă xét vấn đề mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, chúng ta có thể kết luận: các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có giá trị cứu độ tùy theo mức
độ chúng mở ra với tin mừng đức Giêsu
Kitô. Một tôn giáo càng là một hệ thống chặt
chẽ theo kiểu con người, càng khó đón nhận tin
mừng đức Giêsu Kitô, càng có ít giá trị cứu
độ, bởi v́ ở đó yếu tố con
người đă ngăn cản con người đón
nhận mặc khải! Trên nguyên tắc một tôn giáo càng
có nhiều mặc khải, càng dễ đón nhận
đức Giêsu như điểm tới của mặc
khải.
Nếu
được dùng đường biểu diễn
để diễn tả giá trị cứu độ
nơi các tôn-giáo-ngoài-Kitô chúng ta sẽ tŕnh bày như ở
h́nh bên cạnh:
trục tung chỉ giá trị cứu độ;
trục hoành để ghi giá trị mặc khải
nơi các tôn giáo theo thứ tự:
· người sống theo lương tâm không nhận
biết Thiên Chúa,
· người sống theo lương tâm và nhận
biết Thiên Chúa,
· các tôn-giáo-ngoài-Kitô như Cao Đài, Phật giáo, Ấn
Độ giáo, Khổng và Lăo giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,
· Kitô giáo và đặc biệt Công Giáo. Công giáo có giá trị
mặc khải nhất (các tôn giáo được xếp
trước sau chỉ có tính cách gợi ư và thí dụ).
Đường
biểu diễn chỉ giá trị cứu độ của
các tôn giáo là một nhánh hyperbol nhận giá trị cứu
độ của Kitô giáo Công giáo làm đường
tiệm cận. Đây chỉ là các diễn tả biểu
trưng.
Với
câu trả lời trên về các tôn-giáo-ngoài-Kitô, một cái
nh́n mới xuất hiện trong tương quan với các
tôn giáo ngoài-Kitô. Một số vấn đề như
tự do tôn giáo, đối thoại tôn giáo, truyền giáo,
đức Giêsu Kitô và tương quan giữa Giáo hội
Công giáo với các tôn-giáo-ngoài-Kitô sẽ được
đề cập, nhưng trước hết nói sơ qua
về những khó khăn đă gặp phải trong lập
trường tích và tiêu cực về tôn-giáo-ngoài-Kitô.
Với
các thần học gia chủ trương các tôn giáo ngoài-Kitô
đầy dẫy những sai lầm nên không thể là công
tŕnh của Thiên Chúa cũng như không thể nằm trong
chương tŕnh của Thiên Chúa được, xin trả
lời tóm tắt:
· những sai lầm và khuyết điểm trong các tôn
giáo ngoài-Kitô không đến từ Thiên Chúa, nhưng
đến từ con người và là công tŕnh của con
người;
· các tôn giáo ngoài-Kitô vẫn là phương tiện
cứu độ "thông thường,” "cần
thiết theo mức độ" cho những người
sống trong tôn giáo đó, khi họ theo tôn giáo đó với
ư hướng ngay lành.
Câu
trả lời này, cũng có thể được dùng
để trả lời những người cho rằng
các tôn giáo ngoài-Kitô là dụng cụ Thiên Chúa dùng để
cứu độ con người, nhưng đă không
trả lời được vấn nạn về những
sai lầm trong các tôn giáo ngoài-Kitô!
Sự
kiện có các nhà thần bí cũng như có những
điểm giáo lư tương đồng giữa các
tôn-giáo-ngoài-Kitô và Kitô giáo cũng có thể giải thích
ổn thỏa với câu trả lời này, v́ những
điều tốt lành đó đều đến từ
Thiên Chúa- nguồn mọi sự tốt lành.
Một
số nhà truyền giáo quan niệm rằng tất cả
những người không được rửa tội
đều không được cứu độ, nên v́ bác
ái Kitô giáo, họ cố gắng rửa tội cho nhiều
người hết sức có thể, ngay cả khi
đương sự không đồng ư! Ngày nay với quan
niệm về ơn cứu độ các dân ngoại
của Công Đồng Vatican II, người ta tôn trọng
tự do con người hơn, đặc biệt về
khía cạnh tự do tôn giáo.
Theo
Công Đồng, con người có quyền tự do tôn giáo;
nghĩa là, con người không bị lệ thuộc vào áp
lực cá nhân, đoàn thể xă hội hay của bất
cứ quyền bính trần gian nào khác. Không ai bị ép
buộc hành động trái với lương tâm, cũng
không ai bị ngăn cấm hành động theo lương
tâm, dù đó là hành động riêng tư hay công khai, một
ḿnh hay cùng với người khác trong những giới
hạn chính đáng (DH 2).[128]
Dù
con người có quyền tự do tôn giáo[129] và cho dù các tôn-giáo-ngoài-Kitô
cũng là phương tiện cứu rỗi "theo
mức độ,” th́ không phải v́ đó mà Kitô hữu
được lơ là, chểnh mảng việc rao
giảng tin mừng đức Giêsu Kitô cho những
người chưa nhận biết Ngài! Mệnh lệnh
rao giảng Tin Mừng là mệnh lệnh của
đức Giêsu, và như vậy không ai có quyền từ
chối hoặc trốn tránh.
Thực
sự, tiếng những người rao giảng tin
mừng đức Giêsu Kitô đă vang đến cùng trái đất,
nhưng vẫn c̣n nhiều người chưa tin nhận
đức Giêsu! Để tin vào đức Giêsu Kitô, ngoài
việc được nghe rao giảng, c̣n cần ơn
của Thánh Thần Thiên Chúa.
Giả
sử ơn Thánh Thần luôn đủ, th́ sự kiện
nhiều người không chấp nhận tin mừng
đức Giêsu buộc người ta phải suy xét:
gương
mặt đức Giêsu có được tŕnh bày trung
thực khả dĩ có thể chấp nhận không?
hay
gương mặt Ngài đă được tô vẽ theo
kiểu riêng khiến không thể chấp nhận
được?
Trong
phần t́m hiểu về các tôn-giáo-ngoài-Kitô, cùng một
Thực Tại Tuyệt Đối được diễn
tả theo những cách khác nhau của mỗi dân tộc,
mỗi nền văn hóa. Vậy để tin mừng
đức Giêsu Kitô được những người
trong những nền văn hóa khác nhau dễ chấp
nhận, phải tŕnh bày tin mừng đức Giêsu Kitô theo
năo trạng và cách suy nghĩ khả dĩ người ta có
thể chấp nhận được!
Hơn
nữa, nếu các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố
được mặc khải, th́ những người
truyền giáo phải khai thác những điều đó và
cho thấy Tin Mừng đức Giêsu không hủy bỏ
nhưng làm tôn giáo họ đang theo nên trọn hảo! Chính
v́ vậy phải tích cực t́m hiểu, nghiên cứu các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, xem đâu là yếu tố được
mặc khải, đâu là yếu tố con người
nơi các tôn giáo đó. Nếu hiểu được năo
trạng của từng dân tộc và những điều
chân thật nơi tôn giáo họ đang theo, người ta
sẽ tŕnh bày Tin Mừng đức Giêsu sáng sủa và
dễ được chấp nhận hơn!
Như
vậy, công tác truyền giáo trong hoàn cảnh hôm nay bao
gồm cả công tác "hội nhập văn hóa!”
Nhận ra những nét đẹp Kitô giáo nơi các nền
văn hoá và tôn-giáo-ngoài-Kitô là công việc của các thần
học gia của thế kỷ hiện tại, đây là
công việc khó khăn và rộng lớn, đ̣i sự
cộng tác của nhiều người và không thể hoàn
thành một sớm một chiều!
3. Vị thế ưu
việt của đức Giêsu Kitô
Dù
những người sống trong tôn-giáo-ngoài-Kitô không tin
đức Giêsu là Đấng mang lại ơn cứu
độ cho họ, nhưng thật sự, ai
được cứu rỗi cũng được cứu
nhờ đức Giêsu Kitô! Dù người ta biết hay
không biết, đức Giêsu vẫn là điểm tới
của những yếu tố tốt lành nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô. Đức Giêsu là đỉnh cao và là Đấng
hoàn tất mọi mặc khải, kể cả những
mặc khải xảy ra sau biến cố Giêsu Kitô!
Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô là "phương tiện cứu
độ,” mặc dù chỉ là phương tiện cần
thiết theo mức độ, vậy Kitô giáo có c̣n là tôn
giáo trỗi vượt trên các tôn-giáo-ngoài-Kitô không? Và
nếu trỗi vượt th́ trổi vượt về
phương diện nào?
Đứng
trên phương diện nhân loại, nếu so sánh giữa
hai nếp sống của hai người b́nh thường,
một Công giáo, và một ngoại đạo, người
ta thấy khó có thể nói ai sống tốt hơn ai! Chính
v́ nếp sống của người Kitô hữu không làm cho
người ngoại nhận thấy ưu việt tính
của Giáo hội Công giáo nên khi rao giảng Tin Mừng, khi
mời gọi họ tin vào đức Giêsu Kitô,
người ta thường gặp câu trả lời:
"vào đạo để làm ǵ? những người
công giáo đâu có sống tốt hơn chúng tôi!”
Nói
trên nguyên tắc, người Công giáo phải sống
tốt hơn người ngoại, v́ họ lănh nhận
mặc khải trọn vẹn hơn! Kitô hữu phải
sống khác một người ngoại đạo v́
họ thấy ư nghĩa cuộc đời, thấy cùng
đích đời họ rơ hơn. Cứ lư mà nói, người
Công giáo dễ được cứu độ hơn
người ngoại, v́ họ theo con đường
đúng nhất; nhưng thực tế, mỗi
người được cứu độ hay không là do
thái độ sống, cách mỗi người đáp
trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong
cuộc sống hàng ngày! Chắc chắn Giáo hội Công giáo
trổi vượt trên các tôn giáo khác, và điều này
thể hiện đặc biệt trong nội dung mặc
khải. Kitô giáo có những nét mặc khải đặc
thù mà các tôn giáo khác không có!
a.
Những điều không là mặc khải Kitô giáo
Mặc
khải Kitô giáo không là một ngộ thuyết, một tri
thức huyền bí chỉ dành cho một thiểu số
người và không liên quan ǵ đến lịch sử nhân
loại. Mặc khải Kitô giáo cũng không là một
sự khải ngộ đơn thuần của Thần
Khí, thông ban trực tiếp những bí mật thần linh
trên trời. Mặc khải Kitô giáo cũng không là một
kinh nghiệm không rơ ràng về thần linh: một sự
gặp gỡ khôn tả mà người ta không biết nó làm
sao và cũng không biết diễn tả thế nào! Mặc
khải Kitô giáo cũng không là một học thuyết
về con người nhằm bàn về ư nghĩa con
người, cuộc hiện hữu và tiến bộ
của con người.117
b.
Nét đặc biệt của mặc khải Kitô giáo
Mặc
khải Kitô giáo là mặc khải mang tính lịch sử,
xảy ra trong lịch sử và với những biến
cố có lời giải thích. Cuộc Xuất Hành khỏi
Aicập được dân Thiên Chúa xác tín rằng chính Thiên
Chúa là người chủ động trong cuộc ra đi
này. Các tiên tri cũng như bao người (nơi các
truyền thống Yaviste, Eloiste, Đệ Nhị Luật,
tư tế, kư sự) đă suy tư trên những biến
cố này cũng như bao biến cố trong lịch
sử dân Israel và đă nhận ra sự can thiệp của
Thiên Chúa. Mặc khải của Do thái giáo và cũng là
của Kitô giáo xảy ra trong ḍng lịch sử kèm theo
lời giải thích. Mặc khải này có tiến tŕnh là
lời hứa và sự hoàn tất lời hứa trong
lịch sử.[130] Những mặc khải
trong các tôn giáo không-Kitô, tuy cũng xảy ra cho một
người nào đó trong ḍng lịch sử, nhưng không
phải là những biến cố xảy ra nơi lịch
sử của một dân tộc và có thể kiểm
chứng lịch sử này qua khoa học. Có thể nói,
mặc khải Kitô giáo khởi đầu với mặc
khải phổ quát, nhưng với Abrahm, Thiên Chúa đă can
thiệp đặc biệt và trực tiếp hơn
để chuẩn bị cho cuộc tỏ hiện
trọn vẹn của Ngài nơi Đức Giêsu Kitô.
Mặc
khải của Do Thái giáo chưa hoàn toàn là mặc khải
của Kitô giáo. Mặc khải Kitô giáo trổi vượt
nhờ biến cố Giêsu Kitô. Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên
Chúa mặc khải trọn vẹn cho con người.
Đức Giêsu vừa là mầu nhiệm mặc khải,
vừa là mầu nhiệm được mặc khải.
Ngài vừa là người mặc khải, vừa là
đối tượng mặc khải. Không có một tôn
giáo nào mà người sáng lập coi ḿnh là đối
tượng đức tin như Kitô giáo. Nơi Kitô giáo,
gặp gỡ Đức Giêsu là gặp gỡ chính Thiên Chúa:
"ai
thấy Thầy là thấy Cha" (Ga 14:9)
"Thầy
là đường, là sự thật và là sự
sống" (Ga 14:6).
Đức
Giêsu không chỉ là người sáng lập tôn giáo, nhưng
Ngài là chính lịch sử và tuyệt đối trong
lịch sử.[131]
Mặc
khải Kitô giáo với Đức Giêsu Nazarét là điểm
độc đáo trổi vượt trên tất cả các
mặc khải khác, dù đó là mặc khải ǵ đi
nữa và trong bất cứ tôn giáo nào. Mặc khải là việc
Thiên Chúa đi vào ḍng lịch sử con người;
nhưng với biến cố Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa
đă đi vào lịch sử con người, bằng cách
mang lấy thân xác con người: Thiên Chúa là người,
và người này là Thiên Chúa. Đức Kitô là sự hiển
lộ tột đỉnh của Thiên Chúa.[132]
Mặc
khải Kitô giáo là nhiệm cục cứu độ con
người, được chính Thiên Chúa Ba Ngôi thực
hiện. Ngôi Cha khai sáng, ngôi Con thực hiện, và Thánh
Thần nội tâm hoá, hiện thực hoá và bảo
đảm cho mặc khải này được giải
thích cách trung thành. Nhiệm cục này được
chuẩn bị bằng lời hứa, giao ước,
lề luật, đền thờ cũng như bằng
biến cố xuất hành, vào đất hứa, v.v.;
nhưng đặc biệt với các sấm ngôn của
tiên tri, Thiên Chúa đă chuẩn bị cho biến cố
đức Giêsu Kitô là chóp đỉnh mặc khải.
Tất cả mặc khải trong Cựu Ước
của Do Thái đă được biến cố Giêsu Kitô
vượt qua, làm nên trọn.121
Việc bảo toàn mặc khải qua những
đặc ân linh ứng, lưu truyền mặc khải,
giải thích mạc khải. Đây là công tŕnh của Thánh
Thần Thiên Chúa chứ tự sức con người không
làm nổi!
Nhờ
đặc ân linh ứng, lời con người trở
thành Lời Thiên Chúa; và nhờ đặc ân không thể sai
lầm được ban cho huấn quyền trong Giáo
Hội, lời Thiên Chúa được giải thích trung
thành!122 Với
đặc điểm này của mặc khải Kitô giáo, có
thể nói, sở dĩ tôn-giáo-ngoài-Kitô có những sai
lầm là v́ nó không được ban những đặc ân
này.
Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng chứa đựng những yếu
tố mặc khải. Câu khẳng định này không
đưa đến một thái độ lừng
khừng, coi tôn giáo nào cũng tốt như nhau; trái lại
niềm xác tín tính ưu việt của mặc khải Kitô
giáo và Giáo hội Công giáo, giúp Kitô-hữu can đảm và
mạnh dạn đối thoại với các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, nhằm t́m ra đâu là chân lư và giúp mọi
người nhận ra Thiên Chúa trong sự viên măn của
Ngài. Khi xác tín mặc khải Kitô giáo đă được
thể hiện nơi đức Giêsu Kitô, Kitô hữu không
được tự măn cho rằng ḿnh đă khám phá
trọn vẹn những ǵ Thiên Chúa bày tỏ nơi Con
Một Ngài, nhưng phải khiêm nhượng ư thức,
Thần Khí Thiên Chúa có thể hoạt động nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô và cách nh́n của những dân tộc này có
thể giúp khám phá những phong phú của mặc khải
đức Giêsu hơn. Khi nhận ra các tôn-giáo-ngoài-Kitô
sở hữu những yếu tố mặc khải,
Kitô-hữu t́m thấy ư nghĩa của việc đối
thoại với các anh em sống trong tôn-giáo-ngoài-Kitô hơn,
và giúp đối thoại trong niềm hy vọng và tin
tưởng lẫn nhau hơn!
Chúng
ta đă t́m hiểu giá trị cứu độ nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô bằng cách duyệt qua những lập
trường khác nhau trong ḍng lịch sử, sau đó t́m
hiểu vấn đề mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô; chính yếu tố mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô đă giúp nhận ra giá trị cứu
độ của các tôn-giáo-ngoài-Kitô; nhưng không phải
tất cả các tôn giáo đều chứa đựng
những yếu tố mặc khải như nhau, v́ nơi
tôn-giáo-ngoài-Kitô người ta cũng nhận ra những
yếu tố nhân loại! Chính những yếu tố con
người này đă ngăn cản người ta đón
nhận Tin Mừng đức Giêsu Kitô, và nó là nguồn
gốc những sai lầm!
Các
tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố mặc khải
không đồng nhau, nên giá trị cứu độ của
mỗi tôn giáo cũng khác nhau. Nhiệm vụ của chúng ta
trong tương lai là làm sáng "mặc khải trọn
vẹn nơi đức Giêsu" bằng cách t́m ra
những giá trị mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-Kitô, và khi làm được như vậy,
sẽ giúp có nhiều người trong các tôn-giáo-ngoài-Kitô tin
nhận đức Giêsu hơn!
AD MAIOREM DEI GLORIAM
CHO VINH DANH CHÚA HƠN
AMDG
14.12.52
24.05.30
Congar,
Y. Vaste monde ma paroisse, FV 27. Témoignage
Chrétien, 1968.
Cayré,
F. Précis de Patrologie, t. I. Paris 1927.
Conze,
E. Buddhism its essence and development. Oxford 1951.
bản
dịch của Nguyễn Hữu Hiệu. Tinh Hoa và
sự phát triển của Đạo Phật. Vạn
Hạnh 1969.
Cornélis,
E. Valeurs chrétiennes des religions non chrétiennes. Cerf,
1965
Cuttat,
J-A. Expérience chrétienne et spiritualité orientale, FV 56.
DDB, 1967.
Daniélou,
J. Dieu et nous. Paris: Grasset, 1965.
Daniélou,
J. Holy pagans of the Old Testament. Paris 1957.
De
Lubac, H. Dieu se dit dans l’histoire. Cerf, 1974.
De
Surgy, P. Les grandes étapes du mystère du salut. Ouvrières, 1969.
Dournes,
J. trong UNAM SANCTAM 61, pp. 84ss
Drexel,
A. Ngôi Lời Nhập Thể. GHHV, không ngày (cours
ronéotypé).
Đại
Học, bản dịch của Phạm Ngọc Khuê. BGD, 1967.
Éliade,
M. Le sacré et le profane. NRF-Gallimard, 1965.
Heinrichs,
M. Théologie catholique et pensée asiatique. Casterman, 1965.
Hoàng
Sỹ Qúy. Triết sử Ấn Độ, tập I.
Sài G̣n: HGVD, không ngày.
Kinh
Pháp Cú, bản dịch của Thích Trí Đức. Chợ Lớn: Phật Học Viện Trung Phần,
1959.
Kinh
Thư, bản dịch của Thẩm Quỳnh. BGD, 1967.
Kraemer,
H. Religion and Christian Faith. Londres 1956.
Kraemer,
H. Foi chrétienne et les Religions non-chrétiennes. Neuchâtel 1956
Latourelle,
R. Théologie de la Révélation. DDB, 1966.
Latourelle,
R. “La spécificité de la révélation chrétiennes,” STUDIA MISSIONALIA,
vol. 20 (1971). Roma: Gregoriana, 1971.
Masson,
J. Valeurs religieuses de l’Hindouisme, Coll. UNAM SANCTAM 61, pp.161ss
Nàrada,
M.T. Buddha and his teachings, bản dịch của
Phạm Kim Khánh, Đức Phật và Phật Pháp. Sài G̣n
1971.
Panikkar,
R. Le mystère du culte dans l’Hindouisme et le Christianisme. Cerf,
1970.
Parrinder,
G. “Revelation in others Scriptures,” trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20.
Roma: Gregoriana, 1971.
Rahner,
K. Visions and Prophecies, Coll. QUESTIONES DISPUTATAE 10.
Freiburg: Herder, 1963.
Schlette,
H.R. Towards a Theology of Religions, Coll. QUESTIONES DISPUTATAE 14.
London 1966.
Trương
Vĩnh Thành. Pháp Chính Truyền, La constitution religieuse du
Caodaisme. DERVY 1953.
Thils,
G. Propos et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes.
Casterman, 1966.
Trung
Dung, bản dịch của Tạ Thanh Bạch. Sài G̣n: Khai Trí, 1960.
Walgrave,
JAN-HENDRIK. Un salut aux dimensions du monde. Cerf, 1970.
Zaehner, R. C. Hindu and Muslim mysticism. London: Athlone
Press, 1957
Zaehner, R. C. Mysticism sacred and profane. Oxford:
Clarendon Press, 1957
[1] Cf. H. R. Schlette, Toward a theology of
religions, pp. 41 ss
[2] Tiếng Hy Lạp từ chữ
holos; tiếng Đức từ chữ heil, heel; tiếng Ba
Tư từ chữ haurvatat; tiếng Phạn từ chữ
Sarva; tất cả những chữ này đều có
nghĩa là "tất cả.”
[3] J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du
monde, pp. 57.112.11
[4] H. R. Schlette, Toward a theology of
religion, p. 16
[5] Cf. M. Heinrichs, Théologie catholique et
pensée asiatique, p. 79
[6] H. R. Schlette, Toward a theology of
religion, p. 25, ghi chú 9
[7] H. Kraemer, Religion and Christian Faith,
Londres 1956, pp. 54-56
trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, pp. 44-45
[8] M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée
asiatique, p. 79 ghi chú 11
[9] Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 140
[10] Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 140
F. Cayré, Précis de Patrologie, t.I, p. 124
[11] Augustinus, De doctrina christiana, l. II, c.
40, n. 60; PL. t. 34, c. 63
Cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie
des religions non chrétiennes, p. 43
[12] Ngài chỉ được rửa
tội năm 387, nghĩa là 33 năm sống trong lầm
lạc.
[13] FULGENCE DE RUSPE, De Fide ad Patrum, 38. 39
Trích bởi Y. Congar, Vaste monde ma paroisse,
p. 111
[14] St. Thomas, ST., IIa-IIae, q. 10, a. 11 cf.
G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, p.
42
[15] St. Thomas, ST., IIa-IIae, q. 18, a. 4, ad.
3m cf. G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 42
[16] H. Kraemer, op. cit., pp. 67-68 trích
bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non
chrétiennes, p. 45
[17] G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie
des religions non chrétiennes, p. 42 trích P. AUBRY, Les chinois chez eux, DDB.
1889, pp. 139ss
[18] J. WITTE, Die Christusbotschaft und die
Religionen, GOTTINGEN 1936, p. 75
[19] Bài viết của Jacque Dournes trong
UNAM SANCTAM 61, p. 84. Nhưng theo H. R. Schlette, thần học
truyền giáo không chỉ đạo thần học về
các tôn giáo mà đúng ra phải ngược lại, v́
thần học truyền giáo chỉ xuất hiện ở
một thời điểm cứu độ (cf. H. R.
Schlette, Toward a theology of religion, p. 26).
[20] H. LAMMENS, Mahomet fut-il sincère, trong
Rech. Sciences religieuses, 2 (1911), trang 25-53. 140-166, trích bởi G.
Thils, Propos et Problèmes de la théologie des religions non chrétiennes, p. 42
[21] Cf. M. Heinrichs, Théologie catholique et
pensée asiatique, p. 81
[22] H. Kraemer, Foi chrétienne et les Religions
non-chrétiennes, pp. 76-77, trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, pp. 46-47
[23] H. R. Schlette, Toward a theology of
religion, p. 29
[24] Lacombe Olivier, Râmânuja, approaches de
l’Inde, CAHIER DU SUD 1949
Lacombe Olivier, La Mustique naturelle et l’Inde,
REVUE THOMISTE 1951
R. C Zaehner, Hindu and Muslim mysticism, London:
Athlone Press, 1957
R. C. Zaehner, Mysticism sacred and profane,
Oxford: Clarendon Press, 1957
L. Massignon, La passion de al-Hallâj, martyr
mystique de l’Islam, 2 vol., Paris 1922
[25] J. Daniélou, Holy Pagans of the Old
Testament,
[26] các tôn giáo khác có những chân lư là
do các tôn giáo ấy đă mượn những tư
tưởng đó nơi luật Môsê và Tân Ước.
[27] J. Daniélou, Dieu et nous, Paris 1956, p. 17
[28] J. Daniélou, op. cit., pp. 17-18. Lư
thuyết coi các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những rơi rớt
của mặc khải tiên khởi được Van der
Leeuw phê b́nh và bác bỏ trong tác phẩm La Religion dans son
essence et ses manifestation, p. 157
[29] H. R. Schlette, Toward a theology of
religion, p. 36 trích H. De Lubac, Catholicisme, pp. 146-160
[30] Justin , Apol. I, 46; BKW. XII, 59 trích
bởi M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, pp. 105 ss
[31] Athénagore, Legat, 5-6 PG. VI, 900-904
[32] Irénée, Adversus Haereses, 4, 28, 3 PG. t. 7,
1062 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 65
[33] Clément d’Alexandrie, Stromates, I, 5 PG. t.
8, c. 717-720 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 66
[34] Clément d’Alexandrie, Stromates, VII, 2. PG.
t. IX, 409-410 trích bởi G. Thils, op. cit., p. 66
[35] Clément d’Alexandrie, Stromates, 6, 5; PG. 9,
c. 262 ss trích bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 106
[36] Jean Chrysostome, In Cap. IX Gen. homelia 28,
n. 2; PG. t. 53, c. 254 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 72
[37] G. Thils, ibidem
[38] St Augustinus, Civitate Dei, 6, 4sst; PL. 40,
c. 180 ss trích bởi M. Heinrichs, op. cit., p. 80
[39] St. Bernard, Tractatus de Baptismo, Cap. 1,
n. 4; PL. t. 182, c. 1034 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 73
[40] G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie
des religions non chrétiennes, p. 50
cf. Br. Decker, Nicolaus van Cues und der Friede
unter den Religionen trong J. Koch, Studien und Texte zur Geistesgeschichte des
Mittelaltres, t. III, Cologne: Lieden, 1953
[41] Nicolaus Von Kues, Ueber den Frieden in
Glauben, Leipzig 1943, p. 91 trích bởi M. Heinrichs, Théologie catholique
et pensée asiatique, p. 81, ghi chú 17
[42] H. Bernard, Le P. M. Ricci et la société
chinoise de son temps, 2 vol., Tientsin 1937
J. Miranda, The introduction of christianity into
the heart of India, or Robert de Nobili’s mission, Trichinopoly 1923
[43] R. Guardini, Der Herr, Wurzburg 1949, p. 355
trích bởi M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée asiatique, 106
[44] cf. Y. Congar, Vaste monde ma paroisse,
Témoignage Chrétien 1968 FV. 27, p. 40 gc. 1
[45] Piô XII, Diễn từ cho các cô
đỡ, ngày 29. 10. 1951, DC. 1951 col. 1480 trích trong Y. Congar,
Vaste monde ma paroisse, p. 141
[46] H. Ohm, Die Liebe zu Gott in den
nichtchristliche Religionen. Die Tatsachen der Religionens geschichte und die
christliche Theologie, Krailing Vor Munchen 1950, p. 442 trích bởi Y.
Congar, Vaste monde ma paroisse, p. 141
[47] K. Rahner, Mensch, trong Lex. f. Th. und K,
col. 292 trích bởi Étienne Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions
non-chrétiennes, p. 46
[48] H. R. Schlette, Toward a theology of
religion, p. 30
[49] Ibidem, pp. 36-37
[50] Ibidem, p. 67
[51] Ibidem, p. 70
[52] Ibidem, p. 70-71
[53] Ibidem, p. 71-72
[54] Ibidem, p. 74
[55] Ibidem, p. 76 Thực ra với giao
ước Noê, chúng ta thấy liên hệ với vấn
đề cứu rỗi của các dân ngoại, chứ
không phải vấn đề ơn cứu rỗi nhờ
các tôn-giáo-ngoài-Kitô.
[56] Ibidem, p. 77
[57] Ibidem, pp. 78. 79-81 Theo thiển
kiến, các tôn-giáo-ngoài-Kitô (hiểu như những hành
động phượng tự của con người
được biểu lộ cách xă hội) là điều
Thiên Chúa muốn và qua những hành động đó con
người được cứu. Nhưng vói những tôn
giáo hiện tại- xét như một hệ thống tự
coi ḿnh là đủ (autosuffisant), đóng kín với tin
mừng đức Giêsu Kitô- th́ không thể coi là
điều Thiên Chúa muốn được. Khi này nó đă
bị hành vi thuần túy của con người bóp méo, nên
không có giá trị cứu độ, mà đôi khi c̣n ngăn
cản ơn cứu độ nữa.
[58] Ibidem, pp. 80-81
[59] Ibidem, p. 83
[60] Ibidem, p. 86
[61] Ibidem, p. 87
[62] Ibidem, pp. 93 ss
[63] Ibidem, pp. 94-95
[64] Ibidem, p. 98
[65]Ibidem, pp. 100-101
[66]Ibidem, p. 80
[67]J. H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde,
Cerf, 1970, p. 171
[68]N. Jung, art. "Révélation,” DICT. THÉOL.
CATH., t. 13, c. 2586 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 84
[69]K. Barth, Dogmatique, vol. II, t. 2 Gottes
Offenbarung als Aufhebung der Religion trích bởi G. Thils, op. cit., p.
46
[70]L. S. Thornton, Revelation in the modern world,
Oxford: University Press 1950, pp. 60. 194 trích bởi G. Parrinder,
Revelation in other Scriptures, trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20, Roma:
Gregoriana 1971
[71]G. Parrinder, ibidem, p. 103
[72]Paul VI, Ecclesiam suam, n. 72 trích bởi H.
De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire, p. 29
[73] Révélation primitive
[74]G. Thils, Propos et Problèmes de la théologie des
religions non chrétiennes, p. 100
[75]R. Latourelle, Théologie de la Révélation, pp.
362-363 cité par G. Thils, op. cit., p. 13
[76]R. Latourelle, "La spécificité de la
révélation chréchienne," p. 47
[77]J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du monde, p.
171
[78]Ibidem
[79]K. Rahner, Visions and Prophecies, pp. 19-20. 23
[80]Ibidem, p. 24
[81]Ibidem, p. 24-25
[82] Mặc khải riêng tư có tính
tiên tri.
[83]Ibidem, p. 27
[84]Ibidem, p. 13
[85]Ibidem, p. 19
[86]Ibidem, p. 23
[87] Khi có tiêu chuẩn khác th́
người ta có cách phân chia và có tên gọi khác, chẳng
hạn như theo thời gian th́ có mặc khải tiên
khởi, mặc khải thời Cựu Ước, mặc
khải Tân Ước...
[88]E. Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions
non-chrétiennes, p. 31 trích bởi G. Thils, Propos et Problèmes de la
théologie des religions non chrétiennes, p. 109
[89]A. M. Wensinck, The muslim Creed, 2nd. édition,
London: CASS, 1965, p. 189 trích bởi G. Parrinder, art. cit., STUDIA
MISSIONALIA, vol. 20, pp. 101-102
[90]Th. P. Van Baaren, Voorstellingen van openbaring,
phaenomenologisch beschouwd, Utrecht 1951 trích bởi J-H Walgrave, Un
salut aux dimensions du monde, p. 170
[91] mặc khải triết lư và
mặc khải huyền nhiệm tiên tri
[92] mặc khải lịch sử
với lời giải thích, và mặc khải nơi Giêsu
Kitô.
[93] Mặc khải triết lư,
được các giáo phụ cho là công tŕnh của Logos
spermatikos.
St. Justin, Apol. I, 46; II, 10. 13 trích bởi
G. Thils, op. cit., pp. 96ss
Cf. R. Holte, Logos spermatikos, STUDIA THEOLOGICA
12 (1958), pp. 109-168.
[94] giáo sư tại đại
học giáo hoàng Grégoriana ở Roma.
[95] R. Latourelle, “La spécificité de la
révélation chrétienne,” p. 69
[96] M. Éliade, Le sacré et le profane,
nrf-Gallimard 1965, p. 15
[97]É. Cornélis, Valeurs chrétiennes des religions
non-chrétiennes, Cerf, 1965, p. 58
[98]A. Holpiau, Pourquoi tant de religions, Paris 1955,
pp. 58ss
cf. M. Heinrichs, Théologie catholique et pensée
asiatique, pp. 72-73
[99] Người không ưa cho đây
là lập trường ba phải, người chấp
nhận lại cho đây là lập trường bao dung.
[100] Hữu năng điển
trẫm tam lễ. Tam lễ ở đây là tế trời,
tế đất, tế bách thần.
Kinh Thư, Thuấn Điển, 23;
bản dịch của Thẩm Quỳnh, p. 53
[101] Giao Xă chi lễ, sở dĩ
sự Thượng Đế giă.
Trung Dung, 19; bản dịch của
Tạ Thanh Bạch, p. 43
[102] Kinh Thư; bản dịch của
Thẩm Quỳnh, pp. 214-218
Tôi là tiểu tử đă dùng
được người có ḷng nhân, dám xin kính thưa ư
Đấng Thượng Đế để dẹp thời
loạn (Vũ Thành 2); Kính theo mệnh trời, nên ta
đến phương đông dẹp loạn, để
dàn ông, đàn bà, dân gian được vui (Vũ Thành 8).
[103] Đại Học, bản dịch
của Phạm Ngọc Khuê, pp. 14-16
[104] Làm sao để biết mệnh
Trời, ư Trời?
Vua Thành Vương t́m ư Trời
bằng cách coi bói rùa: "Ninh Vương di ngă đại
quy bảo, thiệu thiên minh tức mệnh viết. . .
" (Vua Ninh Vương- tức Vũ vương-
để lại cho ta con rùa to rất quư, dùng để xem
mệnh trời, định các việc xấu tốt)
cf. Kinh Thư, Đại các 3, bản
dịch của Thẩm Quỳnh, p. 253
[105]cf. J-H. Walgrave, Un salut aux dimensions du
monde, p. 44
[106]Kena-Upanisad, I, 3 trích bởi Hoàng Sỹ
Quư, Triết sử Ấn Độ, tập I, p. 33
[107]Svetâsvatara-Upanisad III, 9, 19
[108]Brhad Ar. Up., IV, 5, 3-6 trích bởi J.
Masson, Valeurs religieuses de l’Hindouisme, UNAM SANCTAM 61, pp. 16ss
[109]Ibidem, Brhad Ar. Up., I. 3, 28
[110]Kinh pháp cú, c. 276 dịch giả Thích Trí
Đức. cf. Nàrada M. T., Buddha and His teachings, bản
dịch của Phạm Kim Khánh, đức Phật và
Phật pháp, p. 291
[111]NARADA M. T., op. cit, pp. 289-290
[112]Ibidem, p. 291
[113]E. Conze, Buddhism its essence and development,
Oxford 1951; bản dịch của Nguyễn Hữu Hiệu,
Tinh Hoa và sự phát triển của đạo Phật,
Vạn Hạnh -SG. 1969, p. 71
[114]Ibidem, p. 77
[115] Trước người ta cho
rằng đó là con đường duy nhất để
được cứu độ.
Để thấy rơ hơn giá trị tôn
giáo của Phật giáo, có thể đọc lại các sách
của E. Cornélis và J. Masson, J. Cuttat trong những sách đă
trích dẫn trong bài này.
[116]Phối Sư Trương Vĩnh
Thành, Pháp Chính Truyền, la constitution religieuse du Caodaisme, DERVY
1953, p. 14
[117]J. Daniélou, Dieu et nous, Paris: Grasset 1956, p.
16
[118]cf. G. Parrinder, “Revelation in other Scriptures,”
p. 104
[119] R. Latourelle, “La spécificité de la
Révélation chrétienne,” pp. 72-73
[120] Ibidem, p. 73
[121] H. De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire, pp.
88-89
[122] Cf. R. C Zaehner, At sundry times, Londres
1958, p. 184
trích bởi J-H Walgrave, Un salut aux
dimensions du monde, p. 173
Xem thêm ư kiến của một số
thần học gia công giáo họp tại Bambay
được J. Neuner xuất bản với tựa
đề Christian Revelation and World Religions, tại London.
[123] H. De Lubac, Dieu se dit dans l’histoire,
Cerf, 1974, p. 85
[124] Xem thêm ư kiến về các
tôn-giáo-ngoài-Kitô của P. De Surgy, Les grandes étapes du mystère du
salut, Ouvrières 1969, pp. 201-202
[125] Kirato Nishida, A Study of Good, Tokyo 1960,
pp. 212. 216
Kirato Nishida, Intelligibility and the philosophy
of nothingness, được dịch và giới thiệu
bởi Schinzinger. Trích bởi M. Heinrichs, Théologie catholique et
pensée asiatique, pp. 27-28
[126] Cf. R. Panikkar, Le mystère du culte dans
l’Hindouisme et le Christianisme, COGITATIO FIDEI 53, Cerf 1970.
[127] Cha A. Drexel, giáo sư tại Giáo
Hoàng Học Viện Piô X Đàlạt, cho rằng: "Hồi
giáo công nhận một mặc khải nào đó, và cũng chứa
đựng những yếu tố mặc khải, nhưng
xét toàn thể, nó không phải là một tôn giáo mặc
khải, và phần lớn do con người tạo ra."[127] Như
đă nói, các tôn-giáo-ngoài-Kitô có những yếu tố nhân
loại và những yếu tố mặc khải, có tôn giáo
có nhiều có tôn giáo có ít. Tôn giáo nào có nhiều yếu
tố mặc khải th́ có nhiều giá trị cứu
độ hơn.
[128] Với ánh sáng của nền
thần học các tôn-giáo-ngoài-Kitô, các nhà truyền giáo có
thể an tâm không sợ những người theo
tôn-giáo-ngoài-Kitô sa hỏa ngục, bởi v́ các
tôn-giáo-ngoài-Kitô cũng là phương tiện cứu
độ cho những người sống trong tôn giáo
đó!
[129] Nghĩa là được phép và có
bổn phận phải t́m kiếm Thiên Chúa và theo tôn giáo nào
ḿnh thấy đúng nhất.
117 R. Latourelle, “La spécificité de la
Révélation Chrétienne,” p. 42
[130] Ibidem, pp. 48-49
[131] Ibidem, p. 53
[132] Ibidem, pp. 50-51
121 Ibidem, pp. 58. 54
122 Ibidem, p. 55
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng