HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
THIÊN
CHÚA BA NGÔI
|
CCL |
Corpus Christianorum, Series Latina, Tournholt 1953ff. |
|
COD |
Conciliorum oecumenicorum decreta, ed. J. Alberigo et
al., Bologna 1973. |
|
DS |
H. Denzinger and A. Schönmetzer (eds.), Enchiridion symbolorum,
definitionum et declarationum de rebus fidei et morum, Freiburg 331965 |
|
GCS |
Die griechischen christlichen Schriftsteller der ersten drei
Jahrhunderte, Leipzig 1897 ff. |
|
GLCG |
Giáo Lư Hội Thánh Công Giáo. Ṭa Tổng Giám Mục Tp
Hồ Chí Minh xuất bản. Tp HCM, 1998. |
|
ND |
J. Neuner and J. Dupuis (eds), The Christian Faith in the Doctrinal
Documents of the Catholic Church, Staten Island, NY 1982 |
|
SC |
Sources chrétiennes, Paris 1941ff |
NHỮNG VIẾT
TẮT..................................................... 4
MỤC
LỤC................................................................. 5
DẪN
NHẬP............................................................... 9
I. KHẢ NĂNG BIẾT VÀ DIỄN
ĐẠT THIÊN CHÚA............... 13
A. BIẾT THIÊN
CHÚA................................... 13
1. Lập trường
“không thể biết Thiên Chúa”.... 13
a. Tri thức luận hàm
chứa “không thể biết Thiên
Chúa” 13
b. Lập trường “Thiên
Chúa không hiện hữu”... 19
2. Lập trường
“biết Thiên Chúa”.................. 23
a. Tri thức luận hữu
thần.................................. 23
b. Biết “Thiên Chúa hiện
hữu”......................... 27
3. Tri thức tự
do...................................... 29
a. Tinh thần- hiện
hữu tự do............................. 29
b. Hiện hữu tự
do.............................................. 31
c. Tinh thần nhập
thể........................................ 33
B. TIN LÀ
BIẾT........................................... 39
1. Niềm tin nền
tảng của khoa học.............. 39
a. Niềm tin phủ nhận
tri thức khoa học............ 41
b. Niềm tin nơi
người chấp nhận khoa học...... 44
c. Chân lư và khoa
học..................................... 45
2. Niềm tin nền
tảng của siêu h́nh.............. 49
a. Niềm tin phủ nhận
mọi tri thức siêu h́nh..... 50
b. Niềm tin phủ nhận
Thiên Chúa hiện hữu..... 51
c. Niềm tin Có Thực
Tại Tuyệt Đối Siêu Việt. 53
C. CHÂN
LƯ............................................... 56
1. Chân lư- thuộc tính
của phán đoán........... 56
a. Phán đoán là tri
thức..................................... 56
b. Biết do lănh hội
bằng trực giác..................... 57
c. Biết do
tin..................................................... 58
2. Sự
thực............................................. 61
a. Hiện hữu phi
ngă.......................................... 61
b. Ngôi
vị.......................................................... 62
3. Ngôn ngữ diễn
đạt thực tại.................... 62
II. THIÊN
CHÚA...................................................... 65
THIÊN CHÚA TỰ
HỮU.................................. 65
THIÊN CHÚA TRỌN
HẢO.............................. 65
THIÊN CHÚA- ĐẤNG SÁNG
TẠO..................... 68
THIÊN CHÚA- ĐẤNG
TỐT LÀNH..................... 68
THIÊN CHÚA- ĐẤNG
MẶC KHẢI...................... 72
III. THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI DO THÁI
GIÁO..................... 74
THIÊN CHÚA- ĐẤNG
TUYỂN CHỌN ABRAHAM... 74
Thiên Chúa- Đấng
Mời Gọi......................... 74
Thiên Chúa- Đấng Luôn
Lập Lại Lời Hứa....... 75
Thiên Chúa- Đấng
Đối Xử Thân T́nh Với
Abraham 75
Thiên Chúa- Đấng
Đ̣i Hỏi......................... 76
Thiên Chúa- Đấng
Ở Với Các Tổ Phụ............ 76
Thiên Chúa Của Abraham,
Isaac, và Giacóp... 77
THIÊN CHÚA- ĐẤNG
GIẢI PHÓNG DÂN............ 79
Thiên Chúa Can Thiệp Vào
Ḍng Lịch Sử Do Thái 79
Thiên Chúa- Đấng
Cảm Thương.................. 79
Thiên Chúa- Đấng
Giải Phóng..................... 79
Thiên Chúa- Đấng Ban
Thập Giới................ 80
Thiên Chúa- Đấng Yêu
Thương và Nói Qua Trung
Gian 81
THIÊN CHÚA- ĐẤNG
THÀNH TÍN.................... 81
Thiên Chúa Ở Với Các
Thẩm Phán............... 82
Thiên Chúa Hành Động
Qua Các Thẩm Phán. 82
THIÊN CHÚA NHƯ CHA NHƯ
ME.................... 84
THIÊN CHÚA- ĐẤNG LÀM
CHO SỐNG.............. 84
THIÊN CHÚA- NGUỒN KHÔN
NGOAN.............. 85
IV.NIỀM TIN “CHA-CON-THÁNH THẦN”
NHƯ DỮ KIỆN..... 88
A. NIỀM TIN
“ĐỨC GIÊSU KITÔ NGỰ BÊN HỮU THIÊN
CHÚA” 89
1. Đức Giêsu-
Người Nazarét...................... 89
2. Đức Giêsu
Phục Sinh- Lên Trời Ngự Bên Hữu Thiên
Chúa 90
B. THÁNH THẦN-
ĐẤNG TRỢ GIÚP................. 91
C. NIỀM TIN “CHA- CON-
THÁNH THẦN”.......... 93
1. Trong bản văn Tân
Ước......................... 94
a. Phụng Tự Phép
Rửa...................................... 94
b. Vinh Tụng
Ca............................................... 94
c. Lời Cầu Nguyện............................................ 96
2. Trong các chứng
từ khác....................... 96
a. Phụng Vụ Phép
Rửa...................................... 97
b. Phụng Vụ Thánh
Thể.................................... 99
V. SUY TƯ GIẢI THÍCH VỀ THIÊN
CHÚA...................... 100
A. NGƯỜI THEO
NGỘ THUYẾT..................... 101
B. NHẤT CHỦ
THUYẾT............................... 103
1. H́nh Thái Thuyết................................ 103
2. Hạ Phục
Thuyết................................. 103
C. THIÊN CHÚA BA
NGÔI............................ 104
VI. SỰ THẬT TỎA
SÁNG.......................................... 107
A. GIẢI THÍCH KINH
THÁNH........................ 108
1. Hạ Phục
Thuyết của Arius..................... 109
2. Công đồng
giải thích Kinh Thánh............ 111
3. Vấn đề
đặt lại do ngôn ngữ hàm hồ........ 113
B. CÙNG MỘT ĐỨC
TIN DÙ KHÁC TỪ NGỮ..... 114
C. FIDES QUAERENS
INTELLECTUM.............. 117
a. Biệt
gán....................................................... 117
b. Tương
tại.................................................... 118
c. Phải chăng có số
đếm nơi Thiên Chúa....... 120
d. Thiên Chúa là tất cả Ba
Ngôi (Augustine). 120
e. Ngôi vị là tương
quan bản thể (Thomas
Aquinas) 128
f.
Filioque....................................................... 131
VII. THIÊN CHÚA LÀ T̀NH
YÊU................................. 141
A. THIÊN CHÚA LÀ T̀NH
YÊU...................... 141
1. Ad Intra: Nên Một
Với Nhau.................. 141
2. Ad Extra: Yêu
Thương Con Người........... 145
Thương cảm lắng
nghe tiếng kêu cầu............. 145
Tha
thứ............................................................ 145
Gần gũi và săn
sóc.......................................... 147
Dạy
dỗ............................................................ 148
Mời gọi nên
thánh........................................... 149
B. THIÊN CHÚA LÀ
CHA.............................. 149
Đấng tạo
thành................................................ 150
Đấng tốt
lành.................................................. 151
Nguồn hy
vọng............................................... 153
Cha của Đức Giêsu
Kitô................................. 154
C. THIÊN CHÚA LÀ CON............................. 155
1. Anh Em Bảo Thầy
Là Ai........................ 157
Đấng luôn cầu
nguyện cùng Thiên Chúa....... 157
Ngang hàng với Thiên
Chúa........................... 159
Hiện hữu trước
khi được sinh ra..................... 160
2. Đấng Mặc
Khải Thiên Chúa................... 161
Đức Giêsu yêu
thương con người vô cùng.... 161
Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng... 162
D. THIÊN CHÚA LÀ THÁNH
THẦN................. 163
Quà tặng của Thiên
Chúa............................... 163
Đấng làm
sống................................................ 165
Đấng thánh
hóa............................................... 166
E. MỘT THIÊN CHÚA BA NGÔI
VỊ................. 167
Ba Ngôi Vị Một Thiên
Chúa.......................... 167
Nên một với Thiên Chúa................................ 169
Ba Ngôi Thiên Chúa là
mẫu........................... 171
CÂU HỎI TRAO
ĐỔI............................................... 173
THƯ
MỤC............................................................. 176
Giáo tŕnh Thiên Chúa Ba Ngôi này
được tŕnh bày như kinh nghiệm một Kitô
hữu truy t́m đức tin vào Thiên Chúa. Đức tin
một tín hữu có là đức tin họ đă lănh nhận
từ những con người, từ Giáo Hội mà họ
và những người thân yêu thuộc về.
Người
Việt Nam đầu tiên tin nhận Đức
Giêsu Kitô là Thiên Chúa, là nhờ có các nhà truyền giáo
đến rao giảng. Đức tin mà những nhà
truyền giáo đầu tiên tới
Việt Nam cũng do cha ông nhà truyền giáo đó
truyền lại. Nếu đi lần lên cội nguồn,
người ta bắt gặp đức tin của Hội
Thánh sơ khai, của các tín hữu đầu tiên là các tông
đồ.
Tài liệu cổ mà con người
ngày nay có được diễn tả đức tin
của Kitô hữu sơ khai là bộ Kinh Thánh gồm cả
Cựu lẫn Tân ước. Trong giáo tŕnh này, những sách
kể trên nhiều khi được dùng như những
tài liệu cổ cung cấp cho người thời nay
những chứng từ ghi nhận niềm tin của các
tín hữu sơ khai.
Niềm tin của các tín hữu vào
Đức Giêsu như một Thiên Chúa, là một dữ
kiện. Làm sao để giải thích! Những tín hữu
trí thức lư giải làm sao niềm tin này có thể dung
hợp với đức tin sẵn có của họ.
Nếu Đức Giêsu và Thánh Thần là Thiên Chúa, phải
chăng là có ba Thiên Chúa? Điều này không thể chấp
nhận được v́ trái với đức tin của
mọi tín hữu Kitô, và trái với đức tin của
chính Đức Giêsu: “nghe đây hỡi Israel,
Đức Chúa, Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hăy
yêu mến Đức Chúa, là Thiên Chúa của anh em, hết
linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực
ngươi” (Đnl.6, 4). Kitô hữu tin Đức Giêsu là
Thiên Chúa, nhưng đồng thời phải bảo vệ
niềm tin “Thiên Chúa duy nhất” của mọi tín hữu,
và của chính Đức Giêsu.
Để bảo vệ niềm tin
độc thần, một số người cho rằng
Đức Giêsu chỉ là một dạng khác của chính
Thiên Chúa. Thiên Chúa khi là Thiên Chúa sâu thẳm khôn ḍ trong Cựu
Ước, khi là Đức Giêsu trong ḍng lịch sử.
Thiên Chúa lúc là Cha, lúc là Con. Những người chủ
trương như vậy, bị các nhà thần học
chính thống sau này đặt cho một cái tên “h́nh thái
thuyết” (modalism). Nghĩa là, Thiên Chúa mặc những h́nh
thái khác nhau tuy rằng cùng một thực tại.
Cũng để bảo vệ
niềm tin độc thần, một số Kitô hữu
khác cho rằng tuy dù gọi Đức Giêsu là Thiên Chúa,
nhưng Ngài là Thiên Chúa hạng hai. Ngài kém Thiên Chúa “thật”
tuy dù Ngài được sinh ra trước thời gian, Ngài
được nhận là Con Thiên Chúa theo nghĩa rất
đặc biệt. Dựa vào Kinh Thánh (Ga 14, 28), họ cho
rằng chính Đức Giêsu cũng khẳng định
điều này. Đây là chủ trương của Arius và
những người theo lập trường của ông. Lư
thuyết này được các thần học gia chính
thống gọi là “hạ phục thuyết” (subordinationism).
Lập trường của Arius
rất khó bắt bẻ v́ ông nhận tất cả
những danh xưng của Kitô hữu sơ khai nói về
Đức Giêsu. Ông chỉ giải thích Đức Giêsu
như một Thiên Chúa kém hơn Thiên Chúa Cha thôi. Công đồng
chung đă được triệu tập để giúp các
Kitô hữu hiểu đúng về niềm tin của ḿnh.
Lối giải thích của Arius khác với niềm tin
truyền thống của các Kitô hữu trước đó.
Thiên Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần. Thiên
Chúa là Thiên Chúa Ba Ngôi Vị. Con và Thánh Thần đồng
bản tính với Cha. Đó là diễn tả về Thiên
Chúa, là đức tin tông truyền của Kitô hữu
mọi thời đại.
Giáo tŕnh này gồm bảy phần.
Phần thứ nhất như một dẫn nhập
căn bản để nói về Thiên Chúa, phần thứ
hai về Thiên Chúa như lư trí nhận biết qua thiên nhiên,
phần ba về Thiên Chúa đối với người
theo Do Thái giáo, phần thứ tư ghi nhận niềm tin
“Cha, Con, và Thánh Thần” như dữ kiện, phần
năm những giải thích về niềm tin “Cha, Con, và
Thánh Thần” này, phần sáu sự thật được
làm sáng tỏ, và phần bảy một suy tư tổng
hợp.
I. KHẢ
NĂNG BIẾT VÀ DIỄN ĐẠT THIÊN CHÚA
Ai cũng phải nhận rằng
nếu thực sự Thiên Chúa hiện hữu, mà con
người phủ nhận, cho rằng Ngài không hiện
hữu, th́ Ngài vẫn hiện hữu. Nói cách khác, nếu
Thiên Chúa hiện hữu th́ Ngài hiện hữu khách quan không
tùy thuộc con người[1].
1.
Lập trường “không thể biết Thiên Chúa”
Nếu thực sự Thiên Chúa hiện
hữu và con người biết Ngài hiện hữu, th́
điều này hàm chứa con người có khả năng
biết Thiên Chúa. Nói cách khác, nếu minh chứng
được Thiên Chúa hiện hữu thực sự, là
chứng minh được "con ngưới có khả
năng biết Thiên Chúa".
a. Tri thức luận hàm
chứa “không thể biết Thiên Chúa”
"Thiên Chúa hiện hữu",
điều này không được tất cả mọi
người chấp nhận. Lược sơ qua lịch
sử tư tưởng, người ta ghi nhận có
những lập trường khác biệt.
i. Gongias (483-375)
Gorgias chủ trương "không có
ǵ cả", v́ hư vô và hữu thể đều không
thể là những dữ kiện cho cảm giác
được; giả như có ǵ đi nữa,
người ta cũng không thể biết được;
giả như có biết được ǵ đi nữa,
người ta cũng không thể diễn tả chúng
nổi[2].
Như vậy Gorgias phủ nhận tri
thức ngoài tri thức giác quan; phủ nhận tương
quan giữa hữu thể, phủ nhận tương quan
giữa lư trí và vạn sự vạn vật, giữa ngôn
ngữ và hữu thể.
ii. Chủ thuyết hoài nghi
Những người theo chủ
thuyết hoài nghi chấp nhận có sự chắc chắn
chủ quan, nhưng họ cho rằng không thể chứng
minh giá trị khách quan của phán đoán, và như vậy
không thể có sự chắc chắn tuyệt đối
rằng một phán đoán là đúng[3].
Agrippa tóm luận lư của những
người theo thuyết hoài nghi bằng năm mệnh
đề như sau:
· Nếu một người theo
thuyết giáo điều khẳng định một
điều, th́ luôn luôn người khác có thể phủ
nhận nó (mâu thuẫn);
· Nếu người ta muốn
chứng minh nó bằng một nguyên tắc khác, th́
người khác có thể phủ nhận nguyên tắc này,
và cứ như vậy (diễn tiến đến vô cùng);
· Nếu người ta cho rằng
một trong những nguyên tắc này là hiển nhiên không
cần chứng minh, như vậy nguyên tắc đó
chỉ có vẻ chân thực thôi, nếu không th́ phải
chứng minh (tính tương đối);
· Nếu người ta từ chối
chứng minh nó, th́ nguyên tắc đó chỉ là một
giả thiết có thể được tranh căi;
· Nếu người ta muốn
chứng minh nguyên tắc đó, th́ phải có một tiêu
chuẩn để chứng minh nó, và người ta lại
phủ nhận tiêu chuẩn này. Như vậy lại
trở lại như khởi đầu[4].
Chủ thuyết hoài nghi không chấp
nhận cái ǵ là thật, không chấp nhận một tiêu
chuẩn nào để phán đoán.
Không thể chấp nhận nguyên
tắc của những người theo thuyết hoài nghi.
Để phản bác thuyết hoài nghi, thánh Augustin đă cố
gắng chứng minh một chân lư, để qua đó
chứng minh thuyết hoài nghi là sai lầm. Chứng minh
của thánh nhân như sau: "Tôi sai lầm, vậy tôi
hiện hữu". Sau này Descartes cũng làm tương
tự: "Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu"[5]. Nói cho cùng, những
người theo chủ thuyết hoài nghi vẫn không
chấp nhận lập luận của thánh Augustine và
của Descartes, v́ họ đâu có chấp nhận sự kiện
"tôi sai lầm" hoặc "tôi suy tư" như
một sự kiện khách quan có thể chứng minh
được. Họ hồ nghi cả sự kiện
đó!
Những người theo
chủ thuyết hoài nghi khi đứng trên quan điểm
này, khi đứng trên quan điểm khác để phê b́nh.
Đây là những người đ̣i người khác phải
dùng lư luận, c̣n chính họ lại không bao giờ chấp
nhận tiêu chuẩn nền tảng để lư luận
của người khác! Đây là lập luận và yêu sách không
nghiêm chỉnh. Đối với họ, không có tri thức
chắc chắn chân thực, cao nhất là có phần
chắc (probable) đúng.
iii. Quan điểm của Kant
Kant (1724-1804) bị đánh động
mạnh về sự kiện:
· các khoa học tự nhiên tiến
bộ rất nhiều c̣n khoa siêu h́nh lại dẫm chân
tại chỗ,
· hơn nữa trong khoa siêu h́nh, có
nhiều lập trường mâu thuẫn nhau! Tại sao?
Trong tác phẩm "phê b́nh lư trí
thuần túy", Kant đă khẳng định "lư trí thuần
túy không thể bàn về vấn đề siêu h́nh", nói
cách khác "lănh vực siêu h́nh vượt ngoài khả
năng của lư trí thuần túy". Lư trí thuần túy
đă được sử dụng trong lănh vực ngoài
khả năng của nó.
Khi phân biệt phán đoán phân tích và
phán đoán tổng hợp, Kant đă thực hiện theo
mẫu một quan niệm khoa học tự nhiên, và mặc
nhiên loại trừ quan niệm khoa học hiểu như
hệ thống chân lư được suy diễn từ chân
lư hiển nhiên (kiểu Aristote). Khi tách biệt đối
tượng hiện tượng (objet phénoménal) và
đối tượng tự thân (objet réel, noumène), Kant
đă cắt đứt tương quan giữa tự thân
(noumène) và hiện tượng (phénomène), giữa sự
vật và siêu h́nh. Sự phân biệt này cũng nằm trong chọn
lựa và giải quyết của Kant: lănh vực siêu h́nh
không nằm trong khả năng của lư trí thuần túy[6].
Lư trí thuần tuư không thể biết
đối tượng tự thân (noumène) nhưng chỉ
biết đối tượng hiện tượng,
tức đối tượng "cho chúng ta"[7]. Đối tượng tự
thân là thực tại hiện hữu hiển nhiên phải
giả sử khi chấp nhận tri thức khoa học
tự nhiên[8].
Thiên Chúa, linh hồn bất tử,
tự do là những thực tại phải được
chấp nhận v́ hiện hữu mệnh lệnh tuyệt
đối "làm lành lánh dữ", "phải làm
điều này mà không được làm điều
kia". Nói cách khác, không thể chứng minh bằng lư trí
thuần túy sự hiện hữu của Thiên Chúa, linh
hồn bất tử, con người tự do. Những
điều này, được đề nghị chấp
nhận không phải v́ chúng được chứng minh
bởi lư trí thuần lư, nhưng v́ nếu không chấp
nhận th́ không thể lư giải nổi tại sao lại
có mệnh lệnh tuyệt đối luân lư kia.
Nhận xét và phê b́nh:
Theo Kant, lư trí thuần túy không thể
khẳng định cách có giá trị, sự hiện
hữu của Thiên Chúa, sự tự do, linh hồn bất
tử, và những thực tại siêu h́nh khác; v́ khi làm
như vậy, nó đă làm điều vượt ra ngoài
khả năng của nó.
Với Kant, lương tâm chứ không
phải mặc khải, mới thực sự là tiếng
nói của Thiên Chúa trong chúng ta. Mặc khải, Đức Giêsu,
và Giáo hội không thực sự cần thiết. Kitô giáo
được giản trừ thành tôn giáo dạy cách cư
xử tốt; Đức Giêsu là người mẫu v́ Ngài là
người thành toàn về luân lư và có tâm hồn đặt
nơi Thiên Chúa[9].
Tiên đề của Kant hủy
hoại siêu h́nh, cắt đứt tương quan giữa
hữu thể hiện tượng và hữu thể siêu
h́nh.
iv. Chủ thuyết bất khả tri
Theo một nghĩa rộng,
người ta dùng từ ngữ "bất khả tri”[10] để chỉ
những trường phái chủ trương không thể
biết đối tượng ngoài tầm giác quan[11]. Bất khả tri là
một h́nh thái đặc thù của thuyết hoài nghi.
Thuyết hoài nghi nghi ngờ mọi khả năng tri
thức, c̣n thuyết bất khả tri cho rằng không thể
có tri thức ngoài tầm của giác quan, và như vậy nó
phủ nhận siêu h́nh như một khoa học, và cho
rằng không thể biết Thiên Chúa. Thường
thường bất khả tri là lập trường
của các nhà duy thực nghiệm, duy nghiệm[12].
Thần học công giáo phủ nhận
và bài bác mọi h́nh thái bất khả tri, thần học
công giáo không những chỉ phủ nhận chủ
trương cho rằng con người không thể biết
những thực tại ngoài tầm với của giác quan,
mà c̣n phủ nhận cả chủ trương cho rằng
tuy con người có thể biết Thiên Chúa nhưng không
thể chứng minh sự hiện hữu của Ngài
bằng lư trí qua những thực tại hữu h́nh[13].
b. Lập trường “Thiên
Chúa không hiện hữu”
Một số người cho rằng
Thiên Chúa không hiện hữu, như Feuerbach, K. Marx, A. Camus,
J-P. Sartre...!
i. Chỉ có ư niệm Thiên Chúa
Những người phủ nhận
Thiên Chúa hiện hữu không hề phủ nhận ư
niệm "Thiên Chúa". Khi phủ nhận Thiên Chúa
hiện hữu, là hàm chứa khẳng định có ư
niệm Thiên Chúa nơi họ và nơi những
người khác.
Những người phủ nhận
Thiên Chúa hiện hữu cho rằng ư niệm Thiên Chúa không
phản ánh thực tại khách quan. Họ cho rằng ư
niệm Thiên Chúa là hữu thể của lư trí; Thiên Chúa là ư
niệm, là tùy thể chứ không là hữu thể khách quan
độc lập với lư trí con người.
Từ "ư niệm" (hữu
thể của lư trí) đến thực tại (hữu
thể khách quan độc lập với lư trí con
người), là cả một đoạn đường
dài vô tận! Ư niệm có phản ánh thực tại khách
quan không? Ư niệm có là thực tại khách quan không?
· Những người theo thuyết duy
niệm (c̣n được gọi duy danh ôn ḥa, so với
duy danh cực đoan[14])
cho rằng có những ư niệm phổ quát trong trí, nhưng
những ư niệm này không tương ứng ǵ với
thực tại[15].
Triết gia tiêu biểu là Abébard (1079-1142)[16].
· Những người theo thuyết duy
thực ôn ḥa cho rằng những ǵ ư niệm phổ quát
chỉ, có nơi sự vật, có tương quan với
thực tại[17].
· Những người theo thuyết duy
thực cực đoan cho rằng ư niệm phổ quát có
thực, hiện hữu độc lập với cái
cụ thể đặc thù nữa[18].
Hữu thể của lư trí và hữu
thể khách quan độc lập với lư trí con
người, là hai cấp độ hữu thể khác nhau.
Từ "ư niệm" đến "thực tại
khách quan" có cả một khoảng cách xa vời!
Với Feuerbach, con người tạo
ra Thiên Chúa, v́ "Thiên Chúa" là ư niệm của lư trí con
người chứ không có "Thiên Chúa hiện hữu
như thực tại khách quan".
Với Platon và Descartes, con người
có ư niệm Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện hữu đích
thực như thực tại khách quan v́ ... ư niệm
phản ánh thực tại.
Với Ansèlme (1033-1109), ư niệm
trọn hảo đ̣i hỏi hiện hữu, v́ bất
cứ cái ǵ dù tốt đến đâu mà chỉ là sản
phẩm của trí khôn th́ đâu đă là tốt trọn
hảo! V́ vậy, ư niệm "Thiên Chúa" hiểu
"Thiên Chúa" là thực tại tuyệt đối,
tuyệt hảo, tốt trên tất cả sự tốt,
nên "Thiên Chúa" phải hiện hữu; nghĩa là ư
niệm Thiên Chúa phải phản ánh Thiên Chúa thực
tại, v́ nếu không, Thiên Chúa không phải là cái
tuyệt hảo. Không hiện hữu, th́ chưa tốt
lắm; cái tuyệt hảo, phải là cái hiện hữu[19].
Hữu thể của lư trí, do lư trí
tạo ra trong tương quan với thực tại, đó
là những ư niệm. C̣n ư niệm "Thiên Chúa"? Nếu
ai chấp nhận lập trường quan điểm
của Feuerbach, th́ vẫn c̣n câu hỏi "tại sao con
người lại có khuynh hướng phóng chiếu
như vậy?", phải chăng cơ cấu của lư
trí con người là như vậy? phải chăng con
người được tạo thành để
hướng về Thiên Chúa?
ii. Không có Thiên Chúa
Với Feuerbach, Thiên Chúa chỉ là phóng
chiếu của con người; con người phóng
chiếu những ǵ là tốt lành trọn hảo nơi ḿnh
lên cái gọi là Thiên Chúa. Thiên Chúa không hiện hữu khách
quan như một thực tại.
K. Marx chủ trương duy vật:
từ đời đời đă có vật chất, tinh
thần là kết quả của sự biến dịch và
chuyển biến từ lượng đến phẩm.
Vật chất có mâu thuẫn nội tại, và những mâu
thuẫn này là nguyên nhân của sự thay đổi
biến dịch, v́ thế vật chất không cần
nại vào nguyên lư kinh viện "quidquid movetur ab alio
movetur"[20].
Albert Camus “chứng minh” Thiên Chúa không
hiện hữu bằng sự hiện hữu của
sự ác. Thiên Chúa là Đấng tốt lành và quyền năng
vô cùng[21]; thế mà sự ác và
đau khổ hiện diện tràn lan trên mặt
đất; vậy phải kết luận hoặc Thiên Chúa
không toàn năng hoặc Thiên Chúa không tốt lành, và như vậy
Thiên Chúa không hiện hữu.
Jean-Paul Sartre cũng chứng minh Thiên
Chúa không hiện hữu! Thiên Chúa là Đấng quyền
năng, toàn tri, và quan pḥng tất cả; nếu Thiên Chúa
toàn tri th́ con người đâu c̣n tự do nữa, mà
nếu con người tự do th́ Thiên Chúa đâu có toàn tri!
Mà thực sự con người có tự do, vậy
phải kết luận rằng Thiên Chúa không hiện
hữu.
2.
Lập trường “biết Thiên Chúa”
Người ta chỉ chứng minh
dựa vào một tiêu chuẩn nào đó. Nếu
người ta chứng minh được Thiên Chúa hiện
hữu, th́ Thiên Chúa cũng chỉ thuộc về cùng
một b́nh diện được chứng minh.
Trong giáo tŕnh này, khi tác giả nói
“chứng minh” Thiên Chúa hiện hữu, th́ phải hiểu
đây chỉ là những dấu chỉ, cho thấy Thiên
Chúa hiện hữu. Biết Thiên Chúa hiện hữu,
điều này thuộc b́nh diện tin. Tin là hành vi của
của cả lư trí lẫn ư chí.
Có nhiều hệ thống triết lư
nhằm giải thích vũ trụ vạn vật, và tất
cả đều hàm chứa một quan niệm về tri
thức. Quan niệm nào đúng? quan niệm nào phản ánh
đúng sự thật nhất?
i. Platon
Platon (428-348), là học tṛ của
Socrate; động lực suy tư của Platon chính là cái
đă làm Socrate bận tâm.
Socrate đă coi nguồn gốc tội
nơi con người là sự ngu dốt, và ông nỗ
lực làm cho mọi người hiểu biết;
phương châm của Socrate là "hăy biết ḿnh"[22].
Platon và Socrate đều chịu
ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng
đương thời:
· "con người là thước
đo vạn vật" của Protagoras[23],
· "tất cả là biến
dịch" của Héraclite,
· "chỉ có hữu thể, ngoài ra
không có ǵ cả" của Parménide[24].
Bận tâm của Platon là làm sao
biết đúng để sống tốt[25]!
Nếu mỗi người là thước đo vạn
vật th́ đâu là chân lư khách quan. Đối với Platon, con
người có tri thức là điều tự nhiên không
thể chối căi, vấn đề chính:
· làm sao giải thích tri thức này,
· làm sao dung ḥa tư tưởng của
Héraclite và Parménide.
Tiên đề của Platon là thế
giới ư niệm. Con người biết, biết cái
tổng quát lẫn cái đặc thù, v́ linh hồn con
người đă tiền hữu ở thế giới ư
niệm; con người biết v́ linh hồn nhớ
lại những ǵ đă biết khi ở trên thế
giới ư niệm, v́ những ǵ vô thường biến
dịch ở thế giới khả giác này đều là
phản ánh của thế giới ư niệm thường hằng.
ii. Aristotle- Thomas Aquinas
Khởi từ sự kiện con
người có thể biết những đồ vật
chung quanh nhờ các giác quan, và qua tri thức giác quan này
người ta có tri thức trí tuệ (phản tỉnh và
siêu vượt). Khi nói lư trí con người có thể
biết các hữu thể, hàm chứa các hữu thể có
tương quan hữu cơ với nhau; nghĩa là, con
người và các hữu thể có tương quan với
nhau; nói chi tiết hơn, giữa lư trí cũng như ngôn
ngữ con người có tương quan hữu cơ
bền vững với các hữu thể khác.
Nếu phủ nhận tương quan
giữa các hữu thể, tức phải phủ nhận
tri thức của con người. Không có tương quan
hữu thể, th́ lư trí không thể biết các sự
vật, không thể biết các quy luật chi phối chúng.
Khoa siêu h́nh nói về điều này
bằng phạm trù "hữu thể khả tri" (l'être
est intelligible).
Platon cho biết tư tưởng
của Parménide: "tư duy và hữu thể là
một". "Tự bản chất, hữu thể
khả tri và hợp lư"[26].
Aristote cho rằng "cái càng hiện
hữu, th́ càng thật"[27].
Thánh Thomas Aquinô cũng nói "bất
cứ cái ǵ có thể hiện hữu, th́ có thể hiểu
được"[28].
Thời kinh viện, người ta nói
"Hữu thể, chân lư, thiện hảo, hoán chuyển
được lẫn nhau[29]"
và "mọi hữu thể đều chân thực[30]".
K. Rahner phát biểu "hữu thể
tự bản chất tỏa sáng[31]".
Cái ǵ có và xảy ra đều có
một lư do giải thích thỏa đáng tại sao nó có và
xảy đến[32].
Điều này được các nhà siêu h́nh gọi là nguyên lư
túc lư.
Hiện hữu, là có thể
được tra vấn. Người ta không thể tra
vấn cái ǵ đó mà người ta không thể biết,
hoặc không biết chút ǵ về cái đó[33].
Nếu hữu thể không khả tri th́ ta không thể
đặt vấn đề khả tri của hữu
thể. Mệnh đề "hữu thể bất
khả tri" là một mệnh đề mâu thuẫn[34].
Cái mà lư trí tri nhận đầu tiên,
là hữu thể[35].
Người ta thường nói: "có cái ǵ đó",
"cái ǵ hiện hữu". Khi nói như vậy hàm
chứa, "hiện hữu" là cái được tri
nhận đầu tiên; và "cái ǵ" (yếu tính), là cái
có thể được tra vấn. Hiện hữu, xét
như hành vi hiện hữu, là cái mà nhờ đó yếu
tính được xác định[36].
Khái niệm chân lư không là khái niệm
trực tiếp[37],
nhưng là khái niệm phản tỉnh. Đầu tiên lư trí tri
nhận hiện hữu, sau mới tới tính chân thực[38].
Các mệnh đề "ens verum bonum
convertuntur", "omne ens est verum", và mệnh đề
"hữu thể là tri thể" của K. Rahner, không
được hiểu theo nghĩa của thuyết duy tâm
với Hegel "hữu thể và tri thể luôn đồng
nhất"[39];
nhưng phải được hiểu: hữu thể là
tri thể theo mức độ hiện thể sở
hữu hữu thể[40].
Hữu thể khả tri theo mức độ hữu
thể, theo mức độ hiện thể sở hữu
hữu thể, theo mức độ hiện thể có
khả năng hiện diện với ḿnh, trở lại
trên chính ḿnh[41].
Hiện thể hiện hữu theo
những mức độ tham dự hữu thể khác
nhau. Mức độ hữu thể khác nhau cũng c̣n có
thể được gọi là tỷ lệ hữu
thể, loại suy hữu thể. Sự trở về
lại chính ḿnh, hiện diện với ḿnh, là nguyên tắc
cấu thành những mức độ hữu thể khác
nhau. Một hữu thể càng khả tri càng tham dự vào
hữu thể. Mức độ khả tri tỷ lệ
với mức độ hữu thể[42].
Tri thức nhân loại như
thường được quan niệm, hàm chứa
tất cả hữu thể có một tương quan
hữu cơ; v́ nếu lư trí, ngôn ngữ và thực tại,
không có tương quan hữu thể nào đó, th́ con
người không thể biết sự vật và cũng
không thể diễn tả hoặc thông đạt chúng.
Quan niệm về tri thức giả
thiết tri thức về con người. Một cái nh́n
đúng đắn và trung thực về con người,
sẽ giúp có quan niệm đúng đắn và chân thực
về tri thức của con người và về vạn sự
vạn vật.
i. Tôi là hiện hữu bất tất
Tôi là một hiện hữu bất
tất. Đó là cái nh́n nền tảng về con người,
về nhân học. Tôi không thiết yếu phải có trên
đời, giả như không có tôi, cũng có những
người khác. "Có mợ th́ chợ cũng đông,
không mợ th́ chợ vẫn không vắng người"!
ii. Ắt phải có hữu thể tất yếu
Nếu "tôi là một hiện
hữu bất tất", th́ phải có một hiện
hữu tất yếu. Nếu không có hữu
thể tất yếu, th́ đă không có hữu thể
bất tất. Bất cứ khi nào khẳng định
một hiện hữu bất tất, hàm chứa khẳng
định một hiện hữu tất yếu. Nếu
khẳng định một hiện hữu bất tất
mà không khẳng định một hiện hữu tất
yếu, là phủ nhận lư trí, phủ nhận khả
năng tri thức của lư trí.
Ở đây bỏ qua chuỗi mắt
xích cần thiết tương đối[43] để
theo lư luận vượt lên tới hiện hữu tất
yếu. Nói rơ hơn, một hiện hữu bất tất
hàm chứa hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
Một hữu thể bất tất
hiện hữu, theo lư luận hàm chứa một hiện
hữu tất yếu tuyệt đối. Giả như
chứng minh được có nhiều hiện hữu
bất tất độc lập với nhau tuyệt
đối, hàm chứa có nhiều hiện hữu tất
yếu tuyệt đối; nhưng điều này không
được chứng minh mà trái lại những hữu
thể bất tất đều liên hệ với nhau, v́
nếu chúng độc lập với nhau th́ lư trí chúng ta
đă không thể nhận biết nó[44].
Cứ theo luận lư, có thể có những hiện hữu
tất yếu tuyệt đối, nhưng đây chỉ
là có thể, không đồng nghĩa với khẳng
định "thực có nhiều hiện hữu tất
yếu"[45].
Giả như khám phá ra có những hữu thể bất
tất độc lập “tuyệt đối” với nhau,
th́ điều này cũng hàm chứa những hữu
thể này không độc lập với nhau tuyệt
đối, v́ một khi lư trí tri nhận, th́ giữa lư trí và
hữu thể đó đă có một tương quan hữu
cơ nội tại rồi (nếu không th́ lư trí đă không
nhận ra).
Bởi một hữu thể tất
yếu, có thể có nhiều hữu thể bất tất.
Những hiện hữu bất tất như con
người biết, đều tùy phụ vào nhau; như
vậy theo lư luận hàm chứa một hiện hữu
tất yếu tuyệt đối. Hiện hữu tất
yếu tuyệt đối có thể được
gọi bằng nhiều tên như Thiên Chúa, Đấng
tuyệt đối, Đấng tự hữu...
Với lư trí, con người có thể
khẳng định sự hiện hữu của Thiên Chúa
như hữu thể tất yếu tuyệt đối;
nghĩa là, con người có khả năng tri thức Thiên
Chúa.
Thiên Chúa là một tên gọi khác
của hiện hữu tất yếu tuyệt đối.
Hiện hữu tất yếu tuyệt đối là
hiện hữu nhờ đó hiện hữu bất tất
"tôi" hiện hữu.
Khi khẳng định tôi là hiện
hữu bất tất, hàm chứa khẳng định
hiện hữu tất yếu tự do thực
hiện hành vi, qua đó hữu thể bất tất
hiện hữu. Hiện hữu tất yếu tuyệt
đối, thực hiện hành vi để "hữu
thể bất tất" hiện hữu hay không, là tự ngài do ngài, tự
do ngài. Như vậy, Hiện Hữu Tất Yếu
Tuyệt Đối là Hiện Hữu Tự Do, là Hiện
Hữu Tự Do Tuyệt Đối (nếu không, th́ hiện
hữu gọi là “bất tất” không c̣n là bất tất
nữa mà là tất yếu, v́ không thể không có).
Hiện hữu tự do
được gọi là tinh thần. Tinh thần có thể
được hiểu như khả năng (tiềm
thể) và cũng có thể được hiểu như
hiện trạng (hiện thể). Hữu thể tinh
thần, xét như khả năng, là hữu thể có
thể thực hiện những hành vi để
trở thành tinh thần; Hữu thể thực sự là
tinh thần khi hữu thể (tinh thần) thực
hiện hành vi tự do siêu vượt để
hướng lên siêu vượt thể.
i. Tự do
Vật thể[46] không
có tự do; chúng tất yếu phải tuân theo
các định luật thiên nhiên, và không thể không theo các
luật thiên nhiên chi phối chúng. Giác thể[47] cũng
không có tự do, v́ chúng cũng phải theo những
định luật, những bản năng cách tất
yếu, chẳng hạn như bản năng sinh tồn,
bản năng tính dục...; những hữu thể
thuần giác quan[48] không
thể cưỡng lại những đ̣i hỏi của
bản năng, chúng tất yếu phải
sống và hành động như vậy.
Con người, có tri thức và có
tự do làm hay không làm điều này hay điều kia, và
có thể không theo những bản năng của con
người, chẳng hạn bản năng sinh tồn, khi
họ dám hiến mạng sống ḿnh cho người khác,
sẵn sàng chết để kẻ khác được
sống[49]. Như vậy, chỉ có
hữu thể sở hữu tri thức siêu vượt
mới là hữu thể tự do.
Hữu thể tự do là hữu
thể tri thức chính ḿnh, hữu thể phản tỉnh
và siêu vượt[50].
Con vật cũng có tri thức giác quan, nhưng không có tri
thức phản tỉnh, tri thức chính ḿnh (phán đoán
về chính ḿnh).
ii. Tinh thần
Nếu gọi hiện hữu tự do
là tinh thần, th́ hiện hữu tất yếu[51] c̣n được
gọi là tinh thần tuyệt đối[52].
Nói cách khác, tinh thần là hiện hữu tự do, có tri
thức chính ḿnh- phản tỉnh, trở về với
chính ḿnh- và siêu vượt.
Vật thể tuân theo những quy
luật tự nhiên cách tất yếu. Cả với
những sinh vật sống theo bản năng, nó luôn
sống theo bản năng và không thể làm khác v́ nó không là
hữu thể tự do. Tất cả những hiện
hữu này không có tự do, và như vậy người ta
có thể biết những ǵ sẽ xảy ra nơi chúng khi
người ta biết các định luật-vật lư hay
tâm lư- chi phối chúng.
Hiện hữu tự do là tinh thần
khi thực hiện những hành vi thực sự tự do.
Với những hành vi tự do, hiện hữu tinh thần
làm nên lịch sử; và làm cho ḿnh là hữu thể tuyệt
vời.
i. Hiện hữu tự do làm nên lịch sử
Chuỗi hành động của
hữu thể tự do là lịch sử. Với hiện
hữu tuyệt đối tự do, không thể
lường trước được những hành vi Ngài
thực hiện. Ngài hành động rồi con người
mới biết. Chẳng hạn không ǵ buộc Ngài phải
tạo dựng vũ trụ hoặc con người,
chỉ khi Ngài thực hiện hành vi để những
hiện hữu bất tất hiện hữu, con
người mới biết Ngài đă thực hiện
những điều đó.
Mỗi hành vi tự do của hữu
thể tự do, đều tỏ lộ về hữu
thể tự do. Hiện hữu tự do, tự bản
chất, luôn luôn mới, luôn luôn tạo ra lịch sử[53].
Khi hiện hữu tất yếu
tự do tạo dựng hiện hữu
"người" như một ngôi vị, hiện
hữu tự do tỏ cho thấy hiện hữu tự do
là hiện hữu t́nh yêu[54].
ii. Hiện hữu tự do- mầu nhiệm
Hiện hữu tự do luôn luôn có
thể thực hiện một hành vi bất tất mà
người ta không thể biết trước
được, và như vậy hiện hữu tự do
luôn luôn là một mầu nhiệm. Hiện hữu tự do
có thể rất "mới[55]"
khi thực hiện một hành vi bất tất.
Hiện hữu tất yếu tự
do, là hiện hữu luôn luôn mới. Nếu Ngài mặc
khải, con người hiểu biết hơn về Ngài,
nhưng không bao giờ hiểu trọn vẹn về Ngài,
v́ Ngài là hiện hữu tự do. Mỗi hành vi của Ngài
đều là hành vi mặc khải, và qua đó cho thấy
Ngài là hiện hữu tất yếu tự do "mới",
trong sáng và tuyệt mỹ hơn trước.
Nếu hiện hữu tất yếu
tự do không thực hiện hành vi tạo dựng con
người, con người không hiện hữu và không
biết về Ngài. Ngài cũng có thể chỉ tạo
dựng con người và không tiếp tục mặc
khải cho con người, v́ Ngài là hiện hữu
tuyệt đối tự do. Nói theo ngôn từ của K.
Rahner, Thiên Chúa là Đấng tốt lành và thánh thiện,
nhưng điều này không hàm chứa Thiên
Chúa phải cứu độ con người[56].
Con người không chỉ là giác
thể, tức là có tri thức vật thể bằng hành
vi hiện hiện nơi tha thể, nhưng con
người c̣n là tinh thần, v́ con người có khả
năng trở về chính ḿnh (reditio completa in seipsum)[57]. Chính trong thân xác và qua thân
xác mà con người là tinh thần. Con người là tinh
thần nhập thể[58].
i. Tri thức tự do
Con
người, ngoài tri thức giác quan c̣n có khả năng suy
tư trên cái biết giác quan. Chẳng hạn nh́n trái táo
rơi, con người có thể suy tư t́m hiểu
để khám phá ra định luật chi phối vật
thể.
Ngủ mơ thấy ḿnh là bướm, tỉnh dậy
không biết có phải ḿnh là bướm đang mơ?! Lúc
đó là mơ hay lúc này mới là mơ, bây giờ là mơ
hay thực! (Trang Tử).
Dầu vậy những tri thức này cũng chỉ
nằm ở b́nh diện sự vật.
Tôi sai lầm, vậy tôi hiện
hữu (Augustin).
Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu (Descartes).
Cái tuyệt hảo, phải hiện hữu; v́ nếu không
hiện hữu th́ không là tuyệt hảo (Anselme).
Tôi là hiện hữu bất tất, vậy phải có
hiện hữu tất yếu.
Trên đây là những tri thức,
nhưng có những tri thức không c̣n thuộc b́nh diện
vật thể. Những tri thức này khởi từ tri
thức vật thể qua giác quan, nhưng đă không
dừng lại mà vượt trên b́nh diện vật
thể. Với tri thức này, con người trở thành
tinh thần, con người đă qua tri thức giác quan
để trở về chính ḿnh, con người không
dừng lại nơi sự vật, nhưng vươn lên
thực tại siêu vượt. Con người trở thành
tinh thần tự do.
Con người có
thể chỉ dừng lại nơi sự vật,
hoặc con người có thể vươn
lên gặp gỡ hiện hữu tất yếu.
Người ta thường nghe nói
"con người tự do" và "ư chí tự do,"
nhưng dường như không nghe nói "tri thức
tự do." Người ta thường cho rằng
tự do và lư trí không liên hệ với nhau, nhưng thực
sự tri thức cũng liên hệ tới tự do v́ lư trí
cũng bị ảnh hưởng bởi ư chí tự do. Khi
nói tri thức tự do, phải hiểu theo văn mạch
này[59].
Con người là tinh thần, theo K.
Rahner, nghĩa là, con người trong cuộc sống luôn
hướng về tuyệt đối, luôn khai mở
với Thiên Chúa[60].
Con người là tinh thần nhập thể, nghĩa là,
con người hiện diện với ḿnh, trở về
với ḿnh qua việc quy về ảnh tượng
(phantasma). Con người hiện diện với chính ḿnh
qua vật thể chứ không lệ thuộc vật
thể[61].
Hữu thể tự do là tinh thần.
Tự do, đối với K. Rahner, là vượt trên tri
thức giác quan, vượt trên cảm tính. Tự do xét
như là khả năng siêu vượt của con
người, là một tên gọi khác của tiền dự
(anticipation), là khả năng vượt qua tri thức
vật thể để hướng về hữu thể
tất yếu[62].
Con người khi không dừng lại nơi vật
thể, nhưng vươn lên vượt trên vật
thể, th́ trở nên tinh thần. Trong trường hợp
này, tri thức của con người là tri thức tự
do. Nếu tri thức của con người chỉ dừng
lại nơi vật thể th́ tri thức đó không
tự do, hay nói đúng hơn, con người đó không
tự do “thật.”
Con người là tinh thần xét
như con người có khả năng trở về
với ḿnh bằng tri thức phản tỉnh, có thể
vươn lên khỏi vật thể để
hướng tới siêu việt thể. Con người là
tinh thần thật sự khi con người qua hành vi
cụ thể, không dừng lại nơi vật thể
nhưng vươn lên siêu việt thể. Lư trí, một khi
không chỉ dừng lại nơi sự vật nhưng
vươn lên siêu việt thể, là lư trí tự do.
ii. Ưchí tự do
Ư chí hay ư muốn, là hành vi của
hiện hữu mà nếu không có hành vi này, một hữu
thể bất tất không thể hiện hữu.
Ư chí là hành vi tự do của hiện
hữu, là hành vi tự do của hữu thể tinh
thần. Nếu một hữu thể bất tất có
thể hiện hữu nhờ một "hiện
hữu[63]", hàm chứa
"hiện hữu” này tự do. Nghĩa là, hiện
hữu này là tinh thần, có trở về chính ḿnh, có tri
thức phản tỉnh về chính ḿnh, và siêu vượt.
Đối với hiện hữu tất
yếu tuyệt đối[64],
hành vi tri thức và hành vi ư muốn là một; c̣n đối
với tinh thần nhập thể, tức con người,
ư muốn đi theo tri thức[65].
Khi nói ư muốn đi theo tri thức, điều này đúng
khi tri thức là tri thức tự do, nghĩa là tinh thần
nhập thể vượt lên trên tri giác sự vật
để hướng tới hiện hữu tuyệt
đối. C̣n đối với tinh thần "không
tự do", tức không hướng tới tuyệt
đối, cả lư trí lẫn ư chí đều không tự
do, đều dừng lại nơi vật thể.
Ư muốn là hoạt động
của tinh thần, là hành vi của hiện hữu sở
hữu tri thức tự do. Ư muốn tự do, theo nghĩa
siêu h́nh, là ư muốn đi theo lư trí tự do, tức lư trí
vượt qua tri thức vật thể để
vươn lên tuyệt đối. Ư muốn không tự do,
theo nghĩa siêu h́nh nhưng vẫn là ư muốn tự do
hiểu theo nghĩa tự ư, khi tuân theo lư trí không tự do,
tức lư trí chỉ dừng lại nơi vật thể,
không vượt lên trên tri thức vật thể.
Một cách b́nh thường, chúng ta
vẫn nói ư chí tự do, v́ ư chí là hành vi tự do của tinh
thần tự do, thực hiện chính hành vi muốn đó
hay không, là tùy nơi hiện hữu tự do này.
Theo Thánh Thomas, ư chí là tham dục trí
tuệ tuân theo sự nhận thức của lư trí. Thánh
Thomas chia tham dục làm ba cấp độ: vọng
dục, nộ dục, và ư chí[66].
Tham dục tự nhiên là khuynh hướng tuân theo mô thể
tự nhiên; tham dục cảm giác là khuynh hướng tuân
theo mô thể cảm giác; tham dục trí tuệ (trí dục)
là khuynh hướng tuân theo mô thể tri thức[67].
Theo Aristote, "tham dục là khuynh
hướng hoạt động của mọi hữu
thể hướng về thiện hảo của ḿnh".
Sở dĩ như vậy, v́ "mọi cái hoạt
động đều hoạt động hướng
về mục đích", và mục đích đây là cái
thiện hảo[68].
Theo K. Rahner, thái độ tuyệt
đối cần thiết mà hiện hữu bất
tất phải có là ư chí[69].
Khởi từ nhận định con người
đặt vấn nạn về hữu thể, K. Rahner lư
luận: "trong mức độ con người tự
vấn về hữu thể, con người khẳng
định tính hữu hạn bất tất của ḿnh, và
trong mức độ con người phải tra
vấn, con người khẳng định cách
tất yếu hữu thể bất tất của
ḿnh... Điều này hàm chứa, đối với hiện
hữu hữu hạn bất tất của ḿnh, con
người phải có một thái độ; nói cách khác, con
người phải có thái độ cần thiết
đối với hiện hữu bất tất của
ḿnh... Và thái độ tuyệt đối của hiện
hữu bất tất này là ư chí"[70].
Thiện hảo là điều mọi
hiện hữu nghiêng chiều về, thế nhưng
mức độ hiện hữu nơi mỗi hữu
thể khác nhau[71],
nên cái thiện hảo của mỗi hiện hữu nghiêng
chiều về cũng ở những mức độ khác
nhau. Vật thể tự nhiên nghiêng chiều theo luật
tự nhiên, vật thể giác quan nghiêng chiều về cái
thiện hảo của nó theo bản năng, và hiện
hữu tinh thần nghiêng chiều về thiện hảo
được nhận thức bởi lư trí.
Nơi các hiện hữu không là tinh
thần, nghiêng chiều này không thể chống
cưỡng được; c̣n với hiện hữu tinh
thần, dù đây là nghiêng chiều tất yếu nhưng
là tất yếu theo bản tính được lư trí
nhận ra, th́ tinh thần vẫn tự do. Nói theo cách
vẫn thường được dùng, ư chí tự do.
Chẳng hạn nghiêng chiều hướng về hiện
hữu tất yếu tuyệt đối, hiện diện
nơi mọi hiện hữu bất tất- cụ thể
là nơi con người, thế nhưng con người
vẫn tự do, con người tự do vươn lên hay
ở lại nơi sự vật.
Phải chăng chỉ có các tín
đồ của các tôn giáo và những người b́nh dân
ít học mới tin? Phải chăng những nhà khoa
học thực thụ "không tin" ǵ cả?
Phải chăng khẳng định
"không có Thiên Chúa" hữu lư hơn, đúng hơn
luận cứ "Thiên Chúa hiện hữu"? Phải
chăng tin "không có Thiên Chúa" th́ đúng
hơn tin "có Thiên Chúa".
Phải chăng các định
luật khoa học "đúng hơn" các tín
điều ki-tô giáo? Phải chăng các tri thức khoa
học hoàn toàn không dựa trên một niềm tin nào đó?
Trong mục này chúng ta sẽ giải
đáp những vấn đề trên chỉ dựa vào lư
trí và suy luận, và không dựa vào bất cứ uy quyền[72] nào! Để làm
điều này, chúng ta sẽ chứng minh: tất cả
mọi tri thức đều đặt nền trên một
niềm tin nào đó. Chúng ta sẽ lần lượt bàn
về:
niềm tin nền tảng của khoa
học;
niềm tin nền tảng của tri
thức siêu h́nh;
chân lư và sự thực.
1. Niềm tin nền tảng của
khoa học
Người xưa chủ
trương:
· Biết[73] là
tri thức chắc chắn và hiển nhiên về sự
vật qua các nguyên nhân của nó[74].
· Ư kiến là chấp nhận một
mệnh đề nhưng có nghi ngại sợ sai[75].
· Tin là ư kiến được biện
luận[76]; tin ở giữa ư kiến
và khoa học[77].
Và như vậy đứng trên
phương diện chủ quan, sự khác biệt giữa
ư kiến, tin và biết, tùy thuộc mức độ hoàn
thiện[78].
Ngày nay đa số người
vẫn quan niệm như vậy. Người ta coi tri
thức khoa học là tri thức đúng[79],
và tin là tri thức "không chắc chắn đúng". Bây
giờ, vấn đề được đặt
lại: cách quan niệm như vậy về khoa học và
về tin, cách quan niệm như vậy về tri thức
khoa học và tri thức do tin, có hoàn toàn đúng không?
a.
Niềm tin phủ nhận tri thức khoa học
i. Lập luận của
thuyết hoài nghi
Platon tin rằng, có những chân lư
vĩnh cửu mà con người nhớ lại v́ linh
hồn đă chiêm ngắm chúng ở trên thế giới ư
niệm[80].
Aristote tin rằng ư niệm con
người có về sự vật, là do lư trí trừu
xuất; và như vậy, chân lư là sự tương
đồng tương hợp giữa lư trí và sự
vật.
Những người theo chủ
thuyết hoài nghi không đồng ư kiến với Platon và
Aristote, họ hoài nghi. Không phải họ phủ nhận
tri thức giác quan hoặc sự chắc chắn chủ
quan, nhưng họ hoài nghi những tri thức mà người
khác gọi là chân lư hoặc tri thức vĩnh cửu.
Họ cho rằng không có sự chắc chắn khách quan
tất cả những tri thức mà con người có:
· bất cứ ai khẳng định
điều ǵ, họ có thể khẳng định
ngược lại;
· nếu một người nại vào
một tiêu chuẩn nào đó để chứng minh, họ
phủ nhận tiêu chuẩn đó;
· nếu người đó từ
chối chứng minh và coi tiêu chuẩn để chứng
minh là hiển nhiên, tiêu chuẩn đó chỉ là ư kiến.
Như vậy, không có sự chắc
chắn khách quan nơi mọi tri thức, và không có khoa
học[81].
ii. Lập luận phản bác
thuyết hoài nghi
Nhằm bài bác chủ thuyết hoài
nghi, người ta lập luận: vậy mệnh
đề chủ trương "không có sự chắc
chắn khách quan nơi tri thức" cũng không có sự
chắc chắn khách quan. Những người chủ
trương thuyết hoài nghi không phản đối
điều này.
Cũng nhằm bài bác chủ thuyết
hoài nghi và những người thuộc phái Tân-Hàn-Lâm, thánh
Augustin cố gắng chứng minh có sự chắc chắn
khách quan bằng lập luận: "tôi sai lầm, vậy
tôi hiện hữu".
"Tôi sai lầm, vậy tôi hiện
hữu". Như vậy, "tôi hiện hữu" là
một chân lư khách quan. Chắc chắn những
người theo chủ thuyết hoài nghi sẽ phủ
nhận, không coi "tôi hiện hữu" là một tri
thức có tính chắc chắn khách quan, v́ họ đâu có
chấp nhận "tôi sai lầm" là một tri thức
có sự chắc chắn khách quan!
iii. Niềm tin của
người chủ trương thuyết hoài nghi
Bây giờ chúng ta xem một ví dụ
minh giải lập trường của những
người theo chủ thuyết hoài nghi. Những
người chấp nhận khoa học cho rằng khi ta
tung một ḥn đá lên không trung, ta thấy ḥn đá rơi
xuống. Những người tin khoa học cho đó là
chân lư chắc chắn và hiển nhiên, nhưng những
người theo chủ thuyết hoài nghi không chắc
chắn rằng điều đó sẽ xảy ra.
Những người theo chủ thuyết hoài nghi không khẳng
định rằng ḥn đá sẽ không rơi, họ
chỉ nói không chắc rằng ḥn đá sẽ
rơi.
Ở cấp độ thứ
nhất, những người chủ trương
thuyết hoài nghi không tin chắc ǵ cả:
hoặc không tin chắc có cái ǵ
thường hằng bất biến, kể cả vật
chất hay định luật vĩnh cửu nào chi
phối chúng,
hoặc không tin chắc con
người có khả năng biết hữu thể cách
chắc chắn[82].
Có thể có thực tại vĩnh
cửu khách quan nhưng không chắc chắn một
cách khách quan rằng có; và giả như có thực tại
vĩnh cửu đó th́ con người cũng có thể
biết, nhưng không chắc chắn rằng
cái biết của ḿnh về thực tại đó là
đúng. Và như vậy, cách tốt nhất đối
với nhưng người theo chủ thuyết hoài nghi là
không khẳng định điều ǵ cách chắc
chắn, hoặc không phán đoán ǵ[83].
Ở cấp độ thứ hai,
những người theo chủ thuyết hoài nghi tin rằng
con người không có tri thức với sự chắc
chắn khách quan[84].
Sở dĩ như vậy v́ họ lập luận rằng
những ǵ không chứng minh được th́ không chắc
chắn đúng cách khách quan.
Với niềm tin như vậy,
những người theo chủ thuyết hoài nghi phủ
nhận khoa học. Và v́ tin rằng con người không
thể có tri thức một cách chắc chắn khách quan,
nên những người theo chủ thuyết hoài nghi
cũng đánh mất sự chắc chắn chủ quan khi
tri thức.
b.
Niềm tin nơi người chấp nhận khoa học
Khoa học là tập hợp những
tri thức khách quan về một chủ đề nào
đó. Tất cả những người chấp nhận
khoa học đều tin một cách mặc nhiên rằng con
người có khả năng biết sự vật.
"Con người có khả năng
tri thức sự vật". Điều này không chỉ là ư
kiến, nhưng c̣n là điều con người giả
thiết, là điều con người tin một cách
chắc chắn. Những người chấp nhận
khoa học không chỉ cho mệnh đề "con
người có khả năng tri thức sự vật"
là một tiền đề để có khoa học,
nhưng họ tin mệnh đề này đúng trăm
phần trăm, đúng tuyệt đối, dù họ không
thể chứng minh để những người theo
chủ thuyết hoài nghi chấp nhận. Mệnh
đề "con người có khả năng tri
thức sự vật" là chân lư hiển nhiên đối
với những người chấp nhận khoa học.
Niềm tin "con người có
khả năng tri thức sự vật" hàm chứa:
· tin thế giới khách quan hiện
hữu thực sự;
· tin các sự vật liên hệ với
nhau theo một luật "tự nhiên" nào đó;
· tin lư trí con người có khả
năng tri thức chúng.
i. Thực tại khách quan
hiện hữu
"Đêm qua ngủ nằm mơ
thấy ḿnh là bướm, khi tỉnh dậy tôi không
biết ḿnh là người mà nằm mơ ḿnh là
bướm, hay thực sự tôi là bướm mà bây giờ
đang mơ".
"Tôi hiện hữu" phải
chăng là sự thật, là chân lư? Descartes t́m cách chứng
minh "tôi hiện hữu" là một chân lư bằng
khởi đi từ "tôi suy tư"[85].
Với Descartes, "tôi suy tư" là thực tại, là
chân lư hiển nhiên không cần chứng minh, v́ đối
với ông, con người vẫn có thể sai lầm
với cái biết bằng giác quan. Tri giác có thể sai lầm,
nhưng những ǵ lư trí thấy rơ và phân biệt th́ không
thể sai lầm. Descartes chỉ tin vào lư trí, chính
v́ thế, người ta coi ông là cha đẻ của
chủ thuyết duy lư.
ii. Sự vật có
tương quan hữu cơ với nhau
Các sự vật liên hệ với nhau
theo một luật lệ nào đó. Các sự vật ở
đây hiểu gồm cả con người với lư trí.
Đây là điều những người chấp nhận khoa
học phải tin, v́ nếu không tin các sự vật liên
hệ hữu cơ với nhau theo một định
luật nào đó, th́ làm sao dám chắc chắn rằng
nếu ta tung ḥn đá ở lần thứ n+1 ḥn đá
sẽ rơi xuống, dù ta đă tung nó n lần và nó đă
rơi n lần? Chúng ta đă thấy những người
chủ trương thuyết hoài nghi không tin điều
này.
Hầu như tất cả chúng ta
đều cho rằng con người có khả năng tri
thức thực tại. Một số người chủ
trương rằng chỉ có khoa học mới cho con
người những tri thức đúng đắn. Đâu là
lập trường của chúng ta?
Với hiện tượng quang
điện, một số nhà khoa học giải thích ánh
sáng là những hạt (thuyết lượng tử); sau
một thời gian dài, với hiện tượng giao thoa,
các nhà khoa học giải thích ánh sáng là những sóng
(thuyết ba động). Với những sự kiện
này, liệu người ta có thể đi đến
kết luận: phải chăng tri thức khoa học
cũng chỉ là những tri thức đúng tương
đối thôi? Cũng tương tự như vậy
những định luật của thế giới vĩ
mô không đúng đối với thế giới vi mô?!
Chân lư là sự tương hợp
giữa lư trí và sự vật. Sống, đối với
con người, là tiếp cận thực tại, là tri
thức về thực tại. Con người cho
đến ngày nay luôn khám phá thấy những điều
mới mẻ của thực tại, của hiện
thể (étants). Con người khoa học đích thực là
con người luôn luôn sẵn sàng mở ra với thực
tại hay hiện thể, nghĩa là luôn luôn sẵn sàng
để có tri thức về thực tại. Con
người với tinh thần khoa học đích thực
sẽ không bao giờ loại bỏ những phương
cách giúp tiếp cận thực tại và tri thức chúng.
Họ sẽ không là người "duy" cái ǵ cả,
chẳng hạn, duy nghiệm, duy thực nghiệm, duy lư,
v.v.. Những người mang họ "duy" như chúng
ta vừa liệt kê, không là những người có tinh
thần khoa học thực sự ; Và những ai bảo
vệ ḍng họ "duy", cũng không là những
người có tinh thần khoa học đích thực, lúc
đó họ đă chuyển sang lănh vực triết lư[86] rồi.
Khoa học gia luôn luôn đặt
sự vật hay thực tại làm chuẩn, cũng như
những ǵ con người có về thực tại làm
những điểm quy chiếu, hầu giúp tri thức
đúng đắn hơn về sự vật. V́ vậy,
tri giác được coi là những quy chiếu để
nhận ra sự tương hợp giữa lư trí và sự
vật. Cũng tương tự như vậy, tính
hợp lư cũng là quy chuẩn để nghiệm ra tri
thức là chân lư.
Chúng ta nhận thấy nơi những
người có tinh thần khoa học, một cố
gắng để biết sự vật hay thực tại
mỗi ngày một hơn. Họ không cho rằng tri thức
của họ về thực tại hay hiện thể
như thế là đủ, hoặc không có ǵ để
biết hơn. Chân lư của những người có tinh
thần khoa học là sự thực: tri thức của
họ về sự vật hay hiện thể càng phong phú,
th́ họ càng gần sự thực hơn.
iii. Thế nào là tri thức
khách quan
Tri thức là phán đoán con
người có về sự vật hay hiện hữu. Khoa
học là tập hợp những tri thức khách quan về
một thực hữu nào đó. Nhưng thế nào là
một tri thức khách quan? Nhờ những người
chủ trương thuyết hoài nghi mà chúng ta thấy rơ,
để chứng minh một tri thức là chân lư khách quan,
người ta phải chấp nhận, hay đúng hơn
phải tin vào một tri thức nào đó mà người ta
tin rằng đó là chân lư, rồi dựa vào đó
để chứng minh[87].
Tri thức mà những người
chấp nhận khoa học tin rằng tuyệt
đối đúng, là: "thực tại có liên
hệ hữu cơ với nhau, và con người có khả
năng tri thức về thực hữu này". Sở
dĩ những điều trên được các nhà khoa
học tin tuyệt đối là chân lư, bởi v́ nếu
không, những tri thức được chứng minh
từ niềm tin này không là những tri thức tuyệt
đối đúng đối với những nhà khoa
học.
Như vậy, phải chăng một
tri thức coi là chân lư khách quan, cũng chỉ là khách quan[88] nhờ một tri
thức chủ quan[89]?
Cũng có thể nói như vậy, nhưng điều các
nhà khoa học tin một cách tuyệt đối đây,
đă được phê b́nh, và là niềm tin phản
tỉnh. Tuy vậy, chúng ta vẫn không phủ nhận
rằng có những người không chấp nhận
hay không tin điều mà các nhà khoa học tin, chẳng
hạn những người chủ trương thuyết
hoài nghi.
Các nhà khoa học đặt thực
tại thực hữu cũng như những ǵ con
người lănh hội được qua giác quan, làm tiêu
chuẩn. Thế nhưng đâu là thực tại thực
hữu? Phải chăng chỉ những sự vật
khả giác mới là thực tại thực hữu, hay
cả những thực tại mà giác quan con người
không kiểm chứng được cũng là thực
tại thực hữu? Những người duy thực
nghiệm chỉ chấp nhận những ǵ có thể
kiểm chứng thực nghiệm được,
những ǵ không thể kiểm chứng thực nghiệm
được th́ họ không chấp nhận. Tuy vậy,
đây chỉ là niềm tin của những người duy
thực nghiệm, chứ không phải là tri thức khách
quan (hiểu như là tri thức được chứng
minh); và nếu họ muốn chứng minh, th́ phải
nại vào niềm tin của họ "cái ǵ không kiểm
nghiệm bằng giác quan được, th́ không thực
hữu".
iv. Không thuộc lănh vực
khoa học
Những nhà khoa học chân chính, sẽ
không khẳng định điều ǵ vượt quá lănh
vực của họ. Chuyện năm người mù xem
voi: người thứ nhất nói con voi giống cái
cột nhà, người thứ hai nói giống cái quạt,
người thứ ba nói giống cái ṿi,v.v.! Những
tiếp cận của năm người mù với con voi
đều đúng, nhưng nếu người này phủ
nhận tri thức của người kia, th́ họ sẽ
sai: "con voi chỉ giống cái cột nhà", "con voi
chỉ giống cái ṿi", "con voi chỉ giống cái
quạt", v.v. Tương tự như vậy,
đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa
học thực nghiệm là những sự vật khả
giác, nên với một đối tượng không thuộc
b́nh diện khả giác, th́ những người khoa học
thực nghiệm chân chính không khẳng định
"chỉ những ǵ có thể được kiểm
nghiệm bằng tri giác mới là thực hữu".
Những nhà khoa học chân chính tin
rằng các thực tại thực hữu có liên hệ
hữu cơ với nhau, và nhờ liên lạc hữu cơ
này mà con người có thể tri thức về thực
tại thực hữu. Nhưng người ta có thể
đặt câu hỏi:
vậy đằng sau những
thực tại thực hữu với những mối liên
hệ hữu cơ này là ǵ? phải chăng có một
thực tại tuyệt đối, hay là cái ǵ khác, hay là
hư vô?
Nhà khoa học chân chính không trả
lời câu hỏi trên, v́ đây không thuộc lănh vực
nghiên cứu của họ; và nếu họ trả lời,
th́ câu trả lời của họ không có tính "khoa
học" nữa; họ có thể trả lời
những câu hỏi trên bởi v́ họ là người, nên
họ có quyền có cái nh́n siêu h́nh về sự vật.
2. Niềm tin nền tảng của
siêu h́nh
Đứng trước vũ trụ
vạn vật hữu h́nh khả giác, con người
thường đặt câu hỏi: "đằng sau
những thực tại khả giác hữu h́nh với
những định luật chi phối chúng, liệu c̣n cái
ǵ khác không?
Đă đành nhờ những luận
chứng và bài bác của những người theo chủ
thuyết hoài nghi, người ta biết ḿnh phải tin các
sự vật liên hệ hữu cơ với nhau, cũng
như người ta phải tin con người có thể
biết các sự vật và những định luật chi
phối chúng. Thế nhưng, ngoài những điều
phải tin để có tri thức "khách quan" đó
ra, người ta c̣n phải tin điều ǵ, hoặc
phải tin có cái ǵ nữa không?
Có nhiều ư kiến về vấn
đề này, và có những người bảo vệ ư
kiến của họ như những chân lư tuyệt
đối chắc chắn. Trong mục này, chúng ta sẽ
xét lập trường của những người mà
lập trường của họ sẽ dẫn tới
chủ trương vô thần, và sau cùng là lập
trường của những người hữu thần.
a.
Niềm tin phủ nhận mọi tri thức siêu h́nh
Chủ thuyết hoài nghi phủ
nhận tri thức khoa học thế nào, th́ chủ
thuyết bất khả tri cũng phủ nhận tri
thức siêu h́nh như vậy.
Theo một nghĩa rất rộng,
chủ thuyết bất khả tri dùng để chỉ lập
trường của những người cho rằng
"không thể biết những đối tượng
bất khả giác[90]".
Jorg Splett cho rằng, chủ thuyết bất khả tri
chỉ là một h́nh thái đặc thù của chủ thuyết
hoài nghi, v́ những người theo chủ thuyết hoài
nghi nghi ngờ tính chân thực của mọi tri thức,
c̣n những người theo chủ thuyết bất
khả tri phủ nhận mọi tri thức siêu h́nh,
đặc biệt là tri thức về Thiên Chúa[91].
ii. "Bất khả tri"
là niềm tin của một số người
"Bất khả tri" không là
một tri thức khách quan, hiểu như là một tri
thức được chứng minh, nhưng chỉ là
một ư kiến, và là một ư kiến sai lầm
đối với nhiều người, nhưng
đối với những người theo chủ
thuyết bất khả tri th́ đây là niềm tin của
họ. Đối với những người theo chủ
thuyết bất khả tri, không có tri thức siêu h́nh
đích thực. Niềm tin "bất khả tri"
hủy hoại mọi tri thức siêu h́nh[92].
b.
Niềm tin phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu
Có nhiều niềm tin hàm chứa
lập trường phủ nhận Thiên Chúa.
i. Niềm tin của những
người chủ trương duy vật
Những người chủ
trương duy vật khẳng định: không có ǵ
hiện hữu ngoại trừ vật chất, và nếu
có cái ǵ không-vật-chất th́ cái đó cũng do vật
chất mà ra[93].
Có nhiều người lầm
tưởng rằng, đây là lập trường của
những nhà khoa học, nhưng nếu hiểu như
vậy là sai. Những người khoa học chấp
nhận vật chất hiện hữu, và cũng chấp
nhận các-hiện-hữu-như-họ-thấy có liên
hệ hữu cơ với nhau, và lư trí con người có
khả năng tri thức vạn vật thực hữu.
Thế nhưng những nhà khoa học chân chính không
khẳng định chỉ có vật chất thôi hay
c̣n có cái ǵ khác không phải vật chất. Đối với
họ, có thể chỉ có vật chất thôi, nhưng
cũng có thể có cái ǵ khác không phải vật chất; và
họ biết ư kiến của họ đưa ra về
vấn đề này không nằm trong lănh vực khoa học
thực nghiệm. Họ có thể có lập trường
về điều này, tuy nhiên họ ư thức "ư
kiến" của họ không là phát biểu khoa học, nó
chỉ là niềm tin.
Tại sao vật chất lại có
liên hệ hữu cơ với nhau để lư trí con
người có thể tri thức được, chứ
không như những người theo chủ thuyết hoài
nghi tin? Những nhà khoa học không trả lời
điều này; c̣n những người duy vật trả
lời: bởi chính vật chất là như vậy, không
cần nại vào bất cứ cái ǵ để
giải thích thực tại vật chất như nó là bây
giờ[94].
Theo Hans Küng, tin vào vật chất và
những quy luật chi phối chúng mà không tin Thiên Chúa
hiện hữu, là một niềm tin không nền tảng;
bởi v́ những người vô thần không thể cho
thấy tại sao thực tại hiện hữu và
được đặt thành vấn đề, và
họ cũng không biết tại sao lại phải tin vào
vật chất, cũng như những quy luật chi
phối chúng[95].
Tin chỉ có vật chất và không có
ǵ khác nữa, cũng chỉ là một ư kiến, và
đối với nhiều người th́ đó là ư
kiến sai lầm. Tuy vậy đối với những
người chủ trương duy vật, đó là chân lư.
Vấn đề tồn tại là: niềm tin "duy
vật" có thực là chân lư khoa học? có đáng tin
không?
ii. Niềm tin của
những người chủ trương hư vô
Đằng sau những thực tại
như chúng ta thấy, là ǵ? Tại sao lại có cái
ǵ chứ không phải là không có? Bên kia cái mà
người ta gọi là Thiện và Ác là ǵ (Nietzsche)?
Phải chăng đời sống con người thật
phi lư (J. P. Sartre)?
Với một số người:
· Thiện hay Ác chỉ là những ư
niệm thật tương đối;
· Đời sống con người
thật phi lư, không có ư nghĩa ǵ;
· Tất cả chỉ là hư vô.
Vật chất và những quy luật chi phối chúng, không
cho thấy là chúng sẽ trường tồn[96].
Chủ trương hư vô là niềm
tin siêu h́nh. Chủ nghĩa hư vô dù là niềm tin siêu h́nh
thế nào đi nữa, cũng chỉ là sự phủ
nhận và từ chối hữu thể. Niềm tin của
những người theo chủ thuyết hư vô, tuy không
trực tiếp phủ nhận tri thức khoa học,
nhưng thực sự đă phá hủy nền tảng
của tri thức này, hoặc ít là làm cho tri thức này không
có ư nghĩa.
c.
Niềm tin Có Thực Tại Tuyệt Đối Siêu Việt
Đồng ư với những nhà khoa
học, chúng ta tin rằng:
· vũ trụ vạn vật thực
sự hiện hữu như chúng ta thấy,
· các thực tại có một
tương quan hữu cơ với nhau,
· lư trí con người có thể tri
thức được thực tại.
Thế nhưng đằng sau thực
tại hữu h́nh "vũ trụ vạn vật"
với những luật lệ chi phối chúng là ǵ?
Phải chăng chỉ là hư vô hỗn mang? hay chỉ có
vật chất? hay có một thực tại siêu vật
chất, tuyệt đối, vĩnh cửu, là nền
tảng của mọi hiện hữu khả giác như
chúng ta nhận biết , và là ư nghĩa của mọi
thực tại hiện hữu, là bảo đảm
của mọi quy luật chi phối mọi thực
tại vật chất hiện hữu?
Được gọi là hữu thần,
những người tin có một thực tại tuyệt
đối siêu việt. Họ tin rằng thực tại
siêu việt này là nền tảng và căn nguyên của
mọi thực tại hiện hữu.
Trong phần một này chúng ta đă
thấy, tin là thái độ nền tảng của con
người trong nhiều lănh vực: khoa học, triết
học, tôn giáo. Không có niềm tin, con người không
thể sống một đời sống nhân linh đích thực;
không có niềm tin, con người cũng không thể
nhận ra hữu thể chân thực của chính ḿnh[97]. Không có niềm tin, con
người cũng không thể nói đến tri thức và
khoa học[98].
Nếu không tin, con người sẽ không thể tồn
hữu[99]. Tin là thái độ cần
thiết và không thể miễn trừ trong cuộc sống[100].
Tin không chỉ là phán đoán, nhưng
c̣n là phán đoán tự do; như vậy, tin không chỉ là
tri thức nhưng c̣n là tri thức tự do; tin là tri
thức tự do đặt nền tảng cho những tri
thức khác, ngay cả tri thức khoa học[101].
Thiết tưởng không cần
biện minh cho niềm tin nền tảng của tri
thức khoa học[102],
nên trong phần tới chúng ta sẽ chỉ biện minh cho
niềm tin cần được biện minh hơn, đó
là niềm tin hữu thần.
Chân lư là ǵ? Sự thực là chi?
Câu này đúng, câu kia sai; phát biểu này
đúng, phát biểu kia sai! Nhưng đúng sai so với tiêu
chuẩn nào, so với cái ǵ?
1. Chân lư- thuộc tính của phán
đoán
Chân hay giả, đúng hay sai, hệ
tại phán đoán chứ không hệ tại điều
người ta lănh hội qua giác quan[103].
Không có phán đoán, không có đúng hay sai. Đúng hay sai, trúng hay
trật, là thuộc tính của phán đoán.
Phán đoán là hành vi của lư trí. Chân lư
là sự tương hợp giữa sự vật và lư trí[104].
Phán đoán là tri thức; tuy nhiên phán
đoán này có thể trúng hay trật, là chân lư hay sai lầm.
Chân lư luôn luôn là chân lư của một phán đoán, và sai
lầm cũng luôn luôn là sai lầm của tri thức. Không
thể tách biệt chân lư khỏi phán đoán, và cũng không
thể tách biệt phán đoán khỏi lư trí.
Đứng trước một hiện
hữu, tôi có thể không ư thức nó hiện hữu
hoặc tôi có thể cảm nhận có một
cái ǵ đó.
Nếu tôi ư thức có một cái ǵ
đó, nghĩa là lư trí tôi đă nhận được
một cái ǵ đó từ nó, điều tôi nhận đây
có thể là một h́nh ảnh qua thị giác, hay một âm
thanh qua thính giác, hoặc qua các giác quan c̣n lại, hoặc
qua "giác quan thứ sáu" tạm gọi là trực giác,
và rồi người ta có ư niệm (eidos). Khi tiếp nhận
một tín hiệu và có ư niệm, người ta có thể
có phản ứng. Phản ứng này có thể là một
phán đoán về hiện hữu đó, và phán đoán này có
thể đúng hoặc sai trong mức độ nó
tương hợp với hiện hữu đó. Ngoại
trừ các phán đoán "có hoặc không", một phán
đoán có thể đúng nhiều hoặc sai nhiều tùy
mức độ nó tương hợp với hiện
hữu đó. Aristote nói: "cái giả hệ tại
khẳng định rằng có cái không có và không
có cái có; cái chân hệ tại khẳng
định rằng có cái hiện hữu và không
có cái không hiện hữu"[105].
b.
Biết do lănh hội bằng trực giác
Nói cách khác, biết là điều mà con
người có về hiện hữu nhờ lư
trí. Có cái biết không do phán đoán của lư
trí, đó là cái biết sơ đẳng do lănh nhận
bằng trực giác, với những ư tượng và ư
niệm[106],
qua ngũ quan hoặc qua "giác quan thứ sáu". Phán
đoán là tri thức, là biết; nhưng cái biết do phán
đoán của con người qua lư trí có thể đúng
hoặc sai.
Cái biết của lư trí con
người trực tiếp qua giác quan, gọi là tri giác[107], và cái biết này không sai
lầm. C̣n cái biết của con người với
những lư luận, tổng hợp, gồm cả các quan
niệm, khái niệm, gọi là tri thức[108];
cái biết này có thể sai lầm. C̣n cái biết bị
ảnh hưởng bởi ư muốn, gọi là nhận
thức[109].
Tin, luôn hàm chứa tin vào ai.
Chúng ta xét một số mệnh
đề, chẳng hạn, "tôi tin nó đă chết
mất xác ở biển", "tôi tin con người do
tiến hoá từ khỉ mà ra", "tôi tin có Thiên
Chúa", hoặc, "tôi tin nó, chắc chắn chiều nay
nó sẽ tới v́ nó đă nói", "tôi tin vào ngân hàng
đó nên tôi kư gởi toàn bộ tiền bạc của tôi
vào đó", "tôi tin em, tôi tin rằng em sẽ trung thành
với tôi suốt đời", "tôi tin Thiên Chúa",
...
Một số trong những mệnh
đề trên, cụm từ "tôi tin" đồng
nghĩa với "tôi cho rằng", "tôi khẳng
định rằng", "tôi chắc chắn
rằng", "theo ư kiến của tôi th́...". Như
vậy, tin ở đây chỉ là ư kiến
của tôi, do đó, sự chắc chắn đúng có tính
tương đối.
Nơi những mệnh đề tin
như ư kiến, sở dĩ người ta bảo vệ
ư kiến của họ, v́ họ tin vào họ. Khi một
người nói "tôi tin", hàm chứa rằng nói: tôi
tin tôi, tôi tin vào khả năng và nhận định cùng
phán đoán của tôi nên tôi cho rằng ..., và tôi chắc
chắn rằng phán đoán của tôi đúng.
Mỗi người có thể có ư
kiến riêng của ḿnh, và những ư kiến này có thể
khác nhau. Mỗi người đều có thể xác tín
về lập trường phán đoán của ḿnh, và
mức độ xác tín này có thể khác nhau theo mỗi
người.
Nếu tin là ư kiến, và đối
tượng của tin ở cùng b́nh diện với
đối tượng của tri thức khoa học, th́
tri thức khoa học có giá trị chân lư hơn. C̣n nếu
đối tượng tin không thể kiểm chứng
được, như "tôi tin Thiên Chúa hiện
hữu", th́ chúng ta không thể nói giá trị của
mệnh đề "tôi tin Thiên Chúa hiện hữu"
thua giá trị của mệnh đề khoa học, v́
"Thiên Chúa" không là đối tượng của
bất kỳ khoa học thực nghiệm nào. Không thể
chứng minh "Thiên Chúa hiện hữu" cách thực
nghiệm hoặc thuần lư kiểu toán học như 2+2=4
được.
"Có Thiên Chúa" hay "không có Thiên
Chúa", không là đối tượng của khoa học
tự nhiên. Chẳng hạn đối với những
người chủ trương thuyết hoài nghi,
thuyết bất khả tri, thuyết duy nghiệm,
thuyết duy thực nghiệm, th́ khẳng định
"có Thiên Chúa" là sai lầm. Và như vậy, vấn đề
được chuyển qua là: quan điểm lập
trường "duy" như vậy có đúng không?
Trong một số mệnh đề
c̣n lại như "tôi tin nó, chắc chắn chiều nay
nó sẽ tới", "tôi tin vào ngân hàng đó",
"tôi tin em, tôi tin em sẽ chung thủy với tôi suốt
đời", "tôi tin Thiên Chúa yêu tôi", ..., chúng ta
thấy đối tượng tin là ngôi vị, và hàm
chứa là có ngôi vị đó. Chính v́ tin vào nó,
tôi mới chắc chắn chiều nay nó sẽ tới;
chính v́ tin vào những người lănh đạo ngân hàng
đó, mà tôi kư gởi tiền của tôi vào ngân hàng đó;
chính v́ tin vào Thiên Chúa, nên tôi mới phó thác đời
sống tôi cho Ngài, nên tôi mới tin Kinh Thánh dạy chân lư
cứu độ.
Tin ở đây là tương quan liên
vị. Nếu đối tượng tin không là ngôi vị,
người ta cân nhắc xem mức độ chắc
chắn cần thiết tới đâu, và nếu cần
người ta mới có thái độ, c̣n nếu không
thực sự cần thiết th́ thôi; c̣n nếu trong
tương quan liên vị đ̣i người ta phải tin
vào ai đó hay không tin, th́ người ta phải cân nhắc
và chọn lựa. Ở hành vi tin vào ai đó, ngoài những
yếu tố khách quan b́nh thường, c̣n có một
yếu tố can thiệp nữa, đó là hấp lực
giữa các ngôi vị, làm cho người ta tin vào nhau.
Nói cách khác, để tin vào một ai
đó, người ta căn cứ vào chính cách sống
của người đó; và chỉ cần một lần
người đó không giữ chữ tín sẽ làm cho
người đó không đáng tin nữa: "một
lần bất tín, vạn lần không tin". Với quan
niệm này, để tin một người, vẫn
dựa trên xác suất; nhưng c̣n có một nguyên do khác làm
người ta có thể tin vào nhau: t́nh yêu. Như
vậy, tin không chỉ đơn thuần là hành vi lư trí
nhưng c̣n là hành vi ư chí nữa. Tin là hành vi tự do, hành vi
nhân linh.
Khi đối tượng tin là
một vật thể, và nếu phán đoán biểu lộ
niềm tin ư kiến của tôi không trùng với thực
tại, tôi nói tôi sai; c̣n nếu đối tượng tin
là ngôi vị, tôi nói tôi bị lầm[110].
Trong cả hai trường hợp, dù
tin là ư kiến hay là thái độ đối với ngôi
vị, đều hàm chứa tôi phải tin vào tôi. Chính v́
tin vào tôi, nên tôi mới dám:
· bảo vệ ư kiến lập
trường của tôi, dù nó có khác với những lập
trường và ư kiến của người khác;
· chính v́ tin vào tôi, nên tôi mới dám phán
đoán và tin vào người khác, và đôi khi phải phó thác
một điều khá quan trọng trong đời tôi
nơi tha nhân.
Tin vào ḿnh mới dám tin vào người
khác. Nếu chúng ta không thể tin vào người khác, th́
đó là dấu chỉ đáng buồn! Trong cuộc
sống, có khía cạnh người ta không c̣n dám tin vào chính
ḿnh nữa, và ḿnh chỉ dám tin vào chính ḿnh khi ḿnh tin phó thác
vào ai đó.
Phán đoán đúng với sự
vật, là biết đúng, là chân lư. Sự vật, đúng
hơn "hiện hữu", là tiêu chuẩn để
phán đoán quy chiếu về. Lời về cái ǵ đó th́
không thể trùng khít hoàn toàn tuyệt đối với chính
cái đó. Cái thực nhất, là chính cái "hiện
hữu" đó: sự thực.
Con người biết một
hiện hữu theo nhiều cấp độ:
· với giác quan con người lănh
hội sự vật một cách không sai lầm, nhưng tri
giác này rất giới hạn;
· với phán đoán và tổng hợp
của lư trí, con người c̣n có khả năng biết
sự vật nhiều hơn.
Mỗi hiện hữu là một
thực tại rất phong phú nên khó có ai có thời giờ
để có thể t́m hiểu trọn vẹn. Những tri
thức khoa học cung cấp cho con người về lănh
vực này th́ chắc chắn chính xác. Ở đây, tin
như ư kiến không có giá trị như tri thức khoa
học.
C̣n trong những biến cố có tính
cách tùy phụ, bất tất, có thể chỉ xảy ra
một lần; đây không phải là lănh vực của khoa
học, nhưng sự thực có thể được
kiểm chứng, th́ "tin" như ư kiến có giá
trị hay không tùy thực tế có xảy ra như
người ta nghĩ hay không. Trong trường hợp này,
để một người có thể biết đúng
về biến cố hay thực tại đó, cũng
cần con người đừng để thành kiến
hay ước vọng nào đó chi phối ḿnh.
Nếu sự thực là "hiện
hữu phi ngă" mà c̣n cần con người "không có
thành kiến" để biết đúng, th́ điều
này c̣n đúng hơn nữa nếu hiện hữu là
một ngôi vị.
Hơn nữa, nếu hiện hữu
là một ngôi vị[111],
th́ người ta sẽ lại càng hiểu biết hơn
nếu chính hiện hữu ngôi vị này tự mặc
khải thông ban chính ḿnh, cũng như nếu chính con
người mở rộng ḷng đón nhận ngôi vị
đó cũng như mặc khải của họ.
V́ ngôi vị là một hiện hữu
đơn nhất tuy "đa phức", nên nếu càng
biết ít về nó, th́ lại càng không có sự tương
hợp của lư trí với thực tại "đơn
nhất" đó, và như vậy càng "ít đúng"
hơn; c̣n nếu biết nhiều về nó th́ sự
tương hợp với thực tại "ngôi
vị" càng nhiều, và con người càng lại
gần sự thực hơn.
Hiện hữu một tương quan
nội tại giữa hữu thể- lư trí- ngôn ngữ, là
điều kiện nền tảng để có tri thức
và khoa học. Tương quan hữu thể này, hàm chứa
nguyên nhân nhân quả, hàm chứa lư trí có khả năng
nhận biết tương quan giữa hữu thể
với nhau, hàm chứa lời có thể diễn tả
phần nào được hữu thể.
Trong khoa học tự nhiên,
người ta nỗ lực để có những từ
ngữ chính xác để diễn tả sự vật.
Đối tượng khoa học và lư trí cũng như
ngôn ngữ con người đều hữu hạn, nên tuy
dù có khó khăn để diễn đạt nhưng
vẫn là điều có thể; c̣n một khi Thiên Chúa là
đối tượng, một thực tại vô hạn
vượt trên lư trí con người, ngôn từ con
người không thể diễn đạt hoàn toàn Thiên
Chúa.
Thần học là những lời
(logia) về Thiên Chúa (qeoV); nhưng lời về Thiên Chúa
đâu có đồng nhất với Thiên Chúa. Theo truyền
thống đông phương, ngôn ngữ chỉ là
phương tiện để chuyển ư. Ta phải
cố gắng lănh hội được ư người ta
muốn diễn tả, đừng qúa nô lệ vào từ
ngữ. “Bè để qua sông, qua sông hăy bỏ bè”, “lời
để chuyển ư, được ư hăy quên lời”, “ngón
tay chỉ mặt trăng, phải nh́n hướng ngón tay
chỉ chứ đừng nh́n ngón tay”.
Ngôn ngữ thần học diễn
tả Thực Tại Sống Động là Thiên Chúa ngôi
vị, nhưng ngôn ngữ thần học cũng giới
hạn như chính người suy tư thần học.
Ngôn ngữ không thể diễn đạt hoàn toàn
được Thực Tại sống động là Thiên
Chúa, nên ngôn ngữ thần học thường mang tính
ẩn dụ hoặc loại suy.[112]
“Đức Giêsu là Con Thiên Chúa”. Từ
ngữ “con” nơi loài người chỉ một
người được sinh bởi một người
khác, có sau người sinh ra họ; nhưng theo đức
tin Kitô, Ngôi Lời không hiện hữu sau Thiên Chúa mà lại
có từ trước vô cùng với Thiên Chúa. Khi nói “Thiên Chúa
là t́nh yêu” hoặc khi đề cập đến “sự
công chính của Thiên Chúa”, thánh Yoan và thánh Phaolô không hiểu
từ ngữ “t́nh yêu” và “công chính” theo nghĩa đen hay
nghĩa bóng mà hiểu theo nghĩa loại suy: Thiên Chúa là
một cách tuyệt hảo những ǵ được gọi
là “t́nh yêu” và “công chính” nơi con người[113].
Trong siêu h́nh và thần học,
người ta c̣n phân biệt loại suy hữu thể
(analogia entis) và loại suy đức tin (analogia fidei). Theo
quan điểm công giáo, loại suy đức tin là loại
suy hữu thể được dùng trong lănh vực các
mầu nhiệm, và nó phải quy hướng về
đức tin và theo quy luật của đức tin[114].
Tri thức hàm chứa lư tri. Với lư
trí, con người biết và nhận biết
thực tại. Qua vũ trụ vạn vật hữu h́nh,
qua lương tâm, qua mặc khải, lư trí (con
người) nhận biết Thiên Chúa[115].
Mọi vật tồn hữu
đều phải có nguyên nhân. Qua vũ trụ vạn
vật, qua kinh nghiệm về chính bản thân như
hữu thể bất tất, con người nhận ra
phải có một nguyên nhân khởi đầu nhờ đó
mà muôn sự vạn vật tồn hữu. Nguyên nhân
khởi đầu này được gọi là Tuyệt
Đối hay Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu.
Mọi sự vạn vật nhờ Ngài mà hiện hữu,
nhưng Ngài không cần một nguyên nhân nào để
hiện hữu. Nếu cần một nguyên nhân để
Ngài hiện hữu, th́ Ngài không là Thiên Chúa nhưng nguyên nhân
phát sinh Ngài mới là Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng tự
ḿnh mà có, và không Ngài th́ không ǵ tồn hữu.
Thiên Chúa là Đấng trọn hảo,
toàn thiện toàn mỹ. Thiên Chúa là Đấng sung măn. Ngài
hạnh phúc v́ không thiếu điều ǵ và thoả măn
với chính Ngài.
Thiên Chúa trọn hảo v́ Ngài tự
hữu. Về hiện hữu, Ngài không cần ǵ khác ngoài
Ngài để hiện hữu, Ngài hoàn hảo. Về
mức độ hữu thể, Ngài không cần trở nên
hoàn hảo hơn v́ Ngài là hiện hữu. Về “trở
nên tốt hơn,” Ngài không cần trở nên hoàn hảo v́
Ngài hoàn hảo từ ban đầu và bởi chính Ngài.
Thiên Chúa trọn hảo, không biến
chuyển; v́ biến chuyển hàm chứa trở nên tốt
hơn hoặc xấu hơn. Thiên Chúa luôn luôn tốt.
Thời gian là thước đo thay đổi, nói cách khác,
thay đổi hàm chứa biến dịch, hàm chứa
thời gian. Nơi Thiên Chúa không có biển chuyển, nên
không có thời gian. Thiên Chúa trước sau như một,
không biến chuyển để mà có thể nói trở nên
tốt hơn hay dở hơn v́ Ngài đă trọn hảo
rồi. Ngài luôn luôn tuyệt. Khi nói luôn luôn cũng là cách nói
hàm chứa thời gian nhưng v́ là con người (hàm
chứa biến dịch, hàm chứa thời gian tính) nên dùng
ngôn từ như vậy.
Thiên Chúa luôn hạnh phúc v́ Ngài trọn
hảo. Ngài không cần tạo dựng vũ trụ
vạn vật con người để Ngài hạnh phúc v́
Ngài tṛn đầy và không cần bất cứ điều
ǵ. Cũng không ǵ làm Ngài mất hạnh phúc v́ Ngài là nguyên
nhân khởi đầu. Ngài tác động trên tạo
vật chứ tạo vật không thể tác động
ảnh hưởng trên Ngài. Nếu người ta nói
về ảnh hưởng của con người trên Thiên
Chúa, th́ đó là cách nói nhân h́nh; nếu có ảnh
hưởng th́ đó là ảnh hưởng do t́nh yêu
chứ không do bản tính hoặc buộc phải thế.
Thiên Chúa luôn tự do đối với tất cả. Ngài
không bị buộc phải làm bất cứ điều ǵ.
Thiên Chúa vĩnh cửu. Thiên Chúa không có
khởi đầu và không có cuối v́ Ngài là hiện
hữu. Mọi tạo vật đều có khởi đầu.
Thời gian hiện hữu cùng với tạo vật.
Một số tạo vật có khởi đầu nhưng
tồn tại măi măi như các thiên thần và linh hồn con
người, sự tồn tại vĩnh hằng này có là
nhờ Thiên Chúa, Đấng vĩnh hằng.
Thiên Chúa đơn nhất. Thiên Chúa
đơn nhất v́ Thiên Chúa không thể chia, và không thể
có hai Thiên Chúa.
Thiên Chúa đơn nhất không chỉ
được hiểu là một thực tại mà thực
tại này gồm nhiều thành phần, tương tự
như hiện hữu “tôi” gồm nhiều thành phần
nhưng chỉ là một “tôi.” Nếu Thiên Chúa đơn
nhất nhưng gồm nhiều thành phần mà không
được chia, th́ không là hữu thể hoàn hảo.
Thiên Chúa là hữu thể đơn nhất uyên nguyên nên
không thể chia.
Đơn nhất ở đây c̣n
được hiểu là duy nhất v́ không thể có hai
Thiên Chúa. Không thể giả sử có hai Thiên Chúa, nghĩa là
có hai nguyên nhân tồn hữu độc lập mà sự
hiện hữu của vạn sự vạn vật tuỳ
thuộc một trong hai nguyên nhân này, v́ nếu một nguyên
nhân tồn hữu kia độc lập th́ lư trí đâu có
thể nhận biết nguyên nhân đó, mà nếu không
độc lập th́ phải liên hệ với nhau, mà
nếu liên hệ với nhau th́ không c̣n là độc
lập nữa, nên không thể nói có hai nguyên nhân tồn
hữu uyên nguyên mà độc lập với nhau
được. Thiên Chúa là duy nhất.
Thiên Chúa tự do. Sáng tạo là hành vi
tự do của Thiên Chúa. Không ǵ buộc Thiên Chúa sáng tạo
vũ trụ vạn vật này. Con người là hữu
thể bất tất; nếu Thiên Chúa buộc phải
tạo dựng vũ trụ này, th́ vũ trụ này đâu
có bất tât mà tất yếu; nhưng kinh nghiệm cho
thấy tôi và vũ trụ này là hữu thể bất
tất. Sự hiện hữu và tính bất tất của
tôi, cho thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa tự do.
Thiên Chúa ở khắp nơi. Ở
đâu có hiện hữu th́ ở đấy có Thiên Chúa. Ngài
hiện diện như nguyên nhân làm cho hữu thể đó
hiện hữu. Ở bất cứ đâu cũng có Ngài v́
bất cứ đâu cũng do Ngài mà có. Thiên Chúa hiện
diện ngay nơi tâm trí suy tưởng của con
người, v́ không Ngài th́ không có ǵ.
Quan sát vũ trụ bao la với
biết bao điều kỳ diệu, quan sát tế bào
sống và đặc biệt sự sống của con
người, người ta nhận ra Thiên Chúa tuyệt
vời và quyền năng. Một vũ trụ đo
bằng hằng trăm ngàn năm ánh sáng là lời làm
chứng hùng hồn về sự hiện hữu và
quyền năng tuyệt vời của Thiên Chúa.
Vũ trụ vạn sự vạn
vật là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa là Đấng
sáng tạo nên mọi sự. Thiên Chúa là Đấng tự
hữu và vạn sự vạn vật đều là công
tŕnh Ngài sáng tạo. Ngài sáng tạo vũ trụ như là
nguyên nhân thứ nhất.
Để diễn tả Thiên Chúa là
Đấng sáng tạo, người ta có thể diễn
tả một cách nhân h́nh như Ngài nặn con người
từ bùn đất và hà hơi vào lỗ mũi để
có sự sống (St 2, 4b tt); tuy nhiên người ta cũng
có thể diễn tả Thiên Chúa tạo dựng một cách
trừu tượng hơn: Ngài phán một lời liền
có (St 1, 1-2, 4a).
Ngày nay với sự hiểu biết
của khoa học, người ta có thể chấp
nhận Thiên Chúa sáng tạo qua việc làm cho vật
chất tiến hoá như khoa học đă khám phá ra.
Vạn vật từ vật chất vô cơ đến
hữu cơ, từ vật chất vô sinh đến
hữu sinh, từ loài rong rêu đến loài có xương
sống, rồi động vật hữu nhũ, v.v… Chính
Thiên Chúa can thiệp để thê giới được
như thế giới hiện tại.
Thiên nhiên hùng vĩ và tuyệt
đẹp qua những ngọn núi và thác nước, cho
thấy Thiên Chúa là Đấng tuyệt mỹ.
Qua vũ trụ vạn vật
người ta nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Qua
con người như một ngôi vị, người ta
nhận biết Thiên Chúa là ngôi vị với những
phẩm tính tuyệt vời hơn nữa.
Thiên Chúa là một ngôi vị. Ngôi
vị là hữu thể đơn nhất bất khả
phân chia, có lư trí. Không thể có hai “tôi,” không thể có hai
Thiên Chúa. Không thể chia cắt “tôi” thành hai, không thể
chia cắt Thiên Chúa. Vũ trụ vạn vật và
đặc biệt con người là những tạo
vật kỳ diệu, hàm chứa Tạo Hoá phải là
hữu thể lư trí tuyệt vời. Trật tự kỳ
diệu trong vũ trụ và một cách cụ thể
nơi con người, cho thấy Tạo Hoá là hữu
thể lư trí.
Thiên Chúa là Đấng tốt lành.
Sự kiện có những con người tốt lành, làm
người ta nhận ra Thiên Chúa- Đấng sáng tạo
con người- phải Đấng tốt lành vô cùng.
Nếu Thiên Chúa không tốt lành, th́ làm ǵ có những con
người tốt lành.
Một người có thể hỏi:
sự kiện sự dữ lan tràn trên địa cầu,
phải chăng đó là lư chứng cho thấy Thiên Chúa là
Đấng độc ác? Một triết gia vô thần
khẳng định: sự ác chứng minh không có Thiên Chúa.
Kitô hữu cho rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành và
quyền năng; nhưng sự dữ là sự kiện
không thể phủ nhận được, nên người
ta phải đi đến kết luận: hoặc Thiên
Chúa quyền năng mà không tốt lành, hoặc Thiên Chúa
tốt lành mà không quyền năng; v́ nếu Ngài vừa
tốt lành vừa quyền năng th́ sự dữ đă
không hiện hữu.
Đứng trước sự dữ
sự ác, con người nhận ra Thiên Chúa không là tác nhân
của sự ác nhưng chính con người tự do
mới là tác nhân của sự ác. Con người
được Thiên Chúa tạo dựng có tự do làm lành
lánh dữ. Ngài không muốn điều ác và không muốn con
người làm điều ác. Ngài tạo dựng con
người tự do, và chính qua việc sử dụng
tự do của ḿnh mà con người trở nên tuyệt
vời hay xấu xa.
Thiên Chúa tốt lành nên Ngài đă sáng
tạo vũ trụ van vật và con người. Nếu
gian ác th́ Ngài đă chẳng sáng tạo vũ trụ vạn
vật này. Một người cha người mẹ có
thể cho đứa con trong bụng ḿnh sinh ra hay không; và
thực tế có nhiều thai nhi bị giết ngay khi c̣n
trong dạ mẹ. Được sinh ra, là hồng ân cha
mẹ đối với ḿnh.
Thiên Chúa là Đấng yêu thương.
Khi Thiên Chúa tạo dựng con người như ngôi
vị, như hữu thể nhân linh yêu thương nhau, th́
con người nhận biết Thiên Chúa là Đấng yêu
thương. Hơn nữa, không có ǵ buộc Thiên Chúa
phải tạo dựng con người; Thiên Chúa tự do
tạo dựng con người hay không; và Thiên Chúa đă
tạo dựng con người. Hiện hữu là một
hồng ân. Nếu không yêu thương, th́ Ngài đă
chẳng tạo dựng con người.
Thiên Chúa là Đấng quan pḥng. Thiên
Chúa có chương tŕnh về con người. Ngài tạo
dựng, Ngài tiếp tục làm con người tồn
hữu, Ngài muốn con người sống vĩnh cửu
và hạnh phúc với Ngài. Ngài luôn quan pḥng để
thực hiện ư định tốt lành này của Ngài.
Thiên Chúa tự do. Chính v́ yêu
thương mà Thiên Chúa đă tạo dựng con
người. Cũng v́ yêu thương mà Ngài cho con
người vĩnh tồn với Thiên Chúa; hơn nữa
v́ yêu thương nên Ngài muốn cho con người hạnh
phúc vĩnh cửu với Ngài.
Thiên Chúa quan pḥng. Ngài không chỉ lo
cơm bánh cho con người hưởng dùng, mà Ngài c̣n làm
mọi sự thành tốt đối với con
người theo dự định của Ngài. Những
sự dữ một người đă làm, Thiên Chúa vẫn
quan pḥng để làm nó thành tốt đối với
họ. Ngay cả sự dữ sự ác người khác làm
cho một người, th́ Thiên Chúa vẫn quan pḥng để
làm nó thành tốt cho người bị đối xử
gian ác mà vẫn tôn trọng tự do của con
người. Điều tốt Thiên Chúa quan pḥng ở
đây phải được hiểu trong nhăn quan chung
cuộc chứ không hoàn toàn theo ư con người
được.
Chúng ta có thể được soi sáng
khi đọc chuyện ông Yuse bị các anh em bán sang
Aicập làm nô lệ. Thiên Chúa làm tất cả thành tốt
đối với Yuse và gia đ́nh ông. Một người không
tin vào Thiên Chúa quan pḥng có thể càm ràm về những
điều ác anh em Yuse làm cho ông, nhưng với một
người tin vào Thiên Chúa quan pḥng, họ vẫn b́nh an và
tin tưởng vào Thiên Chúa cho dù gặp bao thập giá trên
đời.
Thiên Chúa toàn tri. Ngài hiện diện
với mọi hữu thể v́ không Ngài không ǵ hiện
hữu và các hữu thể hiện hữu không thể làm
được ǵ. Ngài biết mọi điều khi
điều đó xảy ra, nhưng Ngài c̣n biết
trước cả khi điều đó xảy ra nữa v́
nhờ Ngài mà mọi khả thể có thể thành tựu.
V́ Ngài toàn tri nên khi một hữu thể tự do làm ǵ không
hợp ư muốn Ngài, Ngài liền có chương tŕnh
tuỳ theo hành vi cư xử của người đó.
Chương tŕnh “mới” của Thiên Chúa cho người
đó, và chương tŕnh “từ muôn thuở” cho
người đó vẫn như nhau, v́ trước và sau
đều là cách nói trong thời gian, c̣n Thiên Chúa th́
vượt ngoài thời gian v́ Ngài vĩnh cửu, Ngài không
có biến dịch, không có thời gian.
Cách nói nhân h́nh về chương tŕnh
Thiên Chúa định trước, làm người ta dễ
hiểu lầm rằng con người khi phạm tội
là không làm ǵ ngoài ư muốn của Ngài, nhưng thật
sự không phải vậy v́ Thiên Chúa không muốn con
người phạm tội, nhưng Ngài biết con
người phạm tội. Với Ngài không có biết
trước và biết sau, v́ khi nói biết trước và
biết sau là nói trong thời gian, nên không làm mất tự
do của con người.
V́ Thiên Chúa toàn tri, Thiên Chúa quan pḥng, nên
Ngài là Đấng khôn ngoan. Thiên Chúa biết làm thế nào
để tốt nhất đối với con
người. Khao khát và được ở trong Thiên Chúa,
con người sẽ được hạnh phúc v́
được Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc.
Thiên Chúa quyền năng. Thiên Chúa
quyền năng v́ với Thiên Chúa mọi sự đều
có thể. Nếu nói Thiên Chúa không quyền năng, th́
chỉ nói trong tương quan với tự do Thiên Chúa ban cho
con người. Sở dĩ người ta cảm
tưởng Thiên Chúa không quyền năng v́ Thiên Chúa cho con
người tự do, và con người có thể làm trái ư
Thiên Chúa. Tuy dù con người làm trái ư Thiên Chúa, th́ Ngài
vẫn biết (trước) và như vậy vẫn không
ra khỏi sự quan pḥng của Ngài.
Qua vũ trụ thiên nhiên người
ta có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên
Chúa và phần nào hiểu biết Ngài là ai. Qua thiên nhiên,
người ta biết Thiên Chúa, và người ta gọi
đây là mặc khải tự nhiên, v́ qua tự nhiên con
người biết Thiên Chúa là ai.
Qua ḍng lịch sử con người
nhận thấy có nhiều tôn giáo. Nơi mỗi tôn giáo
đều có những người được gặp
gỡ Thiên Chúa một cách rất đặc biệt. Thiên
Chúa đă đến với con người, muốn có
tương quan với con người.
Những kinh nghiệm gặp gỡ
Đấng Tối Cao và cách thức những người
trong cùng một tôn giáo tôn kính Ngài, cho người ta biết
về Thiên Chúa một cách khác, và có thể cái biết này sâu
xa và thân thiết hơn những suy tư thuần lư qua
vũ trụ tự nhiên.
Chẳng hạn nơi Ấn
Độ giáo, có bao nhiêu nhà thần bí gặp gỡ Thiên
Chúa và cho loài người những kinh nghiệm về Ngài.
Kinh Rg Veda được người Ấn Độ giáo
coi là lời được nghe, được mặc
khải (Kinh Thánh).
Nơi Do Thái giáo, người ta
thấy niềm tin Thiên Chúa đă can thiệp vào lịch
sử dân Do Thái để yêu thương và bảo vệ
họ, để làm họ thuộc về Ngài. Thiên Chúa
đă đến và gặp gỡ Abraham, ông tổ dân Do Thái,
để mời gọi ông bỏ quê cha đất tổ
để đi đến nơi Ngài sẽ chỉ cho ông.
Abraham đă vâng lời. Thiên Chúa đă ở với Abraham và
đă cư xử rất thân thiết với ông. Thiên Chúa
đă hiện ra và mời gọi Môsê đi giải phóng dân
Do Thái khỏi Aicập; Môsê đă đáp trả; và Thiên Chúa
đă ở với Môsê và hành động qua Môsê. Các thẩm
phán cũng là những người được Thiên Chúa
tuyển chọn để giải phóng dân khỏi bị
những dân tộc lân bang hà hiếp; họ là những
người thay Thiên Chúa để cai trị dân. Các ngôn
sứ (tiên tri) là những người nói nhân danh Thiên Chúa,
họ có kinh nghiệm về Thiên Chúa một cách rất
đặc biệt theo niềm tin của người Do
Thái giáo. Với dân tộc Do Thái, người ta nhận
thấy Thiên Chúa muốn nói với toàn dân thông qua một
số trung gian của Ngài.
Thiên Chúa là Đấng Tối Cao,
Đấng Tuyệt Đối. Ngài là uyên nguyên của
tất cả. Người ta gọi Ngài bằng những
tên khác nhau. Người Do Thái gọi Ngài là Yahweh, là Thiên Chúa
của Abraham của Isaac và của Yacóp. Người
Hồi giáo gọi Ngài là Allah. Người theo đạo
Cao Đài gọi Ngài là Thượng Đế.
Người b́nh dân ở Việt Nam gọi Ngài là
Ông Trời. Người theo đạo Công giáo gọi Ngài
là Thiên Chúa.
Nơi Kitô giáo các tín hữu c̣n xác tín
ḿnh biết sâu xa hơn về Thiên Chúa nhờ Đức
Giêsu Kitô. Với Kitô hữu, Đức Giêsu là tột
đỉnh mặc khải v́ Ngài chính là Thiên Chúa nhập
thể. Nhờ Ngài tín hữu nhận biết hơn về
Thiên Chúa, biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị.
Trong những hàng tiếp sau đây
chúng ta sẽ t́m hiểu về niềm tin Thiên Chúa Ba Ngôi.
III. THIÊN CHÚA
ĐỐI VỚI DO THÁI GIÁO
Với người hữu thần
nhưng không sống trong một tôn giáo nào, Thiên Chúa là ai?
Với một tín hữu của
một tôn giáo, Thiên Chúa là ai? Chẳng hạn một
Phật tử, một người Hồi giáo, v.v.?
Với người Do Thái giáo, Thiên Chúa
là ai? Ở đây xin tŕnh bày Thiên Chúa đối với
người Do Thái.
THIÊN CHÚA- ĐẤNG TUYỂN CHỌN ABRAHAM
Thiên Chúa là ai, với Abrahm và dân Do Thái?
Thiên Chúa là Đấng mời gọi
Abraham (St 12:1-3), tuyển chọn Abraham, Isaac, Giacóp, và là Thiên
Chúa của Abraham, Isaac, và Giacóp. Thiên Chúa là Đấng yêu thương,
tuyển chọn, và luôn gần gũi với các tổ
phụ.
St 12: 1-4 “ĐỨC CHÚA phán với ông
Áp-ram: "Hăy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà
cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ
cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thanh một dân
lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên
tuổi ngươi được lây lừng, và
ngươi sẽ là một mối phúc lành.
Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc
cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ
nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên
mặt đất sẽ được chúc phúc."
Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA
đă phán với ông. Ông Áp-ram được bảy
mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran
Thiên
Chúa- Đấng Luôn Lập Lại Lời Hứa
Thiên Chúa vẫn thường lập
lại lời hứa này với Abraham: "Đừng
sơ, Abram, Ta là khiên mộc cho ngươi; phần
thưởng ngươi sẽ bội hậu. Abram
thưa: Lạy Chúa Yạhweh, người sẽ ban ǵ cho
tôi, trong khi tôi vô hậu ra đi c̣n kẻ thùa tự gia
đ́nh tôi lại là Êliezệr. người ở Dama... Và
này lời Yahweh phán với ông rằng: Nó sẽ không
thừa kế ngươi đâu, những kẻ sẽ
phát xuất tù ḷng dạ ngươi sẽ kế thừa
ngươi. Người đă dẫn ông ra ngoài trời và
phán: Hăy nh́n lên trời, và hay đếm tinh sao, nếu
ngươi có tài đếm được chúng.
Đoạn người phán bảo ông: Ḍng giống
ngươi sẽ như thế. Và Abram đă tin vào Yahweh và
sự ấy Người đă kể cho ông như sự
công chính (St 15, 1-6).
Lời Chúa hứa với Abraham
đang được thực hiện, nghĩa là, chưa
hoàn toàn thành tựu.
Lời hứa ban phần đất
cho Abraham và con cháu ông cũng được lập lại:
"Người đă phán với ông:
Ta, Yahweh, Ta đă đem ngươi ra khỏi Ur của dân
Kanđê, để ban cho ngươi đất này làm
cơ nghiệp" (St 15, 7).
"Ngày hôm ấy Yahweh đă kết
ước với Abraham rằng: cho ḍng giống
người, Ta sẽ ban thửa đất này từ sông
Ai cập cho đến sông Cả, sông Phớrát..." (St
15,18).
Giao ước là lời thề
hứa long trọng có điều kiện kèm theo.
Thiên
Chúa- Đấng Đối Xử Thân T́nh Với Abraham
Tương quan giữa Thiên Chúa và
Abraham, cũng chính là tương quan giữa Thiên Chúa và con
người.
Trong những đoan St 12 và St 15 cùng St
17, Thiên Chúa ĩà Đấng ban cho Abraham lời hứa và
giao ước; c̣n trong St 18 Thiên Chúa cư xử thật
thân t́nh đối với Abraham:
Thiên Chúa đă hiện ra cho Abraham
nơi cây sồi Mamre dưới dạng ba
người" (St 18, 1);
Thiên Chúa đă chấp nhận
để được Abraham hầu hạ phục
vụ (St 18, 3-5);
Yahweh đă tỏ cho Abraham biết
những điều kín, những điều Người
sắp làm (St 18, 16-21) sau khi đă tham hỏi tṛ chuyện
với Abraham về những chuyện riêng của ông
như gia đ́nh vợ con (St 18, 9-15).
Yahweh Thiên Chúa đ̣i con người
phải tin tưởng tuyệt đối vào Ngài.
Thiên Chúa đă phán với Abraham:
"nơi Ysaac, ngươi sẽ có ḍng giống
đội tên ngươi" (St 22, 2); nhưng chính Thiên
Chúa đă phán cùng ông: "Abraham, ngươi hăy lấy con
ngươi, con một ngươi, ngươi yêu dấu
tức là Isaac, mà đi tới đất Moriyah và ở
đó, hăy dâng nólàm của lễ thượng tiến trên
một quả núi Ta sẽ tỏ cho ngươi" (St 22,
2).
Thiên
Chúa- Đấng Ở Với Các Tổ Phụ
Lời hứa Thiên Chúa đă ban cho
Abraham, Ngài lập lại với Ysaac: "Đừng
xuống Ai cập; hăy ở lại trong xứ, ta sẽ nói
cho ngươi. Hăy ngụ lại trong xứ này: Ta sẽ
ở với ngươi, Ta sẽ chúc lành cho người
và Ta sẽ ban cho ngươi, và ḍng giống ngươi
tất cả xứ này. Ta sẽ giữ lời Ta thề
với Abraham cha ngươi.
Ta sẽ cho ḍng giống ngươi
nên đông đảo như sao trên trời, Ta sẽ ban cho
ḍng giống ngươi tất cả các xứ này. Mọi
dân thiên hạ sẽ lấy ḍng giống ngươi mà
cầu phúc cho nhau, bởi chưng Abraham đă vâng nghe
Lời Ta và đă giữ trọn đạo với Ta, các
luật điều, các thánh chỉ của Ta" (St 26,
2-5).
Thiên Chúa nhận ḿnh là Thiên Chúa của
Abraham.
Cũng tại Ghêrar này, "Yahweh
đă hiện ra cho ông chính đêm ấy và phán: Ta là Thiên Chúa
của Abraham, cha ngươi. Đừng sợ, v́ Ta ở
với ngươi! Ta sẽ chúc lành cho ngươi, Ta
sẽ cho ḍng giống ngươi nên đông đảo, v́
Abraham tôi tớ cua Ta" (St 26, 24).
Trong cả hai lần hiện rạ,
Thiên Chúa đều hứa: "Ta sẽ ở với
ngươi". Thiên Chúa ở với ai, người
đó sẽ được chúc phúc. Lời chúc phúc ở
đây thật cụ thể: ḍng giống đông
đảo, và có đất làm phần cơ nghiệp (St 6
3. 4).
Thiên
Chúa Của Abraham, Isaac, và Giacóp
Trong hai lần hiện ra, Thiên Chúa
đều nhắc tới Abraham; ngoài những tên
để chỉ Thiên Chúa như El Roy, El-Shaday, c̣n thấy
xuất hiện một cách để chỉ Thiên Chúa: Thiên
Chúa của Abraham (St 26, 24).
Thiên Chúa đă hiện ra với Giacóp
trên đường ông tới Haran: "Giacóp chiêm bạo:
th́ này có một thang cấp dựng trên đất, nhưng
chóp đỉnh thấu trời. Và này có những thần
sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên đó. Và
này Yahweh đứng bên chàng.
Người phán: Ta là Yahweh, Thiên Chúa
của Abraham cha ngươi, Thiên Chúa của Ysaac.
Đất ngươi đang nằm, Ta sẽ ban cho
ngươi và ḍng giống ngươi. Ḍng giống
ngươi sẽ đông như cát bụi bành
trướng ra Đông Tây Nam Bắc. Mọi tông tộc trên
trần sẽ lấy ngươi mà cầu phúc cho nhau.
Và này Ta sẽ ở cùng ngươi, Ta
sẽ ǵn giữ ngươi khắp nơi ngươi
đi, Ta sẽ đem ngươi về lại đất
đai này v́ Ta sẽ không bỏ ngươi, sao cho
đến lúc Ta hoàn tất các điều Ta phán với
ngươi" (St 28, 12-15).
"Giacóp đă tỉnh giấc và nói:
hẳn thật có Yahweh ở chốn này mà tôi không
biết" (St 28, 16).
"Giacóp đă khấn với Chúa rằng:
Nếu Thiên Chúa ở cùng tôi, và ǵn giữ tôi trên
đường tôi đang đi, nếu người cho tôi
có bánh ăn, áO mặc, nếu tôi được trở
về nhà cha tôi b́nh an vô' sự, th́ Yahweh sẽ là Thiên Chúa
của tôi và viên đá tôi đă dựng làm thạch trụ
sẽ là nhà của Thiên Chúa.' Va trên mội điều
Người ban cho tôi, tôi sẽ trích thập phân dâng
Người"
(St 28, 20-22).
Đọc các tŕnh thuật ghi lại
cuộc đời của Giacóp, người ta thấy
quả thực Thiên Chúa đă dẫn dắt ông, đă
đưa ông đi và dân ông về. Sau khi Giacóp đă có
vợ con và tài sản, chính Thiên Chúa đă ra lệnh cho ông
trở về: "Yahweh phán bảo Giacóp: Hăy trở về
đất cha ông ngươi ở, về quê quán của
ngươi và Ta sẽ ở cùng ngươi" (St 31, 3).
Yahweh Thiên Chúa đă hứa Ngài sẽ
ở với ông, và điều này thể hiện qua
cuộc đời của ông, qua những may mắn ông
gặp trên đời, qua những tài sản ông kiếm
được.
Điều này chính Giacóp cũng đă
thấy khi ông đến Bêthel dâng lời tạ ơn Thiên
Chúa: "hăy khử bỏ các thần xa lạ khỏi
giữa các ngươi, hăy thanh tẩy ḿnh và thay y phục.
Rồi ta hăy choi dậy đi lên Bêthel. Ở đó tôi
sẽ làm tế đàn kính Thiên Chúa, Đấng đă
nhậm lời tôi trong ngày quân bách, Đấng đă ở
với tôi trên đường tôi đi" (St 35, 2-3).
Thiên Chúa đă ở với Giacóp
để giải cứu ông, để độ tŕ ông làm
ăn phát đạt.
Yahweh đă thành nguồn hạnh phúc
của Giacóp.
THIÊN CHÚA- ĐẤNG GIẢI PHÓNG DÂN
Khi ở bên Ai Cập, dân Do Thái khổ
cực và kêu lên Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng đă sai Môsê
đến dẫn dân khỏi Aicập, luôn ở với dân
bốn mươi năm trong hoang địa, và đưa
dân vào đất hứa qua Giôsuê.
Thiên
Chúa Can Thiệp Vào Lịch Sử Do Thái
Yahweh Thiên Chúa đă hiện ra cho Môsê
nơi bụi gai bốc cháy nhưng không tàn, và Người
phán: "khi ngươi dẫn dân ra khỏi Ai cập... các
ngươi sẽ thờ Thiên Chúa trên núi này" (Xh 3, 12).
Biến cố Xuất Hành đi
liền với giao ước trên núi Sinai, biến cố
xuất hành hướng về giao ước tại Sinai.
"Ta thấy rơ nỗi khổ
của dân Ta bên Ai cập, và Ta đă nghe tiếng than chúng
kêu lên trước
mặt đốc công, quả Ta đă
biết các khổ đau của chúng" (Xh 3, 7)."
Thiên Chúa quyết định: "Nên
Ta xuống giựt chúng thoát tay Ai cập và dân chúng ra
Khỏi xứ ấy, lên xứ vừa đẹp vừa
rộng, lên xứ chan ḥa sữa mật. Vậy bây giờ
ngươi hăy đi. Ta sai ngươi đến với
Pharaô; ngươi hăy đem dân của Ta, con cái Israel ra
khỏi Ai cập" (Xh 3, 8. 10).
Thiên Chúa giải phóng con dân Israel ra
khỏi Ai cập, bởi v́ "Thiên Chúa đă nhớ
lại giao ước của Người với Abraham,
với Ysaac, với Giacóp" (Xh 3, 7. 10; 5, 1. 7; 7, 16. 26).
Thiên Chúa đă thương yêu và
tuyển chọn Abraham cùng ḍng dơi ông, chính v́ vậy Ngài
đă hướng dẫn cuộc đời của các
tổ phụ, đă ở với các ngài, đă cho các ngài
gặp may mắn trên đời, và bây giờ Ngài quyết
định giải phóng con cái Israel ra khối Ai Cập.
Không phải v́ dân Israel luôn vâng theo
lời Chúa mà Chúa giải phóng họ, nhưng v́ Ngài yêu
thương và tuyển chọn họ.
Môsê được chọn làm
người đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập, v́ Thiên
Chúa yêu thương dân Người, chứ không phải
chỉ v́ Môsê.
Trong biến cố xuất hành, Yahweh
Thiên Chúa là Đấng quyết định giải phóng dân
Ngài khỏi ách nô lệ Ai Cập; chính Ngài đă tuyển
chọn Môsê làm người dẫn dân Ngài ra khỏi Ai
cập, và cũng chính Ngài đưa ra lư lẽ để
nói với Pharaô: "Yahweh,Thiên Chúa của dân Hipri đă cho
chúng tôi gặp Người. Vậy bây giờ, xin cho chúng
tôi đi ba ngày đàng vào sa mạc tế lễ cho Yahweh
Thiên Chúa của chúng tôi" (Xh 3, 18).
Thiên Chúa Yahweh là lá cờ giương
cao của dân Israel trong biến cố giải phóng dân
khỏi Ai cập: "Yahweh Thiên Chúa của Israel phán
thế này: Hăy thả cho dân Ta đi, để chúng trẩy
lễ mừng Ta trong sa mạc" (Xh 5, 1. 3; 7, 16. 26; 8, 4.
16; 9, 1. 13; 10, 3; 12, 31).
Thiên
Chúa- Đấng Ban Thập Giới
Thập giới là điều
khoản của giao ước Sinai giữa Yahweh và toàn dân
Israel.
Luật thập giới tỏ lộ
ư định của Yahweh cho toàn dân Israel, là điều
khoản căn bản của giao ước giữa Thiên
Chúa và dân Ngài; như vậy, giữ thập giới là
giữ giao ước giữa Thiên Chúa và Israel, không giữ
thập giới là hủy bỏ giao ước giữa
Thiên Chúa và Israel (J. E. McKENZIE, art. "Aspects of Old Testament
Thought", trong Jerome Biblical Commentary, p. 751).
Thiên
Chúa- Đấng Yêu Thương và Nói Qua Trung Gian
Yahweh mặc khải Ngài là "Thiên
Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy
nhân nghĩa, tín thành. Ngài giữ nghĩa cho đến ngàn
đời, chịu đựng lỗi lầm qua phạm,
nhưng khống coi tội như thể vố can.' Ngài
trị tội cha trên cOn cháu ba' bốn đời" '(Xh
34, 6-7).
Thiên Chúa Yahweh là Thiên Chúa t́nh yêu, kiên
nhẫn và tha thứ.
Thiên Chúa đă nói với dân qua Môsê, và
qua trung gian Môsê Thiên Chúa cũng nói với Pharaô và triều
đ́nh Ai cập (Xh 19,19, 21-25; 20, 18-21).
C̣n với chính Môsê, Thiên Chúa đă nói
với ông qua trung gian bụi gai gốc cháy nhưng không tàn
(Xh 3). Sau đó, Môsê sống rất thân mật với Thiên
Chúa và thường được Thiên Chua phán bảo ông,
nhưng Kinh Thánh không cho biết Thiên Chúa phán bảo với
ông qua trung gian nào.
Qua biến cố xuất hành và giao
ước Sinai, Thiên Chúa mặc khải Ngài:
Thiên Chúa quyền năng, Đấng
can thiệp vào ḍng lịch sử, Đấng giải phóng
dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập, Đấng bảo
trợ dân,
Thiên Chúa của dân Israel, Đấng
làm dân Israel thành dân tư tế của Thiên Chúa, Đấng
kư kết giao ước với dân Israel, Đấng
biến dân Israel thành sở hữu của Ngài.
Thời kỳ thẩm phán kéo dài
khoảng trên 200 năm, từ sau khi Yosua đưa dân vào
đất hứa cho tới thời Israel có vua (khoảng
từ 1210 đến 1000 trước công nguyên).
Dân bất trung thờ thần
ngoại, Thiên Chúa để họ bị dân lân bang
chiếm đánh hà hiếp bóc lột. Khổ quá họ kêu
lên Thiên Chúa, Thiên Chúa sai các Thẩm Phán đến cứu
họ.
Thiên
Chúa Ở Với Các Thẩm Phán
Thẩm phán là những vị
được Thiên Chúa "ở với" một cách
đặc biệt (Tp 3, 10); họ là cứu tinh của dân
tộc (Tp 3, 9.15) chứ không phải là những
người được đặt để theo thói
thường (Xh 18, 13-26).
Với Baraq, Thiên Chúa đă nói với
ông qua tiên tri Đêbôrah (Tp 4, 1-10); Với Ghêđêô, thần
sứ Yahweh đă hiện ra cho ông (Tp 6, 11-12) và Yahweh đă
trao sứ mạng Cho ông (Tp 6, 16tt); Với Samson, ơn
gọi đă h́nh thành từ lúc được thụ thai,
ông là người được hiến thánh cho Thiên Chúa
từ trong dạ mẹ "chính trẻ ấy sẽ
khởi công cứu thoát Israel khỏi tay Philitin" (Tp 13,
5).
Sau thời thẩm phán, là thời
kỳ vương quyền. Có thể nói vị thẩm phán
cuối cùng là Samuel (1Sm 7, 2-17);
Samuel c̣n được coi là tiên tri, v́
Yahweh
Thiên Chúa đă nói với ông, và nói
với dân qua ông (1Sm 3, 1-21); Samuel cũng là người
đă xức dầu phong vương cho Saul (1Sm 10, 1tt) và cho
David (1Sm 16).
Thiên
Chúa Hành Động Qua Các Thẩm Phán
Những dân tộc đông
phương lân cân của dân Israel cũng dùng những cách
như "bói toán gieo quẻ để biết ư
định của Thần Linh.
Có sự khác nhau rơ rệt giữa
một thầy chiêm "chân thât" và một thầy chiêm
"giả hiệu" dù ở nơi dân lân cân hay nơi
dân tộc Israel: thầy chiêm giả hiệu buộc
thần linh phải tỏ ư kiến qua việc tuân giữ
các nghi thức, c̣n thầy chiêm chân thực lắng nghe Thiên
Chúa v́ Ngài hoàn toàn tự do.
Con dân Israel phải chờ đợi
câu trả lời của Thiên Chúa. Việc hỏi ư kiến
này thường thuộc về nhiệm vụ của các
nhà chiêm thị, va của cac tư tế (1Sm 1, 36; 22,15).
Dân Israel liên tục phản bội
Chúa: thờ các thần ngoại; V́ vậy, Ngài đă phó
nộp họ vào tay các dân tộc khác! Khổ cực,
họ quay trở về với Chúa, và kêu xin Người;
Thiên Chúa đă thương, và sai các thẩm phán đến
cứu họ thoát khỏi tay những dân tộc khác.
Nhiều lần dân Israel phản
bội Thiên Chúa, không tuân giữ giao ước, thờ các
thần khác; nhưng Yahweh Thiên Chúa vẫn đáp cứu dân
mỗi khi dân quay trở về với Thiên Chúa.
Những tŕnh thuật này cho thấy
Thiên Chúa là Đấng thành tín, kiên nhẫn và tha thứ; c̣n
Israel là dân cứng cổ, bất trung, luôn phản bội.
Qua thời đại các thẩm phán,
các vua và các tiên tri, Thiên Chúa to cho thấy Ngài là Thiên chúa trung
thành với giao ước. Dù dân không giữ giao
ước, dù dân phan bội bất trung, th́ Thiên Chúa vân trung
thành.
Thiên Chúa là Đấng bảo vệ
giao ước, giúp dân tuân giữ giao ước; Ngài đă
dùng những phương tiện khác nhau đê giúp dân trung
thành với giao ước, trung thành với Ngài, chẳng
hạn như cơ cấu vương quyền, cơ
cấu tư tế và các tiên tri.
Nếu dân vân cứng ḷng, Ngài cho
những tai hoạ đến để cảnh cáo dân,
nhất là bằng biến cố lưu đày. Khi những
cơ cấu vương quyền và tư tế, làm dân bê
trễ không giữ giao ước, th́ Ngài băi bỏ
những cơ cấu đó, thậm chí cả Ḥm Bia,
Đền Thờ.
Thiên Chúa như cha (2Sm 7:14), như
mẹ (Hos 11:1-9), và hơn cha hơn mẹ (Is 49:15-16).
Trong giai đoạn thời tiên tri,
Thiên Chúa tỏ ḿnh là Đấng yêu thương dân Israel vô
cùng.
Không bao giờ Người nở
bỏ dân:
"Mẹ nào lại quên con đẻ
của ḿnh? cạn ḷng thương đối với con
dạ nó không? cho dù chúng quên được nữa, th́
phần Ta, Ta sẽ không hề quên ngươi (Is. 49,
15)".
"Làm sao Ta nỡ bỏ ngươi
hỡi Ephraim, hay thí hẳn ngươi đi, hỡi Israel!
làm sao ta nỡ bỏ ngươi như Adma, cho ngươi
hóa tựa Xơboim? ḷng ta đảo lộn trong Ta, và
mối chạnh thương sôi réo cả lên" (Hos. 11, 8).
Thiên Chúa là Thiên Chúa siêu việt, Ngài
không suy nghĩ và hành động như người phàm,
Ngài không cư xử với Ta nhự_Ta đáng tội:
"Như trời cao hơn đất thế nào, th́
tư tưởng Ta cũng vượt quá tư
tưởng các ngươi" (Is 55, 9), "V́ Ta là Chúa,
chứ không phải người'phàm” (Hos 11, 9).
1 Tay ĐỨC CHÚA đặt trên tôi.
ĐỨC CHÚA dùng thần khí đem tôi ra, đặt tôi
giữa thung lũng; thung lũng ấy đầy
xương cốt. 2 Người đưa tôi đi ngang,
đi dọc giữa chúng. Những xương ấy
nằm la liệt trên mặt thung lũng và đă khô đét.
5 ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này với
các xương ấy: Đây Ta sắp cho thần khí
nhập vào các ngươi va các ngươi se
được sống. 6 Ta sẽ đặt gân trên các
ngươi, sẽ khiến thịt mọc trên các
ngươi, sẽ trải da bọc lấy các
ngươi. Ta sẽ đặt thần khí vào trong các
ngươi và các ngươi sẽ được
sống. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận
biết chính Ta là ĐỨC CHÚA."
9 Người lại bảo tôi:
"Ngươi hăy tuyên sấm gọi thần khí; tuyên
sấm đi, hỡi con người! Ngươi hăy nói
với thần khí: ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán
thế này: Từ bốn phương trời, hỡi
thần khí, hăy đến thổi vào những người
đă chết này cho chúng được hồi sinh.”
10 Tôi tuyên sấm như Người
đă truyền cho tôi. Thần khí liền nhập vào
những người đă chết; chúng được
hồi sinh và đứng thẳng lên: Đó là cả
một đạo quân lớn, đông vô kể.
Con người chỉ là tạo
vật; đối với Thiên Chúa, con người như
đất sét với người thợ gốm (Is 45, 9tt).
Con người, là tạo vật được Yahweh Thiên
Chúa yêu thương rất mực, đặc biệt con
người đây lại là dân Israel. Nhưng con
người, và đại biểu là con dân Israel, thật
cứng ḷng cứng cổ, luôn bất trung cùng Thiên Chúa, luôn
phản bội Ngài, phản bội giao ước.
Israel được gọi
được chọn, được yêu thương
cưng chiều, là để thành bí tích cho mọi dân
mọi nước, nhằm giúp con người nhận
biết Yahweh là Thiên Chúa, là Đấng yêu thương
tất cả mọi người.
Khôn ngoan không phát sinh do con người,
nhưng từ Thiên Chúa. "Khôn ngoan nhất nhất
đều do tự Chúa, và từ đời đời
hằng ở với Người"(Hc 1, 1). "Ta (khôn
ngoan) đă xuất tự miệng Đấng tối cao,
như áng mây Ta đă bao trùm trái đất" (Hc 24, 3).
"Yahweh đă dựng nên Ta, tiên thường của công
tŕnh Người. Từ trước mọi thời, ngay
lúc khởi nguyên, Người đă dựng nên Ta, và cho
đến đời đời, Danh Ta sẽ không phai (Hc
24, 9). “Từ đời đời, Ta đă
được tấn phong, ngay từ đầu,
trước khi đất khai sinh" (Cn 8, 22-23).
“22 Quả vậy, nơi Đức
Khôn Ngoan, có một thần khí tinh tường và thánh
thiện, duy nhất và đa năng, tinh tế và mau
lẹ, minh mân và tinh tuyền, trong sáng và thản nhiên, lanh
lợi và chuộng điều lành, 23 bất khuất,
từ bi và nhân ái, cương quyết, vững vàng và điềm
tĩnh, làm được mọi sự và quan tâm
đến mọi điều, thấu suốt mọi tâm
can, kể cả tâm can của những người trong
sạch, thông minh, tinh tế nhất.
25 Đức Khôn Ngoan toả ra từ
quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ
Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một
t́ ố. 26 Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng
vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh
hoạt động của Thiên Chúa, là h́nh anh long nhân
hậu của Người". 27 Dầu chỉ một
ḿnh, Đức Khôn Ngoan vân có thể làm được
mọi sự ; luôn luôn bất biến, Đức Khôn Ngoan
đổi mới được muôn loài. Từ thế
hệ này qua thế hệ khác, Đức Khôn Ngoan ngự
vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ nên
"bạn hữu' của Thiên Chúa, nên ngôn sứ của
Người. 28 Thiên Chúa chỉ yêu chuộng những
người chung sống với Đức Khôn Ngoan. 29
Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời,
trổi vượt muôn tinh tú. So với Đức Khôn
Ngoan, ánh sáng c̣n kém xa” (Kn 7:22-29).
Với dân Do Thái chúng ta thấy: Thiên
Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật. Đau khổ
và sự chết là hậu quả của tội; hạnh
phúc đích thực tùy thuộc tương giao của con
người với Thiên Chúa.
Thiên Chúa đă yêu thương và
tuyển chọn Abraham: chính Ngài đă kêu gọi và lập
giao ước với Abraham, trở thành Thiên Chúa của
Abraham, Ysaac, Giacóp.
Thiên Chúa đă giải phóng dân Israel
khỏi ách nô lệ Ai cập, Ngài trở thành Đấng
giải phóng, bảo trợ, cứu chuộc dân; Thiên Chúa
lập giao ước với dân Israel trên núi Sinai, ban lề
luật cho dân, làm dân Israel thành dân riêng của Ngài, cho Israel
thành dân tư tế, dân trung gian giữa Thiên Chúa và các dân
khác, làm dân Israel thành dân qua đó các dân tộc khác
được chúc phúc.
Cho dù dân Israel có phản bội, th́ Ngài
vẫn là Thiên Chúa trung thành; Ngài ban các thẩm phán để
cứu dân, Ngài ban các tiên tri để giúp dân trở lại
với Ngài, để dân tuân giữ giao ước của
Ngài với dân.
Con người và dân Israel luôn luôn
phản bội, nhưng qua đó Thiên Chúa cho thấy Ngài là
Thiên Chúa giàu ḷng thương xót và nhân từ, Ngài luôn tha
thứ cho con người.
Thiên Chúa là Đấng ban khôn ngoan
đích thực cho con người; sự khôn ngoan đích
thực không chỉ nằm trên b́nh diện tri thức ngọn
nguồn sự vật, nhưng chủ yếu hệ
tại cuộc sống. Sự khôn ngoan đích thực là
kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ lề luật giao
ước.
IV.NIỀM TIN
“CHA-CON-THÁNH THẦN” NHƯ DỮ KIỆN
Từ vị thế con người
hôm nay, tôi tra vấn về niềm tin Thiên Chúa Ba Ngôi.
Nhờ đâu tôi biết Thiên Chúa Ba
Ngôi? Tôi biết Thiên Chúa là Ba Ngôi nhờ cha mẹ dạy
bảo, các thầy cô dạy giáo lư, các linh mục giảng
thuyết trong thánh lễ.
Tôi tự hỏi, vậy nhờ
đâu những người này biết Thiên Chúa Ba Ngôi?
Họ cũng như tôi, họ nhận niềm tin từ
cha mẹ, từ các thầy cô dạy giáo lư. Nếu đi
lên măi, tôi bắt gặp các nhà truyền giáo tới rao
giảng Tin Mừng. Nhưng nhờ đâu các nhà truyền
giáo nhận biết Thiên Chúa Ba Ngôi? Những người này
cũng nhờ cha mẹ thầy cô dạy cho biết.
Nếu đi lên măi, tôi sẽ gặp niềm tin của các
tông đồ.
“Tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh
thiện, công giáo, và tông truyền.” Đức tin của tôi
là đức tin tông truyền, nghĩa là, nhờ các tông
đồ mà có, truyền từ các tông đồ cho
đến tôi. Người ta có thể nhận ra
đức tin của các tông đồ và của cộng
đoàn Kitô hữu sơ khai qua các nghi thức cử hành
lễ rửa tội, qua phụng tự Thánh Thể, qua
những lời cầu khẩn của cộng đoàn
sơ khai, và đặc biệt qua bộ Tân Ước.[116]
A. NIỀM TIN “ĐỨC GIÊSU KITÔ
NGỰ BÊN HỮU THIÊN CHÚA”
Đức Giêsu đă sống lại.
Nhóm 10 tông đồ tin Đức Giêsu đă phục sinh vào
buổi chiều ngày thứ nhất khi Đức Giêsu
Phục Sinh hiện ra cho họ (Ga.20, 19-23). Riêng tông
đồ Thomas th́ măi một tuần sau ông mới tin Đức
Giêsu phục sinh (Ga.20, 24-29). Theo Tin Mừng Máccô, không có tông
đồ nào tin Đức Giêsu Phục Sinh nếu họ
không được tận mắt thấy Đấng Phục
Sinh (Mc.16, 9-14).
Đấng Phục Sinh là ai? Trong bài
giảng đầu tiên của Phêrô vào ngày lễ Ngũ
Tuần, Phêrô cho người ta biết Đức Giêsu là
người làng Nazarét, Ngài đă làm nhiều điềm
thiêng dấu lạ, người Do Thái đă giết Ngài, và
Thiên Chúa đă cho Ngài sống lại. Các tông đồ là
những chứng nhân các điều đó (Cv.2, 32).
Tŕnh thuật về Đức Giêsu cho
thấy Ngài là con bác thợ, tên mẹ Ngài là Maria, và anh em
họ hàng Ngài sống giữa dân làng Nazarét (Mc.6, 3; 1,9).
Chắc hẳn khi c̣n ở Nazarét trước khi đi rao
giảng, Ngài đă sống cuộc đời không có ǵ
đặc biệt để khi trở về quê
hương rao giảng, dân làng không kính phục Ngài. Họ
biết đời sống và thân thế của Ngài.
Khi c̣n sống với Đức Giêsu,
các tông đồ cũng không biết rơ về con
người đặc biệt của thầy ḿnh. Các ông
không tin Ngài sống lại cho dù Ngài đă báo trước ba
lần (Mc 16, 9-14); tuy nhiên, sau biến cố Đức
Giêsu phục sinh, các ông biết rơ hơn về Đức
Giêsu. Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng các tông
đồ nhận ra, Thiên Chúa đă đặt Đức
Giêsu Phục Sinh làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô
(Cv.2, 36).
2.
Đức Giêsu Phục Sinh- Lên Trời Ngự Bên Hữu
Thiên Chúa
Khi Đức Giêsu c̣n đang sống
đời tại thế với các tông đồ, không có
ai biết Ngài là Thiên Chúa. Đă ba lần Đức Giêsu báo
Ngài sẽ bị bắt, bị giết, và sau ba ngày Ngài
sẽ sống lại (Mc.8, 31; 9, 31; 10, 33-34), thế
nhưng không có tông đồ nào đă tin Ngài sống
lại, thậm chí cả khi các chị phụ nữ
được thấy Ngài sống lại về báo tin
(Mc.16, 9-14). Họ chỉ tin Đức Giêsu phục sinh khi
chính Đức Giêsu phục sinh hiện ra cho họ.
Sau khi được Đấng
Phục Sinh hiện ra cho, với ơn trợ giúp của
Thánh Thần, các tông đồ ngày càng biết hơn về
Đức Giêsu thầy ḿnh hơn. Các ông nhớ lại
những ǵ Đức Giêsu đă nói khi c̣n sống
đời tại thế với các ông (Ga.14, 26), và nhờ
đó các ông nhận ra Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7),
Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài và Cha là một
(Ga.10, 30), Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc.14, 62), Ngài ngang
hàng với Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa (Ga.10, 33).
Tin mừng nhất lăm c̣n dùng một
từ ngữ khác để chỉ thần tính của
Đức Giêsu: lên trời. Lên trời, là từ ngữ
rất chủ quan và hàm hồ. Trời trên đầu tôi,
nhưng như vậy có thể là cả phía trên đầu
tôi hoặc phía dưới chân tôi, nếu so sánh phía
đầu tôi với phía đầu người
đứng đối diện tôi qua tâm trái đất,
người đang ở cách tôi 12 tiếng đồng
hồ. Như vậy, tôi không được hiểu
từ ngữ “lên trời” theo nghĩa đen, nhưng
phải hiểu, lên trời là một từ ngữ dùng
để chỉ Đức Giêsu được siêu tôn.
Ngài lên trời (Cv.1, 9; Lc.24, 51)
để ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc.16, 19). Theo tin
mừng Máccô, Đức Giêsu bị kết án tử h́nh v́
nhận ḿnh “ngự bên hữu Thiên Chúa và đến trong
vinh quang” (Mc.14, 62). Người Do Thái coi đây là lời nói
phạm thượng, dám cho ḿnh ngang bằng Thiên Chúa.
Niềm tin Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu
Thiên Chúa, là niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa.
Nhờ nhớ lại những lời
của Đức Giêsu khi Ngài c̣n tại thế, các tông
đồ nhận ra một Đấng mà Đức Giêsu
đă đề cập đến khi Ngài c̣n đang
sống với các ông: Đấng trợ giúp- Thần Khí
sự thật- Thánh Thần.
Theo Tin Mừng, Đức Giêsu đă
đề cập đến Thánh Thần như một ngôi
vị.
Tác giả tin mừng theo thánh Gioan cho
biết, với Đức Giêsu, Thánh Thần là Đấng
Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu, để Ngài
ở măi với con người (Ga.14, 16). Thánh Thần là
Đấng dạy dỗ các tông đồ mọi nơi
mọi lúc, là Đấng làm chứng về Đức Giêsu
(Ga.14, 26; 15, 26), là Đấng dẫn các tông đồ
đến sự thật trọn vẹn (Ga.16, 13).
Tác giả sách Công Vụ Tông đồ
đề cập tới Thánh Thần 62 chỗ, và 18 trong
số đó nói về Thánh Thần như ngôi vị;
chẳng hạn Thánh Thần nói (1, 16; 8, 29; 10, 19; 11, 12; 13,
2; 28, 25), cấm (16, 6), nghĩ (15, 28), chỉ định
(20, 28), sai gởi (13, 4), làm chứng (5, 32; 20, 23), đem
đi (8, 39), ngăn cản (16, 7), bị lừa dối (5,
3), thử thách (5, 9), chống lại (7, 51 cf 6, 10).
Theo thư thứ nhất của thánh
Phêrô, Thánh Thần làm chứng: “Các ngôn sứ đă nghiên
cứu t́m hiểu ơn cứu độ này, và đă tuyên
sấm về ân sủng dành cho anh em. Thần Khí Đức
Kitô ở nơi các ngài, đă báo trước những
đau khổ dành cho Đức Kitô, và vinh quang đến
sau những đau khổ đó , nên các ngài t́m hiểu xem
Thần Khí muốn cho thấy việc đó xảy ra vào
thời nào, trong hoàn cảnh nào” (1Pr 1, 10-11).
Theo thư thứ nhất gởi
Timôthê, Thánh Thần “nói”: “Thần Khí phán rơ ràng: vào những
thời cuối cùng, một số người ….” Theo
thư gởi tín hữu Do Thái, Thánh Thần nói và làm
chứng: “V́ thế, như lời Thánh Thần phán: ngày hôm
nay nếu các ngươi nghe tiếng Chúa th́ chớ
cứng ḷng…” (Dt 4, 1).[117]
C. NIỀM TIN “CHA- CON- THÁNH THẦN”
Các tông đồ chỉ nhận
biết Đức Giêsu ngang bằng Thiên Chúa và là Thiên Chúa sau
biến cố Đức Giêsu phục sinh, chứ c̣n khi
Đức Giêsu c̣n đang sống đời tại
thế với các tông đồ th́ chưa có ai biết chân
tướng của Đức Giêsu.
Tân Ước là bộ sách
được viết sau biến cố Phục Sinh, nó
xuất hiện vào hậu bán thế kỷ thứ
nhất. Tác phẩm xuất hiện đầu tiên của
Tân Ước là hai thư của thánh Phaolô gởi tín
hữu Thessalonica, được viết khoảng năm
52-53, tác phẩm cuối cùng của Tân Ước là sách tin
mừng Yoan, được h́nh thành khoảng cuối
thế kỷ thứ nhất. Bản văn Tân Ước
cho thấy đức tin của các tông đồ và các Kitô
hữu tiên khởi. Trong Tân Ước không thấy có
chữ “Ba Ngôi,” từ ngữ “Ba Ngôi”
(Τριας, Trinitas, Trinity, Trinité) chỉ
xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm bằng
tiếng Hylạp của Theophilus of Antioch (Ad Autolycum,
khoảng năm 181, Τριας) và bằng
tiếng Latin của Tertulian (Adversus Praxeam, khoảng năm
213, Trinitas).[118]
Nơi Tân Ước người ta
không t́m thấy nhiều chỗ gọi đích danh
Đức Giêsu hay Thánh Thần là Thiên Chúa, nhưng có
nhiều chỗ đề cập đến bộ ba Cha,
Con hay Đức Giêsu Kitô, và Thánh Thần. Điều này hàm
chứa các tông đồ và các Kitô hữu sơ khai đă
nhận biết Đức Giêsu và Thánh Thần ngang bằng
Thiên Chúa, và là Thiên Chúa.
Có nhiều bản văn trong Tân
Ước đề cập bộ ba Thiên Chúa, Đức
Giêsu, và Thánh Thần như Mt.28, 19; Rm. 8,11; 1Cor.6, 11;12, 4tt;
Gl.3, 11-14; Dt.10, 29; 1Pr.1, 2.
Bộ ba Cha, Con, và Thánh Thần
xuất hiện trong tin mừng theo thánh Matthêu: “Các con hăy
đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ
nhân danh Cha, Con, và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ
những điều Thầy đă truyền cho các con. Này
đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến
tận thế” (Mt.28, 19-20).
Vinh tụng ca (doxologies) cũng là
một bằng chứng cho thấy Kitô hữu tin
Đức Giêsu là Thiên Chúa. Vinh tụng ca cũng
được t́m thấy trong Tân Ước, đặc
biệt trong các thư của Phaolô.
Hai vinh tụng ca trong Tân Ước tôn
vinh Đức Kitô:
· ”Anh em hăy lớn lên trong ân sủng và
trong sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô là Chúa và là
Đấng Cứu Độ chúng ta. Xin kính dâng
Người vinh quang, bây giờ và cho đến muôn
đời. Amen” (2Pr.3, 18).
· ”Người (Đức Giêsu Kitô)
đă yêu mến chúng ta và lấy máu ḿnh rửa sạch
tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương
quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên
Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang
và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. Amen.”
(Kh.1, 5b-6).
Vinh tụng ca Rm.9, 5 có nhiều tranh
căi. Tùy theo vị trí của dấu chấm, mà bản
văn có ư nghĩa khác nhau.
· Dấu chấm được
đặt ở cuối câu: ὧν οἱ
πατέρες, καὶ ἐξ
ὧν ὁ χριστὸς τὸ
κατὰ σάρκα, ὁ ὢν
ἐπὶ πάντων,
θεὸς
εὐλογητὸς εἰς
τοὺς αἰῶνας. Ἀμήν. Dưới đây là bản
dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ: “và sau
hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống,
cũng cùng một ṇi giống với họ. Người
là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc
tụng Người đến muôn thuở muôn
đời.”
· Dấu chấm được
đặt sau chữ “theo xác thịt”: ὧν οἱ
πατέρες, καὶ ἐξ
ὧν ὁ χριστὸς τὸ
κατὰ σάρκα. ὁ ὢν
ἐπὶ πάντων,
θεὸς
εὐλογητὸς εἰς
τοὺς αἰῶνας. Ἀμήν. Như vậy, bản văn có thể được
dịch là: “và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo
huyết thống, cũng cùng một ṇi giống với
họ. Thiên Chúa là Đấng vượt trên mọi
sự, chúc tụng Người đến muôn thuở muôn
đời.”
· Dấu chấm được
đặt sau chữ “vượt trên mọi sự”: ὧν οἱ
πατέρες, καὶ ἐξ
ὧν ὁ χριστὸς τὸ
κατὰ σάρκα, ὁ ὢν
ἐπὶ πάντων.
θεὸς
εὐλογητὸς εἰς
τοὺς αἰῶνας. Ἀμήν. Bản văn có thể được dịch: “và sau
hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống,
cũng cùng một ṇi giống với họ, Người
vượt trên tất cả. Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn thuở muôn đời.”
Phải nói rằng, đa số các giáo phụ chấp nhận lập trường cho rằng dấu chấm ở cuối câu; tuy nhiên những thủ bản cổ nhất lại cho thấy dấu chấm được đặt ở sau chữ “theo xác thịt, theo huyết thống;” bản Vaticanus (codexVaticanus) có dấu chấm phẩy; bản Ephraemi (codex Ephraemi) có dấu chấm.[119]
Hai vinh tụng ca trong Dt.13, 20-21 và 2Tm.4, 18 có thể được hiểu tôn vinh cả Cha lẫn Đức Kitô.[120]
c. Lời Cầu Nguyện
Trong Tân Ước, người ta cũng ghi nhận một số lời cầu nguyện được dâng lên Đức Kitô:
Lời cầu phúc cũng là lời
cầu nguyện:
“Nếu anh em cầu xin Thầy
bất cứ điều ǵ nhân danh Thầy, Thầy sẽ
ban cho anh em” (Ga.14, 14). Một số thủ bản bỏ
chữ Thầy, nhưng theo Wainwright, những thủ
bản tốt nhất đều thấy có chữ
Thầy.[121]
Vào thời của bộ Tân
Ước được h́nh thành, cũng có những tác
phẩm khác. Các tác giả và tác phẩm được
sống cùng thời với các tông đồ,
được gọi là các tông phụ (apostolic fathers),
chẳng hạn Clement of Rome (giáo hoàng 92-101, viết Ad
Corinthios khoảng năm 96/98), Ignatius of Antioch (†107), Polycarp
(70?-156, viết Ad Philippenses, sau 107), Papias (những bản
viết vào khoảng năm 130), thư của Barnabas (96/98),
thư gởi Diognetus (tk.2), sách Didache (90/100).[122] Những
bản văn này cho thấy đức tin các Kitô hữu
thời khởi đầu. Thời này chưa có học thuyết
ba ngôi theo nghĩa hẹp.
Sau thời các tông phụ là thời các
nhà hộ giáo (apologists). Thời này ở vào thế kỷ
thứ hai, chẳng hạn như Aristides (viết Apologia
khoảng 140), Justin tử đạo (viết Apologia
150/155), Athenagoras (viết Legatio pro Christianis, khoảng 177),
Tatian (viết Adversus Graecos oratio, khoảng 165), Theophilus of
Antioch (viết Ad Autolycum, khoảng 181/182). Vào
thời này, các Kitô hữu trí thức cố gắng
giải thích đức tin Kitô giáo để người
ngoại đạo khỏi hiểu lầm. Đây cũng
là thời nhiều Kitô hữu cố gắng giải thích
những mầu nhiệm trong đạo, họ có thể
là những thần học gia nhưng cũng có thể là
những người lạc giáo.
Ngoài bộ Tân Ước, các nghi
thức phụng tự như nghi thức phép rửa, nghi
thức Thánh Thể, cũng phản ánh đức tin vào
Cha, Con, và Thánh Thần của cộng đoàn Giáo Hội
sơ khai.
Nghi thức rửa tội trong thế
kỷ đầu cũng ghi nhận bộ ba Cha, Con, và Thánh
Thần. Niềm tin Thiên Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần là
niềm tin của các tông đồ và các Kitô hữu tiên
khởi.
Người ta đọc thấy trong
sách Didache, c̣n được gọi là Giáo Thuyết của
12 Tông Đồ (Doctrina 12 Apostolorum) h́nh thành vào khoảng
năm 90/100: “Về phép rửa, hăy làm phép rửa thế
này: sau khi đă nói tất cả trước, hăy làm phép
rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần trong ḍng nước
chảy.”[123]
Justin (100-163) cũng cho thấy lời
tuyên xưng Ba Ngôi tại phép rửa: “Rồi họ
được chúng tôi dẫn tới nơi có nước,
và họ được tái sinh cùng một cách thức như
chúng tôi đă được tái sinh. Thực vậy nhân danh
Cha của vũ hoàn và Thiên Chúa, và của Đấng
cứu độ Giêsu Kitô, và của Thánh Thần, họ
được tẩy rửa trong nước.”[124]
Irenaeus (140-202) cũng đă rất quen
thuộc với lời tuyên xưng Ba Ngôi ở phép rửa.[125]
Nơi Hippolytus of Rome người ta cũng nhận
ra lời tuyên tín ba phần tử trong ba câu hỏi tại
phép rửa.[126]
Tertullian (160-222) cho rằng Giáo Hội
được xây nền trên lời tuyên xưng Ba Ngôi: “V́
ở đâu có ba, nghĩa là, Cha, Con, và Thánh Thần, th́
ở đó có Giáo Hội là thân thể của ba này.”[127]
Hilary of Poitiers (315-366) và Augustine (354-430)
cho rằng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được
diễn tả đầy đủ trong phép rửa.[128]
Trong nghi thức Thánh Thể, khi Didache
chưa nói rơ về Thánh Thần, th́ nơi Justin đă
thấy có cơ cấu Ba Ngôi.[129]
Trong Truyền Thống Tông Đồ
(Apostolic Tradition) của Hippolytus người ta cũng
thấy cơ cấu Ba Ngôi rơ ràng: “Chúng con ta ơn Thiên Chúa
qua người Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô,
Đấng Ngài đă sai đến vào những ngày cuối
cùng như Đấng Cứu Độ và Đấng
Giải Phóng… Và Con của Ngài đă được mặc khải
nhờ Thánh Thần.”[130]
V. SUY TƯ GIẢI
THÍCH VỀ THIÊN CHÚA
Cái nh́n về Đức Kitô liên hệ
mật thiết đến cái nh́n về Thiên Chúa. Nếu
không tôn trọng thiên tính của Đức Giêsu, th́ không
thể giải thích đúng đắn về Thiên Chúa,
về Đức Giêsu Kitô, và về Thánh Thần.
Đứng trước niềm tin rất đặc
biệt vào Đức Giêsu, người ta ghi nhận có
nhiều giải thích. Dưới đây xin đề
cập đến giải thích của những
người theo ngộ thuyết (gnosticism), rồi
đến giải thích của một số người
Do Thái chủ trương nhất chủ thuyết
(monarchianism), và sau đó giải thích của một số
người Hylạp coi nhẹ nhân tính của Đức
Giêsu (docetism).
Một số Kitô hữu gốc Do Thái
muốn bảo vệ niềm tin độc thần
đến độ hầu như phủ nhận thần
tính của Đức Giêsu, họ cho rằng Đức
Giêsu là một tiên tri xuất chúng nhưng không phải Thiên
Chúa. Thư thứ nhất của thánh Gioan chống lại
quan điểm này: “Ai thắng được thế gian
nếu không phải là người tin rằng Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1Ga.5, 5).
Một số Kitô hữu gốc
Hylạp lại coi nhẹ nhân tính của Đức Giêsu,
cho rằng Đức Giêsu chỉ có vẻ là người
thôi chứ không là người thật. Những
người chủ trương như vậy
được gọi là những người ảo thân
thuyết (docetists). Thư thứ nhất của thánh Gioan
chống lại quan điểm này: “Căn cứ
điều này, anh em nhận biết thần khí của
Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là
Đấng đă đến và trở nên người phàm,
th́ thần khí đó bởi Thiên Chúa” (1 Ga.4, 2). Thánh Ignatius of
Antioch (†107) trong thư gởi Smyrnaeos (Smyrn.2) cho
rằng nếu phủ nhận thân xác của Đức
Giêsu là phủ nhận việc cứu độ, v́ nếu
Đức Giêsu chỉ có vẻ có thân xác, th́ Ngài cũng
chỉ có vẻ cứu độ con người mà thôi.
Ngộ thuyết (gnosticism) rất
đa dạng và phức tạp, cần phân biệt ngộ
thuyết thường như vẫn hiểu, và ngộ
thuyết Kitô. Ngộ thuyết nói chung cho rằng con
người cần ư thức bản tính thần linh
của ḿnh. Con người đă bị sa ngă, đắm
ch́m trong cuộc sống xác thịt và vật chất; v́
thế con người phải t́m cách bằng nhận
thức, thoát khỏi hiện hữu này. Ư thức về
nguồn gốc thần linh của ḿnh, đă là
được cứu độ rồi.
Kitô hữu theo ngộ thuyết
(gnosticism) cũng có cách giải thích riêng về Đức
Giêsu.[131] Họ có tham vọng
giải thích lại Kitô Giáo, một cách cụ thể,
giải thích mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi bằng
những phạm trù ngộ thuyết[132].
Cérinthe, một Kitô hữu theo ngộ
thuyết, xuất hiện thời tin mừng và các thư
Gioan. Cérinthe phủ nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa; ông
phân biệt Đức Giêsu và Đức Kitô. Với
Cérinthe, Đức Giêsu chỉ là một người, là con
không chỉ của Maria nhưng của Giuse nữa,
nhưng trổi vượt trên người khác bởi
sự cẩn trọng, sự công chính, và sự khôn ngoan.
Sau khi chịu phép rửa, Thiên Chúa tối cao, chứ không
phải Tạo Hóa, đă ban Thánh Thần cho Ngài,
được gọi là Kitô, dưới h́nh chim câu. Từ
đó, Đức Giêsu bắt đầu loan báo Vị Thiên
Chúa vô minh, và làm nhiều phép lạ. Trước khi
chết, Thánh Thần, Đấng Kitô, đă bỏ
Đức Giêsu, chết như một người b́nh
thường (xem 1Ga.5, 5; Ga.1, 29-34). Cerinthe chấp nhận
chứng từ của Thánh Thần trong nước phép
rửa, nhưng phủ nhận chứng từ Thánh
Thần bởi máu (xem Ga.19, 31-37). Theo Cérinthe, con
người được cứu độ không phải
bởi máu Đức Kitô, nhưng nhờ nhận một
mặc khải của Thiên Chúa Cha vô minh và không phải là
tạo hóa. Cérinthe phủ nhận thần tính sáng tạo và
công tŕnh cứu độ của Đức Giêsu. Cérinthe là
người đầu tiên Hylạp hóa tín điều Kitô.
Những người theo phái Arius sau này lập lại
điều trên mặc dầu bằng một cách thức
khác.[133]
Valentin và những người theo ông
ta, muốn giải thích sự phát sinh của Lời và
sự phát xuất của vật chất, cũng như
sự nhiệm xuất của Thần Khí và sự phát
xuất của Giáo Hội thiêng liêng trong thế giới
này. Ư tưởng chính yếu của phái Valentin là mối
dây giữa việc nhiệm xuất của Thần Khí và
việc tạo dựng vật chất. Có một sự
tương tự loại suy giữa Thần Khí và vật
chất, Lời và h́nh thể. Họ đồng hóa
Thần Khí và Khôn Ngoan. Thần Khí- Khôn Ngoan là mẹ của
Lời. Khởi từ yếu tính thần linh, Cha h́nh thành
h́nh ảnh của Ngài, và cũng tương tự loại
suy như vậy, từ vật chất mà Thiên Chúa h́nh thành
thế giới. Theo các nhà ngộ thuyết, Thần Khí- Khôn
Ngoan chỉ là ngôi vị khi tạo dựng; và bởi đó
trở nên nguyên lư thánh hóa thế giới.[134] Những
tên tuổi nổi tiếng của ngộ thuyết kitô có
thể kể là “Valentin, Marcion, Saturnin, và Basilide…”[135].
Nhiều tác giả chống lại
những tư tưởng ngộ thuyết kitô, chẳng
hạn:
Irenaeus of Lyon (140†202) viết Adversus Haereses và Demonstratio
Praedicationis Evangelicae;
Tertullian (160†223) viết Adversus Marcionem khoảng năm 208,
viết Adversus Valentinianos, và Adversus Praxeam khoảng năm
218;
Hippolytus viết Adversus Graecos khoảng năm 222;
Origen (186†255) viết Contra Celsum khoảng năm 248.
Trong nỗ lực giải thích
đức tin Kitô giáo, mọi tín hữu xác tín ḿnh phải
bảo vệ niềm tin độc thần, tuy nhiên có
một số người cho rằng họ mới là người
bảo vệ niềm tin độc thần cách đúng
đắn. Họ nhận ḿnh là những người theo
thuyết nhất chủ (monarchianism). Thuyết nhất
chủ có nhiều dạng, và có thể tồn tại
với những đệ tử trong ḍng lịch sử.
Thuyết nhất chủ h́nh thái
(modalist monarchianism) cho rằng Thiên Chúa là duy nhất: Cha, Con,
và Thánh Thần chỉ là những h́nh thái khác nhau của
Thiên Chúa; với lập luận như vậy, Cha chịu
khổ nạn nơi Đức Giêsu, v́ thế
người ta gọi họ là những người theo khổ
phụ thuyết (patripassionism).
Nhất chủ thuyết động
(dynamic monarchianism) giải thích Đức Giêsu không là Thiên
Chúa nhưng là một người đặc biệt, có
quyền năng đặc biệt (dynamic), được
nhận làm Con (dưỡng tử thuyết: adoptionism), nên
Đức Giêsu kém hơn Thiên Chúa (hạ phục thuyết:
subordinationism).
Vài tên tuổi của những
người giải thích sai lạc về Đức Giêsu
Kitô: Theodotus, Asclepiodotus, Artemas, Paul of Samosata.
Paul of Samosata là giám mục Antioch, và
bị kết án bởi công đồng tại thành phố
này năm 268. Khó nói chính xác về tư tưởng của
Paul of Samosata, nhưng dường như ộng chủ
trương Con và Thánh Thần chỉ là những cái tên
được gán cho con người Giêsu Kitô và ân sủng
được ban cho các tông đồ; theo Paul of Samosata,
Lời là sự thông truyền vô ngă từ Thiên Chúa, chứ
không là một hiện hữu cá nhân, hầu Thiên Chúa chỉ
là một ngôi vị; sự phân biệt ba “ngôi” chỉ là
những trừu xuất trừ khi chúng được dùng
như những từ ngữ truyền thống như Con
và Thánh Thần, quy chiếu về con người Giêsu và ân
sủng của Thiên Chúa trong Giáo Hội.[136]Paul
of Samosata cho rằng Đức Giêsu Kitô có một quyền
năng đặc biệt. Kitô học của ông là Kitô
học dưỡng tử (Adoptionist Christology).
Sabellius có lẽ là Praxeas mà Tertullien
đă phản bác trong Adversus Praxeam (213/218) khi bảo vệ
giáo lư về Ba Ngôi. Với Sabellius, Thiên Chúa là Đấng
duy nhất, là Cha và là Đấng ban lề luật trong
Cựu Ước, nhập thể và trở nên Con trong Tân
Ước, và thánh hóa Giáo Hội như Thánh Thần trong
ngày lễ Ngũ Tuần. Những người theo Sabellius
chủ trương: từ nguyên thủy và từ thuở
đời đời Thiên Chúa là Đấng duy nhất,
Ngài trở nên ba trong thời gian: là Cha khi tạo dựng,
là Con khi nhập thể, và Đấng thánh hóa trong ngày lễ
ngũ tuần. Như vậy, Ba Ngôi Vị phải
được hiểu như những h́nh thái hay nhiệm
vụ của một ngôi vị duy nhất, tương
tự như một người khi là linh mục, khi là
thầy dạy, khi là giáo quyền. Ngày nay có thể coi
như cùng quan điểm với những người phái
Sabellius những ai cho rằng Cha, Con, và Thánh Thần chỉ
là những danh hiệu hay những mặt nạ của
một Thiên Chúa duy nhất.[137]
Các giáo phụ phản bác những
giải thích sai lạc trên v́ nó phá hủy niềm tin Kitô
giáo đích thực; những tác phẩm có chữ
đầu “Adversus” hoặc “Contra” thường thuộc
loại này; những tác phẩm này giúp các Kitô hữu
hiểu đúng mặc khải Kitô giáo hơn. Chúng ta có
thể kể tên: Irenaeus of Lyon (140†202), Tertullian (160†223),
Hippolytus, …
Irenaeus giải thích mầu nhiệm
Thiên Chúa Ba Ngôi dù rằng không thấy từ ngữ Ba Ngôi
(trinitas, trias, trinity, trinité) trong các tác phẩm của Ngài.
Sự Cha sinh Con thật khôn tả, và “không ai biết
điều đó, kể cả Valentin, Marcion, Saturnin, và
Basilide… nhưng chỉ có Cha, Đấng sinh, và Con,
Đấng được sinh.”[138]
Một nét đẹp của Irenaeus là
nếu Thiên Chúa cho biết th́ biết, biết th́ nói; nếu
Thiên Chúa không cho biết, th́ nên im lặng, không nên
tưởng tượng để nói những lư thuyết
hăo huyền:
“Nếu ai đó hỏi, trước khi tạo thành
thế giới, Thiên Chúa làm ǵ? Chúng tôi trả lời
rằng câu trả lời thuộc về Thiên Chúa. Kinh Thánh
dạy chúng ta thế giới này là một công tŕnh tuyệt
vời của Thiên Chúa, và thế giới này đă khởi
đầu trong thời gian, nhưng không bản văn Kinh
Thánh nào cho chúng ta biết Thiên Chúa làm ǵ trước đó.
Như vậy, câu trả lời thuộc về Thiên Chúa.
Không nên tưởng tượng những lưu xuất ly
kỳ, điên loạn, phạm thượng[139]…”
Tertullian là người
xứ Carthage của châu Phi. Mặc dầu ông
sống ở đó lâu, nhưng khi ông ở Roma th́ đă
trở lại Kitô giáo khi ông vào tuổi 40. Ông đă trở
lại Carthage và viết một số khảo
luận bảo vệ đức tin chống lương
dân.
Tertullian viết Adversus Praxeam v́ nhân
vật này cho rằng Cha, Con, và Thánh Thần chỉ
đơn thuần là ba h́nh thái qua đó Thiên Chúa tỏ
hiện, như thế Thiên Chúa khi là Cha, khi là Con, và khi là
Thánh Thần. Lư thuyết này c̣n được gọi là
khổ phụ thuyết (patripassianism) hay h́nh thái thuyết
(modalism). Trong văn cảnh này Tertullian đề nghị
công thức “một Chúa ba ngôi” (one substance and three persons)[140] và công thức này
trở thành đặc trưng của Giáo Hội Công Giáo.
Athenagoras, một nhà hộ giáo
(apologist), đă viết vào khoảng năm 175 rằng
điều mỗi Kitô hữu ao ước là hiểu
“đâu là sự kết hiệp giữa Con và Cha, đâu là
sự thông hiệp mà Cha có đối với Con, Thánh
Thần là ǵ, đâu là sự kết hiệp giữa bộ
ba này, và đâu là sự phân biệt giữa Thánh Thần,
Con, và Cha”[141].
Từ ngữ Ba Ngôi đă
được dùng bằng tiếng Hylạp (trias) trong tác
phẩm Ad Autolycum của Theophilus thành Antioch được
viết khoảng năm 181/182, và bằng tiếng Latin trong
tác phẩm Adversus Praxeam của Tertullian được
viết khoảng năm 213/218[142].
“Nếu anh em yêu mến Thầy, th́
hẳn anh em đă vui mừng v́ Thầy đi về cùng
Chúa Cha, bởi v́ Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” (Ga.14,
28).
Con, Đấng được sai, th́
thấp kém hơn Thiên Chúa Cha Đấng sai Ngài. R.P.C. Hanson
cho rằng cho tới năm 355, mọi người
đều chấp nhận hạ phục thuyết
(subordiantionism).[143] W.
Marcus cũng đă cho thấy, hạ phục thuyết chính
thống ở thời điểm tiền-Arian phải
được phân biệt với chủ thuyết Arius.
Theo Marcus, hạ phục thuyết chính thống, coi
Đức Kitô kém hơn Thiên Chúa, có nền tảng trong Kinh
Thánh, không nhất thiết dẫn tới hạ phục
thuyết hữu thể như Arius và những người
theo ông chủ trương. Hạ phục thuyết
tiền-Arian là hạ phục thuyết theo chương
tŕnh cứu độ.[144] Hạ
phục thuyết của những người phái Arius là
hạ phục thuyết hữu thể; những
người này bằng lư luận suy lư chủ trương
Chúa Con và Chúa Cha khác nhau theo bản tính (ousia, nature), Chúa Con
thấp kém hơn Chúa Cha v́ bản tính Chúa Con khác Chúa Cha.
Với Tertullien, “Cha là bản thể trọn vẹn, Con là
một phát xuất và là một phần của toàn thể;”[145] nhưng theo LaCugna,
đây là hạ phục thuyết theo nhiệm cục, không
phải là hạ phục thuyết siêu h́nh.[146]
Arius đă dùng Kinh Thánh để
hỗ trợ cho lập trường của ḿnh. V́
thế, Giáo Hội cần một công đồng chung
để giải thích Kinh Thánh và làm sáng tỏ những
vấn đề thần học.
Arius (256-336[147]), học tṛ cực tả của Origen,
được truyền chức linh mục tại
Alexandria năm 310, tŕnh bày hệ thống tư
tưởng vào năm 323, phủ nhận thiên tính của
Đức Giêsu.
Bản viết của Arius chỉ c̣n
lại trong ba lá thư và phần c̣n lại là những
mảng rời rạc; những điều khác chúng ta
biết đến từ những đối thủ
của Arius như Alexander of Alexandria[148].
Trong lá thư viết vào khoảng năm 318 cho Eusebius of
Nicomedia, Arius viết:
“Cái ǵ tôi đă dạy và cái ǵ tôi phải dạy? Là Con
th́ không phải là không được sinh ra hay là một
phần của Đấng không được sinh ra
dưới bất cứ cách nào hay từ bất cứ
nền tảng nào, nhưng bởi ư muốn của Cha mà
Ngài hiện hữu trước thời gian, đầy ân
sủng và sự thật, Thiên Chúa, chỉ Ngài
được sinh ra, không biến đổi.
Và trước khi được sinh ra hay tạo
dựng hay được xác định hay
được thiết lập th́ Ngài không hiện hữu.
V́ Ngài không phải là không được sinh ra. Nhưng
chúng tôi bị bách hại v́ chúng tôi nói, “Con có một
khởi đầu, nhưng Thiên Chúa th́ không khởi
đầu.”[149]
Với Arius, chỉ có Thiên Chúa là
Đấng khôn tả, không được sinh, không
biến đổi, không nguồn gốc. C̣n Lời Thiên
Chúa, là một Thiên Chúa thứ hai (deuteros theos), là tạo
vật đầu tiên và tuyệt hảo, là trung gian trong
tạo dựng. Lời được tạo dựng
từ hư vô, trong thời gian; qua cách hành xử, Lời
được nhận là Con.[150] Trong
lá thư gởi Alexander of Alexandria, Arius viết:
Thiên Chúa Đấng là nguyên nhân của tất cả
th́ không có khởi đầu, đơn độc; c̣n Con,
được sinh bởi Thiên Chúa, được tạo
dựng và được đặt nền trước
mọi thời, th́ không hiện hữu trước khi
được sinh ra. Đúng hơn, Con được sinh
ra trước thời gian trước mọi sự,
chỉ có Con được Cha cho hiện hữu. V́ Con th́
không trường tồn hay không cùng trường tồn
hay không không-được-sinh như Cha. Con cũng không có
cùng hiện hữu với Cha.[151]
Arius lư luận: nếu Cha và Con
đồng bản tính, th́ sẽ có hai Thiên Chúa. V́ thế,
Cha và Con phải khác nhau trong bản tính (substance, ousia). Câu
của Arius cho thấy lập trường của ông:
“Đă có một thời Ngài không có,” nghĩa là, v́ Con có
một thời không có, nên chỉ là tạo vật, và dĩ
nhiên không thể ngang bằng Thiên Chúa được.
Điều hợp lư của Arius là ông
duy tŕ tính duy nhất của Thiên Chúa: “Nghe đây
hỡi Israel, Đức Chúa, Chúa chúng ta, là Thiên Chúa duy
nhất” (Đnl.6, 4). Hơn nữa, trong các tin mừng
Đức Giêsu cũng khẳng định Ngài kém Thiên Chúa
Cha: “Nếu anh em yêu mến Thầy, th́ hẳn anh em đă
vui mừng v́ Thầy đến cùng Cha, bởi v́ Chúa Cha cao
trọng hơn Thầy” (Ga.14, 28), và, “C̣n về ngày hay
giờ đó th́ không ai biết được, ngay cả
các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không,
chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc.13, 32). “Đức Chúa
đă dựng nên Ta như tác phẩm đầu tay của
Người, trước mọi công tŕnh của Người
từ thời xa xưa nhất” (Cn.8, 22).
Sự thấp kém của Đức
Giêsu đối với Thiên Chúa Cha, được các nhà
thần học chính thống hiểu trên b́nh diện
nhiệm cục cứu độ khi Ngôi Con nhập thể
làm người; nhưng với Arius sự thấp kém này
thuộc b́nh diện hữu thể, nghĩa là, Ngôi Con là
một bản thể khác với Thiên Chúa. Cách giải thích
về Đức Giêsu của Arius nhằm cứu văn nét
độc chủ của Kitô giáo, và cũng nhằm
giải thích những đau khổ Đức Giêsu chịu
không hàm chứa ư nghĩa “Thiên Chúa chịu đau khổ.”
Arius và những người cùng
lập trường với ông đă buộc thần
học Kitô giáo phải bỏ cách nói “theo nhiệm cục
cứu độ” (oikonomia, incarnation) để có giải
thích hữu thể học về bản tính Thiên Chúa
(theologia, ousia).[152]
2.
Công đồng giải thích Kinh Thánh
Có sự chia rẽ trầm trọng
trong Giáo Hội trước cách hiểu này. Một số
đứng về phía Arius trong đó có cả những giám
mục, và một số cùng quan điểm với Athanasius
chống lại cách hiểu của Arius. Công Đồng
Nicea được triệu tập nhằm đưa ra
lời giải đáp quyết định cho cuộc tranh
căi giữa hai lập trường, được
đại diện bởi Arius và bởi Athanasius, hầu
văn hồi sự duy nhất trong Giáo Hội và đế
quốc Roma lúc đó. Mục đích của công đồng
Nicea 325 không nhằm đi vào những vấn đề suy
lư gợi lên bởi Arius, nhưng nhằm bảo vệ
lời dạy của Kinh Thánh và truyền thống.
Chẳng hạn những câu Kinh Thánh được nêu trên,
Truyền Thống Công Giáo đă không hiểu như Arius
hiểu và giải thích, nghĩa là, không v́ đó mà hiểu
rằng Đức Giêsu là một Thiên Chúa kém hơn Thiên
Chúa, nhưng hiểu đó là cách diễn tả trong
nhiệm cục cứu độ. Giáo Hội chính thống
vẫn hiểu Đức Giêsu đồng bản tính
(homoousios, one in being) với Đức Chúa Cha.
Công đồng Nicea định tín:
“Tôi tin kính … một Chúa Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa,
được sinh ra từ trước muôn đời,
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh
sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,
được sinh ra mà không phải tạo thành,
đồng bản tính (homoousios, one in being) với
Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được
tạo thành. V́ loài người chúng tôi và để cứu
rỗi chúng tôi, Người đă từ trời xuống
thế làm người” (DS.125).
Lời tuyên tín lấy nguồn từ
Kinh Thánh và truyền thống của công đồng Nicea
nhằm giải quyết căng thẳng giữa truyền
thống và Kinh Thánh (những giải thích Kinh Thánh), cùng
đưa ra một tuyên tín cho phụng vụ. Tín
điều mới này nhằm phục vụ đức tin
và là một lời giải thích của truyền thống.
Giáo Hội đặt niềm tin của ḿnh không trên
những suy nghĩ riêng tư nhưng trên truyền
thống chung và công khai, được diễn tả qua
phụng vụ.[153]Nếu
Đức Giêsu chỉ là một tạo vật, cho dù
tạo vật đó có vượt trên tất cả, th́
Đức Giêsu không thể là đối tượng
của việc phượng tự.
Athanasius là thành viên của công
đồng, và là một lănh tụ chống lại phái
Arius, cho là những người thuộc Eusebius (cùng phía
với Arius) lập luận nếu Đức Giêsu là con
Thiên Chúa, th́ chúng ta cũng là con Thiên Chúa. V́ vậy, công
đồng Nicea khẳng định Đức Giêsu
đồng bản tính (consubstantial, homoousios) với Thiên
Chúa. Mỗi người chúng ta đều là con Thiên Chúa,
nhưng không phải là con đồng bản tính với
Thiên Chúa mà là dưỡng tử: được nhận là
con chứ không phải con đồng bản tính.
Athanasius tuy dù đă giải thích cho
người ta biết rằng những câu Kinh Thánh mà Arius
viện dẫn được diễn tả trong bầu
khí nhiệm cục cứu độ (oikonomia, incarnation)[154], nhưng ngài vẫn
thấy chưa làm rơ sự thật. Ngài viết: “một
thần học chỉ với những câu Kinh Thánh không
đủ để bảo vệ Kinh Thánh, không thể và vô
dụng. Thiên Chúa muốn con người dùng lư trí và ngôn
ngữ con người để phục vụ Lời
Ngài, nhất là mặc khải về Ba Ngôi”[155].
Nếu Đức Giêsu chỉ là
một tạo vật, th́ con người đâu có
được cứu độ nhờ Đức Giêsu
Kitô.
3.
Vấn đề đặt lại do ngôn ngữ hàm hồ
Công đồng Nicea với
định tín của ḿnh tưởng rằng đă
giải quyết dứt khoát vấn đề về
Đức Giêsu, nhưng thực tế không như vậy.
Một số người cho rằng “đồng bản
tính” (homoousios, consubstantial, same being, one in being) có thể
được giải thích như Con đồng bản
tính với Cha, và như vậy có thể hiểu như ba
Chúa; và nếu vậy là sai lầm; c̣n nếu hiểu “Con là
một với Cha” (one in being) th́ cũng có thể
đưa tới h́nh thái thuyết (modalism: Thiên Chúa khi là
Cha, khi là Con, khi là Thánh Thần).
Đúng ra người ta không
được chỉ dựa vào từ ngữ để
phê b́nh và để hiểu điều công đồng Nicea
định tín, nhưng phải đặt từ ngữ
“đồng bản tính” vào văn mạch, v́ trước
đó công đồng đă tuyên xưng: “Tôi tin kính một
Thiên Chúa là Cha toàn năng… tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con
một Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn
đời…”, v́ thế phải hiểu Đức Giêsu là
Con đồng bản tính với Thiên Chúa và là một
với Thiên Chúa chứ không thể hiểu là ba Chúa
được.
Tuy nhiên những người có khuynh
hướng giải thích theo kiểu của Arius (Semi-Arians)
cho rằng từ ngữ “homoousios” làm cho người ta
dễ hiểu thành ba Chúa, nên tốt hơn nên sửa
đổi thành “homoiousios” (giống như Cha nhưng không
đồng nhất với Cha). Những người này
không muốn hiểu theo ư của công đồng, nhưng
muốn lèo lái bản văn công đồng theo cách hiểu
“hạ phục thuyết” của họ.
Điều những người theo
phái Arius đề nghị c̣n trở nên đặc biệt
hơn khi Anathasius, một cột trụ của công
đồng Nicea, chấp nhận công thức ba hypostases và
một ousia (one being) trong công đồng Alexandria vào
năm 362. Tưởng cũng cần nhắc lại,
nơi công đồng Nicea 325, từ ngữ hypostasis và ousia
được dùng như đồng nghĩa với nhau.[156]
B. CÙNG MỘT ĐỨC TIN DÙ KHÁC
TỪ NGỮ
Nhờ các giáo phụ
vùng Cappadocia (Basil of Caesarea (330-379), Gregory of Nazianzus
(329-389), Gregory of Nyssa (335-394)) mà những từ ngữ
thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi trở nên rơ ràng giữa
Đông và Tây.
Bên phương tây người ta
thường hiểu, nơi yếu tính[157] cái
ǵ đó tổng quát và không giới hạn vào một
thực thể, chẳng hạn yếu tính người
thuộc về tất cả mọi người; c̣n ngôi
vị (persona) lại là cái riêng cụ thể của
yếu tính chung. Như vậy Thiên Chúa như yếu tính
(natura) hiện hữu, và mỗi ngôi vị Thiên Chúa (persona)
đều thông chia yếu tính ấy.
Các nhà thần học phương
đông vùng Cappadocia cho rằng ousia là bản
thể, hàm chứa một hiện hữu cụ thể.
Mỗi ngôi vị thần linh là bản thể thần linh;
bản thể thần linh hiện hữu cách ngôi vị;
không có bản thể thần linh ngoài ngôi vị (hypostases).[158] Nghĩa là, Thiên Chúa Cha
hiện hữu như ngôi vị, và ngôi vị Con
được sinh bởi Cha và ngôi vị Thánh Thần
khởi xuất từ Cha. Cái riêng của Cha là Ngài không
bởi nguyên nhân nào; cái riêng của Con là được sinh
bởi Cha; cái riêng của Thánh Thần là Ngài khởi
xuất từ Cha.
Ở công đồng Nicea 325, ousia và
hypostasis là từ ngữ tương đương
đồng nghĩa, th́ ở công đồng Alexandria 362
nhờ những soi sáng của các nhà thần học vùng
Cappadocia, hypostasis được xác định có nghĩa
là ngôi vị. Ba hypostases là ba ngôi vị chứ không phải
là ba bản thể (ba Chúa).
Sự chuyển đổi ư nghĩa
trong việc dùng từ ngữ hypostasis này làm cho Kitô
hữu phương tây hiểu lầm và gặp khó khăn
trong việc thông hiệp với Kitô hữu phương
đông. Từ ngữ hypostasis thời công đồng Nicea
(325) được dịch sang tiếng Latin là substantia;
như vậy đối với họ, ba hypostases có
nghĩa là ba bản thể (substances), nghĩa là ba Chúa
(tritheism).[159]
Sự phân biệt của thần
học gia phương tây, cụ thể của Tertullian,
giữa natura và persona gây khó khăn cho người
phương đông, v́ persona đă được dịch
là prosopon, nhưng prosopon lại có nghĩa là mặt nạ,
và điều này dẫn tới nguy hiểm rơi vào h́nh
thái thuyết (modalism). V́ thế Basil lưu ư trong lời
tuyên xưng đức tin, ngôi vị (proṣpa, persons) nơi
Thiên Chúa hiện hữu như những hypostases.
Một khi ư nghĩa của những
từ ngữ này được xác định, các Giáo
Hội ở mọi nơi đều tuyên xưng chung
một điều dù dùng những từ ngữ khác nhau:
Basil ở Caesarea, Athanasius ở Alexandria (295-373), Hilary
(315-366) ở Gaul, Damascus ở Ư và đặc biệt ở
Roma.[160] Như vậy, sau công
đồng địa phương ở Alexandria năm
362, có thể nói, ở phương tây dùng một “natura” và
ba “personae,” c̣n ở phương đông dùng một “ousia” và
ba “hypostases” để chỉ cùng một thực tại.
Công
đồng Constantinople năm 381 đă có sự phân
biệt rơ ràng giữa một bản thể (ousia, substantia,
substance) và ba ngôi vị (hypostases, subsistentiae, personae). Công
đồng Constantinople không dùng công thức của
công đồng Nicea “Con bởi bản thể (ousia, being)
của Cha.”
Công đồng Constantinople II (553) coi
hypostasis và persona là đồng nghĩa và khẳng
định: “Nếu bất cứ ai không tuyên xưng Cha,
Con, và Thánh Thần là một bản tính (physis, natura, nature)
hay bản thể (ousia, substantia, substance), một quyền
năng, một Ba Ngôi (trinity) đồng bản tính
(homoousios), một thần tính phải được tôn
thờ trong ba ngôi vị (hypostases hay proṣpa, subsistentiae) hay
personae, th́ bị tuyệt thông” (DS 421/ND 620-621).[161]
Vào thời Origen (185-254), ông đă phân
biệt từng hoạt động cho Cha, Con, và Thánh
Thần; tuy nhiên, Basil (330-379) phản bác quan điểm này.
Dựa trên nền tảng một bản thể, các
thần học gia kết luận cả Ba Ngôi Vị
đều hành động trong mỗi hoạt động
ad extra. Luận đề thần học này là chung cho
cả Đông lẫn Tây[162],
mặc dù bên Đông vẫn nhấn mạnh chiều kích Ba
Ngôi của các hoạt động: Cha hoạt động
tất cả qua Con và trong Thánh Thần. Điều này
được thấy rơ nơi phụng vụ: các vinh
tụng ca hướng về Cha, qua Con, và trong Thánh
Thần. Tuy nhiên, Basil đă làm một thay đổi nơi
công đồng Constantinople: Thánh Thần được tôn
vinh cùng với Cha và Con: “Vinh danh Chúa Cha, và Con, và Thánh
Thần.”[163]
“Ở trong nhau” (tương tại,
being-in-one-another, perichoresis) có nguồn gốc nơi Kinh
Thánh (Ga.10, 30; 14, 9tt; 17, 21). Điều này tiếp tục
được các giáo phụ đề cập tới
như nơi:
Athenagoras, Supplicatio Pro Christianis 10, TU 4/2, 10f:
Irenaeus of Lyon, Adv. Haereses III, 6, 2 (SC 211, 68-71):
Dionysius of Rome, DS 145, ND 303:
Athanasius, De decretis nicaenae synodi 26 (PL 25, 461-466):
Hilary tŕnh bày một công thức diễn tả tương
quan giữa Cha và Con: “ngôi này nhờ ngôi kia, và cả hai là
một; không phải một làm thành từ hai, nhưng ngôi
này trong ngôi kia, bởi v́ trong cả hai không có cái khác.”[164]“Thiên Chúa trong Thiên Chúa, v́
Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa.”[165]
Augustine khẳng định, nơi Ba Ngôi, “không có sự
hỗn hợp hay pha trộn. Mỗi ngôi vị là chính ḿnh,
nhưng Ba Ngôi Vị là chính ḿnh trong những ngôi vị khác;
mỗi ngôi vị trong hai ngôi vị kia, hay hai ngôi vị kia
nơi chính ḿnh, và như vậy tất cả trong tất
cả;”[166]
Công đồng Florence diễn tả sự liên hệ
hỗ tương dựa theo Fulgentius of Ruspe (468-533): “Xét
về tính hiệp nhất Cha trọn vẹn trong Con và
trọn vẹn trong Thánh Thần; Con trọn vẹn trong Cha
và trọn vẹn trong Thánh Thần; Thánh Thần trọn
vẹn trong Cha và trọn vẹn trong Con.”[167]
Ư niệm tương tại
(perichôrêsis) đă có nơi Gregory of Nazianzus (329-389), dù ư
niệm này được Gregory of Nazianzus áp dụng cho
tương quan giữa hai bản tính của Đức
Kitô.[168] Và John Damascene (cuối
VII- trước 754) là người đầu tiên áp
dụng ư niệm này cho tương quan giữa các ngôi
vị trong Ba Ngôi.[169] Chữ
perichôrêsis tiếng Hylạp được dịch sang
tiếng Latin là circumcessio (chẳng hạn nơi Bonaventura),
nhưng từ thế kỷ thứ XIII trở đi
lại được dịch là circumincessio (chẳng
hạn nơi Thomas Aquinas). Chữ circumcessio nhấn
mạnh khía cạnh ở trong nhau cách động, c̣n
chữ circumincessio nhấn mạnh ở trong nhau trong
trạng thái tĩnh. Các thần học gia Hylạp khởi
từ các hypostases, và hiểu perichoresis như một sự
ở trong nhau rất động. Các thần học gia
Latin lại thường khởi từ bản tính duy
nhất của Thiên Chúa, và perichoresis được
hiểu như sự ở trong nhau v́ cùng một bản
tính.
Ba Ngôi Vị không lẫn lộn
(confusion) mà cũng không phân cách (separation). Đây là ngôn
từ của Kitô học dùng để diễn tả
tương quan giữa hai bản tính nơi Đức
Giêsu.[170] Fulgentius of Ruspe đă áp
dụng nguyên tắc này cho Ba Ngôi.[171] Sự
liên kết tương tại (perichoretic unity) trong Ba Ngôi soi
sáng sự phối hợp giữa Đức Giêsu Kitô và con
người (Ga.14, 20; 17, 23) cũng như giữa con
người với nhau (Ga.17, 21), và giữa con người
với Thiên Chúa. Càng hiệp nhất hàm chứa càng
độc lập, càng độc lập th́ chỉ hiệp
nhất được nhờ t́nh yêu. Sự hiệp
nhất giữa Đức Giêsu Kitô và Thiên Chúa không làm tan
biến ngôi vị nhân linh.[172]
c. Phải chăng có số
đếm nơi Thiên Chúa
Thiên Chúa làm sao mà tính đếm
được, để gọi Thiên Chúa là ba hay là
một. Basil nói, Thiên Chúa th́ “hoàn toàn vượt ngoài con
số.” Augustine th́ nói, bởi v́ Thiên Chúa không là số lượng,
nên Ngài không là ba phần; ba ngôi vị không thể
được đếm; Thiên Chúa th́ không lớn hơn
từng ngôi vị một. Công đồng Toledo th́
nói về Ba Ngôi: “Ba Ngôi th́ không phải là không số; tuy
nhiên không thể hiểu bằng số” (nec recedit a numero nec
capitur numero).[173]
d. Thiên Chúa là tất cả Ba
Ngôi (Augustine)
Augustine (354-430) viết De Trinitate trong
khoảng những năm 399-419, gồm 15 quyển,
được chia làm hai phần. Phần đầu
gồm 7 quyển diễn tả và bảo vệ
điều mà Augustine nhận như là những lời
dạy chính thống về Ba Ngôi. Trong quyển 1-4, Augustine
bàn về những cuộc hiện ra của Ba Ngôi trong Kinh
Thánh, đặc biệt là vấn đề “ai hiện
diện” trong các cuộc thần hiển nơi Cựu
Ước. Quyển 5-7 đưa ra một lư thuyết
về những tương quan nội tại của Thiên
Chúa nhờ vào luận lư Aristotle. Trong tám quyển c̣n lại
(8-15), Augustine triển khai một phương pháp phản
tỉnh nhằm chiêm ngắm và hiểu biết Ba Ngôi
được phản ánh nơi chính tâm hồn con
người.[174]
Augustine chịu ảnh hưởng
bởi những tác phẩm của triết gia Tân-Platon
Plotinus (205-270) được Marius Victorinus dịch. Augustine
cũng bị chi phối bởi tác phẩm Theological Orations
của Gregory of Nazianzus mà Ngài đọc vào khoảng
những năm 413.
Augustine giải đáp những vấn
nạn của Arius về sự thấp kém của Con
đối với Cha, bằng việc cho rằng v́
điều này được thực hiện trong
nhiệm cục cứu độ. Augustine cũng giải
đáp những vấn nạn của Eunomia qua việc Con
được sinh bởi Cha. Augustine cho rằng, không có ǵ
được nói về Thiên Chúa theo tùy phụ, nhưng
không phải mọi sự về Thiên Chúa th́
được nói theo bản chất. Có những
điều được nói về Thiên Chúa theo
tương quan như là tương quan Cha Con, Con Cha.[175] Tương quan không là
bản chất và cũng chẳng là tùy phụ. Tương
quan không phải là tùy phụ, v́ Con không có khởi
đầu để là Con nhưng luôn luôn hiện hữu
như là Con. Tương quan cũng không thuộc bản
chất, v́ Cha được gọi là Cha, không phải v́
bản chất Thiên Chúa nhưng trong tương quan với
ngôi vị khác (ad alterum).
Mặc dù là Cha và là Con là hai điều khác nhau,
nhưng vẫn không có sự khác nhau trong bản chất
của Cha và Con, v́ những tên, Cha và Con, không quy chiếu
về bản chất nhưng về tương quan, và
tương quan th́ không là tùy phụ v́ nó không thể thay
đổi.[176]
Một trong những quy luật
của thánh Augustine để nói về Thiên Chúa là:
Bất cứ ǵ về phẩm tính thần linh và
được ca tụng được nói quy chiếu
về Thiên Chúa th́ được nói theo bản chất;
nhưng cái ǵ được nói quy chiếu về cái ǵ khác
th́ không thuộc bản chất nhưng thuộc
tương quan.[177]
Như vậy, Cha là Thiên Chúa, Con là Thiên
Chúa, Thánh Thần là Thiên Chúa, nhưng chỉ có một Thiên
Chúa; mỗi một ngôi vị đều vĩ đại,
khôn ngoan, tốt lành, nhưng chỉ có một vĩ
đại, một khôn ngoan, một tốt lành. Tất
cả những điều này là predicates của bản
thể. Một quy luật khác để nói về Ba Ngôi:
Nơi Ba Ngôi, một cũng nhiều như ba, và hai
th́ không hơn là một. Tất cả đều vô
hạn. Như vậy, một trong một, và tất cả
đều trong một, một trong tất cả, tất
cả trong tất cả, và tất cả trong một.[178]
Trong tương quan với tạo vật, Cha, Con và
Thánh Thần là chỉ một Nguyên Lư, như là một
Tạo Hóa và Chúa.[179]
Sứ mạng thần linh (divine
missions) chỉ thuộc trật tự nhiệm cục
cứu độ, nhiệm xuất (divine processions) chỉ
thuộc Thiên Chúa tự thân (in se). Như vậy,
tương quan của Thiên Chúa với chúng ta trong nhiệm
cục th́ không cấu thành Thiên Chúa là xét như là Ba Ngôi.
Mọi tương quan với Thiên Chúa, tương quan
giữa Ba Ngôi và tạo vật, phải để Thiên Chúa
không bị ảnh hưởng ǵ. Là Chúa của tạo thành
không thuộc về tính vĩnh cửu của Thiên Chúa,
nếu không tạo thành sẽ là vĩnh cửu để
Thiên Chúa có quyền trên nó. Mọi tương quan trong
thời gian chỉ ảnh hưởng trên tạo thành
chứ không trên Thiên Chúa. Như vậy, Thiên Chúa là Cha
của chúng ta khi chúng ta được sinh lại bởi
ân sủng. Bản tính của chúng ta thay đổi nhưng
bản tính của Thiên Chúa th́ không.[180]
Từ ngữ một bản thể và
ba ngôi vị được dùng bởi tiếng Hylạp là
ousia và hypostases, c̣n bên tiếng Latin được dùng là
substantia và personae. Có một thời người ta dịch
hypostases của tiếng Hylạp sang Latin là substantiae,
nhưng điều này không đúng với ư tưởng
của những thần học gia dùng tiếng Hylạp.
Theo Aristotle, tương quan là tùy
phụ. Tương quan là cái một đối
tượng nào đó có, nhưng không có cùng cách thức
như bản tính. Không ǵ là tùy phụ nơi Thiên Chúa,
nếu không Thiên Chúa đâu c̣n là đơn nhất nữa.
Những thuộc tính như tốt lành, khôn ngoan phải
thuộc về yếu tính Thiên Chúa. Theo Aristotle, tùy phụ
liên hệ với bản tính, nên Augustine cho rằng Thiên Chúa
được xem là bản thể (substance) th́ không
chỉnh lắm mà phải được xem là yếu tính
(essence). Như vậy Ba Ngôi phải được
hiểu với từ ngữ yếu tính (ad se) và
tương quan (ad alterum).[181]
Đối với Thiên Chúa, hiện
hữu và là một ngôi vị th́ đồng nhất
với nhau. Augustine viết:
Trong Thiên Chúa, hiện hữu (to be) th́ không là một
điều, và là một ngôi vị (to be a person) lại là
một điều khác. Khi chúng ta nói ngôi vị của Chúa Cha,
chúng ta không muốn nói ǵ ngoài bản thể (substance)
của Chúa Cha. V́ vậy, bản thể của Chúa Cha là
chính Chúa Cha, không xét như là Ngài là Chúa Cha, nhưng xét như
là Ngài hiện hữu, cũng như vậy ngôi vị
của Chúa Cha không là ǵ hơn là chính Chúa Cha. Bởi v́ Ngài
được gọi là ngôi vị đối với Ngài,
không phải trong tương quan với Con hay với Thánh
Thần, cũng như là Ngài được gọi là Thiên
Chúa, vĩ đại, tốt lành, công chính, và những
từ ngữ khác tương tự, đối với
chính Ngài.[182]
Có lúc Augustine đă coi Cha, Con, và Thánh
Thần là những tương quan (quyển thứ V),[183] nhưng trong bản
văn trên (quyển thứ VII) ngài lại xem các ngôi vị
thần linh như bản thể. Sở dĩ vậy v́
không thể tách ngôi vị (xét như là tương quan)
khỏi bản thể (xét như là ngôi vị).
Theo Augustine, linh hồn được
tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa (St.1, 26), nên linh
hồn yêu mến Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa.
Hơn nữa, để kéo linh hồn về với Ngài,
Thiên Chúa đă ban cho sự nhận thức đích thực
về ḿnh. Như vậy, nếu Thiên Chúa là Ba Ngôi th́ linh
hồn cũng phải giống cái mà nó là h́nh ảnh và nó
đang mong ước trở về. Mặc dù trí hồn
(rational soul) chỉ là cái gương mờ phản ánh
Thực Tại mà chúng ta sẽ được chiêm ngắm
diện đối diện.
Augustine đă dùng nhiều bộ ba
nơi con người, chẳng hạn trong quyển
thứ 8 như bộ ba: người yêu, người
được yêu, và mối dây t́nh yêu. Trong quyển 9, ngài
dùng bộ ba: trí khôn, tri thức, và t́nh yêu ḿnh (mens, notitia
sui, amor sui). Trong quyển 10, Augustine dùng bộ ba: trí
nhớ, trí hiểu, và ư muốn (memoria sui, intelligentia sui, voluntas
sui).
Bộ ba trí nhớ, trí hiểu, và ư
muốn, phản ánh những ǵ Augustine đă triển khai
về lư thuyết tương quan. Trí nhớ, trí hiểu,
và ư muốn không là ba bản thể nhưng chỉ là
một bản thể; và mỗi tài năng diễn tả
những tính chất của cả bản thể lẫn
tương quan.
Không phải mỗi tài năng chỉ hiểu ḿnh
nhưng c̣n hiểu tất cả. V́ tôi nhớ rằng tôi
có trí nhớ, trí hiểu và ư muốn; và tôi hiểu rằng
tôi hiểu, muốn và nhớ; và tôi muốn rằng tôi
muốn, nhớ và hiểu; và đồng thời tôi
nhớ trí nhớ trí hiểu và ư muốn của tôi trọn
vẹn.[184]
Quyển 11-15 liên hệ h́nh ảnh
của Ba Ngôi trong hồn với việc tái hội nhập
hồn vào trong Thiên Chúa. Quyển 12-14 vẽ lại lịch
sử của h́nh ảnh này trong lịch sử cứu
độ từ tạo dựng đến sa ngă và cứu
chuộc. Những tài năng của hồn chỉ là
loại suy đối với Ba Ngôi. Bây giờ chúng ta chiêm
ngắm Ba Ngôi chỉ qua tấm gương mờ của
chính chúng ta, trong khi chờ đợi sự chiêm ngắm
hoàn hảo trong đời sau. Những loại suy này
vẫn bất toàn v́ trong hồn h́nh ảnh của Ba Ngôi
không đồng nhất với bản tính nhân loại, c̣n
nơi Thiên Chúa Ba Ngôi cũng cùng là một như Thiên Chúa.
Trong hồn, ba tài năng là trí nhớ trí hiểu và ư
muốn hoạt động riêng rẽ, trong khi nơi Thiên
Chúa Ba Ngôi hành động không thể tách rời nhau. Nơi
Thiên Chúa có Ba Ngôi trong khi đó nơi mỗi hữu thể
nhân linh chỉ có một ngôi vị. Tuy nhiên trong nhiệm
cục cá nhân của chúng ta, chúng ta có thể chiêm ngắm
h́nh ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta, được
biến đổi nên một h́nh ảnh hoàn hảo hơn,
và nhờ đó được liên kết với chính Ba
Ngôi.[185]
Theo các thần học gia Hylạp,
hoạt động của Thiên Chúa trong việc tạo
dựng được khởi đầu với Cha, qua
Con, và được hoàn hảo nơi Thánh Thần. Như
vậy, Cha tạo dựng, cứu chuộc, và thần hóa
qua Con trong quyền năng của Thánh Thần. Cách diễn
tả này mang màu sắc Kinh Thánh và các tín khoản
đầu tiên. C̣n với thần học của Augustine,
hoạt động của Thiên Chúa trong tạo dựng là
công việc của Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là, của
một bản tính Thiên Chúa hiện hữu trong ba ngôi
vị. Nói thật sát là, Thiên Chúa Ba Ngôi tạo dựng, Thiên
Chúa Ba Ngôi cứu chuộc, Thiên Chúa Ba Ngôi thánh hóa. Công
đồng chung Toledo (675) dạy: Ba Ngôi Thiên Chúa không
thể tách biệt cả trong ǵ Ba Ngôi “là” lẫn “làm” v́
không có ngôi nào hiện hữu trước hay không có hai ngôi
kia.[186] C̣n công đồng
Lateran IV (1215) dạy: yếu tính của Thiên Chúa Ba Ngôi
tạo dựng thế giới.[187]
Để chống lại chiều
hướng h́nh thái thuyết trong tư tưởng
của Augustine, một vài hoạt động đă
được biệt gán cho một ngôi vị nào đó,
chẳng hạn việc tạo dựng được
biệt gán cho Cha, việc cứu chuộc được
biệt gán cho Con, và thánh hóa cho Thánh Thần; điều này
được gợi hứng từ những ǵ các ngôi
vị làm trong nhiệm cục. Tuy nhiên, lư thuyết về
biệt gán bị chỉ trích v́ nó không có nền tảng
Kinh Thánh.[188]
Theo Augustine, Thiên Chúa và (ngôi) Cha th́ không
hoàn toàn đồng nghĩa. Thiên Chúa muốn nói bản tính
Thiên Chúa (Godhead), yếu tính thần linh được Ba
Ngôi cùng thông chia như nhau. Cả ngôi vị lẫn yếu
tính đều tuyệt đối nơi Thiên Chúa, nhưng
trong một nghĩa nào đó yếu tính vượt
trước ngôi vị; Ba Ngôi là Thiên Chúa v́ Ba Ngôi cùng thông
chia cùng bản tính Thiên Chúa. V́ cả ba cùng thông chia một
yếu tính Thiên Chúa, nên các hoạt động của
cả ba ngôi đều là một: “Trong tương quan
với tạo vật, Cha, Con, và Thánh Thần là một
Nguyên Lư như Ba Ngôi là một Đấng Tạo Hóa và
một Chúa.”[189] Như
vậy, việc nhập thể được hoàn tất
bởi Cha, Con, và Thánh Thần trong một hoạt
động không thể phân chia được. Với
Augustine, Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong mọi cuộc
thần hiển trong Kinh Thánh Do Thái cũng như Kitô giáo.[190]
Nguyên tắc “công việc của Thiên
Chúa Ba Ngôi ad extra là một” của Augustine làm lu mờ
những sự phân biệt giữa các ngôi vị Thiên Chúa,
đến độ thời trung cổ các thần học
gia như Anselm cho rằng bất cứ ngôi vị nào
cũng có thể nhập thể được; Thomas
Aquinas lại cho rằng kinh Lạy Cha nhằm đến
Thiên Chúa Ba Ngôi chứ không cho Thiên Chúa Cha (ho theos) (ST III,23,2).
Nếu người ta cho rằng Thiên Chúa Ba Ngôi hiện
diện trong mọi nơi Kinh Thánh đề cập
tới Thiên Chúa, th́ dường như sự kiện ba ngôi
vị trong nhiệm cục không c̣n thực sự cần
nữa.[191]
Sự phân biệt rơ ràng minh bạch
giữa yếu tính và ngôi vị xác định quy luật
nói về Thiên Chúa. Một vài thuộc tính của Thiên Chúa
được áp dụng cho ngôi vị Thiên Chúa chứ không
cho yếu tính Thiên Chúa, chẳng hạn như sinh,
được sinh, nhiệm xuất; c̣n những thuộc
tính khác th́ được dùng cho yếu tính Thiên Chúa
chứ không cho ngôi vị, trừ phi dùng như
biệt gán (appropriation), như Đấng Tạo Hóa. Lư
thuyết về biệt gán là một nỗ lực
để nối kết ngôi vị và những biến
cố lịch sử đặc biệt mà không phủ
nhận thuộc tính này nơi các ngôi vị khác, chẳng
hạn việc tạo dựng được biệt gán
cho Thiên Chúa Cha nhưng không phủ nhận thuộc tính
đó nơi hai ngôi vị kia. Augustine khởi đầu tác
phẩm De Trinitate với sứ vụ thần
linh và dữ kiện Kinh Thánh của lịch sử cứu
độ, nghĩa là theo nhiệm cục cứu
độ; tuy nhiên tới kết thúc th́ nhiệm cục
lại được được hiểu nơi
hiện hữu nhân linh. Với Augustine, thần học và
nhân học có một tương quan rất mật
thiết, linh hồn như một gương soi (speculum)
Thiên Chúa.[192]
e. Ngôi vị là tương
quan bản thể (Thomas Aquinas)
Tương quan (relation) hàm chứa quy
chiếu về một điều khác[193].
Có hai nhiệm xuất (processions) nơi Thiên Chúa. Nhiệm
xuất của Con được gọi là sinh hạ
(generation), nhiệm xuất của Thánh Thần
được hiểu theo nghĩa chặt chẽ hơn,
cũng c̣n gọi là nhiệm suư (spiration) (Walter Kasper, p. 279).
Từ hai nhiệm xuất có bốn tương quan:
tương quan giữa Cha và Con, là tương quan sinh
hạ chủ động (active generation) hay chức Cha
(fatherhood);
tương quan giữa Con và Cha: sinh hạ thụ
động (passive generation) hay chức Con (sonship);
tương quan giữa Cha Con và Thánh Thần là tương
quan nhiệm suư chủ động (active spiration,
spirare);
tương quan giữa Thánh Thần và Cha Con là tương
quan nhiệm suư thụ động (passive spiration, spirari).
Ba trong bốn tương quan này
thực sự phân biệt với nhau, đó là tương
quan Cha, Con, và nhiệm xuất thụ động (fatherhood,
sonship, and passive spiration).
Theo Gregory of Nazianzus, Oratio 29, 16 (SC 250,
210-213), “”Cha” là một tên không thuộc yếu tính cũng
chẳng thuộc hoạt động (activity); đó là tên
của tương quan (schesis) và cho thấy Cha tương
quan với Con và Con tương quan với Cha thế nào.”
Theo Augustine, De Trinitate V, 5 (CCL
50, 210f.), “V́ thế, Cha và Con th́ phân biệt nhưng không có
sự khác biệt trong bản thể. V́ “Cha” và “Con” không là
cái ǵ thuộc bản thể nhưng thuộc tương
quan. Tuy nhiên, tương quan này không là tùy phụ v́ nó không
thể thay đổi.” (Walter Kasper, p. 280 note 93).
Công Đồng Florence (DS 1330;
ND 325) dạy: ”Nơi Thiên Chúa tất cả là một
những nơi không có sự đối kháng ngôi vị” (In
Deo omnia sunt unum, ubi non obviat relationis oppositio).
Nơi Thiên Chúa sự phân biệt
chỉ ở b́nh diện tương quan. Khẳng
định này rất quan trọng v́ cho thấy các ngôi
vị không là những thực thể độc lập
với nhau như thể là ba Thiên Chúa, nhưng chỉ là
một Thiên Chúa với ba ngôi vị. Nơi Thiên Chúa, điều
quan trọng không là bản thể tĩnh nhưng là
hiện hữu cho tha vị (ngôi vị khác) và hiện
hữu nhờ tha vị. Nơi con người, ngôi vị
hàm chứa hiện hữu độc lập; c̣n nơi
Thiên Chúa, ngôi vị không hàm chứa hiện hữu
độc lập. Ba Ngôi Vị Thiên Chúa không là ba bản
thể độc lập với nhau (substances) nhưng là
những ngôi vị khác nhau (subsistences), c̣n vẫn là một
yếu tính Thiên Chúa (Godhead, divinity). Nơi con người,
mỗi ngôi vị là những hiện thể độc
lập tuy dù cùng một bản tính người; c̣n nơi
Thiên Chúa ba ngôi vị không là ba thực thể độc
lập nhưng chỉ là ba tương quan. Từ ngữ
ngôi vị được dùng cho Thiên Chúa và từ ngữ ngôi
vị được dùng cho con người có ư nghĩa
khác nhau. Ba ngôi vị người là ba người khác nhau,
độc lập với nhau; nhưng ba ngôi vị Thiên Chúa
không là ba thực thể khác nhau, không là ba Thiên Chúa, nhưng
chỉ là một Thiên Chúa. Một bản tính Thiên Chúa,
một yếu tính Thiên Chúa, một thần tính nhưng ba
ngôi vị khác nhau (hypostasis, subsistence, persona, prosopon).
Từ ngữ được dùng
để chỉ ngôi vị Thiên Chúa bên thần học
Đông Phương là hypostasis, được thần
học Tây Phương dịch bằng chữ subsistence, c̣n
từ ngữ bên thần học Tây Phương dùng là
persona. Chữ persona của Tây Phương (latin)
được dịch bởi Đông Phương
(Hylạp) prosopon. Đông phương không thích chữ
prosopon (persona), v́ nó làm cho người ta dễ rơi vào
h́nh thái thuyết (modalism), cho rằng Con chỉ là một
mặt nạ, một cách diễn tả khác của Cha.
Chữ hypostasis của Hylạp không được
chuyển là substance (dù rằng đă có lúc có chỗ
được chuyển ngữ như vậy) v́ nếu
thế dễ bị hiểu như là ba thực thể
riêng biệt độc lập, và dễ bị hiểu là
ba Chúa (tritheism), mà phải được chuyển là
subsistence. Ba subsistences được hiểu là ba ngôi
vị nhưng vẫn là một Thiên Chúa.
Theo ngôn từ kinh viện, ngôi vị
(person, hypostasis) không thể được giản trừ
vào bất cứ ǵ và không thể thông truyền cho ǵ khác;
như vậy, ngôi vị là duy nhất thể phân biệt
với các ngôi vị khác. Theo định nghĩa cổ
điển của Boethius, ngôi vị là bản thể
bất khả chia của một tự nhiên có lư trí (persona
est naturae rationalis individual substantia[194]).
Richard of St. Victor định nghĩa: ngôi vị là một
hiện hữu bất khả thông truyền của một
tự nhiên có lư trí (naturae rationis incommunicabilis existentia)[195]. Thomas Aquinas thay từ
ngữ bản thể (substantia) bằng từ ngữ
tiềm bản thể (subsistentia, subsistence)[196].
Theo Thomas Aquinas, những ngôi vị thần linh là những
tương quan tiềm bản thể (subsistent relations).
Các ngôi vị phân biệt với nhau
bởi thuộc tính của mỗi ngôi vị (idịmata
hypostatika, personal properties), chẳng hạn, chức cha
chức con và nhiệm xuất (fatherhood,
sonship, passive spiration). Nét đặc trưng của Cha là
không được sinh ra (agennèsia); tuy nhiên thần học
Đông Phương và thần học Tây Phương
hiểu nét đặc trưng này có khác nhau. Đông
Phương cho rằng Cha như khởi nguồn và như
nguồn của Ba Ngôi, và tính không được sinh ra là
thuộc tính đặc biệt của chức Cha. Thần
học Tây Phương xem tính “không được sinh ra”
như thuộc tính của ngôi Cha nhưng không là thuộc
tính cấu thành của ngôi Cha (chẳng hạn, Thánh
Thần cũng đâu được sinh ra).
Thuộc tính (property) được
phân biệt bởi sự biệt gán (appropriation), nghĩa là,
gán một thuộc tính hay một hoạt động cho
một ngôi vị dù rằng thuộc tính này cùng chung hết
cho cả ba ngôi vị. Chẳng hạn, quyền lực
được biệt gán cho Cha, khôn ngoan được
biệt gán cho Con, và t́nh yêu được biệt gán cho
Thánh Thần. (Walter Kasper, p. 282).
Công đồng chung Constantinople năm
381 tuyên xưng: “Chúng tôi tin kính Thánh Thần, là Chúa và là
Đấng ban sự sống, Ngài khởi xuất từ
Chúa Cha, Ngài cùng được phụng thờ và tôn vinh
với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con…” (DS 150; ND
11-12; GLCG 245). Công đồng chung Chalcedon năm 451 đón
nhận giáo lư của công đồng Nicea 325 và Constantinople
381, v́ thế “kinh Tin Kính Nicea-Constantinople” trở thành gia
sản chung của cả Giáo Hội đông phương
lẫn tây phương.[197]
Giáo Hội Chính Thống vẫn trung
thành tuyên tín với “kinh tin kính” của công đồng
Constantinople năm 381 cho tới nay, c̣n Giáo Hội Công Giáo
đă thêm chữ Filioque vào kinh tin kính của công
đồng Constantinople 381. Theo sách Giáo Lư Hội Thánh Công
Giáo, “việc sử dụng công thức này (Filioque) trong kinh
Tin Kính được chấp nhận dần dần trong
phụng vụ Latin từ thế kỷ VIII đến
thế kỷ XI.”[198] Tuy
dù được thêm vào kinh tin kính Nicea-Constantinople sau
một thời gian dài, nhưng tư tưởng Filioque
đă có trước cả công đồng Chalcedon 451,
cụ thể đă thấy nơi Đức Giáo Hoàng Leô
Cả năm 447 (DS 284).
Với lời tuyên xưng “Thánh
Thần khởi xuất từ Cha” của công đồng
Constantinople 381, Giáo Hội đông phương hiểu và
nhấn mạnh: Cha là nguồn gốc và khởi thủy
của tất cả thiên tính, Cha là nguồn gốc của
Thánh Thần (para tou Patros ekporeuetai, cf. Ga 15, 26). Với
lời tuyên xưng này, người ta có thể hiểu
tương quan giữa Thánh Thần và Cha được
xác định nhưng tương quan giữa Con và Thánh
Thần c̣n bỏ ngỏ. Qua từ ngữ “khởi
xuất” (ekporeusis), không được phép coi Thánh Thần
như một tạo vật của Cha, cũng không
được phép coi Thánh Thần như được
sinh bởi Cha (nếu không sẽ có hai Con!). Thánh Thần có
một tương quan duy nhất với Thiên Chúa như
nguồn gốc: không có một tương quan nào như
vậy, không giống tương quan giữa Cha và Con.[199]
Với lời tuyên xưng Thánh
Thần phát xuất từ Cha và Con (Filioque) của Giáo
Hội Công Giáo, Giáo Hội Công Giáo muốn nói: Thánh Thần
không phải chỉ là Thánh Thần của Cha mà c̣n là Thánh
Thần của Con nữa, “Thánh Thần nhận lănh bản
tính và hữu thể vừa từ Cha, vừa từ Con.
Đời đời Người phát xuất từ Cha và
Con như từ cùng một nguyên lư và từ một
nhiệm suy duy nhất” (DS 1300-1301; GLCG 246; ND 322-323).
Thánh Augustine (354-430), thần học gia
Công Giáo Latin, đă nh́n Thánh Thần như T́nh Yêu giữa Cha
và Con, là sự thông hiệp giữa Cha và Con. Augustine cũng
như các thần học gia tây phương luôn nh́n Cha
như nguồn gốc duy nhất. Theo Augustine, Thánh Thần
xuất nguyên (principaliter) từ Cha. Thánh Thomas cũng
chấp nhận công thức này và diễn tả Cha như
nguyên lư và nguồn của Ba Ngôi (principium or fons totius
trinitatis). Theo Thomas, Con lấy từ Cha quyền năng
nhiệm xuất Thánh Thần; như vậy, cũng có
thể nói, Thánh Thần xuất từ Cha qua Con.[200]
Giáo Hội đông phương cũng
dùng những h́nh ảnh nhân loại và những loại suy
để hiểu về Con và Thánh Thần của Thiên Chúa.
Khởi điểm đối với họ là lời
được nói ra. Lời được nói ra nhờ
hơi thở. “Khi chúng ta nói một lời, sự
chuyển động của hơi thở, khí làm phát sinh
tiếng, cái làm ư nghĩa của lời đạt tới
người khác.” Tương tự vậy, nơi Thiên
Chúa, Thần Khí tức Thánh Thần đi với Lời và
tỏ lộ hiệu quả của Lời.”[201]
Với thần học Latin, Thánh
Thần xuất từ t́nh yêu hỗ tương giữa Cha
và Con (processio); c̣n đối với thần học
Hylạp, Thánh Thần khởi xuất từ Cha (ekporeusis).
Với thần học Hylạp, điều này không
muốn nói rằng Thánh Thần không là Thánh Thần của
Con. V́ “Thánh Thần khởi xuất từ Cha,
được thông truyền qua Con, và được các
tạo vật đón nhận.” Điểm hay của quan
niệm này là duy tŕ được vị thế của Cha
như nguồn duy nhất của thần tính, cũng
như tương quan của Thánh Thần với hoạt
động trong thế giới được thấy rơ
nét hơn.[202]
Nền tảng chung của việc
h́nh thành quan niệm về Thánh Thần của cả
thần học Latin lẫn Hylạp được
thấy nơi Ga 15, 26 (ho para tou patros exporeuetai). Kinh tin kính
Nicea-Constantinople thay chữ para bằng ek, và
thay chữ ekporeuetai ở th́ hiện tại với chữ
ekporeuomenon th́ quá khứ phân tự; điều này muốn
nói sự nhiệm xuất không chỉ tạm thời
nhưng c̣n là nhiệm xuất vĩnh cửu. Sự khác
biệt giữa thần học Hylạp và Latin trở nên
rơ ràng khi bản dich phổ thông (Vulgate) chuyển chữ
ekporeuetai là procedit, v́ chữ processio (nhiệm xuất) trong
thần học Latin có nhiều nghĩa hơn là chữ
ekporeusis (khởi xuất) trong thần học Hylạp.
Trong văn chương Hylạp, ekporeuesthai có nghĩa:
khởi xuất từ, khởi đến bởi; trong
nghĩa này nó chỉ được áp dụng cho Cha như
khởi nguồn. Việc đồng hoạt động
của Con trong việc nhiệm xuất Thánh Thần,
nếu có, phải được diễn đạt
bằng động từ proïenai; thần học Latin
đă không có sự phân biệt này. Thần học Latin
dịch ekporeusis bằng processio, mà chữ processio có thể
được áp dụng cho mọi nhiệm xuất
của Ba Ngôi; processio không đơn thuần chỉ
việc nhiệm xuất Thánh Thần mà c̣n chỉ cả
việc sinh Con cũng như việc nhiệm xuất Thánh
Thần qua Con.[203] Với
việc dùng chữ processio như vậy, thần học
Latin c̣n phải phân biệt nhiệm xuất (processio)
của Con với nhiệm xuất (processio) của Thánh
Thần. Nếu việc nhiệm xuất (processio) của
cả hai đều giống nhau, th́ Thiên Chúa có hai
người con, và như vậy không thể nhận
biết sự khác biệt giữa Con và Thánh Thần.
Đây là vấn đề thần học mà nền
thần học Latin gặp phải, chứ bên thần
học Hylạp không gặp vấn đề này. Như
vậy theo thần học Latin, sự phân biệt giữa
Con và Thánh Thần chỉ được duy tŕ khi Con có
chức vụ nhiệm xuất Thánh Thần từ Cha. Trong
cái nh́n này, Con đóng vai tṛ không là chính yếu (principaliter)
nhưng chỉ do quyền năng Con nhận từ Cha.
Chính v́ vậy, thần học Latin luôn luôn nhấn mạnh
rằng trong việc nhiệm xuất Thánh Thần, Cha và Con
tạo thành một nguyên lư duy nhất (DS 850; ND 321). Thực
tế, thần học Latin cũng có thể nói như thánh
Thomas: Thánh Thần xuất từ Cha qua Con. Điều
bất lợi của Filioque là trong kinh tin kính, sự khác
biệt giữa Cha và Con trong việc nhiệm xuất Thánh
Thần không được nói rơ nên làm cho các thần
học gia và những tín hữu bên nền văn
chương Hylạp hiểu lầm.[204]
Thần học Hylạp cũng có
điểm yếu. Tuy kinh tin kính Nicea-Constantinople có thể
diễn đạt chỗ đứng đặc biệt
của Cha trong việc khởi xuất Thánh Thần,
nhưng nó lại không nói ǵ về tương quan giữa
Thánh Thần và Con. Trong Kinh Thánh, Thánh Thần khởi
xuất từ Cha (Ga 15, 26) nhưng lại được
thông ban nhờ Con (Ga 14, 16.26). Hơn nữa nếu
nhiệm cục cứu độ và thần học nội
tại Ba Ngôi tương hợp nhau, th́ việc Con sai
gởi Thánh Thần trong nhiệm cục cứu độ
(Ga 15, 26), cũng hàm ẩn sự nhiệm xuất Thánh
Thần trong thần học nội tại Ba Ngôi. Cũng
theo Kinh Thánh, Thần Khí cũng là Thần Khí của Con (Gl
4, 6), Thần Khí của Đức Giêsu Kitô (Rm 8, 9; Pl 1, 19).
Theo sách Khải Huyền (Kh 22, 1), nước ban sự
sống khởi xuất (ekporeumenon) từ ngai Thiên Chúa và Con
Chiên.[205]
Có lẽ v́ những dữ kiện Kinh
Thánh trên mà các giáo phụ Hylạp trong những thế
kỷ đầu đă không phản kháng công thức Filioque
hay những điều na ná như vậy nơi các thánh
Ambrose, Augustine, và Leo Cả. Hơn nữa những công
thức thấy nơi một số các giáo phụ
Hylạp cũng có vẻ giống thần học Filioque
của tây phương, chẳng hạn đặc biệt
nơi thánh Athanasius, Cyril of Alexandria, và Basil. Các giáo phụ
Hylạp thường nói về sự nhiệm xuất
của Thánh Thần từ Cha qua Con; tuy nhiên điều này
không hoàn toàn xa lạ với thần học Latin,
đặc biệt với Tertullian,[206] người
đă đặt nền cho thần học Ba Ngôi
trước cả thánh Augustine.[207]
Đă có một công thức tổng
hợp cả hai công thức đông và tây của Epiphanius of
Salamis: Thánh Thần là Đấng xuất từ Cha và
nhận từ Con.[208]
Trong thời đầu tuy hai nền
thần học Hylạp và Latin có những diễn
đạt khác biệt nhưng không xung khắc nhau, Filioque
chỉ thành vấn đề khi bên Latin biến công
thức thần học thành công thức tuyên xưng
đức tin, và như vậy là đơn phương
thay đổi bản văn của kinh tin kính
Nicea-Constantinople. Sự thay đổi này xảy ra trong
những công đồng địa phương
ở Toledo vào thời gian từ thế kỷ
thứ năm đến thế kỷ thứ bảy.[209] Có lẽ Filioque
được thêm vào nhằm chống lạc giáo Arius có
tên là Prescillianism. Lời tuyên xưng Filioque hàm chứa Con
đồng bản tính với Cha, và Thánh Thần không
chỉ là Thánh Thần của Cha nhưng cũng là Thánh
Thần của Con nữa. Những điều trên nếu
được hiểu ngọn nguồn th́ sẽ thấy
không có ǵ mới đối với thần học đông
phương, ngay cả dù lúc đó việc tương quan
liên lạc giữa đông và tây không c̣n được
mặn nồng như trước. Sự bất
đồng và những cuộc tranh luận gay gắt
chỉ bùng lên khi Charlemagne tại công
đồng Frankfurt (794) chống đối công
đồng Nicea thứ hai (787)[210] bằng
tuyên xưng Filioque (Thánh Thần xuất từ Cha và Con).
Niềm tin Filioque đă mặc nhiên được chấp
nhận ở tây phương vào thời điểm đó.
Công đồng Aachen (809) chính thức thêm Filioque vào
kinh tin kính. Lúc đầu, Roma rất dè dặt và thậm
chí c̣n chống lại việc thêm vào này. Cụ thể,
Đức Giáo Hoàng Leô III bảo vệ Nicea và truyền
thống, và đặt ḿnh chống lại các công
đồng Carolingian; Đức Giáo Hoàng duy tŕ lập
trường của ngài khi các tu sĩ đan viện thánh
Sabbas ở Yêrusalem thêm Filioque vào kinh tin kính trong Thánh Lễ
và gây nên một cuộc tranh căi gay gắt; Đức Giáo
Hoàng bảo vệ lời dạy trong Filioque nhưng từ
chối thêm nó vào kinh tin kính. Tới thời Đức Giáo
Hoàng Benedict VIII th́ khác; hoàng đế Henry II thỉnh
cầu được thêm Filioque vào kinh tin kính trong Thánh
Lễ tấn phong ông vào năm 1014. Kể từ đó,
truyền thống tuyên xưng mới đă được
bắt đầu ở tây phương.[211]
Công đồng Lateran IV (1215) và công
đồng Lyons II (1274) xác định giáo lư của
thần học tây phương về việc nhiệm
xuất (processio) Thánh Thần từ Cha và Con (Filioque).[212] Công
đồng Lyons tố cáo sự hiểu lầm
của thần học đông phương cho rằng bên
tây phương chủ trương có hai nguyên lư hoặc hai
nguồn gốc nơi Ba Ngôi khi tuyên xưng Filioque. Theo
lời dạy của công đồng Lateran, Cha và Con
tạo nên một nguyên lư duy nhất trong việc nhiệm
xuất Thánh Thần. Theo một nghĩa nào đó, thần
học tây phương đă nhấn mạnh sự hiệp
nhất nơi Ba Ngôi hơn cả bên thần học
đông phương v́ qua Filioque sự đồng
đẳng và đơn nhất của Thánh Thần với
Cha và Con được xác định; thần học Latin
cũng cho thấy tương quan sự sống và t́nh yêu
giữa Cha và Con được hoàn tất nơi Thánh
Thần như sợi dây liên kết v́ Thánh Thần là t́nh
yêu của Cha và Con.[213]
Thần học đông phương
phản đối Filioque trên b́nh diện luật và trên b́nh
diện tín lư. Bên thần học đông phương cho
rằng Filioque không hợp luật v́ công đồng Ephesus
(431) cấm không cho dùng một tuyên tín khác (hetera pistis);[214] Bên thần học tây
phương th́ cho rằng Filioque không là một đức
tin khác nhưng là một lời giải thích của cùng
một đức tin được công đồng Nicea và
Constantinople tuyên xưng. Việc phản kháng Filioque trên b́nh
diện tín lư th́ do thượng phụ Photius chủ
xướng vào thế kỷ IX. Photius chống đối
Filioque và sửa công thức tuyên tín thành “từ một Cha
mà thôi” (ek monou tou patros). Công thức này là đúng nghĩa khi
chữ ekporeusis được hiểu ngặt theo
tiếng Hylạp và theo nghĩa principaliter procedere của
thánh Augustine; tuy nhiên ek mono tou patros mà Photius dùng ở đây
trong bầu khí tranh luận th́ lại có nghĩa khác,
bởi v́ “chỉ bởi Cha mà ra” (ek monou tou patros) này
lại phủ nhận truyền thống Hylạp hiểu
Thánh Thần được nhiệm xuất từ Cha qua
Con, và phủ nhận mọi tương hợp với
thần học tây phương. Giáo Hội Hylạp
nhận là quy chuẩn cái nh́n của Photius mặc dầu
không phủ nhận lời giải thích của các giáo
phụ trước như Photius đă phủ nhận.
Truyền thống Hylạp th́ rộng và phong phú hơn cái
nh́n của Photius trong những cuộc tranh luận.[215]
Vào thời đầu khi tuyên tín
Filioque được thêm vào, người ta cho rằng
việc không nhận Filioque là lạc giáo; tuy nhiên quan
điểm của các thần học gia lớn thời
trung cổ đầu th́ tế nhị hơn, không như
người ta tưởng. Công
đồng Florence (1439-1445) nỗ lực nối
kết hai Giáo Hội đông và tây nhưng thất bại.
Ngày nay đối với Giáo Hội Công Giáo Roma, quyết
định của Đức Giáo Hoàng Benedict XIV (1742-1755) là
chuẩn mực: Giáo Hội Đông Phương
được phép dùng kinh tin kính không sửa đổi của
năm 381. Điều này hàm chứa: các công thức
được dùng trong hai Giáo Hội bổ túc cho nhau.[216]
Chúng ta đă lần theo nhiệm
cục cứu độ để cùng với các tông
đồ khám phá mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi,
thiết tưởng bây giờ là lúc cần có cái nh́n
thần học xét như những lư luận tổng
hợp về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thánh Gioan tông đồ sau một
thời gian dài nghiền ngẫm suy tư, Ngài tuyên xưng:
“Thiên Chúa là t́nh yêu.” Thiên Chúa là t́nh yêu, nghĩa là, Thiên Chúa là
Đấng yêu thương. Thiên Chúa là t́nh yêu, không phải
chỉ khi tạo dựng con người Ngài mới là t́nh
yêu, nhưng Ngài đă là t́nh yêu từ muôn muôn thuở. Thiên
Chúa là Đấng yêu thương, bây giờ và từ
trước muôn đời muôn thuở.
Từ thuở đời đời,
Thiên Chúa là t́nh yêu. T́nh yêu là tương quan liên vị, là thái
độ phải có của một ngôi vị đối
với ngôi vị khác. Nơi vật chất cũng có
sự thu hút lẫn nhau, như nam châm trái cực hút nhau;
nơi con vật cũng có sự thu hút gần nhau giữa
hai giống đực cái theo bản năng. Nơi vật
chất và sinh vật hạ đẳng, chúng không có tự
do và luôn tuân theo luật tự nhiên và bản năng; c̣n
nơi con người xét như ngôi vị tự do, t́nh yêu
là tương quan phải có giữa những ngôi vị; tuy
dù đó là tương quan cần có (để sống
đúng như một ngôi vị nhân linh) nhưng con
người vẫn tự do. Với tự do, con
người trở nên tuyệt vời hay tệ hại tùy
chọn lựa yêu thương hay không. Thiên Chúa là t́nh yêu,
hàm chứa, Thiên Chúa là những ngôi vị; trước khi
tạo dựng con người, Thiên Chúa đă luôn yêu
thương nhau.
Nơi t́nh yêu, người ta
hướng tới nên một với nhau. Ư hợp tâm
đồng. Một ḷng một ư. Nơi t́nh yêu nam nữ
vợ chồng, người ta nên một với nhau không
chỉ nơi tâm hồn nhưng cả nơi thân xác. Thiên
Chúa tuy dù là ba ngôi vị nhưng Thiên Chúa đă luôn kết
hiệp với nhau đến độ chỉ là một
Thiên Chúa mà thôi.
“Ḿnh với ta tuy hai mà một, ta
với ḿnh tuy một mà hai.” Nơi con người, hai
người là hai ngôi vị riêng rẽ, tuy có thể
độc lập với nhau nhưng cũng cần nhau
tới một mức độ nào đó để
sống hạnh phúc. Chẳng hạn, để những
thành viên trong một gia đ́nh sống hạnh phúc, các thành
viên cần hỗ tương liên hệ với nhau ở
một mức độ nào đó. Nơi Thiên Chúa, Ba Ngôi
Vị phân biệt và tùy thuộc nhau ở mức
độ tuyệt vời. Thiên Chúa tuy là ba ngôi vị phân
biệt nhưng vẫn luôn là một với nhau. Ba Ngôi Thiên
Chúa là một không chỉ v́ Ba Ngôi cùng một bản tính
Thiên Chúa mà c̣n v́ Ba Ngôi Vị Thiên Chúa luôn ở trong nhau
đến độ là một (tương tại,
circumincessio, circumcessio). Ba Ngôi Vị Thiên Chúa ở trong nhau
nhưng không lẫn lộn ngôi nọ với ngôi kia. Nơi
Thiên Chúa, tất cả đều chung trừ tương
quan ngôi vị.
Ba ngôi vị Thiên Chúa không lẫn
lộn, không ḥa tan trong nhau đến mất ḿnh; nhưng
trái lại, Cha luôn là Cha, Con luôn là Con, Thánh Thần luôn luôn là
Thánh Thần. Không khi nào Cha ngừng là Cha. Không khi nào Con
ngừng là Con. Không khi nào Thánh Thần thôi là Thánh Thần.
Cho nên dù ở trong nhau, nên một với nhau, th́ Ba Ngôi
vẫn là Ba Ngôi.
Với những người theo
thuyết h́nh thái (modalism), có lúc Cha là Con, và có lúc Cha là Thánh
Thần. Với họ, v́ Cha cũng là Con khi nhập
thể, nên khi Con chịu khổ nạn tức là Cha
chịu khổ nạn. Hiểu như họ, không là cái nh́n
của truyền thống Công Giáo về Thiên Chúa. Nơi
Thiên Chúa, tất cả là một nhưng mỗi ngôi vị
luôn luôn là ḿnh. Cha luôn luôn là Cha và không bao giờ là Con. Cha luôn
luôn ở trong Con, Con luôn luôn ở trong Cha, nhưng Cha
vẫn luôn là Cha và Con vẫn luôn luôn là Con mọi nơi
mọi lúc trong mọi hoàn cảnh. “Ta và Cha là một” (Ga 10,
30); tuy nhiên, Con và Cha vẫn luôn luôn khác nhau, Cha vẫn là Cha
và Con vẫn là Con; điều khác biệt nơi Thiên Chúa
chính là ngôi vị.
Từ sự thông hiệp giữa Ba
Ngôi Thiên Chúa chúng ta có thể hiểu về sự thông
hiệp giữa con người và Thiên Chúa. Ba Ngôi Thiên Chúa
tuy ở trong nhau nhưng không tiêu hủy nhau và cũng không
làm mất chính ḿnh; cũng tương tự vậy, Ba Ngôi
Thiên Chúa ngự nơi con người nhưng không hủy
hoại ngôi vị con người mà trái lại c̣n làm con
người là ḿnh hơn, bởi v́ Ba Ngôi Thiên Chúa ở
trong nhau không hủy hoại ngôi vị khác mà cũng
chẳng làm mất chính ḿnh, trái lại, lại c̣n làm ḿnh là
ḿnh hơn. Cũng tương tự như vậy
những người kết hiệp với Thiên Chúa.
Một người kết hiệp
với Thiên Chúa cho dù ở mức độ cao sâu
đến đâu cũng vẫn luôn là họ. Họ
được thần hóa, được Thiên Chúa hóa,
được thánh hóa, nhưng họ vẫn luôn là họ,
vẫn luôn là người. Càng kết hiệp với Thiên
Chúa, th́ càng là người, càng là người trọn
vẹn hơn, tuyệt vời hơn. Để biết
một người là thánh đến mức độ nào,
th́ nh́n xem họ là người đến mức
độ nào. Ai yêu thương Thiên Chúa th́ phải yêu
mến anh em ḿnh. Làm sao một người có thể yêu
mến Thiên Chúa Đấng mà họ không thấy nếu
họ không yêu mến anh em đang sống chung quanh họ?
Ai yêu thương là biết Thiên Chúa, ai không sống yêu
thương là không biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu.
Sự kết hiệp con người
với Thiên Chúa có mẫu mực là Đức Giêsu Kitô.
Đức Giêsu Kitô là người thật và là Thiên Chúa
thật. Đức Giêsu là Thiên Chúa, là ngôi Lời Thiên Chúa
nhập thể. Ngôi Lời Thiên Chúa kết hiệp với
bản tính con người, gọi là ngôi hiệp. Nơi
Đức Giêsu, bản tính Thiên Chúa và bản tính con
người luôn được tôn trọng. Bản tính
Thiên Chúa không làm tiêu hủy bản tính người, nhưng
vẫn làm Đức Giêsu là người thật, là người
trọn vẹn. Dù nhập thể làm người, Ngôi
Lời vẫn là Thiên Chúa, và không giảm bản tính Thiên
Chúa chút nào. Ngôi Lời vẫn luôn là một với Cha và
Thánh Thần, nhưng chỉ có Ngôi Lời nhập thể
làm người mà thôi.
Đức Giêsu là người thật
và là Thiên Chúa thật. Mỗi người chúng ta dù kết
hiệp với Thiên Chúa cũng không bị tan biến
hoặc làm mất chúng ta, nhưng làm chúng ta là chúng ta
hơn, là người hơn. Ngay cả khi con người
ở trên thiên đàng với Thiên Chúa, th́ sự kết
hiệp với Thiên Chúa cũng không làm con người không
là người nữa; trái lại, con người trên
trời dù kết hiệp với Thiên Chúa, cũng vẫn là
người.
Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, sự ở trong
nhau (circumincessio) không làm mất chính ḿnh mà cũng không làm
tổn thương ngôi vị khác, trái lại vẫn là
chính ḿnh và để ngôi vị khác là ngôi vị khác một
cách hoàn toàn, là mẫu mực cho cách sống của con
người trên trần gian này. Sự khác biệt không
hủy hoại tính hiệp nhất nhưng chính sự khác
biệt mới cho thấy tính hiệp nhất giữa các
ngôi vị. Sự khác biệt, sự phong phú đa dạng
qua những khác biệt giữa con người với nhau,
đ̣i người ta phải trân trọng lẫn nhau khi
nh́n vào mẫu mực Thiên Chúa Ba Ngôi.
2. Ad Extra: Yêu Thương Con Người
Thiên Chúa là t́nh yêu. Thiên Chúa là
Đấng yêu thương. Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương
nhau và yêu thương con người.
Thương cảm lắng
nghe tiếng kêu cầu
Thiên Chúa yêu thương con
người. Điều này được biểu lộ
cách đặc biệt qua dân tộc Do Thái: Thiên Chúa
tuyển chọn dân Do Thái là dân riêng, và Ngài luôn ở gần
họ để yêu thương và đáp cứu mỗi khi
họ kêu cầu.
Được dâng tế phẩm lên
Thiên Chúa, là được Thiên Chúa lắng nghe và nhận
lời. Dân Do Thái cầu khẩn cùng Thiên Chúa cho chính họ
và cho mọi dân tộc trên trần gian này. Dân Do Thái là dân
tư tế (Xh 19, 5-6), là dân được Thiên Chúa
chọn để đại diện tất cả mọi
dân tộc tế lễ Thiên Chúa. Các tư tế là những
người được chọn từ giữa dân Ngài,
để đại diện dân Ngài dâng tế phẩm lên
Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Thiên Chúa của cả dân
ngoại, v́ dân ngoại cũng do Ngài mà có; v́ nếu không có
Thiên Chúa th́ đâu có ǵ hiện hữu. Không có Thiên Chúa th́
đâu có ai được sinh ra, đâu có dân tộc nào
hiện hữu, nên tất cả mọi dân tộc
đều là dân của Thiên Chúa mà dân Do Thái là dân
được chọn một cách đặc biệt. Qua
lịch sử dân tộc Do Thái người ta nhận ra
rằng Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc một
cách đặc biệt như dân tộc Do Thái. Thiên Chúa quan
tâm đến dân tộc Do Thái như thế nào th́ Ngài yêu
thương và quan tâm đến các dân tộc khác như
vậy. Thiên Chúa luôn gần gũi và yêu thương mọi
người, mọi dân tộc.
Thiên Chúa yêu thương con
người, nên Ngài có nhiều sáng kiến cho con
người. Khi con người phạm tội chống
lại Thiên Chúa, người ta tưởng rằng Ngài
sẽ trừng phạt như người đời
vẫn thường đối xử với nhau, nhưng
thực tế lại không như vậy. Thiên Chúa yêu
thương, Ngài tha thứ cho con người. Ngài đi t́m
con người, Ngài mong con người trở lại
với Ngài. Thiên Chúa là t́nh yêu, Ngài có nhiều sáng kiến
để yêu thương, nên người ta không biết
Ngài sẽ làm ǵ đối với những kẻ Ngài yêu, và
ngay cả đối với những người phạm
tội chống lại Ngài. V́ là t́nh yêu, v́ là Thiên Chúa tự
do, nên Thiên Chúa là Đấng luôn luôn mới, và người
ta không thể nói đă biết trọn về Ngài. Chỉ
khi Ngài đă thực hiện điều ǵ đó rồi,
người ta mới biết mà thôi. Thiên Chúa tha thứ, và
Ngài có nhiều cách để tha thứ, Ngài tha thứ
với những t́nh huống khác nhau. Thế nhưng chính
trong việc Thiên Chúa yêu thương tha thứ này,
người ta hiểu Thiên Chúa là ai: Ngài yêu thương nên
tha thứ tội lỗi con người.
Lịch sử dân Do Thái là một
chuỗi những bất trung phản bội, nhưng qua
những bất trung và phản bội này người ta
hiểu Thiên Chúa hơn. Thiên Chúa thương cảm
trước nỗi khổ của dân Người khi
họ cùng khốn bên Aicập và kêu lên Thiên Chúa (Xh 3, 1-12).
Thiên Chúa là Đấng gần gũi những người
đang sống trong t́nh cảnh khốn cùng không biết kêu
cầu cùng ai. Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và
của những kẻ khốn cùng. Không phải Thiên Chúa
không là Thiên Chúa của người giầu. Thiên Chúa là Thiên
Chúa của cả người giầu lẫn người
nghèo, nhưng người giầu không để ư
đến Thiên Chúa và dường như họ đă quên
Thiên Chúa, dường như họ không cần Thiên Chúa v́
đă thấy ḿnh đầy đủ và thỏa măn.
Khi dân Do Thái đă vào đất
hứa, dân đă bỏ quên Thiên Chúa và đă bị các dân
xung quanh đàn áp bóc lột. Cùng khổ nhưng không
biết trông chờ ai để cứu giúp, họ đă
kêu lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đă sai các thẩm phán đến
để giải thoát họ. Thiên Chúa luôn ở gần con
người, và điều này được nhận
biết khi những người cùng khốn kêu lên Ngài. Thiên
Chúa đến với con người qua trung gian những
con người. Các thẩm phán (quan án) là những
người được Thiên Chúa sai gởi tới
để giải phóng dân và cũng để giáo dục
dạy dỗ dân. Samuel là thẩm phán và cũng là tiên tri.
Samuel là người đă xức dầu phong Saul làm vua Do
Thái, và sau đó cũng chính Samuel nhận chỉ thị
của Thiên Chúa xức dầu phong Đavít làm vua thay
thế Saul. Trong Kinh Thánh không thấy chỗ nào nói Môsê và
Samuel được xức dầu, nhưng chính Môsê
xức dầu để Aaron làm tư tế, và Samuel
xức dầu cho Saul và David làm vua. Đấng
được xức dầu là người
được Thiên Chúa sai đến lo cho dân Ngài.
Thiên Chúa gần gũi con người.
Thiên Chúa cai trị dân Người. Ngài can thiệp vào
cả thể chế chính trị, như đặt
người làm vua cai trị dân nhân danh Ngài. Chính Thiên Chúa
đặt người cai trị dân, nhưng cũng chính
Ngài phế bỏ Saul khi Saul không vâng theo thánh ư Ngài.
Thiên Chúa yêu thương dân Ngài. Ngài cai
trị dân qua luật giao ước. Ngài ban luật cho dân
để bảo vệ quyền lợi của mỗi
người (Xh 20, 1-17). “Không Trời ai sống
được với ai.” Nếu không tin kính Trời, th́
làm sao con người có thể trung thành và đối
xử tốt với nhau! Phần đầu của
thập giới là thái độ phải có của con
người đối với Thiên Chúa, và phần hai là thái
độ phải có đối với tha nhân. Không tuân
giữ thập giới, con người không thể
sống hạnh phúc đích thực, không phải chỉ
ở đời sau nhưng ngay cả ở đời này
nữa. Hạnh phúc đích thực của con người
giả sử phải có sự b́nh an thâm sâu trong tâm hồn;
và điều này chỉ có khi người ta sống
tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân.
Không tôn kính Thiên Chúa, không thảo hiếu cha mẹ, không tôn
trọng sinh mạng hay danh thơm tiếng tốt của
tha nhân, không tôn trọng tài sản của người khác,
th́ làm sao có thể có một tâm hồn an b́nh và hạnh phúc
được! Thiên Chúa ban lề luật, để giúp
con người được hạnh phúc đích thực.
Thập giới, lề luật
được ban ra là để mưu ích lợi cho con
người, chứ không phải con người
được tạo dựng để phục vụ
lề luật. Lề luật là quà tặng của Thiên Chúa
ban cho dân tộc Do Thái, nhưng cũng là cho tất cả
mọi người, mà dân tộc Do Thái là một
đối tượng cụ thể. Từ nhận
thức này, người ta nhận ra nguyên tắc giải
thích lề luật: lề luật nhằm phục vụ
lợi ích đích thực của con người.
Thiên Chúa yêu thương nên dạy
dỗ dân qua các tiên tri. Tiên tri là những người Thiên
Chúa chọn để nói với dân nhân danh Ngài. Sự
bất xứng bất lực của tiên tri, cho thấy rơ
Thiên Chúa hiện diện. Tiên tri Ysaya thấy ḿnh nhơ
uế không xứng đáng nói nhân danh Thiên Chúa; thiên thần
đă dùng than hồng thanh tấy môi miệng tiên tri,
hầu tiên tri xứng đáng nói Lời Thiên Chúa, để
khi nghe tiếng mời gọi th́ tiên tri đă sẵn sàng
đáp “xin Ngài sai tôi” (Is 6, 1-8). Tiên tri Yêrêmya run
sợ trước thế lực người đời,
và Thiên Chúa đă ban ơn trợ lực để tiên tri có
đủ can đảm nói nhân danh Thiên Chúa bất chấp
mọi uy quyền thế tục, ngay cả vua chúa quan
quyền (Yer 1, 4-19). Tiên tri nói, nhưng không phải tiên tri
nói mà là chính Thiên Chúa nói với dân qua tiên tri- ngôn sứ
của Ngài. Tiên tri là hồng ân Thiên Chúa ban cho dân Ngài, và qua
dân Do Thái hồng ân này được ban cho mọi
người.
Những dân tộc xung quanh
người Do Thái tự hào có khôn ngoan, họ tự hào v́
có những người hiền triết dạy khôn ngoan.
Người Do Thái cũng bắt chước họ đi
t́m kiếm khôn ngoan, nhưng cuối dùng họ nhận ra
rằng: kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu khôn ngoan.
Sự khôn ngoan đích thực chính là Thiên Chúa. Giữ
luật Thiên Chúa truyền, sống như Thiên Chúa dạy
bảo là người khôn ngoan thực.
Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan và là
sự khôn ngoan đích thực. Người ta đi t́m
kiếm khôn ngoan, t́m học để biết và sở
hữu khôn ngoan; người ta đâu có ngờ chính Thiên
Chúa là Đấng khôn ngoan đích thực, là sự khôn ngoan
tuyệt đối. Sống theo như Thiên Chúa dạy,
sống với Thiên Chúa, là người khôn ngoan.
Người khôn ngoan là người sống sao để
hạnh phúc. Không sống như Thiên Chúa dạy, con
người không thể hạnh phúc.
Thiên Chúa là Đấng tuyệt
vời, là Đấng khôn ngoan, là Đấng trở thành
mẫu mực cho con người. Thiên Chúa là Đấng
thánh, và Ngài mời gọi con người nên thánh (Lv19, 1-2).
Thánh, là hướng lên Thiên Chúa chứ
không dừng lại nơi tạo vật tuy dù con
người có tự do để vươn lên hay dừng
lại. Vươn lên Thiên Chúa, là sống tự do đích
thực, là không nô lệ vật chất như tiền tài
danh vọng địa vị. Vươn lên Thiên Chúa, là
sống như Thiên Chúa dạy, là yêu thương tha nhân, là
giúp đỡ tha nhân và làm cho con người
được sống triển nở và hạnh phúc. Thiên
Chúa là Đấng mời gọi con người sống
tự do, sống như Thiên Chúa là Đấng yêu thương.
Thiên Chúa là Đấng thánh, là Đấng yêu thương.
“Tôi tin kính một Thiên Chúa, là Cha toàn
năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn
vật hữu h́nh và vô h́nh.”
Con người ai trong chúng ta cũng có
cha có mẹ, chính nhờ cha nhờ mẹ mà chúng ta hiện
hữu. Nói một cách khác, nếu không có cha có mẹ, chúng
ta không có. Theo nghĩa này, Thiên Chúa là Cha của con
người và vũ hoàn, v́ chính nhờ Ngài mà con
người cùng vũ trụ hiện hữu.
Nhận biết ḿnh là thụ tạo,
là hữu thể bất tất, là nhận ra phải có
một hữu thể tất yếu: Thiên Chúa. Thiên Chúa là
Đấng nhờ Ngài mà tôi hiện hữu. Không hề mâu
thuẫn khi nói: nhờ cha nhờ mẹ mà ḿnh có, và, nhờ
Thiên Chúa mà ḿnh hiện hữu. Chính cha mẹ ḿnh cũng
nhờ Thiên Chúa mà có. Mỗi người đều nhờ
cha nhờ mẹ mà có, và cũng nhờ Thiên Chúa mà hiện hữu.
Điều này không cùng trên b́nh diện. Nhận ra Thiên Chúa
là Cha- Đấng tạo thành, là một tri thức tự
do, siêu h́nh. Đây là một nhận thức giúp gặp
gỡ Đấng siêu vượt, Đấng Quyền
Năng.
Thiên Chúa là Cha toàn năng, là
Đấng tạo thành trời đất, muôn vật
hữu h́nh và vô h́nh. Thiên Chúa như Cha như Mẹ, là
Đấng tạo thành nên con người và muôn loài muôn
sự, hữu h́nh cùng vô h́nh. Thiên Chúa tạo dựng vũ
trụ vạn vật từ hư vô, không giống như
một người thợ gốm nặn chiếc b́nh
gốm bằng vật liệu là đất sét đă có
sẵn. Thiên Chúa cũng không tạo thành con người
như người cha người mẹ sanh con, v́ từ
một phần thân thể của cha mẹ mà người
con được sinh ra. Thiên Chúa tạo dựng con
người khác với người cha người mẹ
sinh con ra. Thiên Chúa là Cha là Mẹ, là kiểu nói nhân h́nh, là
kiểu nói loại suy để chỉ việc nhờ
Thiên Chúa mà con người cùng muôn loài muôn sự hiện hữu.
Sách Sáng Thế (St 1, 1-2, 4a) diễn
tả Thiên Chúa tạo dựng con người bằng
Lời. Ngài phán một lời, liền có sự vật.
“Thiên Chúa phán: “phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng. Thiên Chúa
thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân
rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày,”
bóng tối là “đêm.” Qua một buổi chiều và một
buổi sáng: đó là ngày thứ nhất” (St 1, 3-5). Tŕnh
thuật thứ nhất về tạo dựng thuộc
truyền thống tư tế (P), diễn tả Thiên Chúa
tạo dựng vũ trụ vạn vật, tuy trừu
tượng và không sinh động như truyền
thống Y, nhưng rất hay. Truyền thống Y diễn
tả Thiên Chúa tạo dựng con người bằng cách
nắn con người từ bùn đất, rồi thở
hơi vào lỗ mũi để làm nó thành sống
động (St 2, 7). Cách diễn tả nhân h́nh này
được giới b́nh dân rất thích nhưng ngày nay
lại gặp phải một số người không
hiểu thấu đáo ngôn ngữ, cho rằng Thiên Chúa có
chân tay và tạo dựng con người bằng cách nắn
ra con người, nên họ hiểu sai về Thiên Chúa và
hiểu sai về Kitô giáo.
Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, không
phải là vật chất. Ngài không có tay có hơi thở
như chúng ta. Nếu nói Ngài nắn, Ngài thổi hơi vào
lỗ mũi, th́ đó là cách diễn tả nhân h́nh
để cho người ta hiểu. Con người
phải vượt qua ngôn ngữ để hiểu
điều người ta muốn nói. Hai tŕnh thuật về
sáng tạo (St 1-2) giúp người ta hiểu hơn về
Thiên Chúa.
Thiên Chúa sáng tạo con người
giống h́nh ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng thiêng
liêng, vậy h́nh ảnh của Thiên Chúa là ǵ? Con
người có nét ǵ đẹp, th́ Thiên Chúa c̣n tuyệt
hơn thế nhiều, v́ con người chỉ là h́nh ảnh
của Thiên Chúa. Con người thông minh, Thiên Chúa là
Đấng thông minh toàn tri. Con người nhân hậu, Thiên
Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu. T́nh yêu của
người cha người mẹ yêu thương và tha
thứ cho con ḿnh, làm người ta hiểu hơn về
Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người c̣n
hơn người cha người mẹ trần gian yêu
thương con ḿnh. Con người bất lực giới
hạn, Thiên Chúa vô hạn và quyền lực vô biên.
Con người có những hành vi
tốt lành, Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô cùng. Con
người có những người ác, nhưng Thiên Chúa
không độc ác. Gian ác là do con người, do tự con
người. Khi làm ác, con người không vươn lên với
Thiên Chúa, không mở ra với siêu vượt thể mà
lại quy chiếu về ḿnh. Hành vi gian ác là đặt ḿnh
và quyền lợi của ḿnh trên người khác, trên
tất cả, thậm chí trên cả Thiên Chúa. Những hành
vi như vậy xúc phạm và hủy diệt tha nhân. Gian ác,
là hành vi tự do của mỗi người. Thiên Chúa
tốt lành vô cùng. Ngài ban cho con người tự do, và con
người làm nên đời ḿnh qua những chọn
lựa sống của ḿnh.
Thiên Chúa không là tác nhân của những
điều xấu. Sáng Thế chương thứ 3 cho
thấy sự chết, gian ác từ đâu mà tới. Nó
chính từ ḷng con người mà ra. Cái chết thể xác
chỉ là hậu quả của cái chết tinh thần, khi
con người đầu tiên không tin vào Thiên Chúa nữa.
Khi con người không tin rằng Thiên Chúa yêu thương
ḿnh, th́ con người làm sao có thể sống với
người khác, và làm sao có thể sống hạnh phúc
được! Nếu không tin vào Thiên Chúa t́nh yêu, th́ con
người đang ở trong t́nh trạng bất hạnh.
Nói bằng một ngôn từ khác, con người đang sa
hỏa ngục.
Thiên Chúa là Đấng tốt lành. Thiên
Chúa luôn muốn điều tốt cho con người. Ngay
cả khi con người không tin vào Thiên Chúa, th́ Thiên Chúa
vẫn tiếp tục đối thoại với con
người, để giúp con người trở lại
với Ngài, để con người có thể
được hạnh phúc đích thực. Chính Thiên Chúa
đă đi t́m con người khi con người trốn
Thiên Chúa. Thiên Chúa đă gọi con người, Ngài khởi
đầu cuộc đối thoại và loan báo niềm hy
vọng: “ḍng dơi người nữ sẽ đạp
dập đầu con rắn.” Con người bỏ Thiên
Chúa, nhưng không bao giờ Thiên Chúa bỏ con người.
Thiên Chúa muốn con người sống hạnh phúc với
Thiên Chúa, và Ngài sẽ thực hiện điều đó cho
tới cùng. Thiên Chúa là Đấng thành tín.
Khi tạo dựng ta, Thiên Chúa đă
không hỏi ư kiến của ta; nhưng Thiên Chúa không
thể cứu độ ta nếu ta không đồng ư. Nói
vậy như thể Thiên Chúa bất lực trước
con người, nhưng đúng ra để cho thấy
tự do mà Thiên Chúa ban cho con người tuyệt vời
đến thế nào! Thiên Chúa quyền năng tuyệt
đối nhưng Ngài đă ban cho người tự do.
Con người tự do để h́nh thành chính ḿnh qua các
hành vi chọn lựa của ḿnh. Con người thành
tuyệt vời, thành thánh, thành tinh thần khi vươn
lên Tuyệt Đối chứ không dừng lại nơi
sự vật vật chất. Thiên Chúa tuyệt vời khi
cho con người tự do, và Ngài luôn t́m cách giúp con người
tin vào Thiên Chúa, tin vào Thiên Chúa yêu thương, để con
người được an b́nh và hạnh phúc, nghĩa
là, được cứu độ.
Thiên Chúa là Đấng thành tín. Con
người có thể không tin vào nhau, và thậm chí có
thể c̣n không tin vào chính ḿnh; nhưng Thiên Chúa là
Đấng luôn tin tưởng vào con người. Ngay cả
khi con người tuyệt vọng, ngay cả khi
người ta tuyệt vọng về chính ḿnh, th́ Thiên Chúa
vẫn luôn hy vọng nơi con người. Thiên Chúa
vẫn tiếp tục ở với con người,
vẫn luôn mời gọi, ban ơn giúp con người
trở về với Ngài. Thiên Chúa là Đấng luôn tin vào
con người, Thiên Chúa tin vào chính tôi hơn cả chính tôi,
hơn cả bất cứ ai tin vào tôi.
Thiên Chúa là Đấng luôn ở
với con người. Thiên Chúa yêu thích ở với loài
người. Với những người Ngài muốn
diễn tả t́nh yêu một cách đặc biệt, Ngài
nói: “Ta sẽ ở với ngươi.” Thiên Chúa hứa
sẽ ở với Jacob khi ông trên đường đi
trốn Esau. Thiên Chúa hứa ở với Môsê để giúp
ông thực hiện sứ mạng Ngài trao cho ông, để
ông có đủ can đảm ra trước mặt Pharaô và
xin vua cho dân bỏ Aicập đi tế lễ Thiên Chúa.
Thiên Chúa hứa sẽ ở với các tiên tri để giúp
các ngài can đảm nói lời của Ngài cho dân chúng, ngay
cả cho vua chúa quan quyền, cho cả những kẻ ghét
và muốn lấy mạng sống của các ngài nữa.
Thiên Chúa ở với con người,
Thiên Chúa ở với dân Người; tuy nhiên Thiên Chúa là
Đấng vô h́nh, làm sao con người nhận ra Thiên Chúa
đang hiện diện với con người? Thiên Chúa
hiện diện với con người qua những trung gian
rất cụ thể: qua Môsê, qua các thẩm phán, các tiên tri,
các vua chúa. Vào những thời sau hết, Đức Giêsu là
Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Vào thời Tân Ước,
người ta nhận ra mỗi người là đền
thờ của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng phục sinh con
người. Những đầu gỗi ră rời,
những tâm hồn khô héo v́ già yếu, v́ tuyệt vọng,
th́ Thiên Chúa có thể là nguồn hy vọng giúp cho con
người như sống lại. H́nh ảnh bộ
xương khô trong sách tiên tri Êdêkien (Ed 37) cho chúng ta thấy
rơ Thiên Chúa là Đấng làm cho con người sống qua
Thần Khí của Ngài. Thiên Chúa là nguồn hy vọng, là mùa
xuân làm đổi mới mọi sự. Thiên Chúa sẽ
phục sinh kẻ như đă chết và làm cho những
người đă chết được sống lại.
Thiên Chúa là sự sống lại và là sự sống. Không
nhờ Thiên Chúa, không có sự sống. Tất cả
những ǵ là sự sống đều nhờ Thiên Chúa mà
có.
Thiên Chúa là Thiên Chúa của Đức
Giêsu Kitô. Đức Giêsu có nét giống Thiên Chúa. Ngài nói: “Ta
đến để chúng được sống và
được sống dồi dào” (Ga 10, 10). “Ta là sự
sống lại và là sự sống. Ai tin Ta th́ dù đă
chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà
tin Ta sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26).
Đức Giêsu đă làm nhiều phép lạ: cho
người què đi được, kẻ điếc
được nghe, người câm nói được,
người mù được sáng, người chết
sống lại. Những phép lạ Đức Giêsu đă
làm, nếu tính về số lượng cũng chẳng là
bao so với thời gian 3 năm Ngài rao giảng, tuy nhiên nó
lại là những dấu chỉ cho thấy chân
tướng của Đức Giêsu. Ngài làm được
những điều kỳ diệu, và Ngài có quyền
như một vị Thiên Chúa. Đức Giêsu là con
người rất đặc biệt của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.
“Tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh
thiện, công giáo, và tông truyền.” Người ta chỉ
nhận biết Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ Đức Giêsu Kitô
qua trung gian các tông đồ. Trước khi Đức
Giêsu phục sinh, chưa có ai biết Đức Giêsu là Thiên
Chúa, kể cả các tông đồ.
Khi Đức Giêsu c̣n sống
đời tại thế, người ta nhận biết
Ngài là người làng Nazarét (Mt 2, 22-23), những
người cùng quê nhận ra Ngài và xác định được
thân thế của Ngài (Mc 6, 1-6; Mt 13, 53-58; Lc 4, 16-30).
Người đương thời có những ư kiến
rất khác nhau về Ngài.
Với một số người, Ngài
bị coi là người lộng ngôn phạm thượng
(Mc 2, 5.7; 14, 62.64), kẻ nói ngoa (Ga 8, 57-58), người
tội lỗi (Ga 9, 24), kẻ xấc láo dám coi ḿnh là Thiên
Chúa (Ga 10, 30.33). Những người thân cũng coi Ngài
như một kẻ mất trí (Mc 3, 21). Có một số các
môn đệ cũng không chịu nổi những lời
của Ngài, nên đă phải bỏ đi (Ga 6, 60.66).
Đức Giêsu chết thê thảm ô nhục trên thập giá
là bởi cung cách hành xử của Ngài và do những
người có cái nh́n không tốt không đúng về
Đức Giêsu.
Với một số khác, Ngài là
một tiên tri; với các tông đồ, Ngài là Đức
Kitô (Mc 8, 27-30; Mt 16, 13-20; Lc 9, 18-21). Đức Kitô, là
Đấng mà người Do Thái vẫn hằng mong
đợi, đặc biệt trong thời điểm
người Do Thái đang bị người Roma đô
hộ này. Như xưa người Do Thái đă chờ mong
Đấng Thiên Sai để giải phóng họ khỏi
cảnh lầm than, và Thiên Chúa đă đáp cứu họ
khi sai Môsê và các thẩm phán đến giải phóng
dân, một số người Do Thái thời đó cũng
tưởng Đức Giêsu sẽ là một Đấng
Messia như vậy. Có lẽ các tông đồ cũng
hiểu như vậy, nên hai người con ông Dêbêđê là
Gioan và Giacôbê mới xin Đức Giêsu cho được
ngồi bên tả và bên hữu Ngài khi Ngài được
vinh quang (Mc 10, 37).
Cái chết trần trụi ô nhục
trên thập giá phá hủy bao hy vọng và những mộng
mơ của các tông đồ và của các môn đệ.
Hai môn đệ trên đường Emmau đă bỏ
về, không chờ ǵ nữa cho dù họ đă nghe các
chị phụ nữ nói đă gặp Đức Giêsu phục
sinh. Biến cố Đức Giêsu chết thê thảm trên
thập giá làm các tông đồ tê liệt. Cho dù bao phép
lạ các ông được chứng kiến, cho dù
Đức Giêsu đă báo ba lần về cuộc khổ
nạn và phục sinh của Ngài, th́ các ông vẫn hoảng
loạn, không thể tin Đức Giêsu sống lại (Mc
16, 9-14). Tin mừng Marcô cho thấy không có tông đồ nào
tin Đức Giêsu phục sinh, cho dù các chị phụ
nữ đă loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các ông. Riêng
tông đồ Thomas th́ cả một tuần không tin
Đức Giêsu phục sinh, măi cho tới khi chính
Đức Giêsu phục sinh hiện ra cho ông (Ga 20, 24-29).
Nếu Đức Giêsu không phục
sinh, người ta không biết ǵ nhiều về
Đức Giêsu. Chính biến cố tử nạn và
phục sinh của Đức Giêsu, làm các tông đồ
nhận ra sự thật về Đức Giêsu.
Đức Giêsu phục sinh, là một
sự kiện đối với các tông đồ. Các ông
đă được thấy, được ăn
uống với, được tṛ chuyện,
được đụng chạm vào Đấng phục
sinh. Đức Giêsu phục sinh là một sự kiện
không thể chối căi được. Các tông đồ là
những chứng nhân của Đức Giêsu phục sinh.
Tuy nhiên, Đức Giêsu phục sinh vẫn là một sự
kiện phải tin đối với những người
khác. Với Thomas, suốt 8 ngày ông không tin: Đức Giêsu
phục sinh không là sự kiện đối với ông; sau
khi ông thấy Đức Giêsu phục sinh, Đức Giêsu
phục sinh là một sự kiện. Thomas đă mắt
thấy tai nghe Đức Giêsu phục sinh. Sau này, tuy dù không
nh́n thấy Đức Giêsu phục sinh bằng con mắt
trần, Thomas vẫn tin Ngài đang sống, Thomas vẫn
tin Ngài đă phục sinh. Với những người không
thấy Đức Giêsu phục sinh, Đức Giêsu
phục sinh là một biến cố phải tin. Để
tin Đức Giêsu phục sinh, một người có
thể tin vào lời chứng của các tông đồ, và
thậm chí có thể tin nhờ lời chứng của các
chị phụ nữ đă được Ngài hiện ra
cho.
Đức Giêsu đă phục sinh.
Đức Giêsu vẫn là một ẩn số đối
với các tông đồ. Câu hỏi Đức Giêsu
đặt ra cho các tông đồ dường như
vẫn chưa được giải đáp hoàn toàn: “c̣n
anh em, anh em bảo thầy là ai?” (Mt 16, 15). Thầy đă
phục sinh, nhưng Thầy phục sinh khác Lazarô phục
sinh. Lazarô phục sinh, ai muốn gặp anh ta, cứ
tới nhà anh ta sẽ được gặp; c̣n
Đức Giêsu, không phải ai muốn gặp cũng
được gặp. Thomas cả một tuần không tin
Đức Giêsu phục sinh, và có lẽ các tông đồ
khác muốn Thomas gặp gỡ Thầy, nhưng không
thể được. Sau khi phục sinh, Đức Giêsu
không bị sự chi phối của vật chất,
cửa đóng then cài không ngăn cản được
Ngài khi Ngài muốn gặp gỡ các tông đồ. Tuy
vậy, không phải ai muốn gặp Ngài th́ đều
được gặp. Chỉ ai Ngài muốn, Ngài mới
cho họ gặp Ngài. Ngay cả với Thomas trong suốt
một tuần, vẫn không được gặp Ngài. Các
tông đồ từ sáng sớm tới ban chiều ngày Chúa
phục sinh vẫn không được thấy Ngài, cho
tới khi Ngài hiện ra cho họ vào chiều tối.
Đức Giêsu phục sinh là ai?
Đấng luôn cầu nguyện
cùng Thiên Chúa
“Nghe đây hỡi Israel,
Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi là Thiên Chúa duy
nhất. Hăy kính mến Đức Chúa hết linh hồn
hết trí khôn hết sức lực ngươi” (Đnl. 6,
4). H́nh ảnh Đức Giêsu cầu nguyện luôn ở
trong tâm trí của các tông đồ. Đức Giêsu cầu
nguyện lúc sáng sớm (Mc 1, 35), Ngài cầu nguyện
trước mỗi công việc quan trọng (Lc 6, 12), Ngài
cầu nguyện trước giây phút quyết định
của đời Ngài trong vườn dầu (Mt 26, 39). “Anh
em đă nghe thầy bảo: thầy ra đi và đến
cùng anh em. Nếu anh em yêu mến thầy, hẳn anh em
đă vui mừng v́ thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi
v́ Chúa Cha cao trọng hơn thầy” (Ga 14, 28). Đức
Giêsu không phải là Thiên Chúa Cha dù Ngài nói: “Ta và Cha là một”
(Ga 10, 30). Đức Giêsu là ai?
Sự hiểu biết của các tông
đồ về Đức Giêsu ở mỗi giai
đoạn mỗi khác. Khi theo Đức Giêsu lúc Ngài
khởi đầu sứ vụ rao giảng, các tông
đồ nhận ra Ngài là một vị thầy trổi
vượt giữa các vị thầy khác. Hai tông đồ
trước đă là môn đệ của Gioan Tẩy
Giả đă bỏ thầy cũ để đi theo
Đức Giêsu (Ga 1, 35 tt). Các tông đồ đă có cái nh́n
khác với dân chúng về Đức Giêsu. Khi Đức
Giêsu hỏi các tông đồ: “người ta bảo con
người là ai?…. c̣n anh em, anh em nói thầy là ai?” Với
các tông đồ lúc đó, Đức Giêsu là Kitô; tuy nhiên cái
nh́n đó chưa chính xác hoàn toàn về con người
Đức Giêsu. Khi các tông đồ c̣n đ̣i ngồi bên
tả bên hữu Đức Giêsu khi Ngài được vinh
quang, e rằng các Ngài chưa hiểu rơ về Đức
Giêsu. Khi Đức Giêsu phục sinh từ cơi chết,
mặc dù được các chị phụ nữ báo tin và
chính Đức Giêsu cũng báo trước rằng Ngài
sẽ sống lại nhưng cũng chẳng có tông
đồ nào tin (Mc 16, 9-14). Các tông đồ chỉ tin
Đức Giêsu phục sinh khi chính Ngài hiện ra cho các ông
mà thôi.
“Người ta bảo con người
là ai?” Đức Giêsu là ai? Đức Giêsu phục sinh là ai?
Đây là những câu hỏi hằng theo các tông đồ và
những Kitô hữu sơ khai. Kinh nghiệm sống với
Đức Giêsu khi Ngài c̣n tại thế, giúp các tông
đồ càng ngày càng hiểu hơn Đức Giêsu là ai.
Đức Giêsu là tiên tri, là
Đấng Kitô, là người của Thiên Chúa, là con Thiên
Chúa. Đức Giêsu c̣n hơn là một tiên tri. Ngài c̣n
hơn cả Môsê, v́ chính Môsê cũng viết về Ngài (Ga 5,
45-47). Đức Giêsu là con Thiên Chúa. Trong Cựu Ước
có bao người được gọi là con Thiên Chúa: các
thiên thần, những người công chính, các vị vua,
v.v. cũng được gọi là con Thiên Chúa. Đức
Giêsu c̣n hơn họ nữa, Ngài c̣n hơn là “con Thiên Chúa”
nữa, Ngài là Con Thiên Chúa. Chữ Con Thiên Chúa ở đây
được viết hoa, hàm chứa, Ngài là Con Thiên Chúa
theo một nghĩa duy nhất mà những người khác
không thể có được.
Đức Giêsu là ai? Các tông đồ
đă nhận ra rằng Ngài bị giết không chỉ v́
bị ghét (Mc 3, 6; 14, 1-2) nhưng chính yếu bởi v́ Ngài
nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa (Mc 14, 62.64; 2, 5.7; Ga 8, 57-58;
10, 30.33). Đức Giêsu là Đấng ngang hàng với Thiên
Chúa. Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa. Ngài là ai?
Đức Giêsu là ai đối với
các tông đồ sau biến cố Đức Giêsu tử
nạn phục sinh? Các tông đồ đă làm phép rửa
nhân danh Đức Giêsu. Tin Mừng Matthêu cho chúng ta chứng
từ về nghi thức làm phép rửa nhân danh Cha, Con, và
Thánh Thần của Giáo Hội sơ khai. Các tín hữu
của Giáo Hội sơ khai đă chúc tụng Thiên Chúa và
chúc tụng Đức Giêsu Kitô. Các ngài đă cầu
nguyện với Đức Giêsu như cầu nguyện
với Thiên Chúa. Đức Giêsu là ai?
Các tông đồ cùng với Giáo
Hội sơ khai đối xử với Đức Giêsu
như đối xử với Thiên Chúa, nhưng
dường như theo Tân Ước phản ánh, các ngài
không muốn gọi Đức Giêsu là Thiên Chúa, cho dù cũng
có một số nơi trong Tân Ước làm điều này
như Rm 9, 5; Dt 1, 8; Ga 1, 1-2.18; 20, 28; Tt 2, 13; 2Pr 1, 1. Sở
dĩ vậy, có lẽ bởi v́ Giáo Hội sơ khai
muốn dành chữ Thiên Chúa cho Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu
là ai?
Hiện hữu trước
khi được sinh ra
Tin mừng Luca trong chương 1, câu
26-38, không cho thấy người con Đức Maria sinh ra
là Đấng tiền hữu. Các câu nơi Lc 2, 49-50
(Lại c̣n không biết là con phải ở nơi nhà Cha con
sao) cũng không cho thấy điều này[217].
Tin mừng Gioan cho thấy Đức Giêsu tiền hữu
qua Ga 1, 1-2.14; 8, 57-58. Niềm tin của Kitô hữu sơ
khai phản ánh qua thánh thi trong thư của thánh Phaolô
gởi tín hữu Philip cũng cho thấy niềm tin
Đức Giêsu tiền hữu (Pl 2, 6-11). Đức Giêsu là
Thiên Chúa. Điều này nghĩa là sao?
Đức Giêsu chỉ có khi Đức
Maria sinh hạ Đức Giêsu, nhưng Ngài lại đă có
trước Abraham (Ga 8, 58). “Chúa Cha cao trọng hơn
thầy” (Ga 14, 29), nhưng Ngài ngang hàng với Thiên Chúa (Mc
14, 62), Ngài và Cha là một (Ga 10, 30), Ngài là đường là
sự thật và là sự sống (Ga 14, 6). Ngài có quyền
năng v́ mọi quyền năng trên trời dưới
đất đều đă được ban cho Ngài (Mt 28,
18).
Các thánh thi của Giáo Hội sơ khai
cho thấy niềm tin của các Kitô hữu về
Đức Giêsu Kitô (Col 1, 13-20; Eph 1, 3-14; Pl 2, 6-11). Ngài là
trưởng tử giữa mọi thụ sinh, Ngài là
Đấng qua Ngài Thiên Chúa tuôn đổ muôn hồng ân cho
con người. Ngài là người mà không chỉ là
người. Ngài là Thiên Chúa nhập thể.
Các tông đồ và Giáo Hội sơ
khai chỉ có thể nói về nhập thể một khi
đă nhận ra chân tướng của Đức Giêsu.
Đức Giêsu là ai? Ngài là người thật và là Thiên
Chúa thật. Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Kitô hữu
sơ khai không đặt vấn đề triết
học: làm sao vô hạn trở nên giới hạn, làm sao
Thiên Chúa lại có thể nhập thể thành người;
nhưng, Đức Giêsu là một sự kiện, là một
biến cố vô cùng đặc biệt. Các tông đồ
và Kitô hữu qua biến cố Ngài chết và sống
lại, qua kinh nghiệm sống với Ngài khi c̣n tại
thế, nhận ra sự thật về Ngài. Đức
Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, đây là diễn tả
về thực tại mà các tông đồ cùng các Kitô hữu
sơ khai đă cảm nghiệm, đă sống với,
đă xem thấy và đụng chạm. Một khi Kitô
hữu nhận ra Đức Giêsu là ai, các ngài cũng
nhận biết Thiên Chúa một cách đặc biệt
hơn.
Đức Giêsu là người, một
người giữa bao người. Ngài sinh ra âm thầm
không ai để ư tới, không ai biết để đón
tiếp nên đă phải ra đời trong chuồng chiên
cừu. Ngài ăn đồ ăn của người nghèo,
mặc theo kiểu cách của người nghèo, nhận
nền giáo dục dành cho người nghèo nếu không
muốn nói là không được học hành. Ngài làm
việc tay chân như bất cứ người nghèo nào
cũng trải qua. Ngài không chỉ nghèo v́ gia đ́nh cha
mẹ nghèo, nhưng cả khi đi rao giảng Ngài cũng
vẫn nghèo, vẫn đói tới mức độ
phải hái trái vả ăn đỡ đói (Mt 21, 18tt), Ngài
vẫn bị người ta hiểu lầm và ghét đến
muốn loại trừ Ngài khỏi đất kẻ
sống, và cuối cùng Ngài cũng đă phải chết ô
nhục trên thập giá giữa những người
tội lỗi. Tại sao Đức Giêsu lại chấp
nhận thân phận con người, lại sống âm
thầm khiêm tốn, lại phải chết nhục nhă
như vậy?
Đức Giêsu yêu
thương con người vô cùng
Đức Giêsu đă yêu thương
con người vô cùng. Ngài yêu thương cả những
kẻ giết hại Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho chúng v́ chúng
lầm chẳng biết.” Ngài yêu thương nên nài
xin Cha tha thứ tội cho con người, cho những
kẻ giết Ngài. Ngài yêu thương con người, nên đă
biến bánh rượu thành ḿnh máu Ngài làm của ăn
của uống cho con người (Mc 14, 22-25). “Ai ăn
thịt Ta và uống máu Ta, th́ sẽ được
sống đời đời. Ḿnh Ta là thật của
ăn, máu Ta là thật của uống.” Chết thay cho
người ḿnh yêu, là hành vi yêu thương đến cùng.
“Không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người
dám hiến mạng v́ người ḿnh yêu” (Ga 15, 13).
Đức Giêsu đă hiến mạng cho con người.
Ngài yêu thương con người vô cùng. Chính v́ yêu
thương con người vô cùng mà Đức Giêsu đă
nài xin Thiên Chúa tha thứ cho những kẻ giết Ngài:
“Lạy Cha xin tha cho chúng v́ chúng lầm chẳng biết.”
Thiên Chúa, v́ yêu thương con người và v́ yêu
thương Con của Ngài, nên đă yêu thương,
chấp nhận, và tha thứ cho con người. Thiên Chúa
kiên nhẫn với con người, cả khi con
người xúc phạm đến Ngài, để chờ
con người trở lại với Ngài. Nhờ
Đức Giêsu, con người nhận ra Thiên Chúa là t́nh
yêu, là Đấng yêu thương con người vô cùng.
Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng
Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Ngài là Con
Thiên Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt. Ngài
là Con Chí Ái, Con Một, Con đồng bản tính với
Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha (Abba, Mc
14, 36). Có người cha người mẹ nào không yêu
thương con ḿnh đẻ ra! Nếu có ai hăm hại con
ḿnh, th́ người cha người mẹ đó hành xử
ra sao để bảo vệ con ḿnh? Ấy thế, tại
sao Thiên Chúa Cha dường như “dửng dưng”
trước nỗi khổ của Con Ngài! Tại sao?
Thiên Chúa đă yêu thế gian
đến độ đă ban Con của Ngài cho thế gian
(Ga 3, 16). Nhiều tôn giáo nhận ra Thiên Chúa là chủ tể
và là cha muôn loài muôn vật, nhưng với Đức Giêsu
Kitô, Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa yêu thương con
người vô cùng. Ngài yêu con người đến
độ ban Con Ngài là quà tặng cho thế gian, Ngài trao Con
Ngài vào tay con người khi cho Ngôi Lời nhập thể
làm người. Nh́n ngắm Đức Giêsu trên thập giá
người ta càng nhận ra t́nh yêu vô bờ của Thiên
Chúa đối với con người. Trên đồi Canvê,
người ta có cảm tưởng Thiên Chúa yêu
thương con người hơn cả Đức Giêsu;
nhưng thực ra không phải vậy. Thiên Chúa yêu
Đức Giêsu, Con của Ngài, vô cùng; tuy nhiên trên đồi
Canvê người ta nhận ra Thiên Chúa yêu con người vô
cùng, yêu đến độ chấp nhận để Con
của Ngài chết thảm v́ yêu thương con
người.
Nhờ Đức Giêsu, người ta
hiểu biết hơn về Thiên Chúa là Cha; và cũng
nhờ Đức Giêsu, người ta nhận biết Thánh
Thần là Thiên Chúa.
Đức Giêsu khi c̣n tại thế
đă nói đến Thánh Thần như một ngôi vị
(Mc 13, 11). Thánh Thần là Đấng bầu chữa khác
được Thiên Chúa gởi tới theo lời khẩn
cầu của Đức Giêsu để ở măi với
con người (Ga 14, 16). Chính Thánh Thần sẽ dạy và
nhắc nhớ cho các tông đồ (Ga 14, 26). Thánh Thần
cũng làm chứng cho Đức Giêsu (Ga 15, 26) và dẫn các
tông đồ vào sự thật trọn vẹn (Ga 16, 13).
Hai người nam nữ yêu nhau,
họ muốn ở gần nhau, họ không muốn xa nhau,
họ muốn ở bên nhau măi măi. Cha mẹ thương yêu
con, cũng luôn muốn ở gần con để chăm
sóc cho con. Chúa Thánh Thần được sai gởi tới
để ở măi với con người. “Thầy sẽ
xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một
Đấng bầu chữa khác để ở với anh
em luôn măi. Người là Thần Khí sự thật.” Không bao
giờ Thánh Thần rời bỏ con người nữa.
Đức Giêsu đă xin Cha sai gởi
Thánh Thần. Thánh Thần là t́nh yêu của Đức Giêsu
và của Thiên Chúa Cha cho con người. Thánh Thần là quà
tặng của Thiên Chúa cho con người. Thánh Thần là
Đấng được ban cho con người. Bất
cứ con người cầu xin với Thiên Chúa
điều ǵ, th́ Thiên Chúa cũng ban quà quư nhất là Thánh
Thần cho con người (Lc 11, 13). Thánh Thần ở
với con người, nên Cha và Con cũng ở với con
người. “Ai yêu mến Thầy th́ giữ lời
Thầy, Cha thầy sẽ yêu thương người
ấy, Cha thầy và thầy sẽ đến và ở
với người ấy” (Ga 14, 23).
Thánh Thần luôn ở với con
người (Ga 14, 16), Ngài dạy dỗ con người (Ga
14, 26), dẫn con người tới sự thật
trọn vẹn (Ga 16, 13). Thánh Thần ở trong tận thâm
sâu nơi con người, v́ con người là đền
thờ của Thiên Chúa; tuy nhiên con người và Thánh
Thần vẫn là hai ngôi vị. Ba ngôi vị Thiên Chúa tuy
ở trong nhau (circumincessio) nhưng không lẫn lộn,
tương tự vậy đối với con
người chúng ta. Thánh Thần Thiên Chúa ở với chúng
ta, nhưng chúng ta không là Thiên Chúa. Thánh Thần Thiên Chúa tuy
ở trong ta nhưng chúng ta vẫn là chúng ta hoàn toàn. Con
người ao ước kết hiệp với Thiên Chúa,
ao ước trở nên một với Thiên Chúa, nhưng con
người không bao giờ bị mất chính ḿnh hoặc
lẫn lộn với Thiên Chúa.
Thánh Thần ở tận thâm sâu
nơi con người. Thánh Thần là thầy dạy con
người, dẫn con người tới chân lư vẹn
toàn. Con người không cần phải dạy nhau (Gr 31,
33-34), v́ có Thánh Thần là thầy dạy tuyệt vời
của con người. Thánh Thần làm chứng cho
Đức Giêsu Kitô. Ngay khi ra trước mặt quan ṭa và
những thế lực người đời, Kitô hữu
cũng không phải bận tâm sẽ nói ǵ, v́ Thánh Thần
sẽ chỉ dạy phải nói ǵ lúc đó. Thánh Thần
giúp con người hiểu biết hơn về Thiên Chúa.
Thánh Thần giúp các tông đồ nhớ lại những ǵ
Đức Giêsu đă nói với các ông (Ga 14, 26), và dẫn
các tông đồ vào chân lư vẹn toàn, giúp các tông đồ
hiểu Đức Giêsu là ai, và giúp cho các Kitô hữu tin
Đức Giêsu là Chúa (1Cor 12, 3). Không nhờ Thánh Thần,
các tông đồ không thể nhận ra Đức Giêsu là
Thiên Chúa; nếu không nhờ Thánh Thần người ta
cũng không thể tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Chính
nhờ Thánh Thần, mà Kitô hữu mới nhận ra Thiên
Chúa là Ba Ngôi Vị.
Thánh Thần là Đấng ban sự
sống. Thánh Thần là t́nh yêu của Thiên Chúa cho con
người, là quà tặng Thiên Chúa. T́nh yêu giữa hai
người nam nữ, làm cho họ có sức sống. Không
có t́nh yêu, người ta như thể đă chết. Không
t́nh yêu, như cây không nước sẽ cằn cỗi và
chết héo. Thánh Thần như nước mát làm cây cối
nẩy mầm sinh hoa kết trái, Thánh Thần cũng làm con
người sống và sống triển nở. H́nh ảnh
những bộ xương khô nơi sách tiên tri Ezêkiel
trở thành sống và sống động nhờ lời
tuyên sấm và Thần Khí (Ed 37).
“Sống” hàm chứa “mới.” Mùa
đông cây trụi lá nhưng khi xuân đến cây đâm
chồi nẩy lộc. Một cây c̣n sống, là nó sinh lá
mới, rồi hoa, rồi trái. Thánh Thần làm con
người sống, đổi mới con người. Con
người là ḿnh qua từng hành vi cử chỉ. Chính
chọn lựa của mỗi người h́nh thành con
người của họ. Với tự do, con
người luôn luôn mới, có thể dở hơn hoặc
tốt hơn, có thể là người đáng sợ hoặc
đáng yêu. Thánh Thần là Đấng làm con người
trở nên tuyệt hơn, đẹp hơn, dễ
thương dễ yêu hơn. Điều con người
không làm nổi, th́ Thánh Thần Thiên Chúa làm cho con
người. “Anh em không biết anh em là đền thờ
của Thiên Chúa, và Thánh Thần ngự trong anh em sao?” (1Cor 3,
16). Chính Thánh Thần là Đấng luôn ở trong ḷng
mỗi người, sẽ làm con người trở nên
mới mỗi ngày, trở nên tuyệt vời mỗi ngày
nếu người ấy lắng nghe và làm theo điều
Thánh Thần thúc đẩy.
Những ǵ tốt đẹp nơi
con người, những ao ước lành thánh, những
khuynh chiều hướng thiện, cũng đều là
công tŕnh của Thánh Thần. Con người, như mọi
tạo vật tự bản chất luôn tùy thuộc vào Thiên
Chúa để hiện hữu và tồn tại, cũng luôn
nhờ Thánh Thần để hướng lên và kết
hiệp với Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn hành động, Thánh
Thần Thiên Chúa luôn hoạt động nơi con
người, để làm con người thuộc về
Thiên Chúa. Con người, xét như một tạo vật
thánh thiện, là công tŕnh của Thánh Thần.
Tội là hành vi cắt đứt
tương quan với Thiên Chúa, làm con người trở
nên chết. Thánh Thần là Đấng làm con người
sống lại. Thánh Thần là Đấng thánh hóa,
Đấng làm con người nên thánh.
Thánh Thần được ban
để con người được thánh hóa,
được tha tội (Ga 20, 23), được
sống. Làm con người thuộc về Thiên Chúa, là điều
chỉ Thiên Chúa mới có thể làm được. Làm con
người nên thánh, không phải là sức của con
người. V́ yêu thương, Thiên Chúa đă ban Thánh
Thần cho con người qua Đức Giêsu Kitô, và Thánh
Thần đă thực hiện chức năng thánh hóa con
người. Tha tội, là làm con người nên thánh, làm con
người trở nên đẹp nên dễ thương,
đối với Thiên Chúa và con người.
Thánh Thần, Đấng thánh hóa,
Đấng làm cho tất cả là thánh bằng t́nh yêu Thiên
Chúa. Thánh Thần làm tội nhân trở thành thánh, đặc
biệt qua bí tích ḥa giải. Trong thánh lễ, Giáo
Hội khẩn nguyện Thánh Thần thánh hóa bánh
rượu, để làm bánh rượu thành Ḿnh Máu
Đức Giêsu Kitô. Trong biến cố truyền tin,
biến cố Thiên Chúa sai sứ thần hỏi ư kiến
Đức Maria xem Mẹ có đồng ư để Thiên Chúa
can thiệp vào đời Mẹ không, Thánh Thần Thiên Chúa
đă bao phủ để Lời Thiên Chúa nhập thể
nơi cung ḷng Đức Maria. Thánh Thần là Đấng
luôn ở với con người, để làm con
người thành tuyệt vời, để làm con
người thuộc về Thiên Chúa, để làm con
người là thánh. Thánh Thần là sức sống, là
lửa t́nh yêu sáng tạo, là nước mát làm dịu ḷng
người, là Đấng làm con người
được b́nh an thẳm sâu trong tâm hồn.
Con người qua tạo vật,
nhận ra Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng nên
mọi loài. Thiên Chúa là chủ tể của tất cả,
mọi loài mọi sự đều tùy thuộc Ngài. Ngài là
Đấng làm cho mọi sự tồn tại và tốt
đẹp như hiện tại. Qua biến cố
Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu nhận ra
Đức Giêsu ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài có quyền
năng như Thiên Chúa, Ngài luôn kết hợp với Thiên
Chúa đến độ nên một cho dù Ngài không là Cha: Ngài
luôn cầu nguyện với Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu là
Con của Thiên Chúa; Thiên Chúa là Cha Ngài. Thánh Thần cũng
từ Cha mà ra, cũng luôn là một với Thiên Chúa Cha và
Con.
Truyền thống Giáo Hội Công Giáo
cho thấy Cha, Con, và Thánh Thần là Thiên Chúa duy nhất. Cha,
Con, và Thánh Thần khác biệt nhau: Cha là Cha, không bao giờ
là Con và Thánh Thần; Con là Con, không bao giờ là Cha và Thánh
Thần; Thánh Thần là Thánh Thần, không bao giờ là Cha và
Con. Tuy vậy, Cha, Con và Thánh Thần chỉ là một Thiên
Chúa. Một Thiên Chúa ở đây không chỉ là Ba Ngôi (Cha,
Con, và Thánh Thần) có cùng một bản tính Thiên Chúa như
ba người khác biệt (ba ngôi vị người) có cùng
một bản tính người. Nếu diễn đạt
Thiên Chúa Ba Ngôi, chỉ là một bản tính Thiên Chúa mà ba ngôi
vị, th́ thực sự chưa diễn đạt
được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu
chỉ hiểu như vậy, sẽ là có ba Thiên Chúa chứ
không phải một Thiên Chúa.
Thiên Chúa Cha là Thiên Chúa, Thiên Chúa Con là
Thiên Chúa, Thiên Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, nhưng chỉ là
một Thiên Chúa duy nhất; v́ Ba Ngôi luôn kết hiệp
với nhau nên một. Cha ở trong Con và ở trong Thánh
Thần; và cho dù ở trong nhau, th́ vẫn phân biệt là Cha,
Con, và Thánh Thần, nhưng vẫn là một Thiên Chúa.
Nơi Thiên Chúa tất cả là một, điều mà phân
biệt với nhau chính là ngôi vị.
Điều Thiên Chúa Cha làm, th́ Con và
Thánh Thần cũng làm. Cha tạo dựng, th́ Con và Thánh
Thần cũng tạo dựng; sở dĩ thần
học nói Cha tạo dựng, Con cứu chuộc, Thánh
Thần thánh hóa, là biệt gán một công việc cho một
ngôi vị nào đó. Không phải việc cứu chuộc
con người là của riêng Chúa Con, nhưng là công tŕnh
của tất cả ba ngôi: Cha sáng kiến, Con thực
hiện, và Thánh Thần hoàn thành. Không phải chỉ có Thánh
Thần là Đấng làm con người nên thánh, nhưng
Thiên Chúa là Cha nhân từ bao dung tha thứ tội lỗi cho
con người; Thiên Chúa Con đă nhập thể làm
người, dạy và để lại cho con người
mẫu gương giúp con người trở về
với Thiên Chúa; Thánh Thần được biệt gán là
Đấng ban sức sống, nghị lực, ḷng ao
ước khao khát trở về với Thiên Chúa.
Nơi Thiên Chúa chỉ có một
bản tính (nature, Godhead, Deity) một hiện hữu (one
being, v́ nếu nói ba hiện hữu th́ sẽ hiểu là ba
Thiên Chúa), ba tương quan lập hữu (subsistent relations,
v́ là ba ngôi vị phân biệt). Ba ngôi vị Thiên Chúa nhưng
chỉ là một ư muốn v́ cả ba ngôi vị luôn luôn là
một với nhau. Nơi con người, ba ngôi vị hàm
chứa tuy có cùng một bản tính người, nhưng là
ba hiện hữu biệt lập (three beings), ba ư muốn
biệt lập. Nơi con người, tuy dù cùng có một
bản tính người nhưng ba ngôi vị không thể là
một ư muốn được, v́ mỗi ư muốn là
một ngôi vị và mỗi ngôi vị đều
độc lập với nhau. Nơi Thiên Chúa, ba ngôi vị
Thiên Chúa phân biệt với nhau nhưng không độc
lập, trái lại ba ngôi vị luôn luôn là một với
nhau trong tất cả, là một với nhau trong ư muốn
đến độ chỉ là một ư muốn.
Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị: Cha, Con, và Thánh
Thần; tuy nhiên, ba ngôi vị luôn luôn ở trong nhau, yêu
thương nhau, là một với nhau trong tất cả,
đến độ chỉ là một Thiên Chúa. Nơi Thiên
Chúa, sự thông hiệp với nhau đến độ tuyệt
vời, không có ǵ riêng dù Ba Ngôi vẫn phân biệt với
nhau. Tất cả những ǵ của Cha đều là
của Con, tất cả những ǵ của Con đều
là của Cha (Ga 17, 10), những ǵ Thánh Thần nói với các
tông đồ đều là Lời của Thiên Chúa (Ga 16,
15.13). Nơi Thiên Chúa chẳng c̣n ǵ là của riêng, những
ǵ thuộc về ngôi vị này đều thuộc ngôi
vị khác. Nếu có ai chịu ảnh hưởng bởi
quan niệm về ngôi vị ngày nay mà cho rằng, nếu
nói ba ngôi vị th́ phải hàm chứa ba ư muốn (v́
nếu không th́ không là ngôi vị) th́ để là quan
niệm đúng đắn của Công Giáo, người
đó vẫn phải nhận rằng nơi Thiên Chúa, ba ư
muốn luôn hiệp nhất với nhau đến
độ chỉ là một ư muốn[218],
v́ Ba Ngôi Vị Thiên Chúa luôn là một với nhau.
Ba Ngôi Thiên Chúa luôn ở trong nhau,
trọn vẹn nhưng không lẫn lộn, phân biệt
nhưng ḥa hợp. Ba Ngôi Thiên Chúa cũng ở nơi con
người: Thánh Thần ở với con người (Ga
14, 16), Chúa Cha và Đức Giêsu phục sinh cũng ở
với con người (Ga 14, 23). Ba Ngôi Thiên Chúa ở nơi
con người, ở với con người, nhưng không
lẫn lộn với ngôi vị con người. Thiên Chúa là
Thiên Chúa, con người là con người. Sự kết
hiệp với Thiên Chúa, được thực hiện
một cách cụ thể trên b́nh diện ước
muốn, tư tưởng, lời nói và hành động.
Trở nên một với Thiên Chúa, là nên giống Đức
Giêsu trong ao ước, tâm t́nh. Đức Giêsu ao ước
điều ǵ, ḿnh khao khát điều đó, Đức
Giêsu có tâm t́nh ǵ, ḿnh cũng có hoặc ít là khao khát có cùng tâm
t́nh với Ngài. Có cùng suy nghĩ và thái độ sống
với Đức Giêsu. Đức Giêsu chọn ư Thiên Chúa
Cha trên hết, ḿnh cũng chọn Thiên Chúa và ư định
của Thiên Chúa trên tất cả. Đức Giêsu yêu
thương con người, ḿnh cũng phấn đấu
để yêu thương, muốn điều tốt lành
cho những người sống xung quanh ḿnh.
“Anh em không biết anh em là đền
thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong
anh em sao?” (1Cor 3, 16). Ba Ngôi Thiên Chúa ở nơi cung ḷng con
người, tuy nhiên con người vẫn tự do
để thuộc về Ngài hay không qua chính hành vi chọn
lựa của ḿnh. Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt
động tận thâm sâu nơi cung ḷng con người,
để mời gọi, soi sáng, và ban sức mạnh giúp
con người thuộc về Thiên Chúa. Giữa Thiên Chúa
và con người có một tương quan rất
đặc biệt. Sự tồn hữu của con
người luôn tùy thuộc vào Thiên Chúa; việc con
người là thánh, thuộc về Thiên Chúa cũng nhờ
Thánh Thần Thiên Chúa. Nếu không nhờ Thiên Chúa, chúng ta
không thể làm ǵ được; hơn nữa, chúng ta không
thể tồn hữu.
Thiên Chúa là mối dây hiệp nhất
con người với nhau. Con người trở nên
một với nhau, v́ Thiên Chúa Ba Ngôi ở tận thâm sâu
nơi cung ḷng con người, và tất cả đều
ở trong Thiên Chúa. “Con ở trong họ và Cha ở trong con,
để họ được hoàn toàn nên một; như
vậy thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đă
sai Con và đă yêu thương họ như đă yêu thương
Con” (Ga 17, 23). “Con không chỉ cầu nguyện cho những
người này, nhưng c̣n cho những ai nhờ lời
họ mà tin vào con, để tất cả nên một,
như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ
cũng ở trong chúng ta” (Ga 17, 21).
Cộng đoàn Thiên Chúa Ba Ngôi là
mẫu cho cộng đoàn nhân loại ở mọi cấp
độ. Mỗi thành viên trong một gia đ́nh, hoặc
trong một cộng đoàn tu sĩ, hoặc trong một
đoàn thể nào đó, đều được mời
gọi để hiệp nhất nên một với nhau
trong ư hướng, mục đích, cách thể hiện.
Sự hiệp nhất hàm chứa những khác nhau; và
những khác nhau không ngăn cản sự hiệp nhất
mà c̣n làm cho sự hiệp nhất có ư nghĩa. Ba Ngôi Thiên
Chúa phân biệt nhưng lại hiệp nhất với nhau
đến độ là một trong tất cả. Thiên Chúa
ở tận thâm sâu nơi cung ḷng con người, chính Ngài
là nền tảng để mỗi người có thể
có ao ước độc đáo; tuy nhiên v́ cùng là con Thiên
Chúa, nên đều hướng về Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa
ở tận thâm sâu nơi con người, cho thấy con
người có thể hiệp nhất với nhau trong
tất cả.
Sự hiệp nhất không hủy
hoại sự khác biệt, nhưng cho thấy nét
đẹp của sự khác biệt. Ba Ngôi Thiên Chúa không là
ba Thiên Chúa nhưng chỉ là một. Ba Ngôi Thiên Chúa là
một với nhau trong tất cả: một quyền
năng, vô thủy vô chung, một ư muốn. Ba Ngôi Thiên Chúa
là một với nhau, ở trong nhau một cách trọn vẹn
nhưng không lẫn lộn, vẫn là ba ngôi vị một
cách toàn hảo. Sự hiệp nhất giữa các ngôi
vị nhân linh đ̣i mỗi ngôi vị nhân linh phải
giữ nét độc đáo của riêng ḿnh, đồng
thời mở ḷng đón nhận ngôi vị khác, tôn
trọng ngôi vị khác như họ là, giúp mỗi ngôi
vị là ḿnh cách trọn vẹn.
Không có t́nh yêu, không thể đón
nhận và tôn trọng ngôi vị khác được. Ba Ngôi
Thiên Chúa luôn là một với nhau, nên Thiên Chúa là t́nh yêu. T́nh
yêu là thái độ của một ngôi vị đối
với ngôi vị khác, là mở ḷng đón nhận, là trân
trọng và để cho ngôi vị khác triển nở và
hạnh phúc. Thiên Chúa Ba Ngôi là Thiên Chúa hạnh phúc tṛn
đầy, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu, v́ Ba Ngôi Thiên Chúa luôn
hướng tới nhau, là tất cả trong nhau và cho nhau
trọn vẹn.
CHO VINH
DANH CHÚA HƠN
AD
MAIOREM DEI GLORIAM
AMDG
22.02.2005
25.09.2005
30.10.2006
12.01.2018
1. Đâu là
luận chứng Thiên Chúa hiện hữu có tính thuyết
phục nhất đối với bạn?
2. “Ai yêu
thương th́ biết Thiên Chúa, ai không yêu thương th́
không biết Thiên Chúa” (1Ga 4, 7-8). Theo bạn, những
người học thần học và những thần
học gia có biết về Thiên Chúa hơn những
người ít học không? Tại sao?
3. Theo
bạn, ngôn từ con người có thể diễn
đạt về Thiên Chúa không? Tại sao?
4. Đâu là
những điểm giống nhau và khác nhau giữa tin và
biết?
5. Bạn
hiểu thế nào là chân lư? Theo bạn, có sự khác nhau giữa
chân lư và sự thật không?
6. Tin
mừng nhất lăm có gọi Đức Giêsu là Thiên Chúa
không? Tân Ước có bao giờ gọi Đức Giêsu là
Thiên Chúa không?
7. Cụm
từ “Đức Giêsu là Thiên Chúa” có từ bao giờ,
ở đâu? Nghĩa là ǵ? Khi nói Đức Giêsu là Thiên Chúa,
phải hiểu như thế nào?
8. Những
từ ngữ nào trong Tân Ước chỉ thần tính
của Đức Giêsu?
9. Khi
Đức Giêsu c̣n tại thế, các tông đồ đă
nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa chưa?
10. Theo bạn, ai
đầu tiên nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa?
Đức Maria hay các tông đồ? Tại sao?
11. Lập trường
Đức Giêsu kém Thiên Chúa: ai chủ trương? Lư
luận và lập trường?
12. Lập
trường Đức Giêsu ngang bằng Thiên Chúa: ai
chủ trương? Lư luận và lập trường
của những người này?
13. Huấn quyền
(giáo hoàng, công đồng chung) về Đức Giêsu là Thiên
Chúa?
14. Huấn quyền
về Thiên Chúa Ba Ngôi?
15. Trước
thời dân Do Thái, người ta hiểu thế nào về
Thiên Chúa? Người Do Thái hiểu thế nào về Thiên
Chúa?
16. Nhờ đâu Kitô
hữu nhận biết Thiên Chúa Ba Ngôi?
17. Từ ngữ Thiên Chúa
Ba Ngôi được dùng từ khi nào? Ở đâu (tài
liệu nào)? Ư nghĩa từ ngữ Ba Ngôi?
18. Khi chưa có
từ ngữ Ba Ngôi, các Kitô hữu sơ khai thời
trước công đồng Nicea 325 hiểu và dùng từ
ngữ nào để diễn tả Thực Tại này?
19. Thánh Thần
được biết là Thiên Chúa khi nào? Thánh Thần là
Thiên Chúa, điều này được hiểu như
thế nào?
20. Thiên Chúa là Cha. Theo
bạn, liệu Thiên Chúa có thể là Mẹ không? Tại sao?
21. Tŕnh bày niềm tin Thiên
Chúa Ba Ngôi trong Phụng Vụ Kitô Giáo.
22. Tŕnh bày niềm tin
Thiên Chúa Ba Ngôi trong kinh nguyện Kitô giáo.
23. Tŕnh bày vấn
đề Filioque.
24. Thiên Chúa là ai đối
với Kitô hữu?
25. Xin nói vài nét chính
yếu về “Khảo luận về Ba Ngôi” của thánh
Augustine.
26. Tŕnh bày thần
học về Ba Ngôi theo thánh Thomas Aquinô.
27. Tŕnh bày tổng
luận của bạn về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Aubert, Roger. Le problème
de l'acte de foi. Louvain, 1945.
Auer, J.. "Grâce.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968
Balthasar, H.U.V.. La Gloire
et la Croix: Les aspects esthétiques de la Révélation. Vol. I:
Apparition. Aubier, 1965.
Baumgartner, H. M.. "Transcendantal
Philosophy.” Sacramentum Mundi. Ed. Karl Rahner.
Burns&Oates, 1968
Bihlmeyer, E.. Histoire de
l'E'glise, t. I. Paris: Salvator, 1962.
Bùi Văn Đọc & Vơ
Đức Minh. Thiên Chúa Ba Ngôi/ Bí Tích Thánh Thể.
Hà Nội: Tôn Giáo, 1999.
Cayré, F.. Précis de
Patrologie, t. I. Paris: Desclée et Cie, 1927.
Chenu, M-D, OP.. La Parole
De Dieu: La foi dans l'intelligence. Paris: Cerf, 1964.
Coffrey, David. Deus
Trinitas: The Doctrine of the Triune God. New
York: Oxford University Press, 1999.
Cornelis, H. et Léonard, A.. La
Gnose Éternelle. Paris, 1959.
Dartigues, A.. La Révélation
du Sens au Salut. Desclée, 1985
De Finance, Joseph. Connaissance
de l'Être. Paris: DDB., 1966.
De Journel, Rouet. Enchiridion
Patristicum. Herder, 1965.
De La Barre, A.. “Agnosticisme.” DTC I/1. Paris,
1923.
De Lubac, Henri. La foi
chrétienne: Essai sur la structure du Symbole des Apôtre. Paris:
Aubier-Montaigne, 1969.
De Lubac, Henri. Dieu se dit
dans L'histoire. Cerf, 1974.
De Margerie, Bertrand. La
Trinité Chrétienne Dans L’Histoire. Paris: Beauchesne, 1975.
Denzinger-Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum de Rebus Fidei et Morum.
Herder, 1963.
Dortigues, Y.. La Foi et la
Théologie. Paris, 1962.
Dulles, Avery. Revelation
Theology. Burns and Oates, 1969.
Fries, Heinrich. "Le mythe et la
Révélation.” Questions Théologiques Aujourd'hui. Paris:
DDB., 1964.
Fries, Heinrich.
"Révélation.” Mysterium Salutis, t. I, vol.
I. Paris: Cerf, 1969.
González, Justo L.. The
Story of Christianity, volume I: The Early Church to the Dawn of the
Reformation. New York: HarperSanFrancisco, 1984.
Haardt, R.. "Gnosticism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Halder, A.. "Knowledge.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Heinrichs, M.. Théologie
Catholique et Pensée Asiatique. Casterman, 1965.
Horst, U.. "La conception de la
Révélation dans la haute scolastique.” La Révélation dans
l'Écriture, la Patristique, la Scolastique. Ed. Michel
Seybold. Paris: Cerf, 1974.
Jolivet, R.. Dieu Soleil des
Esprits: La Doctrine Augustinienne de l'Illumination. Paris: DDB
et Cie, 1934.
Kasper, Walter. The God of
Jesus Christ. Southampton: SCM Press, 1984.
Keller, A.. "Universals.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Kelly, Anthony. The Trinity
of Love: A Theology of the Christian God. Delaware: Michael
Glazier, 1989.
Krenn,
K.. "Kantiannism.” Sacramentum Mundi. Ed.
Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Kueng, Hans. Dieu Existe-Il.
Seuil, 1981.
LaCugna, Catherine Mowry. God
For Us: The Trinity and Christian Life. Illinois:
HarperSanFrancisco, 1992.
Latourelle, René. Théologie
de la Révélation. DDB., 1966.
Latourelle, René. Théologie
Science du Salut. Paris, 1968.
Latourelle, René. "La spécificité
de la Révélation chrétienne.” Studia Missionalia, vol. XX.
Roma: Gregoriana, 1971.
Lê Tôn Nghiêm. Lịch
Sử Triết Học Tây Phương. Lá Bối,
1970.
Marc André. Psychologie
Réflexive, tome II: La volonté et l'esprit. Paris: DDB, 1949.
Marcel, Gabriel. Foi et
Réalité. Aubier, 1967. Coll. Foi Vivante 38
Norberto. Thiên Chúa
của Tin Mừng: Thiên Chúa Ba Ngôi.
Ott, Heinrich. "La structure de
l'acte de foi." Mythe et Foi. Éd. Enrico Castelli.
Aubier, 1966.
Panikkar, Raymond. "La Foi
dimension constitutive de l'homme." Mythe et Foi. Éd.
Enrico Castelli. Aubier, 1966.
Parrinder, G.. "Revelation in
Other Scriptures.” Studia Missionalia, Vol. XX. Roma:
Gregoriana, 1971.
Phạm Thanh Liêm. Thần
Học Các Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo. Đàlạt, 1982.
Phạm Thanh Liêm. Dẫn
Nhập Thần Học. Đàlạt, 1990.
Phan Tấn Thành. Mầu
nhiệm Thiên Chúa. Chân Lư, 2001
Puntel, L.B.. “Nihilism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Rahner, Karl. L'esprit Dans
Le Monde. Mame, 1968.
Rahner, Karl. L'homme à
l’Écoute du Verbe. Mame, 1967.
Rahner, Karl. "A Propos de la
Réforme des Études Ecclésiastiques.” K. Rahner, Est-Il Possible
Aujourd'hui De Croire. Mame, 1966.
Rahner, Karl. "Salvation.” Mysterium
Salutis. Herder, 1970.
Rahner, Karl. Do You Believe
in God. New York: Newman Press, 1969.
Rahner, Karl. The Trinity. New
York: Herder and Herder, 1970.
Rahner, Karl. “Transcendental
Theology.” Sacramentum Mundi. Ed. Karl Rahner. New
York: Herder and Herder, 1970.
Rahner, Karl. “Atheism and Implicit
Christianity,” Theological Investigations 9 (New York:
Herder and Herder, 1972).
Rahner, Karl. “Anonymous Christianity
and the Missionary Task of the Church,” Theological Investigations
12 (New York: Seabury, 1974).
Rahner, Karl. “The One Christ and the
Universality of Salvation,” Theological Investigations 16 (New
York: Seabury, 1979).
Rahner, Karl. Foundations of
Christian Faith: An Introduction to the Idea of Christianity. New
York: Crossroad, 1995.
Rahner, Karl & Lehmann, Karl. Kerygma
and Dogma. New York: Herder and Herder, 1969.
Ratzinger, Joseph. Foi
Chrétienne- Hier et Aujourd'hui. Mame, 1969.
Ricken, F.. "Platonism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates,
Rusch, William G. (editor). The
Trinitarian Controversy. Philadelphia: Fortress Press, 1980.
Schillebeeckx, Edward. Approches
Théologiques: 1 Révélation et Théologie. Bruxelles: CEP, 1965.
Schillebeeckx, Edward. Christ
the Sacrament of the Encounter with God. New York: Sheed and Ward,
1963.
Schillebeeckx, Edward. “Five Questions
Facing the Church Today,” The Crucial Questions: On Problems Facing
the Church Today. Ed. by Frank Fehmers. New York: Newman Press,
1969
Schillebeeckx, Edward. World
and Church. New York: Sheed and Ward, 1971.
Schillebeeckx, Edward. The
Understanding of Faith: Interpretation and criticism. New York:
Seabury Press, 1974.
Schillebeeckx, Edward. Jesus:
An Experience in Christology. New York: Seabury, 1979.
Schillebeeckx, Edward. Christ:
The Experience of Jesus as Lord. New York: Crossroad, 1981.
Schillebeeckx, Edward. God
is New Each Moment. New York: Seabury, 1983.
Schillebeeckx, Edward. The
Language of Faith: Essay on Jesus, Theology, and the Church. New
York: Orbis Books, 1995.
Schillebeeckx, Edward. God
Among Us: The Gospel Proclaimed. New York: Crossroad, 1983.
Schillebeeckx, Edward. Church:
The Human Story of God. New York: Crossroad, 1990.
Smith, Gerard. Natural
Theology. New York: The Macmillan Company, 1951.
Soehngen, G.. “La Sagesse de la
théologie par la voie de la Science,” Mysterium Salutis, t.1, vol.
IV, pp. 159-250.
Splett, Jorg. “Agnosticism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
Stockmeier, P.. "Révélation dans
l'Église Chrétienne Primitive.” La Révélation dans l'Écriture, la
Patristique, la Scolastique. Ed. Michel Seybold. Paris: Cerf,
1974.
Thils, G.. Propos et
Problèmes de la Théologie des Religions Non-Chrétiennes. Casterman,
1966.
Thomas Aquinas. Summa
Theologiae. Italy: Marietti, 1952
Thomas Aquinas. In
Aristotelis Librum De Anima Commentarium. Italy: Marietti, 1959.
Thomas Aquinas. Liber De
Veritate Catholicae Fidei Contra Errores Infidelium Seu Summa Contra Gentiles. Italy:
Marietti, 1961.
Thonnard, F-J.. Précis
d'histoire de la Philosophie. Paris: Desclée et Cie., 1966 .
Truetsch, J.. "La foi.” Mysterium
Salutis IV. Cerf, 1969.
Wainwright, Arthur W.. The
Trinity in the New Testament. London: SPCK, 1982.
Walgrave, J-H.. Un Salut aux
Dimensions du Monde. Cerf, 1970
Werner, P.. "Scepticism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1970.
Wetter, Gustav. "Marxism.” Sacramentum
Mundi. Ed. Karl Rahner. Burns&Oates, 1968.
[1] Không tùy thuộc lư trí và ư chí con người,
nghĩa là không tùy thuộc con người có biết
điều đó hay có chấp nhận điều đó
hay không.
[2] LÊ TÔN NGHIÊM, Lịch Sử Triết Học Tây
Phương, LÁ BỐI, SÀI G̉N 1970, pp. 210-211.
[3] F-J. THONNARD, Précis d' Histoire de la Philosophie, DESCLÉE et
Cie, PARIS 1966, p. 156.
Ông tổ của chủ
thuyết hoài nghi là Pyrrhon (365-275);
Chủ thuyết cái nhiên
(probabilisme) với Arcésilas (315-241) lănh tụ Académie (Hàn Lâm);
Carnéade (215-126) lănh tụ Tân
Hàn Lâm; và những người khác như Aenesidemus, Agrippa,
Sextus Empiricus...
[4] F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, p. 157
[5] AUGUSTINUS, De Trinitate, l. XV, ch. XII, 21
Cf. F-J. THONNARD, Précis d' Histoire,
p. 208
[6] Kant phân biệt phán đoán phân tích và phán đoán
tổng hợp, phán đoán tổng hợp tiên thiên và
hậu thiên. Chỉ có phán đoán tổng hợp tiên thiên
mới có giá trị khoa học. (F-J Thonnard, Précis d' Histoire,
p. 624).
Kant phân biệt đối
tượng hiện tượng và đối tượng
tự thân. Đối tượng tự thân thuộc lănh
vực của lư trí thực tiễn, chẳng hạn
như Thiên Chúa, linh hồn bất tử, tự do,... (F-J.
THONNARD, Précis d' Histoire, p. 630).
Không gian và thời gian không là
thực thể khách quan, nhưng là những khung tiên thiên
(formes à priori) của cảm quan nhờ đó những
trực giác giác quan được h́nh thành, cũng
tương tự như vậy các ư niệm phổ quát là
những mô thức tiên thiên (formes à priori) của trí hiểu
(Der Verstand). (Cf. A. HALDET, art. "Knowledge", trong SACRAMENTUM
MUNDI, ed. K. RAHNER, BURNS and OATES 1968, p. 252
K. KRENN, art. "Kantianism",
trong SACRAMENTUM MUNDI, p. 243)
Kant tiến hành việc phê
b́nh tri thức
bằng việc phê b́nh
cảm quan (critique de la sensibilité) trong phần cảm quan
siêu nghiệm (Esthétique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh phán
đoán trong phần luận lư siêu nghiệm (logique
transcendantale; luận lư siêu nghiệm c̣n được
gọi là phân tích siêu nghiệm (analytique transcendantale),
và bằng việc phê b́nh
biện chứng siêu nghiệm (dialectique transcendantale) (Xem
F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, pp. 646-647).
Phương pháp Kant dùng là
phản tỉnh phê b́nh (réflexion critique), hay c̣n gọi là
phản tỉnh siêu nghiệm (réflexion transcendale)
(F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, pp.
628-630).
Phản tỉnh phê b́nh
gồm
phân tích phê b́nh (analyse critique)
nhằm xác định những yếu tố cấu thành
và những quy luật của phán đoán,
và diễn dịch phê b́nh
(déduction critique) nhằm xác định những điều
kiện tuyệt đối cần thiết (nếu không có
những giả sử này, th́ không có tri thức). (Xem
F-J.THONNARD, Précis d' Histoire, pp. 639-640. 628-630)
Kant cho rằng tri thức
khởi đầu với giác quan, tiếp tục nơi
trí năng và kết cục nơi lư trí,
hoặc, tri thức là
trực giác và quan niệm, trực giác cộng thêm tư
tưởng (K. KRENN, art. cit., p. 243: "From sensible intuition,
human knowledge finally progresses to concepts and judgments. But for Kant, knowledge
is intuition and concept, intuition plus thought"),
hoặc, mọi tri thức
nhân loại đều khởi đầu với trực
giác, rồi qua quan niệm, kết cục nơi ư niệm
(F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, p. 633).
Giả sử của Kant:
có các phán đoán tổng
hợp tiên thiên,
khả năng phản
tỉnh phê b́nh,
phán đoán khoa học là
chuẩn
( F-J. THONNARD, Précis d'histoire, pp.
630-631).
[7] K. KRENN, art. "Kantianism", p. 243
F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, pp.
632. 630
[8] F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, pp. 647- 648
[9] K. KRENN, art. "Kantianism", p. 243
[10] Agnosticisme.
[11] A. DE LA BARRE, art.
"Agnosticisme", trong DTC. I/1, PARIS 1923, col. 596
[12] J. SPLETT, art. "Agnosticism",
trong SACRAMENTUM MUNDI I, BURNS and
OATES 1968, p. 15
[13] J. SPLETT, art. "Agnosticism", p.
16
[14] Những người theo
thuyết duy danh (nominalisme) cho rằng ư niệm phổ quát
là danh từ chỉ một nhóm cá thể đặc thù,
giữa ư niệm và tên gọi chỉ là quy ước
chứ không có liên hệ ǵ với nhau. Những đại
biểu của trường phái này có thể kể Roscelin
(1050-1120) và Guillaume d'Occam (1300-1349).
F-J. THONNARD, Précis d'histoire, p.
285
ALBERT KELLER, art.
"Universals", SACRAMENTUM MUNDI, III, p. 325
HANS M. BAUMGARTNER, art.
"Transcendantal Philosophy", SACRAMENTUM MUNDI, p. 282
Tự điển PETIT
LAROUSSE, từ ngữ "nominalisme".
[15] Ibidem.
[16] Tự điễn Larousse, từ
ngữ "conceptualisme".
[17] A. KELLER, “Universals,” p. 325
[18] Ibidem
F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, p.
285
[19] F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, p. 302
[20] G. A. Wetter, art. "Marxism", trong
SACRAMENTUM MUNDI, IV, p. 425
[21] như người ta vẫn
thường quan niệm.
[22] Connais- toi, toi même.
[23] F-J. THONNARD, Précis d' Histoire, p. 306:
"l' homme est la mesure de toutes choses."
[24] F-J. THONNARD, Extraits Des Grands
Philosophes, DESCLÉE et Cie-PARIS 1963, pp. 6-7
[25] FRIEDO RICKEN, art. "Platonism",
trong SACRAMENTUM MUNDI, BURNS and OATES 1968, p. 30
[26] PLATON, Parménide, "Même chose se donne
à penser et à être": chez Parménide. L'être est, de soi, intelligible et
rationnel. Trích bởi J. DE FINANCE, Connaissance de l'être, DDB-PARIS
1966, p. 129
[27] ARISTOTE, Met. A1 993b 31: "autant une
chose a d' être, autant il a de vérité". Trích bởi J. DE FINANCE,
Connaissance de l'être, p.130.
[28] S. THOMAS, C G. II, 98: Quidquid esse potest,
intelligi potest.
Trích dẫn bởi F-J.
THONNARD, Précis d'histoire de la Philosophie, DESCLÉE et Cie-PARIS 1966, p. 36
K. RAHNER, L'esprit dans le monde,
MAME-FRANCE 1968, p. 79
[29] Ens, verum, bonum convertuntur.
[30] Omne ens est verum.
[31] K.RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe, MAME
1967, pp. 83. 88
[32] J. DE FINANCE, Connaissance de l'être,
DDB-PARIS 1966, pp. 147. 156-157
[33] K. RAHNER, L'esprit dans le monde, p. 79
[34] J. DE FINANCE, Connaissance de l'être, pp.
135-136
[35] S. THOMAS, ST. I-I, q. 55, a. 4, ad
4: Id quod primo cadit in intellectu est ens.
S. THOMAS, De Veritale, I, 1:
"Illud quod primo intellectus concipit quasi notissium et in quo omnes
conceptiones resolvit est ens".
[36] J. DE FINANCE, Connaissance de l'être, p. 138
[37] ngay lập tức.
[38] S.THOMAS, ST. I, q. 16, a. 4, ad 2:
"Intellectus... per prius apprehendit ipsum ens et secundario apprehendit
se intelligere ens... Unde primo est ratio entis, secundo ratio veri.
Cf. J. DE FINANCE, Connaissance de
l'être, p. 144
[39] K. RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe, p. 90
[40] Ở đây đề nghị
dịch chữ létant là hiện thể, c̣n chữ acte là
hiển thể (đi với tiềm thể, puissance).
K. RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe,
p. 99
[41] K. RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe, pp.
88.94
[42] K. RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe, pp.
97. 96. 94
S. THOMAS, ST. I-II, q.3, a.7, c:
"eadem est dispositio rerum in esse sicut in veritate".
In II Metaph., lect. 1, n. 280:
"Unumquodque est cognoscibile in quantum est ens in actu; unumquodque est
intelligens et intelligibile, quod est idem, in quantum est ens actu".
In VII Met., lect. 2, n. 1301:
"Secundum quod aliquid est ens secundum hoc est cognoscibile".
[43] cần thiết bất tất,
như tôi cần có cha mẹ và cha mẹ cần có ông bà, và
cứ tương tự như vậy.
[44] Chúng không là những hiện
hữu bất tất độc lập với nhau
tuyệt đối. Bất cứ điều ǵ chúng ta
biết, hàm chứa chúng đều có liên hệ hữu
cơ với nhau và với lư trí con người.
[45] Độc thần cũng là một
chân lư được mặc khải. Với tri thức
của con người, không có những hiện hữu
bất tất độc lập, nên không có nhiều
hiện hữu tất yếu.
[46] hữu thể thuần vật
chất.
[47] hữu thể có những giác quan.
[48] không có lư trí.
[49] như thánh Max. Kolbe.
[50] Đúng ra chúng ta phải nói, hiện
hữu tự do là tinh thần, v́ tinh thần
được định nghĩa là hiện hữu
sở hữu tri thức phải tỉnh và siêu
vượt.
[51] hay Thiên Chúa, Hiện Hữu Tự
Do Tuyệt Đối, Hiện Hữu Tri Thức Tuyệt
Đối.
[52] Tính chất tự do của con
người, sẽ có dịp đề cập ở
những đoạn sau.
[53] Lịch sử hiểu là chuỗi
những hành động của hiện hữu tư do.
[54] Đối với Thiên Chúa, Ngài là
t́nh yêu không phải từ khi Ngài tạo dựng con
người, nhưng từ thuở đời đời
Ngài đă là t́nh yêu v́ từ thuở đời đời
Thiên Chúa đă là Thiên Chúa Ba Ngôi Vị.
T́nh yêu là tương quan
giữa hai ngôi vị, là ư muốn theo lư trí "tự
do" có đối tượng là ngôi vị.
"Ư muốn là khuynh
chiều của hữu thể theo lư trí" (S. THOMAE,
In Aristotelis Librum De Anima Commentarium,
MARIETTI- ITALY 1959, n. 288).
[55] Không theo cái cũ, không theo vết
xe cũ, không theo thói quen cũ, thế nên người ta
không biết trước được.
[56] K. RAHNER, art. "Salvation", trong
SACRAMENTUM MUNDI, V, HERDER and HERDER 1970, col. 406
[57] K. RAHNER., L'homme à l'écoute du Verbe, pp.
104-105. 225
khả năng phản
tỉnh, biết ḿnh và siêu vượt.
[58] K. RAHNER, L'homme à l'écoute du Verbe, p.
208
K. RAHNER, L'Esprit dans le monde, p.
139
[59] Về lư trí tự do, đức
Phật và S.Freud đă nói về trường hợp lư trí
bị hủ hóa bởi tư lợi. Xem thêm: LNC., Dẫn
Nhập Thần học, ĐL. 38, trg. 25
[60] K. RAHNER, L'homme à l'écoute..., pp.
124-125. 79
[61] K. RAHNER, L' Esprit Dan Le Monde, p. 291
trích dẫn
De Verit., q. 10, a. 8, ad 4:
"Non tamen materiae subditur, ut materialis
reddatur".
De Verit., q. 19, a. l corp.:
"Hoc lumen (intellectuale) non est corpori
obligatum"
[62] K. RAHNER, L' Esprit Dan Le Monde, pp. 286.
290. 191
[63] hiện hữu này có thể là
hiện hữu bất tất đối với hiện
hữu tất yếu tuyệt đối.
[64] Thiên Chúa
[65] ư chí đi theo lư trí (voluntas sequitur
intellectum).
[66] ST. THOMAE AQUINATIS in Aristotelis Librum De
Anima Commentarium, MARIETTI 1959, n. 288:
"Quod quidem dividitur in tria:
scilicet desiderium, quod est secundum vim concupiscibilem; et iram, quae est
secudum vim irascibilem: qui duo appetitus pertinent ad partem sensitivam:
sequuntur enim apprehensionem sensus. Tertium autem est voluntas, quod est
appetitus intellectivus, consequens scilicet apprehensionem intellectus"
(Lib. II, lect. V, c. III).
[67] ST. THOMAE AQUINATIS in Aristotelis Librum De
Anima Commentarium, n. 286:
Appetitus naturalis est inclinatio
sequens formam naturalem; Appetitus sensibilis est inclinatio quaedam quae
sequitur ad formam sensibilem; Appetitus intelligibilis est inclinatio quae
sequitur ad formam intelligibilem.
[68] F-J. THONNARD, Précis d’histoire ..., p. 116
[69] K. RAHNER, L’homme à l’écoute du Verbe, p.
156
[70] K. RAHNER, L’homme à l’écoute du Verbe, pp.
155-156
[71] người ta đă lấy
khả năng tri thức làm chuẩn đánh giá mức
độ hữu thể này.
[72] Nếu có trích câu Kinh Thánh nào đó
trong phần một này, th́ việc trích dẫn này chỉ
muốn nói có ư kiến hoặc sự kiện như
vậy.
[73] Ngày nay, khoa học được
hiểu là tập họp những tri thức về một
vấn đề nào đó, được hệ thống
hóa, được kiểm chứng hoặc hiển nhiên.
Như vậy chúng ta thấy quan niệm về "cái
biết" ngày xưa và "tri thức khoa học"
ngày nay khá giống nhau.
[74] F-J.THONNARD, Précis d’histoire de la
Philosophie, DESCLÉE et Cie, PARIS 1966, p. 95 :"La science est
la connaissance certaine et évidente des choses par leurs causes" (Scire
est cognoscere rem per causam, propter quam res est, et quod ejus est causa, et
quod non contingit eam aliter se habere).
[75] Ibidem, p. 96
M.D. CHENU, La Parole de Dieu I: La Foi
dans l'intelligence, Coll. COGITATIO FIDEI, CERF-PARIS 1964, p. 93:
"Opinio est acceptio unius partis contradictionis cum formidine
alterius".
[76] M.D.CHENU, op.cit., p. 90 trích dẫn
ALBERT LE GRAND, In I Sent., d.2, a.1,
ad 1: "Dicit enim Philosophus quod opinio juvata rationibus sit
fides" (Cf. In III Sent., d.23, a.1, obj.3)
ST. THOMAS, In III Sent., d.23, q.2, a.2, sol.3, ad 1
ST. THOMAS, De Ver., q.14, a.2, corp. in med.: "Fides communiter
accepta, secundum quam credere deicimur id quod vehementer opiamur".
GUILLAUME DAVERGNE, De Fide, ed.
VENISE, p.3, col.1: "Quoniam credere quoddam opinari est; credere enim est
vehementer opinari".
[77] M.D.CHENU, La Parole de Dieu, p. 103:
"fides est media inter scientiam et opinionem", và tương
tự Aristote: "Opinionem sequitur fides".
[78] M.D.CHENU, La Parole de Dieu, p. 90 note 2,
trích dẫn
ST.THOMAE AQUINATIS S.T., Ia-IIae,
q.67, a.3, in med.: "Ex parte subjecti differunt secudum perfectum et
imperfectum opinio, fides, scientia".
[79] cách tuyệt đối, chủ
quan và khách quan.
[80] Ư niệm, theo Platon là chân lư, v́ ư
niệm là thực tại.
[81] F-J.THONNARD, Précis d’histoire de la
Philosophie, pp. 156-157
P. WERNER, art. "Scepticism,”
SACRAMENTUM MUNDI VI, BURNS &OATES 1970, p. 5
[82] Gorgias cho rằng không ǵ có thể
được biết hay được thông truyền.
Protagoras cho rằng con người là thước đo
vạn vật (Xem P. WERNER, “Scepticism,” SACRAMENTUM MUNDI VI, BURNS
&OATES 1970, p. 5
[83] Cf. F-J.THONNARD, Précis d’histoire de la
Philosophie, p. 155-156: "le sage sceptique aura pour règle universelle,
labstention ou suspension du jugement (epch).
[84] Ở đây phân biệt tri
thức và tri giác.
[85] Cogito ergo sum (tôi suy tư vậy
tôi hiện hữu).
[86] Xem F-J.THONNARD, Précis d’histoire de la
Philosophie, pp. 521-523.
Những người mang ḍng
họ "duy", có tiêu chuẩn riêng để phán
đoán và định giá trị của tri thức:
· Những
người duy hoài nghi cho rằng, "chỉ những ǵ
được chứng minh mới là tri thức khách
quan", nhưng cũng theo họ, "mọi chứng
minh đều có thể đẩy đến vô cùng",
và như vậy không có chân lư khách quan;
· Những
người duy tâm lại cho rằng, "con người
chỉ biết tư duy của ḿnh", và "chỉ có
tư duy của con người là thực".
· Những
người duy thực nghiệm lại cho rằng,
"chỉ những ǵ được kiểm nghiệm
bằng kinh nghiệm giác quan mới là chân lư".
[87] Nếu không, người ta sẽ
phải chứng minh tới vô cùng, như những
người duy hoài nghi đă lư luận.
[88] hiểu như là được
chứng minh.
[89] do tin, phải tin.
[90] A. DE LA BARRE, art. "Agnosticisme",
DTC.I/1, PARIS 1923, col. 596
[91] JORG SPLETT, art. "Agnosticism",
trong SACRAMENTUM MUNDI I, BURNS &OATES 1968, p.15
[92] Emmanuel Kant (1724-1804) không phủ
nhận tri thức siêu h́nh, nhưng cho rằng, việc xây
dựng khoa siêu h́nh với sự chắc chắn khách quan
như các khoa học thực nghiệm là một ảo
tưởng (Xem F-J. THONNARD, Précis d’histoire de la Philosophie, pp.
648-649).
Kant phân biệt lư trí là lư trí
thuần lư và lư trí thực tiễn, và cho rằng những
vấn đề mà siêu h́nh học truyền thống bàn
tới không nằm trong khả năng của lư trí
thuần lư. Với mệnh lệnh tuyệt đối
của lư trí thực tiễn "làm lành lánh dữ", con
người phải chấp nhận các ư niệm "Thiên
Chúa", "linh hồn bất tử", "tự
do", là những thực tại.
[93] GUSTAV A. WETTER, art. "Marxism",
trong SACRAMENTUM MUNDI, BURNS &OATES 1968, pp. 423-424
[94] Quy luật của vật chất
là:
· Quy
luật thống nhất và mâu thuẫn nội tại;
· Quy
luật chuyển biến từ lượng tới
phẩm (quy luật lượng chất);
· Quy
luật "phủ định của phủ
định" (négation de la négation).
[95] H. KUENG, Dieu exist-il?
Trd. par JEAN-LOUIS SCHLEGEL et JUSTUS
WALTHER, SEUIL 1981, p. 661
[96] L.B. PUNTEL, art. "Nihilism,"
SACRAMENTUM MUNDI II, BURNS and OATES 1968, p. 231:
"The usual approach is to define
nihilism as a doctrine or attitude which rejects truth, values and every thing
positive, that is, declares them to be nothing".
Phải
chăng chủ trương hư vô của Nietzsche, là
chủ trương Sunyata của Phật giáo (Trung Quán:
tất cả đều không)? Theo thiển kiến, tuy dù
Nietzsche tin "sự hồi đầu vĩnh cửu"
nhưng quan niệm hư vô của Nietzsche khác Sunyata.
[97] Xem R. PANIKKAR, La foi dimension
constitutive de l'homme, trong MYTHE ET FOI, AUBIER 1966, p.18:
"Lêtre humain ne peut pas
atteindre ou découvrir son être authentique sil ne reconnait ce fondement qui
se manifeste dans la foi. Sans la foi, il ne peut vivre une vie humaine
authentique".
[98] H. KUENG, Dieu exist-il?, p. 634:
"Il faut déjà croire à quelque
chose si lon veut tout simplement parler de savoir et de science"
trích dẫn W. STEGMULLER,
Metaphysik, Skepsis, Wissenschaft, BERLIN 1954
[99] R. PANIKKAR, La foi dimension constitutive de
l'homme,
· p.17:
"Sans la foi on ne peut pas subsister";
· p.18:
"La foi apparait alors comme le véritable fondement de lexistence".
Tác
giả R. PANIKKAR cũng hay trích dẫn câu Kinh Thánh Cựu
Ước Is.7,9: "nếu nhà ngươi không tin, nhà
ngươi sẽ không tồn hữu".
Cf. AUBERT, Le problème de lacte de
foi, LOUVAIN 1945, p. 22
[100] J. COLLINS, The existentialists,
GATEWAY-CHICAGO 1967, p.16 : "On the other hand, Kierkegaard maintained
that the attitude of faith is indispensable for synthesizing the many aspects
of existence".
J.RATZINGER, Foi chrétienne hier et
aujourd'hui, MAME 1969, p. 31: "Il nest indispensable, me semble-t-il, den
avoir une idée très nette: tout homme doit prendre position, dune manière ou
dune autre, à légard des options fondamentales de lexistence; il ne peut le
faire que sous la forme dune foi ... Dune certaine manière, tout homme est
obligé davoir une foi".
[101] H. KÜNG, Dieu exist-il?, p. 540 trích
dẫn
HANS GEORG GADAMER, Vérité et méthode-
Les grandes lignes d'une herméneutique philosophique, PARIS 1976: "Qu’il
existe une vérité et une certitude même sans méthode: il existe une vérité
préscientique qui est le présupposé de toute science ... Mais pour Gadamer
aussi, une foi précède tout savoir et toute science".
H. KUENG, Dieu exist-il?, p. 539:
"Tout savoir renferme donc un "présupposé", qu’ on peut
caractériser "proche d’une foi" ... Dans la science domine
l’HYPOTHÈSE, à laquelle on est obligé de croire".
J. TRUETSCH, art. "La Foi",
trong SACRAMENTUM MUNDI IV, BURNS and OATES 1969, p. 48-49:
"La première scholastique est, à
ses débuts, la fidèle expression de cette absorption: la connaissance commence
avec l’acte de foi; ensuite, c’est à la spéculation philosophique d’expliciter
le contenu de cette adhésion de foi".
[102] Điều mà chúng ta gọi là
"niềm tin nền tảng của tri thức khoa
học" ở đây, được Hans KUENG gọi là
"confiance" và "confiance originaire". Hans Kueng làm
như vậy, v́ ông muốn dành chữ "Foi" cho
đức tin tôn giáo.
Cf. H. KUENG, Dieu exist-il?, p. 540.
[103] Thánh Thomas, Kant và Husserl cũng
đều chấp nhận như vậy. Xem F-J. THONNARD,
Précis d’histoire de la Philosophie,
DESCLÉE et Cie, PARIS 1966, p. 1022.
ARISTOTELES, VI Metaphys., c.4: 1027,
b, 25-29 được trích bởi ST.THOMAE AQUINATIS S.T., I,
q.16, a.1: "Sed contra est quod Philosophus dicit quod verum et falsum non
sunt in rebus sed in intellectu".
[104] ST.THOMAE AQUINATIS S.T., I, q.16,
· a.1,
corp.: "Quod autem dicitur quod veritas est adaequatio rei et intellectus,
potest ad utrum pertinere ... Sic ergo veritas principaliter est in intellectu;
secundario vero in rebus, secudum quod comparantur ad intellectum ut ad
principium";
· a.2,
1: "Praeterea, Ysaac dicit, in libro de Difinitionibus, quod veritas est
adaequatio rei et intellectus".
[105] ARISTOTE, Métaphysique, IV,7
Xem F-J.THONNARD, Précis d’histoire de
la Philosophie, p. 93
[106] Species intelligibilis, eidos.
[107] Tri giác, bởi chữ Hán [ , ]. Tri
là biết; giác là biết bởi giác quan, chẳng hạn
ngửi biết thơm, thấy biết sắc,...
Tri giác là trực giác giác quan,
c̣n có một tuệ giác, tức trực giác trí tuệ
(intuition intellectuelle).
[108] Tri thức, bởi chữ Hán [ ,
]. Thức, là biết do phân biệt.
Ngay cả khi người ta
khẳng định ḿnh không biết, th́ đó cũng là
một phán đoán, và như vậy phải chăng cũng
là biết ở một mức độ nào đó: "tri
vi tri, bất tri vi bất tri, hà tri dă?".
[109] Nhận thức, chữ Hán là [ ,
]. Nhận là đồng ư, bằng ḷng.
Xem THIỀU CHỬU, Hán
Việt tự điển, HÀ-NỘI 1942, chữ
"nhận".
Xem F-J.THONNARD, Précis d’histoire de
la Philosophie, p. 475
[110] Chẳng hạn trong t́nh yêu.
[111] Thực thể có lư trí đơn
nhất không thể phân chia.
[112] Cf. G. SOEHNGEN, “La Sagesse de la
théologie par la voie de la Science,” MYSTERIUM SALUTIS t.1 vol. IV, p. 188.
[113] G. SOEHNGEN, “La Sagesse de la théologie par
la voie de la Science,” MYSTERIUM SALUTIS t.1 vol. IV, p. 189
[114] G. SOEHNGEN, “La Sagesse de la théologie par
la voie de la Science,” MYSTERIUM SALUTIS t.1 vol. IV, p. 191
[115] Phần
này được gợi hứng từ Gerard Smith,
s.j., Natural Theology, pp 181-256.
[116] Đức tin tôi có nhờ
truyền thống sống động là chính Giáo Hội.
Nhờ cha mẹ, thầy cô giáo lư viên, các tu sĩ linh
mục, và tất cả dân Chúa, mà tôi có đức tin
như hiện tại. Đức tin của Giáo Hội
hiện tại cũng chính là đức tin của Giáo
Hội thời đầu tiên, nhưng người đă
nghe các chứng nhân của Đức Giêsu rao giảng.
Những chứng từ này cũng được ghi
lại qua các tài liệu và những tác phẩm của
những người đương thời của Giáo Hội
sơ khai.
[117] Wainright, The Trinity,
200-201.
[118] Theophilus of Antioch, Ad
Autolycum II, 15 (SC 20, 138-41; MG 6, 1077; RJ 180)
Nguyên bản bằng tiếng
Hylạp, và sau đây là bản dịch qua tiếng Latin
trong RJ 180: “Tres illi dies, qui ante luminaria fuerunt imago sunt
Trinitatis, Dei, eius Verbi, eiusque Sapientiae”.
Tertullian, Adv. Praxeam II,
4; VIII, 7 (CCL 2, 1161, 1168; ML 2, 156; RJ 371)
Kasper, The God of Jesus
Christ, 249
Margerie, La Trinité
Chrétienne Dans L’Histoire, 179
Arthur W. Wainwright, The
Trinity in the New Testament (London: SPCK, 61982),
4
[119] Wainwright, Trinity, 54.
[120] Wainwright, Trinity,
93-95.
[121] Wainwright, Trinity, 99.
[122] William G. Rusch, The Trinitarian
Controversy (Philadelphia: Fortress Press, 1980), 3.
Những niên biểu
được lấy trong Rouët De Journel, Enchiridion
Patristicum (Barcelona: Herder, 1965), xi
[123] “De baptismo autem, sic baptizate: haec omnia
postquam antea dixistis, baptizate in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti
in aqua viva” (Didache, 7, 1)
Xem Rouët De Journel, Enchiridion
Patristicum (Barcelona: Herder, 1965), 1.
SC 248, 170 f
[124] Justinus, Apologia I,61:
“Deinde eo ducuntur a nobis ubi aqua est, et eodem regenerationis modo
regenerantur, quo et ipsi sumus regenerati. Nam in nomine Parentis universorum
ac Domini Dei, ac salvatoris nostri Iesu Christi, et Spiritus Sancti, lavacrum
in aqua tunc suscipiunt… Hanc autem huius rei rationem ab apostolis accepimus.”
Justin, Apologia I, 61, 13 (RJ.126; Corpus Apol. 1,
166f)
Kasper, The God of Jesus
Christ, 249-250.
[125] Irenaeus, Demonstratio 3;
7 (SC 62, 31-33, 41f.).
[126] DS 10; ND 2.
[127] Tertullian, De baptismo 6
(CCL 1, 283)
[128] Hilary, De Trinitate II,
1 (CCL 62, 38)
Augustine, De Trinitate XV,
26, 46 (CCL 50A, 525-7)
[129] Didache 9 (SC 248, 174-9)
Justin, Apologia I,
65; 67 (Corpus Apol. 1, 178, 184)
[130] Hippolytus, Traditio Apostolica 4-13
Kasper, The God of Jesus
Christ, 250
[131] Kasper, The God of Jesus Christ,
178-179.
[132] Cf. Margerie, La Trinité
Chrétienne, 100-101
[133] Margerie, La Trinité Chrétienne,
129-130.
[134] Xem Margerie, La Trinité
Chrétienne, 100.103-104
[135] Irenaeus, Adv.Haereses,
II, 28.4-6
Cf. Margerie, La Trinité
Chrétienne, 107
[136] Rusch, Controversy, 8
[137] Xem Margerie, La Trinité
Chrétienne, 111-113.
[138] Irenaeus, Adv.Haereses,
II, 28.4-6
Cf. Margerie, La Trinité
Chrétienne, 107
[139] Irenaeus, Adversus Haereses, II, 28, 3.
Margerie, La Trinité
Chrétienne, 109.
[140] Justo L. González, The Story of
Christianity, volume I: The Early Church to the Dawn of the Reformation
(New York: HarperSanFrancisco, 1984), 73-74.77
[141] Anathagoras, Supplicatio pro
Christianis 12, (TU 4/2, 13f.).
Walter Kasper, The God of
Jesus Christ (Southampton: SCM Press Ltd, 1984), 249
Athénagore, Apologie 12
Bertrand de Margerie, La
Trinité Chrétienne Dans L’Histoire (Paris: Beauchesne, 1975), 95
[142] Theophilus of Antioch, Ad
Autolycum II, 15 (SC 20m 138-41; MG 6, 1077; RJ 180)
Nguyên bản bằng tiếng
Hylạp, và sau đây là bản dịch qua tiếng Latin
trong RJ 180: “Tres illi dies, qui ante luminaria fuerunt imago sunt
Trinitatis, Dei, eius Verbi, eiusque Sapientiae”.
Tertullian, Adv. Praxeam II,
4; VIII, 7 (CCL 2, 1161, 1168; ML 2, 156; RJ 371)
Kasper, The God of Jesus
Christ, 249
Margerie, La Trinité
Chrétienne Dans L’Histoire, 179
[143] R.P.C. Hanson, The Search for the
Christian Doctrine of God: The Arian Controversy 318-381 (Edinburgh:
T&T Clark, 1988), xix, 64, 287.
Catherine Mowry Lacugna, God
for Us: The Trinity and Christian Life (New York:
HarperSanFrancisco, 1991), 23.
[144] W. Marcus, Der Subordinatianismus
als historiologisches Phaenomen (München: Max Hueber, 1963).
Hanson, Search, 84
[145] Adversus Prax. XIII (PL 2, 205).
[146] LaCugna, God For Us, 29.
[147] Theo R. Journel th́ Arius sinh năm 280,
c̣n theo Bertrand de Margerie th́ Arius sinh năm 256.
[148] LaCugna, God For Us, 31.
[149] Bản dịch của W.Rusch, The
Trinitarian Controversy, 29-30.
[150] Margerie, La Trinité Chrétienne,
130-132.
Kasper, The God of Jesus
Christ, 181-182.
LaCugna, God For Us, 31.
[151] Rusch, The Trinitarian Controversy, 32
[152] LaCugna, God For Us, 36-37.
[153] Kasper, The God of Jesus Christ,
182-184
[154] LaCugna, God For Us, 38-39.
Với Gregory of Nazianzus,
nhiệm cục hàm chứa sự tự giới hạn hay
tự hủy của bản tính Thiên Chúa (LaCugna, 40).
[155] Margerie, La Trinité Chrétienne,
134
[156] Kasper, The God of Jesus Christ,
257-258.
[157] Yếu
tính (essentia, natura, physis, essence); bản tính hay bản
thể (substantia, ousia, substance, being); ngôi vị (persona,
prosopon, hypostasis, person).
Tây phương có hệ
thống từ ngữ riêng, cũng tương tự
vậy với Đông phương, và ngay cả đối
với ngôn ngữ Việt Nam cũng vậy.
[158] LaCugna, 69.
[159] Jerome bị sốc khi “ba hypostases”
đă được dịch là “ba substances” trong Ep.15, 3-4
được giáo hoàng Damasus viết vào năm 374 (PL.22,
356-357). Xem LaCugna, p. 78 note 79.
Trong công hội Roma năm 374,
giáo hoàng Damascus nói tới một bản tính và ba ngôi
vị (một nature và ba substances). Sự khác nhau không
chỉ ở từ ngữ, v́ tín khoản của công đồng
Nicea và Constantinople khởi từ Cha và rồi tuyên xưng
Con và Thánh Thần là một trong bản thể với Cha,
c̣n phương Tây lại khởi đầu với
một bản tính và rồi bản tính này hiện hữu
nơi ba ngôi vị.
[160] Kasper, The God of Jesus Christ,
259.
[161] Kasper, The God of Jesus
Christ, 259-260.
[162] Ausgustine, De Trinitate I,
4, 7; V, 14, 15 (CCL 50, 34-36, 222f.); Serm. 213, 6, 6
(PL.33, 968)
Basil, De Spiritu Sancto 16
(SC 17, 173-183).
[163] Basil, De Spiritu Sancto 16
(SC 17, 173-183).
Kasper, The God of Jesus
Christ, 261.
[164] Hilary, De Trinitate III,
4 (CCL 62, 75tt)
[165] Hilary, De Trinitate ,
10 (CCL 62, 144tt); cf. VII, 31-32 (CCL 62, 297-300).
[166] Augustine, De Trinitate IX,
5 (CCL 50, 300tt); cf. VI, 10 (CCL 50, 241tt).
[167] DS 1331; ND 326
Fulgentius of Ruspe, De fide
ad Petrum seu de regula fidei 1, 4 (CCL 91A, 713tt)
Kasper, The God of Jesus
Christ, 283-284
[168] Gregory of Nazianzus, Ep.
101, 6 (SC 208, 38).
[169] John Damascene, De fide orth.
I, 8; III, 5
[170] Cf. DS 302; ND 615.
[171] Fulgentius of Ruspe, Ep.
14, 9 (CCL 91, 395tt).
[172] Kasper, The God of Jesus Christ,
284.
[173] Basil, De Spiritu Sancto 18
(SC 17, 191-198)
Augustine, De Trinitate VI,
7f (CCL 50, 237f); Cf. DS 367.
DS 530; ND 314
Cf. Kasper, The God of Jesus
Christ, 282
[174] LaCugna, God For Us, 82-83.
[175] De Trinitate 5.5.6 (PL 42, 913-914).
[176] De Trinitate 5.5.6 (PL 42, 914).
[177] De Trinitate 5.8.9 (PL 42,
917); 5.11.12 (PL 42, 918).
[178] De Trin. 6.10.12 (PL 42,
932).
[179] De Trin. 5.14.15 (PL 42,
921). LaCugna, 86.
[180] LaCugna, 86-87.
[181] LaCugna, 88.
[182] Augustine, De Trinitate 7.6.11 (PL
42, 943). Xem LaCugna, 88-89.
[183] De Trin.5.8.9 (PL 42,
916-917).
[184] De Trin.10.11.18 (PL 42,983).
[185] LaCugna, 95.
[186] DS.281. Xem Council
of Florence, DS.704.
[187] DS.432.
[188] LaCugna, 98.
[189] De Trin.5,14,15 (PL 42,
921).
[190] LaCugna, 98.
[191] LaCugna, 99.102.
[192] LaCugna, 99-101.
[193] Walter Kasper, p. 279; Thomas Aquinas, ST I, 28, 1
ad 3.
[194] Boethius, Liber de persona et duabus
naturis 3 (PL 64, 1343c-45b). Cf. Thomas Aquinas, ST I, 29,
1). Kasper, The God of Jesus Christ, p. 281.
[195] Richard of St Victor, De
Trinitate IV, 22, 24.
Kasper, The God of Jesus
Christ, p. 281.
[196] Thomas Aquinas, ST I, 29, 2. Cf.
Kasper, The God of Jesus Christ, p. 281.
[197] Kasper, The God of Jesus Christ,
214.
Lúc đầu, Constantinople 381
chỉ là công đồng của Giáo Hội đông
phương (synod), nhưng chính nhờ công đồng
chung Chalcedon 451 đón nhận mà Constantinople 381
trở thành công đồng chung. Nhờ yếu tố này
người ta dễ hiểu hơn tại sao sách Giáo Lư
Công Giáo số 247 lại nói như thể Roma chỉ
biết kinh tin kính của công đồng Constantinople 381 vào
năm 451 tại công đồng chung Chalcedon, khi mà
ngày nay người ta gọi Constantinople 381 là công
đồng chung. Cf. Kasper, The God of Jesus
Christ, p. 212-213.
[198] GLCG 247.
[199] Kasper, The God of Jesus Christ,
214.
[200] Kasper, The God of Jesus Christ,
216.
[201] John Damascene, De Fide Orth. I,
7
Cf. Kasper, The God of Jesus
Christ, 216-217 note 61.
[202] Kasper, The God of Jesus Christ,
217
[203] Kasper, The God of Jesus Christ,
217
[204] Kasper, The God of Jesus Christ,
217-218.
[205] Kasper, The God of Jesus Christ,
218
[206] Tertullian, Adv. Praxean 4
(CCL 2, 1162f.).
[207] Kasper, The God of Jesus Christ,
218
[208] Epiphanius, Ancoratus 6 (GCS
25, 12f).
Kasper, The God of Jesus
Christ, 218.
[209] DS 284, 470, 485, 490, 527; ND 310.
[210] Công
đồng Nicea II tuyên xưng Thánh Thần xuất từ
Cha qua Con.
[211] Kasper, The God of Jesus Christ,
218-219.
[212] DS 805. 850. 853; ND 319.321. 24.
[213] Kasper, The God of Jesus Christ,
219-220.
[214] COD 56.
[215] Kasper, The God of Jesus Christ,
220.
[216] Kasper, The God of Jesus Christ,
221.
[217] Tưởng cũng cần
khẳng định: “không cho thấy” không có nghĩa là
loại trừ niềm tin Đức Giêsu tiền hữu.
[218] DS 172: “Si quis non dixerit, Patris et Filii
et Spiritus Sancti unam divinitatem, potestatem, majestatem, potentiam, unam
gloriam, dominationem, unam regnum, atque unam voluntatem ac veritatem:
haereticus est.”
Chúc bạn an vui hạnh phúc.
Phạm Thanh Liêm
[email protected] hay [email protected]
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN
ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng